KINH KÍNH MỪNG

Một sĩ quan Pháp kể câu chuyện này:  “Bị thương vào đùi, tôi nằm chờ đợi cấp cứu tới.  Bên cạnh tôi , một quân nhân trong đơn vị của tôi nằm sắp chết, vì một vết thương nặng trên đầu.  Anh móc trong túi ra một tượng Chịu Nạn nhỏ và đọc bằng tiếng La-tinh lời kinh Ave Maria.  Đột xuất từ xa đó một chút có tiếng đáp lại: Sancta Maria Mater Dei.  Người thương binh quay nhìn và thấy một thương binh Đức mở to đôi mắt xanh nhìn anh. Người thương binh của tôi ngừng một phút rồi trao tượng Chúa cho người kia.  Người thương binh Đức ghì tượng vào ngực rất tha thiết rồi trao trả lại.  Hai người nắm tay nhau.  Người này nói :

– Chúng ta có thể chết bình an được rồi. Chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ.

Người kia trả lời:

– Chúng ta cùng đi về quê, nơi không còn hận thù.

Lát sau, cả hai trút hơi thở cuối cùng, cùng nhau đi về quê an bình.

****************************

Tháng hoa đã trôi qua gần nửa tháng.  Giáo Hội đã dành riêng trọn cả tháng này để tôn kính Mẹ, vì Mẹ chính là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc.  Mẹ đã góp phần rất lớn trong công cuộc Cứu Độ của con Mẹ. Trong những lần Mẹ hiện ra tại Fatima,  Mẹ đã cho nhân loại biết chính cái phương thế để dẫn nhân loại đi đến đường Cứu Rỗi, một trong những điều kiện  đó, chính là siêng năng lần Mân Côi.

Câu chuyện trên cho con nhận ra rằng:  Phương thế hữu hiệu nhất để đạt tới đỉnh Ơn Cứu Rỗi chính là Kinh Mân Côi.  Lời kinh nguyện mà nhiều người cho rằng là nhàm chán, cổ hũ, vì chỉ lặp đi lặp lại câu điệp khúc Kinh mừng… –  Thánh Maria….

Trong lúc bi đát nhất của cuộc đời người lính trong thời chiến, hai người lính đã thể hiện chính cái niềm tin sâu thẳm của mình.  Cả hai đã không còn hận thù, cầm cái vũ khí của con người làm ra để bắn vào nhau. Mà trước lúc nhắm mắt lìa đời, đã biết dùng chính cái phương thế hữu hiệu Kinh Mân Côi đó, để dùng Mẹ làm máng chuyển cầu lời nguyện xin ăn năn thống hối của mình lên Thiên Chúa. để cùng dắt nhau về đến một nơi, mà nơi đó chỉ có sự bình an.

****************************

Lạy Mẹ Maria, trong cuộc sống hằng ngày con đã nhiều khi không còn nhớ tới Kinh Mân Côi.  Con biết rằng Mẹ buồn  con nhiều lắm.  Con không xứng đáng để Mẹ nhìn đến.  Nhưng tự nơi lòng Từ Mẫu của Trái Tim Mẹ, con tin rằng Mẹ sẽ không nỡ ngoảnh mặt làm ngơ.  Xin Mẹ giúp con biết quay trở về với Chúa thông qua Mẹ.  Con xin dâng Mẹ đoá hoa lòng đơn sơ nhỏ bé của con lên Mẹ, mong Mẹ thương nhận.  Amen.

Phạm Bá Huyến sưu tầm

NGƯỜI VẪN LÀ CHA

Trong nhà thờ họ Molina di Quosa, một giáo xứ nhỏ ở Trung Ý, có một tượng chịu nạn kỳ lạ  đóng khung trong một toà kính.  Tượng Chúa bị cụt hết ngón tay trái, bụng dưới có những lỗ thủng, đùi trên đầu gối phải giập nát.  Hỏi người coi nhà thờ thì ông cho biết:

– Bất cứ ai trong xứ này cũng biết sự việc của tượng. Đó là tượng Chịu Nạn của bọn Đức.

Khách tò mò :

– Sao lại tượng Chịu Nạn của bọn Đức.

Người coi nhà thờ sẽ dẫn khách ra trước cửa chính và trỏ :

– Ông có thấy cái quán Café Enzio Graziani kia không? Vụ này xảy ra ở đó vào tháng 6 năm 1944 đấy.  Lúc đó có một đại đội lính Đức đóng tại đây.  Viên trung uý đại đội trưởng tên là Heinrich Lohse là một con người hung ác, ai cũng khiếp sợ.  Hắn chửi rủa dân làng, la hét, nói tục tĩu và say xỉn.  Hắn ghét người Ý tới tận xương tuỷ.

Hôm đó là chiều thứ sáu, trời chập choạng tối, hắn chơi bài trong quán, hắn khuấy động và uống nhiều.  Miệng thốt ra toàn lời tục tĩu và lộng ngôn.  Chúng tôi đâu có hiểu gì, nhưng sợ lắm, vì biết rằng cái lão Henri cao ngỏng (tên riêng chúng tôi đặt cho hắn) trong cơn giận dữ dám làm tất cả mọi chuyện.  Cả quán im phăng phắc khi thấy hắn đứng dậy, rút súng lục tiến lại trước tượng Chúa Chịu Nạn treo trên tường.  Hắn chĩa súng bắn vào tượng bốn phát.  Sau mỗi phát hắn lại nghiến răng như thằng quỷ.  Sợ quá!  Chúng tôi chuồn sạch.  Viên thứ nhất cắt đứt hết ngón tay trái tượng.  Viên thứ hai trúng đùi phải, hai viên sau trúng sườn bụng dưới và làm bể hồ trên tường.  Hắn cười man dại chạy tới giật tượng xuống, nhổ vào tượng và ném xuống đất kèm theo những lời chửi rủa tục tĩu.

Anh tài xế của hắn tên là Georgis quê ở Turin là người duy nhất còn lại trong quán chứng kiến tất cả vở kịch.

Điều gì đã xảy đến cho con người bất kính hung tợn đó?  Bàn tay Chúa đè nặng trên hắn.  Tám ngày sau, Georgis lái xe đưa vị chỉ huy của anh đi Florence, xe chạy hết tốc lực trên xa lộ vì trên bầu trời đầy đe doạ.  Bốn khu trục cơ của Mỹ đang nhào lộn như bốn con chim mồi trên chiếc xe.  Hai chiếc bay đi, hai chiếc ở lại bám riết con mồi và vụt nhào xuống trên chiếc xe.  Hắn muốn chơi trò anh hùng?  Hay hắn quá sợ chết điếng đi chăng?  Ai mà biết!  Chiếc thứ nhất nhào xuống nhả đạn.  Một viên đạn tiện hết ngón tay trái hắn.  Hai viên nữa trúng bụng dưới.  Chiếc thứ hai nhào xuống, viên trung uý gập đôi người gục vào xe, viên thứ bốn xuyên thủng đùi phải hắn.

Các khu trục bay đi, Georgis từ chỗ nấp chạy ra xe, viên trung uý đang hấp hối.  Không tự chủ được, anh thốt lên:

– Tượng Chuộc Tội ! Tượng Chuộc Tội!

Một linh mục cũng từ chỗ nấp chạy tới.  Ngài đã chứng kiến cuộc tấn công trên xa lộ và đoán được tai nạn.  Ngài cúi xuống trên nạn nhân đang trút máu và mồ hôi, ngài nghe anh ta rên rỉ:

– Thực là bàn tay Chúa.

Rồi thu hết tàn lực anh ta đưa tay phải còn lại làm Dấu Thánh Giá.  Heinrich Lohse, con người phạm thượng đã an nghỉ trong bàn tay yêu thương của Chúa như người trộm lành bên phải Chúa.

Cái tin vụ phạm Thánh và hình phạt của Chúa loan đi rất nhanh.  Người ta đổ đi tìm tượng Chịu Nạn, tượng nằm trong một thùng chứa quân trang.  Cha xứ làm phép lại, cộng đoàn dân Chúa kiệu tượng về nhà thờ gói trong tấm vải đặt trong hộp kiếng.  Ngày kỷ niệm thứ hai cả giáo xứ rước Tượng quanh làng với đèn đuốc và ca nhạc tưng bừng.  Khách cứ đến quán Café xem các vết đạn trên tường và vào cha xứ, ngài sẽ mở công hàm cho đọc câu chuyện vụ việc có chữ ký xác nhận và chứng thực của anh tài xế Georgis. Khách tự kết luận vụ việc.

