THƯ GỞI CON YÊU

Đứa con gái yêu quý của mẹ ơi!

Mẹ đã lẻn vào phòng con, ngồi bên con khi con ngủ, và ngắm nhìn nhịp thở lên xuống của con từng lúc.  Mắt con nhắm lại an bình, mái tóc quăn vàng hoe đóng khung lấy khuôn mặt của con.  Chỉ ít phút trước, khi ngồi trong phòng với công việc giấy tờ của mẹ, một nỗi buồn sâu xa tràn ngập tâm hồn mẹ khi mẹ suy nghĩ tới những biến cố trong ngày.  Mẹ không thực sự tập trung vào công việc được nữa, và vì thế mẹ đã đến để nói chuyện với con trong sự tĩnh mịch khi con đang nằm nghỉ.

Buổi sáng mẹ đã bất mãn với con vì con mặc áo quần quá chậm chạp.  Mẹ đã bảo con từ nay chừa cái tính lờ đờ ấy đi.  Mẹ đã la mắng con vì con đã đặt sai chỗ chiếc vé ăn trưa.  Và mẹ thu dọn bữa điểm tâm với một cái nhìn thất vọng khi con làm đổ đồ ăn trên áo sơ mi của con.

– Lại đánh đổ!

Mẹ đã thở dài lắc đầu nói với con như thế nhưng con chỉ bẽn lẽn mỉm cười với mẹ và nói:

– Tạm biệt mẹ yêu!

Buổi chiều mẹ gọi điện thoại trong khi con chơi trong phòng ngủ của con, ca hát om sòm và diễn kịch một mình với tất cả những đồ chơi được xếp thành những hàng lối vui mắt ở trên giường.  Mẹ cáu kỉnh ra hiệu cho con giữ im lặng và ngưng chơi rồi mẹ tiếp tục bận bịu với công việc trên điện thoại.  Sau đó mẹ ra lệnh như một anh trung sỹ:

– Hãy ngưng những trò làm mất thời giờ như vậy đi!

Con trả lời với vẻ hối hận, trong khi sửa thế ngồi ngay ngắn bên bàn học của con, tay cầm một cây viết chì:

– Thưa mẹ, vâng.

Sau đó căn phòng của con trở lại yên tĩnh.

Buổi tối khi mẹ đang ngồi làm việc nơi bàn, con ngập ngừng tiến lại hỏi với một chút hy vọng:

– Mẹ ơi, chúng ta có đọc truyện tối nay không?

Mẹ trả lời sẵng giọng:

– Tối nay không đọc! Phòng con vẫn bừa bộn!  Mẹ sẽ phải nhắc con bao nhiêu lần nữa?

Con cúi đầu lê bước đi về phòng mình.  Một lúc sau con trở lại hé nhìn vào khe cửa.  Mẹ hỏi bằng một giọng khó chịu:

– Bây giờ con muốn gì?

Con không nói một lời, bước vào phòng, vòng tay ôm cổ mẹ, hôn lên má mẹ và thì thầm:

– Mẹ ơi! Chúc mẹ ngủ ngon!  Con yêu mẹ…

Đó là tất cả những gì con đã nói trong lúc xiết chặt lấy mẹ, rồi con biến đi nhanh như lúc con xuất hiện.

Sau đó, mẹ ngồi dán chặt mắt xuống bàn một lúc lâu, cảm thấy một đợt sóng hối hận dâng trào trong mẹ.  Mẹ tự hỏi, mẹ đã đánh mất nhịp điệu của ngày ở điểm nào và nó đáng giá ở cái gì?  Con đã không làm gì gây ra sự bực tức của mẹ.  Con chỉ là một đứa trẻ bận bịu với nhiệm vụ lớn lên và học hành.  Hôm nay mẹ đã bị lạc đường trong một thế giới của người lớn với những bổn phận, những đòi hỏi và có ít năng lực còn lại để trao cho con.  Hôm nay con đã trở thành thầy dạy của mẹ bằng sự thôi thúc không bị kiềm chế của con để chạy vào hôn chúc mẹ ngủ ngon, dù sau một ngày gian khổ, rón rén chung quanh những cơn giận dữ bực bội của mẹ.

Và lúc này, khi nhìn con nằm ngủ say sưa, mẹ ao ước được bắt đầu lại một ngày.  Ngày mai mẹ sẽ cư xử với nhiều hiểu biết như con đã chỉ cho mẹ hôm nay để mẹ có thể là một người mẹ đích thực:  trao tặng một nụ cười thân ái khi con thức; một lời nói khích lệ khi con đi học về; và một câu chuyện lý thú trước khi ngủ; mẹ sẽ cười khi con cười và sẽ khóc khi con khóc.  Mẹ sẽ nhắc nhớ mình rằng: con là một đứa trẻ, không phải là một người lớn, và mẹ sẽ tận hưởng chức vị làm mẹ của mình.  Tinh thần yêu thương và tha thứ của con hôm nay đã làm mẹ xúc động và vì thế, mẹ đến với con trong giờ phút muộn màng này để cám ơn con – đứa con của mẹ, thầy dạy của mẹ và người bạn của mẹ – về món quà tình yêu của con đã trao ban cho mẹ.

Diane Loomans

TÂM TÌNH GỞI MẸ

(Nhân dịp lễ Mother’s Day, xin thương tặng mẹ  và tất cả những người đã làm mẹ lời tâm tình này như một bó hoa tươi trong ngày lễ mẹ.)

“Anh ơi, anh ơi… mình có con rồi”  đó là giọng rất vui của mẹ nói với ba, sau khi nhìn thấy kết quả của thử nghiệm thai.  Đúng vậy, tôi đã hình thành trong bụng mẹ cách đó hai tuần.  Sự hiện diện của tôi đã làm cho cơ thể mẹ thay đổi, tôi cũng thay đổi rất nhiều thói quen và tánh tình của mẹ.  Tôi “bắt” mẹ phải ăn trong lúc đêm khuya, khi mọi người đang yên giấc và đôi lúc còn làm cho mẹ nôn ói, cáu gắt với mọi người, chắc mẹ mệt lắm!  Nhiều khi  tôi nghịch ngợm đá lung tung làm mẹ phải giật mình, tôi mỉm cười khoái chí… Mẹ nói với tôi:  “Con à, để cho mẹ yên được không?”  Tiếng của mẹ nghe ngọt ngào và êm tai quá.  Những lúc như thế tôi cố gắng ngồi yên không phá nữa, nhưng có những lúc vì muốn nhắc nhở mẹ về sự hiện diện của mình, tôi đá “giò lái” mấy cái làm mẹ giật nẩy mình.

Ở trong bụng mẹ thật sự rất ấm và an toàn, mẹ ôm chặt tôi ở phía trước và mang tôi đi bất cứ nơi nào mẹ đi qua.  Ngày sanh tôi, mẹ quằn quại trong đau đớn.  Tôi biết chứ, nhưng vì cứ tưởng sẽ xa mẹ vĩnh viễn nên không chịu ra đời, sự rụt rè của tôi đã làm cho cơn đau của mẹ kéo dài.  “Xin lỗi mẹ!  Xin lỗi mẹ!  Nhưng mà mẹ biết không, vì không muốn xa mẹ và muốn được làm một với mẹ nên con cứ ì ra không đi đâu cả.”   Khi vừa lọt lòng mẹ, tôi sợ hãi vì thế lấy hết sức mình khóc thật lớn và nghĩ thầm:  “Sao ở ngoài này lạnh thế kia?   Đây là thế giới ồn ào, hoàn toàn khác biệt với thế giới mà mình đã từng sống.  Liệu mình còn có những ngày an bình như ở trong lòng mẹ không?”  Nhưng chỉ vài giây thôi, một vòng tay mềm mại ôm lấy tôi, giọng nói ấm áp quen thuộc vang lên:  “Nín đi con…cục cưng của mẹ sao khóc lớn vậy?”  Nhờ giọng nói êm ái đó, tôi lấy lại bình tĩnh và mỉm cười.  Lần đầu tiên trong đời nhìn thấy mẹ, một cảm giác gần gũi trong tôi vì suốt chín tháng cưu mang mẹ và tôi nối liền nhau, cảm nhận được những niềm vui và nỗi buồn của nhau.

