MỘT ĐÁM CƯỚI VUI VẺ ĐẶC BIỆT

Tuần trước tôi cử hành một lễ đám cưới.  Tất cả các đám cưới đều đặc biệt, nhưng đám cưới này có nét đặc biệt riêng.  Tại sao?

Cô dâu trẻ hôm đó rạng rỡ và tràn đầy sức sống một cách lạ thường, đó là người  đã chiến thắng căn bệnh ung thư.  Năm năm trước đây, trong cột báo này, tôi có kể sơ sơ câu chuyện của cô.  Tôi xin phép kể lại câu chuyện này, cập nhật thời gian hơn một chút:

Trong hai mươi lăm năm liên tiếp, hè nào tôi cũng đến dạy một khóa hè ở đại học Seattle.  Trong suốt các mùa hè này, tôi có thói quen, gần như thông lệ, là đi một chuyến phà ngắn từ Seattle đến đảo Bainridge để nghỉ ngày Quốc Khánh 4 tháng 7 với gia đình một người bạn.  Gia đình này có nhiều tập tục riêng, một trong các tập tục này là ngắm đoàn diễn hành mừng lễ Quốc Khánh đi qua bãi cỏ phía trước nhà người hàng xóm của họ.

Mười năm về trước, lúc ngồi trên bãi cỏ này để đợi đoàn diễn hành đi qua, tôi được gia đình giới thiệu cô gái nhỏ nhất nhà.  Em đang học lớp 12 và là thành viên đội bóng rổ giành chức vô địch toàn liên bang của trường, nhưng em lại đang mắc bệnh ung thư và phải dùng hóa trị để chống chọi với bệnh tật.  Mười tám tuổi, cân nặng chưa đầy 36 kilô, mùa hè nắng ấm mà em ngồi yên lặng, buồn bã, quấn mình trong chăn trong khi bạn bè em khỏe mạnh, tràn đầy sức sống uống bia và vui chơi.  Sức khỏe em không được tốt.  Chẩn đoán về lâu dài không chắc chắn, ít nhất, cơ thể và tinh thần của em cho thấy như vậy dù bạn bè và người thân không tin.  Em được mọi người chung quanh quan tâm, yêu thương lo lắng.  Em bệnh, nhưng em được yêu thương.

Tôi biết em hôm đó và những năm tháng sau này tôi còn biết nhiều hơn.  Gia đình và mọi người cầu nguyện nhiều cho em, cầu xin em được lành.  Cuối cùng, lời cầu nguyện và thuốc men chữa trị đã có tác động.  Em bám lấy hy vọng nhỏ nhoi nhất, dần dần hồi phục và mấy tháng sau đó, em có sức khỏe lại, đời sống trở lại bình thường, ngoại trừ một điều không bao giờ giống như trước, đó là em nhìn cái chết với vẻ mặt “bình thường.”

Khi lắp ráp lại từng mảnh cuộc sống ban đầu, em nhận ra có những thứ đã trở lại như cũ, nhưng cũng có những thứ đã khác trước rất rất nhiều.  Qua trải nghiệm thức tỉnh này, cuộc sống bình thường không còn là một cái gì là hiển nhiên nữa, có một niềm vui sâu đậm trong tất cả mọi chuyện bình thường, có một chân trời, một khôn ngoan, một trưởng thành, một thành quả mới mà trước đây chưa có.  Thiên Chúa viết đường thẳng bằng những nét cong cong và đôi khi căn bệnh ung thư dù rất khủng khiếp, lại mang đến nhiều điều kỳ diệu hơn là nó lấy mất đi.

Sức khỏe mới của em không chỉ là sức khỏe thể chất.  Đó là sức khỏe tâm hồn, một tinh thần vững mạnh, có chiều sâu, có khôn ngoan.  Trong một cuộc phỏng vấn, khi được hỏi nếu được chọn, em sẽ mong mình không bị bệnh và có cuộc sống như lúc đầu không.  Em trả lời: “Không, em không chọn như vậy, qua bệnh tật, em học được yêu thương.”  Yêu thương trải nghiệm khi bị bệnh dạy cho em biết có những bi kịch còn nặng hơn bi kịch mang bệnh ung thư.

Văn sĩ John Powell có viết một cuốn sách nhỏ đáng chú ý, cuốn Yêu Thương Không Điều Kiện, kể về anh Tommy, sinh viên của ông đã chết vì ung thư ở tuổi hai mươi bốn.  Không lâu trước khi chết, Tommy đến gặp và cám ơn Powell đã giúp anh có được một am hiểu nội tâm sâu sắc mà anh rút ra được từ lớp học của ông.  Powell đã giảng trong lớp học: Chỉ có hai bi kịch tiềm ẩn trong cuộc sống, chết trẻ không phải là một trong hai bi kịch này.  Bi kịch thứ nhất là chết và không yêu thương; bi kịch thứ hai là chết và không bày tỏ yêu thương với người chung quanh.

Các bác sĩ nghiên cứu về não bộ con người cho biết chúng ta chỉ mới sử dụng 10% năng lực não bộ của mình mà thôi.  Hầu hết các tế bào não không bao giờ được kích hoạt, vì chúng ta không cần chúng (chúng giành cho khôn ngoan hơn là gây lợi) và vì chúng ta không biết cách tiếp cận chúng.  Cũng các bác sĩ này cho biết, một cách nghịch lý, có hai điều giúp chúng ta tiếp cận chúng: trải nghiệm yêu thương và trải nghiệm bi kịch.  Tình yêu sâu đậm và đau đớn sâu đậm đều làm cho tâm hồn sâu sắc một cách mà không điều gì khác có thể làm được.

Điều đó giải thích tại sao Thánh Têrêsa Hài Đồng là bác sĩ tâm hồn ở tuổi 24.  Nó cũng giải thích sự khôn ngoan của người đàn bà trẻ sống với các thử thách nhẹ nhàng với bạn bè và tỏa rạng với thế giới chung quanh cô ngày hôm nay.

Cách đây mười năm, khối u não đã lấy đi tuổi trẻ và ước mơ của một cô gái trẻ.  Khi đó là nỗi đau, thất vọng, xuống tinh thần, cay đắng, mất hy vọng.  Ai cũng có vẻ như may mắn hơn cô.  Chỉ lúc đó thôi.  Hôm nay, cô gái trẻ ấy là giáo viên ngoại hạng về giáo dục đặc biệt, cô Katie Chamberlin-Malloy, đang đi hưởng tuần trăng mật.  Cô hạnh phúc, thông minh, lên kế hoạch cuộc sống, sau khi đã học những gì đa số chúng ta sẽ học khi gần chết, ấy là, cuộc sống bình thường sẽ tốt hơn trong một chân trời rộng lớn hơn, rằng cuộc sống sâu đậm và hân hoan hơn khi chúng ta không cho nó là điều hiển nhiên, và rằng yêu thương còn quan trọng hơn sức khỏe và sự sống – và rằng tất các câu chuyện cổ tích thần tiên đều kết thúc bằng một đám cưới.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CHÚA GỌI – TA ĐÁP TRẢ

Nếu mỗi một Chúa Nhật đều có một chủ đề để làm nổi bật lên ý nghĩa của Phụng Vụ được cử hành, thì Chúa Nhật hôm nay, chủ đề chính đó là nói về ơn gọi và sứ mạng loan báo Tin Mừng.  Tuy nhiên, để trở thành một ơn gọi, cần phải có tương quan hai chiều, đó là: Chúa gọi và lời đáp trả của mỗi người.  Nhưng để một ơn gọi có giá trị trước mặt Chúa, con người cần phải có một sự cảm nghiệm sâu sắc về tình yêu giữa Thiên Chúa và bản thân.  Đây chính là mẫu số chung cho các ơn gọi mà Phụng Vụ hôm nay đề cấp đến.
  1. Ơn gọi của Isaia và các Tông đồ 

Trong bài đọc I, chúng ta thấy việc Chúa chọn và gọi tiên tri Isaia qua việc Người tỏ cho ông thấy vinh quang chói lòa trong đền thờ.  Trước cảnh huy hoàng và tráng lệ đó, ông nhận ra Thiên Chúa là Đấng vô cùng Thánh Thiện, toàn năng, trong khi ấy, Isaia là một người tội lỗi, bất xứng!  Nhưng khi được Thiên Chúa thanh tẩy, khiến ông trở nên trong sạch…, rồi người gọi ông trở nên tiên tri cho Người, ông đã mau mắn đáp lại trong sự tin tưởng và đầy quyết tâm: “Có con đây, xin Chúa sai con đi” (Is 6,8).

Sang bài đọc II, thánh Phaolô trình thuật hành trình rao giảng của ngài bị nhiều người chống đối, chê bai đủ điều và cho rằng ngài không xứng đáng để trở thành Tông đồ.  Phaolô không chối cãi, không đôi co hay tìm cách kháng chế, nhưng ngược lại, ngài đã luôn nhận mình là con người thấp hèn vì đã bắt bớ, hành hạ Giáo Hội một thời, hơn nữa lại được chọn và gọi sau hết so với các Tông đồ, nên bản thân chỉ như là đứa trẻ sinh non…  Nhưng nhờ ân sủng và tình thương của Thiên Chúa, nên ngài đã trở nên vị Tông đồ lừng danh về mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh.