Hình phạt và ân sủng.  Lòng Nhân Từ và sự Công Bình của Chúa luôn đi đôi với nhau.

*******************************

Lạy Chúa, đứng trước hiện tượng The Da Vinci Code, con cầu xin Chúa cũng soi sáng dẫn lối cho những con người đang muốn bóp méo sự thật về Chúa, biết dừng lại những ý nghĩ ngông cuồng để họ biết suy diễn đúng đắn về Con Người và Ơn Cứu Độ của Chúa, cho họ biết quay trở về với Chúa như  anh chàng Heinrich Lohse ngông cuồng ngày nào.

HMN

TÌNH YÊU

Lần kia, có một thanh niên nghi ngờ về sự hiện hữu của Thiên Chúa.  Vì thế, anh ta đến thăm viếng một tu sĩ nổi tiếng là thánh thiện.  Anh hỏi vị tu sĩ: “Thầy có tin tưởng vào Thiên Chúa không?”.

Vị tu sĩ đáp: “có chứ”.

Người thanh niên hỏi: “Dựa vào chứng cứ nào mà thầy tin được?

Vị tu sĩ đáp: “Ta tin tưởng vào Thiên Chúa, bởi vì ta biết Người.  Mỗi ngày, ta đều cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm hồn ta”.

Người thanh niên hỏi “nhưng làm thế nào điều đó có thể xảy ra được?

Vị tu sĩ trả lời: “Khi biết sống yêu thương, thì chúng ta cảm nghiệm được Thiên Chúa, và nỗi nghi ngờ tan biến, giống như làn sương buổi sáng bị tan biến trước ánh nắng mặt trời vậy”.

Người thanh niên suy nghĩ về câu nói này trong giây lát, rồi thắc mắc: “Làm thế nào để con có thể đạt được niềm tin chắc chắn này?”.

Vị tu sĩ đáp “Bằng cách hành động theo tình yêu.  Con hãy cố gắng yêu thương những người đồng loại; yêu thương họ một cách tích cực và không ngừng.  Trong khi con học hỏi được cách càng ngày càng yêu thương hơn, thì con sẽ càng ngày càng trở nên tin tưởng vào sự hiện hữu của Thiên Chúa, và sự bất tử của linh hồn.  Ðiều này đã được thử nghiệm.  Ðây là đường lối đúng đắn”.

***************************************

Vị tu sĩ chỉ phản ánh lại những lời nói của thánh Gioan “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu”.  (1Ga 4:7-8)

Tình yêu là điều kiện đầu tiên, để thực sự hiểu biết về cuộc sống, và đặc biệt là hiểu biết về Thiên Chúa. Như cha Zosima nói trong cuốn sách Anh em nhà Karamazov của Dostoevsky “Bạn phải yêu thương tất cả những gì mà Thiên Chúa đã tạo dựng nên, toàn bộ thế giới của Người, và mỗi hạt cát trong đó. Nếu bạn yêu thương tất cả mọi sự, thì bạn cũng sẽ nắm bắt được mầu nhiệm có trong tất cả mọi sự”. Van Gogh đã nói một câu tương tự :Cách thức tốt nhất để nhận biết Thiên Chúa là yêu thương nhiều thứ. Hãy yêu thương bạn bè, vợ con., và bạn sẽ được đi trên đường lối đúng đắn trong việc nhận biết Thiên Chúa”.

Tình yêu là người giáo viên tốt nhất mà chúng ta có. Nhưng tình yêu không đạt được sự hòa hợp riêng của nó. Người ta phải trả giá đắt cho tình yêu. Tình yêu thường đòi hỏi nhiều năm tháng kiên trì, qua những công việc lặt vặt, trước khi người ta có thể đạt được khả năng biết yêu thương.

Có một khoảng cách lớn, giữa việc nhận biết Thiên Chúa và yêu mến Người. Không biết yêu mến, có nghĩa là không biết Thiên Chúa. Nhưng khi chúng ta biết yêu mến, thì khoảng cách này được lắp đầy. Biết yêu mến, có nghĩa là biết Thiên Chúa. Ở đâu có tình yêu, ở đó có Thiên Chúa; ở đâu có Thiên Chúa, ở đó có tình yêu. Sự nhận biết không phải là chứng tỏ hoặc giải nghĩa.

Ghen ghét là một điều tồi tệ.  Ghét bất cứ thứ gì cũng đều là xấu xa cả. Thật là điều tốt đẹp, khi yêu mến tất cả mọi sự, ngay cả một bụi hoa hồng. “Ðối với tôi, tôi hài lòng được trở thành một người làm vườn, một người biết yêu quí những cây cỏ của mình” (Van Gogh).

Bởi vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, cho nên ngay từ bẩm sinh, mỗi người chúng ta đều có khả năng biết yêu thương. Tuy nhiên, để được như vậy, trái tim phải ngay thẳng. Nếu chỉ có được một trái tim ngay thẳng, thì chúng ta có thể hiến tặng nhiều hơn nữa. Nhưng than ôi ! Nhiều khi trái tim con người lại thờ ơ lạnh lẽo, đôi khi còn trống rỗng, tan vỡ nữa. Chúng ta không nên ngạc nhiên về điều này. Tất cả điều đó nói lên rằng chúng ta có một trái tim bằng máu thịt, chứ không phải là bằng đá. Nhưng chúng ta phải chữa lành những vết thương của trái tim, để có khả năng tạo ra được những hoa quả của tình yêu.

Khi chúng ta biết yêu thương, thì hình ảnh của Thiên Chúa đạt mức độ tươi đẹp nhất và rạng ngời nhất nơi chúng ta.

Sưu tầm

***************************************

Lạy Thiên Chúa Tình Yêu, con biết tình yêu Ngài đòi hỏi không chỉ dừng lại nơi gia đình, bạn bè, những người thân quen hiền lành dễ thương mà trải rộng ra thế giới bên ngoài đến những người xa lạ, nghèo khó, những người cau có khó ưa, những kẻ thương không dễ,  và hơn nữa là yêu chính kẻ thù mình..  Thật không dễ để thực hiện điều này trong  cuộc sống..  “Yêu thì khổ, không yêu thì không biết Thiên Chúa.”  Xin cho con sự khôn ngoan để biết chọn lựa, thà khổ, thà lỗ  còn hơn sự thiệt thòi không biết Thiên Chúa.  Con sẽ không làm được điều đó nếu không có sự trợ giúp của Thiên Chúa, xin hãy ở bên con để dạy con học một chữ YÊU!.

THƯ GỞI CON YÊU

Đứa con gái yêu quý của mẹ ơi!

Mẹ đã lẻn vào phòng con, ngồi bên con khi con ngủ, và ngắm nhìn nhịp thở lên xuống của con từng lúc.  Mắt con nhắm lại an bình, mái tóc quăn vàng hoe đóng khung lấy khuôn mặt của con.  Chỉ ít phút trước, khi ngồi trong phòng với công việc giấy tờ của mẹ, một nỗi buồn sâu xa tràn ngập tâm hồn mẹ khi mẹ suy nghĩ tới những biến cố trong ngày.  Mẹ không thực sự tập trung vào công việc được nữa, và vì thế mẹ đã đến để nói chuyện với con trong sự tĩnh mịch khi con đang nằm nghỉ.

Buổi sáng mẹ đã bất mãn với con vì con mặc áo quần quá chậm chạp.  Mẹ đã bảo con từ nay chừa cái tính lờ đờ ấy đi.  Mẹ đã la mắng con vì con đã đặt sai chỗ chiếc vé ăn trưa.  Và mẹ thu dọn bữa điểm tâm với một cái nhìn thất vọng khi con làm đổ đồ ăn trên áo sơ mi của con.

– Lại đánh đổ!

Mẹ đã thở dài lắc đầu nói với con như thế nhưng con chỉ bẽn lẽn mỉm cười với mẹ và nói:

– Tạm biệt mẹ yêu!

Buổi chiều mẹ gọi điện thoại trong khi con chơi trong phòng ngủ của con, ca hát om sòm và diễn kịch một mình với tất cả những đồ chơi được xếp thành những hàng lối vui mắt ở trên giường.  Mẹ cáu kỉnh ra hiệu cho con giữ im lặng và ngưng chơi rồi mẹ tiếp tục bận bịu với công việc trên điện thoại.  Sau đó mẹ ra lệnh như một anh trung sỹ:

– Hãy ngưng những trò làm mất thời giờ như vậy đi!

Con trả lời với vẻ hối hận, trong khi sửa thế ngồi ngay ngắn bên bàn học của con, tay cầm một cây viết chì:

– Thưa mẹ, vâng.

