CHIẾN THẮNG CÁM DỖ

Con người sống trên đời luôn bị quay cuồng bởi nhiều cám dỗ.  Nhà thơ Trần Tế Xương đã gọi mặt đặt tên những cám dỗ ấy thành “ba thứ lăng nhăng nó quấy ta,” đó là trà, rượu và đàn bà.  Người ta vẫy vùng muốn thoát khỏi những cám dỗ, nhưng không dễ dàng, vì cám dỗ như chiếc lưới bủa vây ràng buộc, càng vùng vẫy càng mắc sâu hơn.

Với cuộc sống tiện nghi của thời đại hôm nay, cám dỗ không dừng lại ở “ba cái lăng nhăng” như thời Cụ Tú Xương, nhưng đa dạng và nguy hiểm hơn nhiều.  Một trong những cám dỗ nghiêm trọng nhất lôi kéo chúng ta, đó là chối bỏ Thiên Chúa, tự cho mình có thể thay thế Ngài trong đời sống hằng ngày.

Thực ra, đây không phải là một cơn cám dỗ mới.  Chính Chúa Giêsu cũng đã bị ma quỷ cám dỗ.  Mỗi khi Mùa Chay về, chúng ta lại được chiêm ngưỡng hình ảnh Chúa Giêsu cầu nguyện và ăn chay trong sa mạc.  Nơi đây, Người đã chiến đấu với ma quỷ đang dụ dỗ Người từ bỏ sứ mạng thiên sai mà Chúa Cha trao phó.  Ma quỷ còn hứa cho Chúa tất cả vinh hoa phú quý ở đời, miễn là sấp mình thờ lạy nó.  Chúa Giêsu đã chiến thắng ma quỷ.

Cám dỗ phủ nhận Thiên Chúa và muốn thay thế Ngài, đó cũng là cám dỗ của ông bà Nguyên tổ ở khởi đầu của lịch sử.  Ông Ađam và bà Evà đã nghe con rắn dụ dỗ, muốn được thông minh và quyền năng như Thiên Chúa.  Ông bà đã muốn đổi ngôi, từ thân phận thụ tạo thành vị trí “đấng sáng tạo.”  Cơn cám dỗ ở đầu lịch sử vẫn luôn hoành hành và gặm nhấm mỗi người chúng ta, nhất là trong xã hội hiện đại hôm nay, khi con người cậy dựa vào những phát minh của khoa học và tự cho rằng kỹ nghệ sẽ đem lại hạnh phúc cho con người.  Nhiều phong trào xã hội mượn danh “dân chủ”, “văn minh” đã muốn loại bỏ Thiên Chúa và giáo huấn của Ngài và thay thế vào đó là những ý thức hệ vô thần, hoặc nền văn hoá sự chết.  Có những cơn cám dỗ mang khuôn mặt khả ái, những chức danh mỹ miều hoặc nhân danh lòng đạo đức, nhưng thực ra nó chứa nọc độc, nhằm lôi kéo con người xa Chúa.  Khi chối bỏ Thiên Chúa, nhiều người muốn tôn thờ vinh hoa phú quý như một thứ thần linh.  Họ coi của cải, giàu có là mục đích tối thượng của cuộc đời.  Họ quên rằng, tiền bạc không phải bao giờ cũng đem lại cho con người hạnh phúc.  Một khi vắng bóng Thiên Chúa, cuộc đời này sẽ thiếu vắng tình yêu và tràn lan những hận thù.

Trong Sứ điệp Mùa Chay năm 2016 này, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói về tình trạng sự mù loà của con người thời nay trước nỗi khổ của tha nhân, và do đó, họ ảo tưởng trong những quan điểm về cuộc sống.  Ngài viết: “Lời ma quỷ nói với Bà Evà: Bà sẽ nên giống Thiên Chúa” (St 3, 5), là gốc rễ của mọi tội lỗi.  Ảo tưởng này có thể mang những hình thức xã hội và chính trị, được biểu lộ nơi hệ thống độc tài toàn trị của thế kỷ XX, và trong thời đại của chúng ta, nơi những ý thức hệ độc quyền về tư tưởng và khoa học công nghệ, loại trừ Thiên Chúa và giảm thiểu con người thành thứ vật chất đơn thuần để khai thác bóc lột.  Ảo tưởng này cũng có thể được thấy trong những cơ cấu tội lỗi liên quan đến mô hình phát triển sai lầm đặt nền trên việc tôn thờ tiền tài, dẫn đến việc thiếu quan tâm về thân phận người nghèo nơi một số cá nhân và xã hội giàu có hơn; họ đóng chặt cửa mà chẳng thèm đếm xỉa đến người nghèo.”

Mùa Chay giúp chúng ta nhìn nhận thân phận mình, với biết bao yếu đuối và lỗi lầm, rất cần được Chúa tha thứ và đỡ nâng.  Ông Môi-sen đã chỉ dẫn cho người Do Thái, khi đến dâng của lễ, hãy thưa với Chúa về nguồn gốc du mục của mình và nhớ lại những điều tốt lành Ngài đã làm với tổ phụ họ (Bài đọc I), nhờ đó, họ dâng của lễ với lòng tri ân chân thành và đáng được Chúa chấp nhận.  Nhìn nhận thân phận mình sẽ giúp chúng ta khiêm tốn và sám hối sửa mình, và nhờ đó, chúng ta được đón nhận lòng Chúa xót thương.

“Đã có lời chép: ‘Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi.”  Chúa Giêsu đã tuyên bố với tên cám dỗ như vậy.  Đây cũng là lời giáo huấn dành cho chúng ta, là những tín hữu.  Như Chúa Giêsu đã trung thành với sứ mạng, dù phải chấp nhận thập giá, mỗi chúng ta được kêu mời kiên vững trong Đức tin, dù phải trải qua phong ba bão táp của cuộc đời.

Lửa thử vàng, gian nan thử đức.  Những cám dỗ chúng ta gặp trong đời là thước đo sự trưởng thành của chúng ta trong Đức tin và sự tín thác vào Chúa.  Thánh Phaolô nói với chúng ta về một Đức tin đích thực: “Quả thế, có tin thật trong lòng, mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn cứu độ” (Bài đọc II).  Lời cầu nguyện của Phụng vụ khi bước vào Mùa Chay: “Hôm nay, chúng con bước vào mùa tập luyện chiến đấu thiêng liêng…” đã nói lên mục đích của mùa Phụng vụ này.  Xin cho Mùa Chay thánh này giúp chúng ta tìm được sức mạnh, sự bình an và niềm vui thánh thiện.  Amen!

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

GIỮ CHAY THẾ NÀO CHO ĐẸP LÒNG CHÚA

Hôm nay, cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta bước vào Mùa tập luyện thiêng liêng bằng việc xức tro và ăn chay để khởi đầu Mùa Chay Thánh.  Mùa Chay được bắt đầu từ thứ Tư Lễ Tro và kết thúc vào thứ Sáu Tuần Thánh.  Mùa Chay được kéo dài năm tuần lễ để chuẩn bị tâm hồn mừng đại lễ Phục Sinh là đỉnh cao của niềm tin Kitô Giáo.  Tuy nhiên, có điều là: Mùa Chay đã diễn ra hằng năm, nhưng tại sao đời sống đạo của chúng ta vẫn chỉ dừng lại nhiều ở góc độ bên ngoài mà đời sống tâm linh không có gì thay đổi lắm!  Nguyên nhân tại đâu và việc chúng ta ý thức về nó như thế nào?  Đâu là điều Chúa và Giáo Hội muốn nơi người tín hữu mỗi khi Mùa Chay về?  Nhân ngày thứ Tư Lễ Tro, chúng ta hãy làm mới lại tinh thần về ngày lễ này.

Xức Tro

Việc xức tro lên đầu nhắc chúng ta về thân phận hữu hạn, tro bụi của kiếp người.  Vì thế, Tổ Phụ Abraham đã thưa với Chúa: “Con chỉ là thân tro bụi” (St 18, 27).  Thật vậy, con người được hiện hữu trên trần gian này là do tình thương của Thiên Chúa.  Nhưng tiếc thay, tình thương ấy đã bị con người lạm dụng và hướng chiều về tội lỗi thay vì biết ơn!  Mỗi khi xức tro, Giáo Hội nhắc chúng ta: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1, 14) để được Thiên Chúa tha thứ.

