CHÔN CẤT

Không phải hễ có chết là có an táng cả đâu.  Rất nhiều trường hợp hết đời âm thầm, tàn lụi không an táng.  Không ai an táng một tư tưởng ngay cả có thời nó được coi là vĩ đại.  Không ai an táng một mối tình đứt quãng giữa đường.  Chẳng ai an táng cái chết của một niềm tin, dù là niềm tin vào Đức Kitô.

Ban sự sống lại cho Lazarô Đức Kitô ban nguồn sống mới cho các tông đồ và tăng thêm niềm tin cho những người từng quen biết Lazarô.  Chính những người này thắc mắc vào quyền năng Thiên Chúa.  Họ hỏi nhau ông Giêsu có thể mở mắt cho người mù mà không thể cứu sống được bạn mình sao (c,38).

Đức Kitô nhắc cho chị em Maria và Martha biết về quyền năng của Thiên Chúa khi Ngài phán bảo các cô Ngài là Thiên Chúa của sự sống.  Maria và Martha tin vào quyền năng của Thiên Chúa vượt lên khỏi sự chết, đau khổ và bệnh tật, và các cô, dù không hiểu hay hiểu rất mù mờ vẫn đặt trọn niềm tin vào Đức Kitô.  Tin vào Đức Kitô không đòi hỏi chúng ta hiểu một cách cặn kẽ.  Có lẽ điều cốt yếu cần học hỏi để tin nhiều hơn là học biết tình yêu Chúa dành cho con người cao xa, vượt khỏi tầm hiểu biết của ta.

Ban sự sống lại cho Lazarô, Đức Kitô mặc khải sức mạnh tình yêu Chúa.  Mặc khải sức mạnh tình yêu Chúa chính là làm sáng Danh Chúa.  Đức Kitô cho biết sức mạnh tình yêu Chúa lớn hơn sự chết và Danh Chúa cả sáng biểu lộ qua tình thương bao la Ngài dành cho nhân loại.  Đức Kitô đánh bại sự chết cho thấy ngay cả “thần chết” cũng phải quy phục Ngài.  Chết là chặng đường ta đi qua trước khi bước vào ngưỡng cửa Phục Sinh vinh quang.

Maria và Martha tin vào quyền năng Chúa nhưng vẫn mù mờ thắc mắc tại sao Thiên Chúa chậm chạp trong việc đáp lại lời ta cầu xin.  Cả hai cô, dù không bàn với nhau trước nói với Đức Kitô cùng một câu. Nếu Thầy đến sớm thì em con sẽ không chết (c.21, 32).

Thiên Chúa có chương trình riêng của Ngài, không phải chương trình của ta.  Khi nào Ngài đáp lời ta cầu xin là do Ngài chọn lựa thời gian, địa điểm.  Việc chọn lựa này đặt căn bản trong việc thực hiện ý Chúa Cha như Ngài từng phán Ta đến không phải để làm theo ý Ta mà là làm theo ý của Chúa Cha.  Khi nào đến giờ Ngài thực hiện điều ta xin là quyền của riêng Ngài.  Tiệc cưới Cana chứng tỏ điều đó khi Đức Trinh Nữ xin Ngài giúp gia chủ vì giữa tiệc hết rượu.  Ngài đáp: Giờ Ta chưa đến.

Hai chị em Maria and Martha tin tưởng Đức Kitô sẽ cho Lazarô sống lại và ngày đó sẽ xảy ra trong ngày sau hết.  Ngày sau hết khi nào chỉ mình Thiên Chúa định đoạt.  Chúng ta cũng không quên Thiên Chúa làm chủ sự sống và Ngài làm chủ cả thời gian.  Đối với chúng ta có sớm, có muộn vì chúng ta ảnh hưởng bởi thời gian.  Thiên Chúa không ảnh hưởng bởi thời gian nên không có sớm, cũng không có muộn, cũng không có tương lai.  Đối với Ngài thời gian luôn là hiện tại.  Liên kết với Đức Kitô để được luôn sống trong hiện tại và ơn Phục Sinh thuộc về Ngài.

Hành trình đi từ cõi chết đến sự sống là hành trình mỗi người chúng ta đều trải qua.  Chết về phần thân xác để sống vinh quang phần tâm linh.  Hành trình này gây đau khổ, xót thương như hai chị em Maria và Martha đã trải qua trước khi đón nhận sự sống mới của Lazarô.  Với đức tin vào Đức Kitô chúng ta tin rằng chết thân xác chỉ là biến đổi từ xác phàm trước khi mặc lấy thân xác vinh hiển.  Chết thân xác chỉ là tạm bợ vì tình yêu Chúa cao vời vĩ đại hơn tội lỗi con người.

Lm Vũ Đình Tường

NHÌN VÀO NỘI TÂM ĐỂ NHẬN BIẾT TỘI MÌNH

Người ta thường nhìn ra ngoại giới nhưng rất ít khi nhìn vào nội giới, nhìn vào nội tâm mình.  Con người có mắt nhìn ra mà không có mắt nhìn vào.  Khuôn mặt duy nhất trên đời chúng ta không bao giờ có thể nhìn thấy trực diện, đó là khuôn mặt của chính chúng ta.  Thế nên một nốt ruồi nhỏ trên mặt người khác, ta thấy rõ ràng; còn vết sẹo lớn trên trán mình, ta không thấy được.  Lỗi lầm nho nhỏ của người khác thì mình thấy rõ ràng, còn lỗi lầm to lớn nặng nề của mình thì lại không hay.  Thế rồi, chúng ta dành nhiều thì giờ để phê phán người khác mà chẳng bao giờ biết phê phán bản thân.

Các kinh sư và người Pha-ri-sêu trong bài Tin Mừng hôm nay cũng thế.  Họ nhìn thấy rõ ràng tội lỗi của người phụ nữ phạm tội ngoại tình, nhưng không nhìn thấy tội lỗi của mình.  Họ bận tâm đến việc kết án người khác, nhưng không quan tâm đến việc sửa chữa lầm lỗi của mình.  Chính vì thế, Chúa Giêsu muốn nhân cơ hội để dạy cho họ một bài học tâm linh cần thiết là hãy nhận ra tội lỗi của mình trước, hãy trách phạt mình trước rồi lo trách phạt người khác sau.  Cổ nhân cũng thường dạy ta như vậy: “Tiên trách kỷ hậu trách nhân.”

Khi các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn người phụ nữ phạm tội ngoại tình đến với Chúa Giêsu, họ hối thúc Chúa Giêsu ra ngay một phán quyết định đoạt số phận của người đàn bà tội lỗi.  Thế nhưng Chúa Giêsu không vội phán xét ai.  Trước hết, Ngài muốn cho những người tưởng mình vô tội hãy xét lại chính mình.

Thế nên, đứng trước những con người đang lăm le kết án người phụ nữ và mưu toan ám hại mình, Chúa Giêsu lặng thinh không nói một lời.  Ngài thinh lặng và tạo nên bầu khí vắng lặng để cho mọi người tự vấn lương tâm.  Ngài muốn kéo dài sự thinh lặng bằng cách ngồi xuống viết, viết trên đất.

Khi người ta cứ hỏi mãi, phá tan sự im lặng cần thiết cho sự rà soát tâm hồn, Chúa Giêsu lên tiếng kêu mời họ hãy xét lại mình: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi!”  Rồi Ngài ngồi xuống trong thinh lặng.  Ngài cứ viết, viết trên đất để tạo bầu khí thinh lặng cho mọi người hồi tâm.

Nhìn lại nội tâm mình trong thinh lặng, những con người hăm hở kết tội người khác giờ đây dần dần nhận ra tội lỗi mình, có khi còn nhiều hơn, còn nghiêm trọng hơn cả tội lỗi của người phụ nữ.  Thế là các viên đá trên tay lần lượt rơi xuống, họ xấu hổ lặng lẽ rút lui, để lại một mình Chúa Giêsu và người thiếu phụ.  Hoá ra rốt cuộc ai cũng nhận ra mình là người có tội, mà đã là người có tội thì sao không kết án mình trước?  Sao lại đang tâm kết án người khác cũng tội lỗi như mình!

Nhìn lại mình để thấy được tội lỗi của mình là điều hết sức quan trọng để cải thiện bản thân.  Nếu tôi biết được là mình hôi hám, tôi sẽ đi tắm ngay.  Còn nếu tôi không nhận ra mùi hôi của cơ thể mình, thì mãi mãi tôi vẫn là người hôi hám.  Nếu tôi thấy được mặt mình dơ bẩn, tôi sẽ lau rửa tức khắc không chần chừ.  Còn nếu không thì chẳng có gì thay đổi.  Nếu tôi thấy được sự xấu xa của nội tâm mình, sự bê bối của đời sống mình, tôi sẽ cải thiện ngay không trì hoãn.

Sự chuyển hóa bản thân, cải thiện cuộc sống chỉ thực sự bắt đầu lúc ta tự nhận biết tội lỗi mình.  Nhìn lại mình, nhìn vào mình để thấy được những tội lỗi của mình là khởi điểm, là bước đầu cho việc cải thiện đời sống.  Không có bước nầy, chẳng thể có bước thứ hai, chẳng có gì được cải thiện.