Lúc tôi chập chững những bước đi đầu đời, mẹ là người nắm tay dẫn tôi từng bước, đỡ tôi lúc té ngã.  Chỉ cần mẹ ôm tôi vào lòng xoa nhẹ lên chỗ đau thì vết thương của tôi như đã lành hẳn, tôi quên mất mình vừa bị té.  Nhớ ngày đầu tiên bước vào lớp học, tôi nhút nhát sợ hãi đứng thập thò ở cửa lớp, nhưng mẹ đã giúp tôi thêm can đảm, bước vào lớp với nụ cười gượng gạo để giấu đi giòng lệ đọng trên khoé mắt.  Những trưa hè tan học, tôi chui vào lòng mẹ để được nghe những lời vỗ về, được mẹ xoa vào cái lưng bé xíu.  Ôi, bàn tay mẹ sao mát lạnh và dễ chịu quá, khiến cho giấc ngủ trưa đến với tôi thật êm đềm.  Lúc ốm đau, mẹ là người ngồi cạnh, có lúc đã phải thức trắng đêm vì tôi.  Mẹ như muốn gánh đi sự đau đớn mà tôi đang có vì cơn bệnh, mẹ hoàn toàn chia sẻ mọi vui buồn cùng tôi.  Khi tôi lầm lỗi, vấp ngã bị mọi người chê cười, ruồng bỏ nhưng mẹ vẫn dang rộng cánh tay đón tôi vào lòng, dùng tình thương để nâng tôi dậy… chỉ có mẹ là người duy nhất có thể làm điều này thôi! đó là bao dung chấp nhận, hy sinh cho con cái của mình cho dù những đứa con của mẹ đã bao lần lạc lối.

Khi ở tuổi mới lớn, tôi ngơ ngác, sợ hãi trước những thay đổi của cơ thể, mẹ là người chỉ dẫn cho tôi, giúp tôi hiểu rõ đó là việc tự nhiên của tạo hoá.  Lúc tôi trưởng thành, mẹ dạy tôi phải làm gì để luôn là đứa con gái ngoan, ngõ hầu sau này trở thành người mẹ, người vợ tốt trong gia đình.  Ngày tôi lên “Xe Hoa”, nhìn mắt mẹ rưng rưng ngấn lệ, tôi hiểu phần nào nỗi lo lắng và ưu tư của mẹ…  Mẹ lúc nào cũng lo lắng và hy sinh cả tuổi xuân vì tôi cho dù con của mẹ đã lớn, đúng là “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình…”  Tôi càng hiểu rõ hơn sự bao la ấy khi tôi thực sự làm mẹ, như người đời thường có câu:

“Thức đêm mới biết đêm dài,
Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy”

Đúng thế, tôi cảm nhận tình thương sâu xa của mẹ dành cho tôi nhiều hơn khi lòng mình quặn thắt vì nhìn thấy con tôi té ngã hoặc chảy máu.  Tôi mơ hồ như có ai đang cào xé trong lòng vậy.  Cũng như mẹ, tôi luôn hướng lòng về con cái của mình, luôn mong những điều tốt đẹp đến với con mình, và cầu mong chúng được hạnh phúc.

*******************

Cám ơn mẹ đã cưu mang, sinh ra con, cám ơn mẹ đã cho con giòng sữa ngọt, đã dạy dỗ, dìu dắt con trên đường đời.  Mẹ ơi!  Lắm lúc con và mẹ đã không hiểu nhau vì sự cách biệt về tuổi tác, thay đổi của xã hội nhưng con không cố tình làm  mẹ buồn đâu, chỉ mong mẹ luôn vui và sống với chúng con.  Đừng để chúng con mồ côi mẹ nhé!

Green Frog

LIÊN KẾT VỚI NGƯỜI

Một thầy kiện mới mở được một văn phòng luật sư khang trang lịch sự.  Bỗng nghe có tiếng chân người ngoài cửa bước vào, ông vờ như không thấy.  Vội nhắc ống điện thoại lên, nói thật to trong ống nghe :

– Alô, văn phòng luật sư đây.

– Vâng, từ ngày tốt nghiệp đại học đến nay, tôi đã thắng nhiều vụ kiện lớn. Các công ty danh tiếng đều nhờ cậy tôi.  Tôi được rất nhiều người tin tưởng.  Tuy thu nhập cao nhưng tôi luôn dành 10% cho các công việc từ thiện.

Có tiếng gõ cửa, ông quay lại, thấy người đàn bà đang đứng chờ từ nãy, ông mới lịch sự thưa :

– Xin lỗi bà, tôi có khách quý đến.

Quay lưng lại, anh hỏi người vừa bước vào :

–   Anh cần gì ?

–   Thưa luật sư, có phải hôm nay là ngày đầu tiên văn phòng của ngài bắt đầu làm việc ?

–   Ðúng thế, anh cần tôi giúp vụ kiện nào ?

–   Dạ thưa không tôi là người của công ty điện thoại được cử đến để gắn đường dây điện thoại cho ngài!

*********************************

Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại mối liên hệ của chúng ta với Chúa. “Thầy là cây nho, các con là cành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, kẻ ấy sinh nhiều trái”(Ga 15,5).   Ðức Giêsu Phục sinh là cây nho, các tín hữu Kitô là cành. Cây và cành có chung một dòng nhựa, nên cùng một sự sống.  Càng gắn bó với cây, cành càng sinh nhiều hoa trái.  Nếu ngược lại cành sẽ héo tàn.  Ví như đường dây điện thoại của ông luật sư, không có nối với tổng đài thì đâu có liên lạc đối thoại: không có liên lạc đối thoại thì đâu có khách hàng, lợi nhuận! Cành chỉ giả vờ gắn liền với cây, nên làm gì có sinh hoa kết trái.

Cành nào đã sinh trái, càng phải sinh trái nhiều hơn.  Muốn sinh nhiều trái hơn, cành cần được cắt tỉa đớn đau.  Có cắt tỉa vun xới, cành mới sinh hoa kết quả.  Ðức Giêsu trên cây thập giá, như một thân nho trơ trụi.  Ðó là lúc phát sinh hoa trái nhiều hơn cả.  Từ cạnh sườn Người bị đâm thấu, Giáo Hội đã được sinh ra, và đơm bông kết trái dồi dào.

Mỗi người tín hữu Kitô cũng phải được cắt tỉa, vun xới bằng hy sinh đau khổ hằng ngày, mới trổ sinh hoa trái dồi dào.  Niềm vui và đau khổ không nhất thiết phải khử trừ nhau.  Ðôi khi nó réo gọi nhau, trong những cuộc đàm thoại huyền nhiệm.  Vì thế hy sinh không là bóp nghẹt cuộc đời, nhưng làm cho đời thêm triển nở tốt tươi.  Ðiều quan trọng là “Hãy ở lại trong Thầy” “Nếu không có Thầy các con không thể làm gì được”.  Ở lại trong Thầy và liên kết với Thầy qua đường dây “Cầu nguyện và bí tích”. Tất cả sức sống của Ðức Giêsu được chuyển thông từ đó, khả năng kết trái cũng phát sinh từ đó.  Ðức Giêsu dạy:  “Nếu các con ở trong Thầy và lời Thầy ở trong các con, thì các con muốn gì, cứ xin sẽ được”.

Nếu Ðức Kitô là Cây Nho đích thực, và Người Trồng Nho là chính Thiên Chúa thì chúng ta hãy là những cành nho căng nhựa sống, để dâng hiến cho đời những hoa trái tốt tươi.

*********************************

Lạy Chúa, Chúa muốn cắt tỉa chúng con khỏi những rườm rà, để cây đời chúng con trổ sinh nhiều hoa trái.  Xin cho chúng con can đảm, dám sống theo những đòi hỏi cắt tỉa của Chúa.  Amen!

Thiên Phúc

CHỜ ĐỢI VÀ CÁM ƠN

Một người mẹ nắm tay đứa con gái nhỏ băng qua đường, vừa đang đến lề bên kia đường thì gặp một người ăn mày đang giơ tay xin bố thí.  Để tập cho con có tánh giúp đỡ người tàn tật bà mẹ đưa con một tờ giấy bạc bảo:

– Con đem tiền này cho người tàn tật.

Đứa bé vui tươi cầm lấy tiền nhưng rồi lại rụt rè không dám đưa cho người ăn xin nghèo nàn bẩn thỉu.

Người mẹ đứng chờ mãi không thấy con đặt tiền vào đôi tay người ăn mày đang ngửa rộng đợi chờ.  Bà khòm xuống lấy tay con và nhẹ nhàng lòn ngón tay mình để mở các ngón tay nhỏ bé của đứa con thơ.  Những tờ giấy bạc rơi xuống tay người ăn mày, xong bà nói với con:

– Sao con không cho ông ta.

Đứa bé trả lời:

– Thưa mẹ, con không sợ nhưng con đợi ông ta đưa tay ra lấy.

– Thường ông sẽ không giơ tay cầm lấy đâu.