Sang bài Tin Mừng, thánh sử Luca trình thuật việc Đức Giêsu gọi và chọn các môn đệ đầu tiên trong bối cảnh mẻ cá lạ nơi bờ biển.  Khởi đi từ việc Đức Giêsu mượn chiếc thuyền của Simon để làm chỗ đứng giảng dạy, rồi tiếp theo là lệnh truyền thả lưới bên phải mạn thuyền, và cuối cùng là một mẻ cá lạ!  Đứng trước những sự trùng khớp và nhiệm mầu như vậy, Simon đã sụp lạy dưới chân Đức Giêsu và thưa: “Lạy Chúa, xin hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi.”  Cả ông Giacôbê và Gioan cũng kinh ngạc như ông.  Thấy vậy, Đức Giêsu đã phán bảo các ông: “Đừng sợ! từ nay con sẽ là kẻ chinh phục người ta.”  Bấy giờ các ông đưa thuyền vào bờ, và đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Ngài.

  1. Sứ điệp Lời Chúa

Qua các bài đọc hôm nay, chúng ta thấy sứ điệp Lời Chúa toát lên một điểm chung, đó là: Chúa gọi và chọn những người Chúa muốn.  Mọi ơn gọi đều phát xuất từ Chúa do tình thương của Người.  Điều quan trọng, con người phải ý thức rằng: mình chẳng là gì trước mặt Chúa, nhưng lại được Chúa yêu thương và tuyển chọn.  Phần còn lại, đó là đương sự cảm nghiệm được tình thương của Chúa và mau mắn đáp lại mà thôi.  Chúa không chọn ai khi người đó còn đang trong tình trạng kiêu ngạo, vì thế, Người chỉ gọi và chọn những ai có một tấm lòng khiêm nhường thẳm sâu và cảm nghiệm được tình yêu của Chúa trên cuộc đời mình.

Mặt khác, qua phép lạ mẻ cá lạ, Đức Giêsu mặc khải cho chúng ta thấy:

Trước quyền năng của Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được!  Mẻ cá lạ đã minh chứng cho chúng ta thấy điều đó, đồng thời cũng cho thấy sự bất lực, giới hạn của con người, vì thế, con người có làm được việc gì là hoàn toàn dựa vào ơn Chúa.  Cá đầy thuyền là hình ảnh tiên báo về một Giáo Hội rộng khắp nơi nơi và sứ mạng loan báo Tin Mừng đến tận cùng trái đất của người môn đệ.  Sự dứt khoát từ bỏ mọi sự để đi theo Chúa của các môn đệ cho ta thấy: người môn đệ của Chúa, muốn theo Chúa thì phải dứt khoát từ bỏ những ràng buộc như tiền bạc, danh vọng, chức nghiệp và ý riêng để đi theo và thi hành ý muốn của Thiên Chúa.

Như vậy, Chúa chọn và gọi ai thì Người sẽ cho họ cảm nghiệm được Ngài là Đấng quyền năng, yêu thương và con người là bất xứng, để những người được gọi sẽ đi từ ngỡ ngàng đến vâng phục; từ vâng phục đến niềm tin và rồi ý thức mình chẳng là gì vì bất xứng, nên chỉ là dụng cụ Chúa dùng để ra đi thi hành sứ vụ của Người mà thôi!

  1. Ơn gọi của chúng ta và lời đáp trả 

Từ ơn gọi của các tiên tri, đến ơn gọi của các Tông đồ và cuối cùng là ơn gọi của mỗi người chúng ta.  Câu chuyện ơn gọi của ngôn sứ Isaia, Phaolô, Phêrô và các bạn trong các bài đọc hôm nay, cũng là mẫu số chung cho ơn gọi của mỗi người.  Ngày chúng ta được lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chúng ta được Chúa chọn để trở thành Kitô hữu, thành môn đệ của Ngài và nhất là trở nên chứng nhân của lòng thương xót mà chính mình đã cảm nghiệm.  Ơn gọi đó là ơn gọi phổ quát cho hết mọi người, vì thế, sứ mạng loan báo Tin mừng không chỉ dành riêng cho các linh mục hay tu sĩ, mà là cho hết thảy những ai đã trở thành Kitô hữu.  Nhiều khi chúng ta nghĩ rằng mình không xứng đáng để trở thành sứ giả của Chúa, hay nhiều khi đùn đẩy và coi như một gánh nặng, lại có khi thi hành nhưng kiêu ngạo và tự phụ…!  Tất cả những thái độ đó đều không phù hợp với chúng ta là những người tin và đi theo Chúa cũng như chung chia sứ mạng với Ngài.  Thái độ cần có đối với mỗi người, đó là: khiêm nhường, ý thức mình bất xứng nhưng được Chúa thương, sẵn sàng để Người biến đổi như tiên tri Isaia, Phaolô, Phêrô… Thiết nghĩ, với ơn Chúa, chúng ta sẽ làm được tất cả.  Archimède đã khẳng định: “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng trái đất lên.”  Điểm tựa của chúng ta là chính Đức Giêsu, nếu chúng ta tựa vào Ngài, chúng ta sẽ làm được mọi chuyện.  Chúng ta mặc lấy Ngài, chúng ta sẽ có sức hút lạ thường, chẳng khác gì các môn đệ bắt được một mẻ cá lạ!

Mong sao mỗi người chúng ta khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, đều ý thức được trách nhiệm, bổn phận cao quý của mình là trở nên sứ giả cho Thiên Chúa trong lòng xã hội hôm nay!  Ước gì mỗi người biết chu toàn trách vụ trong lòng mến, để nhờ sự quảng đại dấn thân của mỗi người, chúng ta sẽ làm cho nhiều người nhận biết Chúa và tin theo Ngài để được sự sống đời đời.

Lạy Chúa Giêsu, ngày nay vẫn còn quá nhiều người chưa tin hay không biết đến Chúa.  Xin Chúa ban cho sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội được nhiều người quan tâm, quảng đại và dấn thân để ra đi loan báo Tin Mừng cứu rỗi cho anh chị em chưa biết đến Chúa.  Amen.

Jos. Vinc. Ngọc Biển

ƠN TRỜI MƯA NẮNG PHẢI THÌ

Có một câu chuyện huyền thoại về con trâu như sau:

Thuở xưa, Ngọc Hoàng sai một vị thần xuống trần gian mang theo một bao hạt giống lúa và một bao cỏ để gieo xuống trần gian.  Trước khi xuống trần, Ngọc Hoàng đã tỉ mỉ căn dặn, đến trần gian phải gieo rắc bao hạt giống lúa trước để dân có dư giả mà ăn, còn bao cỏ thì gieo sau để nuôi thú vật.  Nhưng khi vị thần này đến trần gian, thấy phong cảnh khác lạ, nên mải mê xem mà quên lời căn dặn của Ngọc Hoàng, để rồi gieo bao cỏ trước và bao hạt giống lúa sau.  Từ đó, cỏ không cần trồng cũng mọc tràn lan khắp mọi nơi, các thú vật ăn không bao giờ hết vì quá dư thừa và không làm sao diệt cỏ hết được.  Còn lúa phải gieo trồng rất cực khổ và khó khăn mới có ăn, bởi vì bị cỏ mọc lấn áp làm lúa phát triển chậm hơn cỏ.  Bởi lỗi ấy của vị thần, làm cho người trần gian trồng lúa rất khó nhọc mới có ăn và cỏ thì mọc tự nhiên quá nhiều, cho nên Ngọc Hoàng mới đày vị thần này xuống trần gian hóa thành con Trâu để giúp người trần gian cày bừa trồng lúa và ăn cỏ, chừng nào hết cỏ sẽ được tha thứ cùng phục hồi địa vị cũ, nhưng ăn hoài vẫn không bao giờ hết cỏ được, nên Trâu chưa thoát kiếp trở về thiên đường.

Câu chuyện này phải chăng muốn dạy chúng ta: “Có làm thì mới có ăn – Không dưng ai dễ mang phần cho ta.”  Vì ở trần gian, cỏ thì nhiều, lúa thì ít.  Cây ăn được thì ít, cây không ăn được thì nhiều.  Xem ra con người vất vả hơn con vật.  Vì người làm lụng vất vả mới có mà ăn, còn vật thì không cần làm mà trời vẫn cho ăn.

Hôm nay ngày Mồng Ba Tết, Giáo hội mời gọi chúng ta trao phó công việc làm ăn cho Thiên Chúa.  Chúng ta xin Chúa ban cho một năm “thuận buồm xuôi gió.”  Chúng ta xin Chúa chúc lành cho công việc chúng ta được mọi sự như ý, ân phước dư đầy.  Chúng ta tự ý thức sự nhỏ bé, giới hạn của con người trước biết bao công việc mưu sinh hằng ngày.  Chúng ta cần ơn ban của trời cao.  Chúng ta xác tín như người xưa đã xác tín vào trời: “Mưu sự tại nhân – Thành sự tại Thiên.”  Đó là thái độ khiêm tốn cần có của con người trước vũ trụ bao la.  Con người nhỏ bé giới hạn nên cần phó dâng trong tay Thiên Chúa.  Tổ tiên chúng ta xưa cũng từng làm như thế.  Không phải vì lạc hậu.  Không phải vì thiếu ý thức khoa học mới tin vào Trời, nhưng vì cảm nghiệm sự nhỏ bé của con người trước sự lớn lao của Trời:

“Đèn Trời đèn sáng bốn phương
Đèn tôi sáng tỏ đầu giường nhà tôi.”

Hơn nữa niềm tin của tổ tiên còn xác tín về lòng nhân ái của Trời.  Trời không phụ lòng người.  Trời không bao giờ bỏ quên con người:

“Trời nào có phụ ai đâu
Hay làm thì giầu, có chí thì nên.”

