NHỮNG CÂU CHUYỆN BIẾN HÌNH

Tác giả cuốn sách The Seven Habits of Highly Effective People (“Bảy Thói Quen Của Người Làm Việc Có Hiệu Quả”), Steve Covey, trên một chuyến xe điện ngầm tại thành phố New York vào một sáng Chúa nhật, đã thu được một kinh nghiệm sống rất quí như sau.  Steve kể:

Mọi người ngồi yên lặng.  Vài kẻ đang đọc báo.  Số khác đang chập chờn ru giấc ngủ.  Số khác nữa đang suy nghĩ miên man.  Thật là một cảnh yên tĩnh, thanh bình.

Tàu dừng lại tại một nhà ga.  Một người đàn ông và mấy đứa nhỏ, có lẽ là con ông ta, bước lên.  Lập tức bầu khí yên bình bị phá tan.  Những đứa bé la hét om sòm.  Chúng vất đồ đạc qua lại.  Thậm chí còn lấy báo của người khác vò lại ném nhau.  Thật là phiền hà hết sức!  Nhưng sao người cha của mấy đứa bé kia lại không có phản ứng nào?

Steve cảm thấy bực bội khó chịu trước thái độ của cha con những người khách mới.  Anh ta không thể hình dung ra được trên đời này lại có những kẻ vô cảm và vô tâm như gã đàn ông kia.  Con cái quậy phá làm phiền biết bao nhiêu người, thế mà vẫn cứ ngồi im.  Steve quan sát và thấy nhiều hành khách khác cũng có vài nếp nhăn khó chịu.

Cuối cùng, khi sức kiên nhẫn đã vượt mức tối đa, Steve bèn lên tiếng với người bố: “Thưa ông, con ông đang làm phiền nhiều người lắm đấy.  Tôi rất ngạc nhiên khi thấy ông không làm gì để kiềm chế chúng một chút.”  Người đàn ông nhướng mắt nhìn Steve như vừa sực tỉnh lại từ một ưu trầm lắng.  Nén tiếng thở dài, ông ta nói: “Tôi thành thật xin lỗi.  Tôi cũng không biết phải làm sao.  Chúng tôi mới rời khỏi bệnh viện nơi mẹ chúng nó vừa qua đời cách đây một giờ.  Tôi suy nghĩ mãi mà không biết cuộc đời rồi đây sẽ ra sao khi không còn nhà tôi, và chắc là chúng nó cũng không biết chịu đựng thế nào khi chẳng còn có mẹ.”

Steve kết luận bài viết của mình: “Bạn có thể tưởng tượng được cảm giác của tôi lúc đó như thế nào không?  Ngay lập tức tôi thấy mọi sự đổi khác.  Vì thấy mọi sự đổi khác nên thái độ của tôi cũng đổi theo . Cơn khó chịu bực bội trong tôi biến mất.  Thay vào đó là niềm cảm thông cho nỗi đau của người chồng mất vợ, và những đứa con mất mẹ.” 

Nhờ “thấy” được chiều sâu tâm hồn của cha con người đồng hành mà Steve đã thắng vượt những khó chịu bực bội trong mình, và sau đó đã đến với họ bằng tâm tình cởi mở chân thành.  Phải chăng trong đời sống, người ta cũng cần có con mắt nội tâm để “thấy” được nền tảng và ý nghĩa của cuộc đời hầu có những thái độ và cách sống thích hợp?  Phải chăng nhờ sự biến hình trên núi Tabor, các môn đệ đã “thấy” được hình ảnh phục sinh vinh quang của Đức Giêsu, để từ đó họ bớt nao núng khi bước vào nẻo đường thánh giá và đón nhận khổ nạn với Ngài?  Phải chăng đời ta và đời người cũng cần những giây phút biến hình để dung nhan Thiên Chúa, trong tha nhân và nơi mình tôi, được bừng sáng, đón nhận, và tin yêu hơn?

Trong một bài báo tự thuật, Malcolm Muggeridge có kể lại việc nhóm chuyên viên truyền hình của anh ta cố gắng thực hiện một bộ phim tài liệu về Mẹ Têrêsa Calcutta.

Họ muốn quay cảnh mẹ cùng các chị nữ tu Bác ái đang làm việc trong căn nhà Hấp Hối, bên cạnh những kẻ sắp từ biệt cõi đời.  Thế nhưng nhóm của Malcolm đã gặp phải một vấn đề khó khăn: căn phòng họ tính quay phim hơi tối, không đủ ánh sáng cần thiết cho việc thâu hình, mà trong nhà lại không có một ổ cắm điện nào cả.

Tuy nhiên, sau khi bàn thảo, họ quyết định cứ tiến hành thu hình trong cảnh tranh sáng tranh tối của căn phòng Hấp Hối.

Nhưng rồi, kết quả, trước bao cặp mắt ngạc nhiên, những thước phim thâu được lại tuyệt vời quá sức tưởng tượng.  Ánh sáng trong các hình ảnh đạt đến mức độ hoàn hảo.  Dường như đã có một luồng sáng ấm dịu nào đó phát ra trong lúc họ đang quay phim.

Malcolm, người mà sau này trở thành một Kitô hữu, lúc bấy giờ đã bị thuyết phục hoàn toàn với ý nghĩ là ánh sáng đã phát ra từ tình thương mà người ta có thể bắt gặp khắp nơi trong căn nhà Hấp Hối kia.  Malcolm viết lại trong nhật ký của mình: “Chính tình yêu đã chiếu sáng, một thứ ánh sáng giống như hào quang trên đầu các thánh mà tôi từng được xem thấy.”

Phải chăng đó cũng là thứ ánh sáng mà Đức Giêsu đã tỏ cho ba môn đệ thân tín là Phêrô, Gioan và Giacobê khi Ngài biến hình trước mặt các ông?  Trong cuộc biến hình này, các môn đệ được nghe một lời phán bảo: “Đây là Con Ta yêu dấu, kẻ Ta đã chọn, các ngươi hãy nghe lời Ngài” (Lc 9:35).  Trong chương kế tiếp, Thánh sử Luca đã khéo léo trình bày việc “nghe lời” Đức Giêsu không gì khác hơn là ra đi rao giảng Tin Mừng Tình thương.  Chương 10 đã kể việc Chúa sai 72 môn đệ lên đường truyền giáo, đồng thời cũng làm nổi bật giáo lý của Đấng Cứu Thế qua câu hỏi “giới răn nào trọng nhất” của một luật sĩ, và qua câu chuyện “Người Samari Nhân Hậu” như những minh họa cho giáo lý yêu thương.

Cao điểm của cuộc biến hình là lời mời gọi “Hãy nghe Ngài.”  “Nghe Ngài” là để tiếp nối những cuộc biến hình khác, giữa cuộc đời này, bằng tình yêu.  Chính nhờ tình yêu mà Mẹ Têrêsa đã biến những thân xác tanh hôi, đau yếu, bị bỏ rơi, nên những con người có đầy đủ phẩm giá và đáng tôn trọng.  Chính nhờ tình yêu mà mẹ đã biến đổi tâm hồn của Malcolm, một kẻ “coi trời bằng vung”, nên cung điện tươi xinh cho Thiên Chúa ngự trị.

Không phải Chúa Giêsu đã từng nói: “Chính nơi điều này mà mọi người sẽ biết các ngươi là môn đệ của Ta: ấy là các ngươi có lòng mến thương nhau” (Ga 13:35)?  Chính với yêu thương, cảm thông, cứu giúp, chia sẻ mà tha nhân thấy được dung mạo của Đức Kitô trong cuộc đời của bạn và tôi.

Ước gì tình yêu thương nhau sẽ biến hình đời ta và biến đổi đời người.  Ước gì tình yêu đó cũng giúp ta thắng vượt bao gian nan, trắc trở, và khổ giá trên đường đời, để tiến đến một ngày Phục sinh tươi sáng.

Lm Phêrô Bùi Quang Tuấn

BÀI HỌC NƠI HOANG ĐỊA 

“Để đón nhận Hồng Ân của Chúa, bạn phải vào hoang địa và ở đó một lúc.”
Chân phước Charles de Foucauld

Mọi Kitô hữu đều phải vào hoang địa một lúc nào đó.  Hoang địa là sa mạc, là khoảng đất trống, khô khan, và “hoang địa” cũng là khi chúng ta cảm thấy sự mất mát, lầm lẫn, đau lòng, cô đơn.

Tôi đã vào hoang địa nhiều lần – có khi là một ngày, có khi là một tháng.  Nhức nhối lắm.  Khó chịu lắm.  Cần phải biết từ bỏ chính mình và các ước muốn.  Nhưng qua nhiều năm, tôi thấy rằng những lúc đó có sức biến đổi nhiều nhất.  Khi tôi thực sự nghĩ về điều đó, những lần mà tôi cảm thấy gần gũi với Thiên Chúa nhiều nhất.