Sau đó căn phòng của con trở lại yên tĩnh.

Buổi tối khi mẹ đang ngồi làm việc nơi bàn, con ngập ngừng tiến lại hỏi với một chút hy vọng:

– Mẹ ơi, chúng ta có đọc truyện tối nay không?

Mẹ trả lời sẵng giọng:

– Tối nay không đọc! Phòng con vẫn bừa bộn!  Mẹ sẽ phải nhắc con bao nhiêu lần nữa?

Con cúi đầu lê bước đi về phòng mình.  Một lúc sau con trở lại hé nhìn vào khe cửa.  Mẹ hỏi bằng một giọng khó chịu:

– Bây giờ con muốn gì?

Con không nói một lời, bước vào phòng, vòng tay ôm cổ mẹ, hôn lên má mẹ và thì thầm:

– Mẹ ơi! Chúc mẹ ngủ ngon!  Con yêu mẹ…

Đó là tất cả những gì con đã nói trong lúc xiết chặt lấy mẹ, rồi con biến đi nhanh như lúc con xuất hiện.

Sau đó, mẹ ngồi dán chặt mắt xuống bàn một lúc lâu, cảm thấy một đợt sóng hối hận dâng trào trong mẹ.  Mẹ tự hỏi, mẹ đã đánh mất nhịp điệu của ngày ở điểm nào và nó đáng giá ở cái gì?  Con đã không làm gì gây ra sự bực tức của mẹ.  Con chỉ là một đứa trẻ bận bịu với nhiệm vụ lớn lên và học hành.  Hôm nay mẹ đã bị lạc đường trong một thế giới của người lớn với những bổn phận, những đòi hỏi và có ít năng lực còn lại để trao cho con.  Hôm nay con đã trở thành thầy dạy của mẹ bằng sự thôi thúc không bị kiềm chế của con để chạy vào hôn chúc mẹ ngủ ngon, dù sau một ngày gian khổ, rón rén chung quanh những cơn giận dữ bực bội của mẹ.

Và lúc này, khi nhìn con nằm ngủ say sưa, mẹ ao ước được bắt đầu lại một ngày.  Ngày mai mẹ sẽ cư xử với nhiều hiểu biết như con đã chỉ cho mẹ hôm nay để mẹ có thể là một người mẹ đích thực:  trao tặng một nụ cười thân ái khi con thức; một lời nói khích lệ khi con đi học về; và một câu chuyện lý thú trước khi ngủ; mẹ sẽ cười khi con cười và sẽ khóc khi con khóc.  Mẹ sẽ nhắc nhớ mình rằng: con là một đứa trẻ, không phải là một người lớn, và mẹ sẽ tận hưởng chức vị làm mẹ của mình.  Tinh thần yêu thương và tha thứ của con hôm nay đã làm mẹ xúc động và vì thế, mẹ đến với con trong giờ phút muộn màng này để cám ơn con – đứa con của mẹ, thầy dạy của mẹ và người bạn của mẹ – về món quà tình yêu của con đã trao ban cho mẹ.

Diane Loomans

TÂM TÌNH GỞI MẸ

(Nhân dịp lễ Mother’s Day, xin thương tặng mẹ  và tất cả những người đã làm mẹ lời tâm tình này như một bó hoa tươi trong ngày lễ mẹ.)

“Anh ơi, anh ơi… mình có con rồi”  đó là giọng rất vui của mẹ nói với ba, sau khi nhìn thấy kết quả của thử nghiệm thai.  Đúng vậy, tôi đã hình thành trong bụng mẹ cách đó hai tuần.  Sự hiện diện của tôi đã làm cho cơ thể mẹ thay đổi, tôi cũng thay đổi rất nhiều thói quen và tánh tình của mẹ.  Tôi “bắt” mẹ phải ăn trong lúc đêm khuya, khi mọi người đang yên giấc và đôi lúc còn làm cho mẹ nôn ói, cáu gắt với mọi người, chắc mẹ mệt lắm!  Nhiều khi  tôi nghịch ngợm đá lung tung làm mẹ phải giật mình, tôi mỉm cười khoái chí… Mẹ nói với tôi:  “Con à, để cho mẹ yên được không?”  Tiếng của mẹ nghe ngọt ngào và êm tai quá.  Những lúc như thế tôi cố gắng ngồi yên không phá nữa, nhưng có những lúc vì muốn nhắc nhở mẹ về sự hiện diện của mình, tôi đá “giò lái” mấy cái làm mẹ giật nẩy mình.

Ở trong bụng mẹ thật sự rất ấm và an toàn, mẹ ôm chặt tôi ở phía trước và mang tôi đi bất cứ nơi nào mẹ đi qua.  Ngày sanh tôi, mẹ quằn quại trong đau đớn.  Tôi biết chứ, nhưng vì cứ tưởng sẽ xa mẹ vĩnh viễn nên không chịu ra đời, sự rụt rè của tôi đã làm cho cơn đau của mẹ kéo dài.  “Xin lỗi mẹ!  Xin lỗi mẹ!  Nhưng mà mẹ biết không, vì không muốn xa mẹ và muốn được làm một với mẹ nên con cứ ì ra không đi đâu cả.”   Khi vừa lọt lòng mẹ, tôi sợ hãi vì thế lấy hết sức mình khóc thật lớn và nghĩ thầm:  “Sao ở ngoài này lạnh thế kia?   Đây là thế giới ồn ào, hoàn toàn khác biệt với thế giới mà mình đã từng sống.  Liệu mình còn có những ngày an bình như ở trong lòng mẹ không?”  Nhưng chỉ vài giây thôi, một vòng tay mềm mại ôm lấy tôi, giọng nói ấm áp quen thuộc vang lên:  “Nín đi con…cục cưng của mẹ sao khóc lớn vậy?”  Nhờ giọng nói êm ái đó, tôi lấy lại bình tĩnh và mỉm cười.  Lần đầu tiên trong đời nhìn thấy mẹ, một cảm giác gần gũi trong tôi vì suốt chín tháng cưu mang mẹ và tôi nối liền nhau, cảm nhận được những niềm vui và nỗi buồn của nhau.

Lúc tôi chập chững những bước đi đầu đời, mẹ là người nắm tay dẫn tôi từng bước, đỡ tôi lúc té ngã.  Chỉ cần mẹ ôm tôi vào lòng xoa nhẹ lên chỗ đau thì vết thương của tôi như đã lành hẳn, tôi quên mất mình vừa bị té.  Nhớ ngày đầu tiên bước vào lớp học, tôi nhút nhát sợ hãi đứng thập thò ở cửa lớp, nhưng mẹ đã giúp tôi thêm can đảm, bước vào lớp với nụ cười gượng gạo để giấu đi giòng lệ đọng trên khoé mắt.  Những trưa hè tan học, tôi chui vào lòng mẹ để được nghe những lời vỗ về, được mẹ xoa vào cái lưng bé xíu.  Ôi, bàn tay mẹ sao mát lạnh và dễ chịu quá, khiến cho giấc ngủ trưa đến với tôi thật êm đềm.  Lúc ốm đau, mẹ là người ngồi cạnh, có lúc đã phải thức trắng đêm vì tôi.  Mẹ như muốn gánh đi sự đau đớn mà tôi đang có vì cơn bệnh, mẹ hoàn toàn chia sẻ mọi vui buồn cùng tôi.  Khi tôi lầm lỗi, vấp ngã bị mọi người chê cười, ruồng bỏ nhưng mẹ vẫn dang rộng cánh tay đón tôi vào lòng, dùng tình thương để nâng tôi dậy… chỉ có mẹ là người duy nhất có thể làm điều này thôi! đó là bao dung chấp nhận, hy sinh cho con cái của mình cho dù những đứa con của mẹ đã bao lần lạc lối.