Những ý nghĩa này được khởi đi từ những câu chuyện trong Kinh Thánh Cựu Ước, điển hình như: tiên tri Giêrêmia kêu gọi sám hối: “Thiếu nữ dân tôi ơi, hãy quấn vải thô vào mình và lăn trên tro bụi” (Gr 6, 26).  Không chỉ dừng lại ở lời khuyên, tiên tri Đanien xin Chúa cứu dân Itrael, và nêu gương cho họ khi nói và hành động: “Tôi ăn chay, mặc áo vải thô và rắc tro lên đầu rồi ngẩng mặt lên Chúa Thượng là Thiên Chúa, để dâng lời khẩn nguyện nài van” (Đn 9, 3).  Đến thời Giona, Đức Chúa truyền cho ông loan báo về tai ương mà Đức Chúa sẽ giáng xuống trên dân, nếu dân không ăn năn sám hối.  Ông đã loan báo công khai, mãnh liệt, ráo riết, nên: “Tin báo đến cho vua Ninivê; vua rời khỏi ngai, cởi áo choàng, khoác áo vải thô, và ngồi trên tro” (Gn 3, 6).

Sang thời Tân Ước, Đức Giêsu vẫn giữ nguyên giá trị và ý nghĩa của việc xức tro.  Tuy nhiên, Ngài hối thúc và cảnh báo sự chai lỳ cứng cỏi của dân khi nói: “Khốn cho các ngươi, hỡi Khoradin!  Khốn cho ngươi, hỡi Bétxaiđa!  Vì nếu các phép lạ đã làm nơi các ngươi mà được làm tại Tia và Xiđon, thì họ đã mặc áo vải thô, rắc tro lên đầu tỏ lòng sám hối.  Vì thế, Ta nói cho các ngươi hay: đến ngày phán xét, thành Tia và thành Xiđon còn được xử khoan hồng hơn các ngươi” (Mt 11, 21 – 22; x. Lc 10, 13).  Tro còn nói đến một điềm gở, mà cụ thể là cái chết của mỗi người và nhân loại.  Vì thế, tiên tri Giêrêmia đã mô tả như: “Thung lũng tử thi và tro thiêu xác” (x. Gr 31, 40).  Nói như thánh Phaolô: “Mỗi ngày tôi phải đối diện với cái chết” (1 Cr 15, 31).  Vì thế, chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng, không thể chần chừ.  Chuẩn bị tức là sống theo tinh thần của Chúa.

Như vậy, hành động xức tro lên đầu ngoài việc công khai nhận mình là người có tội và tỏ lòng sám hối chân thành, để xin ơn thương xót của Thiên Chúa, chúng ta còn thể hiện sự quyết tâm trở về với Chúa, đổi mới tâm hồn để xứng đáng là con Chúa.  Một trong những điều thể hiện sự trở về, đó là việc chay tịnh. Tuy nhiên, giữ chay thế nào mới đúng với tinh thần mà Chúa mong muốn?

Ăn Chay

Ăn chay khởi đi từ tinh thần thờ phượng Thiên Chúa và làm đẹp lòng Người, để dâng cho Người một phân nửa của cải (x. Ds 29,7; Cv 13,2),  (x. Tl 20,26; Gđt 8,6).  Ăn chay còn có ý nghĩa nữa là thể hiện lòng đạo đức để được Thiên Chúa nhận lời (x. 2Sm 12,16-22; Er 8,21; để đền tội, xin Thiên Chúa tha thứ (x. Lv 23,27; Hc 34,26; Đn 10,2); để hỗ trợ việc trừ quỉ… (x. Mt 17,21).

Ăn chay còn thể hiện tính vị tha là thực hiện công lý và tình thương (x. Is 58,6-7), để thánh hóa bản thân, siêu thoát tinh thần để được sự sống đời đời.  Không bám viú vào của cải, sức riêng cách thái quá, vì: “Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4, 4).  Thật vậy, nếu không ăn chay với những mục đích đã kể trên thì sẽ trở thành công dã tràng!  Điều này đã được thánh Phaolô nói: “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (1Cr 13,3).

Cách giữ chay của người Công Giáo hiện nay

Ngày nay, tinh thần ăn chay của người Công Giáo xem ra đã bị lạm dụng, hay hướng chiều về những hành vi tiêu cực.

Có những người ăn chay, bố thí… chỉ vì mục đích được khen là đạo đức, họ ủ dột, thê lương, cốt để làm sao cho mọi người biết mình là người nghiêm chỉnh giữ chay.  Lại có những người ăn chay chỉ vì sợ luật hay sợ Chúa phạt.  Vì thế, nếu trong ngày, lỡ cách nào đó mà phạm luật, họ hoang mang đến bất an chỉ vì trót ăn vặt, không đúng giờ, đúng bữa…  Cũng có những người tính toán đến độ ngày mai ăn chay, thì hôm nay ăn uống cho đã để ngày mai đỡ thèm, hoặc ăn chực nằm chờ cho qua thời gian luật định, tức là qua 24h, sau đó nhậu nhẹt hả hê.  Họ làm như thế và an tâm vì đã giữ trọn ngày chay theo đúng luật.  Vì thế, không lạ gì khi có những người mỉa mai cách thức ăn chay của chúng ta rằng: “thứ ba béo”; “thứ năm sung sướng.”  Đáng buồn hơn nữa là: có nhiều gia đình ngày chay kiêng thịt thì lại đi mua những thứ cao lương mỹ vị như: hải sản, tôm hùm hay những thứ khác đắt tiền hơn thịt nhiều…

Tinh thần ăn chay như thế, hẳn chúng ta thua xa về ý thức nơi anh chị em các tôn giáo khác về việc giữ chay!  Mặt khác, điều chúng ta dè bửu người Pharisêu hình thức khi xưa, khi họ lo giữ cho sạch chén bát bên ngoài, còn trong lòng thì toàn sự hận thù, ghen ghét, ích kỷ, kiêu ngạo (x. Mc 7,1-8a.14-15.21-23), thì nay, chúng ta lại đi vào chính vết xe đổ của họ, chẳng khác gì “gậy ông đập xuống lại dần lưng ông.”  Nói cách khác, chúng ta là con đẻ của nhóm hình thức vụ luật.  Thiết nghĩ, ăn chay như vậy, hẳn chúng ta chẳng khác gì những Pharisêu!  Vì thế, chúng ta không lạ gì khi Đấng thấu suốt mọi điều kín nhiệm là Đức Giêsu đã quở trách họ cách nặng nề: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mc 7, 6).  Ăn chay kiểu như thế quả thật vô nghĩa vì đã đánh mất đi ý nghĩa thánh thiêng của ngày Thánh, ngày dành cho Thiên Chúa và vì ơn cứu độ của mình và tha nhân.

Việc ăn chay của Kitô giáo phải gắn liền cuộc đời, lời nói và hành vi của mình với Đức Kitô, nếu không, chúng ta chỉ là cỗ máy không hồn, như chiếc thùng kêu to, nhưng thực chất nó rỗng, và đôi khi chúng ta trở thành danh hài hay con hề trên sân khấu.  Thánh Phaolô đã cẩn trọng nhắc nhở những kẻ như trên trong thời của Ngài, khi nói: “Anh em mà tìm sự công chính trong Lề Luật, là anh em đoạn tuyệt với Đức Kitô và mất hết ân sủng” (Gl 5,4) khi chỉ lo giữ luật mà không có đức mến và đức ái đi kèm.

Người Công Giáo ăn chay, ngoài việc liên đới với Thiên Chúa, chúng ta còn gắn liền với các mối tương quan nơi tha nhân.  Vì thế, Giáo Hội mời gọi chúng ta dành ra một chút hy sinh về của cải vật chất mà lẽ ra chúng ta được hưởng để chia sẻ cho người túng nghèo, lo truyền giáo, giúp đỡ các bệnh nhân…  Nói cách khác, việc ăn chay phải nhằm xây dựng Nước Trời ở trần gian này, nghĩa là phải biến việc ăn chay thành một phong cách sống nhằm xây dựng xã hội hay Giáo Hội ngày càng tốt đẹp hơn, công lý và tình thương hơn.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta: “Hãy xé tâm hồn chứ đừng xé áo” (Ge 2, 12-18); “Hãy làm hoà cùng Chúa đi…  Bây giờ là cơ hội thuận tiện” (2 Cr 5, 20 – 6, 2).

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con hiểu rằng: muốn được phục sinh với Chúa, chúng con phải qua con đường thập giá.  Phải chiến đấu và tập luyện các nhân đức cách sốt sắng, để thêm lòng yêu mến Chúa và liên đới với tha nhân.  Amen!

Jos. Vinc. Ngọc Biển

QUÀ TẶNG CỦA SỰ KHÔN NGOAN

Thiên Chúa, Đấng trao ban món quà là khôn ngoan,
Và tôi là kẻ kiếm tìm.

Ai là kẻ kiếm tìm?  Đó là kẻ thành tâm khao khát được biết, được triển nở, và được dư đầy.  Và tôi, tôi đang tìm kiếm điều gì?  Điều cao quí nhất tôi đang tìm là sự KHÔN NGOAN.  Khôn ngoan là dạng thức cao nhất của tri thức, vốn được nảy sinh không chỉ từ trí năng, nhưng còn từ kinh nghiệm sâu xa của con người.  Mẫu thức cao nhất của tri thức là chính THIÊN CHÚA.