**************************

Qúy vị và các bạn thân mến,

Người ăn xin vẫn đứng chờ đợi sự bố thí bên lề đường, ai cho nhiều hay ít thì tự tiện bỏ vào lon hay bỏ vào lòng bàn tay đang ngửa ra chờ đợi.  Cử chỉ đó là một cử chỉ rất hay và đầy ý nghĩa, không phải để tránh sự đụng chạm vì phép vệ sinh, nhưng để nói lên sự tin tưởng không đòi hỏi của người ăn xin.  Bạn muốn cho ít nhiều bao nhiêu tùy ý bạn, tôi vẫn ngửa bàn tay ra chờ đợi và cám ơn.

Trước mặt Chúa là đấng đầy tình thương và luôn ban ơn phúc, tất cả chúng ta chỉ là những người ăn mày tình yêu của Chúa, kể cả sự sống của chúng ta.  Xin tất cả hãy đến cùng Chúa với đôi tay chụm lại và ngửa ra để Chúa quyền phép quan phòng và luôn thương xót ban ơn lành cho chúng ta theo Thánh ý Người.  Và chúng ta hãy bình an mà nhận những ơn lành đó với hết lòng biết ơn đúng theo thánh ý Chúa mọi ngày trong đời mình.  Đừng đến với Chúa trong thái độ chiếm đoạt cào cấu:  Chúa phải ban cho con cái này, Chúa phải ban cho con cái kia, nếu không con sẽ không tôn thờ Thiên Chúa nữa, nếu không con sẽ không đi lễ nhà thờ nữa…

**************************

Lạy Cha chúng con ở trên trời, Cha là Đấng tạo dựng toàn thể vũ trụ, Cha là Đấng ban cho con sự hiện hữu nơi trần gian, Cha biết con, Cha hiểu con hơn cả con hiểu biết con, con hết lòng tin tưởng nơi Cha.  Xin giúp chúng con đừng đòi hỏi quá nhiều nơi Cha, đừng than vãn phàn nàn khi gặp nghịch cảnh, nhưng cho chúng con biết suốt đời nhận nơi Cha với tất cả lòng biết ơn không phải như kẻ ăn mày nhưng như người con thảo biết Cha mình là ai.  Con xin hết lòng tạ ơn Cha.

R. Veritas

NHẪN YÊU THƯƠNG

Có một thời người ta đeo nhẫn để chứng tỏ mình là người tự do.  Rồi có một thời người ta đeo nhẫn để nói lên mình  đã ràng buộc, cam kết.  Và rồi cũng có một thời người ta tháo nhẫn vì cam kết không thành.

Thời La Mã cổ đại, những người sinh ra trong giai cấp tự do cần phải đeo nhẫn bằng vàng để mọi người biết rằng mình là giai cấp tự do, không thuộc tầng lớp nô lệ.  Những người nô lệ được trả tự do cũng cần phải đeo nhẫn, không phải bằng vàng nhưng là nhẫn bằng bạc.  Nếu đeo nhẫn để là tự do một thời, thì đeo nhẫn cũng là để cam kết một thời.  Người cam kết không thành, thì muốn tháo ràng buộc để đổi lấy tự do.  Thế nhưng tự do thì mênh mông quá.  Thế nào là hiểu tự do cho trọn nghĩa? Tự do để phóng túng  đời mình, hay tự do để quyết định đời mình hầu thăng hoa cuộc sống vẫn là nỗi băn khoăn dai dẳng.

Có nhiều người đã chọn tự do trong lời cam kết, thì cũng có  người chọn tự do trong tháo gỡ, chia li. Hành trình để tiến đến ngày trao nhẫn cho nhau là một hành trình gian nan, nhưng hành trình để đến lúc phải tháo nó cũng là  những chuỗi ngày đớn đau lắm.  Chẳng ai muốn sum họp để rồi phải li tan, nhưng tại sao phải li tan vẫn là một nhức nhối băn khoăn.

Chỉ có điều khi nhìn một cánh diều bay cao lại là cánh diều biết cam kết.  Nó chấp nhận ràng buộc với một điểm cố định qua sợi dây gắn bó.  Càng gắn bó chặt với trụ điểm, diều lại càng bay cao.  Khi diều bay cao, là lúc diều được tự do trong mây ngàn gió lộng, là tung bay trong trời rộng thênh thang.  Nếu có lúc nào diều tham lam, muốn có thêm tự do mà cắt đứt sợi dây cam kết, ấy là lúc càng phải trở lại với mặt đất  la đà, phải giã từ trời rộng thênh thang.  Mây buồn vì vắng bóng diều; diều buồn vì đã xa lìa mây.

Một lần cam kết là một lần ràng buộc, nhưng cũng nhờ ràng buộc mà có hướng để bay lên, để thăng hoa.  Tôi nhìn cánh diều chiều nay nơi sân chơi của lũ trẻ mà lòng bâng khuâng cho ý nghĩa thâm sâu của cuộc sống.  Dù cánh diều to hay cánh diều nhỏ; dù cánh diều đẹp hay những cánh diều xấu xí; dù nó là của chú bé nhà giàu hay trong tay cậu bé nhà nghèo, tất cả đều phải tuân theo quy luật ‘cam kết’ của kiếp làm diều để có thể được bay cao và tự do trong gió.

Có những người tôn trọng lời cam kết nên khắc cả lời thề hoặc khắc tên người yêu trên chiếc nhẫn cam kết của mình.  Người ta  như muốn nói, một lần đã cam kết là chẳng mong tháo gỡ bao giờ.  Ngày nay ít người khắc tên của người yêu trên nhẫn, nhưng người ta lại khắc tên của nhau trong tim.  Vì khắc tên của  nhau trong tim, nên khi tháo chiếc nhẫn cam kết, thì cũng có nghĩa là muốn xoá nhoà yêu thương, tẩy xoá tên của người yêu khỏi tim mình. Tên càng khắc sâu, thì vết thương càng đau khi xoá nhoà. Tim không là vàng, không là gỗ đá, nên khi xoá tẩy là gây nên niềm đau.  Có những niềm đau có thể nguôi ngoai, có những vết thương mong có ngày lành lại, nhưng cũng có những vết thương phải xót xa một đời.

Có những mong manh của li tan, thì cũng có những mẫu gương của chung thủy sắt son.  Những hình ảnh đẹp ấy vẫn sống động quanh ta hôm nay.  Tôi vẫn mãi cảm kích câu chuyện mối tình đẹp về lòng chung thủy của cặp vợ chồng  một cựu sĩ quan Việt Nam trong trại cải tạo sau năm 1975.   Khi biết bao người trong tù thời đó đã gạt lệ đắng cay khi nghe vợ mình xin phép chồng để chọn niềm yêu thương khác, hoặc nghe tin vợ mình  âm thầm ‘‘lái đò qua sông” không lời từ biệt.  Thì cặp vợ chồng cựu sĩ quan này đã chọn cho mình một lối cam kết tuyệt diệu.

Khi người vợ đến thăm nuôi, họ chỉ có thể gặp nhau trong  khoảnh khắc ngắn ngủi sau hàng rào thép gai đan kín.  Nhưng trong cái khỏanh khắc ngắn ngủi ấy, họ đã nghĩ ra cách tái cam kết tuyệt vời bằng cách đổi chiếc nhẫn cưới cho nhau.  Người chồng tháo chiếc nhẫn mà vợ trao cho mình hôm nào, rồi đeo vào tay của vợ mình.  Và người vợ cũng tháo chiếc nhẫn mà chồng trao cho mình năm xưa, rồi đeo vào tay của chồng như thêm một lần cam kết sẽ chung thủy bên nhau cho dù tù đày ngăn cách.  Vì chiếc nhẫn của chồng lớn hơn ngón tay của vợ, nên chị đã đeo nhẫn của chồng vào ngón tay cái của mình.  Còn chiếc nhẫn của vợ quá nhỏ, nên anh chồng đã đeo nhẫn của vợ vào ngón tay út của anh.

Họ đã đeo nhẫn ‘‘ngược đời’’ như thế  không những cho đến ngày gia đình đoàn tụ, nhưng còn đeo nhẫn kiểu đó cho đến ngày hôm nay, khi màu tóc đã bạc, khi ánh mắt đã nhạt nhoà.  Họ vẫn còn sống và sống hạnh phúc nơi xứ Mỹ này, với đôi nhẫn đã hơn một lần trao nhau.  Và tôi nghĩ rằng họ sẽ còn đeo nhẫn kiểu đó cho đến ngày đưa nhau về vĩnh cửu.

Nhẫn không đưa hạnh phúc về.  Ngón tay để xỏ nhẫn cũng không nối nhịp thủy chung.  Chỉ  thái độ đón nhận và trao ban trong cam kết mới làm cho yêu thương cất cánh.  Thế nhưng giá trị của cam kết  hôm nay dường như bị coi nhẹ lắm, xem chừng như đang lỗi thời.  Nhiều người cảm thấy lo âu cho những tuột dốc ấy; lo âu cho một trào lưu đang ăn mòn lối đi truyền thống; lo âu cho lời cam kết của mình hôm nay có được sắt son mãi như lòng mình ước mong?