Khi ở tuổi mới lớn, tôi ngơ ngác, sợ hãi trước những thay đổi của cơ thể, mẹ là người chỉ dẫn cho tôi, giúp tôi hiểu rõ đó là việc tự nhiên của tạo hoá.  Lúc tôi trưởng thành, mẹ dạy tôi phải làm gì để luôn là đứa con gái ngoan, ngõ hầu sau này trở thành người mẹ, người vợ tốt trong gia đình.  Ngày tôi lên “Xe Hoa”, nhìn mắt mẹ rưng rưng ngấn lệ, tôi hiểu phần nào nỗi lo lắng và ưu tư của mẹ…  Mẹ lúc nào cũng lo lắng và hy sinh cả tuổi xuân vì tôi cho dù con của mẹ đã lớn, đúng là “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình…”  Tôi càng hiểu rõ hơn sự bao la ấy khi tôi thực sự làm mẹ, như người đời thường có câu:

“Thức đêm mới biết đêm dài,
Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy”

Đúng thế, tôi cảm nhận tình thương sâu xa của mẹ dành cho tôi nhiều hơn khi lòng mình quặn thắt vì nhìn thấy con tôi té ngã hoặc chảy máu.  Tôi mơ hồ như có ai đang cào xé trong lòng vậy.  Cũng như mẹ, tôi luôn hướng lòng về con cái của mình, luôn mong những điều tốt đẹp đến với con mình, và cầu mong chúng được hạnh phúc.

*******************

Cám ơn mẹ đã cưu mang, sinh ra con, cám ơn mẹ đã cho con giòng sữa ngọt, đã dạy dỗ, dìu dắt con trên đường đời.  Mẹ ơi!  Lắm lúc con và mẹ đã không hiểu nhau vì sự cách biệt về tuổi tác, thay đổi của xã hội nhưng con không cố tình làm  mẹ buồn đâu, chỉ mong mẹ luôn vui và sống với chúng con.  Đừng để chúng con mồ côi mẹ nhé!

Green Frog

LIÊN KẾT VỚI NGƯỜI

Một thầy kiện mới mở được một văn phòng luật sư khang trang lịch sự.  Bỗng nghe có tiếng chân người ngoài cửa bước vào, ông vờ như không thấy.  Vội nhắc ống điện thoại lên, nói thật to trong ống nghe :

– Alô, văn phòng luật sư đây.

– Vâng, từ ngày tốt nghiệp đại học đến nay, tôi đã thắng nhiều vụ kiện lớn. Các công ty danh tiếng đều nhờ cậy tôi.  Tôi được rất nhiều người tin tưởng.  Tuy thu nhập cao nhưng tôi luôn dành 10% cho các công việc từ thiện.

Có tiếng gõ cửa, ông quay lại, thấy người đàn bà đang đứng chờ từ nãy, ông mới lịch sự thưa :

– Xin lỗi bà, tôi có khách quý đến.

Quay lưng lại, anh hỏi người vừa bước vào :

–   Anh cần gì ?

–   Thưa luật sư, có phải hôm nay là ngày đầu tiên văn phòng của ngài bắt đầu làm việc ?

–   Ðúng thế, anh cần tôi giúp vụ kiện nào ?

–   Dạ thưa không tôi là người của công ty điện thoại được cử đến để gắn đường dây điện thoại cho ngài!

*********************************

Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại mối liên hệ của chúng ta với Chúa. “Thầy là cây nho, các con là cành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, kẻ ấy sinh nhiều trái”(Ga 15,5).   Ðức Giêsu Phục sinh là cây nho, các tín hữu Kitô là cành. Cây và cành có chung một dòng nhựa, nên cùng một sự sống.  Càng gắn bó với cây, cành càng sinh nhiều hoa trái.  Nếu ngược lại cành sẽ héo tàn.  Ví như đường dây điện thoại của ông luật sư, không có nối với tổng đài thì đâu có liên lạc đối thoại: không có liên lạc đối thoại thì đâu có khách hàng, lợi nhuận! Cành chỉ giả vờ gắn liền với cây, nên làm gì có sinh hoa kết trái.

Cành nào đã sinh trái, càng phải sinh trái nhiều hơn.  Muốn sinh nhiều trái hơn, cành cần được cắt tỉa đớn đau.  Có cắt tỉa vun xới, cành mới sinh hoa kết quả.  Ðức Giêsu trên cây thập giá, như một thân nho trơ trụi.  Ðó là lúc phát sinh hoa trái nhiều hơn cả.  Từ cạnh sườn Người bị đâm thấu, Giáo Hội đã được sinh ra, và đơm bông kết trái dồi dào.

Mỗi người tín hữu Kitô cũng phải được cắt tỉa, vun xới bằng hy sinh đau khổ hằng ngày, mới trổ sinh hoa trái dồi dào.  Niềm vui và đau khổ không nhất thiết phải khử trừ nhau.  Ðôi khi nó réo gọi nhau, trong những cuộc đàm thoại huyền nhiệm.  Vì thế hy sinh không là bóp nghẹt cuộc đời, nhưng làm cho đời thêm triển nở tốt tươi.  Ðiều quan trọng là “Hãy ở lại trong Thầy” “Nếu không có Thầy các con không thể làm gì được”.  Ở lại trong Thầy và liên kết với Thầy qua đường dây “Cầu nguyện và bí tích”. Tất cả sức sống của Ðức Giêsu được chuyển thông từ đó, khả năng kết trái cũng phát sinh từ đó.  Ðức Giêsu dạy:  “Nếu các con ở trong Thầy và lời Thầy ở trong các con, thì các con muốn gì, cứ xin sẽ được”.

Nếu Ðức Kitô là Cây Nho đích thực, và Người Trồng Nho là chính Thiên Chúa thì chúng ta hãy là những cành nho căng nhựa sống, để dâng hiến cho đời những hoa trái tốt tươi.

*********************************

Lạy Chúa, Chúa muốn cắt tỉa chúng con khỏi những rườm rà, để cây đời chúng con trổ sinh nhiều hoa trái.  Xin cho chúng con can đảm, dám sống theo những đòi hỏi cắt tỉa của Chúa.  Amen!

Thiên Phúc

CHỜ ĐỢI VÀ CÁM ƠN

Một người mẹ nắm tay đứa con gái nhỏ băng qua đường, vừa đang đến lề bên kia đường thì gặp một người ăn mày đang giơ tay xin bố thí.  Để tập cho con có tánh giúp đỡ người tàn tật bà mẹ đưa con một tờ giấy bạc bảo:

– Con đem tiền này cho người tàn tật.

Đứa bé vui tươi cầm lấy tiền nhưng rồi lại rụt rè không dám đưa cho người ăn xin nghèo nàn bẩn thỉu.

Người mẹ đứng chờ mãi không thấy con đặt tiền vào đôi tay người ăn mày đang ngửa rộng đợi chờ.  Bà khòm xuống lấy tay con và nhẹ nhàng lòn ngón tay mình để mở các ngón tay nhỏ bé của đứa con thơ.  Những tờ giấy bạc rơi xuống tay người ăn mày, xong bà nói với con:

– Sao con không cho ông ta.

Đứa bé trả lời:

– Thưa mẹ, con không sợ nhưng con đợi ông ta đưa tay ra lấy.

– Thường ông sẽ không giơ tay cầm lấy đâu.

**************************

Qúy vị và các bạn thân mến,

Người ăn xin vẫn đứng chờ đợi sự bố thí bên lề đường, ai cho nhiều hay ít thì tự tiện bỏ vào lon hay bỏ vào lòng bàn tay đang ngửa ra chờ đợi.  Cử chỉ đó là một cử chỉ rất hay và đầy ý nghĩa, không phải để tránh sự đụng chạm vì phép vệ sinh, nhưng để nói lên sự tin tưởng không đòi hỏi của người ăn xin.  Bạn muốn cho ít nhiều bao nhiêu tùy ý bạn, tôi vẫn ngửa bàn tay ra chờ đợi và cám ơn.

Trước mặt Chúa là đấng đầy tình thương và luôn ban ơn phúc, tất cả chúng ta chỉ là những người ăn mày tình yêu của Chúa, kể cả sự sống của chúng ta.  Xin tất cả hãy đến cùng Chúa với đôi tay chụm lại và ngửa ra để Chúa quyền phép quan phòng và luôn thương xót ban ơn lành cho chúng ta theo Thánh ý Người.  Và chúng ta hãy bình an mà nhận những ơn lành đó với hết lòng biết ơn đúng theo thánh ý Chúa mọi ngày trong đời mình.  Đừng đến với Chúa trong thái độ chiếm đoạt cào cấu:  Chúa phải ban cho con cái này, Chúa phải ban cho con cái kia, nếu không con sẽ không tôn thờ Thiên Chúa nữa, nếu không con sẽ không đi lễ nhà thờ nữa…

**************************

Lạy Cha chúng con ở trên trời, Cha là Đấng tạo dựng toàn thể vũ trụ, Cha là Đấng ban cho con sự hiện hữu nơi trần gian, Cha biết con, Cha hiểu con hơn cả con hiểu biết con, con hết lòng tin tưởng nơi Cha.  Xin giúp chúng con đừng đòi hỏi quá nhiều nơi Cha, đừng than vãn phàn nàn khi gặp nghịch cảnh, nhưng cho chúng con biết suốt đời nhận nơi Cha với tất cả lòng biết ơn không phải như kẻ ăn mày nhưng như người con thảo biết Cha mình là ai.  Con xin hết lòng tạ ơn Cha.