Biết được lòng trời rộng rãi bao la.  Tổ tiên xưa còn biết lợi dụng mưa nắng phải thì của Trời mà trồng cấy:

Trời nắng tốt dưa
Trời mưa tốt lúa.

Nhất là biết cầu khẩn cùng Trời cho một năm:

“Nhờ trời mưa gió thuận hoà
Nào cầy nào cấy trẻ già đua nhau”

Thực vậy, cuộc sống mưu sinh thật khó khăn.  Nếu không có ơn trời thì công việc chúng ta cũng tựa như “dã tràng xe cát biển đông.”  Nhìn lại một năm qua, chúng ta thấy thật rõ điều đó.  Việc làm ăn mỗi ngày một khó.  Không chỉ là do suy thoái kinh tế toàn cầu, mà chủ yếu còn do thiên tai lũ lụt hoành hành.  Ở Việt Nam ngay từ đầu năm đã xảy ra rét đậm, rét hại khiến hàng ngàn trâu bò bị chết, hàng ngàn hecta hoa màu không thể đơm bông kết trái.  Rồi thiên tai lũ lụt trong năm đã phá huỷ biết bao ruộng lúa, vườn rau.  Nhiều người nói rằng: năm nay làm ăn không chỉ trắng tay mà con nợ nần chồng chất.  Cuộc sống vốn dĩ đã khổ lại khổ thêm do không gặp thời vận của Trời ban.

Đó là lý do mà hôm nay chúng ta cùng nhau dâng lên Thiên Chúa công việc và dự định của chúng ta trong năm nay.  Chúng ta trao gởi công việc chúng ta cho Thiên Chúa.  Xin Chúa chúc phúc và thánh hóa công việc chúng ta được mọi sự như ý.  Chúng ta xác tín rằng: “Nếu Chúa không xây nhà, thợ nề vất vả cũng bằng uổng công.”  Xin Chúa thương đón nhận những ước nguyện đầu năm chân thành của chúng ta.  Amen!

Lm Jos Tạ Duy Tuyền

********************************

Ơn xin cho Năm mới

Xin Chúa ban cho con một năm hạnh phúc
không phải bằng cách cho con khỏi mọi âu lo,
nhưng xin cho con biết đương đầu
với điều này khi nó xẩy đến.

Xin Chúa ban cho con một năm hạnh phúc
không phải bằng cách làm cho “con đường” đời trở nên êm thắm,
nhưng xin ban ơn để con trở nên mạnh mẽ,
ngõ hầu con có thể đi trên bất kỳ “con đường” nào.

Xin Chúa ban cho con một năm hạnh phúc
không phải bằng cách xóa đi những thách thức, khó khăn,
nhưng xin hãy lấy  đi những nỗi sợ hãi
trong trái tim của con.

Xin Chúa ban cho con một năm hạnh phúc
không phải là luôn cho con thấy ánh nắng mặt trời
nhưng xin giúp con luôn thấy ánh sáng
ngay cả trong những bóng tối.

Xin Chúa ban cho con một năm hạnh phúc
không phải là chạy theo nhịp sống ganh đua của xã hội
nhưng là biết dừng lại, để ý thức được rằng Chúa Kitô
luôn âm thầm đồng hành với con mỗi ngày trong đời sống.

Cuối cùng xin tình yêu, sự bình an,
hy vọng và niềm vui của Thiên Chúa
luôn ở cùng con mỗi ngày
trong năm mới này.  Amen!

PT Giuse Nguyễn Xuân Văn

NHỮNG NÉT ĐẸP CỦA TIN MỪNG NGÀY TẾT

Mùa Xuân đến làm đẹp đất trời.  Những cành đào đua nhau khoe sắc.  Những chồi non bụ bẫm nhú ra khỏi cành cây khô khẳng.  Chợ búa đông vui và đẹp đẽ với những hàng hoá đủ mọi loại.  Những tà áo mới tha thướt làm đẹp phố phường.  Trong khung cảnh vui tươi tấp nập ấy, khuôn mặt mọi người như rạng rỡ tươi cười.  Mùa Xuân đem đến nhiều vẻ đẹp.  Cao quý nhất là những nét đẹp văn hoá dân tộc đậm đà mầu sắc Tin Mừng.

Ngày Tết có nét đẹp của lòng biết ơn.  Năm hết Tết đến, người Việt Nam thường nhớ đến công ơn của những người đã giúp đỡ mình trong năm qua.  Biết ơn là một nét đẹp văn hoá đáng trân trọng và cũng là một điều hợp lý.  Dòng sông lớn phải mang ơn những con suối nhỏ.  Hạt lúa phải nhớ ơn những hạt mưa, hạt nắng, hạt phân.  Ngày hôm nay phải biết ơn ngày hôm qua.  Thế hệ này phải nhớ ơn thế hệ trước.  Đời sống ta chịu ơn biết bao người.  Cảm nghiệm sâu xa chân lý này, nên mỗi dịp Tết đến, người Việt Nam ta thường bày tỏ lòng biết ơn với ông bà, cha mẹ và các ân nhân.  Những món quà nho nhỏ nhưng thắm đượm tình nghĩa làm vui cả người nhận lẫn người cho.  Riêng với người Công giáo, bày tỏ lòng tri ân đối với Thiên Chúa là một bổn phận không thể thiếu.  Vì Thiên Chúa chính là tổ tiên đã sinh thành nên ta.  Vì Thiên Chúa là ân nhân lớn nhất đời ta.  Chính Người đã ban cho ta món quà cao quý nhất: đó là sự sống.  Chính Người tiếp tục chăm sóc gìn giữ ta từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây.  Biết ơn là việc làm của lương tri, cổ võ cho một thế giới mới chan chứa tình người.  Biết ơn cũng là một giá trị đạo đức được Chúa Giêsu đề cao trong Tin Mừng.

Ngày Tết có nét đẹp của sự cho đi.  Ta gửi đi những cánh thiệp như những sứ giả của tình cảm yêu thương.  Ta gửi đi những lời cầu chúc như tâm tình mến yêu tha thiết dành cho nhau.  Ta sửa sang quét dọn nhà cửa để đón tiếp nhau.  Ta dành thời giờ viếng thăm nhau để xiết chặt thêm tình thân ái.  Ta ăn mặc tề chỉnh để tỏ lòng kính trọng nhau.  Ta nói năng tế nhị để làm vui lòng nhau.  Ta rộng rãi tặng tiền mừng tuổi cho con cháu.  Tóm lại, tất cả những gì ta làm trong ngày Tết đều vì người khác và cho người khác.  Đặc biệt trong lãnh vực ăn uống.  Ngày Tết, nhà nào cũng chuẩn bị sẵn đồ ăn thức uống cho gia đình, nhưng nhất là để mời khách.  Khách vào nhà bao giờ cũng được mời thưởng thức ấm chè mới, nếm kẹo bánh ngon.  Sự chiếu cố của khách làm vui lòng cho chủ.  Sự vui vẻ của người nhận là hạnh phúc của người cho.  Có niềm vui cho đi và có niềm vui lãnh nhận.  Những niềm vui ấy tạo cho ngày Tết một nét đẹp đầy mầu sắc Tin Mừng: nét đẹp của sự quên mình, của sự quảng đại cho đi, của sự khiêm tốn đón nhận, của tình liên đới.

Ngày Tết có nét đẹp của sự đổi mới.  Thiên nhiên đổi mới với sự hồi sinh của cây cỏ.  Phố phường đổi mới với những căn nhà mới, với những gian hàng mới và với quần áo mới.  Hoà vào cái mới của đất trời, của xã hội, lòng người cũng nôn nao trong niềm hy vọng đổi mới bản thân và cuộc đời.  Ai cũng mong tống tiễn những điều xấu vào quá khứ.  Ai cũng mong đón nhận một tương lai tươi đẹp.  Niềm mong ước đổi mới được thể hiện qua những cố gắng giữ vẻ mặt tươi cười, không tức giận, không nói những lời thô tục, những điều rủi ro, nhưng chỉ nói những điều tốt đẹp, đối xử hoà nhã với mọi người trong những ngày Tết.  Phút giao thừa thật thiêng liêng.  Nó đánh dấu một khởi đầu mới.  Người ta tin rằng sống tốt đẹp những giây phút đầu tiên sẽ có ảnh hưởng tốt đến cả năm.  Nên mỗi dịp Tết là một lần khuyến khích ta cố gắng đổi mới đời sống, đổi mới bản thân.

Đổi mới đời sống là điều Chúa Giêsu tha thiết mong muốn nơi ta.  Người không ngừng mời gọi ta hãy từ bỏ con đường tội lỗi xưa cũ, bước vào con đường mới, con đường tự do, thánh thiện của con cái Thiên Chúa.  Người không ngừng mời gọi ta trở thành bầu da mới để có thể chứa đựng thứ rượu mới là giáo lý của Người.  Ngày Tết chính là một cơ hội cho ta thực hành Lời Chúa dạy, tích cực đổi mới đời sống nên tốt đẹp hơn.

Với tất cả những nét đẹp trên đây, tinh thần ngày Tết cổ truyền dân tộc rất gần gũi với Tin Mừng.  Rõ ràng nét đẹp văn hoá Việt Nam đã chất chứa những giá trị Tin Mừng.  Rõ ràng Tin Mừng đang đi vào cuộc sống của người Việt Nam.