Tu sĩ và giáo dân hôm nay đều mang một nỗi ưu tư chung. Ưu tư cho cuộc tình năm xưa có được thắm đượm như màu hoa trong ngày dâng hiến trao ban; ưu tư cho lời khấn nguyện có còn cháy sáng như ánh nến lung linh trên bàn thờ thủa  nào?  Trong cái bấp bênh của lời cam kết, người ta băn khoăn không biết bám víu vào đâu để tựa nương.  Thế nhưng, khi lời cam kết của con người mong manh, thì vẫn có Đấng không bao giờ mong manh trong lời cam kết.  Thượng đế!

Biết băn khoăn cho lòng trung thành là khởi đầu biết tìm đến Đấng luôn trung thành.  Chỉ có tình yêu và ân sủng của Đấng không bao giờ bất trung mới làm cho những cuộc tình luôn vĩnh cửu.  Có nói lên được một lời thủy chung với người bạn đời hôm nay, có nói lên được lời cam kết trung thành dâng hiến cũng chính là nhờ sự thúc đẩy của Đấng luôn chung thủy.  Lịch sử bất trung của Israel năm xưa vẫn là những lối mòn của chia lìa hôm nay.  Thế nhưng Thiên Chúa trung tín của Israel năm xưa thì vẫn là một Thiên Chúa luôn trung tín với cuộc đời mong manh của tôi hôm nay.  Thiên Chúa của hôm qua, của hôm nay và của cả ngày  mai vẫn là một Thiên Chúa của trung tín yêu thương.

Xin cho những băn khoăn  hôm nay biến thành lời  nguyện cho lòng sắt son chung thủy.  Xin cho những mong manh và bấp bênh của lời cam kết trở thành lòng thiết tha gắn bó, để ơn Trời tuôn đổ, để lòng xót thương dâng tràn và lời ca yêu thương vang mãi cho đến lúc đi về với vĩnh cửu.

Lạy Chúa, khi nhìn những tan vỡ chia li hàng ngày, con không khỏi băn khoăn cho ý nghĩa của lòng trung thành hôm nay.  Giữa những vết rạn nứt của bức tường truyền thống, con cũng linh cảm thấy những viên gạch của từng cá nhân, từng gia đình đang lung lay.  Chẳng người thợ xây nào mà an vui trước rạn nứt của toà nhà.  Chúa là người thợ xây và là nhà thiết kế.  Xin nung lại viên gạch yêu thương của đời con.  Xin ban thêm cho con loại ‘‘xi măng’’ ân sủng, để hạt cát gắn bó được bền chặt giữa mưa ngàn gió cuốn.  Xin cho những chiếc nhẫn đã một lần trao tay, được ở lại mãi với chủ nó, để tự do được thăng hoa.  Nhẫn không là cầu nối, lời thề chẳng dệt nên yêu thương.  Chỉ có chính Chúa mới là cầu nối của yêu thương, nối kết đời con trong ân tình chan chứa.

Nguyễn Thảo Nam

CÁI CHẾT GIÚP SỰ THẬT HIỂN LỘ

Sau ba năm Đức Giêsu rao giảng, không ít người đã tin vào Ngài; tuy nhiên niềm tin vào Đức Giêsu của những người này tối đa cũng tương tự như niềm tin của các tông đồ khi Đức Giêsu còn sống đời dương thế.  Họ cho rằng Đức Giêsu là một vị thầy, hơn nữa có thể là một tiên tri, và cao nhất có thể là Đấng Kitô Vua (Ga.6, 15; Mc.8, 29; 11, 9-10).  Vào thời điểm đó, người ta không thể biết khác hơn được.  Còn đối với những người không tin Đức Giêsu, những kẻ khó chịu hoặc bực tức vì Ngài trổi trang hơn họ, Đức Giêsu đơn thuần chỉ là một con người bình thường như bao người.  Những người này không chỉ bất đồng ý kiến với Đức Giêsu, không chỉ khó chịu và bực tức mà còn muốn giết Đức Giêsu nữa (Mc.3, 6).

Vào thời cuối của ba năm rao giảng, Đức Giêsu đã nhiều lần nói những điều có thể làm cho Ngài phải bị ném đá.  Chẳng hạn Ngài nói Ngài có quyền tha tội (Mc.2, 5.7), Ngài có trước Abraham (Ga.8, 57-58), Ngài và Thiên Chúa là một (Ga.10, 30).  Vào cuối đời, Ngài có những câu nói “gây mất lòng” nhiều người.  Càng vào cuối đời, càng có ít người theo Ngài, vì những lời khó có thể hiểu và chấp nhận được, chẳng hạn: “chính tôi là bánh hằng sống.  Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga.6. 35).  Những lời nói tương tự không chỉ làm Đức Giêsu “mất người” mà còn gây thêm có nhiều người thù địch với Ngài, thậm chí còn làm cho những người muốn giết Ngài có đủ bằng cớ và hậu thuẫn.  Chẳng hạn, Ngài nhận mình là Thiên Chúa: “chúng tôi ném đá ông, không phải vì một việc tốt đẹp nhưng vì một lời phạm thượng: ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa” (Ga.10, 33).

Gần lễ Vượt Qua, âm mưu giết Đức Giêsu trở nên rõ ràng nên Ngài lui về Galilê.  Vì thế, thời điểm Lazarô chết không có mặt Đức Giêsu tại đó.  Sau đó khi Ngài muốn lên Giêrusalem thì các tông đồ đã ngăn cản.  Tông đồ Thomas đã động viên các bạn: “nào chúng ta cùng lên Giêrusalem để cùng chết với thầy” (Ga.11, 16).  Đức Giêsu cũng biết Ngài sẽ bị giết nếu Ngài lên Giêrusalem vào thời điểm này, tuy nhiên Ngài vẫn cứ lên.  Ngài không muốn trốn chạy cái chết.  Ngài đã phải chọn lựa giữa sống và chết một cách cụ thể qua việc có lên Giêrusalem dịp lễ Vượt Qua này hay không.  Cuối cùng Ngài đã chọn lên Giêrusalem cho dù cái chết đang chờ đón Ngài.

Ở Giêrusalem, Ngài vẫn làm điều Ngài vẫn thường làm: “ban ngày Ngài giảng dạy trong đền thờ, còn ban đêm Ngài và các tông đồ ra vườn dầu để ngủ” (Lc.21, 37).  Hôm nay Ngài vào Giêrusalem và được dân chúng đón rước như vị Thiên Sai.  Ngài chấp nhận biến cố này vì biết thời điểm đặc biệt của Ngài đã đến: thời điểm Ngài được tôn vinh cũng là thời điểm Ngài chết trên thập giá.  Cái chết của Ngài có thể được thấy trước vì nó cũng theo quy luật của xã hội: người ta ghét Ngài đến độ muốn giết Ngài (Mc.14, 1).

Lúc khởi đầu người ta muốn giết Ngài vì Ngài đã dám suy nghĩ và nói ngược lại những người có thế lực (Mc.3, 6; 14, 1; 14, 53-59); nhưng khi vị thượng tế hỏi Đức Giêsu và Đức Giêsu trả lời: “rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và đến trên mây trời” thì họ không cần phải sắp đặt chứng cớ để giết Đức Giêsu như trước nữa, vì Đức Giêsu đã phạm một tội vô cùng lớn mà mọi người Do Thái một khi biết đều phải xử tử Đức Giêsu, vì là người mà dám cho mình ngang hàng với Thiên Chúa (Mc.14, 62-64).  Đức Giêsu đầu tiên bị người ta ghen ghét mà muốn giết, rồi khi đã bị bắt và xét xử với chứng cớ được xếp đặt trước, Ngài lại nói Ngài ngang hàng với Thiên Chúa; như vậy trước công nghị Do Thái, Đức Giêsu bị kết án tử hình vì tội tôn giáo: lộng ngôn xúc phạm đến Thiên Chúa.  Trên thập giá Đức Giêsu nói: “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng lầm chẳng biết” (Lc.23, 34); thật vậy, không biết nguồn gốc thần linh của Đức Giêsu, thì kết án Ngài là chuyện tất nhiên.