R. Veritas

NHẪN YÊU THƯƠNG

Có một thời người ta đeo nhẫn để chứng tỏ mình là người tự do.  Rồi có một thời người ta đeo nhẫn để nói lên mình  đã ràng buộc, cam kết.  Và rồi cũng có một thời người ta tháo nhẫn vì cam kết không thành.

Thời La Mã cổ đại, những người sinh ra trong giai cấp tự do cần phải đeo nhẫn bằng vàng để mọi người biết rằng mình là giai cấp tự do, không thuộc tầng lớp nô lệ.  Những người nô lệ được trả tự do cũng cần phải đeo nhẫn, không phải bằng vàng nhưng là nhẫn bằng bạc.  Nếu đeo nhẫn để là tự do một thời, thì đeo nhẫn cũng là để cam kết một thời.  Người cam kết không thành, thì muốn tháo ràng buộc để đổi lấy tự do.  Thế nhưng tự do thì mênh mông quá.  Thế nào là hiểu tự do cho trọn nghĩa? Tự do để phóng túng  đời mình, hay tự do để quyết định đời mình hầu thăng hoa cuộc sống vẫn là nỗi băn khoăn dai dẳng.

Có nhiều người đã chọn tự do trong lời cam kết, thì cũng có  người chọn tự do trong tháo gỡ, chia li. Hành trình để tiến đến ngày trao nhẫn cho nhau là một hành trình gian nan, nhưng hành trình để đến lúc phải tháo nó cũng là  những chuỗi ngày đớn đau lắm.  Chẳng ai muốn sum họp để rồi phải li tan, nhưng tại sao phải li tan vẫn là một nhức nhối băn khoăn.

Chỉ có điều khi nhìn một cánh diều bay cao lại là cánh diều biết cam kết.  Nó chấp nhận ràng buộc với một điểm cố định qua sợi dây gắn bó.  Càng gắn bó chặt với trụ điểm, diều lại càng bay cao.  Khi diều bay cao, là lúc diều được tự do trong mây ngàn gió lộng, là tung bay trong trời rộng thênh thang.  Nếu có lúc nào diều tham lam, muốn có thêm tự do mà cắt đứt sợi dây cam kết, ấy là lúc càng phải trở lại với mặt đất  la đà, phải giã từ trời rộng thênh thang.  Mây buồn vì vắng bóng diều; diều buồn vì đã xa lìa mây.

Một lần cam kết là một lần ràng buộc, nhưng cũng nhờ ràng buộc mà có hướng để bay lên, để thăng hoa.  Tôi nhìn cánh diều chiều nay nơi sân chơi của lũ trẻ mà lòng bâng khuâng cho ý nghĩa thâm sâu của cuộc sống.  Dù cánh diều to hay cánh diều nhỏ; dù cánh diều đẹp hay những cánh diều xấu xí; dù nó là của chú bé nhà giàu hay trong tay cậu bé nhà nghèo, tất cả đều phải tuân theo quy luật ‘cam kết’ của kiếp làm diều để có thể được bay cao và tự do trong gió.

Có những người tôn trọng lời cam kết nên khắc cả lời thề hoặc khắc tên người yêu trên chiếc nhẫn cam kết của mình.  Người ta  như muốn nói, một lần đã cam kết là chẳng mong tháo gỡ bao giờ.  Ngày nay ít người khắc tên của người yêu trên nhẫn, nhưng người ta lại khắc tên của nhau trong tim.  Vì khắc tên của  nhau trong tim, nên khi tháo chiếc nhẫn cam kết, thì cũng có nghĩa là muốn xoá nhoà yêu thương, tẩy xoá tên của người yêu khỏi tim mình. Tên càng khắc sâu, thì vết thương càng đau khi xoá nhoà. Tim không là vàng, không là gỗ đá, nên khi xoá tẩy là gây nên niềm đau.  Có những niềm đau có thể nguôi ngoai, có những vết thương mong có ngày lành lại, nhưng cũng có những vết thương phải xót xa một đời.

Có những mong manh của li tan, thì cũng có những mẫu gương của chung thủy sắt son.  Những hình ảnh đẹp ấy vẫn sống động quanh ta hôm nay.  Tôi vẫn mãi cảm kích câu chuyện mối tình đẹp về lòng chung thủy của cặp vợ chồng  một cựu sĩ quan Việt Nam trong trại cải tạo sau năm 1975.   Khi biết bao người trong tù thời đó đã gạt lệ đắng cay khi nghe vợ mình xin phép chồng để chọn niềm yêu thương khác, hoặc nghe tin vợ mình  âm thầm ‘‘lái đò qua sông” không lời từ biệt.  Thì cặp vợ chồng cựu sĩ quan này đã chọn cho mình một lối cam kết tuyệt diệu.

Khi người vợ đến thăm nuôi, họ chỉ có thể gặp nhau trong  khoảnh khắc ngắn ngủi sau hàng rào thép gai đan kín.  Nhưng trong cái khỏanh khắc ngắn ngủi ấy, họ đã nghĩ ra cách tái cam kết tuyệt vời bằng cách đổi chiếc nhẫn cưới cho nhau.  Người chồng tháo chiếc nhẫn mà vợ trao cho mình hôm nào, rồi đeo vào tay của vợ mình.  Và người vợ cũng tháo chiếc nhẫn mà chồng trao cho mình năm xưa, rồi đeo vào tay của chồng như thêm một lần cam kết sẽ chung thủy bên nhau cho dù tù đày ngăn cách.  Vì chiếc nhẫn của chồng lớn hơn ngón tay của vợ, nên chị đã đeo nhẫn của chồng vào ngón tay cái của mình.  Còn chiếc nhẫn của vợ quá nhỏ, nên anh chồng đã đeo nhẫn của vợ vào ngón tay út của anh.

Họ đã đeo nhẫn ‘‘ngược đời’’ như thế  không những cho đến ngày gia đình đoàn tụ, nhưng còn đeo nhẫn kiểu đó cho đến ngày hôm nay, khi màu tóc đã bạc, khi ánh mắt đã nhạt nhoà.  Họ vẫn còn sống và sống hạnh phúc nơi xứ Mỹ này, với đôi nhẫn đã hơn một lần trao nhau.  Và tôi nghĩ rằng họ sẽ còn đeo nhẫn kiểu đó cho đến ngày đưa nhau về vĩnh cửu.

Nhẫn không đưa hạnh phúc về.  Ngón tay để xỏ nhẫn cũng không nối nhịp thủy chung.  Chỉ  thái độ đón nhận và trao ban trong cam kết mới làm cho yêu thương cất cánh.  Thế nhưng giá trị của cam kết  hôm nay dường như bị coi nhẹ lắm, xem chừng như đang lỗi thời.  Nhiều người cảm thấy lo âu cho những tuột dốc ấy; lo âu cho một trào lưu đang ăn mòn lối đi truyền thống; lo âu cho lời cam kết của mình hôm nay có được sắt son mãi như lòng mình ước mong?

Tu sĩ và giáo dân hôm nay đều mang một nỗi ưu tư chung. Ưu tư cho cuộc tình năm xưa có được thắm đượm như màu hoa trong ngày dâng hiến trao ban; ưu tư cho lời khấn nguyện có còn cháy sáng như ánh nến lung linh trên bàn thờ thủa  nào?  Trong cái bấp bênh của lời cam kết, người ta băn khoăn không biết bám víu vào đâu để tựa nương.  Thế nhưng, khi lời cam kết của con người mong manh, thì vẫn có Đấng không bao giờ mong manh trong lời cam kết.  Thượng đế!

Biết băn khoăn cho lòng trung thành là khởi đầu biết tìm đến Đấng luôn trung thành.  Chỉ có tình yêu và ân sủng của Đấng không bao giờ bất trung mới làm cho những cuộc tình luôn vĩnh cửu.  Có nói lên được một lời thủy chung với người bạn đời hôm nay, có nói lên được lời cam kết trung thành dâng hiến cũng chính là nhờ sự thúc đẩy của Đấng luôn chung thủy.  Lịch sử bất trung của Israel năm xưa vẫn là những lối mòn của chia lìa hôm nay.  Thế nhưng Thiên Chúa trung tín của Israel năm xưa thì vẫn là một Thiên Chúa luôn trung tín với cuộc đời mong manh của tôi hôm nay.  Thiên Chúa của hôm qua, của hôm nay và của cả ngày  mai vẫn là một Thiên Chúa của trung tín yêu thương.