Trong Mùa Chay này, thời gian mà Giáo hội tiến vào sa mạc của sự từ bỏ mình và sám hối.  Chúng ta có thể ghi nhớ 5 bài học quan trọng này để củng cố đời sống và tiến bước trên đường lữ hành trần gian:

1. Chúng ta luôn cần ơn Chúa.  Không có gì khiêm nhường hơn là thu mình vào nơi tĩnh lặng. Hầu như tôi luôn vào sa mạc ngay khi tôi nghĩ mình có những điều cần giải quyết.  Ngẫu nhiên chăng?  Có thể là không.  Chỉ khi Thiên Chúa tước lột hết thì chúng ta mới hiểu được chúng ta yếu đuối thế nào khi không có Ngài.  Chúng ta nhận ra ý chí mình quá nhu nhược, nên cần được an ủi về thể lý, tình cảm, hoặc tâm linh.  Chúng ta chịu đau khổ một thời gian vì không được an ủi, nhưng khi Thiên Chúa phục hồi những điều đó, chúng ta biết là phải yêu mến Ngài và nhận biết lòng nhân lành của Ngài

2. Trưởng thành từ đau khổ. Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Khi ở trong sa mạc, tôi phải thực hành các nhân đức mà tôi muốn phát triển nhưng tôi quá yếu đuối hoặc cố chấp.  Chỉ khi Thiên Chúa thúc ép tôi bằng cách nhẹ nhàng của Ngài thì tôi mới thực sự khả dĩ phát triển trong Ngài.  Bất kỳ nỗ lực nào Ngài muốn chúng ta làm cũng đều là cơ hội để chúng ta trưởng thành hơn.

3. Thiên Chúa dùng sự gian khổ để kêu gọi chúng ta kết hiệp mật thiết với Ngài. Thi thoảng Thiên Chúa kéo chúng ta vào hoang địa để chúng ta gặp gỡ và trò chuyện thân mật với Ngài:“Ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình” (Hs 2:14).  Khi nào chúng ta thoát ly mọi thứ chia trí trần thế hoặc đau khổ, chúng ta mới có thể liên kết với Ngài đúng mức.  Một số an ủi tâm linh có được từ những lúc đau khổ và cô đơn.  Có vẻ như đó là cách duy nhất mà Thiên Chúa có thể bước vào tâm hồn chai cứng của chúng ta.

4. Chúng ta không một mình, dù có vẻ như chúng ta bơ vơ. Ở trong hoang địa tâm linh hoặc tinh thần có vẻ là nơi cô đơn nhất thế gian. Nhưng ngay trong khoảng trống vắng đó, chúng ta lại khả dĩ nhớ rằng chúng ta thực sự không bao giờ một mình, vì Thiên Chúa luôn hiện diện để hướng dẫn, an ủi, và nâng đỡ chúng ta.

5. Mọi sự sẽ ổn. Sau cơn mưa, trời lại sáng. Thiên Chúa biết rõ giới hạn của chúng ta.  Ngài biết thập giá của chúng ta nặng nề, chúng ta cần trợ giúp.  Đó là lý do Ngài ân xá cho chúng ta, chúng ta được đổi mới về sức mạnh, và chúng ta lại dễ dàng tín thác vào Ngài.  Hãy nhớ rằng cuối cùng dân Do Thái cũng vào Đất Hứa sau 40 năm dài đằng đẵng nơi hoang đại.  Và chúng ta cũng vậy.

Trong Mùa Chay này, và những lúc khác trong cuộc sống, khi chúng ta cảm thấy trống vắng hoặc khô khan, đừng tìm cách chạy trốn, mà hãy tự hỏi mình: “Thiên Chúa muốn dạy tôi điều gì trong lúc khó khăn?  Ngài muốn tôi trau dồi nhân đức nào: Tín thác, từ bỏ mình, khiêm nhường?  Ngài đang lột bỏ cái gì nơi tôi để tôi có thể bước theo Ngài sát hơn: Kiêu ngạo, ý định, ước muốn?”

Chúng ta hãy ấp ủ sự biến đổi yêu thương mà Đức Kitô muốn nơi chúng ta trong thời gian này, khi chúng ta nghĩ rằng không có gì xảy ra hoặc khi chúng ta đi về phía hư vô, vì đó là lúc chúng ta trở nên hoàn thiện nhất trên hành trình nên thánh.  Hoang địa có thể lạnh lẽo và trống vắng.  Nhưng nếu chúng ta bước đi trên cát bên Đức Kitô, nắm lấy tay Ngài, chúng ta sẽ mạnh mẽ hơn và xinh đẹp hơn trước.

Amy Atkinson
Trầm Thiên Thu (Chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)

HÀNH ĐỘNG MÙA CHAY 

Kinh Thánh nhắn nhủ: “Con ơi, nếu con muốn dấn thân phụng sự Đức Chúa thì con hãy chuẩn bị tâm hồn để ĐÓN CHỊU THỬ THÁCH.  Hãy giữ lòng cho ngay thẳng và cứ kiên trì, đừng bấn loạn khi con gặp khốn khổ” (Hc 2:1-2).  Thử thách đó không chỉ là những nỗi khổ niềm đau, mà còn là những cơn cám dỗ như sóng xô không ngừng.

Phàm nhân là cát bụi, tro bụi, vì được Thiên Chúa tạo nên từ đất, thế nên rất yếu đuối, dễ dàng sa ngã, nhưng khốn nạn là vẫn kiêu căng, và tất nhiên cũng luôn cần nhận diện mình mà ăn năn sám hối.  Thánh Louis Marie de Montfort nói: “Thiên Chúa thường xuyên và thực sự rất thường xuyên để cho các tôi trung cao cả của Người vấp phải những sai lỗi nhục nhã nhất.  Điều ấy hạ thấp họ trước mắt họ và trước mắt những người đồng sự của họ.  Điều ấy giữ cho họ khỏi nhìn thấy và không kiêu hãnh về những ân sủng Thiên Chúa đã ban cho họ.”

Sám hối liên quan cầu nguyện và ăn chay.  Ăn chay không chỉ là nhịn đói và từ khước thói quen vui thú nào đó, mà còn liên quan thực tế đời sống.  Kinh Thánh đặt ra vấn đề thực tế: “Nếu ngươi loại khỏi nơi ngươi ở gông cùm, cử chỉ đe dọa và lời nói hại người, nếu ngươi nhường miếng ăn cho kẻ đói, làm thoả lòng người bị hạ nhục, ánh sáng ngươi sẽ chiếu toả trong bóng tối, và tối tăm của ngươi chẳng khác nào chính ngọ” (Is 58:9b-10).  Còn thời gian để ăn chay và đền tội là còn diễm phúc lắm.

Mùa Chay – dịp tốt ăn năn
Bụi tro nhắc nhớ chớ quên phận mình!
Ăn chay, sám hối, hy sinh
Yêu thương, bác ái, công bình, thứ tha

Mùa Chay là thời điểm hành động cụ thể – làm thật chứ không chỉ mong ước hoặc nói suông.  Mùa Chay nhắc nhớ về thân phận bụi tro, yếu đuối và tội lỗi, chắc chắn như vậy, nhưng quan trọng là nhớ đến cái chết: Memento Mori – Hãy nhớ mình sẽ chết.  Màu Tím phủ đầy: Tím cõi lòng, tím ăn năn, tím sám hối, tím khiêm nhường, tím yêu thương, tím chia sẻ, tím cầu nguyện, tím nghĩ suy, tím tin kính, tím thú tội…  Màu tím tươi đẹp sắc thánh đức chứ không buồn sầu thảm não.

Ai cũng sa ngã, nhưng quan trọng hơn là can đảm đứng dậy.  Thánh François de Sales động viên: “Sau khi đã sa ngã, hãy hướng tâm hồn lên một cách dịu dàng và êm đềm.  Hãy sấp mình trước thánh nhan Thiên Chúa trong sự ý thức về nỗi khốn cùng của mình.  Đừng ngạc nhiên trước sự yếu đuối của mình, bởi vì chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả, sự yếu đuối thì phải yếu đuối thôi.”  Đừng bao giờ ỷ lại hoặc tuyệt vọng, bởi vì như thế là động thái cố chấp và kiêu ngạo!

Cần Thiết Trở Về

Trở về không chỉ cần thiết mà còn cấp bách, vì đó là bước khởi đầu để được Thiên Chúa xót thương.  Vả lại, chính Đức Kitô đã khuyến cáo: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 3:2; Mt 4:17).

Biết ăn năn sám hối là điều tốt, nhưng coi chừng thói hợm mình và ỷ lại, rồi tự nhủ: “Tôi đã phạm tội nhưng nào có sao?  Bởi vì Đức Chúa nhẫn nại!  Đừng ỷ được tha thứ mà khinh thường, rồi cứ chồng chất tội này lên tội khác” (Hc 5:4-5).  Đừng lần lữa hoặc chần chừ, mà hãy nghe lời nhắn nhủ của Đức Chúa: “Các ngươi hãy hết lòng trở về với Ta, hãy ăn chay, khóc lóc, và thống thiết than van”(Ge 2:12).  Tuy nhiên, vấn đề là “ĐỪNG xé áo, nhưng HÃY xé lòng” và “TRỞ VỀ cùng Đức Chúa là Thiên Chúa, bởi vì Người từ bi và nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương, Người hối tiếc vì đã giáng họa” (Ge 2:13).  Vì thế, nếu chúng ta thành tâm sám hối, nhận biết sự khốn nạn của mình, Thiên Chúa sẽ “nghĩ lại và hối tiếc mà để lại phúc lành, hầu chúng ta có lễ phẩm và lễ tưới rượu dâng lên Đức Chúa là Thiên Chúa của chúng ta” (Ge 2:14).  Thiên Chúa luôn kiên nhẫn chờ đợi tội nhân ăn năn.