Để giết được Đức Giêsu một cách hợp pháp, người Do Thái phải đem Đức Giêsu sang tòa Roma.  Vào thời người Do Thái bị đô hộ, quyền xử tử thuộc về thẩm quyền người Roma.  Đức Giêsu đã bị gán cho tội chính trị “xưng vương”.  Nếu không gán cho Đức Giêsu tội chính trị thì Philatô đã không kết án tử hình Đức Giêsu.  Philatô biết Đức Giêsu bị oan, nhưng vì sợ mất chức nên đã kết án Ngài.  Nếu không kết án Đức Giêsu, Philatô có thể bị người Do Thái tố cáo với hoàng đế Roma vì đã buông tha người xưng vua phất cờ khởi nghĩa.  Nếu vậy, Philatô phải giải thích, phải biện luận, và sẽ gặp nhiều phiền phức, và hậu quả sẽ là không được hoàng đế tin tưởng nữa, vì vậy Philatô đã kết án tử hình Đức Giêsu thuận theo ý của người Do Thái.

Nếu Đức Giêsu chỉ là một con người, Đức Giêsu xứng đáng lãnh án tử.  Thực vậy, khi Đức Giêsu còn sống, nào ai biết Đức Giêsu là người có nguồn gốc thần linh, vì đâu là chứng cớ để người ta có thể tin như vậy!  Chỉ khi Đức Giêsu chết và sống lại, người ta mới nhận ra những gì Đức Giêsu nói và cho mình là chân thực.  Như vậy, chỉ sau biến cố Đức Giêsu Phục Sinh, các tông đồ mới biết chân tướng của Đức Giêsu.  Nếu Đức Giêsu là kẻ lộng ngôn phạm thượng, thì Thiên Chúa đã chẳng phục sinh Ngài, còn nếu Ngài đã sống lại, nghĩa là những điều Ngài đã nói là đúng, là chân lý.  Nghĩa là, Ngài và Thiên Chúa là một, Ngài ngự bên hữu Thiên Chúa, Ngài có trước Abraham.

Khi còn sống đời dương thế, Đức Giêsu khó có thể thoát chết, vì chân tướng của Ngài chỉ có thể được thấy rõ sau khi Ngài sống lại.  Đức Giêsu bị hiểu lầm mà bị kết án tử hình, vì không ai biết Thiên Chúa là Ba Ngôi Vị, vì không ai có thể tưởng rằng Thiên Chúa có thể nhập thể làm người.  Sau khi Ngài sống lại, với ơn của Thánh Thần, các tông đồ nhận ra ý nghĩa của những lời Ngài đã nói mà khi Ngài còn đang sống các ông chẳng hiểu gì.  Ngài là Đấng có nguồn gốc thần linh, Ngài ngự bên hữu Thiên Chúa, Ngài và Cha là một, Ngài là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, Ngài là Thiên Chúa nhập thể.

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm SJ

GIUĐA HAY LÀ TÔI…?

Nói đến Giuđa Iscariốt, ai cũng biết, ông là kẻ phản bội Chúa Giêsu, là kẻ bán đứng Thầy mình.  Nhưng khi tranh luận về Giuđa thì nhiều thắc mắc được nêu lên: Giuđa là kẻ có công hay có tội?  Là bậc ái quốc đại trượng phu hay là kẻ phản bội tiểu nhân?  Giuđa lên thiên đàng hay xuống hoả ngục?

Mùa Chay lại đến, một lần nữa, tôi và bạn cùng nhìn lại gương mặt nhiều màu sắc ấy của một người từng là môn đệ Chúa.  Mùa Chay là dịp thuận tiện để tôi và bạn soi mình vào “tấm gương Giuđa” mà nhìn thấy rõ thân phận yếu đuối, mỏng giòn của con người mình chẳng khác gì con người tội lỗi Giuđa ngày xưa.  Để rồi từ đó, tôi và bạn xin ơn biến đổi và cảm nghiệm sâu xa hơn đường lối chúng ta đang chọn, đang dấn thân, cũng như xin ơn nhận ra tình thương bao la của Thiên Chúa dành cho con người và dành cho ơn gọi của tôi và bạn.

Thường khi nói đến Giuđa, người ta nghĩ ngay đến một người mặc đồ đen từ bên ngoài đến bên trong tâm hồn, tưởng tượng Giuđa với cặp mắt dữ dằn, gương mặt phản trắc của một tên lưu manh…  Thật ra, rất có thể tôi và bạn đang sánh vai với Giuđa trong đám đông, đang bàn bạc với Giuđa trong mọi kế hoạch, và có những lúc, tôi và bạn đã quỳ bên cạnh Giuđa trong nhà thờ… vì Giuđa trước hết là một tông đồ mà!

Có người đồng hoá Giuđa với Satan, và hơn một người đã nâng Giuđa lên hàng thánh nhân, vì lý do: Giuđa là điều kiện không thể thiếu được trong chương trình cứu rỗi của Chúa!

Thật ra, Giuđa ở giữa hai thái cực đó, giữa một thằng quỷ và một ông thánh, giữa một tên lưu manh và một vị anh hùng.  Vì Giuđa là một con người.  Có một điều chắc chắn: Giuđa không phải là kẻ đốn mạt, mất trí.  Bởi nghi ngờ điều này là nghi ngờ sự khôn ngoan và đường hướng của Chúa và của Thiên Chúa Cha.

Trong Lc 6, 12-16 viết: Trong những ngày ấy, Chúa Giêsu ra núi cầu nguyện và Ngài đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa.  Sáng ngày, Ngài kêu các môn đệ lại và chọn lấy trong họ nhóm 12, Ngài gọi họ là Tông đồ: Simon, Anrê… và Giuđa Iscariot.

– Suốt đêm, Chúa Giêsu đã cầu nguyện để rồi chọn Tông đồ Giuđa.  Điều ấy thật rõ ràng.  Giuđa đã được chọn sau một đêm Chúa thức trắng cầu nguyện.

– Giuđa đã được chọn để trở nên một Tông đồ.  Giuđa được đặt ngang hàng với Phêrô, Anrê, Mathêu, Philip và những Tông đồ khác.  Giuđa được nghe những gì họ nghe, thấy những gì họ thấy.

– Giuđa cũng đi rao giảng Nước Trời như họ.

– Giuđa không được chọn để quay lưng với Chúa, để phản bội Ngài.

Chúa Giêsu có lầm khi chọn Giuđa không?  Tại sao Thiên Chúa lại chọn Giuđa dù biết rõ con người Giuđa?

Chúa không lầm khi chọn Giuđa.  Chúa không lầm khi chọn những Tông đồ khác.  Chúa không lầm khi chọn gọi tôi và bạn.  Bởi vì, Kinh Thánh cho thấy: đâu phải Thiên Chúa chỉ chọn những con người xứng đáng, mà Giuđa cũng như tôi và bạn, đã được chọn để thanh luyện, để được nâng cao lên, để nên xứng đáng hơn.

Giuđa đã nhanh chóng đáp lại tiếng gọi của Đức Kitô.  Ông muốn trở nên môn đệ Chúa.  Ông đã từ bỏ tất cả để theo Chúa không một chút do dự và Giuđa đã được cả nhóm đón nhận.  Họ đã chọn ông làm thủ quỹ, vì họ tôn trọng tài năng của ông.  Họ quý mến và tin cẩn ông, dù ông là người miền nam duy nhất trong số 12 Tông đồ.

Thật ra Giuđa không xuất hiện từ đầu như một người quay lưng lại với Chúa, bởi không ai bỗng dưng mà phản bội.  Giuđa không thay trắng đổi đen đầu hôm sớm mai, mà ông đã bước dần đến hố thẳm, ông bước đi từng bước một… và mỗi lần Giuđa bước thêm một bước gần đến hố thẳm là mỗi lần ông được Đức Giêsu nhắc nhở, cảnh báo một cách kín đáo nhưng thật rõ ràng.  Tin Mừng có ghi lại cách rõ ràng những bước chân sai phạm đó của Giuđa.

Lần 1: khi đám đông bỏ đi vì những lời giảng thật khó nghe về bánh hằng sống của Ngài, Chúa đã hỏi các Tông đồ: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ Thầy mà đi sao?”  Và trước lời xác quyết chắc nịch của Phêrô Simon: “chúng con biết theo ai, vì Thầy mới có Lời hằng sống.”  Chúa nói một câu mà chỉ có Giuđa hiểu: “Chẳng phải Thầy đã chọn cả 12 người đó sao?  Thế mà một trong anh em là quỷ dữ” (Ga 6, 67).  Như thế, Chúa biết trước về Giuđa như Thánh Vịnh 41, 10 tiên báo: “Kẻ cùng con chia cơm sẻ bánh, lại giơ gót đạp con.”