Xin cho những băn khoăn  hôm nay biến thành lời  nguyện cho lòng sắt son chung thủy.  Xin cho những mong manh và bấp bênh của lời cam kết trở thành lòng thiết tha gắn bó, để ơn Trời tuôn đổ, để lòng xót thương dâng tràn và lời ca yêu thương vang mãi cho đến lúc đi về với vĩnh cửu.

Lạy Chúa, khi nhìn những tan vỡ chia li hàng ngày, con không khỏi băn khoăn cho ý nghĩa của lòng trung thành hôm nay.  Giữa những vết rạn nứt của bức tường truyền thống, con cũng linh cảm thấy những viên gạch của từng cá nhân, từng gia đình đang lung lay.  Chẳng người thợ xây nào mà an vui trước rạn nứt của toà nhà.  Chúa là người thợ xây và là nhà thiết kế.  Xin nung lại viên gạch yêu thương của đời con.  Xin ban thêm cho con loại ‘‘xi măng’’ ân sủng, để hạt cát gắn bó được bền chặt giữa mưa ngàn gió cuốn.  Xin cho những chiếc nhẫn đã một lần trao tay, được ở lại mãi với chủ nó, để tự do được thăng hoa.  Nhẫn không là cầu nối, lời thề chẳng dệt nên yêu thương.  Chỉ có chính Chúa mới là cầu nối của yêu thương, nối kết đời con trong ân tình chan chứa.

Nguyễn Thảo Nam

CÁI CHẾT GIÚP SỰ THẬT HIỂN LỘ

Sau ba năm Đức Giêsu rao giảng, không ít người đã tin vào Ngài; tuy nhiên niềm tin vào Đức Giêsu của những người này tối đa cũng tương tự như niềm tin của các tông đồ khi Đức Giêsu còn sống đời dương thế.  Họ cho rằng Đức Giêsu là một vị thầy, hơn nữa có thể là một tiên tri, và cao nhất có thể là Đấng Kitô Vua (Ga.6, 15; Mc.8, 29; 11, 9-10).  Vào thời điểm đó, người ta không thể biết khác hơn được.  Còn đối với những người không tin Đức Giêsu, những kẻ khó chịu hoặc bực tức vì Ngài trổi trang hơn họ, Đức Giêsu đơn thuần chỉ là một con người bình thường như bao người.  Những người này không chỉ bất đồng ý kiến với Đức Giêsu, không chỉ khó chịu và bực tức mà còn muốn giết Đức Giêsu nữa (Mc.3, 6).

Vào thời cuối của ba năm rao giảng, Đức Giêsu đã nhiều lần nói những điều có thể làm cho Ngài phải bị ném đá.  Chẳng hạn Ngài nói Ngài có quyền tha tội (Mc.2, 5.7), Ngài có trước Abraham (Ga.8, 57-58), Ngài và Thiên Chúa là một (Ga.10, 30).  Vào cuối đời, Ngài có những câu nói “gây mất lòng” nhiều người.  Càng vào cuối đời, càng có ít người theo Ngài, vì những lời khó có thể hiểu và chấp nhận được, chẳng hạn: “chính tôi là bánh hằng sống.  Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga.6. 35).  Những lời nói tương tự không chỉ làm Đức Giêsu “mất người” mà còn gây thêm có nhiều người thù địch với Ngài, thậm chí còn làm cho những người muốn giết Ngài có đủ bằng cớ và hậu thuẫn.  Chẳng hạn, Ngài nhận mình là Thiên Chúa: “chúng tôi ném đá ông, không phải vì một việc tốt đẹp nhưng vì một lời phạm thượng: ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa” (Ga.10, 33).

Gần lễ Vượt Qua, âm mưu giết Đức Giêsu trở nên rõ ràng nên Ngài lui về Galilê.  Vì thế, thời điểm Lazarô chết không có mặt Đức Giêsu tại đó.  Sau đó khi Ngài muốn lên Giêrusalem thì các tông đồ đã ngăn cản.  Tông đồ Thomas đã động viên các bạn: “nào chúng ta cùng lên Giêrusalem để cùng chết với thầy” (Ga.11, 16).  Đức Giêsu cũng biết Ngài sẽ bị giết nếu Ngài lên Giêrusalem vào thời điểm này, tuy nhiên Ngài vẫn cứ lên.  Ngài không muốn trốn chạy cái chết.  Ngài đã phải chọn lựa giữa sống và chết một cách cụ thể qua việc có lên Giêrusalem dịp lễ Vượt Qua này hay không.  Cuối cùng Ngài đã chọn lên Giêrusalem cho dù cái chết đang chờ đón Ngài.

Ở Giêrusalem, Ngài vẫn làm điều Ngài vẫn thường làm: “ban ngày Ngài giảng dạy trong đền thờ, còn ban đêm Ngài và các tông đồ ra vườn dầu để ngủ” (Lc.21, 37).  Hôm nay Ngài vào Giêrusalem và được dân chúng đón rước như vị Thiên Sai.  Ngài chấp nhận biến cố này vì biết thời điểm đặc biệt của Ngài đã đến: thời điểm Ngài được tôn vinh cũng là thời điểm Ngài chết trên thập giá.  Cái chết của Ngài có thể được thấy trước vì nó cũng theo quy luật của xã hội: người ta ghét Ngài đến độ muốn giết Ngài (Mc.14, 1).

Lúc khởi đầu người ta muốn giết Ngài vì Ngài đã dám suy nghĩ và nói ngược lại những người có thế lực (Mc.3, 6; 14, 1; 14, 53-59); nhưng khi vị thượng tế hỏi Đức Giêsu và Đức Giêsu trả lời: “rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và đến trên mây trời” thì họ không cần phải sắp đặt chứng cớ để giết Đức Giêsu như trước nữa, vì Đức Giêsu đã phạm một tội vô cùng lớn mà mọi người Do Thái một khi biết đều phải xử tử Đức Giêsu, vì là người mà dám cho mình ngang hàng với Thiên Chúa (Mc.14, 62-64).  Đức Giêsu đầu tiên bị người ta ghen ghét mà muốn giết, rồi khi đã bị bắt và xét xử với chứng cớ được xếp đặt trước, Ngài lại nói Ngài ngang hàng với Thiên Chúa; như vậy trước công nghị Do Thái, Đức Giêsu bị kết án tử hình vì tội tôn giáo: lộng ngôn xúc phạm đến Thiên Chúa.  Trên thập giá Đức Giêsu nói: “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng lầm chẳng biết” (Lc.23, 34); thật vậy, không biết nguồn gốc thần linh của Đức Giêsu, thì kết án Ngài là chuyện tất nhiên.

Để giết được Đức Giêsu một cách hợp pháp, người Do Thái phải đem Đức Giêsu sang tòa Roma.  Vào thời người Do Thái bị đô hộ, quyền xử tử thuộc về thẩm quyền người Roma.  Đức Giêsu đã bị gán cho tội chính trị “xưng vương”.  Nếu không gán cho Đức Giêsu tội chính trị thì Philatô đã không kết án tử hình Đức Giêsu.  Philatô biết Đức Giêsu bị oan, nhưng vì sợ mất chức nên đã kết án Ngài.  Nếu không kết án Đức Giêsu, Philatô có thể bị người Do Thái tố cáo với hoàng đế Roma vì đã buông tha người xưng vua phất cờ khởi nghĩa.  Nếu vậy, Philatô phải giải thích, phải biện luận, và sẽ gặp nhiều phiền phức, và hậu quả sẽ là không được hoàng đế tin tưởng nữa, vì vậy Philatô đã kết án tử hình Đức Giêsu thuận theo ý của người Do Thái.

Nếu Đức Giêsu chỉ là một con người, Đức Giêsu xứng đáng lãnh án tử.  Thực vậy, khi Đức Giêsu còn sống, nào ai biết Đức Giêsu là người có nguồn gốc thần linh, vì đâu là chứng cớ để người ta có thể tin như vậy!  Chỉ khi Đức Giêsu chết và sống lại, người ta mới nhận ra những gì Đức Giêsu nói và cho mình là chân thực.  Như vậy, chỉ sau biến cố Đức Giêsu Phục Sinh, các tông đồ mới biết chân tướng của Đức Giêsu.  Nếu Đức Giêsu là kẻ lộng ngôn phạm thượng, thì Thiên Chúa đã chẳng phục sinh Ngài, còn nếu Ngài đã sống lại, nghĩa là những điều Ngài đã nói là đúng, là chân lý.  Nghĩa là, Ngài và Thiên Chúa là một, Ngài ngự bên hữu Thiên Chúa, Ngài có trước Abraham.