Vua Salômôn yêu mến sự khôn ngoan.  Ông diễn tả sự khôn ngoan như sau:

Từ thời trai trẻ, tôi đã yêu quí và kiếm tìm Đức Khôn Ngoan làm bạn đời; và vẻ đẹp của Đức Khôn Ngoan làm tôi say đắm…  Đức Khôn Ngoan đã được truyền thụ những hiểu biết về Thiên Chúa, và chính Đức Khôn Ngoan quyết định về những công trình của Người (Kn 8: 2-4).

Ngay lúc này, tôi có đang kiếm tìm THIÊN CHÚA trong đời sống của tôi chăng?  Nếu tôi tìm kiếm Thiên Chúa, Ngài sẽ tìm thấy tôi (không phải tôi tìm được Ngài).  Và đó là một huyền nhiệm.  Ngài đã ban cho tôi sự khôn ngoan.  Và sự khôn ngoan, một món quà đặc biệt, được thông ban qua những cơ hội, những kinh nghiệm, và thậm chí qua cả những lỗi lầm, thiếu sót.  Món quà khôn ngoan đặc trưng ở chỗ nó chỉ xuất hiện khi tôi nhận ra bài học từ những lỗi lầm, thất bại, hay khi nhận ra một cơ hội nào đó đang được trao cho tôi, hay khi tôi nhận ra một biến cố trong đời khiến tôi phải tiến tới với thái độ phản tỉnh sâu sắc hơn.

Chúng ta đang sống trong thời đại “bùng nổ thông tin” – có quá nhiều thông tin đến nỗi chúng ta không biết phải chọn cái nào cho hợp lẽ.  Cùng với chuyện mạng Internet trở nên thứ nằm trong tầm tay mỗi người, thì một cuộc cách mạng công nghệ thông tin gần đây đã làm đổi thay cả địa cầu.  Nhiều người thừa nhận rằng trẻ em trong thời đại của chúng ta “am hiểu” nhiều hơn cả người lớn.  Thế nhưng, có thể nói được rằng sự KHÔN NGOAN đang dần biến mất trong một viễn ảnh như thế – cũng chẳng khác gì việc nhiều loại ngôn ngữ và chữ viết đang dần biến mất trên đất nước này (tác giả đang muốn nói về đất nước Ấn Độ)!  Phàm ai là cha mẹ, người ấy hiển nhiên cần sự khôn ngoan.  Điều mà bằng bất cứ giá nào cha mẹ cần hướng đến chính là một tương lai rạng ngời cho con cái.

Chúng ta đang hướng con cái đến một tương lai tốt đẹp trong khi chúng ta (những người lớn) lại hành động cách vô trách nghiệm đối với những nguồn tài nguyên mà những người trưởng thành của tương lai cần đến!!!  Người ta bận tâm, lo lắng nhiều cho hiện tại, nhưng hầu như chẳng làm gì để đảm bảo một tương lai tốt đẹp.  Những giá trị đạo đức và cảm thức nhân loại dường như bị hạ thấp và nhấn chìm trong một thế giới cạnh tranh “khốc liệt.”  Những ai được xem là khôn ngoan thì đã quyết không tham gia vào cuộc chạy đua điên khùng này.

Có một sự giảm trừ đáng kể về mối quan tâm đến sự khôn ngoan.  Chúng ta cần trở nên những kẻ kiếm tìm và chỉ qua đó, chúng ta mới có thể trở nên tương hợp với sự khôn ngoan.  Kẻ kiếm tìm không thuộc loại người chỉ biết vun vén cho mình.  Kẻ ấy nỗ lực không ngừng hầu đặt mình trong tâm thế tìm kiếm Thiên Chúa, đấng ban phát sự khôn ngoan.

Có hai vấn đề ngày nay chúng ta phải đối diện trong việc tìm kiếm Thiên Chúa:

Những sao nhãng

Khi tâm trí trở nên yếu đuối, chúng ta dễ dàng bị sao nhãng.  Thế giới bên ngoài thực là quyến rũ và thu hút, chính vì vậy chúng ta đôi khi trở nên gắn bó với thế giới ấy, mà chẳng có một nỗ lực gì để nhận ra.  Tâm trí chúng ta xem đó là điều tốt và vì vậy cứ bám chặt lấy nó.  Ngay cả những lo âu cũng là một sự gắn bó hay một sự quyến luyến tồn tại trong ta!  Đó là một sự gắn bó với điều vốn bao trùm lên cả cái người ta chỉ có thể làm chủ một phần, và cả cái mà người ta không điều khiển được chút nào.

Tình trạng bão hòa

“Tôi biết đủ rồi,” “tôi đã học đủ rồi,” hay “Thiên Chúa đã nghe lời tôi cầu xin rồi,” hay “tôi và Chúa đã có một tương quan gần gũi vừa đủ rồi!” – tất cả những thái độ như thế chỉ cho thấy rằng đang có tình trạng bão hòa nào đó khởi đi từ sự nhàm chán hay một cảm giác dư thừa.  Tình trạng bão hòa như thế cũng có thể đến từ lý do tuổi tác.  Khá thường xuyên, chúng ta nghĩ rằng bởi vì đến độ tuổi nào đó, chúng ta biết được về nhiều thứ rồi, hoặc đã đạt được một vị trí nào đó rồi, nên chúng ta có thể khẳng quyết những am hiểu và cả sự khôn ngoan, ngay cả đối với những chủ đề chúng ta không biết rõ.  Với cả cái bão hòa đến từ sự nhàm chán và lý do tuổi tác, chúng ta sẽ ngừng lại trên hành trình tìm kiếm Thiên Chúa.

Tôi có đang tìm kiếm Thiên Chúa, Đấng ban cho tôi quà tặng sự khôn ngoan, hay chẳng còn ham hở kiếm tìm Ngài nữa rồi?

Kinh Thánh nói

Thánh Vịnh 111:10 Kẻ kính sợ Chúa là đầu mối khôn ngoan.  Sáng suốt thay kẻ thực hành như vậy.  Mãi đến thiên thu còn vang tiếng ngợi khen Ngài.

Gia-cô-bê 1:5 Nếu ai trong anh em thiếu đức khôn ngoan, thì hãy cầu xin Thiên Chúa, Người sẽ ban cho.  Vì Thiên Chúa ban cho mọi người cách rộng rãi, không quở trách.

Châm Ngôn 16:16 Được khôn ngoan tốt hơn được vàng, được hiểu biết tốt hơn được bạc.

Đa-ni-en 2:23 Lạy Ngài là Chúa của tổ tiên chúng con, con cảm tạ và ngợi khen Ngài, vì Ngài đã cho con sự khôn ngoan và sức mạnh.  Và giờ đây, Ngài đã cho con biết chuyện của nhà vua.

Người ta nói

“Đời sống là quà tặng của tự nhiên, nhưng sống đẹp là quà tặng của sự khôn ngoan.” – Greek Adage

“Khôn ngoan là hồng ân đặc biệt vốn cho phép con người có khả năng nhìn mọi sự với cặp mắt yêu thương của Thiên Chúa.  Một cách mộc mạc và đơn sơ, khôn ngoan là chiêm ngắm những cảnh huống, những tình thế, những vấn nạn, và mọi sự thuộc về thế giới dưới ánh nhìn của Thiên Chúa.  Khôn ngoan là thế đó.  Chúng ta thường nhìn điều này điều nọ theo cách chúng ta muốn hay theo con tim nhân loại vốn gắn liền với cả những thiện cảm và ác cảm, với cả những đố kỵ, ghen tương.  Không!  Đó không phải là ánh mắt của Thiên Chúa.  Khôn ngoan là chính hoạt động của Chúa Thánh Thần trong ta, và nhờ đó mỗi người có thể nhìn mọi sự dưới ánh nhìn của Thiên Chúa.  Và đó chính là món quà sự khôn ngoan.” – Đức Thánh Cha Phan-xi-cô

“Biết mình là căn nguyên của mọi lẽ khôn ngoan.” – Aristotle

“Ta khả dĩ học được điều khôn trong ba cách này: Thứ nhất là qua việc suy tư phản tỉnh, vốn được xem là cao quí nhất; Thứ hai là noi gương bắt chước, cách này xem ra là dễ nhất.  Và thứ ba là qua kinh nghiệm, ở cách này, người ta sẽ phải nếm vị đắng cay nhất.” – Khổng Tử

Robin Seelan, S.J. – Chuyển ngữ: Đaminh Phan Quỳnh, S.J.
Nguồn: Robin Seelan, S.J., The Gifts, (Banglore, India: Asian Trading Corporation, 2016), 26-31.