Chúa Giêsu biết rõ lời tiên báo ứng nghiệm nơi chính con người Giuđa, vì có những dấu hiệu ngày càng rõ: sự suy giảm nhiệt tình, sự cứng cỏi, sự biếng nhác cầu nguyện, sự tự mãn kiêu căng trong đời sống đạo đức, tính ham mê lời khen và sự nể vì.  Chính vì thế có lần Chúa đã nhắc nhở: “Nếu anh em yêu mến Thầy thì sẽ giữ Lời Thầy.”  Và hơn một lần, trước lời trầm trồ của một phụ nữ: “Phúc cho lòng dạ nào đã cưu mang Thầy, và phúc cho vú nào đã cho Thầy bú mớm,” thì Chúa xác quyết: “Ai nghe và làm những điều ta nói đây, thì ví như người khôn xây nhà trên đá.”  Chúa Giêsu đã nói nhưng Giuđa nào đâu có biết!  Giuđa không nghĩ rằng kẻ tội nghiệp đó chính là mình.  Như David xưa cũng không nhận ra tên nhà giàu tham lam, độc ác trong câu chuyên của Nathan lại là chính mình.  Giuđa vẫn cảm thấy thoải mái với Chúa, an tâm với công việc mà ông gọi là dấn thân, phục vụ!

Lần 2: Khi gặp Giuđa, thì ông đã trở nên một tên ăn cắp mà mãi sau này người ta mới phát hiện ra.  Lúc Maria lấy dầu thơm trong bình bạch ngọc xức lên chân Chúa, Giuđa bảo: “Sao không đổi lấy 30 đồng mà cho người nghèo?”  Nhưng Thánh Gioan sau này giải thích: “Giuđa nói những lời này không phải vì bận tâm đến người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp, y giữ ví tiền, nên cái gì bỏ vào túi y là y phỗng mất” (Ga 12, 5-6).

Giuđa cũng như tôi và bạn đi theo Chúa, ngay từ đầu đều có mục đích, một chí hướng.  Nhưng tiếc thay, ý hướng ngay lành đó có thể đang bị méo mó, bị cám dỗ dưới quá nhiều hấp dẫn của sự đời.

– Ông tỏ ra thương yêu người nghèo, nhưng bên trong đầy những tính toán vụ lợi.

– Ông đưa ra bên ngoài khuôn mặt nhân ái, để che giấu bên trong lòng ganh ghét đố kỵ.

– Trên môi ông là những lời lẽ vị tha nhân ái, nhưng trong tâm tư là những nguyên do vị kỷ thấp hèn.

– Ông là kẻ luôn nói đúng, nhưng lại làm sai hoặc chẳng làm gì cả.

– Ông là người phục vụ chính mình, thay vì phục vụ Thiên Chúa và tha nhân.

Và cứ thế mà tiến, những bước chân của Giuđa đã đưa ông đến bờ vực của sự phản bội.  Câu hỏi được đặt ra: vì sao Giuđa lại làm thế?  Lại trở nên một kẻ chỉ điểm, ám hại, bán đứng Chúa Giêsu?  Có nhiều cách giải thích, nhưng Kinh Thánh trả lời: “Satan đã nhập vào Giuđa, gọi là Iscariot.” (Ga 13,2/ Lc 22,3-4)

Dĩ nhiên, Satan không thể tự tông cửa mà vào, nhưng chính Giuđa đã vui lòng tự ý mở cửa.  Giuđa đã phản bội Thầy mình.  Thật ra, ông có thể chỉ cho họ biết nơi ở của Chúa Giêsu, có thể mô tả cách ăn mặc của Chúa để giúp họ nhận diện.  Nhưng không, chính ông đã đến tố giác Chúa, tố giác bằng một cái hôn.  Với Giuđa, dấu chỉ của yêu thương trở thành hành động của sự phản bội.

Giuđa đã bỏ lỡ nhiều cơ hội Chúa đã dành cho ông.  Ông đã từ chối những cánh cửa Chúa đã mở cho ông.

Chúa Giêsu biết rất rõ Giuđa sẽ phản bội, sẽ bán đứng mình bằng một cái hôn.  Ngài còn biết rất rõ rằng: Giuđa có nhiều khả năng, Giuđa có thể đổi đời và Ngài hy vọng ông sẽ đổi đường đi để đời ông đơm hoa kết trái.  Chính vì thế, Ngài đã chọn Giuđa.  Chúa chọn Giuđa không vì Giuđa xứng đáng mà để ông được biến đổi và nên xứng đáng hơn.

Bữa tiệc ly bắt đầu bằng một cử chỉ khiêm hạ đến rợn người.  Chúa rửa chân cho các môn đệ, cho Phêrô và cho cả Giuđa.  Ngài rửa chân cho Giuđa để ông tỉnh thức, để các tông đồ khác sau này hiểu rằng: dù biết trước sẽ bị bán đứng, nhưng Chúa vẫn luôn yêu thương Giuđa.  Dù con người bất trung bất xứng tới đâu, Thiên Chúa vẫn một niềm trung tín, vì Ngài là tình yêu… biết mình bị phản bội mà vẫn cứ yêu thương.  Ngài cúi xuống rửa chân cho Giuđa, mong ông nhìn ra tình thương của Ngài. Nếu Giuđa bắt được cái nhìn đó, có lẽ ông đã có một “sức bật” như Phêrô và sẽ không đi đến vực thẳm tuyệt vọng.

Trao tấm bánh cho Giuđa, Chúa muốn mở cho ông một lối thoát sau này.  Ngài muốn các môn đệ khác không hận thù, tẩy chay, nhưng vẫn để cho Giuđa là thành viên của nhóm 12.  Chúa vẫn rất thương ông dù Giuđa có đốn mạt đến dâu đi chăng nữa.  Ngài hy vọng ông sẽ thay đổi và sẽ lại là một tông đồ.  Vì Thiên Chúa là Đấng “không bẻ gẫy cây lau bị dập, không dập tắt tim đèn còn khói.”

Nhưng khốn nỗi, trong bữa tiệc ly hôm ấy, chỉ một mình Gioan là hiểu được tấm lòng của Ngài.  Và Chúa Giêsu biết Gioan hiểu mình.  Gioan hiểu Chúa muốn anh em đừng làm khổ Giuđa, Gioan hiểu: Chúa muốn ông đứng ra làm chứng nếu sau này anh em có làm phiền Giuđa.  Cho đến phút cuối, Giuđa cũng đã nhận ra tấm lòng của Chúa (Mt 27,3-10).  Ông hối hận, ông xưng thú tội công khai và sẵn sàng đền tội.  Nhưng điều đáng tiếc là cách hành xử của ông đã làm uổng phí những cố gắng của Chúa.  Ông đã để lỡ cơ hội của Chúa, vì ông không thể tin rằng ông lại có thể được tha thứ, lại có cơ hội để sửa đổi.  Ông đã để lỡ cơ hội của đời mình, vì ông không tin rằng Chúa lại có thể thương mình đến như thế!

Cái chết của Giuđa vén tỏ một chân lý: quỷ dữ và con người chỉ khác nhau có mỗi một điều: cả hai cùng có thể sa ngã, nhưng quỷ dữ thì sa ngã luôn, còn con người vẫn có cơ hội chỗi dậy, phục hồi và đi tới.  Cái chết của Giuđa cho tôi và bạn nhận ra rằng: trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa, cho dù có chậm chạp, té ngã nhiều đến đâu, nếu biết chỗi dậy trong hành trình đi theo Chúa, chúng ta không bao giờ trễ cả.

Một ai đó đã ví von: “hãy nhìn về phía mặt trời, bóng tối sẽ ở sau lưng bạn.”  Như thế trở về với Chúa cũng là một cuộc chọn lựa, gạn đục khơi trong, bóc hết lớp vỏ bề ngoài mau qua, để dung nhan Thiên Chúa rạng ngời nơi tâm hồn.  Ơn gọi dấn thân, phục vụ của tôi và bạn không phải chạy theo nghi lễ bề ngoài, hay những nhu cầu giả tạo mau qua, cũng không sa lầy vào thói phô trương công đức, hay bằng lòng với một vài hoạt động rình rang nhưng rỗng tuếch vì thiếu sức sống, thiếu tình người.  Nhưng là tiếp tay đem ánh sáng thần linh của Đức Kitô soi chiếu vào những mảnh đời tối tăm, những thân phận hẩm hiu, sao cho dung mạo nhân loại chói ngời ánh sáng nhân phẩm, ánh sáng văn hoá, ánh sáng lương tâm và ánh sáng thần linh.  Như thế, tôi và bạn đang cộng tác vào việc biến đổi thế giới, đang theo chân Đức Kitô để cùng với Ngài đưa nhân loại vào hành trình phục sinh, khởi đi từ chính những đổi thay ngay từ hôm nay trong lối sống, trong cách nhìn, trong nếp nghĩ của chính mình.

Mùa Chay là một chặng dừng cần thiết của cuộc hành trình nội tâm của tôi và bạn.  Đó là giờ của ân sủng, là thời gian Thiên Chúa yêu thương con người.