Khi còn sống đời dương thế, Đức Giêsu khó có thể thoát chết, vì chân tướng của Ngài chỉ có thể được thấy rõ sau khi Ngài sống lại.  Đức Giêsu bị hiểu lầm mà bị kết án tử hình, vì không ai biết Thiên Chúa là Ba Ngôi Vị, vì không ai có thể tưởng rằng Thiên Chúa có thể nhập thể làm người.  Sau khi Ngài sống lại, với ơn của Thánh Thần, các tông đồ nhận ra ý nghĩa của những lời Ngài đã nói mà khi Ngài còn đang sống các ông chẳng hiểu gì.  Ngài là Đấng có nguồn gốc thần linh, Ngài ngự bên hữu Thiên Chúa, Ngài và Cha là một, Ngài là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, Ngài là Thiên Chúa nhập thể.

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm SJ

GIUĐA HAY LÀ TÔI…?

Nói đến Giuđa Iscariốt, ai cũng biết, ông là kẻ phản bội Chúa Giêsu, là kẻ bán đứng Thầy mình.  Nhưng khi tranh luận về Giuđa thì nhiều thắc mắc được nêu lên: Giuđa là kẻ có công hay có tội?  Là bậc ái quốc đại trượng phu hay là kẻ phản bội tiểu nhân?  Giuđa lên thiên đàng hay xuống hoả ngục?

Mùa Chay lại đến, một lần nữa, tôi và bạn cùng nhìn lại gương mặt nhiều màu sắc ấy của một người từng là môn đệ Chúa.  Mùa Chay là dịp thuận tiện để tôi và bạn soi mình vào “tấm gương Giuđa” mà nhìn thấy rõ thân phận yếu đuối, mỏng giòn của con người mình chẳng khác gì con người tội lỗi Giuđa ngày xưa.  Để rồi từ đó, tôi và bạn xin ơn biến đổi và cảm nghiệm sâu xa hơn đường lối chúng ta đang chọn, đang dấn thân, cũng như xin ơn nhận ra tình thương bao la của Thiên Chúa dành cho con người và dành cho ơn gọi của tôi và bạn.

Thường khi nói đến Giuđa, người ta nghĩ ngay đến một người mặc đồ đen từ bên ngoài đến bên trong tâm hồn, tưởng tượng Giuđa với cặp mắt dữ dằn, gương mặt phản trắc của một tên lưu manh…  Thật ra, rất có thể tôi và bạn đang sánh vai với Giuđa trong đám đông, đang bàn bạc với Giuđa trong mọi kế hoạch, và có những lúc, tôi và bạn đã quỳ bên cạnh Giuđa trong nhà thờ… vì Giuđa trước hết là một tông đồ mà!

Có người đồng hoá Giuđa với Satan, và hơn một người đã nâng Giuđa lên hàng thánh nhân, vì lý do: Giuđa là điều kiện không thể thiếu được trong chương trình cứu rỗi của Chúa!

Thật ra, Giuđa ở giữa hai thái cực đó, giữa một thằng quỷ và một ông thánh, giữa một tên lưu manh và một vị anh hùng.  Vì Giuđa là một con người.  Có một điều chắc chắn: Giuđa không phải là kẻ đốn mạt, mất trí.  Bởi nghi ngờ điều này là nghi ngờ sự khôn ngoan và đường hướng của Chúa và của Thiên Chúa Cha.

Trong Lc 6, 12-16 viết: Trong những ngày ấy, Chúa Giêsu ra núi cầu nguyện và Ngài đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa.  Sáng ngày, Ngài kêu các môn đệ lại và chọn lấy trong họ nhóm 12, Ngài gọi họ là Tông đồ: Simon, Anrê… và Giuđa Iscariot.

– Suốt đêm, Chúa Giêsu đã cầu nguyện để rồi chọn Tông đồ Giuđa.  Điều ấy thật rõ ràng.  Giuđa đã được chọn sau một đêm Chúa thức trắng cầu nguyện.

– Giuđa đã được chọn để trở nên một Tông đồ.  Giuđa được đặt ngang hàng với Phêrô, Anrê, Mathêu, Philip và những Tông đồ khác.  Giuđa được nghe những gì họ nghe, thấy những gì họ thấy.

– Giuđa cũng đi rao giảng Nước Trời như họ.

– Giuđa không được chọn để quay lưng với Chúa, để phản bội Ngài.

Chúa Giêsu có lầm khi chọn Giuđa không?  Tại sao Thiên Chúa lại chọn Giuđa dù biết rõ con người Giuđa?

Chúa không lầm khi chọn Giuđa.  Chúa không lầm khi chọn những Tông đồ khác.  Chúa không lầm khi chọn gọi tôi và bạn.  Bởi vì, Kinh Thánh cho thấy: đâu phải Thiên Chúa chỉ chọn những con người xứng đáng, mà Giuđa cũng như tôi và bạn, đã được chọn để thanh luyện, để được nâng cao lên, để nên xứng đáng hơn.

Giuđa đã nhanh chóng đáp lại tiếng gọi của Đức Kitô.  Ông muốn trở nên môn đệ Chúa.  Ông đã từ bỏ tất cả để theo Chúa không một chút do dự và Giuđa đã được cả nhóm đón nhận.  Họ đã chọn ông làm thủ quỹ, vì họ tôn trọng tài năng của ông.  Họ quý mến và tin cẩn ông, dù ông là người miền nam duy nhất trong số 12 Tông đồ.

Thật ra Giuđa không xuất hiện từ đầu như một người quay lưng lại với Chúa, bởi không ai bỗng dưng mà phản bội.  Giuđa không thay trắng đổi đen đầu hôm sớm mai, mà ông đã bước dần đến hố thẳm, ông bước đi từng bước một… và mỗi lần Giuđa bước thêm một bước gần đến hố thẳm là mỗi lần ông được Đức Giêsu nhắc nhở, cảnh báo một cách kín đáo nhưng thật rõ ràng.  Tin Mừng có ghi lại cách rõ ràng những bước chân sai phạm đó của Giuđa.

Lần 1: khi đám đông bỏ đi vì những lời giảng thật khó nghe về bánh hằng sống của Ngài, Chúa đã hỏi các Tông đồ: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ Thầy mà đi sao?”  Và trước lời xác quyết chắc nịch của Phêrô Simon: “chúng con biết theo ai, vì Thầy mới có Lời hằng sống.”  Chúa nói một câu mà chỉ có Giuđa hiểu: “Chẳng phải Thầy đã chọn cả 12 người đó sao?  Thế mà một trong anh em là quỷ dữ” (Ga 6, 67).  Như thế, Chúa biết trước về Giuđa như Thánh Vịnh 41, 10 tiên báo: “Kẻ cùng con chia cơm sẻ bánh, lại giơ gót đạp con.”

Chúa Giêsu biết rõ lời tiên báo ứng nghiệm nơi chính con người Giuđa, vì có những dấu hiệu ngày càng rõ: sự suy giảm nhiệt tình, sự cứng cỏi, sự biếng nhác cầu nguyện, sự tự mãn kiêu căng trong đời sống đạo đức, tính ham mê lời khen và sự nể vì.  Chính vì thế có lần Chúa đã nhắc nhở: “Nếu anh em yêu mến Thầy thì sẽ giữ Lời Thầy.”  Và hơn một lần, trước lời trầm trồ của một phụ nữ: “Phúc cho lòng dạ nào đã cưu mang Thầy, và phúc cho vú nào đã cho Thầy bú mớm,” thì Chúa xác quyết: “Ai nghe và làm những điều ta nói đây, thì ví như người khôn xây nhà trên đá.”  Chúa Giêsu đã nói nhưng Giuđa nào đâu có biết!  Giuđa không nghĩ rằng kẻ tội nghiệp đó chính là mình.  Như David xưa cũng không nhận ra tên nhà giàu tham lam, độc ác trong câu chuyên của Nathan lại là chính mình.  Giuđa vẫn cảm thấy thoải mái với Chúa, an tâm với công việc mà ông gọi là dấn thân, phục vụ!