LẤY RÁC, LẤY XÀ

Biết mình là chuyện không dễ.  Ở một đền thờ bên Hy Lạp có khắc câu: Hãy biết mình.  Chẳng ai gần gũi với mình bằng chính bản thân mình.  Vậy mà tôi vẫn là một bí ẩn đối với tôi.  Người ta thích làm những bản trắc nghiệm để biết về chỉ số thông minh, về tâm lý, tính tình…  Nhưng để biết mình cần trắc nghiệm bằng cả cuộc đời.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Ðức Giêsu nói về chuyện thấy mình.  Ngài dùng lối ngoa ngữ để dạy dỗ môn đệ.  Tôi không thấy cái xà trong mắt mình, nghĩa là không nhận ra nơi tôi một khuyết điểm trầm trọng mà ai ai cũng thấy, trừ chính tôi.  (Tôi không thể thấy hay tôi không muốn thấy!)  Nhưng tôi lại thấy cái rác nhỏ trong mắt anh em.  Dường như thấy cái rác nhỏ nơi mắt người khác dễ hơn là thấy cái xà nơi mắt mình.  Phải chăng vì đứng gần mình quá nên tôi không thấy rõ, hay vì tôi vẫn coi mình là hoàn hảo nên khó chấp nhận những thiếu sót nơi mình?

Ðể thấy mình, cần khiêm tốn hỏi và nghe người khác.  Anh em tôi biết về tôi hơn tôi biết tôi.  “Hãy để tôi lấy cái rác trong mắt anh.  Tôi vẫn thường nói như vậy và làm như vậy.  Hăng hái, vội vã giúp người khác sửa mình, sửa cả những chuyện chẳng đáng gì.  Ðức Giêsu không cấm ta góp ý cho người khác, nhưng Ngài dặn ta trước hết hãy lấy xà khỏi mắt mình, để thấy rõ mà lấy rác nơi mắt anh em.

Bao dung hơn với tha nhân, và nghiêm khắc hơn với chính mình.  Không coi cái xà của mình nhỏ hơn cái rác của anh em.  Không thổi phồng tội người khác, không thu nhỏ lỗi của mình.  Khiêm tốn sửa mình trước khi góp ý cho tha nhân.

Ðức Giêsu còn cho ta những nguyên tắc nhận định.

Nguyên tắc thứ nhất: xem quả thì biết cây.  Bụi gai không sinh trái vả, bụi rậm không sinh trái nho.  Nhìn hậu quả, ta biết được nguồn gốc, nguyên nhân.  Ðể khỏi bị lừa, hãy để ý đến hậu quả cuối cùng: quả tốt do cây tốt, quả xấu do cây xấu.  Lắm khi ma quỷ giả dạng thiên thần sáng láng, lừa phỉnh dụ dỗ, cho ta trái thơm ngon.  Nhưng cuối cùng trái ngon lại là trái độc.  Cần có thời gian lâu dài và theo dõi kỹ lưỡng ta mới thấy ma quỷ lòi đuôi xấu xa của nó.

Nguyên tắc thứ hai: lòng có đầy, miệng mới nói ra.  Lời nói là hoa quả của lòng dạ con người.  Những lời giả dối sớm muộn cũng sẽ bại lộ.  Nếu chúng ta được Chúa biến đổi cái tâm của mình, hẳn toàn bộ đời sống bên ngoài của ta cũng đổi.  Nhưng đổi bên ngoài cũng ảnh hưởng đến bên trong.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.

**************************************

Lạy Chúa, xin dạy con luôn tươi tắn và dịu dàng trước mọi biến cố của cuộc sống, khi con gặp thất vọng, gặp người hờ hững vô tâm, hay gặp sự bất trung, bất tín nơi những người con tin tưởng cậy dựa.

Xin giúp con gạt mình sang một bên để nghĩ đến hạnh phúc người khác, giấu đi những nỗi phiền muộn của mình để tránh cho người khác phải đau khổ. 

Xin dạy con biết tận dụng đau khổ con gặp trên đời, để đau khổ làm con thêm mềm mại, chứ không cứng cỏi hay cay đắng, làm con nhẫn nại chứ không bực bội, làm con rộng lòng tha thứ, chứ không hẹp hòi hay độc đoán, cao kỳ.

Ước gì không ai sút kém đi vì chịu ảnh hưởng của con, không ai giảm bớt lòng thanh khiết, chân thật,

lòng cao thượng, tử tế, chỉ vì đã là bạn đồng hành của con trong cuộc hành trình về quê hương vĩnh cửu.

Khi con loay hoay với bao nỗi lo âu bối rối, xin cho con có lúc thì thầm với Chúa một lời yêu thương.

Ước gì đời con là cuộc đời siêu nhiên, tràn trề sức mạnh để làm việc thiện, và kiên quyết nhắm tới lý tưởng nên thánh.  Amen!

(dịch theo Learning Christ)

CẦU NGUYỆN NHƯ TU SĨ VÀ CẦU NGUYỆN CẢM TÍNH

Cầu nguyện được định nghĩa theo cách cổ điển là nâng tâm hồn và quả tim lên Thiên Chúa.  Đó là một định nghĩa hay, nhưng cần một tiêu chuẩn quan trọng.

Có hai hình thức cầu nguyện cốt yếu: Một, chúng ta gọi là cầu nguyện phụng vụ, cầu nguyện chung trong nhà thờ, và một, chúng ta gọi là cầu nguyện riêng tư hay sốt sắng.  Thật không may, chúng ta thường lẫn lộn giữa hai cái.

Chẳng hạn, năm trăm người có thể cùng nhau ngồi chiêm niệm trong nhà thờ hay cùng nhau lần chuỗi mân côi trong đền thánh, thì việc cầu nguyện ở đây vẫn có tính cách riêng tư sùng kính.  Ngược lại, người đọc giờ kinh Phụng Vụ ở nhà trong chiếc ghế bành, hay một linh mục dâng Thánh Lễ một mình tại bàn ăn, nhưng cả hai đều có tính cách phụng vụ chung.  Như chúng ta thấy từ các thí dụ này, sự phân biệt không phụ thuộc vào số người tham dự, nơi cử hành hay đó là cầu nguyện chung hay riêng tư.  Sự phân biệt được căn cứ trên một điều khác.  Điều gì?

Có lẽ một thay đổi trong cách gọi tên có thể giúp chúng ta hiểu rõ phân biệt này: Cầu nguyện phụng vụ hay cầu nguyện chung có thể gọi là cầu nguyện như hàng tu sĩ, cầu nguyện riêng tư và sùng kính có thể gọi là cầu nguyện cảm tính.

Cầu nguyện như tu sĩ là cầu nguyện như thế nào?  Đó là lời cầu nguyện của Đức Ki-tô thông qua Giáo Hội hoàn cầu.  Đức tin Ki-tô giáo của chúng ta là tin Đức Ki-tô vẫn còn quy tụ chúng ta lại để nghe Lời Người và để trao ban hành động yêu thương cho thế gian.  Nối dài hành động này, bất cứ lúc nào chúng ta gặp nhau, trong nhà thờ hay một nơi nào khác, quây quần bên Sách Thánh hay cử hành bí tích Thánh Thể, chúng ta đang cầu nguyện như các linh mục và hiệp thông với hiến tế của Đức Ki-tô.  Đó là cầu nguyện phụng vụ; là cầu nguyện của Đức Ki-tô, không phải cầu nguyện của chúng ta.  Chúng ta cầu nguyện phụng vụ bất cứ lúc nào chúng ta quy tụ để cử hành phụng vụ Lời Chúa, các phép bí tích, hay khi chúng ta cầu nguyện trong cộng đoàn hay một cách riêng tư, cái được gọi là Cầu Nguyện Giáo Hội hay Lễ Nghi Giáo Hội (Kinh Sáng và Kinh Chiều).

Và hình thức cầu nguyện này không phải chỉ dành cho các linh mục.  Tất cả chúng ta cũng là linh mục, nhờ phép bí tích rửa tội và cũng một phần nhờ vào giao ước ngầm chúng ta ký kết với cộng đoàn khi nhận phép rửa tội, đó chính là sự ràng buộc, và khi đến tuổi trưởng thành, chúng ta thường xuyên cầu nguyện cho thế giới qua giờ kinh phụng vụ với cộng đoàn.

Những gì cần làm nổi bật ở đây là vì chúng ta rất dễ bỏ qua khía cạnh này, rằng cầu nguyện phụng vụ ở nhà thờ là cầu cho thế giới, không phải cho chính nhà thờ.  Nhà thờ, trong thế gian này, không tồn tại cho chính mình, nhưng là công cụ cứu rỗi của thế gian.  Chức năng của nhà thờ là cứu rỗi thế gian, chứ không phải cứu rỗi cho nhà thờ.  Cầu nguyện phụng vụ là chúng ta cầu nguyện với Đức Ki-tô, qua trung gian nhà thờ, nhưng cầu nguyện cho thế giới.