Vì thế, người Việt Nam Công Giáo không những có trách nhiệm gìn giữ những nét đẹp văn hoá của ngày Tết cổ truyền mà còn phải biến những nét đẹp ấy thành những trang Tin Mừng sống động.  Khi ta sống tâm tình biết ơn trong ngày Tết, đừng chỉ giữ hình thức bề ngoài hay chỉ chú ý tới khía cạnh vật chất.  Hãy có tâm tình biết ơn sâu xa.  Hãy nhìn thấy ơn Chúa ban qua mọi ân huệ nhận được.  Khi ta cho đi trong ngày Tết, đừng chỉ cho đi như một hình thức xã giao hay như một thói tục bắt buộc.  Hãy cho đi với tâm tình yêu mến, kính trọng thực sự.  Hãy đón tiếp khách thăm viếng như đón tiếp chính Chúa.  Khi ta muốn đổi mới đời sống, đừng chỉ giữ như một hình thức và không chỉ giữ trong những ngày Tết, nhưng duy trì sự cố gắng đổi mới trong suốt cả đời với quyết tâm thực sự đổi mới đời sống.

Khi ta sống tinh thần Tin Mừng trong những phong tục ngày Tết, ta góp phần xây dựng một mùa Xuân mới, một mùa Xuân dân tộc, một mùa Xuân tình thương.  Mùa Xuân ấy sẽ vĩnh cửu vì sẽ dẫn đến mùa Xuân Nước Trời.

Lạy Đức Kitô là mùa Xuân đích thực, không bao giờ tàn úa, xin đổi mới tâm hồn con.  Amen!

ĐTGM. Jos Ngô Quang Kiệt

NGƯỜI CÔNG GIÁO VÀ NHỮNG  TẬP TỤC NGÀY TẾT

Tết là ngày lễ hội truyền thống đã  có  từ  ngàn xưa.  Ngày Tết có ý nghĩa thiêng liêng, mang đậm bản sắc dân tộc.  Đã là người Việt Nam thì dù sống ở đâu, từ thành thị đến thôn quê, từ vùng đồng bằng đến vùng cao nguyên, dù ở trong nước hay đang sinh sống ở nước ngoài, dù thuộc những thành phần xã hội khác nhau, dù có chính kiến khác nhau, dù theo tín ngưỡng khác nhau… cũng đều coi Tết là một ngày trọng đại, cũng đều có chung một niềm hân hoan đón mừng ngày Tết.  Tết đã đi vào tim óc mỗi một người Việt Nam.

Những người tương đối lớn tuổi đã từng sống ở miền Bắc đều rất quen thuộc với câu nói “Ba vua, lễ Nến, Tết đến sau lưng.”  Theo thứ tự thời gian, sau lễ Ba vua (tức lễ Hiển Linh) đến lễ Nến (tức là lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu vào Đền thánh) rồi Tết đến ngay sau đó.  Điều này cho thấy người Công giáo gắn bó với văn hoá dân tộc và sự tương quan giữa lịch đạo và lịch đời trong việc tính ngày Tết là điều dễ hiểu.

Tinh thần của ngày Tết và đường hướng của Tin Mừng gần như đã hòa nhập vào nhau, không mấy khác biệt.  Đức TGM Ngô  Quang Kiệt cho rằng “Tinh thần ngày Tết cổ truyền dân tộc rất gần gũi với Tin Mừng.  Rõ ràng nét đẹp văn hoá Việt nam đã chất chứa những giá trị Tin Mừng.  Rõ ràng Tin Mừng đang đi vào cuộc sống của người Việt nam.”  Tổng thể là như vậy nhưng khi đi vào những  tục lệ của ngày Tết, khi hòa nhập vào nền văn hóa chung của dân tộc, người Công giáo cần phải chú ý hầu không đi ngược lại giáo lý và niềm tin của mình.

Những tục lệ như đi chợ Tết, chưng hoa mai, hoa đào, cúc, thược dược… làm cho bầu khí  thêm tươi vui trong ngày Tết; tục lệ dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa cho khang trang, sửa sang mồ mả ông bà, người thân đã qua đời cho đẹp mắt; tục lệ gói bánh chưng bánh tét, muối dưa, ngâm củ kiệu… chuẩn bị việc ẩm thực cho ngày Tết hoặc tục lệ đón giao thừa, thăm hỏi nhau, chúc Tết, lì xì ngày đầu năm… đều là những nét đẹp văn hóa của người Việt trong ngày Tết, không có gì khác biệt trong tâm thức của người Công giáo hay không là người Công giáo.  Nhưng đối với một số tục lệ khác, người Công giáo cần phải điều chỉnh để không đi ngược lại niềm tin của mình

Trong thời kỳ truyền giáo sơ khai, đối với tục lệ dựng cây neo mà dân gian tin rằng có thể xua đuổi tà ma trong dịp Tết, cha Alexande Rhodes đã khéo léo hướng dẫn bổn đạo của mình thay đổi một chút cho phù  hợp với niềm tin Kitô giáo.  Cha cho biết “Để thay thế cái hộp treo ở đầu cây nêu cao dựng ngay ở cửa nhà, thì chúng tôi khuyên họ đặt cây thánh giá.  Họ làm theo.  Thế là trong khắp phố phường trong kinh thành, người ta xem thấy biểu hiệu đáng kính của việc cứu rỗi được dựng cao chót vót qua mái nhà làm cho ma quỷ sợ hãi và các thiên thần vui mừng.”

Tục lệ “Hái lộc đầu xuân” ngày nay cũng đã được biến đổi cho phù hợp với niềm tin của người Công giáo.  Thay vì là những chồi non của những nhánh cây tươi, ngày nay “Lộc xuân Lời Chúa” hay còn gọi ngắn gọn là “Lộc Thánh” đang được phổ biến rộng rãi ở các giáo xứ và đã trở thành quen thuộc đối với người Công giáo.  “Lộc Thánh” là những câu được trích trong Kinh Thánh được bỏ trong các phong bì hay cuốn lại và treo trên cành mai, cành đào hay để trong một cái rổ đặt ở gian cung thánh.  Mỗi gia đình đi dự thánh lễ đầu năm sẽ hái một “Lộc Thánh” để suy niệm, tìm hiểu ý Chúa ở trong đó và sống ý Chúa trong cả năm.

Theo tín ngưỡng dân gian ông Táo là vị thần trông coi công việc nhà cửa, bếp núc, chợ búa trong mỗi gia đình, có nhiệm vụ ghi chép mọi việc trong gia đình đó để tâu trình với Ngọc hoàng.  Hàng năm vào ngày 23 tháng Chạp người ta làm một mâm cỗ thịnh soạn cúng ông Táo để đưa tiễn ông về thiên đình tâu trình với Ngọc hoàng mọi việc ở hạ thế trong suốt một năm qua.  Người Công giáo không có thói quen cúng và cũng tin rằng Thiên Chúa thông biết mọi sự ở khắp mọi nơi, Ngài chẳng cần phải có người tâu trình.

Cũng theo quan niệm dân gian, chiều Ba mươi Tết người ta cũng làm một mâm cỗ cúng ông bà và mời ông bà về ăn Tết với con cháu.  Như trên đã nói người Công giáo không cúng quảy vì người Công giáo tin rằng hương linh người quá cố không thể hưởng dùng những của ăn vật chất.  Ngày nay Giáo hội cho phép lập bàn thờ ông bà và người Công giáo có thể chưng hoa quả, trái cây trên bàn thờ ông bà nhưng chỉ với ý nghĩa tôn kính và tưởng nhớ đến và biết ơn ông bà chứ không với ý nghĩa dâng hoa quả và trái cây để ông bà hưởng dùng.  Tin tưởng rằng ông bà  sẽ  hưởng dùng hoa trái con cháu dâng cúng là  trái với giáo lý và niềm tin của người Công giáo.

Người Công giáo được dạy phải hiếu kính với ông bà, tưởng nhớ và cầu nguyện cho các ngài trong nhiều dịp như ngày giỗ, ngày lễ các Đẳng và  trong suốt tháng 11 hàng năm.  Vì vậy không thể nào quên ông bà trong ngày Tết.  Tối Ba Mươi Tết trong các gia đình Công giáo thường có buổi đọc kinh cầu nguyện cho ông bà.  Lịch Phụng vụ còn ấn định thánh lễ ngày Mồng Hai Tết được dành riêng để kính nhớ tổ tiên, ông bà cha mẹ.  Người Công giáo tưởng nhớ, biết ơn ông bà bằng việc đọc kinh, dâng việc lành phúc đức để cầu nguyện cho ông bà.

Trong dân gian người ta thường hay nói cầu xin ông bà nhưng người Công giáo cần phải hiểu là xin ông bà cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta.  Chúng ta xin ông bà cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta được điều này điều nọ chứ ông bà ông thể tự ban cho chúng ta điều này hay điều khác được.  Chỉ có Thiên Chúa mới có quyền ban phát ơn lành cho chúng ta.

Ngày Tết cũng có tục lệ xông nhà.  Người ta tin rằng trong ngày mồng Một nếu mọi việc xảy ra suông sẻ, may mắn, hanh thông thì cả năm sẽ được tốt lành, thuận lợi và việc này tùy thuộc vào người xông nhà.  Người xông nhà là người đến thăm nhà đầu tiên trong ngày mồng Một và người này sẽ đem đến vận may hay không may cả năm cho gia chủ.  Cũng có người kiêng quét nhà suốt ba ngày Tết vì sợ sẽ quét hết tài lộc ra ngoài.  Trong ba ngày Tết họ dồn hết rác vào một góc nhà chờ qua ngày mồng Ba mới hốt rác đổ đi.  Những điều kiêng kỵ này hoàn toàn không phù hợp với niềm tin Kitô giáo.