Lạy Chúa Giêsu, nhìn lại mình để rà soát chính mình, để thấy được tội mình là điều rất khó mà cũng là việc không mấy ai muốn làm.  Xin Chúa thương giúp đỡ chúng con.  Xin cho Lời Chúa trở nên gương soi cho chúng con, giúp chúng con nhận ra những vết nhơ trong tâm hồn chúng con, những nết xấu trong cuộc đời chúng con.  Lạy Chúa Giêsu, xưa kia, Chúa Giêsu đã giúp đám người Do Thái nhận ra tội lỗi của họ thì nay xin Ngài cũng giúp chúng con nhận ra lầm lỗi của mình để sửa đổi ăn năn.

Lm Ignatiô Trần Ngà – Trích trong “Cùng Đọc Tin Mừng”

CÙNG ĐỨC MẸ CHỊU ĐAU KHỔ TRONG MÙA CHAY

Hồi tôi còn nhỏ, Đức Maria luôn là một hình ảnh về người mẹ xa cách đối với tôi.  Bởi vì Đức Mẹ hoàn hảo về nhân đức và vô nhiễm, tôi không thể liên hệ với Mẹ.  Quá trình đấu tranh của tôi có vẻ khá khó khăn.  Tôi luôn hình dung ra sự ngoan ngoãn, sự dịu dàng, sự nhẫn nại và sự khiêm nhường của Đức Mẹ, nghĩ về Thánh Gia có những ngày và những buổi tối lặng lẽ, tôi thấy không phù hợp với tôi.

Rồi tôi trở thành mẹ.  Tình mẫu tử đã biến đổi tôi bằng rất nhiều cách, nhưng có một cách quan trọng mà Đức Mẹ đã thực sự trở nên Mẹ của tôi và rất thân thiện với tôi.  Đó là cách hiểu sâu về nỗi đau khổ của Đức Mẹ.

1.  Cuộc Tử Đạo Không Đổ Máu Của Đức Mẹ

Trong Mùa Chay, chúng ta thường tập trung vào Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô, và đúng như vậy.  Nhưng chúng ta có nhận ra rằng mọi điều Ngài trải qua cũng diễn ra trong Trái Tim Đức Mẹ?  Chúa Giêsu chịu chết vào ngày hôm đó thì Đức Mẹ cũng chịu tử đạo trong lòng.

Đa số các học giả về Thánh Mẫu học đều công nhận rằng Đức Mẹ không trải qua đau đớn khi sinh con, cũng không phải khổ sở vì đau đớn khi hấp hối.  Nhưng Đức Mẹ vẫn bị các nỗi đau khác như đau lòng và đau khổ (thập giá cuộc đời).  Thập Giá của Chúa Giêsu cũng là của Đức Mẹ.  Nỗi đau xé nát lòng Đức Mẹ khi ông Simêon nói tiên tri về Chúa Giêsu là dấu hiệu cho người đời chống báng và làm duyên cớ cho nhiều người ngã xuống hoặc đứng lên (Lc 2:34-35).

Từ đó, Đức Mẹ nhận cuộc khổ nạn của riêng Mẹ, và Đức Mẹ chỉ hết đau khổ khi về trời cả hồn xác.  Dưới chân Thập Giá, khi Chúa Giêsu nói: “Này là con của Mẹ”, Đức Mẹ biết nỗi đau khổ của mình được chuyển đổi từ việc trải nghiệm sự đau khổ của Con Yêu sang nỗi đau khổ của loài người bị rắc rối vì tội lỗi.

2. Ba Cách Chịu Đau Khổ

ĐGM Jacques-Benigne Bossuet, một tác giả tâm linh thế kỷ XIX, đã chia sẻ trong tác phẩm kinh điển của ngài là cuốn “Meditations on Mary” (Chiêm Niệm về Đức Maria), một cách suy nghĩ hay về những gì chúng ta có thể học hỏi từ nỗi đau khổ của Đức Mẹ.  Ngài nói rằng có ba cách chịu đau khổ mà chúng ta cũng trải nghiệm và cách mà Thiên Chúa tác động nơi linh hồn chúng ta để hoàn toàn bình an trong mỗi tình huống.

  • Nỗi Buồn Hoàn Toàn Bị Loại Bỏ

Trong trường hợp này, Gm. Bossuet giải thích rằng “nỗi đau khổ hoàn toàn được làm cho nguôi ngoai, và chúng ta được an ủi”.  Lúc đó như thể đau khổ của chúng ta được lấy đi, đó là ân sủng kỳ diệu.  Một số người có thể hiểu điều này, trong khi những người khác lại không hiểu được.  Đó là ân sủng siêu nhiên hiếm có, thế nên chúng ta phải biết tạ ơn nếu điều đó xảy ra với chúng ta.

Trong trường hợp này, Thiên Chúa cho phép linh hồn chúng ta cảm nghiệm sự bình an trọn vẹn, bởi vì Ngài loại bỏ mọi nỗi buồn cho chúng ta.  Có lẽ Đức Mẹ đã nhận được ơn an ủi này, nhưng cũng rất có thể nỗi đau khổ của Đức Mẹ vẫn còn, bởi vì Đức Mẹ muốn chịu đau khổ vì yêu mến Chúa.

  • Linh Hồn Rắc Rối Vì Sự Dự Nhưng Kiên Nhẫn Chịu Đựng

Gm. Bossuet cho biết rằng linh hồn của chúng ta trong tình trạng này vẫn nhận biết nỗi buồn và đau khổ nhưng sẵn sàng chịu đựng.  Đó là khi chúng ta chiến đấu với các thập giá của mình, có thể chúng ta vẫn thấy sợ hãi hoặc coi thường đau khổ.  Theo Gm. Bossuet, chúng ta phải cố gắng duy trì sự bình an và không xao xuyến.

Sự bình an của Đức Mẹ không bao giờ bị dao động, cho dù có những nỗi đau khổ và rắc rối – ngay cả khi Đức Mẹ nói với Chúa Giêsu khi gặp lại nhau sau ba ngày thất lạc: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy?  Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Lc 2:48).  Sự lo lắng của Đức Mẹ không như sự lo lắng của chúng ta.  Đó là mối quan tâm vì không biết Con Trẻ thế nào, chứ Đức Mẹ không phiền lòng chi cả.

  • Chúng Ta Biết Đau Khổ Nhưng Không Phiền Lòng Vì Nó

Mức đau khổ này là lúc chúng ta vừa nhận biết đau khổ của mình vừa bị rắc rối vì nó.  Lúc đó, có vẻ như Thiên Chúa ban các đặc ân “soi sáng” để Ngài “ban thêm sức mạnh cho chúng ta”, mặc dù chúng ta vẫn “chịu sự mãnh liệt của nó, nhưng vẫn không mất sự bình an trong tâm hồn.”

Trong hành trình Mùa Chay của chúng ta, hãy tưởng tượng rằng Đức Mẹ đồng hành với chúng ta giống như chúng ta đi theo Chúa Giêsu lên Đồi Can-vê vậy.  Cũng như Đức Mẹ, chúng ta có thể đau nhói tim cả ngàn lần vì đau khổ và hấp hối, nhưng chúng ta cầu xin Đức Mẹ nâng đỡ bằng nhiều ơn thánh để làm cho chúng ta bình tĩnh mà không dao động khi chúng ta trải qua đau khổ vì yêu mến Chúa.

Jeannie Ewing – Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
Chiều Mùa Chay, 16-3-2019

ĐỨC TIN

Có một người kia, sinh ra đã bị mù, anh sống trong một gian phòng, bởi vì không nhìn thấy gì nên anh phủ nhận tất cả những gì những người chung quanh quả quyết là có: “Tôi không tin, vì tôi có thấy đâu nào.”  Một vị lương y thấy vậy thì thương hại anh, ông đi tìm một thứ linh dược chữa cho anh được sáng mắt, anh sung sướng quá, tự phụ nói: “Giờ đây tôi đã thấy được tất cả sự thật chung quanh tôi rồi.”  Nhưng có người nói với anh: “Bạn ơi, bạn mới chỉ thấy được những vật chung quanh bạn trong căn phòng này thôi.  Như thế có là bao, ngoài kia người ta còn thấy được mặt trời, mặt trăng và các tinh tú hằng hà sa số, còn biết bao vật khác mà bạn chưa thấy, bạn đừng tự phụ như vậy.”  Anh tỏ vẻ không tin, lại còn nói mạnh hơn: “Làm gì có được những cái đó, những gì có thể thấy được, tôi đã thấy tất cả rồi.”

Một vị y sĩ khác lên tận núi cao, gặp được Sơn Thần chỉ cho một thứ linh dược khác, đem về giúp cho anh được cặp mắt sáng hơn và thấy xa hơn.  Bây giờ anh thấy được mặt trời, mặt trăng và các tinh tú trên không trung.  Mừng quá và lòng tự phụ tự đắc lại tăng thêm, anh nói với mọi người: “Trước đây tôi không tin, nhưng bây giờ tôi thấy, tôi tin.  Như thế giờ đây không còn có gì mà tôi chẳng thấy, chẳng biết, đâu còn ai hơn tôi được nữa.”