Cầu nguyện thuộc cảm tính mang một ý nghĩa khác.  Mặc dù có nhiều hình thức, chiêm nghiệm, cầu nguyện tập trung, lần chuỗi, sốt sắng cầu nguyện nhiều cách, cầu nguyện cảm tính có một mục đích duy nhất, cuộn chúng ta và người thân vào trong tình mật thiết sâu đậm với Đức Ki-tô.  Rốt lại, dù có thể thức riêng, toàn bộ việc cầu nguyện này có mục đích tạo tình thân mật riêng tư với Thiên Chúa, và cuối cùng nó vẫn mang tính cách riêng tư dù khi cầu nguyện chung hay với một nhóm nhiều người.  Tất cả việc cầu nguyện riêng tư và sốt sắng có thể được định nghĩa theo cách này: Qua nhiều cách cầu nguyện khác nhau, cố gắng mở lòng chúng ta hoặc người thân thế nào để chúng ta có thể nghe ra được Lời Chúa nói với chúng ta: “Ta yêu các con!”

Thật quan trọng để nhận biết sự khác nhau này khi cầu nguyện: Chúng ta đang đi vào hình thức cầu nguyện nào đây?  Nhầm cái này với cái kia là làm phương hại đến cả hai.  Chẳng hạn, một người nào đó cảm thấy nản lòng vì lễ nghi phụng vụ và thái độ của một hội đoàn trong lễ nghi ở nhà thờ, xem đó như chướng ngại và làm xao lãng đến giờ cầu nguyện riêng tư, sốt sắng, người đó đang lẫn lộn hai hình thức của cầu nguyện và kết quả làm phương hại đến cả hai.  Chức năng của cầu nguyện phụng vụ trước hết không có tính cách sốt sắng riêng tư.

Hay thỉnh thoảng sự nhầm lẫn dẫn đến việc buông bỏ hoàn toàn một hình thức cầu nguyện phụng vụ.  Tôi biết một người, sau hai năm cầu nguyện theo Giờ Kinh Phụng Vụ đã thay thế giờ kinh này bằng hình thức cầu nguyện riêng tư vì anh không tìm thấy hình thức cầu nguyện phụng vụ có nhiều ý nghĩa.  Những chiêm nghiệm riêng tư của anh bây giờ có thể là hình thức cầu nguyện cảm tính kỳ diệu, khi cầu nguyện như vậy anh không còn cầu nguyện theo hình thức các linh mục của Đức Ki-tô.  Đôi khi cầu nguyện như thế này cũng có thiện hướng tốt nhưng nó không theo đúng một kế hoạch tốt, nhà thờ, nơi mà giờ kinh phụng vụ chung lại thành giờ chiêm nghiệm riêng tư, tuy tốt lành và mạnh mẽ thiệt nhưng không dùng Sách Thánh cũng như cầu nguyện cho thế giới.

Các Giáo Hội tự đấu tranh với điều này.  Giáo hội Công Giáo La Mã, Giáo hội Anh Quốc, Giáo hội ở Mỹ và các Giáo hội Tin Lành chính thống có một truyền thống phụng vụ kiên cố, thỉnh thoảng đã làm phương hại đến hình thức cầu nguyện cảm tính.  Các Giáo hội thuộc phái Phúc Âm và Thánh Linh, ngược lại, đặt trọng tâm nhiều vào hình thức cầu nguyện cảm tính, thỉnh thoảng có khuynh hướng sao lãng gần như hoàn toàn hình thức cầu nguyện phụng vụ.

Có lẽ bản thân chúng ta cũng thiên vị khi có hai chiếc khăn choàng hình thức cầu nguyện, mỗi cái được thêu khác nhau: Cầu Nguyện Như Tu Sĩ và Cầu Nguyện Cảm Tính.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CHUYỆN CỦA BIỂN

Chúa Giêsu nói: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.  Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13:34-35).

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1939 –2001) nổi tiếng từ lúc còn sinh thời, cả quốc nội và quốc ngoại.  Ông là một trong ba “cây lạ” của làng nhạc Việt Nam – hai “cây” đàn anh kia là nhạc sĩ Văn Cao ( 1923–1995) và Phạm Duy (một “phù thủy” âm nhạc, 1921–2013).

Các ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn không cầu kỳ về tiết tấu và giai điệu, nhưng ca từ như thơ và chứa đầy triết lý sống của kiếp người, có gì đó “bí ẩn.”  Khi sinh thời, cuộc sống đời thường của ông cũng thâm trầm, ít nói.  Hầu như những người có tư tưởng “khác người” thì thường có phong cách như vậy, có lẽ họ “bận” suy tư nhiều.

Thật vậy, văn sĩ William Hazlitt (1778-1830, Anh quốc) vừa so sánh vừa định nghĩa: “Bản chất giản dị là kết quả tự nhiên của tư tưởng sâu sắc.”  Còn ngạn ngữ Hy Lạp nói: “Bình dị là nhịp cầu nối nhân ái và cái đẹp.”

Một trong số ca khúc quen thuộc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là bài “Biển Nghìn Thu Ở Lại.”  Bài này rất ngắn, chỉ 40 chữ, hiếm có bài ngắn như vậy, nhưng nó lại có thể “chở nặng” loại triết lý sống tích cực: Yêu thương và tha thứ.  Ca khúc này được viết ở âm thể LA thứ (Am), nhịp 4/4, tiết tấu cũng hoàn toàn đơn giản.

Ông dùng hình ảnh biển để mô tả, với những mệnh lệnh cách ở thể phủ định:“Biển đánh bờ, xôn xao bờ đánh biển.  Đừng đánh nhau, ơi biển sẽ tàn phai!  Đừng gạch tên, vì yêu đừng xé nát!  Biển là em ngọt đắng trùng khơi.”

Biển luôn có gì đó rất đặc biệt, rất tĩnh mà cũng rất động, rất hiền dịu mà cũng rất dữ dội, rất mềm mà cũng rất cứng, rất yếu mà cũng rất mạnh…  Đặc biệt là biển luôn bao la và sâu thẳm, khôn dò, bí ẩn.  Có lẽ vì vậy mà người ta gọi là biển cả.  Chỉ vì yêu thương mà biển luôn nôn nao, luôn xao xuyến, luôn nổi sóng, lúc thì lăn tăn, lúc thì cồn cào, có lúc vỗ về bờ cát và vách đá, nhưng cũng có lúc biển biết ghen nên xô bờ dữ dội.  Thủy triều cũng biến động theo con trăng, lúc thì nước ròng, lúc thì nước lớn.  Biển rất kỳ lạ!  Và con người cũng vậy…

“Đừng đánh nhau” vì đánh nhau là tự làm hại mình, tự làm mình tàn phai; “đừng gạch tên” bất kỳ ai và “đừng xé nát” mối quan hệ nào, thế mới là “vì yêu thương.”  Chữ “em” ở đây không có nghĩa là một cô gái hoặc một phụ nữ, mà là những người lân cận, những người ở bên mình, những người mà mình gặp gỡ và nhìn thấy hằng ngày – dù người đó cao hay thấp, đẹp hay xấu, dở hay giỏi, dại hay khôn, mập hay gầy, bình thường hay khuyết tật, già hay trẻ, giàu hay nghèo, thông minh hay chậm hiểu, nam hay nữ, quen hay lạ, ưa hay ghét…  Chỉ cần biết một điều: Họ là con người.  Họ có đủ nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền cũng như mình.  Thế thôi!

Câu cuối được chuyển sang LA trưởng (A) như một điệp khúc, với 9 chữ được lặp lại 2 lần: “Biển nghìn thu ở lại, nghìn thu ngậm ngùi.”  Chỉ vài chữ nhưng khiến lòng lắng đọng, trầm tư, buồn riêng cho phận mình, vừa chịu đựng vừa chấp nhận thiệt thòi chứ không trách cứ ai khác.

Thật tốt đẹp thay những người có “tấm lòng của biển”, biết quên mình, biết nhịn nhục và chịu đựng như vậy!

Đức mến rất quan trọng.  Đức mến không chỉ là mến Chúa, mà còn là yêu thương nhau, là thương xót nhau.  Tại sao đức mến quan trọng?  Thánh Phaolô đặt vấn đề: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng.  Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì.  Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” 1 Cr 13:1-3).

Và rồi Thánh Phaolô giải thích tường tận: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật.  Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.  Đức mến không bao giờ mất được.  Ơn nói tiên tri ư?  Cũng chỉ nhất thời.  Nói các tiếng lạ chăng?  Có ngày sẽ hết.  Ơn hiểu biết ư?  Rồi cũng chẳng còn.  Vì chưng sự hiểu biết thì có ngần, ơn nói tiên tri cũng có hạn” (1 Cr 13:4-9).