Sau cùng xem tử vi, xin xăm, bói toán… là  những việc rất thịnh hành trong dân gian trong những ngày Tết nhưng lại là  điều cấm kỵ  đối với người Công giáo.  Bởi vì Giáo lý Công giáo dạy rằng  “Khi đặt tin tưởng vào những việc này, người ta đã gạt bỏ Thiên Chúa là Đấng duy nhất cầm quyền sinh tử cuả con người và vạn vật trong vũ trụ này.”

Lại Thế Lãng

ĐỨC ÁI

Tiên tri Giêrêmia được sinh ra trong một gia đình thuộc dòng tư tế ở miền Bắc Giêrusalem.  Thiên Chúa đã gọi, thúc giục và tác động cách mạnh mẽ trong tâm hồn của ông ngay khi còn thơ trẻ.  Giêrêmia chấp nhận sứ mệnh ra đi giữa bao thử thách và khó khăn.  Sứ mệnh của ngài kéo dài qua nhiều thập niên trong lịch sử của cộng đồng Giêrusalem.  Ngài đã tiên báo về sự đe doạ và sụp đổ của thành Giêrusalem.  Tiên tri có cá tính riêng và rất mạnh mẽ chịu đựng những khổ cực cùng với đoàn dân.  Giêrêmia đã giúp mọi người nhận ra những hậu quả xấu mà họ phải gánh chịu do sự bất trung và tội lỗi gây nên.  Đôi khi ông cũng cảm thấy đuối sức và ngại ngùng, nên đã muốn chối từ sứ vụ đặc biệt này.  Nhưng cánh tay của Chúa luôn dẫn dắt ông trong mọi nẻo đường.  Ông thố lộ tâm tư qua sự mạc khải: “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân.” (Gr 1,5).  Chúng ta biết rằng sứ mệnh tiên tri là một ơn gọi đặc biệt vì là trung gian giữa Thiên Chúa và dân Người.  Thiên Chúa hứa ban sức mạnh và đồng hành cùng ông trong cuộc hành trình đầy gian nan này.  Đối diện với sự ruồng bắt và cái chết, ai mà không lo sợ cho tính mạng của mình.  Giêrêmia cũng không ngoại lệ, ông cũng là con người mang nhiều sự yếu đuối và lỗi lầm như mọi người.  Sứ điệp của ông là kêu gọi mọi người hãy ăn năn sám hối để trở về cùng Thiên Chúa.  Ông đã đặt niềm tin vào Chúa là kiên thuẫn và dũng lực.  Thiên Chúa hứa: “Chúng sẽ giao chiến với ngươi, nhưng sẽ không làm gì được, vì sấm ngôn của Thiên Chúa, có Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi.” (Gr 1,19).  Giêrêmia đã trung thành với sứ vụ được trao ban và đã chứng kiến bao cảnh thăng trầm của Dân Do Thái từ năm 627 tới khoảng năm 587 BC.

Sứ mệnh khó khăn của các tiên tri là phải đối đầu với đời sống con người thế tục.  Các nhà cầm quyền đã dùng mọi ảnh hưởng để loại trừ thần quyền ra khỏi cuộc sống.  Họ dùng sức mạnh và bạo lực của thế quyền để đàn áp, tẩy chay và loại trừ các nhân chứng của sự thật và công chính.  Lòng người thế trần bị nhuốm màu tội lỗi vì sống thả theo bản năng thú tính và tìm thoả mãn mọi đòi hỏi của tham sân si.  Nhiều người không còn muốn nghe những lời khuyên răn luân lý đạo đức.  Đôi khi họ cho rằng những người sống đạo hạnh, công chính và chân thật là những người dại khờ.  Phải tranh đấu để sống.  Sống là phải hưởng thụ.  Chúng ta biết đời sống là cuộc chạy đua.  Không phải mọi người đều nhận ra được con đường chính thật.  Người ngu mà biết mình ngu là người có trí.  Người ngu mà tưởng mình có trí thì càng ngu hơn.  Không biết chính mình là người vô minh và ngu đần.  Đôi khi họ lại tưởng nghĩ mình là người khôn ngoan và sành đời.  Luôn tìm cách tiêu diệt những người công chính và coi họ như là cản mũi kỳ đà.

Chúa Giêsu biết rất rõ về số phận của các nhân chứng cho sự thật.  Từ xưa, số phận các tiên tri hoặc ngôn sứ đã thường bị bách hại, xua đuổi và tẩy chay.  Chính Chúa Giêsu cũng đã cảm nghiệm điều này ngay tại quê quán mình: “Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình.” (Lc 4,24).  Làm nhân chứng cho sự thật giữa một xã hội bị tục hoá như hiện nay là một sự dấn thân hy sinh và từ bỏ.  Các trào lưu xuôi dòng đang cuồn cuộn kéo lôi con người như thác lũ đi vào cuộc sống hưởng thụ thế tục.  Nhiều nhà cầm quyền có xu hướng chạy theo thị hiếu và mị dân chấp thuận những khuynh hướng của nền văn minh sự chết.  Các thế hệ trẻ hiện nay dễ bị đầu độc bởi nền văn hóa thụ hưởng rất tinh tế và nhẹ nhàng qua cách suy tưởng và phán đoán thuận theo đa số.  Là Kitô hữu, chúng ta không thể chạy theo những trào lưu hào phóng bên ngoài, nhưng phải biết tìm kiếm nguồn chân thiện mỹ.  Hãy yêu chuộng những vẻ đẹp của đời sống lương tâm tự nhiên đã được in ghi trong tâm hồn.  Chúa Giêsu về lại làng quê mình để gặp gỡ và truyền rao sứ mạng cứu độ.  Người đồng hương ngạc nhiên về lời giảng dạy của Chúa nhưng họ không mở lòng đón nhận chân lý.  Họ đòi hỏi và thách thức quyền năng của Chúa: “Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành, thành này được xây trên núi.  Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực.” (Lc 4,29).  Chúa Giêsu đâu làm gì nên tội để bị đối xử tệ như thế.  Có lẽ tâm hồn của họ bị khép kín và trái tim bị đóng băng lạnh lùng.  Họ không chấp nhận lời giảng và cũng không đón nhận chính Chúa.  Họ đã vào hùa với nhau chống báng và xua trừ Chúa để khỏi phải nghe những lời chân thật.  Chúa Giêsu cùng đồng số phận với các tiên tri bị người đời ngược đãi và thế gian chống đối ghét bỏ.

Số phận các ngôn sứ hôm nay cũng không khá hơn các vị tiền bối.  Những nhà truyền giáo và các nhân chứng sự thật đều phải đối diện với hiện trạng thờ ơ và lạnh nhạt trong đời sống luân lý, đạo đức.  Dù trong hoàn cảnh nào, xem ra sự kiện có thực mới vực được đạo hay đi đạo lấy gạo mà ăn vẫn có thể kéo lôi nhiều người.  Khi cuộc sống ổn định về kinh tế và tài chính, đời sống đạo cũng nhờ đó mà thăng hoa.  Chúng ta chấp nhận rằng thực tế cuộc sống luôn đòi hỏi phải đáp ứng những nhu cầu cụ thể trước.  Chính Giáo Hội cũng đang nỗ lực giúp đỡ những vùng truyền giáo xa xôi.  Họ thiếu thốn cả tinh thần lẫn vật chất.  Nhân chứng sự thật không thể tách rời khỏi những nhu cầu căn bản cuộc sống của người dân.

Một điều rất quan trọng mà thánh Phaolô nhắn nhủ chúng ta: “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.” (1 Cr 13,3).  Đức mến là cốt lõi của việc ra đi làm nhân chứng.  Là nhân chứng cho Chúa Kitô, chúng ta không thể thiếu tình yêu chia sẻ.  Nếu tất cả mọi việc phục vụ tha nhân với trái tim yêu thương, sẽ mang lại niềm vui và ý nghĩa đích thực.  Yêu rồi làm.  Tình yêu sẽ thăng hoa tất cả.  Phaolô khuyên dạy: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật.” (1 Cr 13,4-6).

Đức ái là nhân đức tuyệt hảo.  Chỉ có tình yêu mới có thể tha thứ, bao dung và liên kết nên một.  Tình yêu như lửa hun đốt và hâm nóng những tâm hồn nguội lạnh.  Một thái độ cảm thông yêu mến có thể xoá nhòa mọi lỗi lầm.  Một cử chỉ yêu thương có thể khơi dậy niềm hy vọng.  Một dấu ấn tình yêu có thể đổi đời.  Một lời nói dễ thương có thể vỗ về tâm hồn nguội lạnh.  Ôi tình yêu thật diệu vời!  Ai trong chúng ta cũng có trái tim để yêu, chỉ cần chúng ta biết mở cửa trái tim để trao ban và đón nhận.  Tình yêu như dòng sông nước chảy, càng chảy càng thấm nhuần.  Yêu là cho đi và cũng là đón nhận.  Một tình yêu tuôn trào sẽ tạo nguồn sống tươi vui và hạnh phúc.  Chúng ta đang ngụp lặn trong biển tình: tình Chúa, tình gia đình và tình nhân loại.  Tình yêu chính là lẽ sống.