Từ xưa, qua miệng ngôn sứ Giô-en, Thiên Chúa đã tuyên ngôn: “Hãy rúc tù và tại Sion, ra lệnh giữ chay thánh, công bố mở cuộc họp long trọng; hãy tụ tập chúng dân, mời dự đại hội thánh, triệu tập các cụ già, tụ họp đám thiếu nhi cũng như trẻ thơ còn đang bú.  Tân lang hãy ra khỏi loan phòng, tân nương hãy rời bỏ phòng khuê!” (Ge 2:16).  Ai cũng đã từng phạm tội nên cũng phải sám hối: “Giữa tiền đình và tế đàn, các tư tế phụng sự Đức Chúa hãy than khóc và thân thưa: Lạy Đức Chúa, xin dủ lòng thương xót dân Ngài!  Xin đừng để gia nghiệp của Ngài phải nhục nhã và nên trò cười cho dân ngoại!” (Ge 2:17).  Quả thật, “Đức Chúa đã nồng nhiệt yêu thương đất của Người, đã tỏ lòng khoan dung đối với dân Người.  Tai ương chấm dứt và dân được giải thoát” (Ge 2:18).  Thiên Chúa không muốn ai phải hư mất, bởi vì ai cũng là tác phẩm do Ngài tạo nên, ai cũng là con cái của Ngài.

Mới được hình thành, chưa được sinh ra, chúng ta đã mắc tội rồi: Tội Tổ Tông.  Rồi lớn khôn, càng sống lâu càng nhiều tội.  Như vậy, không ai lại không có tội, cho nên không ai lại không phải khẩn khoản cầu xin Lòng Chúa Thương Xót: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm.  Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy” (Tv 51:3-4).  Phạm tội là lầm đường lạc lối, vì lầm lạc mà phải trở về.

Trở về là từ bỏ con đường cũ, là sám hối, là ăn năn.  Nhưng để có thể trở về thì phải khiêm nhường nhận ra sự đốn hèn của mình: “Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm.  Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài.  Như vậy, Ngài thật công bình khi tuyên án, liêm chính khi xét xử” (Tv 51:5-6).  Và rồi lại phải tiếp tục van xin: “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ.  Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài.  Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con” (Tv 51:12-14).  Chắc chắn Thiên Chúa sẽ mủi lòng mà động lòng trắc ẩn.

Thiên Chúa kêu gọi: “Hãy RỬA cho sạch, TẨY cho hết, và VỨT BỎ tội ác của các ngươi cho khỏi chướng mắt Ta.  ĐỪNG làm điều ác nữa!” (Is 1:16). Sám hối và cầu nguyện không chỉ phải thực hiện trong Mùa Chay, mà phải thực hiện suốt đời – bao lâu còn thở, như Giáo Hội vẫn cầu xin hằng ngày: “Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con, cho con cất tiếng ngợi khen Ngài” (Tv 51:17).  Đời sống tâm linh lúc nào cũng cấp bách: “Đừng trì hoãn, hãy trở về với Đức Chúa đi; đừng lần lữa hết ngày này qua ngày khác, vì thình lình Đức Chúa sẽ nổi cơn thịnh nộ, và trong thời trừng phạt, con sẽ phải tiêu vong” (Hc 5:7).

Chân thành khuyên nhủ, Thánh Phaolô cho biết: “Chúng tôi là sứ giả thay mặt Đức Kitô, như thể chính Thiên Chúa dùng chúng tôi mà khuyên dạy.  Vậy, nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hoà với Thiên Chúa.  Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2 Cr 5:20-21).  Chúng ta không thể hiểu thấu và không thể dùng trí thông minh của phàm nhân mà lý luận về cách hành động “ngược đời” như vậy của Chúa Giêsu.  Chúng ta chỉ có thể cúi đầu mà cảm phục và tạ ơn Ngài mà thôi, đồng thời tín nhân chúng ta cũng phải không ngừng cố gắng sống “ngược đời” như Ngài.

Và rồi Thánh Phaolô còn cho biết thêm: “Vì được cộng tác với Thiên Chúa, chúng tôi khuyên nhủ anh em: anh em đã lãnh nhận ân huệ của Thiên Chúa thì đừng để trở nên vô hiệu.  Quả thế, Chúa phán rằng: Ta đã nhận lời ngươi vào thời Ta thi ân, phù trợ ngươi trong ngày Ta cứu độ.  Vậy, đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ” (2 Cr 6:2).  Sám hối lúc nào cũng cần đối với loài người chúng ta, nhưng sám hối càng cần hơn vào các thời điểm đặc biệt như cuối ngày, đặc biệt là Mùa Chay.

Mục Đích Trở Về

Làm gì cũng đều có mục đích.  Học hỏi để thành nhân.  Kiêng cữ để giảm cân hoặc chữa bệnh.  Ăn chay để kiềm chế xác thịt – vì “ăn no rửng mỡ.”  Trở về để gặp gỡ Thiên Chúa, để được Ngài xót thương, tha thứ và cứu độ.  Thế nhưng trở về cũng phải biết cách: Ăn chay đúng cách, sám hối đúng cách, làm việc lành đúng cách.  Chúa Giêsu hướng dẫn cụ thể: “Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy.  Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng”(Mt 6:1).  Chúa Giêsu sống khiêm nhường nên Ngài rất thích những người khiêm nhường.  Và Ngài tiếp tục khuyến cáo: “Khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen.  Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi” (Mt 6:2).  Những mệnh lệnh phủ định mang thông điệp mạnh mẽ về cách thực hiện: Đừng và Chớ.

Cách thức của Chúa Giêsu luôn khác cách thức của chúng ta, chắc hẳn đôi khi chúng ta cũng thực sự cảm thấy “khó chịu”, bởi vì những gì mình làm không được ai biết đến – nhất là những điều hay, điều tốt.  Chỉ trong một đám tiệc nhỏ, chẳng nhiều người, vậy mà người ta cũng muốn thể hiện “tài năng” của mình bằng cách giành nhau hát, giành nhau nói.  Thế nhưng Chúa Giêsu lại bảo chúng ta phải âm thầm và kín đáo, không được phô trương hoặc khoe khoang.  Thật vậy, chính Ngài kề tai nhắn nhủ mỗi chúng ta: “Khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc bố thí được kín đáo.  Và Cha của bạn, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho bạn” (Mt 6:3-4).

Để chúng ta có thể nhận thức rõ ràng hơn, Chúa Giêsu đưa ra ví dụ rất cụ thể: “Khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy.  Thầy bảo thật anh em: chúng đã được phần thưởng rồi.  Còn bạn, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của bạn, Đấng hiện diện nơi kín đáo.  Và Cha của bạn, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho bạn” (Mt 6:5-6).  Im lặng là khôn ngoan, im lặng là mạnh mẽ, không phải ai cũng có thể làm được như vậy!

Mùa Chay có một chuỗi hoạt động liên kết chặt chẽ với nhau: sám hối – ăn chay – cầu nguyện – bác ái. Đó là quy trình cần thiết trong Hành Trình Mùa Chay.  Hành trình đó không là 40 ngày hoặc 40 năm, mà là hành trình cả đời, không được lơ đãng bất kỳ một giây phút nào.  Tịnh tâm rất cần để hồi phục, cả về thể lý lẫn tinh thần.  Trai tịnh nghĩa là ăn chay cả thể lý lẫn tinh thần.

Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin biến đổi chúng con, xin giúp chúng con biết chân thành trở về với Ngài và trở về với tha nhân bằng hành động cụ thể là yêu thương và tha thứ cho nhau, để chúng con xứng đáng được thông phần đau khổ với Con Một Ngài, tràn trề hy vọng được sống lại với Đấng-Tử-Nạn-và-Phục-Sinh.  Xin biến đổi các tội nhân và nâng đỡ những người đau khổ.  Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại.  Amen!

Trầm Thiên Thu

CHIẾN THẮNG CÁM DỖ

Con người sống trên đời luôn bị quay cuồng bởi nhiều cám dỗ.  Nhà thơ Trần Tế Xương đã gọi mặt đặt tên những cám dỗ ấy thành “ba thứ lăng nhăng nó quấy ta,” đó là trà, rượu và đàn bà.  Người ta vẫy vùng muốn thoát khỏi những cám dỗ, nhưng không dễ dàng, vì cám dỗ như chiếc lưới bủa vây ràng buộc, càng vùng vẫy càng mắc sâu hơn.

Với cuộc sống tiện nghi của thời đại hôm nay, cám dỗ không dừng lại ở “ba cái lăng nhăng” như thời Cụ Tú Xương, nhưng đa dạng và nguy hiểm hơn nhiều.  Một trong những cám dỗ nghiêm trọng nhất lôi kéo chúng ta, đó là chối bỏ Thiên Chúa, tự cho mình có thể thay thế Ngài trong đời sống hằng ngày.

Thực ra, đây không phải là một cơn cám dỗ mới.  Chính Chúa Giêsu cũng đã bị ma quỷ cám dỗ.  Mỗi khi Mùa Chay về, chúng ta lại được chiêm ngưỡng hình ảnh Chúa Giêsu cầu nguyện và ăn chay trong sa mạc.  Nơi đây, Người đã chiến đấu với ma quỷ đang dụ dỗ Người từ bỏ sứ mạng thiên sai mà Chúa Cha trao phó.  Ma quỷ còn hứa cho Chúa tất cả vinh hoa phú quý ở đời, miễn là sấp mình thờ lạy nó.  Chúa Giêsu đã chiến thắng ma quỷ.