Còn Thánh Gioan phân tích: “Nếu ai nói ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4:20).

Lạy Thiên Chúa Cha, xin giúp chúng con “thuộc lòng” Bài Học Yêu của Chúa Con đã dạy, và quyết tâm thực hiện bằng mọi giá.  Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ chúng con. Amen.

Trầm Thiên Thu

YÊU NGƯỜI NHƯ CHÚA 

Bài đọc I và bài Tin Mừng hôm nay đều nói về sự tha thứ.  Nhưng ở mức độ khác nhau.

Bài đọc I tường thuật sự tha thứ của Đa-vít.  Đa-vít làm ơn mà mắc oán.  Sau khi chiến thắng Gô-li-át, giải phóng dân Do thái khỏi tay người Phi-li-stinh, ông được dân chúng ca ngợi.  Sự ngưỡng mộ của dân chúng đối với Đa-vít khiến vua Sa-un ghen tỵ.  Sa-un tìm bắt Đa-vít để giết đi.  Hôm nay, sau một cuộc săn lùng mệt mỏi, Sa-un ngủ thiếp đi trong hang đá.  Đa-vít đến mà không ai hay biết.  Có thể giết Sa-un, nhưng Đa-vít đã không làm.  Trong Đa-vít có cái mà ta gọi là bao dung, độ lượng, cao thượng.  Tuy nhiên sự tha thứ của Đa-vít vẫn chưa hoàn toàn tự phát.  Ông không dám giết Sa-un một phần vì sợ xúc phạm đến “người được Thiên Chúa xức dầu”.

Trong quan hệ giữa người với người, nếu tha thứ bạn sẽ được tiếng là độ lượng, còn người được tha thứ bị coi là thua kém bạn.  Bạn được lợi còn người kia bị thiệt.

Trong bài Tin mừng, Đức Giêsu đòi hỏi người môn đệ phải vượt qua cái thường tình.  Người muốn môn đệ vươn đến sự tha thứ hoàn hảo.  Sự tha thứ hoàn hảo của Tin Mừng phải biểu lộ bằng hành động cụ thể: “Ai vả anh em má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa.  Ai đoạt áo ngoài của anh em, thì cũng đừng cản họ lấy áo trong.  Ai xin thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh em, thì đừng đòi lại.”

Không chỉ dừng lại ở hành động bên ngoài, sự tha thứ hoàn hảo phải thấm sâu vào lý trí, không lấy ác báo ác, nhưng cũng không nghĩ xấu về người khác: “Anh em đừng xét đoán, thì sẽ khỏi bị Thiên Chúa xét đoán.  Anh em đừng lên án, thì sẽ khỏi bị Thiên Chúa lên án.”

Thấm vào lý trí đã là một bước tiến dài nhưng vẫn chưa đủ, sự tha thứ còn phải lan đến tận trái tim là trung tâm của tình yêu.  Khi đã chiếm lĩnh được trái tim, sự tha thứ trở nên một sức mạnh kỳ diệu dẫn đến những hành động tích cực, lấy đức báo oán, đem yêu thương xoá bỏ hận thù.  Khi ấy ta mới có thể thực hành Lời Chúa dạy: “Anh em phải yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ oán ghét mình, phải chúc lành cho kẻ nguyền rủa mình và cầu nguyện cho kẻ nhục mạ mình.”

Với những lời dạy dỗ trên, Đức Giêsu muốn cho môn đệ của Người tha thứ và yêu thương không phải như người thường nhưng như Thiên Chúa “Người nhân hậu cả với những phường vô ân, với những quân độc ác.”  Người muốn cho các môn đệ của Người “từ bi như Cha trên trời là Đấng từ bi.”

Với những lời dạy dỗ trên, Đức Giêsu muốn thanh tẩy thế giới sạch mọi oán thù.  Không phải chỉ sạch oán thù ngoài mặt nhưng sạch từ trong thâm tâm mỗi người.  Không phải chỉ bằng mặt mà còn phải bằng lòng.  Sào huyệt vững chắc nhất của oán thù không phải ở nơi người khác nhưng ở trong lòng ta.  Muốn thế giới hết oán thù, chính bản thân ta phải từ bỏ oán thù trước.  Muốn thế giới sống trong yêu thương, chính ta phải yêu thương trước.  Yêu thương giống như ngọn lửa thắp lên rồi sẽ cháy lan mạnh mẽ.  Yêu thương giống như bầu khí toả ra sẽ lan tới từng buồng phổi, sẽ thấm vào từng mạch máu.  Yêu thương chính là sức mạnh biến đổi thế giới sâu xa nhất.  Yêu thương là cuộc cách mạng bền vững nhất.

Đức Giêsu không chỉ nói suông.  Chính Người đã thực hành những điều Người nhắn nhủ các môn đệ.  Người để cho quân lính bắt đi như con chiên hiền lành đứng trước người thợ xén lông.  Người chữa lành tai cho kẻ đến bắt Người.  Người không nói một lời nào trách móc những kẻ làm điều ác cho Người.  Sau cùng, lúc bị treo trên thánh giá, Người còn cầu nguyện cho những kẻ giết Người.  Người đã minh chứng một tình yêu nguyên tuyền không bợn chút oán thù.  Người đã minh chứng một tình yêu mãnh liệt vượt qua mọi ghen ghét.

Hạt giống yêu thương Người đã gieo xuống.  Người mong ta tiếp tục vun tưới cho cây yêu thương kết trái đơm hoa.  Ngọn lửa yêu thương Người đã thắp lên.  Người mong ta hãy đem lửa ấy chiếu soi khắp thế giới.

Lạy Trái Tim Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa.

ĐTGM Giuse Ngô quang Kiệt

QUÀ TẶNG CỦA GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

Thiên Chúa, Đấng ban cho món quà hiện tại
phần tôi, tôi đắm chìm trong đó

Giây phút hiện tại cũng là một quà tặng.  Ngày hôm qua đã trôi qua mất rồi…, và ngày mai có lẽ sẽ đến, nhưng điều ấy chẳng mấy rõ ràng.  Cái chắc chắn là chính giây phút HIỆN TẠI và đó là tất cả những gì ta có.  Thiên Chúa BAN CHO tôi phút giây hiện tại, Ngài mời gọi tôi thưởng nếm và sống giây phút ấy cách tròn đầy nhất.  Chẳng dễ để sống như thế!  Nhưng đồng thời, đó cũng chẳng là điều con người không sao vươn tới.  Trong tiếng Anh, từ ‘present-hiện tại’ cũng mang nghĩa là “món quà.”

Để nhận lãnh món quà hiện tại,

Tôi cần thoát khỏi cả quá khứ lẫn tương lai

Quá khứ ĐÃ QUA ĐI rồi!  Nhưng có người cứ sống mãi trong “những ký ức đau buồn.”  Có những người lại thích sống trong một “thế giới mộng mơ.”  Thế giới mộng mơ vốn thú vị, nó đóng vai trò như nguồn ủi an hay như mùi hương thơm ngát cho giây phút hiện tại – vốn có lúc chất chứa nỗi thương đau.  Những tín đồ của chủ nghĩa khoái lạc cho rằng con người cần nỗ lực hết mình hầu giảm thiểu đau khổ và gia tăng niềm vui.  Có nhiều người trở lại quá khứ hoặc trốn vào tương lại để “lẩn trốn” hiện tại.  Nhưng nếu muốn đón nhận món quà hiện tại, thì điều thiết yếu ta phải làm là thoát ra khỏi tương lai, và đồng thời, thoát ra khỏi quá khứ.

Tôi cần trở nên “thức tỉnh” với hiện tại

“Thức tỉnh” là một khả năng để biết, để tri nhận, để cảm nghiệm và để nhận ra điều gì đang diễn đến trong tôi, quanh tôi, và cho tôi.  Đây là bước đầu tiên cho một sự tăng trưởng thiêng liêng.  Hôm nay tôi ở đâu?  Điều gì đang xảy ra cho tôi lúc này?  Thức tỉnh với giây phút hiện tại, người ta có thể nhận ra rằng hiện tại không phải là trống rỗng, nhưng nó được lấp đầy bởi những chọn lựa và những cơ hội.

Một cụm từ xuất hiện trong tác phẩm ‘Self-Abandonment to Divine Provindence,” của tác giả Jean-Pierre De Caussade, S.J., cụm từ “Bí tích của giây phút hiện tại – Sacrament of the Present moment”, ngụ ý sự thánh thiêng và sự Hiện Hữu của Đấng Thần Linh ngay trong phút giây hiện tại.  Và Thiên Chúa chia sẻ cuộc sống của Ngài với nhân loại qua GIÂY PHÚT ấy.  Do vậy, thức tỉnh hơn với giây phút hiện tại cũng là thức tỉnh hơn với chính Thiên Chúa.