Lạy Chúa, Chúa là Tình Yêu.  Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của kẻ dám hiến thân mình vì bạn hữu.  Chúa đã hiến mình vì yêu thương chúng con.  Xin cho chúng con biết yêu mến Chúa và yêu thương tha nhân.  Chỉ có đức mến mới tồn tại muôn đời: “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến.” (1 Cr 13,13).

 Lm. Giuse Trần Việt Hùng

CHIẾN ĐẤU VỚI CÁI TÔI

Ngày ấy, khi còn đang học ở Đại Chủng viện, có lần tôi về thăm một linh mục già về hưu, cha bảo: “Cần thiết sống linh mục trước khi làm linh mục.”  Sống linh mục!  Cái “tôi” tốt bụng trong tôi gật đầu, cho rằng điều vị linh mục nói chí lý.  Cho đến nay, dù đã làm linh mục, và vị linh mục già kia cũng đã quy tiên, tôi vẫn còn thấy đúng, vẫn còn ấp ủ trong suy nghĩ và trong lòng mến của mình.  Chính vì cảm nghiệm sâu lắng như thế, vì muốn sống hoàn hảo hơn chức linh mục của mình, cũng vì niềm ao ước cho các thế hệ đàn em chuẩn bị hành trang cần thiết cho đời linh mục của chính bản thân họ mai sau, mà tôi đã nói đi nói lại với học trò của mình cách ân cần và nói nhiều lần rằng: “Anh em thân mến, anh em cần phải sống linh mục trước khi làm linh mục.”  Và hôm nay, ghi lại những dòng ngắn ngủi này, tôi muốn gởi đến họ, những người sẽ tiếp bước các thế hệ đàn anh phụng sự Chúa Kitô, phục vụ Giáo Hội và phục vụ con người, sẽ là những linh mục mang hình ảnh của chính Linh Mục Kitô.

Tuy nhiên, ngày ấy, khi nghe vị linh mục già nhắn nhủ mình, không phải trong tôi đã hoàn toàn quy phục.  Bởi sống linh mục là thế nào?  Chưa làm linh mục mà lại sống linh mục…, nghe lạ quá!  Ngày ấy cái “tôi” xấu bụng trong tôi cười khì, rồi lên tiếng đặt vấn đề như thế.

Có lẽ ngày hôm nay, khi nghe tôi bảo “Hãy sống linh mục trước khi làm linh mục”, bạn cũng ít nhiều đặt vấn đề như tôi ngày ấy?  Nhưng bạn ạ, lời khuyên ấy không hề là lời khuyên thiếu căn cứ.  Nó là bài học cảm nghiệm cả một đời linh mục của vị linh mục già đáng kính.  Hôm nay nó còn là cảm nghiệm của chính bản thân tôi, dù chưa già, nhưng ít nhiều đã nhận ra giá trị của lời khuyên “Hãy sống linh mục trước khi làm linh mục”.

  1. Mâu thuẫn nội tại

Một “kẻ lành” và một “kẻ xấu” ngay trong bản thân tôi.  Đó là thực tại mà tôi đã có kinh nghiệm.  Thực tại ấy làm nên những mâu thuẫn ngay trong nội tâm của tôi.  Mâu thuẫn thường xuyên xảy ra.  Mâu thuẫn nội tại.  Mâu thuẫn do tôi.  Đó cũng là sự thật mà tông đồ Phaolô đã nhìn nhận cách chân thành nhưng bi đát: “Sự lành tôi muốn, tôi không làm, sự dữ tôi không muốn, tôi lại làm.  Khi tôi làm điều tôi không muốn, thì không phải tôi làm, mà là tội lỗi ở trong tôi chủ động.  Như vậy tôi có kinh nghiệm này là: Khi tôi muốn làm sự lành thì sự dữ đã hiện ra bên cạnh tôi.  Trong thâm tâm tôi, tôi vốn yêu mến lề luật Chúa.  Nhưng tôi thấy xuất hiện trong tôi một lề luật khác, chống đối lề luật nơi bản thân tôi và lôi cuốn tôi sa vào cạm bẫy của tội lỗi trong mình tôi” (Rm 7, 19- 23).  Mâu thuẫn chỉ chấm dứt cùng với sự chấm dứt của cuộc đời mỗi người.  Phần thưởng của Thiên Chúa sẽ dành cho người yêu mến Thiên Chúa, sống trong chân lý và chiến đấu chống “kẻ dữ” nơi chính mình.

Không có cuộc chiến nào đòi người ta phải kiên trì cho bằng cuộc chiến với chính mình, nó đòi cả một đời.  Làm sao có thể nên hoàn thiện hơn?  Làm sao mỗi ngày một bớt đi cái xấu?  Đó là điều mà mọi người thiện chí phải bứt rứt, băn khoăn.  Chính vì điều này mà cuộc chiến với bản thân có giá trị, được xem là chính đáng, được loài người khuyến khích nhau.  Vì khi chiến đấu đẩy xa cái xấu nội tại nơi chính mình, con người sẽ nhích gần tới nhau.  Đó cũng là ý muốn của Thiên Chúa, của Giáo Hội.  Vì chiến thắng bản thân mình, còn hơn cả việc được hiệp thông với nhau trên bình diện con người, đó là một chiến thắng mang giá trị cứu độ.

  1. Thân phận lữ hành

Một kẻ lành và một kẻ xấu hiện diện ngay trong bản thân, đó chính là tình trạng của kẻ lữ hành.  Bởi vì lữ hành là còn phải bước đi, là chưa hoàn thiện, là khiếm khuyết, là phải vươn tới liên tục…  Đó là tình trạng giằng co của người chưa đạt tới đích phải đến.

Cái xấu và cái tốt đó cũng chính là thực tại nội tâm, một thực tại có thực, không sờ, không thấy được, chỉ có thể kiểm chứng bằng hành động, “do quả của chúng các ngươi nhận biết chúng” (Mt 7, 16a).  Hay: “Điều tự người ta ra, điều đó làm cho người ta nhơ uế.  Vì tự trong lòng người ta xuất ra những điều xấu xa” (Mc 7, 20- 21).  Một thực tại mà ai cũng dễ nhận ra, “sự lành tôi muốn, tôi không làm, còn sự dữ tôi không muốn, tôi lại làm…”  Mang thân phận lữ hành, nội tâm con người cứ mãi bị xáo trộn và mất bình an như thế.  Điều còn lại là thiện chí, là quyết tâm, là sống để từng bước nên hoàn thiện tiến về tương lai hằng hữu, chứ đừng buông trôi để rồi vuột mất tương lai ấy.

  1. Chúa Kitô, Thiên Chúa làm người

Chúa Kitô đến trần gian để chia sẻ kiếp người cùng con người.  Người hiểu và thông cảm sâu xa với thân phận yếu hèn của chúng ta.  Nhưng không vì thế Người cất khỏi những dằn vặt, những xáo trộn nơi chính bản thân ta.  Tình trạng giằng co ấy cần thiết để con người chứng minh lòng trung thành của mình.  Vượt qua liên tục để vươn tới cái thiện, cái tốt sẽ nâng cao giá trị của cuộc sống, làm cho cuộc sống thêm ý nghĩa, thêm phong phú.  Không có gì khó hơn cuộc đấu tranh của bản thân với bản thân. Nhưng cũng không có gì đẹp lòng Thiên Chúa cho bằng chiến đấu chống cái ác giành lấy cái thiện.  Điều chắc chắn, Thiên Chúa sẽ không bỏ mặc con người phải chiến đấu một mình.  Người sẽ giúp sức để họ chiến thắng.

Khi mang lấy xác phàm, Chúa Kitô đã nhiều lần chiến đấu với bản thân, với cám dỗ, với mọi mưu ma của thế gian.  Khi ghi lại ba lần Chúa chiến thắng những cơn cám dỗ, Phúc Âm đã xác quyết điều đó (Mt 4, 1-11).  Chúa Kitô đã chiến thắng, và chiến thắng cả sự chết.  Chính vì thế Người đã được tôn vinh: “Thiên Chúa đã siêu tôn Người và ban cho Người danh hiệu vượt quá mọi danh hiệu” (Philip 2, 9).

Khi chiến đấu với chính bản thân để thánh ý Thiên Chúa nên trọn, Chúa Kitô nên gương sáng cho chúng ta soi rọi mà bắt chước Người.  Và khi được tôn vinh, Người là nguồn hy vọng cho những ai tín nghĩa đến cùng.  Chiến thắng và được tôn vinh của Chúa Kitô là mạch suối cứu độ đời đời.

* * * * * * * * * *

Cuộc đời là một chuỗi dài những chiến đấu.  Cho đến nay, khi viết những điều này, tôi vẫn chưa hiểu hết điều vị linh mục nói với tôi.  “Sống linh mục” là sống cái gì?  Cụ thể sống thế nào để được gọi là “sống linh mục?”  Vì sao lại phải “sống linh mục trước khi làm linh mục?”

Nhưng cũng từ câu nói ấy, tôi chợt nhận ra nơi mình đã có “hai kẻ” hiện hữu từ rất lâu: “kẻ lành”, và “kẻ dữ”.  Cũng từ ấy tôi bắt đầu tập chiến đấu với chính mình nhiều hơn.  Không phải lúc nào cũng thành công, hay thành công lúc này là đương nhiên thành công trong mọi lúc.  Vì thế tôi cứ phải chiến đấu và cứ tập chiến đấu.  Tôi tự nhủ: sống linh mục chính là rèn luyện bản thân, là chiến đấu để vươn lên hoàn thiện.  Sống linh mục trước khi làm linh mục như thế, để khi làm linh mục, tôi ĐÃ CÓ MỘT THÓI QUEN SỐNG LINH MỤC.