Cám dỗ phủ nhận Thiên Chúa và muốn thay thế Ngài, đó cũng là cám dỗ của ông bà Nguyên tổ ở khởi đầu của lịch sử.  Ông Ađam và bà Evà đã nghe con rắn dụ dỗ, muốn được thông minh và quyền năng như Thiên Chúa.  Ông bà đã muốn đổi ngôi, từ thân phận thụ tạo thành vị trí “đấng sáng tạo.”  Cơn cám dỗ ở đầu lịch sử vẫn luôn hoành hành và gặm nhấm mỗi người chúng ta, nhất là trong xã hội hiện đại hôm nay, khi con người cậy dựa vào những phát minh của khoa học và tự cho rằng kỹ nghệ sẽ đem lại hạnh phúc cho con người.  Nhiều phong trào xã hội mượn danh “dân chủ”, “văn minh” đã muốn loại bỏ Thiên Chúa và giáo huấn của Ngài và thay thế vào đó là những ý thức hệ vô thần, hoặc nền văn hoá sự chết.  Có những cơn cám dỗ mang khuôn mặt khả ái, những chức danh mỹ miều hoặc nhân danh lòng đạo đức, nhưng thực ra nó chứa nọc độc, nhằm lôi kéo con người xa Chúa.  Khi chối bỏ Thiên Chúa, nhiều người muốn tôn thờ vinh hoa phú quý như một thứ thần linh.  Họ coi của cải, giàu có là mục đích tối thượng của cuộc đời.  Họ quên rằng, tiền bạc không phải bao giờ cũng đem lại cho con người hạnh phúc.  Một khi vắng bóng Thiên Chúa, cuộc đời này sẽ thiếu vắng tình yêu và tràn lan những hận thù.

Trong Sứ điệp Mùa Chay năm 2016 này, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói về tình trạng sự mù loà của con người thời nay trước nỗi khổ của tha nhân, và do đó, họ ảo tưởng trong những quan điểm về cuộc sống.  Ngài viết: “Lời ma quỷ nói với Bà Evà: Bà sẽ nên giống Thiên Chúa” (St 3, 5), là gốc rễ của mọi tội lỗi.  Ảo tưởng này có thể mang những hình thức xã hội và chính trị, được biểu lộ nơi hệ thống độc tài toàn trị của thế kỷ XX, và trong thời đại của chúng ta, nơi những ý thức hệ độc quyền về tư tưởng và khoa học công nghệ, loại trừ Thiên Chúa và giảm thiểu con người thành thứ vật chất đơn thuần để khai thác bóc lột.  Ảo tưởng này cũng có thể được thấy trong những cơ cấu tội lỗi liên quan đến mô hình phát triển sai lầm đặt nền trên việc tôn thờ tiền tài, dẫn đến việc thiếu quan tâm về thân phận người nghèo nơi một số cá nhân và xã hội giàu có hơn; họ đóng chặt cửa mà chẳng thèm đếm xỉa đến người nghèo.”

Mùa Chay giúp chúng ta nhìn nhận thân phận mình, với biết bao yếu đuối và lỗi lầm, rất cần được Chúa tha thứ và đỡ nâng.  Ông Môi-sen đã chỉ dẫn cho người Do Thái, khi đến dâng của lễ, hãy thưa với Chúa về nguồn gốc du mục của mình và nhớ lại những điều tốt lành Ngài đã làm với tổ phụ họ (Bài đọc I), nhờ đó, họ dâng của lễ với lòng tri ân chân thành và đáng được Chúa chấp nhận.  Nhìn nhận thân phận mình sẽ giúp chúng ta khiêm tốn và sám hối sửa mình, và nhờ đó, chúng ta được đón nhận lòng Chúa xót thương.

“Đã có lời chép: ‘Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi.”  Chúa Giêsu đã tuyên bố với tên cám dỗ như vậy.  Đây cũng là lời giáo huấn dành cho chúng ta, là những tín hữu.  Như Chúa Giêsu đã trung thành với sứ mạng, dù phải chấp nhận thập giá, mỗi chúng ta được kêu mời kiên vững trong Đức tin, dù phải trải qua phong ba bão táp của cuộc đời.

Lửa thử vàng, gian nan thử đức.  Những cám dỗ chúng ta gặp trong đời là thước đo sự trưởng thành của chúng ta trong Đức tin và sự tín thác vào Chúa.  Thánh Phaolô nói với chúng ta về một Đức tin đích thực: “Quả thế, có tin thật trong lòng, mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn cứu độ” (Bài đọc II).  Lời cầu nguyện của Phụng vụ khi bước vào Mùa Chay: “Hôm nay, chúng con bước vào mùa tập luyện chiến đấu thiêng liêng…” đã nói lên mục đích của mùa Phụng vụ này.  Xin cho Mùa Chay thánh này giúp chúng ta tìm được sức mạnh, sự bình an và niềm vui thánh thiện.  Amen!

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

GIỮ CHAY THẾ NÀO CHO ĐẸP LÒNG CHÚA

Hôm nay, cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta bước vào Mùa tập luyện thiêng liêng bằng việc xức tro và ăn chay để khởi đầu Mùa Chay Thánh.  Mùa Chay được bắt đầu từ thứ Tư Lễ Tro và kết thúc vào thứ Sáu Tuần Thánh.  Mùa Chay được kéo dài năm tuần lễ để chuẩn bị tâm hồn mừng đại lễ Phục Sinh là đỉnh cao của niềm tin Kitô Giáo.  Tuy nhiên, có điều là: Mùa Chay đã diễn ra hằng năm, nhưng tại sao đời sống đạo của chúng ta vẫn chỉ dừng lại nhiều ở góc độ bên ngoài mà đời sống tâm linh không có gì thay đổi lắm!  Nguyên nhân tại đâu và việc chúng ta ý thức về nó như thế nào?  Đâu là điều Chúa và Giáo Hội muốn nơi người tín hữu mỗi khi Mùa Chay về?  Nhân ngày thứ Tư Lễ Tro, chúng ta hãy làm mới lại tinh thần về ngày lễ này.

Xức Tro

Việc xức tro lên đầu nhắc chúng ta về thân phận hữu hạn, tro bụi của kiếp người.  Vì thế, Tổ Phụ Abraham đã thưa với Chúa: “Con chỉ là thân tro bụi” (St 18, 27).  Thật vậy, con người được hiện hữu trên trần gian này là do tình thương của Thiên Chúa.  Nhưng tiếc thay, tình thương ấy đã bị con người lạm dụng và hướng chiều về tội lỗi thay vì biết ơn!  Mỗi khi xức tro, Giáo Hội nhắc chúng ta: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1, 14) để được Thiên Chúa tha thứ.

Những ý nghĩa này được khởi đi từ những câu chuyện trong Kinh Thánh Cựu Ước, điển hình như: tiên tri Giêrêmia kêu gọi sám hối: “Thiếu nữ dân tôi ơi, hãy quấn vải thô vào mình và lăn trên tro bụi” (Gr 6, 26).  Không chỉ dừng lại ở lời khuyên, tiên tri Đanien xin Chúa cứu dân Itrael, và nêu gương cho họ khi nói và hành động: “Tôi ăn chay, mặc áo vải thô và rắc tro lên đầu rồi ngẩng mặt lên Chúa Thượng là Thiên Chúa, để dâng lời khẩn nguyện nài van” (Đn 9, 3).  Đến thời Giona, Đức Chúa truyền cho ông loan báo về tai ương mà Đức Chúa sẽ giáng xuống trên dân, nếu dân không ăn năn sám hối.  Ông đã loan báo công khai, mãnh liệt, ráo riết, nên: “Tin báo đến cho vua Ninivê; vua rời khỏi ngai, cởi áo choàng, khoác áo vải thô, và ngồi trên tro” (Gn 3, 6).

Sang thời Tân Ước, Đức Giêsu vẫn giữ nguyên giá trị và ý nghĩa của việc xức tro.  Tuy nhiên, Ngài hối thúc và cảnh báo sự chai lỳ cứng cỏi của dân khi nói: “Khốn cho các ngươi, hỡi Khoradin!  Khốn cho ngươi, hỡi Bétxaiđa!  Vì nếu các phép lạ đã làm nơi các ngươi mà được làm tại Tia và Xiđon, thì họ đã mặc áo vải thô, rắc tro lên đầu tỏ lòng sám hối.  Vì thế, Ta nói cho các ngươi hay: đến ngày phán xét, thành Tia và thành Xiđon còn được xử khoan hồng hơn các ngươi” (Mt 11, 21 – 22; x. Lc 10, 13).  Tro còn nói đến một điềm gở, mà cụ thể là cái chết của mỗi người và nhân loại.  Vì thế, tiên tri Giêrêmia đã mô tả như: “Thung lũng tử thi và tro thiêu xác” (x. Gr 31, 40).  Nói như thánh Phaolô: “Mỗi ngày tôi phải đối diện với cái chết” (1 Cr 15, 31).  Vì thế, chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng, không thể chần chừ.  Chuẩn bị tức là sống theo tinh thần của Chúa.

Như vậy, hành động xức tro lên đầu ngoài việc công khai nhận mình là người có tội và tỏ lòng sám hối chân thành, để xin ơn thương xót của Thiên Chúa, chúng ta còn thể hiện sự quyết tâm trở về với Chúa, đổi mới tâm hồn để xứng đáng là con Chúa.  Một trong những điều thể hiện sự trở về, đó là việc chay tịnh. Tuy nhiên, giữ chay thế nào mới đúng với tinh thần mà Chúa mong muốn?