Cuộc hành trình của con sâu gỡ mình ra khỏi tổ kén để trở thành cánh bướm, tương tự như cuộc “lột xác” của tôi và bạn, gỡ bỏ mọi khuynh hướng xấu của đam mê và tội lỗi để có thể gặp Chúa nơi tha nhân, là cuộc hành trình của hạt mầm đâm chồi vươn lên cho vụ mùa tốt tươi.  Hãy cúi mình xuống trong chân thành, khiêm hạ để có thể mở rộng tâm hồn với ân sủng Chúa ban qua những biến cố, những thành công, niềm vui và cả những thất bại, rã rời của tôi và bạn, vì biết rằng Chúa vẫn luôn mở ra cho tôi và bạn những cơ hội mới.  Bởi dù sao đi nữa, tôi và bạn không bao giờ thất vọng vì tin rằng Chúa luôn bên chúng ta và Chúa cũng không bao giờ thất vọng về chúng ta.

TuGiaVi

CHÔN CẤT

Không phải hễ có chết là có an táng cả đâu.  Rất nhiều trường hợp hết đời âm thầm, tàn lụi không an táng.  Không ai an táng một tư tưởng ngay cả có thời nó được coi là vĩ đại.  Không ai an táng một mối tình đứt quãng giữa đường.  Chẳng ai an táng cái chết của một niềm tin, dù là niềm tin vào Đức Kitô.

Ban sự sống lại cho Lazarô Đức Kitô ban nguồn sống mới cho các tông đồ và tăng thêm niềm tin cho những người từng quen biết Lazarô.  Chính những người này thắc mắc vào quyền năng Thiên Chúa.  Họ hỏi nhau ông Giêsu có thể mở mắt cho người mù mà không thể cứu sống được bạn mình sao (c,38).

Đức Kitô nhắc cho chị em Maria và Martha biết về quyền năng của Thiên Chúa khi Ngài phán bảo các cô Ngài là Thiên Chúa của sự sống.  Maria và Martha tin vào quyền năng của Thiên Chúa vượt lên khỏi sự chết, đau khổ và bệnh tật, và các cô, dù không hiểu hay hiểu rất mù mờ vẫn đặt trọn niềm tin vào Đức Kitô.  Tin vào Đức Kitô không đòi hỏi chúng ta hiểu một cách cặn kẽ.  Có lẽ điều cốt yếu cần học hỏi để tin nhiều hơn là học biết tình yêu Chúa dành cho con người cao xa, vượt khỏi tầm hiểu biết của ta.

Ban sự sống lại cho Lazarô, Đức Kitô mặc khải sức mạnh tình yêu Chúa.  Mặc khải sức mạnh tình yêu Chúa chính là làm sáng Danh Chúa.  Đức Kitô cho biết sức mạnh tình yêu Chúa lớn hơn sự chết và Danh Chúa cả sáng biểu lộ qua tình thương bao la Ngài dành cho nhân loại.  Đức Kitô đánh bại sự chết cho thấy ngay cả “thần chết” cũng phải quy phục Ngài.  Chết là chặng đường ta đi qua trước khi bước vào ngưỡng cửa Phục Sinh vinh quang.

Maria và Martha tin vào quyền năng Chúa nhưng vẫn mù mờ thắc mắc tại sao Thiên Chúa chậm chạp trong việc đáp lại lời ta cầu xin.  Cả hai cô, dù không bàn với nhau trước nói với Đức Kitô cùng một câu. Nếu Thầy đến sớm thì em con sẽ không chết (c.21, 32).

Thiên Chúa có chương trình riêng của Ngài, không phải chương trình của ta.  Khi nào Ngài đáp lời ta cầu xin là do Ngài chọn lựa thời gian, địa điểm.  Việc chọn lựa này đặt căn bản trong việc thực hiện ý Chúa Cha như Ngài từng phán Ta đến không phải để làm theo ý Ta mà là làm theo ý của Chúa Cha.  Khi nào đến giờ Ngài thực hiện điều ta xin là quyền của riêng Ngài.  Tiệc cưới Cana chứng tỏ điều đó khi Đức Trinh Nữ xin Ngài giúp gia chủ vì giữa tiệc hết rượu.  Ngài đáp: Giờ Ta chưa đến.

Hai chị em Maria and Martha tin tưởng Đức Kitô sẽ cho Lazarô sống lại và ngày đó sẽ xảy ra trong ngày sau hết.  Ngày sau hết khi nào chỉ mình Thiên Chúa định đoạt.  Chúng ta cũng không quên Thiên Chúa làm chủ sự sống và Ngài làm chủ cả thời gian.  Đối với chúng ta có sớm, có muộn vì chúng ta ảnh hưởng bởi thời gian.  Thiên Chúa không ảnh hưởng bởi thời gian nên không có sớm, cũng không có muộn, cũng không có tương lai.  Đối với Ngài thời gian luôn là hiện tại.  Liên kết với Đức Kitô để được luôn sống trong hiện tại và ơn Phục Sinh thuộc về Ngài.

Hành trình đi từ cõi chết đến sự sống là hành trình mỗi người chúng ta đều trải qua.  Chết về phần thân xác để sống vinh quang phần tâm linh.  Hành trình này gây đau khổ, xót thương như hai chị em Maria và Martha đã trải qua trước khi đón nhận sự sống mới của Lazarô.  Với đức tin vào Đức Kitô chúng ta tin rằng chết thân xác chỉ là biến đổi từ xác phàm trước khi mặc lấy thân xác vinh hiển.  Chết thân xác chỉ là tạm bợ vì tình yêu Chúa cao vời vĩ đại hơn tội lỗi con người.

Lm Vũ Đình Tường

NHÌN VÀO NỘI TÂM ĐỂ NHẬN BIẾT TỘI MÌNH

Người ta thường nhìn ra ngoại giới nhưng rất ít khi nhìn vào nội giới, nhìn vào nội tâm mình.  Con người có mắt nhìn ra mà không có mắt nhìn vào.  Khuôn mặt duy nhất trên đời chúng ta không bao giờ có thể nhìn thấy trực diện, đó là khuôn mặt của chính chúng ta.  Thế nên một nốt ruồi nhỏ trên mặt người khác, ta thấy rõ ràng; còn vết sẹo lớn trên trán mình, ta không thấy được.  Lỗi lầm nho nhỏ của người khác thì mình thấy rõ ràng, còn lỗi lầm to lớn nặng nề của mình thì lại không hay.  Thế rồi, chúng ta dành nhiều thì giờ để phê phán người khác mà chẳng bao giờ biết phê phán bản thân.

Các kinh sư và người Pha-ri-sêu trong bài Tin Mừng hôm nay cũng thế.  Họ nhìn thấy rõ ràng tội lỗi của người phụ nữ phạm tội ngoại tình, nhưng không nhìn thấy tội lỗi của mình.  Họ bận tâm đến việc kết án người khác, nhưng không quan tâm đến việc sửa chữa lầm lỗi của mình.  Chính vì thế, Chúa Giêsu muốn nhân cơ hội để dạy cho họ một bài học tâm linh cần thiết là hãy nhận ra tội lỗi của mình trước, hãy trách phạt mình trước rồi lo trách phạt người khác sau.  Cổ nhân cũng thường dạy ta như vậy: “Tiên trách kỷ hậu trách nhân.”

Khi các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn người phụ nữ phạm tội ngoại tình đến với Chúa Giêsu, họ hối thúc Chúa Giêsu ra ngay một phán quyết định đoạt số phận của người đàn bà tội lỗi.  Thế nhưng Chúa Giêsu không vội phán xét ai.  Trước hết, Ngài muốn cho những người tưởng mình vô tội hãy xét lại chính mình.

Thế nên, đứng trước những con người đang lăm le kết án người phụ nữ và mưu toan ám hại mình, Chúa Giêsu lặng thinh không nói một lời.  Ngài thinh lặng và tạo nên bầu khí vắng lặng để cho mọi người tự vấn lương tâm.  Ngài muốn kéo dài sự thinh lặng bằng cách ngồi xuống viết, viết trên đất.

Khi người ta cứ hỏi mãi, phá tan sự im lặng cần thiết cho sự rà soát tâm hồn, Chúa Giêsu lên tiếng kêu mời họ hãy xét lại mình: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi!”  Rồi Ngài ngồi xuống trong thinh lặng.  Ngài cứ viết, viết trên đất để tạo bầu khí thinh lặng cho mọi người hồi tâm.

Nhìn lại nội tâm mình trong thinh lặng, những con người hăm hở kết tội người khác giờ đây dần dần nhận ra tội lỗi mình, có khi còn nhiều hơn, còn nghiêm trọng hơn cả tội lỗi của người phụ nữ.  Thế là các viên đá trên tay lần lượt rơi xuống, họ xấu hổ lặng lẽ rút lui, để lại một mình Chúa Giêsu và người thiếu phụ.  Hoá ra rốt cuộc ai cũng nhận ra mình là người có tội, mà đã là người có tội thì sao không kết án mình trước?  Sao lại đang tâm kết án người khác cũng tội lỗi như mình!