Lm. Vũ Xuân Hạnh

SỰ GIÀU CÓ CỦA THIÊN CHÚA LÀ LỜI MỜI GỌI CHO LÒNG QUẢNG ĐẠI 

Mặt trời hào phóng một cách lạ thường, không giây phút nào là nó không chiếu sáng nhất.

Các nhà khoa học cho biết, bên trong mặt trời, cứ mỗi giây có một tỉ lệ tương đương với bốn triệu con voi được chuyển hóa thành ánh sáng, một thứ quà tặng chỉ biết cho đi, không bao giờ biết nhận lại.  Mặt trời vẫn tiếp tục đốt cháy nó.  Nếu sự hào phóng này ngừng lại, đương nhiên tất cả năng lượng sẽ mất nguồn cung cấp, mọi sự sẽ chết và bất động.  Chúng ta, và mọi vật trên hành tinh này, sống được là nhờ sự hào phóng của mặt trời.

Trong sự hào phóng này, mặt trời phản ánh sự giàu có của Thiên Chúa, một sự hào phóng mời gọi chúng ta cũng trở nên hào phóng theo, mở rộng quả tim, dấn thân nhiều hơn để tận hiến bản thân mình trong công việc hy sinh, để làm chứng nhân cho sự giàu có của Thiên Chúa.

Nhưng điều này không dễ.  Một cách bản năng, chúng ta có khuynh hướng tự nhiên là tích trữ và để dành để cho cuộc sống được an toàn.  Bản chất chúng ta là sợ và sống chùm với nhau.  Vì vậy, dù nghèo hay không, chúng ta đều có cảm nhận thiếu thốn, luôn luôn sợ mình không có đủ, và vì không có đủ, chúng ta phải cẩn thận khi cho, chúng ta không thể quá hào phóng được.

Nhưng Thiên Chúa làm ngược lại với điều tự nhiên trên.  Thiên Chúa rộng rãi, giàu có, quảng đại, và hào phóng vượt ra ngoài những lo sợ và tưởng tượng nhỏ nhoi của chúng ta.  Vũ trụ của Thiên Chúa quá phong phú và phi thường.  Kích thước của vũ trụ, chỉ tính riêng về những gì con người đã khám phá, cũng đã là không tưởng tượng nổi.  Quá dồi dào và hào phóng là đặc nét của Thiên Chúa.

Chúng ta thấy điều này qua dụ ngôn Người gieo giống trong Kinh Thánh: Người gieo giống, đại diện cho Thiên Chúa, người mà Đức Giê-su mô tả, không phải là người  tính toán, gieo cẩn thận và chỉ gieo ở những mảnh đất màu mỡ.  Người gieo giống này gieo không phân biệt nơi gieo: bên vệ đường, trong bụi gai, trên đá, nơi mảnh đất cằn cỗi, cũng như nơi tốt tươi.  Hình như ông quá dư hạt giống nên có thể nói cách gieo giống của ông xuất phát từ tính hào phóng của sự dồi dào hơn là tính thận trọng của sự thiếu thốn.  Chúng ta cũng thấy sự giàu có này trong dụ ngôn người làm công vườn nho, gia chủ, đại diện cho Thiên Chúa, trả công đồng đều cho tất cả người làm công, không phân biệt ai trước ai sau.  Thiên Chúa, như chúng ta biết, giàu có vô hạn và không bao giờ tính toán chi ly trong việc ban phát.

Thiên Chúa cũng rộng rãi và quảng đại khi tha thứ, như chúng ta thấy trong các phúc âm.  Trong dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu, người cha tha cho người con hoang đàng, ông cho vượt lên sự giàu có của ông, nhiều khi sự giàu có này làm cho nhân phẩm bị mất vì quá tính toán cho mình.  Chúng ta cũng thấy sự rộng rãi này nơi Đức Giê-su khi Người tha thứ cho kẻ hành hình cũng như tất cả những ai bỏ Người trong cuộc thương khó.  Qua những gì chúng ta thấy, Thiên Chúa quá giàu tình yêu, quá giàu lòng thương xót nên Ngài mới phung phí, quá quảng đại, không tính toán, không kỳ thị, dám nhận bất trắc, và có quả tim rộng lượng vượt quá trí tưởng tượng chúng ta.

Và đó là lời mời gọi: Để có được một khái niệm về sự giàu có của Thiên Chúa, một giàu có dám nhận bất trắc, chúng ta cần có một quả tim luôn rộng mở và một lòng quảng đại vượt lên trên bản năng sợ hãi, bản năng làm chúng ta nghĩ rằng, chỉ vì chúng ta không có đủ nên cần tính toán chi ly nhiều hơn.

Trong tất cả các phúc âm, phúc âm thánh Lu-ca chứa đựng một trong những sứ điệp mạnh mẽ nhất về đức công bình (cứ sáu hàng là có một thách thức trực tiếp với đức công bình đối với người nghèo) nhưng tuy thế, trong phúc âm thánh Lu-ca, Đức Giê-su vẫn nhắc nhở về mối hiểm nguy của giàu có, Ngài không bao giờ lên án sự giàu có hay người giàu có.  Hơn thế Người phân biệt sự giàu có quảng đại và giàu có bủn xỉn.  Người giàu có quảng đại tốt lành vì họ tỏa ra và hiện thân cho sự giàu có và lòng quảng đại của Thiên Chúa trong khi người giàu có bủn xỉn không tốt bởi vì họ đưa ra một hình ảnh sai lầm về sự giàu có, quảng đại, và quả tim rộng lớn của Thiên Chúa.

Đức Giêsu bảo đảm với chúng ta rằng chúng ta đong đấu nào sẽ nhận lại đấu đó.  Điểm chính là nói lên rằng không khí chúng ta thở ra là không khí chúng ta hít vào.  Điều đó không chỉ đúng về mặt sinh thái học mà nó còn đúng cho mọi khía cạnh chung của cuộc sống.  Nếu chúng ta thở ra sự bủn xỉn, chúng ta sẽ hít vào sự bủn xỉn; nếu chúng ta thở ra tính nhỏ nhen, chúng ta sẽ hít vào tính nhỏ nhen; nếu chúng ta thở ra sự gắt gỏng cay chua, chúng ta cũng sẽ hít vào sự gắt gỏng cay chua đó; và nếu chúng ta thở ra sự thiếu thốn khiến chúng ta tính toán và dè dặt, thì sự toán tính và dè dặt đó sẽ là không khí chúng ta hít vào.  Nhưng, nếu nhận thức được sự giàu có của Thiên Chúa, chúng ta sẽ thở ra lòng quảng đại và bao dung, và khi đó chúng ta sẽ hít không khí quảng đại và bao dung vào.  Chúng ta hít vào những gì chúng ta thở ra.

Tôi chưa bao giờ gặp ai thật sự có lòng quảng đại mà họ lại không nói rằng, lúc nào họ cũng nhận được nhiều hơn cho.  Và tôi cũng chưa bao giờ gặp một ai thật sự có quả tim rộng rãi mà lại sống trong cảm nhận mình thiếu thốn.  Để có lòng quảng đại và quả tim rộng mở thì trước hết chúng ta phải tin vào sự giàu có và lòng quảng đại của Thiên Chúa.

Nhờ sự giàu có của Thiên Chúa mà chúng ta nhận được ánh sáng mặt trời, một vũ trụ lớn lao hào phóng vượt sức tưởng tượng của loài người.  Đó không phải chỉ là thử thách cho tinh thần và trí tưởng tượng, nhưng đặc biệt là thử thách cho quả tim, để nó trở nên giàu có và quảng đại hơn.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

ỨNG NGHIỆM LỜI CHÚA

Chúa Giêsu luôn sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.  Tin Mừng nhiều lần đề cập đến điều này.  Chẳng hạn như: được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, Người vào sa mạc ăn chay cầu nguyện.  Hôm nay được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, Người đi rao giảng khắp miền Galilê.  Trở về Nagiaréth, Người đọc Sách Thánh trong hội đường đúng đoạn nói về Ơn Chúa Thánh Thần hướng dẫn.  Nhiều lần Tin Mừng nói Chúa Giêsu tràn đầy hoan lạc trong Chúa Thánh Thần.  Nhờ đâu được như thế?  Một phần nhờ việc đọc Sách Thánh.

Chúa Giêsu thường xuyên đọc Sách Thánh.  Tin Mừng hôm nay diễn tả: “Rồi Chúa Giêsu đến Nagiaréth, là nơi Người sinh trưởng.  Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sabbat, và đứng lên đọc Sách Thánh.”  Yêu mến và gắn bó với hội đường, nên Chúa Giêsu thường xuyên đến sinh hoạt với mọi người trong hội đường.  Yêu mến và gắn bó với Sách Thánh nên Chúa Giêsu thường xuyên đọc Sách Thánh.  Còn hơn thế nữa, sau khi đọc, Người đứng ra giải nghĩa cho mọi người.  Đó là nếp sinh hoạt bình thường của Người.  Nếp sinh hoạt này đã thành thói quen từ khi Người còn nhỏ bé.  Nên ngay từ khi lên 12 tuổi, Người đã có thể đối đáp với các bậc tiến sĩ trong Đền Thờ Giêrusalem.