Ăn Chay

Ăn chay khởi đi từ tinh thần thờ phượng Thiên Chúa và làm đẹp lòng Người, để dâng cho Người một phân nửa của cải (x. Ds 29,7; Cv 13,2),  (x. Tl 20,26; Gđt 8,6).  Ăn chay còn có ý nghĩa nữa là thể hiện lòng đạo đức để được Thiên Chúa nhận lời (x. 2Sm 12,16-22; Er 8,21; để đền tội, xin Thiên Chúa tha thứ (x. Lv 23,27; Hc 34,26; Đn 10,2); để hỗ trợ việc trừ quỉ… (x. Mt 17,21).

Ăn chay còn thể hiện tính vị tha là thực hiện công lý và tình thương (x. Is 58,6-7), để thánh hóa bản thân, siêu thoát tinh thần để được sự sống đời đời.  Không bám viú vào của cải, sức riêng cách thái quá, vì: “Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4, 4).  Thật vậy, nếu không ăn chay với những mục đích đã kể trên thì sẽ trở thành công dã tràng!  Điều này đã được thánh Phaolô nói: “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (1Cr 13,3).

Cách giữ chay của người Công Giáo hiện nay

Ngày nay, tinh thần ăn chay của người Công Giáo xem ra đã bị lạm dụng, hay hướng chiều về những hành vi tiêu cực.

Có những người ăn chay, bố thí… chỉ vì mục đích được khen là đạo đức, họ ủ dột, thê lương, cốt để làm sao cho mọi người biết mình là người nghiêm chỉnh giữ chay.  Lại có những người ăn chay chỉ vì sợ luật hay sợ Chúa phạt.  Vì thế, nếu trong ngày, lỡ cách nào đó mà phạm luật, họ hoang mang đến bất an chỉ vì trót ăn vặt, không đúng giờ, đúng bữa…  Cũng có những người tính toán đến độ ngày mai ăn chay, thì hôm nay ăn uống cho đã để ngày mai đỡ thèm, hoặc ăn chực nằm chờ cho qua thời gian luật định, tức là qua 24h, sau đó nhậu nhẹt hả hê.  Họ làm như thế và an tâm vì đã giữ trọn ngày chay theo đúng luật.  Vì thế, không lạ gì khi có những người mỉa mai cách thức ăn chay của chúng ta rằng: “thứ ba béo”; “thứ năm sung sướng.”  Đáng buồn hơn nữa là: có nhiều gia đình ngày chay kiêng thịt thì lại đi mua những thứ cao lương mỹ vị như: hải sản, tôm hùm hay những thứ khác đắt tiền hơn thịt nhiều…

Tinh thần ăn chay như thế, hẳn chúng ta thua xa về ý thức nơi anh chị em các tôn giáo khác về việc giữ chay!  Mặt khác, điều chúng ta dè bửu người Pharisêu hình thức khi xưa, khi họ lo giữ cho sạch chén bát bên ngoài, còn trong lòng thì toàn sự hận thù, ghen ghét, ích kỷ, kiêu ngạo (x. Mc 7,1-8a.14-15.21-23), thì nay, chúng ta lại đi vào chính vết xe đổ của họ, chẳng khác gì “gậy ông đập xuống lại dần lưng ông.”  Nói cách khác, chúng ta là con đẻ của nhóm hình thức vụ luật.  Thiết nghĩ, ăn chay như vậy, hẳn chúng ta chẳng khác gì những Pharisêu!  Vì thế, chúng ta không lạ gì khi Đấng thấu suốt mọi điều kín nhiệm là Đức Giêsu đã quở trách họ cách nặng nề: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mc 7, 6).  Ăn chay kiểu như thế quả thật vô nghĩa vì đã đánh mất đi ý nghĩa thánh thiêng của ngày Thánh, ngày dành cho Thiên Chúa và vì ơn cứu độ của mình và tha nhân.

Việc ăn chay của Kitô giáo phải gắn liền cuộc đời, lời nói và hành vi của mình với Đức Kitô, nếu không, chúng ta chỉ là cỗ máy không hồn, như chiếc thùng kêu to, nhưng thực chất nó rỗng, và đôi khi chúng ta trở thành danh hài hay con hề trên sân khấu.  Thánh Phaolô đã cẩn trọng nhắc nhở những kẻ như trên trong thời của Ngài, khi nói: “Anh em mà tìm sự công chính trong Lề Luật, là anh em đoạn tuyệt với Đức Kitô và mất hết ân sủng” (Gl 5,4) khi chỉ lo giữ luật mà không có đức mến và đức ái đi kèm.

Người Công Giáo ăn chay, ngoài việc liên đới với Thiên Chúa, chúng ta còn gắn liền với các mối tương quan nơi tha nhân.  Vì thế, Giáo Hội mời gọi chúng ta dành ra một chút hy sinh về của cải vật chất mà lẽ ra chúng ta được hưởng để chia sẻ cho người túng nghèo, lo truyền giáo, giúp đỡ các bệnh nhân…  Nói cách khác, việc ăn chay phải nhằm xây dựng Nước Trời ở trần gian này, nghĩa là phải biến việc ăn chay thành một phong cách sống nhằm xây dựng xã hội hay Giáo Hội ngày càng tốt đẹp hơn, công lý và tình thương hơn.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta: “Hãy xé tâm hồn chứ đừng xé áo” (Ge 2, 12-18); “Hãy làm hoà cùng Chúa đi…  Bây giờ là cơ hội thuận tiện” (2 Cr 5, 20 – 6, 2).

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con hiểu rằng: muốn được phục sinh với Chúa, chúng con phải qua con đường thập giá.  Phải chiến đấu và tập luyện các nhân đức cách sốt sắng, để thêm lòng yêu mến Chúa và liên đới với tha nhân.  Amen!

Jos. Vinc. Ngọc Biển

QUÀ TẶNG CỦA SỰ KHÔN NGOAN

Thiên Chúa, Đấng trao ban món quà là khôn ngoan,
Và tôi là kẻ kiếm tìm.

Ai là kẻ kiếm tìm?  Đó là kẻ thành tâm khao khát được biết, được triển nở, và được dư đầy.  Và tôi, tôi đang tìm kiếm điều gì?  Điều cao quí nhất tôi đang tìm là sự KHÔN NGOAN.  Khôn ngoan là dạng thức cao nhất của tri thức, vốn được nảy sinh không chỉ từ trí năng, nhưng còn từ kinh nghiệm sâu xa của con người.  Mẫu thức cao nhất của tri thức là chính THIÊN CHÚA.

Vua Salômôn yêu mến sự khôn ngoan.  Ông diễn tả sự khôn ngoan như sau:

Từ thời trai trẻ, tôi đã yêu quí và kiếm tìm Đức Khôn Ngoan làm bạn đời; và vẻ đẹp của Đức Khôn Ngoan làm tôi say đắm…  Đức Khôn Ngoan đã được truyền thụ những hiểu biết về Thiên Chúa, và chính Đức Khôn Ngoan quyết định về những công trình của Người (Kn 8: 2-4).

Ngay lúc này, tôi có đang kiếm tìm THIÊN CHÚA trong đời sống của tôi chăng?  Nếu tôi tìm kiếm Thiên Chúa, Ngài sẽ tìm thấy tôi (không phải tôi tìm được Ngài).  Và đó là một huyền nhiệm.  Ngài đã ban cho tôi sự khôn ngoan.  Và sự khôn ngoan, một món quà đặc biệt, được thông ban qua những cơ hội, những kinh nghiệm, và thậm chí qua cả những lỗi lầm, thiếu sót.  Món quà khôn ngoan đặc trưng ở chỗ nó chỉ xuất hiện khi tôi nhận ra bài học từ những lỗi lầm, thất bại, hay khi nhận ra một cơ hội nào đó đang được trao cho tôi, hay khi tôi nhận ra một biến cố trong đời khiến tôi phải tiến tới với thái độ phản tỉnh sâu sắc hơn.

Chúng ta đang sống trong thời đại “bùng nổ thông tin” – có quá nhiều thông tin đến nỗi chúng ta không biết phải chọn cái nào cho hợp lẽ.  Cùng với chuyện mạng Internet trở nên thứ nằm trong tầm tay mỗi người, thì một cuộc cách mạng công nghệ thông tin gần đây đã làm đổi thay cả địa cầu.  Nhiều người thừa nhận rằng trẻ em trong thời đại của chúng ta “am hiểu” nhiều hơn cả người lớn.  Thế nhưng, có thể nói được rằng sự KHÔN NGOAN đang dần biến mất trong một viễn ảnh như thế – cũng chẳng khác gì việc nhiều loại ngôn ngữ và chữ viết đang dần biến mất trên đất nước này (tác giả đang muốn nói về đất nước Ấn Độ)!  Phàm ai là cha mẹ, người ấy hiển nhiên cần sự khôn ngoan.  Điều mà bằng bất cứ giá nào cha mẹ cần hướng đến chính là một tương lai rạng ngời cho con cái.

Chúng ta đang hướng con cái đến một tương lai tốt đẹp trong khi chúng ta (những người lớn) lại hành động cách vô trách nghiệm đối với những nguồn tài nguyên mà những người trưởng thành của tương lai cần đến!!!  Người ta bận tâm, lo lắng nhiều cho hiện tại, nhưng hầu như chẳng làm gì để đảm bảo một tương lai tốt đẹp.  Những giá trị đạo đức và cảm thức nhân loại dường như bị hạ thấp và nhấn chìm trong một thế giới cạnh tranh “khốc liệt.”  Những ai được xem là khôn ngoan thì đã quyết không tham gia vào cuộc chạy đua điên khùng này.