Tôi cần đón lấy hiện tại

Giây phút hiện tại có thể không hợp với những gì tôi đang hình dung, đang mong đợi, hay khao khát, v.v…  Tôi có thể KHÁNG CỰ với những gì đang xảy ra cho tôi, nhưng SỰ THỰC –  giây phút này cũng sẽ trôi qua.  Đức Phật khi xưa đã nói cặn kẽ về cái gọi là vô thường, chóng qua.  Tôi có thể đón nhận cái “vô thường” của giây phút hiện tại này không?

Đón nhận hiện tại là MỞ rộng cánh tay để ôm lấy chính giây phút NÀY với niềm HẠNH PHÚC chứa chan.  Hiện tại có khi không phải là điều tôi muốn ôm trọn, nhưng đó lại là THỰC TẠI.  Rất thường xuyên, tôi là chàng hề, đeo lấy nhiều thứ mặt nạ và trở thành ai đó chứ chẳng phải là chính mình nữa.  Tôi có thể đánh thức chính mình để dám chấp nhận món quà hiện tại chăng?

Giây phút hiện tại trao tặng cho tôi điều gì?  Và làm sao tôi có thể sống giây phút ấy cách tròn đầy?  Điều gì đang xảy ra trong tôi lúc này: những cảm xúc dâng trào, những suy tưởng tức thời xuất hiện và ngập tràn trong tâm trí, những cảm xúc đến từ các giác quan, v.v…  Tôi có thể nhẹ nhàng bước vào hiện tại, và trở nên tỉnh thức với từng giây phút trong đời sống của tôi – với cả niềm vui và nỗi buồn chăng?

Kinh Thánh nói

I-Sai-a 43:18-19: Các ngươi đừng nhớ lại những chuyện ngày xưa, chớ quan tâm về những việc thuở trước.  Này Ta sắp làm ra một việc mới, việc đó manh nha rồi, các ngươi không nhận thấy hay sao?  Phải, Ta sẽ mở một con đường giữa sa mạc, khơi những dòng sông tại vùng đất khô cằn.

Thánh Vịnh 118: 24: Đây là ngày CHÚA đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ.

Gia-cô-bê 4: 13-14: Các người chỉ là hơi nước xuất hiện trong giây lát, rồi lại tan biến đi.  Hãy sống giây phút hiện tại, và chú tâm vào Chúa.

Mát-thêu 6: 25-34: Đừng lo lắng về ngày mai.

Người ta nói

“Giây phút hiện tại chẳng bao giờ là điều mà người ta không thể chấp nhận được.  Chỉ điều sẽ xảy ra trong vòng 4 giờ nữa mới là điều người ta không thể chịu nổi.  Đang hiện diện ở đây, lúc 8 giờ sáng, nhưng tâm trí lại ở 10 giờ 30 phút buổi tối, điều ấy mới là nguyên nhân làm ta đau khổ.” – Anthony de Mello, S.J.

“Trẻ em chẳng có quá khứ, cũng chẳng có tương lai.  Nhờ đó, chúng vui hưởng giây phút hiện tại, và điều này thật hiếm xảy ra cho chúng ta.” – Jean de La Bruyère

“Hôm qua là lịch sử, ngày mai là mầu nhiệm, chỉ hôm nay mới là quà tặng Chúa ban, chính vì thế chúng ta gọi ‘hiện tại – present’ là món quà.” – Bil Keane

“Hãy thưởng thức một ly trà một cách chậm rãi và cung kính, cũng như trái đất tự quay quanh trái đất – chậm rãi, đều đặn, không vội vã cuốn vào tương lai.” – Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Chuyển ngữ: Đaminh Phan Quỳnh, S.J.
Nguồn: Robin Seelan, S.J., The Gifts, (Banglore, India: Asian Trading Corporation, 2016), 22-25.

HỌC LÀM NGƯỜI

Có những khoảnh khắc làm ta rưng rưng nước mắt khi nhìn thấy những người nghèo khổ, thiếu thốn cả những gì cơ bản nhất.  Cái dư thừa của người này, thậm chí với họ chỉ là… rác, nhưng với người nghèo thì có thể là điều họ khao khát.  Quả thật, “một miếng khi đói bằng một gói khi no”…  Miếng ăn thêm khi chúng ta no là miếng ăn của người nghèo khổ.  Nếu vậy thì chúng ta thiếu nhân đạo!  Một danh nhân đã xác định: “Chỉ những ai có lòng thương người thì mới xứng đáng nhận danh hiệu con người.”  Câu này đáng để chúng ta suy ngẫm và xem lại chính mình!

Trong một liên hoan phim ngắn tại Berlin (Đức), khi xem phim ngắn Chicken à la Carte (có thể xem  ở http://www.cultureunplugged.com/play/1081/Chicken-a-la-Carte, cả ban giám khảo và khán giả đã xúc động khi thấy người cha nghèo ngăn đứa con gái thò tay lấy miếng thịt gà, rồi cả nhà cùng làm dấu, tạ ơn Chúa và cầu nguyện trước khi ăn.  Thật ra những miếng thịt gà kia chỉ là những cổ, chân, cánh… bị gặm dở mà người cha đã lấy từ thùng rác của một nhà hàng sang trọng và đem về cho vợ con ăn.

Yêu thương là luật của Thiên Chúa.  Đức Kitô đã chạnh lòng thương hàng ngàn người đi theo mình nên Ngài hóa bánh ra nhiều cho họ được no nê (Mt 14, 13-21 và 15, 32-39).  Ngài rất thực tế, không nói suông, cũng không nói bóng gió.  Ngài đã bỏ đàn chiên 99 con để đi tìm chỉ 1 con chiên lạc (Mt 18, 12-14).  Đặc biệt là Bát Phúc trong Bài Giảng Trên Núi (Mt 5, 3-12).  Đó là những bài học làm người mà Ngài dạy chúng ta.

Chuyện kể rằng Ðại Sư Tinh Vân có một đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học liền đi học Thạc sĩ, rồi lại học Tiến sĩ.  Sau nhiều năm dùi mài kinh sử, đệ tử đó hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui.  Một hôm đệ tử đó về vinh qui bái tổ và thưa với ngài Tinh Vân: “Bạch Sư phụ, nay con đã có bằng Tiến sĩ rồi, con còn phải học những gì nữa không?”

Ngài Tinh Vân bảo: “Học làm người.”  Học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được.  Ngài Tinh Vân cho rằng bất luận là sĩ, nông, công, thương là những người ở tầng lớp có học thức và có tiến bộ, hãy chia sẻ với người khác về những điều mình hiểu biết.  Nhưng dù là ai thì vẫn cần phải học không ngừng.

Phải tu thân trước, rồi mới đủ uy tín trị quốc, và sau đó mới khả dĩ bình thiên hạ.  Đạo Làm Người là đạo quan yếu nhất, dù theo đạo nào và ở cương vị nào thì trước tiên vẫn phải biết Làm Người.  Đây là vài “tín chỉ” trong “môn học làm người”:

  1. HỌC NHẬN LỖI

Con người thường không chịu nhận phần lỗi mình, tất cả lỗi lầm đều đổ cho người khác, vì chúng ta cho rằng bản thân mình mới đúng.  Thật ra “không biết mình” là lỗi lầm lớn nhất.  Đừng nghĩ mình “lớn” thì hoàn hảo và vô tội.  Càng lớn càng dễ lỗi lầm vì có thể đổ lỗi cho người dưới.  Ðối tượng mà mình nhận lỗi có thể là ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn bè…, và bất kỳ ai trong xã hội, thậm chí là người nhỏ hơn mình và với chính người không tốt với mình.  Nhận lỗi như vậy bản thân chẳng mất mát gì, ngược lại còn thể hiện được sự độ lượng của bản thân và được khâm phục.  Biết nhận lỗi là một điều rất tốt, là sự tu thân lớn và là một nhân đức.

  1. HỌC KHIÊM NHU

Răng cứng, lưỡi mềm.  Nhưng cuối cuộc đời, răng rụng hết mà lưỡi vẫn còn nguyên.  Đó là bài học về sự mềm mỏng, khiêm nhu.  Được vậy thì đời người mới có thể tồn tại dài lâu, chứ “cứng” thì chỉ thiệt thòi.  Tâm hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu thân.  Có tâm hòa thì mới có nhân hòa.  Chúng ta thường hình dung những người cố chấp có tấm lòng và tính cách rất “lạnh”, rất “cứng” như sắt thép vậy.  Nếu chúng ta có thể điều hòa hơi thở và tâm tính, dần dần khiến “ngựa chứng” phải thuần thục thì cuộc sống sẽ vui tươi, hạnh phúc và kiên vững.