Thấy anh ta tự phụ như vậy, một hiền nhân nói với anh: “Cậu ơi, cậu vừa hết mù, nhưng cậu cũng vẫn chưa biết gì cả.  Tại sao cậu lại quá tự phụ như thế?  Với chừng mực và giới hạn của tầm mắt, cậu làm gì biết có những vật ngoài ngàn dặm mà mắt cậu không làm sao thấy được.  Cậu có thấy được những nguyên nhân nào đã cấu tạo ra cậu khi cậu còn nằm trong bào thai của mẹ cậu chăng?  Ngoài cái vũ trụ nhỏ bé mà cậu đang sống đây, còn không biết bao nhiêu vũ trụ khác vô cùng to lớn và nhiều không kể hết như cát ở bãi biển, cậu có thấy không?  Tại sao cậu dám tự phụ bảo rằng: “Tôi thấy cả, tôi biết cả rồi.”  Cậu vẫn còn là một anh mù, cậu vẫn còn lấy tối làm sáng, lấy sáng làm tối.”

Đó là câu chuyện của một anh mù bẩm sinh ở Ấn Độ.  Còn câu chuyện của anh mù, cũng mù từ bẩm sinh, kể lại trong bài Tin Mừng, thì lại khác hẳn: trong khi mù và sau khi được sáng mắt, anh luôn khiêm nhường, luôn nhìn nhận thân phận hẩm hiu buồn tủi của mình.  Ngược lại, những người sáng mắt thì lại mù tối, kiêu ngạo trong sự mù tối của mình, đó là những người Pharisêu.  Chúng ta thấy sự khác biệt tàn nhẫn giữa đôi mắt của người mù và đôi mắt của những người Pharisêu.  Đôi mắt thân xác của người này mù nhưng mắt tâm hồn anh lại sáng.  Những người Pharisêu có đôi mắt thân xác không mù lòa, nhưng đôi mắt tâm hồn đã chết.  Sự khác biệt đó là niềm tin và đức tin: anh mù được phép lạ đã tin Chúa Giêsu.  Còn những người Pharisêu thấy phép lạ nhưng không tin Chúa.

Đây là một phép lạ đặc biệt chưa từng có trong nhân loại.  Cho đến ngày nay, mặc dầu y khoa rất tiến bộ nhưng vẫn còn bó tay trước những người mù bẩm sinh.  Còn đối với những người vì một lý do nào đó bị mù lòa thì y khoa có thể dùng một loại ra đa hay dùng con mắt của người khác thay vào thì có thể thấy được.  Trường hợp anh mù trong Tin Mừng, Chúa Giêsu không làm thế, Ngài không thay mắt cho anh, Ngài dùng quyền năng Thiên Chúa để làm một phép lạ phi thường cho anh được sáng mắt.  Nhưng trên hết con mắt đức tin của anh được bừng sáng, anh nhận ra Đức Kitô mà nhiều người sáng mắt không nhận ra.

Theo ý nghĩa tượng trưng, trong phạm vi thiêng liêng, bệnh mù về tinh thần là tình trạng mê muội của những người sống trong tội lỗi và tình trạng mù quáng của những kẻ cố chấp.  Vậy hình thức thứ nhất của bệnh mù về tinh thần là tội lỗi, nó che lấp mắt linh hồn làm cho linh hồn không nhận ra Chúa và cũng chẳng nhận ra thánh ý Chúa.  Vì thế, Kinh Thánh gọi những người sống trong tội lỗi như ngồi trong chỗ tối tăm, ngồi trong bóng đêm, ngồi trong bóng sự chết.  Một hình thức khác của bệnh mù tinh thần là sự cố chấp, tức là bảo thủ trong sự lập luận sai lầm hay gàn dở của mình và nhất định không chịu phục thiện.  Chính vì thế mà nhiều lần Chúa Giêsu đã gọi những người Pharisêu là những kẻ mù quáng, bài Tin Mừng hôm nay là một điển hình.  Chúa đã nói: “Tôi đến thế gian này chính là để những kẻ không xem thấy thì được xem thấy, còn những kẻ xem thấy sẽ trở nên đui mù.”  Chúng ta thường nói về những người cố chấp: “Không ai điếc nặng cho bằng kẻ không muốn nghe”, thì chúng ta cũng có thể nói về những người mù tinh thần: “Không ai mù quáng nặng cho bằng kẻ mở mắt mà không muốn xem.”

Chúng ta có đang sống trong tình trạng mù lòa về tinh thần không?  Chúng ta tội lỗi và cố chấp ư?  Và hiện giờ chúng ta vẫn còn cố chấp trong tình trạng đó ư?  Không được đâu.  Chúng ta hãy đến với Chúa Giêsu để Ngài thắp sáng cuộc đời chúng ta như Ngài đã thắp sáng cuộc đời người mù xưa kia.  Nói khác đi, trên đời này không ai có thể giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi, vì lý do ai cũng có tội, chỉ có một Đấng không có tội gì, tuyệt đối chí thánh, mới có quyền cứu giúp chúng ta mà thôi, đó là Chúa Giêsu.  Vấn đề là chúng ta có bằng lòng đến với Chúa không?

Người mù sung sướng biết bao khi đôi mắt anh mở ra và nhìn thấy Chúa Giêsu, vị ân nhân vĩ đại của mình.  Chúa đã thắp sáng đời anh.  Trong Mùa Chay, chúng ta hãy đến với Chúa Giêsu, vị đại ân nhân của chúng ta, để Chúa mở mắt tinh thần cho chúng ta, để Chúa thắp sáng đời chúng ta.

Sưu tầm

BIẾT DỨT KHOÁT ĐỨNG DẬY VÀ TRỞ VỀ

Chúa nhật IV Mùa Chay mời gọi chúng ta cảm nhận được và nhất là sống được trong niềm vui, niềm hạnh phúc của một người vừa thoát một hoạn nạn, một đau buồn, một cơn ác mộng và đang sống trong một thực tế an toàn và thanh thản.  Có bao giờ chúng ta cảm nhận được kinh nghiệm đó chưa?  Đó là kinh nghiệm của một người tưởng mình mắc bệnh nan y đang chờ chết, nhưng sau khi đi khám bác sĩ bảo không có gì đáng ngại, sẽ khỏi.  Đó là kinh nghiệm của hai vợ chồng cắn đắng nhau, gây gỗ nhau tưởng đã đi đến chỗ đổ vỡ, nhưng sau đó tìm lại được sự tha thứ, sự giải hòa và ôm nhau trong nước mắt.  Đó là kinh nghiệm của người vừa an toàn thoát khỏi một tai nạn kinh hoàng, trong những trường hợp đó, chúng ta sẽ thấy thấm thía khi hát lên thánh vịnh 124: “Hồn tôi như cánh chim đã vượt thoát bẫy của người đánh chim, bẫy đã tan tành muôn mảnh, còn chúng tôi, chúng tôi đã thoát.”

Bài đọc thứ nhất trích từ sách Giosuê kể lại sự vui mừng hạnh phúc của dân Do Thái sau khi thoát khỏi nô lệ Ai Cập và nhất là sau khi đặt chân đến miền Đất Hứa.  Không còn nữa những ngày lang thang sa mạc gian lao, nguy hiểm.  Dân Chúa đã về đến quê hương Chúa đã hứa ban cho Abraham làm gia nghiệp, nơi đó tổ tiên của họ là Abraham, Isaác, Giacóp đã sống.  Họ đã xây dựng lại, đã khai khẩn đất đai làm mùa và nhất là đã bắt đầu tiêu dùng những thổ sản quê hương, từ ruộng đất và lao công của họ.  Vui hưởng ân lành của Chúa cảm thấy hạnh phúc tràn trề.  Trong tình yêu thương săn sóc của Chúa, họ đã hát lên thánh vịnh 33 dùng làm đáp ca “Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt.  Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn.”

Nơi bài đọc thứ hai thánh Phaolô đã nhắc cho tín hữu thành Côrintô một hạnh phúc to lớn, không hạnh phúc, không niềm vui nào có thể so sánh được.  Đó là hạnh phúc của con người trở thành tạo vật mới, trở thành con Chúa trong Chúa Giêsu Kitô.  Công cuộc trở thành tạo vật mới đó được thực hiện nhờ sự giao hòa lại cùng Thiên Chúa.  Tội lỗi làm cho con người sống xa Chúa, cắt đứt mọi liên lạc cùng Chúa, cuộc đời bị mất hướng, đời sống trở thành vô nghĩa, nhất là nguy hiểm diệt vong đang chờ đón.  Nhưng may mắn cho nhân loại, cho chúng ta, thánh Phaolô bảo: “Vì Chúa Kitô, chúng tôi van nài anh chị em hãy giao hòa lại với Thiên Chúa, Đấng không hề biết tội thì Thiên Chúa làm cho nên thân tội vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên công chính trước Thiên Chúa.”