Có một sự giảm trừ đáng kể về mối quan tâm đến sự khôn ngoan.  Chúng ta cần trở nên những kẻ kiếm tìm và chỉ qua đó, chúng ta mới có thể trở nên tương hợp với sự khôn ngoan.  Kẻ kiếm tìm không thuộc loại người chỉ biết vun vén cho mình.  Kẻ ấy nỗ lực không ngừng hầu đặt mình trong tâm thế tìm kiếm Thiên Chúa, đấng ban phát sự khôn ngoan.

Có hai vấn đề ngày nay chúng ta phải đối diện trong việc tìm kiếm Thiên Chúa:

Những sao nhãng

Khi tâm trí trở nên yếu đuối, chúng ta dễ dàng bị sao nhãng.  Thế giới bên ngoài thực là quyến rũ và thu hút, chính vì vậy chúng ta đôi khi trở nên gắn bó với thế giới ấy, mà chẳng có một nỗ lực gì để nhận ra.  Tâm trí chúng ta xem đó là điều tốt và vì vậy cứ bám chặt lấy nó.  Ngay cả những lo âu cũng là một sự gắn bó hay một sự quyến luyến tồn tại trong ta!  Đó là một sự gắn bó với điều vốn bao trùm lên cả cái người ta chỉ có thể làm chủ một phần, và cả cái mà người ta không điều khiển được chút nào.

Tình trạng bão hòa

“Tôi biết đủ rồi,” “tôi đã học đủ rồi,” hay “Thiên Chúa đã nghe lời tôi cầu xin rồi,” hay “tôi và Chúa đã có một tương quan gần gũi vừa đủ rồi!” – tất cả những thái độ như thế chỉ cho thấy rằng đang có tình trạng bão hòa nào đó khởi đi từ sự nhàm chán hay một cảm giác dư thừa.  Tình trạng bão hòa như thế cũng có thể đến từ lý do tuổi tác.  Khá thường xuyên, chúng ta nghĩ rằng bởi vì đến độ tuổi nào đó, chúng ta biết được về nhiều thứ rồi, hoặc đã đạt được một vị trí nào đó rồi, nên chúng ta có thể khẳng quyết những am hiểu và cả sự khôn ngoan, ngay cả đối với những chủ đề chúng ta không biết rõ.  Với cả cái bão hòa đến từ sự nhàm chán và lý do tuổi tác, chúng ta sẽ ngừng lại trên hành trình tìm kiếm Thiên Chúa.

Tôi có đang tìm kiếm Thiên Chúa, Đấng ban cho tôi quà tặng sự khôn ngoan, hay chẳng còn ham hở kiếm tìm Ngài nữa rồi?

Kinh Thánh nói

Thánh Vịnh 111:10 Kẻ kính sợ Chúa là đầu mối khôn ngoan.  Sáng suốt thay kẻ thực hành như vậy.  Mãi đến thiên thu còn vang tiếng ngợi khen Ngài.

Gia-cô-bê 1:5 Nếu ai trong anh em thiếu đức khôn ngoan, thì hãy cầu xin Thiên Chúa, Người sẽ ban cho.  Vì Thiên Chúa ban cho mọi người cách rộng rãi, không quở trách.

Châm Ngôn 16:16 Được khôn ngoan tốt hơn được vàng, được hiểu biết tốt hơn được bạc.

Đa-ni-en 2:23 Lạy Ngài là Chúa của tổ tiên chúng con, con cảm tạ và ngợi khen Ngài, vì Ngài đã cho con sự khôn ngoan và sức mạnh.  Và giờ đây, Ngài đã cho con biết chuyện của nhà vua.

Người ta nói

“Đời sống là quà tặng của tự nhiên, nhưng sống đẹp là quà tặng của sự khôn ngoan.” – Greek Adage

“Khôn ngoan là hồng ân đặc biệt vốn cho phép con người có khả năng nhìn mọi sự với cặp mắt yêu thương của Thiên Chúa.  Một cách mộc mạc và đơn sơ, khôn ngoan là chiêm ngắm những cảnh huống, những tình thế, những vấn nạn, và mọi sự thuộc về thế giới dưới ánh nhìn của Thiên Chúa.  Khôn ngoan là thế đó.  Chúng ta thường nhìn điều này điều nọ theo cách chúng ta muốn hay theo con tim nhân loại vốn gắn liền với cả những thiện cảm và ác cảm, với cả những đố kỵ, ghen tương.  Không!  Đó không phải là ánh mắt của Thiên Chúa.  Khôn ngoan là chính hoạt động của Chúa Thánh Thần trong ta, và nhờ đó mỗi người có thể nhìn mọi sự dưới ánh nhìn của Thiên Chúa.  Và đó chính là món quà sự khôn ngoan.” – Đức Thánh Cha Phan-xi-cô

“Biết mình là căn nguyên của mọi lẽ khôn ngoan.” – Aristotle

“Ta khả dĩ học được điều khôn trong ba cách này: Thứ nhất là qua việc suy tư phản tỉnh, vốn được xem là cao quí nhất; Thứ hai là noi gương bắt chước, cách này xem ra là dễ nhất.  Và thứ ba là qua kinh nghiệm, ở cách này, người ta sẽ phải nếm vị đắng cay nhất.” – Khổng Tử

Robin Seelan, S.J. – Chuyển ngữ: Đaminh Phan Quỳnh, S.J.
Nguồn: Robin Seelan, S.J., The Gifts, (Banglore, India: Asian Trading Corporation, 2016), 26-31.

LẤY RÁC, LẤY XÀ

Biết mình là chuyện không dễ.  Ở một đền thờ bên Hy Lạp có khắc câu: Hãy biết mình.  Chẳng ai gần gũi với mình bằng chính bản thân mình.  Vậy mà tôi vẫn là một bí ẩn đối với tôi.  Người ta thích làm những bản trắc nghiệm để biết về chỉ số thông minh, về tâm lý, tính tình…  Nhưng để biết mình cần trắc nghiệm bằng cả cuộc đời.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Ðức Giêsu nói về chuyện thấy mình.  Ngài dùng lối ngoa ngữ để dạy dỗ môn đệ.  Tôi không thấy cái xà trong mắt mình, nghĩa là không nhận ra nơi tôi một khuyết điểm trầm trọng mà ai ai cũng thấy, trừ chính tôi.  (Tôi không thể thấy hay tôi không muốn thấy!)  Nhưng tôi lại thấy cái rác nhỏ trong mắt anh em.  Dường như thấy cái rác nhỏ nơi mắt người khác dễ hơn là thấy cái xà nơi mắt mình.  Phải chăng vì đứng gần mình quá nên tôi không thấy rõ, hay vì tôi vẫn coi mình là hoàn hảo nên khó chấp nhận những thiếu sót nơi mình?

Ðể thấy mình, cần khiêm tốn hỏi và nghe người khác.  Anh em tôi biết về tôi hơn tôi biết tôi.  “Hãy để tôi lấy cái rác trong mắt anh.  Tôi vẫn thường nói như vậy và làm như vậy.  Hăng hái, vội vã giúp người khác sửa mình, sửa cả những chuyện chẳng đáng gì.  Ðức Giêsu không cấm ta góp ý cho người khác, nhưng Ngài dặn ta trước hết hãy lấy xà khỏi mắt mình, để thấy rõ mà lấy rác nơi mắt anh em.

Bao dung hơn với tha nhân, và nghiêm khắc hơn với chính mình.  Không coi cái xà của mình nhỏ hơn cái rác của anh em.  Không thổi phồng tội người khác, không thu nhỏ lỗi của mình.  Khiêm tốn sửa mình trước khi góp ý cho tha nhân.

Ðức Giêsu còn cho ta những nguyên tắc nhận định.

Nguyên tắc thứ nhất: xem quả thì biết cây.  Bụi gai không sinh trái vả, bụi rậm không sinh trái nho.  Nhìn hậu quả, ta biết được nguồn gốc, nguyên nhân.  Ðể khỏi bị lừa, hãy để ý đến hậu quả cuối cùng: quả tốt do cây tốt, quả xấu do cây xấu.  Lắm khi ma quỷ giả dạng thiên thần sáng láng, lừa phỉnh dụ dỗ, cho ta trái thơm ngon.  Nhưng cuối cùng trái ngon lại là trái độc.  Cần có thời gian lâu dài và theo dõi kỹ lưỡng ta mới thấy ma quỷ lòi đuôi xấu xa của nó.

Nguyên tắc thứ hai: lòng có đầy, miệng mới nói ra.  Lời nói là hoa quả của lòng dạ con người.  Những lời giả dối sớm muộn cũng sẽ bại lộ.  Nếu chúng ta được Chúa biến đổi cái tâm của mình, hẳn toàn bộ đời sống bên ngoài của ta cũng đổi.  Nhưng đổi bên ngoài cũng ảnh hưởng đến bên trong.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.

**************************************

Lạy Chúa, xin dạy con luôn tươi tắn và dịu dàng trước mọi biến cố của cuộc sống, khi con gặp thất vọng, gặp người hờ hững vô tâm, hay gặp sự bất trung, bất tín nơi những người con tin tưởng cậy dựa.

Xin giúp con gạt mình sang một bên để nghĩ đến hạnh phúc người khác, giấu đi những nỗi phiền muộn của mình để tránh cho người khác phải đau khổ. 

Xin dạy con biết tận dụng đau khổ con gặp trên đời, để đau khổ làm con thêm mềm mại, chứ không cứng cỏi hay cay đắng, làm con nhẫn nại chứ không bực bội, làm con rộng lòng tha thứ, chứ không hẹp hòi hay độc đoán, cao kỳ.