  1. HỌC ĐỨC NHẪN

Nhẫn nhục là loại “cỏ quý”, là “bùa hộ thân” đặc biệt.  Biết nhẫn một chút thì có thể làm sóng yên biển lặng.  Nhường nhịn không phải là chiến bại.  Nhẫn để tiêu trừ điều ác.  Nhẫn là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không.  Muốn sinh tồn thì phải biết nhẫn để có thể phân biệt đúng – sai, thiện – ác, tốt – xấu, thậm chí chấp nhận nó.

  1. HỌC THẤU HIỂU

Không hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm….  Nên thấu hiểu để biết cảm thông và giúp đỡ nhau.  Không cảm thông nhau không thể tha thứ cho nhau, không thể có hòa bình.  Tâm phẫn xí tắc bất đắc kỳ chính!

  1. HỌC KHƯỚC TỪ

Cuộc đời như một chiếc va-li, lúc cần dùng thì xách nó lên, không cần thì đặt nó xuống.  Lúc cần đặt xuống lại không đặt xuống, cũng như kéo túi hành lý nặng nề vậy, cuộc đời luôn trĩu nặng.  Cuộc đời hữu hạn, biết phục thiện, biết tự trọng và tôn trọng, biết bao dung thì mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết khước từ chính mình để có thể sinh tồn.

  1. HỌC XÚC ÐỘNG

Nhận ra ưu điểm của người khác thì chúng ta nên hoan hỷ, thấy điều không may của người khác nên biết xúc động.  Vui với người vui, buồn với người buồn.  Trắc ẩn là lòng thương yêu, là thiện tâm.  Trên đời có rất nhiều cảnh thương tâm, nhiều cuộc đời rất đáng thương, vô cảm là độc ác.

  1. HỌC SINH TỒN

Ðể sinh tồn, chúng ta phải biết giữ gìn sức khỏe – tinh thần và thể lý.  Tinh thần thoải mái thì thân thể khỏe mạnh, và ngược lại.  Thân thể khỏe mạnh không chỉ ích lợi cho bản thân mà còn làm cho gia đình, bạn bè an tâm.  Đó cũng là biết sống hiếu đễ với người thân.

Ước mong càng ngày càng có nhiều người “tốt nghiệp” loại ưu với môn “Học Làm Người” từ Trường Đại Học Cuộc Đời…

Kha Đông Anh

PHÚC HỌA

Đoạn Tin Mừng là phần mở đầu một bài giảng rất quan trọng của Chúa Giêsu, bài giảng đầu tiên, bài giảng khai mạc chương trình truyền giảng của Chúa.  Chúng ta thấy bốn lần Chúa nói “Phúc cho” và bốn lần Chúa nói “Khốn cho”, nên thường được gọi là bốn mối phúc và bốn mối họa, đối chiếu nhau gần như hoàn toàn: nghèo khó đối lại với giàu có, đói khát đối lại với no đầy, khóc lóc đối lại với vui cười, bị ghét bỏ đối lại với được ca tụng.

Chúng ta thấy ba mối phúc đầu và ba mối họa đầu đi với nhau, nghĩa là nghèo, đói và khóc lóc là bộ ba không thể tách rời.  Đối lại, giàu, no và cười là bộ ba ngược lại.  Bởi vì đói và khóc là hậu quả của nghèo, là biểu hiệu cụ thể nhất của cái nghèo.  Trái lại, no và cười là biểu hiệu của sự giàu có.  Chúng ta thấy hai hình ảnh nổi bật lên trong một thế tương phản rõ rệt: người nghèo, đói và khóc – người giàu, no và cười.  Còn mối phúc thứ tư là những người bị ghét bỏ, loại trừ và bách hại vì Chúa, là những môn đệ của Chúa, họ chung số phận với các ngôn sứ.  Ngược lại, mối họa thứ tư là những người được thế gian trọng vọng, là giới kinh sư, Pharisêu.  Họ giống như những ngôn sứ giả trong lịch sử dân Chúa.

Qui chiếu lại như thế chúng ta thấy đoạn Tin Mừng này chỉ nêu lên hai đối tượng của phúc và hai đối tượng của họa: người nghèo và người bị ghét bỏ vì Chúa, đó là đối tượng của phúc.  Người giàu và người được thế gian ca tụng, đó là đối tượng của họa.  Giàu và nghèo, đó là những đề tài lớn, muốn hiểu được nội dung của phúc và họa, về người giàu và người nghèo, chúng ta phải tìm hiểu thật nhiều và thật sâu sát, ở đây chỉ xin gợi ý một vài điều thôi.

Giàu và nghèo, phúc ở đâu và họa ở đâu?  Trước hết, chúng ta phải xác định cho rõ ràng: đừng hiểu rằng giàu có ở đời này là không được hạnh phúc ở đời sau, và ngược lại, nghèo khó ở đời này tất nhiên được hạnh phúc đời sau.  Nếu như vậy thì chúng ta không được giàu có, không nên giàu có, vì giàu có là một điều xấu, làm chúng ta không được hạnh phúc đời sau.  Trái lại, chúng ta hãy chịu nghèo ở đời này, hãy sẵn sàng chịu khổ, để đời sau được hạnh phúc.  Không phải như vậy, chúng ta phải hiểu rằng: giàu có cũng là một cái phúc, nếu đó là thành quả do chúng ta cố gắng chuyên cần mà xây dựng được, tức là do công sức lao động mà chúng ta đã tạo được một cách chân chính.  Đối lại, nghèo khó tự nó chẳng bao giờ là cái phúc cả.  Cái phúc của người nghèo không phải là chính sự nghèo, nhưng là tinh thần của họ.  Họ có một tấm lòng phó thác, không phàn nàn, không kêu trách, không bất mãn.

Như vậy, cái họa của người giàu là khi họ tự mãn, tự kiêu, tự đắc về tài sức của mình mà quên mất Thiên Chúa, là Đấng đã ban cho họ được giàu có.  Hoặc cái họa cho người giàu là họ ích kỷ, keo kiệt, không biết dùng của cải chia sẻ cho người nghèo hay không biết dùng sự giàu có của mình mà mua sắm của cải nước trời.  Cũng thế, cái họa của người nghèo là nghèo tiền, nghèo của nhưng không nghèo dục vọng, không nghèo tham sân si, thì đó lại là thứ giàu có giả hiệu… họ không được gì ở đời này mà cũng chẳng được gì ở đời sau.

Cũng thế, nếu chúng ta may mắn có tiền có của, giàu có hơn người, chúng ta phải biết sử dụng cho nên cái giàu của mình.  Phải biết cảm tạ Chúa, phải biết chia sẻ cho người túng thiếu, phải biết đóng góp vào những việc chung, tức là giàu của và cũng giàu lòng nữa, chứ đừng giàu của mà nghèo lòng, đó là nguy cơ mất hạnh phúc nước trời.  Ngược lại, nếu chúng ta nghèo khó, chúng ta cũng phải biết lợi dụng kiếp nghèo để leo về trời.  Đừng vì nghèo mà ghen tương, đố kỵ, tham lam.  Và dù nghèo cũng không bao giờ lỗi đức công bằng… đó là cơ may giúp chúng ta đạt hạnh phúc nước trời.

Chúng ta hãy nhớ: Phúc hay họa cho người giàu cũng như người nghèo, không phải là chính sự giàu có hay nghèo khổ của họ, nhưng là tinh thần của họ biết đánh giá đúng và hành động đúng với cái giàu hay cái nghèo của mình.  Câu chuyện sau đây minh họa để chúng ta hiểu thêm điều đó.  Linh mục Hattinggơ, một hôm đi dạo trên một cánh đồng, ngài gặp một em bé đi học.  Ngài vừa đi với em vừa đặt nhiều câu hỏi để xem em có biết gì về giáo lý không.  Ngài hỏi: “Những người giàu có được vào nước trời không?”  Em bé trả lời: “Được, nếu họ biết giúp đỡ những người nghèo.”  Ngài lại hỏi: “Vậy những người nghèo có được vào nước trời không?”  Em bé trả lời: “Được, nếu họ biết nhẫn nại chịu đựng.”  Cha Hattinggơ thích nhắc lại những câu trả lời của em bé ấy, và ngài thêm rằng: “Những lời đó chứa đựng một triết lý, triết lý của Tin Mừng Phúc âm.”

Chúng ta hãy nhớ: đời này được nối tiếp bằng đời sau, và chỉ có một con đường duy nhất cho mỗi người: người giàu thì đi theo con đường của mình, người nghèo cũng đi theo con đường của mình.  Cả hai cùng phải đi, cùng phải biết dùng cái giàu, cái nghèo của mình để đạt được hạnh phúc nước trời.  Xin Chúa cho tất cả chúng ta đều hiểu rõ lời Chúa dạy để rồi dù giàu hay nghèo tất cả chúng ta cùng gặp nhau trong nước trời.

Sưu tầm