Không còn niềm vui nào bằng, từ tội lỗi trở thành công chính, từ nô lệ sự dữ trở thành con Thiên Chúa, từ đứng bên bờ diệt vong trở thành sống đời đời, trong ân sủng và tình thương.  Niềm vui được cứu thoát nô lệ Ai Cập về Đất Hứa của dân Do Thái trong sách Giôsuê, nơi bài đọc thứ nhất không thể nào so sánh được với niềm vui to lớn của con người từ nô lệ tội lỗi trở về làm con cái Thiên Chúa.

Đến bài Phúc Âm, Chúa Giêsu đưa ra một thí dụ tuyệt vời, rõ ràng dễ hiểu và nổi tiếng, ai cũng biết cả.  Để an ủi để khích lệ người tội lỗi hãy biết suy nghĩ, hãy biết dứt khoát đứng dậy và mạnh dạn tuyên bố: “Tôi muốn ra đi trở về với Cha tôi,” Chúa Giêsu đưa ra hai người con tiêu biểu cho hai cuộc trở về.  Người con phung phá trở về trong tình yêu của cha mình, của mái ấm gia đình.  Người con cả cần phải trở về trong tình anh em, phải biết tha thứ cho em mình, phải biết hòa nhập vào niềm vui của gia đình.  Sự trở về trong tình anh em này cũng có một tầm quan trọng giống như sự trở về cùng tình cha con.  Người con cả dầu tự hào là luôn sống trung thành với Cha, nhưng nếu khước từ tình anh em, thì anh vẫn là người ngoại cuộc không vào nhà và không cùng chung hưởng hạnh phúc niềm vui của gia đình.  Nếu anh không vào chính là tự ý anh không vào.  Người cha vẫn luôn mở rộng cửa nhà, mở rộng vòng tay, mở rộng cõi lòng năn nỉ anh.

Vậy niềm vui thật của cuộc trở về trong tình yêu thương của Chúa phải có hai chiều kích, trở về cùng Thiên Chúa là Cha, và trở về cùng anh chị em của mình, chính là tha thứ, làm hòa lại với nhau, giải tỏa những hận thù và sống trong tình yêu thương.  Đó là niềm vui thật, niềm vui mà ca nhập lễ kêu mời “Mừng vui lên hỡi Giêrusalem, tề tựu cả về đây hỡi những ai hằng mến yêu chân thành.  Các bạn đang sầu khổ, nào hớn hở vui mừng hân hoan tận hưởng niềm an ủi chứa chan.”

Để có việc làm cụ thể trong tuần này, tôi noi gương người em trong gia đình nơi bài dụ ngôn của Chúa Giêsu.  Tôi phải làm một hành động chứng tỏ tôi nhất định đứng dậy lên đường trở về nhà cha tôi, để sống lại trong hạnh phúc của tình yêu thương nồng thắm của Người.  Hành động đó có thể là một sự dốc lòng từ bỏ một tật xấu đã từng làm tôi đau buồn, đã kéo ghì tôi trong tội lỗi hay đã làm cho những người thân yêu trong gia đình tôi phải khổ.  Và kế đó học lấy bài học của người anh: Tôi không đứng để cho Cha tôi phải năn nỉ.  Tôi hãy biết tha thứ cho người khác, hãy hòa mình vào niềm vui của gia đình, nhất là chia sẻ niềm vui của Thiên Chúa là Cha tôi khi một người anh chị em tôi trở về nhà Cha.

Radio Veritas Asia – Trích trong “Suy Niệm Lời Chúa”

VỀ NHÂN ĐỨC VÀ TỘI LỖI

Có một câu châm ngôn nói rằng: Không gì cho ta cảm giác tốt đẹp hơn nhân đức.  Đây là chân lý sâu sắc, nhưng còn một khía cạnh ẩn giấu nữa.  Khi làm việc tốt, chúng ta thấy bản thân mình tốt đẹp.  Nhân đức thực sự là phần thưởng cho chính nó rồi, và như thế là tốt.  Nhưng cảm giác mình công chính có thể sớm biến thành cảm giác tự đại.  Không gì cho ta cảm giác tốt đẹp hơn nhân đức, nhưng sự tự đại có vẻ cũng cho ta cảm giác tốt đẹp nữa.

Chúng ta thấy điều này được biểu lộ rõ trong dụ ngôn của Chúa Giêsu về người thu thuế và người Pharisiêu.  Người Pharisiêu thực hành nhân đức, ông hành động đúng theo những điều được dạy, nhưng ông không có lòng khiêm nhượng, cũng không thấy mình cần Thiên Chúa và lòng thương xót, mà chỉ có thái độ tự đại và xét đoán người khác.  Tất cả chúng ta cũng thế, cũng dễ trở thành người Pharisiêu này.  Mỗi khi thấy người khác đang phải đấu tranh để sống đẹp, chúng ta nói: Nhờ ơn Chúa tôi mới được thế này.  Thái độ có vẻ khiêm nhượng đó có thể mang hai ý nghĩa rất khác nhau. Nó có thể là một lời tạ ơn chân thành vì đã được những ơn mình không xứng đáng, hoặc có thể dễ dàng là một thái độ tự đại về sự vượt trội của mình so với người khác.

Những ngòi bút thiêng liêng kinh điển như Gioan Thánh Giá, khi nói về những thử thách chúng ta gặp phải trên con đường môn đệ, đã nói về một thứ gọi là: Lỗi của những người nằm ngoài hoán cải ban đầu.  Ý nghĩa của câu này là: Chúng ta không bao giờ thoát được cuộc đấu tranh với tội lỗi.  Khi chúng ta trưởng thành, thì tội lỗi càng tinh vi hơn.  Ví dụ như, trước khi trưởng thành, chúng ta xác định được bảy mối tội đầu, và chúng thể hiện nơi chúng ta một cách nguyên sơ và rõ ràng.  Chúng ta thấy điều này nơi trẻ con, thanh thiếu niên.  Với họ, kiêu ngạo rõ ràng là kiêu ngạo, ghen tỵ rõ ràng là ghen tỵ, ích kỷ rõ ràng là ích kỷ, tham lam rõ ràng là tham lam, và nóng giận rõ ràng là nóng giận.  Chẳng có gì tinh vi hay ẩn giấu cả, cái lỗi nằm rành rành ra đó.

Nhưng khi chúng ta vượt qua được dạng nguyên sơ của những tội này, thì chúng lại đội những lốt khác tinh vi hơn trong cuộc đời mình.  Vì thế, chẳng hạn như, khi chúng ta khiêm nhượng, thì chúng ta lại trở nên kiêu ngạo và tự đại vì sự khiêm nhượng của mình.  Và tôi thấy từ chính kinh nghiệm của mình rằng: Không một ai thiển cận và xét đoán hơn một người mới trở lại đạo hay một người mang ngọn lửa nhiệt thành ban đầu.

Tội có những phức tạp của nó.  Một số khái niệm ngây thơ của chúng ta về tội và sự khiêm nhượng cũng cần được xem xét lại.  Ví dụ như, chúng ta thường nuôi một khái niệm lãng mạn hóa rằng, người có tội thì khiêm nhượng, nhận thức mình cần được tha thứ, và mở lòng ra với Chúa.  Và chúng ta có thể thấy điều này trong Phúc âm.  Khi Chúa Giêsu rao giảng, những người Pharisiêu đương cự với Chúa và thông điệp của Chúa, còn những người thu thuế và gái điếm lại mở lòng hơn với Ngài.  Vậy từ đó chúng ta có thể đặt một câu hỏi: Có phải tội lỗi còn khiến chúng ta nhận ra mình cần Chúa hơn cả nhân đức nữa?

Đúng, khi tội đó thành thật, khiêm nhượng, biết thú nhận và sám hối, hoặc là khi hành động sai trái của chúng ta bắt nguồn từ việc bị tổn thương, bị lợi dụng.  Không phải mọi tội lỗi đều như nhau.  Có tội ngay thẳng và tội bất lương.

Là con người, chúng ta yếu đuối và thiếu sức mạnh để luôn làm theo những gì tốt đẹp nhất trong con người mình.  Đôi khi chúng ta chịu thua cám dỗ và yếu đuối.  Để giải thích về việc chúng ta phạm tội, chỉ cần nói điều này thôi.  Chúng ta là con người!  Và đôi khi, người ta rơi vào tình trạng tội lỗi vốn không thật sự do tay họ gây ra.  Họ bị lợi dụng, bị bắt sống trong hoàn cảnh tội lỗi không do họ chọn lựa, họ là nạn nhân của nạn buôn người, là nạn nhân của hoàn cảnh bất công trong xã hội hay gia đình, hoặc họ bị tổn thương quá nặng.  Trong những hoàn cảnh đó, một hành động sai lầm, là vấn đề sống còn chứ không phải vấn đề chọn lựa tự do.  Một bà đã giải thích cho tôi rằng: “Tôi đơn giản là một con chó, cắn để khỏi bị cắn thôi.”  Trong những trường hợp này, thường thì dưới lớp vỏ chai đá có một tâm hồn vẫn ngây thơ vô tội biết mình cần lòng thương xót Chúa.  Có tội ngay thẳng.