Ước gì không ai sút kém đi vì chịu ảnh hưởng của con, không ai giảm bớt lòng thanh khiết, chân thật,

lòng cao thượng, tử tế, chỉ vì đã là bạn đồng hành của con trong cuộc hành trình về quê hương vĩnh cửu.

Khi con loay hoay với bao nỗi lo âu bối rối, xin cho con có lúc thì thầm với Chúa một lời yêu thương.

Ước gì đời con là cuộc đời siêu nhiên, tràn trề sức mạnh để làm việc thiện, và kiên quyết nhắm tới lý tưởng nên thánh.  Amen!

(dịch theo Learning Christ)

CẦU NGUYỆN NHƯ TU SĨ VÀ CẦU NGUYỆN CẢM TÍNH

Cầu nguyện được định nghĩa theo cách cổ điển là nâng tâm hồn và quả tim lên Thiên Chúa.  Đó là một định nghĩa hay, nhưng cần một tiêu chuẩn quan trọng.

Có hai hình thức cầu nguyện cốt yếu: Một, chúng ta gọi là cầu nguyện phụng vụ, cầu nguyện chung trong nhà thờ, và một, chúng ta gọi là cầu nguyện riêng tư hay sốt sắng.  Thật không may, chúng ta thường lẫn lộn giữa hai cái.

Chẳng hạn, năm trăm người có thể cùng nhau ngồi chiêm niệm trong nhà thờ hay cùng nhau lần chuỗi mân côi trong đền thánh, thì việc cầu nguyện ở đây vẫn có tính cách riêng tư sùng kính.  Ngược lại, người đọc giờ kinh Phụng Vụ ở nhà trong chiếc ghế bành, hay một linh mục dâng Thánh Lễ một mình tại bàn ăn, nhưng cả hai đều có tính cách phụng vụ chung.  Như chúng ta thấy từ các thí dụ này, sự phân biệt không phụ thuộc vào số người tham dự, nơi cử hành hay đó là cầu nguyện chung hay riêng tư.  Sự phân biệt được căn cứ trên một điều khác.  Điều gì?

Có lẽ một thay đổi trong cách gọi tên có thể giúp chúng ta hiểu rõ phân biệt này: Cầu nguyện phụng vụ hay cầu nguyện chung có thể gọi là cầu nguyện như hàng tu sĩ, cầu nguyện riêng tư và sùng kính có thể gọi là cầu nguyện cảm tính.

Cầu nguyện như tu sĩ là cầu nguyện như thế nào?  Đó là lời cầu nguyện của Đức Ki-tô thông qua Giáo Hội hoàn cầu.  Đức tin Ki-tô giáo của chúng ta là tin Đức Ki-tô vẫn còn quy tụ chúng ta lại để nghe Lời Người và để trao ban hành động yêu thương cho thế gian.  Nối dài hành động này, bất cứ lúc nào chúng ta gặp nhau, trong nhà thờ hay một nơi nào khác, quây quần bên Sách Thánh hay cử hành bí tích Thánh Thể, chúng ta đang cầu nguyện như các linh mục và hiệp thông với hiến tế của Đức Ki-tô.  Đó là cầu nguyện phụng vụ; là cầu nguyện của Đức Ki-tô, không phải cầu nguyện của chúng ta.  Chúng ta cầu nguyện phụng vụ bất cứ lúc nào chúng ta quy tụ để cử hành phụng vụ Lời Chúa, các phép bí tích, hay khi chúng ta cầu nguyện trong cộng đoàn hay một cách riêng tư, cái được gọi là Cầu Nguyện Giáo Hội hay Lễ Nghi Giáo Hội (Kinh Sáng và Kinh Chiều).

Và hình thức cầu nguyện này không phải chỉ dành cho các linh mục.  Tất cả chúng ta cũng là linh mục, nhờ phép bí tích rửa tội và cũng một phần nhờ vào giao ước ngầm chúng ta ký kết với cộng đoàn khi nhận phép rửa tội, đó chính là sự ràng buộc, và khi đến tuổi trưởng thành, chúng ta thường xuyên cầu nguyện cho thế giới qua giờ kinh phụng vụ với cộng đoàn.

Những gì cần làm nổi bật ở đây là vì chúng ta rất dễ bỏ qua khía cạnh này, rằng cầu nguyện phụng vụ ở nhà thờ là cầu cho thế giới, không phải cho chính nhà thờ.  Nhà thờ, trong thế gian này, không tồn tại cho chính mình, nhưng là công cụ cứu rỗi của thế gian.  Chức năng của nhà thờ là cứu rỗi thế gian, chứ không phải cứu rỗi cho nhà thờ.  Cầu nguyện phụng vụ là chúng ta cầu nguyện với Đức Ki-tô, qua trung gian nhà thờ, nhưng cầu nguyện cho thế giới.

Cầu nguyện thuộc cảm tính mang một ý nghĩa khác.  Mặc dù có nhiều hình thức, chiêm nghiệm, cầu nguyện tập trung, lần chuỗi, sốt sắng cầu nguyện nhiều cách, cầu nguyện cảm tính có một mục đích duy nhất, cuộn chúng ta và người thân vào trong tình mật thiết sâu đậm với Đức Ki-tô.  Rốt lại, dù có thể thức riêng, toàn bộ việc cầu nguyện này có mục đích tạo tình thân mật riêng tư với Thiên Chúa, và cuối cùng nó vẫn mang tính cách riêng tư dù khi cầu nguyện chung hay với một nhóm nhiều người.  Tất cả việc cầu nguyện riêng tư và sốt sắng có thể được định nghĩa theo cách này: Qua nhiều cách cầu nguyện khác nhau, cố gắng mở lòng chúng ta hoặc người thân thế nào để chúng ta có thể nghe ra được Lời Chúa nói với chúng ta: “Ta yêu các con!”

Thật quan trọng để nhận biết sự khác nhau này khi cầu nguyện: Chúng ta đang đi vào hình thức cầu nguyện nào đây?  Nhầm cái này với cái kia là làm phương hại đến cả hai.  Chẳng hạn, một người nào đó cảm thấy nản lòng vì lễ nghi phụng vụ và thái độ của một hội đoàn trong lễ nghi ở nhà thờ, xem đó như chướng ngại và làm xao lãng đến giờ cầu nguyện riêng tư, sốt sắng, người đó đang lẫn lộn hai hình thức của cầu nguyện và kết quả làm phương hại đến cả hai.  Chức năng của cầu nguyện phụng vụ trước hết không có tính cách sốt sắng riêng tư.

Hay thỉnh thoảng sự nhầm lẫn dẫn đến việc buông bỏ hoàn toàn một hình thức cầu nguyện phụng vụ.  Tôi biết một người, sau hai năm cầu nguyện theo Giờ Kinh Phụng Vụ đã thay thế giờ kinh này bằng hình thức cầu nguyện riêng tư vì anh không tìm thấy hình thức cầu nguyện phụng vụ có nhiều ý nghĩa.  Những chiêm nghiệm riêng tư của anh bây giờ có thể là hình thức cầu nguyện cảm tính kỳ diệu, khi cầu nguyện như vậy anh không còn cầu nguyện theo hình thức các linh mục của Đức Ki-tô.  Đôi khi cầu nguyện như thế này cũng có thiện hướng tốt nhưng nó không theo đúng một kế hoạch tốt, nhà thờ, nơi mà giờ kinh phụng vụ chung lại thành giờ chiêm nghiệm riêng tư, tuy tốt lành và mạnh mẽ thiệt nhưng không dùng Sách Thánh cũng như cầu nguyện cho thế giới.

Các Giáo Hội tự đấu tranh với điều này.  Giáo hội Công Giáo La Mã, Giáo hội Anh Quốc, Giáo hội ở Mỹ và các Giáo hội Tin Lành chính thống có một truyền thống phụng vụ kiên cố, thỉnh thoảng đã làm phương hại đến hình thức cầu nguyện cảm tính.  Các Giáo hội thuộc phái Phúc Âm và Thánh Linh, ngược lại, đặt trọng tâm nhiều vào hình thức cầu nguyện cảm tính, thỉnh thoảng có khuynh hướng sao lãng gần như hoàn toàn hình thức cầu nguyện phụng vụ.

Có lẽ bản thân chúng ta cũng thiên vị khi có hai chiếc khăn choàng hình thức cầu nguyện, mỗi cái được thêu khác nhau: Cầu Nguyện Như Tu Sĩ và Cầu Nguyện Cảm Tính.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CHUYỆN CỦA BIỂN

Chúa Giêsu nói: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.  Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13:34-35).

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1939 –2001) nổi tiếng từ lúc còn sinh thời, cả quốc nội và quốc ngoại.  Ông là một trong ba “cây lạ” của làng nhạc Việt Nam – hai “cây” đàn anh kia là nhạc sĩ Văn Cao ( 1923–1995) và Phạm Duy (một “phù thủy” âm nhạc, 1921–2013).

Các ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn không cầu kỳ về tiết tấu và giai điệu, nhưng ca từ như thơ và chứa đầy triết lý sống của kiếp người, có gì đó “bí ẩn.”  Khi sinh thời, cuộc sống đời thường của ông cũng thâm trầm, ít nói.  Hầu như những người có tư tưởng “khác người” thì thường có phong cách như vậy, có lẽ họ “bận” suy tư nhiều.

Thật vậy, văn sĩ William Hazlitt (1778-1830, Anh quốc) vừa so sánh vừa định nghĩa: “Bản chất giản dị là kết quả tự nhiên của tư tưởng sâu sắc.”  Còn ngạn ngữ Hy Lạp nói: “Bình dị là nhịp cầu nối nhân ái và cái đẹp.”