Nhìn lại mình để thấy được tội lỗi của mình là điều hết sức quan trọng để cải thiện bản thân.  Nếu tôi biết được là mình hôi hám, tôi sẽ đi tắm ngay.  Còn nếu tôi không nhận ra mùi hôi của cơ thể mình, thì mãi mãi tôi vẫn là người hôi hám.  Nếu tôi thấy được mặt mình dơ bẩn, tôi sẽ lau rửa tức khắc không chần chừ.  Còn nếu không thì chẳng có gì thay đổi.  Nếu tôi thấy được sự xấu xa của nội tâm mình, sự bê bối của đời sống mình, tôi sẽ cải thiện ngay không trì hoãn.

Sự chuyển hóa bản thân, cải thiện cuộc sống chỉ thực sự bắt đầu lúc ta tự nhận biết tội lỗi mình.  Nhìn lại mình, nhìn vào mình để thấy được những tội lỗi của mình là khởi điểm, là bước đầu cho việc cải thiện đời sống.  Không có bước nầy, chẳng thể có bước thứ hai, chẳng có gì được cải thiện.

Lạy Chúa Giêsu, nhìn lại mình để rà soát chính mình, để thấy được tội mình là điều rất khó mà cũng là việc không mấy ai muốn làm.  Xin Chúa thương giúp đỡ chúng con.  Xin cho Lời Chúa trở nên gương soi cho chúng con, giúp chúng con nhận ra những vết nhơ trong tâm hồn chúng con, những nết xấu trong cuộc đời chúng con.  Lạy Chúa Giêsu, xưa kia, Chúa Giêsu đã giúp đám người Do Thái nhận ra tội lỗi của họ thì nay xin Ngài cũng giúp chúng con nhận ra lầm lỗi của mình để sửa đổi ăn năn.

Lm Ignatiô Trần Ngà – Trích trong “Cùng Đọc Tin Mừng”

CÙNG ĐỨC MẸ CHỊU ĐAU KHỔ TRONG MÙA CHAY

Hồi tôi còn nhỏ, Đức Maria luôn là một hình ảnh về người mẹ xa cách đối với tôi.  Bởi vì Đức Mẹ hoàn hảo về nhân đức và vô nhiễm, tôi không thể liên hệ với Mẹ.  Quá trình đấu tranh của tôi có vẻ khá khó khăn.  Tôi luôn hình dung ra sự ngoan ngoãn, sự dịu dàng, sự nhẫn nại và sự khiêm nhường của Đức Mẹ, nghĩ về Thánh Gia có những ngày và những buổi tối lặng lẽ, tôi thấy không phù hợp với tôi.

Rồi tôi trở thành mẹ.  Tình mẫu tử đã biến đổi tôi bằng rất nhiều cách, nhưng có một cách quan trọng mà Đức Mẹ đã thực sự trở nên Mẹ của tôi và rất thân thiện với tôi.  Đó là cách hiểu sâu về nỗi đau khổ của Đức Mẹ.

1.  Cuộc Tử Đạo Không Đổ Máu Của Đức Mẹ

Trong Mùa Chay, chúng ta thường tập trung vào Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô, và đúng như vậy.  Nhưng chúng ta có nhận ra rằng mọi điều Ngài trải qua cũng diễn ra trong Trái Tim Đức Mẹ?  Chúa Giêsu chịu chết vào ngày hôm đó thì Đức Mẹ cũng chịu tử đạo trong lòng.

Đa số các học giả về Thánh Mẫu học đều công nhận rằng Đức Mẹ không trải qua đau đớn khi sinh con, cũng không phải khổ sở vì đau đớn khi hấp hối.  Nhưng Đức Mẹ vẫn bị các nỗi đau khác như đau lòng và đau khổ (thập giá cuộc đời).  Thập Giá của Chúa Giêsu cũng là của Đức Mẹ.  Nỗi đau xé nát lòng Đức Mẹ khi ông Simêon nói tiên tri về Chúa Giêsu là dấu hiệu cho người đời chống báng và làm duyên cớ cho nhiều người ngã xuống hoặc đứng lên (Lc 2:34-35).

Từ đó, Đức Mẹ nhận cuộc khổ nạn của riêng Mẹ, và Đức Mẹ chỉ hết đau khổ khi về trời cả hồn xác.  Dưới chân Thập Giá, khi Chúa Giêsu nói: “Này là con của Mẹ”, Đức Mẹ biết nỗi đau khổ của mình được chuyển đổi từ việc trải nghiệm sự đau khổ của Con Yêu sang nỗi đau khổ của loài người bị rắc rối vì tội lỗi.

2. Ba Cách Chịu Đau Khổ

ĐGM Jacques-Benigne Bossuet, một tác giả tâm linh thế kỷ XIX, đã chia sẻ trong tác phẩm kinh điển của ngài là cuốn “Meditations on Mary” (Chiêm Niệm về Đức Maria), một cách suy nghĩ hay về những gì chúng ta có thể học hỏi từ nỗi đau khổ của Đức Mẹ.  Ngài nói rằng có ba cách chịu đau khổ mà chúng ta cũng trải nghiệm và cách mà Thiên Chúa tác động nơi linh hồn chúng ta để hoàn toàn bình an trong mỗi tình huống.

  • Nỗi Buồn Hoàn Toàn Bị Loại Bỏ

Trong trường hợp này, Gm. Bossuet giải thích rằng “nỗi đau khổ hoàn toàn được làm cho nguôi ngoai, và chúng ta được an ủi”.  Lúc đó như thể đau khổ của chúng ta được lấy đi, đó là ân sủng kỳ diệu.  Một số người có thể hiểu điều này, trong khi những người khác lại không hiểu được.  Đó là ân sủng siêu nhiên hiếm có, thế nên chúng ta phải biết tạ ơn nếu điều đó xảy ra với chúng ta.

Trong trường hợp này, Thiên Chúa cho phép linh hồn chúng ta cảm nghiệm sự bình an trọn vẹn, bởi vì Ngài loại bỏ mọi nỗi buồn cho chúng ta.  Có lẽ Đức Mẹ đã nhận được ơn an ủi này, nhưng cũng rất có thể nỗi đau khổ của Đức Mẹ vẫn còn, bởi vì Đức Mẹ muốn chịu đau khổ vì yêu mến Chúa.

  • Linh Hồn Rắc Rối Vì Sự Dự Nhưng Kiên Nhẫn Chịu Đựng

Gm. Bossuet cho biết rằng linh hồn của chúng ta trong tình trạng này vẫn nhận biết nỗi buồn và đau khổ nhưng sẵn sàng chịu đựng.  Đó là khi chúng ta chiến đấu với các thập giá của mình, có thể chúng ta vẫn thấy sợ hãi hoặc coi thường đau khổ.  Theo Gm. Bossuet, chúng ta phải cố gắng duy trì sự bình an và không xao xuyến.

Sự bình an của Đức Mẹ không bao giờ bị dao động, cho dù có những nỗi đau khổ và rắc rối – ngay cả khi Đức Mẹ nói với Chúa Giêsu khi gặp lại nhau sau ba ngày thất lạc: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy?  Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Lc 2:48).  Sự lo lắng của Đức Mẹ không như sự lo lắng của chúng ta.  Đó là mối quan tâm vì không biết Con Trẻ thế nào, chứ Đức Mẹ không phiền lòng chi cả.

  • Chúng Ta Biết Đau Khổ Nhưng Không Phiền Lòng Vì Nó

Mức đau khổ này là lúc chúng ta vừa nhận biết đau khổ của mình vừa bị rắc rối vì nó.  Lúc đó, có vẻ như Thiên Chúa ban các đặc ân “soi sáng” để Ngài “ban thêm sức mạnh cho chúng ta”, mặc dù chúng ta vẫn “chịu sự mãnh liệt của nó, nhưng vẫn không mất sự bình an trong tâm hồn.”

Trong hành trình Mùa Chay của chúng ta, hãy tưởng tượng rằng Đức Mẹ đồng hành với chúng ta giống như chúng ta đi theo Chúa Giêsu lên Đồi Can-vê vậy.  Cũng như Đức Mẹ, chúng ta có thể đau nhói tim cả ngàn lần vì đau khổ và hấp hối, nhưng chúng ta cầu xin Đức Mẹ nâng đỡ bằng nhiều ơn thánh để làm cho chúng ta bình tĩnh mà không dao động khi chúng ta trải qua đau khổ vì yêu mến Chúa.

Jeannie Ewing – Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
Chiều Mùa Chay, 16-3-2019