Và có tội không ngay thẳng, là thứ tội biện luận, luôn chìm trong kiêu ngạo nên không thể thú nhận mình tội lỗi.  Kết quả là, nó trở thành một tâm hồn đầy xét đoán, cay đắng, và chai đá.  Khi tội biện luận, thì sự cay đắng tiếp vào, kéo theo sự ghét bỏ với nhân đức mà nó đã không giữ được.  Khi chúng ta biện luận, thì bản năng luân lý của chúng ta không bị lừa phỉnh đâu.  Nó phản ứng lại và trừng phạt bằng cách khiến chúng ta ghét bỏ mình.  Và khi ai đó ghét bỏ mình, thì sự căm ghét đó sẽ lớn lên và trở thành ghét bỏ người khác, và nhất là ghét bỏ nhân đức mà mình đã không giữ được.  Ví dụ như, không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều người ngoại tình thường cay độc vô cùng khi nói đến đức khiết tịnh.

Thấy mình yếu đuối và tội lỗi, có thể khiến chúng ta cúi mình khiêm nhượng, và mở lòng chúng ta đón nhận lòng thương xót Chúa.  Nhưng nó cũng có thể biến tâm hồn chúng ta chai đá, cay đắng và xét đoán.  Không phải mọi người có tội đều cầu nguyện như người thu thuế trong Phúc âm.

Nhân đức khiến chúng ta biết ơn.  Tội lỗi khiến chúng ta khiêm nhượng.

Đúng là thế.  Nhưng không phải lúc nào cũng thế.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

LỄ TRUYỀN TIN CHO ĐỨC MẸ

Mỗi khi đọc kinh Kính Mừng, chúng ta lặp lại lời sứ thần Gabriel chào Ðức Maria khi mở đầu cuộc truyền tin: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Ðức Chúa Trời ở cùng Bà.  Mừng vui lên hỡi Ðấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Bà.”  Ðây chính là lời chúc phúc có ý nghĩa nhất và cũng là lời chúc phúc có giá trị nhất của con người.

Quả thế, không có mối phúc nào lớn hơn mối phúc của người được Thiên Chúa ở cùng, của người được Thiên Chúa chọn làm Mẹ của Con Thiên Chúa.  Theo sau lời chúc phúc cũng là lời loan báo cho Ðức Maria biết tình trạng ân sủng tuyệt vời của Mẹ.  Sứ thần cho Mẹ biết là Mẹ sẽ thụ thai Con Thiên Chúa.  Ðây quả là một tin hết sức trọng đại khiến Mẹ phải bối rối.  Hơn nữa, Mẹ sẽ thụ thai thế nào đây khi mà Mẹ chưa hề chung chăn gối với ai.  Thắc mắc của Ðức Maria được sứ thần giải đáp bằng một câu trả lời đầy thuyết phục một cách tuyệt đối nhân danh quyền năng của Ðấng Tối Cao, kèm theo là một chứng cớ cụ thể đang xảy ra cho người chị họ của Mẹ.  Ðối chiếu với các câu Thiên Chúa trả lời cho tổ phụ Abraham, cho ông Môisen hay cho thánh Giuse, chúng ta thấy Thiên Chúa rất tế nhị khi giao tiếp với từng đối tượng để giải đáp thắc mắc của người thiếu nữ.  Người đã chọn cách trả lời giản dị mà có hiệu quả nhất.  Câu trả lời này mang lại cho Ðức Maria sự bình an sâu thẳm.  Mẹ đã sẵn sàng lãnh nhận sứ mạng cao cả mà Thiên Chúa trao phó cho Mẹ.  Mẹ đã tiếp nhận được điều chính yếu trong sứ điệp Truyền Tin, Mẹ đã tin tưởng tuyệt đối vào sứ điệp đó và Mẹ sẽ cống hiến hết mình cho điều mình xác tín.

Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người chúng ta cũng được Thiên Chúa gởi sứ điệp có liên quan đến công cuộc cứu độ của Người.  Trong cái đại dương thông tin mênh mông đang ùa tới với chúng ta mỗi ngày, Thiên Chúa vẫn không ngừng nói với chúng ta bằng tiếng nói của con người hôm nay, cung cách giao tiếp của Thiên Chúa vẫn luôn tế nhị, thích ứng với từng đối tượng mà Người muốn ngỏ lời.  Nếu chịu khó lắng nghe, chúng ta sẽ thấy sứ điệp mà Thiên Chúa gửi đến cho mình cũng có những nét tương tự như sứ điệp Truyền Tin cho Ðức Maria.

Thay cho lời chào của sứ thần, chúng ta có thể cảm thấy có một cái gì đó lay động linh hồn chúng ta và tạo cho chúng ta một cảm giác thiêng liêng huyền nhiệm.  Trước cảm giác linh thiêng này, có thể chúng ta sẽ bối rối xao xuyến vì không biết chuyện gì đang xảy ra cho tâm hồn mình, chúng ta có thể lờ đi không lưu tâm đến nó nữa.  Và trong trường hợp này, chúng ta sẽ không nhận được phần tiếp theo của sứ điệp.  Nhưng nếu chúng ta để ý lắng nghe, chúng ta sẽ nhận được những sứ mạng mà Thiên Chúa muốn trao cho chúng ta.  Ða số các sứ mạng này là những công việc bình lặng trong cuộc sống thường ngày với mục đích đem ơn cứu độ đến cho những người khác.  Nhưng cũng có lúc đó là những công việc có tầm ảnh hưởng lớn hơn, khó thực hiện hơn, và đôi khi vượt quá khả năng của chúng ta.  Những lúc ấy, chúng ta sẽ cảm thấy e ngại vì không biết mình sẽ làm sao để thực hiện lời Thiên Chúa gợi ý.  Nhưng nếu chúng ta tin tưởng và tiếp tục đối thoại với Thiên Chúa, thì Người sẽ đưa ra cho chúng ta lời giải đáp, và có thể Người sẽ đưa ra cho chúng ta một vài bằng chứng cụ thể để củng cố lòng tin của chúng ta.  Ðến đây, Thiên Chúa chờ đợi lời thưa “Xin Vâng” của chúng ta như Người đã chờ đợi lời thưa “Xin Vâng” của Mẹ Maria ngày xưa.

Lạy Mẹ Maria, có những lúc con đã nghe được tiếng Chúa gọi gợi ý cho biết những công việc phải làm, nhưng khi nhìn lại bản thân, con thấy mình chỉ là một con người bé nhỏ, bình thường như bao nhiêu người khác, vì thế, con ngần ngại không dám tiến thân.  Hôm nay, khi suy niệm về biến cố Truyền Tin, con hiểu ra rằng đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được, cũng không có gì là bé nhỏ tầm thường vô giá trị.  Xin Mẹ giúp con từ nay biết lắng nghe và thực hiện ý Chúa với tâm tình đơn sơ phó thác như Mẹ ngày xưa.

Đài Phát Thanh Chân Lý Á Châu

SÁM HỐI THẬT LÒNG

Cha ông chúng ta vẫn khuyên dạy con cháu: “gieo gió gặt bão”, “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”…  Và trong Thánh Kinh, các câu chuyện như lụt Hồng Thuỷ, thành Sôđôma bị tàn phá v.v… cũng thường được giải thích theo quan niệm báo ứng ấy.

Không lạ gì người Do Thái thời Chúa Giêsu, cũng như chúng ta ngày nay, thích áp dụng nguyên tắc nhân quả “ác giả ác báo” nhưng là áp dụng cho người khác!  Trước hai tai hoạ xảy ra gây chết nhiều người, họ kết luận ngay rằng những nạn nhân “tội lỗi hơn mọi người khác” nên mới bị thảm hoạ như vậy.

Đành rằng, nếu gieo gió thì có thể sẽ gặt bão, song Chúa Giêsu khuyên mỗi người không nên hồ đồ xét đoán người khác, nhưng hãy xem các biến cố đó là cơ hội giúp ta xét lại chính mình mà trở về với nẻo chính đường ngay.  Vì chỉ Thiên Chúa mới có quyền phán xét chung cuộc trên mọi người.

Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu khẳng định một cách quyết liệt về sự cần thiết phải sám hối, phải cải thiện đời sống, bằng không, “tất cả chúng ta sẽ bị huỷ diệt.”  Chúa Giêsu lặp đi lặp lại câu đáng sợ: “tất cả sẽ bị huỷ diệt” (Lc 13, 3.5).

Lý do mà Chúa Giêsu nhấn mạnh về sự sám hối, ăn năn chừa tội, canh tân đời sống, vì đó là bước đầu tiên, bước không thể thiếu, để chúng ta có thể đến gần Thiên Chúa, Đấng Thánh Khiết Tuyệt Đối.  Chúa muốn đưa toàn nhân loại vào vương quốc Thánh Thiện, yêu thương của Ngài, để chúng ta trở thành “Dân Thánh, dân đặc tuyển” của Ngài, nên Chúa muốn chúng ta cải thiện đời sống, xa bỏ đường lối gian tà, tội lỗi.

Chính vì thế, mở đầu bài Tin Mừng hôm nay, khi “có người thuật lại cho Chúa Giêsu về một tin giật gân: Philatô giết mấy người Galilê, làm cho máu họ hòa lẫn với máu của các vật sát tế” thì Chúa Giêsu đã nhân cơ hội này, dạy cho toàn dân việc tối quan trọng là tất cả phải sám hối nếu không thì tất cả sẽ bị huỷ diệt.