Chúa Giêsu kính cẩn đọc Sách Thánh.  Chúa Giêsu không đọc Sách Thánh theo thói quen.  Người đọc một cách trịnh trọng kính cẩn.  Ta hãy chiêm ngắm thái độ của Người theo lời diễn tả của thánh Luca: “Họ trao cho Người cuốn sách tiên tri Isaia. Người mở ra và đọc… Người cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống.  Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người.  Người bắt đầu nói với họ.”  Thật là trang nghiêm kính cẩn.  Thái độ của Người ảnh hưởng đến cả hội đường.  Nên khi Người đọc mọi người chăm chú nhìn Người.  Chúa Giêsu trân trọng việc đọc Sách Thánh vì Người luôn thao thức tìm thánh ý Chúa Cha.  Người đọc Sách Thánh để tìm hướng dẫn cho cuộc đời.  Người đọc Sách Thánh để mong chu toàn thánh ý Chúa Cha.  Người nhận biết thánh ý Chúa Cha qua những trang Sách Thánh.  Người cố đọc giữa những hàng chữ để tìm thánh ý Chúa Cha.

Chúa Giêsu nghiêm túc thực hành lời Sách Thánh.  Khi nói với mọi người rằng: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”, Chúa Giêsu muốn nói đến hai điều.  Điều thứ nhất: Người tìm thấy thánh ý Chúa Cha qua đoạn Sách Thánh.  Với thái độ kính cẩn, với lòng khiêm tốn hiếu thảo lắng nghe, Chúa Giêsu đã đọc được thánh ý Chúa Cha qua đoạn sách tiên tri Isaia.  Biết lời tiên tri Isaia ứng nghiệm vào sứ mạng của mình.  Điều thứ hai: Biết được thánh ý Chúa Cha rồi, Chúa Giêsu cương quyết thực hành.  Người coi đó là chương trình hành động.  Người coi đó là chỉ nam hướng dẫn.  Dù sứ mạng của Người vừa mới khởi đầu, Người cũng cương quyết hoàn thành.  Suốt đời Người sẽ thực hành chương trình này.  Vì thế đoạn sách Isaia ứng nghiệm vừa do thánh ý Chúa Cha vừa do ý chí của Chúa Giêsu quyết tâm thực hành thánh ý Chúa Cha.

Đây là mẫu gương cho ta.  Đó là kết quả của Ơn Chúa Thánh Thần.  Hãy thường xuyên đọc Kinh Thánh để ta luôn được tiếp xúc với Thiên Chúa.  Hãy kính cẩn tìm thánh ý Chúa trong Kinh Thánh chắc chắn ta sẽ được ơn Chúa soi sáng cho biết đường đi.  Nhất là hãy quyết tâm thực hành Lời Chúa mà ta đã đọc.  Ta sẽ được tràn đầy Ơn Chúa Thánh Thần.  Thật vậy, chẳng ai có thể say mê Kinh Thánh nếu không được Ơn Chúa Thánh Thần lôi cuốn.  Chẳng ai tìm được thánh ý Thiên Chúa nếu không được Ơn Chúa Thánh Thần soi sáng.  Chẳng ai có thể thực hành Lời Chúa nếu không được Ơn Chúa Thánh Thần nâng đỡ.  Như một phản hồi hai chiều.  Càng được Ơn Chúa Thánh Thần ta càng say mê Kinh Thánh.  Càng say mê Kinh Thánh ta lại càng để Chúa Thánh Thần hướng dẫn cuộc đời.  Cuộc đời sống theo Ơn Chúa Thánh Thần hướng dẫn sẽ hoàn toàn ứng nghiệm ý định của Thiên Chúa cho bản thân và cho tha nhân.  Đó chính là cuộc đời đạt được mục đích cao quý nhất.

ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

MỘT CON NGƯỜI ĐÃ TÉ XUỐNG ĐẤT 

“Khi một tâm hồn chai đá biết để mở ra với Thần Khí, Thiên Chúa sẽ luôn ban ơn sủng dồi dào và một phẩm giá được phục hồi.  Điều này cần được diễn ra ngang qua sự khiêm nhường, tự hạ.  Đây là nội dung bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong thánh lễ sáng thứ Sáu, 15.04, tại nguyện đường Nhà Trọ Thánh Marta.”  Bài đọc một hôm nay thuật lại cuộc hoán cải của Thánh Phao-lô.

“Có lòng nhiệt thành với những điều thánh thiêng thì không có nghĩa là sẽ có một con tim rộng mở với Thiên Chúa.”  Đức Thánh Cha đã minh họa điều này bằng gương của Sao-lô (Phao-lô), quê ở Tác-xô, một người đầy sốt sắng trong niềm tin tưởng và nghiêm chỉnh tuân giữ những quy tắc mà đức tin truyền dạy, nhưng lại có một con tim khép kín, hoàn toàn câm điếc trước Đức Kitô, thậm chí ông còn đồng ý tiêu diệt và bỏ tù những Kitô đang sống ở Đa-mát.

Sự khiêm nhường làm tan chảy con tim

“Ngay trên con đường thực hiện mục tiêu đã đặt ra, tất cả mọi sự đã đảo ngược so với dự định của Phao-lô.  Cuộc hành trình trên con đường Đa-mát ấy đã trở thành khúc tình sử về một con người dám để cho Thiên Chúa biến đổi trái tim mình: Một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy Phao-lô.  Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông.  Trong phút chốc, mắt ông hóa mù lòa, không còn thấy gì nữa.  Một Phao-lô đầy mạnh mẽ và xác tín, giờ đây đã ngã xuống đất.  Nhưng chính trong hoàn cảnh đó, ông thấu hiểu sự thật về mình: Ông đã không là một người như Thiên Chúa mong muốn, vì Thiên Chúa tạo dựng tất cả chúng ta là những con người hiên ngang, đầu đội trời chân đạp đất.  Vì thế, tiếng nói bởi trời không chỉ tra vấn Phao-lô: “Tại sao ngươi bắt bớ ta?” nhưng còn mời gọi ông đứng dậy.

“Hãy đứng dậy, vào thành, và người ta sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì.”  Nhưng khi bắt đầu đứng dậy, Phao-lô nhận ra mình đã mù, không còn thấy gì cả.  Ông để cho người ta dẫn ông đi.  Và từ đó, con tim của ông bắt đầu mở ra.  Như vậy, Phao-lô đã được những người bạn đồng hành cầm tay dẫn tới Đa-mát.  Ông ở trong tình trạng mù lòa suốt ba ngày và cũng chẳng ăn, chẳng uống gì cả.  Con người này đã bị té xuống đất và ngài lập tức nhận ra rằng cần phải chấp nhận sự nhục nhã, bẽ mặt này trong khiêm hạ.  Như vậy, chính con đường tiến về Đa-mát ấy đã mở toang con tim của Phao-lô và giúp ông biết khiêm tốn hơn.  Cũng thế, khi Thiên Chúa mời gọi chúng ta khiêm tốn và cho phép những nhục nhã, bẽ mặt xảy xa với chúng ta, chỉ với mục đích là giúp chúng ta trở nên ngoan ngoãn, giúp mở rộng con tim chúng ta ra với Đức Giêsu.  Đó là một con tim đã hoán cải.

Chúa Thánh Thần là nhân vật chính

Con tim của Phao-lô đã tan chảy.  Trong những ngày cô đơn và bị mù lòa ấy, cái nhìn nội tâm của Phao-lô đã biến đổi.  Thiên Chúa sai Kha-na-ni-a đến đặt tay trên Phao-lô để cho mắt ông lại thấy được.  Có một khía cạnh quan trọng trong tiến trình năng động này cần được để ý.

Chúng ta nhớ rằng nhân vật chính của câu chuyện không phải các thượng tế, kinh sư; cũng không phải Tê-pha-nô, cũng không phải Phi-líp-phê hay viên thái giám, và cũng không phải là Phao-lô… nhưng là chính Chúa Thánh Thần.  Nhân vật chính trong Giáo hội là Chúa Thánh Thần, Đấng không ngừng hướng dẫn Đoàn Dân Chúa.  Khi Kha-na-ni-a đặt tay trên Phao-lô, ngay lập tức có những cái gì như vảy bong ra khỏi mắt ông và ông lại thấy được.  Ông đứng dậy và chịu phép rửa.  Con tim chai đá của Phao-lô đã tan chảy và trở nên ngoan ngoãn trước Thần Khí.

Phẩm giá được phục hồi

Thật là đẹp khi chúng ta chiêm ngắm cách thức Thiên Chúa biến đổi tâm hồn con người, cho dù đó là những tâm hồn chai đá, ngang bướng, để trở nên mềm mại và ngoan ngoãn trước Thần Khí.  Cách nào đó, tất cả chúng ta đều có lòng chai dạ đá.  Nếu ai trong anh chị em không có, xin vui lòng giơ tay lên xem.  Ít nhiều, tất cả chúng ta đều có lòng chai đá.  Bởi vậy, chúng ta hãy nài xin để được nhìn thấy những chai đá đó quật ngã chúng ta xuống đất.  Nhưng đồng thời, chúng ta cũng khiêm tốn xin ơn để đừng nằm mãi dưới đất nhưng biết đứng dậy, đứng dậy với phẩm giá cao quý mà Thiên Chúa đã tác tạo nên ta.  Đó chính là ơn sủng của một con tim rộng mở và ngoan ngoãn trước Thần Khí.”

Vũ Đức Anh Phương, SJ