Một trong số ca khúc quen thuộc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là bài “Biển Nghìn Thu Ở Lại.”  Bài này rất ngắn, chỉ 40 chữ, hiếm có bài ngắn như vậy, nhưng nó lại có thể “chở nặng” loại triết lý sống tích cực: Yêu thương và tha thứ.  Ca khúc này được viết ở âm thể LA thứ (Am), nhịp 4/4, tiết tấu cũng hoàn toàn đơn giản.

Ông dùng hình ảnh biển để mô tả, với những mệnh lệnh cách ở thể phủ định:“Biển đánh bờ, xôn xao bờ đánh biển.  Đừng đánh nhau, ơi biển sẽ tàn phai!  Đừng gạch tên, vì yêu đừng xé nát!  Biển là em ngọt đắng trùng khơi.”

Biển luôn có gì đó rất đặc biệt, rất tĩnh mà cũng rất động, rất hiền dịu mà cũng rất dữ dội, rất mềm mà cũng rất cứng, rất yếu mà cũng rất mạnh…  Đặc biệt là biển luôn bao la và sâu thẳm, khôn dò, bí ẩn.  Có lẽ vì vậy mà người ta gọi là biển cả.  Chỉ vì yêu thương mà biển luôn nôn nao, luôn xao xuyến, luôn nổi sóng, lúc thì lăn tăn, lúc thì cồn cào, có lúc vỗ về bờ cát và vách đá, nhưng cũng có lúc biển biết ghen nên xô bờ dữ dội.  Thủy triều cũng biến động theo con trăng, lúc thì nước ròng, lúc thì nước lớn.  Biển rất kỳ lạ!  Và con người cũng vậy…

“Đừng đánh nhau” vì đánh nhau là tự làm hại mình, tự làm mình tàn phai; “đừng gạch tên” bất kỳ ai và “đừng xé nát” mối quan hệ nào, thế mới là “vì yêu thương.”  Chữ “em” ở đây không có nghĩa là một cô gái hoặc một phụ nữ, mà là những người lân cận, những người ở bên mình, những người mà mình gặp gỡ và nhìn thấy hằng ngày – dù người đó cao hay thấp, đẹp hay xấu, dở hay giỏi, dại hay khôn, mập hay gầy, bình thường hay khuyết tật, già hay trẻ, giàu hay nghèo, thông minh hay chậm hiểu, nam hay nữ, quen hay lạ, ưa hay ghét…  Chỉ cần biết một điều: Họ là con người.  Họ có đủ nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền cũng như mình.  Thế thôi!

Câu cuối được chuyển sang LA trưởng (A) như một điệp khúc, với 9 chữ được lặp lại 2 lần: “Biển nghìn thu ở lại, nghìn thu ngậm ngùi.”  Chỉ vài chữ nhưng khiến lòng lắng đọng, trầm tư, buồn riêng cho phận mình, vừa chịu đựng vừa chấp nhận thiệt thòi chứ không trách cứ ai khác.

Thật tốt đẹp thay những người có “tấm lòng của biển”, biết quên mình, biết nhịn nhục và chịu đựng như vậy!

Đức mến rất quan trọng.  Đức mến không chỉ là mến Chúa, mà còn là yêu thương nhau, là thương xót nhau.  Tại sao đức mến quan trọng?  Thánh Phaolô đặt vấn đề: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng.  Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì.  Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” 1 Cr 13:1-3).

Và rồi Thánh Phaolô giải thích tường tận: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật.  Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.  Đức mến không bao giờ mất được.  Ơn nói tiên tri ư?  Cũng chỉ nhất thời.  Nói các tiếng lạ chăng?  Có ngày sẽ hết.  Ơn hiểu biết ư?  Rồi cũng chẳng còn.  Vì chưng sự hiểu biết thì có ngần, ơn nói tiên tri cũng có hạn” (1 Cr 13:4-9).

Còn Thánh Gioan phân tích: “Nếu ai nói ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4:20).

Lạy Thiên Chúa Cha, xin giúp chúng con “thuộc lòng” Bài Học Yêu của Chúa Con đã dạy, và quyết tâm thực hiện bằng mọi giá.  Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ chúng con. Amen.

Trầm Thiên Thu

YÊU NGƯỜI NHƯ CHÚA 

Bài đọc I và bài Tin Mừng hôm nay đều nói về sự tha thứ.  Nhưng ở mức độ khác nhau.

Bài đọc I tường thuật sự tha thứ của Đa-vít.  Đa-vít làm ơn mà mắc oán.  Sau khi chiến thắng Gô-li-át, giải phóng dân Do thái khỏi tay người Phi-li-stinh, ông được dân chúng ca ngợi.  Sự ngưỡng mộ của dân chúng đối với Đa-vít khiến vua Sa-un ghen tỵ.  Sa-un tìm bắt Đa-vít để giết đi.  Hôm nay, sau một cuộc săn lùng mệt mỏi, Sa-un ngủ thiếp đi trong hang đá.  Đa-vít đến mà không ai hay biết.  Có thể giết Sa-un, nhưng Đa-vít đã không làm.  Trong Đa-vít có cái mà ta gọi là bao dung, độ lượng, cao thượng.  Tuy nhiên sự tha thứ của Đa-vít vẫn chưa hoàn toàn tự phát.  Ông không dám giết Sa-un một phần vì sợ xúc phạm đến “người được Thiên Chúa xức dầu”.

Trong quan hệ giữa người với người, nếu tha thứ bạn sẽ được tiếng là độ lượng, còn người được tha thứ bị coi là thua kém bạn.  Bạn được lợi còn người kia bị thiệt.

Trong bài Tin mừng, Đức Giêsu đòi hỏi người môn đệ phải vượt qua cái thường tình.  Người muốn môn đệ vươn đến sự tha thứ hoàn hảo.  Sự tha thứ hoàn hảo của Tin Mừng phải biểu lộ bằng hành động cụ thể: “Ai vả anh em má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa.  Ai đoạt áo ngoài của anh em, thì cũng đừng cản họ lấy áo trong.  Ai xin thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh em, thì đừng đòi lại.”

Không chỉ dừng lại ở hành động bên ngoài, sự tha thứ hoàn hảo phải thấm sâu vào lý trí, không lấy ác báo ác, nhưng cũng không nghĩ xấu về người khác: “Anh em đừng xét đoán, thì sẽ khỏi bị Thiên Chúa xét đoán.  Anh em đừng lên án, thì sẽ khỏi bị Thiên Chúa lên án.”

Thấm vào lý trí đã là một bước tiến dài nhưng vẫn chưa đủ, sự tha thứ còn phải lan đến tận trái tim là trung tâm của tình yêu.  Khi đã chiếm lĩnh được trái tim, sự tha thứ trở nên một sức mạnh kỳ diệu dẫn đến những hành động tích cực, lấy đức báo oán, đem yêu thương xoá bỏ hận thù.  Khi ấy ta mới có thể thực hành Lời Chúa dạy: “Anh em phải yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ oán ghét mình, phải chúc lành cho kẻ nguyền rủa mình và cầu nguyện cho kẻ nhục mạ mình.”

Với những lời dạy dỗ trên, Đức Giêsu muốn cho môn đệ của Người tha thứ và yêu thương không phải như người thường nhưng như Thiên Chúa “Người nhân hậu cả với những phường vô ân, với những quân độc ác.”  Người muốn cho các môn đệ của Người “từ bi như Cha trên trời là Đấng từ bi.”

Với những lời dạy dỗ trên, Đức Giêsu muốn thanh tẩy thế giới sạch mọi oán thù.  Không phải chỉ sạch oán thù ngoài mặt nhưng sạch từ trong thâm tâm mỗi người.  Không phải chỉ bằng mặt mà còn phải bằng lòng.  Sào huyệt vững chắc nhất của oán thù không phải ở nơi người khác nhưng ở trong lòng ta.  Muốn thế giới hết oán thù, chính bản thân ta phải từ bỏ oán thù trước.  Muốn thế giới sống trong yêu thương, chính ta phải yêu thương trước.  Yêu thương giống như ngọn lửa thắp lên rồi sẽ cháy lan mạnh mẽ.  Yêu thương giống như bầu khí toả ra sẽ lan tới từng buồng phổi, sẽ thấm vào từng mạch máu.  Yêu thương chính là sức mạnh biến đổi thế giới sâu xa nhất.  Yêu thương là cuộc cách mạng bền vững nhất.

Đức Giêsu không chỉ nói suông.  Chính Người đã thực hành những điều Người nhắn nhủ các môn đệ.  Người để cho quân lính bắt đi như con chiên hiền lành đứng trước người thợ xén lông.  Người chữa lành tai cho kẻ đến bắt Người.  Người không nói một lời nào trách móc những kẻ làm điều ác cho Người.  Sau cùng, lúc bị treo trên thánh giá, Người còn cầu nguyện cho những kẻ giết Người.  Người đã minh chứng một tình yêu nguyên tuyền không bợn chút oán thù.  Người đã minh chứng một tình yêu mãnh liệt vượt qua mọi ghen ghét.

Hạt giống yêu thương Người đã gieo xuống.  Người mong ta tiếp tục vun tưới cho cây yêu thương kết trái đơm hoa.  Ngọn lửa yêu thương Người đã thắp lên.  Người mong ta hãy đem lửa ấy chiếu soi khắp thế giới.

Lạy Trái Tim Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa.

ĐTGM Giuse Ngô quang Kiệt