Theo lịch sử nước Do Thái, thì 20 năm trước khi biến cố trên xảy ra, thì có người thuộc phe vua Hêrôđê đứng lên xúi giục dân Galilê làm loạn, không nộp thuế cho đế quốc Rôma nữa, và có nhiều người hùa theo (Cv 3, 7).

Chính vì vậy, Hêrôđê và Philatô hiềm khích với nhau.  Tuy nhiên, dù theo phe Vua Hêrôđê, những người đó vẫn phải đến Giêrusalem để thờ phượng Giavê Thiên Chúa như luật dạy, hơn nữa, họ nghĩ rằng, nơi Thành Thánh uy nghiêm như thế, nơi pháo đài an toàn thì Philatô chẳng dám xông vào hành hung.  Thế nhưng, lần này, Philatô ra lệnh tàn sát mấy người thuộc phe Hêrôđê ngay tại nơi hiến tế chiên bò, làm cho máu những người đó hoà lẫn máu của các vật sát tế.

Những người này nghĩ rằng: Chúa Giêsu là Vị Thầy, Một Ngôn Sứ cao cả, Ngài sẽ về phe dân tộc và đạo giáo để bênh vực, và Ngài sẽ có cách trả thù cho những người dân vì yêu nước mà phải chịu tàn sát như thế.

Tuy nhiên, Chúa Giêsu không thuộc phe phái nào, Ngài đứng trên mọi phe phái chính trị, mục đích của Ngài giáng thế là cốt để cứu vớt sinh linh thoát vòng tội lỗi mà thôi!  Chính vì thế, khi nghe tin ấy, Chúa bảo họ rằng: “Các ngươi tưởng rằng mấy người xứ Galilêa bị ngược đãi như vậy là những người tội lỗi hơn tất cả những người khác ở Galilêa ư?  Ta bảo các ngươi: không phải thế! Nhưng nếu các ngươi không ăn năn hối cải, thì tất cả các ngươi cũng sẽ bị hủy diệt như vậy” (Lc 13,3).

Cũng vậy, 18 người ở Giêrusalem bị tháp Silôê đổ xuống đè chết, Chúa bảo dân chúng rằng: “Các ngươi tưởng họ tội lỗi hơn những người ở Giêrusalem ư?  Không phải thế!  Nếu các ngươi không ăn năn hối cải, thì tất cả các ngươi cũng sẽ bị huỷ diệt như vậy” (Lc 13,5).  18 người này là những người đang chờ ở bờ hồ Silôê, mong được chữa lành bệnh, thình lình bị tháp sụp đổ đè chết!

Cả 2 biến cố đau thương tuy lấy đi mạng sống của con người, nhưng đó chỉ là sự mất mát, khổ đau cho thân xác, không thể so sánh với sự trầm luân đời đời của linh hồn nếu không sám hối, không cải thiện đời sống!

Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta: Đừng bao giờ xét đoán tội lỗi của một người qua các thảm cảnh hay tai nạn họ phải chịu. “Đừng xét đoán kẻo sẽ bị xét đoán” (Mt 7, 1) Chúa muốn nhắn nhủ mỗi người chúng ta rằng: Mỗi khi thấy các tai họa xẩy ra cho những người chung quanh, chúng ta hãy tự xét mình, để tránh những thảm họa ghê gớm hơn, nếu không sám hối, canh tân đời sống để trở về với Thiên Chúa!  Đó mới là tai họa thảm khốc nhất, là sự huỷ diệt kinh khủng cho linh hồn mãi mãi!  Thành tâm sám hối, cải thiện đời sống là phương cách duy nhất có thể tránh thoát cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, tránh thoát phép công thẳng của Ngài.

Do đó, không bao giờ có ngoại lệ, chỉ trừ Đức Maria, hoàn toàn tinh vẹn, thì tất cả nhân loại, tất cả chúng ta, ai cũng cần phải cải thiện đời sống, nếu không, sẽ chắc chắn bị hủy diệt, hủy diệt đời đời!  Đây là lời cảnh cáo nghiêm trọng của Thiên Chúa: Không sám hối sẽ bị hủy diệt!  Những người bị tai họa kia chỉ bị tàn sát, bị chết về thân xác, nhưng ai không sám hối, sẽ bị đày đọa mãi mãi về linh hồn và cả thân xác bên kia thế giới!

“Sám hối” là từ thường gặp trong Thánh Kinh, nó được kêu gọi bởi Gioan Tẩy Giả, Chúa Giêsu, các tông đồ và hôm nay luôn được lặp lại nơi sứ điệp của Giáo Hội.  Bởi sám hối là động thái tiên quyết để đón nhận ơn cứu độ.  Còn sống là còn cơ hội để sám hối!  Nếu không tận dụng tốt cơ hội Chúa ban thì Ngài sẽ cất đi như cây vả không chịu sinh trái (x. Lc 13,6-9).

Sự sám hối trở về không chỉ là hành vi đấm ngực ăn năn mà còn phải chuyển hóa, thay đổi như trong lời mời gọi của Chúa: “Hãy sinh hoa kết trái xứng với lòng ăn năn thống hối.”  Chúa Giêsu dùng dụ ngôn cây vả truyền cho chúng ta biến đổi sinh hoa kết trái.

Thiên Chúa luôn nuôi hy vọng và chờ đợi ở nơi chúng ta trong kiếp người dù ở thân phận nào, kể cả tội nhân khi sám hối và đơm bông kết trái: Hoa trái của sự thánh thiện.  Hoa trái của việc lành phúc đức.  Hoa trái của đời sống công bằng bác ái.  Hoa trái của đời sống yêu thương và phục vụ mọi người.

Huệ Minh

THÁNH GIUSE VÀ LỰA CHỌN THINH LẶNG

(Lc 2, 41-51a) 41 Hằng năm, cha mẹ Đức Giê-su trẩy hội đền Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt Qua.42 Khi Người được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền, như người ta thường làm trong ngày lễ.

43 Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giê-su thì ở lại Giê-ru-sa-lem, mà cha mẹ chẳng hay biết.44 Ông bà cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường, mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thuộc.45 Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại Giê-ru-sa-lem mà tìm.

46 Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi.47 Ai nghe cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu.48 Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con! “49 Người đáp: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao? “50 Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói.

51 Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài.

Sự cực lòng 

Sau ba ngày tìm kiếm trong vất vả và nhất là với tâm trạng lo âu, Thánh Giuse và Đức Maria tìm lại được Đức Giê-su trong Đền Thờ, lúc đó Người 12 tuổi.  Đức Maria thay mặt cho Thánh Giuse, nói với Đức Giê-su:

Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy?
Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!
(c. 48)

Chúng ta được mời gọi đặt mình vào hoàn cảnh của Thánh Giuse và Đức Maria để hiểu và cảm được hết “sự cực lòng” của các ngài: đi một ngày, nhưng phải tìm kiếm tới ba ngày.  “Sự cực lòng” không chỉ của người cha và người mẹ, như bất cứ người cha và người mẹ nào, khi để lạc mất người con yêu dấu, nhưng còn “sự cực lòng” của người tôi tớ và của người nữ tì trong tương quan với Thiên Chúa, khi để lạc mất “Con Đấng Tối Cao.”  Chúng ta hãy hình dung ra tâm trạng lo âu của Thánh Giuse và Đức Maria lớn đến mức nào, khi các ngài thầm nghĩ: “Thiên Chúa trao phó cho mình Con của Ngài, để thực hiện kế hoạch cứu độ, vậy mà mình lại để lạc mất!”

Và nếu chúng ta để ý, đó là lời của Đức Maria, nhưng Mẹ không nhân danh cá nhân mình, nhưng nói với Đức Giê-su với tư cách là “cha mẹ” của Ngài; hơn nữa, Đức Mẹ còn tỏ lòng kính trọng Thánh Giuse khi nói: “cha con và mẹ đây.”  Ngoài ra, trong trình thuật này, từ đầu đến cuối, thánh sử Luca luôn nói tới: “cha mẹ”, “ông bà”, “hai ông bà.”  Thật vậy, “hai ông bà” trở về sau kỳ lễ, “cha mẹ” chẳng hay biết, “ông bà” cứ tưởng, “ông bà” đều cực lòng tìm con suốt ba ngày; và khi thấy con, “hai ông bà” đều sửng sốt.

Chúng ta có thể dừng lại để cảm nếm sự hiệp thông và hiệp nhất giữa Thánh Giuse và Đức Maria và tình yêu của các ngài dành cho Đức Giê-su.  Nhưng vì hôm nay không phải là lễ Thánh Gia, mẫu mực của mọi gia đình và cộng đoàn, nhưng là lễ Thánh Giuse, nên chúng ta hãy cùng lắng nghe sự thinh lặng của Thánh Giuse: Tại sao Thánh Giuse không lên tiếng, khi đây là cơ hội thích hợp nhất và hợp lý nhất để ngài lên tiếng?