Lần 2: Khi gặp Giuđa, thì ông đã trở nên một tên ăn cắp mà mãi sau này người ta mới phát hiện ra.  Lúc Maria lấy dầu thơm trong bình bạch ngọc xức lên chân Chúa, Giuđa bảo: “Sao không đổi lấy 30 đồng mà cho người nghèo?”  Nhưng Thánh Gioan sau này giải thích: “Giuđa nói những lời này không phải vì bận tâm đến người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp, y giữ ví tiền, nên cái gì bỏ vào túi y là y phỗng mất” (Ga 12, 5-6).

Giuđa cũng như tôi và bạn đi theo Chúa, ngay từ đầu đều có mục đích, một chí hướng.  Nhưng tiếc thay, ý hướng ngay lành đó có thể đang bị méo mó, bị cám dỗ dưới quá nhiều hấp dẫn của sự đời.

– Ông tỏ ra thương yêu người nghèo, nhưng bên trong đầy những tính toán vụ lợi.

– Ông đưa ra bên ngoài khuôn mặt nhân ái, để che giấu bên trong lòng ganh ghét đố kỵ.

– Trên môi ông là những lời lẽ vị tha nhân ái, nhưng trong tâm tư là những nguyên do vị kỷ thấp hèn.

– Ông là kẻ luôn nói đúng, nhưng lại làm sai hoặc chẳng làm gì cả.

– Ông là người phục vụ chính mình, thay vì phục vụ Thiên Chúa và tha nhân.

Và cứ thế mà tiến, những bước chân của Giuđa đã đưa ông đến bờ vực của sự phản bội.  Câu hỏi được đặt ra: vì sao Giuđa lại làm thế?  Lại trở nên một kẻ chỉ điểm, ám hại, bán đứng Chúa Giêsu?  Có nhiều cách giải thích, nhưng Kinh Thánh trả lời: “Satan đã nhập vào Giuđa, gọi là Iscariot.” (Ga 13,2/ Lc 22,3-4)

Dĩ nhiên, Satan không thể tự tông cửa mà vào, nhưng chính Giuđa đã vui lòng tự ý mở cửa.  Giuđa đã phản bội Thầy mình.  Thật ra, ông có thể chỉ cho họ biết nơi ở của Chúa Giêsu, có thể mô tả cách ăn mặc của Chúa để giúp họ nhận diện.  Nhưng không, chính ông đã đến tố giác Chúa, tố giác bằng một cái hôn.  Với Giuđa, dấu chỉ của yêu thương trở thành hành động của sự phản bội.

Giuđa đã bỏ lỡ nhiều cơ hội Chúa đã dành cho ông.  Ông đã từ chối những cánh cửa Chúa đã mở cho ông.

Chúa Giêsu biết rất rõ Giuđa sẽ phản bội, sẽ bán đứng mình bằng một cái hôn.  Ngài còn biết rất rõ rằng: Giuđa có nhiều khả năng, Giuđa có thể đổi đời và Ngài hy vọng ông sẽ đổi đường đi để đời ông đơm hoa kết trái.  Chính vì thế, Ngài đã chọn Giuđa.  Chúa chọn Giuđa không vì Giuđa xứng đáng mà để ông được biến đổi và nên xứng đáng hơn.

Bữa tiệc ly bắt đầu bằng một cử chỉ khiêm hạ đến rợn người.  Chúa rửa chân cho các môn đệ, cho Phêrô và cho cả Giuđa.  Ngài rửa chân cho Giuđa để ông tỉnh thức, để các tông đồ khác sau này hiểu rằng: dù biết trước sẽ bị bán đứng, nhưng Chúa vẫn luôn yêu thương Giuđa.  Dù con người bất trung bất xứng tới đâu, Thiên Chúa vẫn một niềm trung tín, vì Ngài là tình yêu… biết mình bị phản bội mà vẫn cứ yêu thương.  Ngài cúi xuống rửa chân cho Giuđa, mong ông nhìn ra tình thương của Ngài. Nếu Giuđa bắt được cái nhìn đó, có lẽ ông đã có một “sức bật” như Phêrô và sẽ không đi đến vực thẳm tuyệt vọng.

Trao tấm bánh cho Giuđa, Chúa muốn mở cho ông một lối thoát sau này.  Ngài muốn các môn đệ khác không hận thù, tẩy chay, nhưng vẫn để cho Giuđa là thành viên của nhóm 12.  Chúa vẫn rất thương ông dù Giuđa có đốn mạt đến dâu đi chăng nữa.  Ngài hy vọng ông sẽ thay đổi và sẽ lại là một tông đồ.  Vì Thiên Chúa là Đấng “không bẻ gẫy cây lau bị dập, không dập tắt tim đèn còn khói.”

Nhưng khốn nỗi, trong bữa tiệc ly hôm ấy, chỉ một mình Gioan là hiểu được tấm lòng của Ngài.  Và Chúa Giêsu biết Gioan hiểu mình.  Gioan hiểu Chúa muốn anh em đừng làm khổ Giuđa, Gioan hiểu: Chúa muốn ông đứng ra làm chứng nếu sau này anh em có làm phiền Giuđa.  Cho đến phút cuối, Giuđa cũng đã nhận ra tấm lòng của Chúa (Mt 27,3-10).  Ông hối hận, ông xưng thú tội công khai và sẵn sàng đền tội.  Nhưng điều đáng tiếc là cách hành xử của ông đã làm uổng phí những cố gắng của Chúa.  Ông đã để lỡ cơ hội của Chúa, vì ông không thể tin rằng ông lại có thể được tha thứ, lại có cơ hội để sửa đổi.  Ông đã để lỡ cơ hội của đời mình, vì ông không tin rằng Chúa lại có thể thương mình đến như thế!

Cái chết của Giuđa vén tỏ một chân lý: quỷ dữ và con người chỉ khác nhau có mỗi một điều: cả hai cùng có thể sa ngã, nhưng quỷ dữ thì sa ngã luôn, còn con người vẫn có cơ hội chỗi dậy, phục hồi và đi tới.  Cái chết của Giuđa cho tôi và bạn nhận ra rằng: trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa, cho dù có chậm chạp, té ngã nhiều đến đâu, nếu biết chỗi dậy trong hành trình đi theo Chúa, chúng ta không bao giờ trễ cả.

Một ai đó đã ví von: “hãy nhìn về phía mặt trời, bóng tối sẽ ở sau lưng bạn.”  Như thế trở về với Chúa cũng là một cuộc chọn lựa, gạn đục khơi trong, bóc hết lớp vỏ bề ngoài mau qua, để dung nhan Thiên Chúa rạng ngời nơi tâm hồn.  Ơn gọi dấn thân, phục vụ của tôi và bạn không phải chạy theo nghi lễ bề ngoài, hay những nhu cầu giả tạo mau qua, cũng không sa lầy vào thói phô trương công đức, hay bằng lòng với một vài hoạt động rình rang nhưng rỗng tuếch vì thiếu sức sống, thiếu tình người.  Nhưng là tiếp tay đem ánh sáng thần linh của Đức Kitô soi chiếu vào những mảnh đời tối tăm, những thân phận hẩm hiu, sao cho dung mạo nhân loại chói ngời ánh sáng nhân phẩm, ánh sáng văn hoá, ánh sáng lương tâm và ánh sáng thần linh.  Như thế, tôi và bạn đang cộng tác vào việc biến đổi thế giới, đang theo chân Đức Kitô để cùng với Ngài đưa nhân loại vào hành trình phục sinh, khởi đi từ chính những đổi thay ngay từ hôm nay trong lối sống, trong cách nhìn, trong nếp nghĩ của chính mình.

Mùa Chay là một chặng dừng cần thiết của cuộc hành trình nội tâm của tôi và bạn.  Đó là giờ của ân sủng, là thời gian Thiên Chúa yêu thương con người.

Cuộc hành trình của con sâu gỡ mình ra khỏi tổ kén để trở thành cánh bướm, tương tự như cuộc “lột xác” của tôi và bạn, gỡ bỏ mọi khuynh hướng xấu của đam mê và tội lỗi để có thể gặp Chúa nơi tha nhân, là cuộc hành trình của hạt mầm đâm chồi vươn lên cho vụ mùa tốt tươi.  Hãy cúi mình xuống trong chân thành, khiêm hạ để có thể mở rộng tâm hồn với ân sủng Chúa ban qua những biến cố, những thành công, niềm vui và cả những thất bại, rã rời của tôi và bạn, vì biết rằng Chúa vẫn luôn mở ra cho tôi và bạn những cơ hội mới.  Bởi dù sao đi nữa, tôi và bạn không bao giờ thất vọng vì tin rằng Chúa luôn bên chúng ta và Chúa cũng không bao giờ thất vọng về chúng ta.

TuGiaVi