Sự thinh lặng của Thánh Giuse

Trong những biến cố khác, được các Tin Mừng thuật lại, ngài cũng im lặng, chẳng hạn trong trình thuật truyền tin cho ngài, theo trong Tin Mừng của thánh Mát-thêu (Mt 1, 18-25).  Ngài im lặng khi sứ thần truyền tin và trao ban sứ mạng; điều này dễ hiểu, vì sứ thần đã khéo léo chọn lúc ngài đang ngủ ngon, hình ảnh diễn tả sự thụ động trọn vẹn đối với Lời Chúa và ý định của Người.  Nhưng trong biến cố này, ngài rất tỉnh táo và chủ động, vì đang vất vả cùng với Đức Maria đi tìm Đức Giê-su.  Vì thế, trong trường hợp này, sự im lặng của Ngài là khó hiểu nhất, và có thể nói là tuyệt đối nhất; bởi lẽ ngài là chồng, là cha, là gia trưởng.  Một sự im lặng khó hiểu và tuyệt đối, nhưng chắc chắn cũng nhiều ý nghĩa nhất và đánh động chúng ta nhất, nếu chúng ta có đôi tai biết lắng nghe.

Chắc chắn không phải vì trong đời thường, Thánh Giuse không nói gì, và cũng không nhất thiết là vì Thánh Giuse ít nói trong cuộc sống, nhưng chính xác là vì, trong những biến cố thánh, nghĩa là các biến cố liên quan đến mầu nhiệm Nhập Thể mà các Tin Mừng thuật lại, Thánh Giuse của chúng ta lựa chọn sự thinh lặng.  Đặt mình đối diện với mầu nhiệm Nhập Thể, mầu nhiệm Ngôi Lời Thiên Chúa làm người, chúng ta sẽ nhận ra rằng, sự thinh lặng của Thánh Giuse là một lựa chọn thiêng liêng; và nếu là như thế, lựa chọn thinh lặng của Thánh Giuse mở ra cho chúng ta cả một chiều sâu thiêng liêng, thậm chí cả một “linh đạo”, mà chúng ta được mời gọi lắng nghe và nhận làm của mình.

Cũng tương tự như sự thinh lặng tuyệt đối của trời xanh và không trung, nhưng lại ẩn dấu những sứ điệp lớn lao và sâu xa liên quan đến chính Thiên Chúa, ngỏ với đôi tai biết lắng nghe, biết lắng nghe sự thinh lặng, như lời nguyện Thánh Vịnh diễn tả:

Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa.
Không trung kể lại tay việc Người làm.
(Tv 19, 2)

Vậy chúng ta hãy “lắng nghe” sự thinh lặng của Thánh Giuse.  Thánh Giu-se lựa chọn thinh lặng, và để cho Đức Maria lên tiếng, đó là vì, với sự nhạy bén thiêng liêng, Ngài nhận ra, ở mức độ nào đó, biến cố này là điểm tới của cả một hành trình lớn lên của Đức Giê-su trong tương quan đặc biệt với Thiên Chúa: Đức Giê-su được sinh ra bởi một “Người Cha” khác, từ từ cảm nhận sự hiện diện của một “Người Cha” khác, duy trì tương quan kín đáo nhưng sâu đậm với một “Người Cha” khác, và ở đây, Đức Giê-su chính thức nói đến “Người Cha” này:

Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?

Và chắc chắn không chỉ trong biến cố này, nhưng trong mọi biến cố liên quan đến cuộc đời của Đức Giê-su; Đấng mà ngài hi sinh cả một đời, hi sinh gia đình riêng, hi sinh kế hoạch riêng, hi sinh thú vui riêng, để cưu mang, bao bọc và làm cho lớn lên.  Ngài nhận ra mầu nhiệm, tôn trọng mầu nhiệm và “lui ra phía sau” để Đức Maria và Người Con của Mẹ nổi bật lên không phải trong tương quan với “người cha” này, nhưng trong tương quan với “Người Cha” khác; hay nói theo ngôn ngữ đời thường, Thánh Giuse “lui lại phía sau”, để cho Hai Mẹ Con “muốn làm gì thì làm!”

Đó cũng là lựa chọn của ngài trước đó 12 năm: ngài nhận ra mầu nhiệm lạ lùng đang hình thành nơi cung lòng Đức Trinh Nữ, bởi vì nơi tâm hồn của ngài, tâm hồn của “người công chính”, không thể có ý nghĩ xấu về Đức Maria, người mà ngài suốt đời yêu mến trong Chúa; và khi nhận ra, dù chưa rõ ràng, ngài tôn trọng, giữ khoảng cách, lựa chọn thinh lặng và có ý định “lui lại phía sau” và xác tín rằng đó là ý muốn của Thiên Chúa.

Và như chúng ta biết, Thiên Chúa đã ưu ái Thánh Giuse của chúng ta cách đặc biệt, khi vui lòng chuẩn nhận lựa chọn lui lại phía đàng sau trong thinh lặng của ngài, bằng cách cho ngài đi vào cõi thinh lặng của sự chết rất sớm, một đàng để cho Hai Mẹ Con, Đức Maria và Đức Giê-su nổi bật lên, đi đến cùng và hoàn tất Mầu Nhiệm Nhập Thể và Cứu Độ, và đàng khác, chính là để cho ngài cất vang lời ca tụng Mầu Nhiệm Tình Yêu Thiên Chúa luôn mãi trong Sự Sống Mới, Sự Sống mà ngài đã nhận ra và dâng hiến cả một đời.

Sự thinh lặng của Đức Ki-tô

Khi lắng nghe sự thinh lặng của Thánh Giuse, chúng ta không thể không hướng đến sự thinh lặng của Đức Ki-tô trong cuộc Thương Khó và nhất là sự thinh lặng của Đức Ki-tô Chịu Đóng Đinh.  Có thể nói, sự thinh lặng của Thánh Giuse đã loan báo cho chúng ta sự thinh lặng của “Đức Ki-tô chịu đóng đinh, Đối Tượng duy nhất của lòng trí chúng ta” rồi.  Và dưới chân Thập Giá, Đức Maria cũng sẽ lựa chọn thinh lặng (x. Ga 19, 25-27).  Nhưng Thánh Giuse của chúng ta đã lựa chọn thinh lặng từ rất lâu rồi, để diễn tả lời xin vâng tín thác nơi Tình Yêu muôn ngàn đời của Thiên Chúa và kế hoạch cứu độ nhiệm mầu của Ngài, ngang qua thử thách, khó khăn, đau khổ và chính sự chết.

Như thế, khởi đi từ sự nhạy cảm thiêng liêng, làm cho Thánh Nhân nhận ra mầu nhiệm Thiên Chúa trong mọi biến cố liên quan đến Đức Giê-su, lựa chọn thinh lặng của Thánh Giuse còn muốn nói lên lời xin vâng tín thác tuyệt đối của ngài.  Diễn tả lời xin vâng bằng sự thinh lặng, dường như đó là cung cách của phái nữ!  Vì thế, thật là thích hợp, khi các Hội Dòng Mến Thánh Giá nhận Thánh Cả Giuse làm Thánh Bổn Mạng.

********************************

Thánh Cả Giuse đã đón nhận, cưu mang, ôm ấp và làm cho Đức Giê-su, Ngôi Lời nhập thể lớn lên.  Xin ngài cũng quảng đại đón nhận, cưu mang, ôm ấp và làm cho mỗi người chúng ta lớn lên theo khuôn mẫu của Đức Giê-su; và nhất là, xin Thánh Cả Giuse dạy mỗi người chúng ta, như Thánh Nhân, biết lựa chọn Sự Thinh Lặng Thần Linh.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc
Lễ Thánh Giuse 2015

MỘT TRÁI TIM MỚI

Thiên Chúa ban cho con người trái tim để yêu thương.  Giữa cuộc sống bon chen tính toán, có nhiều khi trái tim lỡ nhịp: thay vì yêu thương lại giận hờn, thay vì gắn kết lại phân ly, thay vì khôn ngoan lại dại khờ.  Bởi thế, trái tim luôn phải được canh tân để quy hướng về sự thiện.  Trái tim cũng là “tấm lòng” của con người, tức là nơi sâu thẳm của mỗi cá nhân.  Lòng người chính là thái độ sống có nhân có nghĩa, là cách đối nhân xử thế với đồng loại.  Lòng người sâu thẳm khôn dò, nên người ta nói:“Họa hổ họa bì nan họa cốt, tri nhân tri diện bất tri tâm,” tức là vẽ hổ thì chỉ có thể vẽ được bộ da bề ngoài, không thể vẽ được bộ xương; biết người chỉ biết được khuôn mặt, không thể biết được lòng.  Những trái tim lỗi nhịp và vương vấn bụi trần, cần phải được tinh luyện.  Thiên Chúa là Đấng có thể canh tân đổi mới con tim và ban cho con người một trái tim mới.

Ai cũng có một trái tim.  Những trái tim đều giống nhau, dù là người da trắng, da đen hay da vàng.  Trái tim hay tấm lòng chỉ là tượng trưng cho cách sống của một con người.  Một người sống tốt với tha nhân, người ta gọi người đó có trái tim nhân hậu.  Một người biết cảm thông tha thứ cho người khác, người ta gọi người đó có tấm lòng vị tha.  Trái tim không có lỗi về hạnh kiểm của một con người, nhưng cách sống của mỗi người gán cho trái tim tính cách tốt hay xấu.  Mỗi cá nhân đều được Chúa dựng nên có tự do.  Nhờ tự do, họ quyết định về lối sống của mình, và họ phải chịu trách nhiệm về quyết định đó.

Nếu lòng người sâu thẳm khôn dò, thì Thiên Chúa quyền năng lại biết rõ tâm tư của họ.  Tác giả Thánh vịnh đã thốt lên: “Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ, biết cả khi con đứng con ngồi.  Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa, đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét, mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả.  Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời, thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết” (Tv 139,1-4).  Thiên Chúa là trọng tài tối cao, luôn quan sát những suy nghĩ và hành động của con người.  Ngài cũng là vị thẩm phán công minh, xét xử con người về lối sống của họ.  Thập điều hay Mười điều răn của Luật Giao ước, được Chúa ban cho ông Môisen, để làm tiêu chuẩn cho cách đối nhân xử thế của con người thuộc mọi dân tộc và mọi nền văn hóa.  Những ai sống theo Mười điều răn, sẽ được hạnh phúc và được Chúa chúc lành.  Chúa Giêsu đã đến trần gian để hoàn thiện Luật Cựu ước, đồng thời Người mặc cho Luật ấy một ý nghĩa mới.  Đức yêu thương là điều cốt lõi căn bản trong giáo huấn của Chúa Giêsu, đến nỗi Người gọi đó là điều răn mới, là điều răn của Người.  Yêu thương là sống với nhau có tấm lòng, là quan tâm đến nhau và mong cho nhau được hạnh phúc.

Chúng ta cần có trái tim mới để yêu mến Chúa và nhận ra sự hiện diện của Ngài trong cuộc đời.  Một trái tim đầy ắp tham vọng không còn chỗ để đón Chúa ngự đến.  Một trái tim chai lì chẳng đáng được Chúa đoái thương.  Trong cảnh lưu đày, dân Do Thái đã bi quan chán nản.  Xa quê cha đất tổ, không còn phụng vụ Đền thờ và những lễ nghi cầu nguyện.  Họ cảm thấy bị Thiên Chúa quên lãng.  Nhiều người đã bỏ Chúa và tôn thờ các thần linh của địa phương xứ Babilon.  Trong bối cảnh đó, Chúa sai ngôn sứ Êdêkien đến để quả quyết với họ rằng: “Từ muôn dân, Ta sẽ tập hợp các ngươi lại; từ muôn nước, nơi các ngươi bị phân tán, Ta sẽ quy tụ các ngươi về và Ta sẽ ban cho các ngươi đất Ítraen.  Chúng sẽ trở về đó và loại đi mọi thứ gớm ghiếc và ghê tởm.  Ta sẽ ban cho chúng một trái tim và đặt thần khí mới vào lòng chúng.  Ta sẽ lấy khỏi mình chúng trái tim chai đá và ban cho chúng một trái tim bằng thịt, để chúng đi theo các thánh chỉ của Ta và tuân giữ cùng thi hành các quyết định của Ta” (Ed 11,17-20).  Những lời này được coi như giao ước mới mà Thiên Chúa ký kết với dân lưu đầy.  Ngài hé mở cho họ niềm hy vọng.  Ngài cũng cho họ thấy lòng nhân hậu của Ngài.  Thiên Chúa quyền năng sẽ lấy khỏi họ trái tim chai đá, cằn cỗi và không còn khả năng yêu thương, và Ngài thay thế vào đó một trái tim bằng thịt.  Dân Israel không còn bị bỏ rơi và quên lãng.  Họ luôn được Chúa dạy bảo để không bị lạc đường.  Êdêkien đã làm cho con tim người Do Thái vui trở lại, với hy vọng thời gian lưu đày sẽ chấm dứt và họ lại được trở về chốn cũ quê xưa.

Chúng ta cần có trái tim mới để đón nhận ơn tha thứ và lòng thương xót của Chúa.  Mang thân phận con người còn đầy yếu đuối, trái tim mỗi chúng ta dễ nhuốm màu tội lỗi và rất cần được canh tân thanh tẩy.  Canh tân trái tim, nghĩa là canh tân cuộc đời.  Lý tưởng của con người nói chung là đạt tới sự tốt lành trong nhân cách để có một cuộc sống bình yên hài hòa và hạnh phúc.  Lý tưởng của người Kitô hữu là đạt tới sự hoàn thiện, là nên thánh “như Cha trên trời là Đấng Thánh.”  Hành trình nên thánh là một hành trình lâu dài, liên lỉ, cần có sự hy sinh, kiên trì và dứt khoát.  Trong hành trình đầy khó khăn và thử thách ấy, chúng ta tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng sẽ cất khỏi chúng ta quả tim chai đá, để thay vào đó một quả tim biết yêu thương.  Mang một trái tim mới, chúng ta sẽ thoát khỏi mọi ràng buộc của tội lỗi và ghen ghét hận thù.  Vua Đavít đã cầu nguyện tha thiết với Chúa để xin Ngài ban cho ông một trái tim mới.  Trước đó ông đã phạm tội cướp vợ của một sĩ quan trung thành là ông Uria, sau đó lập mưu ra lệnh giết người sĩ quan này.  Tội lỗi làm ông áy náy khôn nguôi.  Ông chạy trốn chính mình, nhưng không thoát khỏi, vì tội lỗi cứ bày ra trước mắt.  Ông đã sám hối và xin Chúa ban cho một trái tim mới.  Ông muốn đoạn tuyệt với quá khứ tội lỗi, khởi đầu ngã rẽ mới để làm lại cuộc đời.  Cùng với lời van xin một trái tim mới, Đavít xin Chúa ban cho ông niềm vui của ơn cứu độ.  Một trái tim được canh tân đổi mới cũng đồng nghĩa với trọn vẹn con người và hạnh kiểm cũng được thay đổi.  Do lòng chân thành sám hối, Đavít đã được Chúa tha tội.  Qua các thánh vịnh, ông đã ca ngợi lòng nhân từ của Chúa và tôn vinh những kỳ công của Ngài.

Chúng ta cần có trái tim mới để nhận ra mọi người là anh chị em của cùng một Cha trên trời.  Một trái tim khép kín không thể nhận ra hình ảnh của Chúa nơi những người xung quanh.  Một trái tim đầy những thành kiến sẵn sàng gạt bỏ và loại trừ người khác.  Một trái tim ghen ghét nhìn đâu cũng thấy kẻ thù.  Một trái tim vô cảm dửng dưng tới mức tàn nhẫn trước nỗi đau của người đáng thương.  Trong Sứ điệp Mùa Chay, Đức Thánh Cha Phanxicô đã mời gọi mọi tín hữu hãy nhận ra nơi tha nhân là một hồng ân, là một quà tặng của Chúa.  Ngài nhắc lại nhân vật người phú hộ trong Tin Mừng thánh Luca.  Ông này giàu có xa hoa, gấm vóc lụa là, yến tiệc linh đình, nhưng lại làm ngơ trước sự thống khổ của người nghèo tên là Lagiarô.  Trong xã hội hôm nay, vẫn còn đó biết bao người như người phú hộ.  Họ phung phí của cải – nhiều khi là của cải kiếm được do gian lận và tham nhũng – trong khi nhiều người nghèo đói khát thiếu thốn.  Chính trong con người của mỗi chúng ta cũng có những lúc giống người phú hộ, lãng quên người nghèo.  Trái tim chúng ta cần được canh tân đổi mới để chung nhịp đập với tha nhân.  Con mắt tâm hồn chúng ta cần được khai sáng để biết quan tâm đến những người xung quanh mình.  Trái tim được đổi mới sẽ nên giống như trái tim Chúa Giêsu, rung cảm trước nỗi đau nhân thế.  Con mắt được canh tân sẽ giống như con mắt Chúa Giêsu, nhận ra mọi người đều được Chúa xót thương.  Một khi trái tim được canh tân đổi mới, chúng ta sẽ thân thiện hơn với mọi người, thận trọng hơn khi nhận định về người khác.  Ý thức mỗi người đều là tội nhân sẽ giúp chúng ta tránh lên án người khác, nhưng giúp đỡ khích lệ nhau trỗi dậy, sửa những sai lỗi, làm lại cuộc đời, vươn tới tương lai.

“Lạy Chúa, xin ban cho con một trái tim trong sạch!” (Tv 50,12).  Đó là lời nguyện cầu của vua Đavít.  Đó cũng là tâm tình của mỗi chúng ta mỗi khi Mùa Chay về.  Trái tim sạch là trái tim được canh tân.  Nếu không đổi mới từ tâm can, Mùa Chay sẽ trở thành vô nghĩa.  Thiên Chúa đang chờ đợi và sẵn sàng ban cho chúng ta một trái tim mới, thay thế trái tim đã già cỗi và chai đá.  Khi mang một trái tim được canh tân, chúng ta sẽ thấy cuộc đời này đẹp đẽ và đáng yêu hơn.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên