TÌNH YÊU HIỆP NHẤT

Trong cuộc đời của nghị viên Remaud có một giai thoại lý thú sau đây:  Lần đầu tiên từ Pyrénées đến Paris với tư cách là nghị viên, ông Rémaud thuê phòng trong một khách sạn và trả tiền trước một tháng: 150 quan Pháp.  Chủ khách sạn hỏi:

– Ông có cần biên nhận không?

– Không, không cần thiết. Thiên Chúa nhìn thấy hết chúng ta.

– Ngài tin vào Thiên Chúa ư?

– Lẽ dĩ nhiên! Ông cũng thế chứ?

– Tôi thì không, thưa ngài.

– A! Vậy xin ông cho tôi ngay một tờ biên nhận!

******************************

Người ta thường nói:  “Tin đạo chứ đừng tin người có đạo”.  Quả thật, khi gặp người có đạo chúng ta thấy tin tưởng hơn, yên tâm hơn.  Nhưng thực tế, không hẳn là như vậy!  Ở đây, chúng ta muốn nói đến niềm tin vào Thiên Chúa, tin các mầu nhiệm trong đạo.  Đã tin là có liều lĩnh, mạo hiểm.  Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm cao sâu, trí khôn con người khó mà hiểu thấu.

Chúng ta thường dùng một vài hình ảnh loại suy để hiểu một phần nào mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi.  Đó là hình ảnh của nước.  Nước có thể hiện hữu dưới ba hình dạng:  thể hơi, thể rắn và thể lỏng.  Hoặc ba nốt nhạc tạo nên một hợp âm duy nhất.  Tuy nhiên tất cả những so sánh ấy không tránh khỏi thiếu sót, vụng về khi nói về Thiên Chúa.  Chỉ có Đấng ở trong cung lòng Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô đã vén mở cho chúng ta biết có một Thiên Chúa duy nhất trong ba Ngôi Vị:  là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.  Ba Ngôi khác nhau nhưng cùng một Thiên Chúa.

Câu Kinh Thánh nổi tiếng về Ba Ngôi chính là:  “Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ, nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần” (Mt 28,19).  Và hình ảnh đặc trưng nhất về Ba Ngôi được mạc khải khi Đức Giêsu chịu phép rửa:  Một hình chim bồ câu bay lượn trên mình Người, và một tiếng từ trời phán:  “Con là Con Ta yêu dấu” (Mc 1,11).  Đó là hình ảnh sống động về chân dung của Chúa Ba Ngôi.  Theo Thánh Tôma Aquinô thì trong cuộc Hiển Dung tất cả Ba Ngôi đã xuất hiện:  “Chúa Cha trong tiếng nói, Chúa Con trong con người, Chúa Thánh Thần trong áng mây sáng chói”.

Thánh Luca nhìn lịch sử cứu độ như một viễn cảnh mang chiều kích Ba Ngôi:  Thời Cựu Ước là kỷ nguyên của Chúa Cha, thời loan báo Tin Mừng là kỷ nguyên của Chúa Con, và thời hậu Tin Mừng mà Công Vụ Tông Đồ ghi lại là kỷ nguyên của Chúa Thánh Thần:  Kinh Tin Kính duy trì mẫu tuyên xưng này:  Chúa Cha sáng tạo, Chúa Con cứu chuộc, và Chúa Thánh Thần ban nguồn sống.

Tin vào mầu nhiệm Ba Ngôi là chúng ta dựa vào thế giá của Đức Giêsu, Người là Sự thật (x. Ga 8,32) nên Người chẳng lừa dối ai.

Tin vào mầu nhiệm Ba Ngôi là chúng ta làm dấu thánh giá trên thân xác, là in dấu Chúa Ba Ngôi trên cuộc đời mình, là họa lại hình ảnh Ba Ngôi trong tâm hồn tha nhân. 

**********************************

Lạy Ba Ngôi chí thánh, Thiên Chúa là một cộng đồng Tình yêu Hiệp nhất.  Xin cho Giáo hội tìm thấy bản tính của mình trong bản tính của Chúa Ba Ngôi.  Xin cho chúng con hiệp nhất trong tình yêu, để minh chứng cho Tình yêu Hiệp nhất của Chúa.  Amen!

Thiên Phúc

VỊ ẨN TU GÂY NHIỀU GƯƠNG XẤU

Trong quyển sách về truyền thống của các vị ẩn tu có thuật lại câu chuyện sau đây:

Ngày kia khi Ðức Giám Mục A-mô-las đến thăm mục vụ một làng nọ, dân chúng đã bày tỏ với ngài lòng bất mãn tột độ của họ đối với một vị ẩn tu trên núi, vì ông ta đem theo một phụ nữ để chung sống.

Từ dạo ấy, vị ẩn tu không ngớt là đối tượng để dân làng đàm tiếu, chỉ trích và lên án.

Thấy Giám Mục A-mô-las đến, họ xúm lại vây quanh ngài và nói:

– Hôm nay ngài đã đến đây thì ngài phải chấm dứt ngay lập tức tình trạng sa đọa bê bối gây nhiều gương mù gương xấu của vị ẩn tu trên núi kia.

Sau khi nghe những lời kết án gay gắt của dân làng, Giám Mục A-mô-las quyết định leo lên núi. Ngài đi đầu, dân làng lũ lượt nối gót theo sau.

Vị ẩn tu thấy đám đông kéo đến túp lều của mình, ông ta hoảng sợ và cấp tốc bảo người phụ nữ chui vào trốn trong một chiếc thùng rỗng.

Ðức Giám Mục là người đầu tiên đến trước túp lều, và cũng là người đầu tiên bước chân vào.  Ngài đưa mắt nhìn chung quanh và hiểu ngay tình hình.  Ung dung, ngài đi thẳng đến ngồi trên chiếc thùng gỗ để nghỉ chân.  Rồi bình thản khoát tay gọi dân làng vào mà bảo:

– Vào đây. Các ngươi hãy vào mà lục xét túp lều để tìm người phụ nữ.

Khi họ không tìm đâu ra bóng dáng người đàn bà, đức giám mục mới nói:

– Bây giờ các ngươi phải quì xuống xin lỗi Thiên Chúa vì đã nói xấu vị ẩn tu này vô cớ.

Nhưng sau đó, khi mọi người đã lục tục kéo xuống núi, đức giám mục A-mô-las tiến gần vị ẩn tu nắm chặt hai bàn tay của ông, đưa mắt nhân từ nhưng cương nghị nhìn sâu vào đôi mắt của ông và chậm rãi nói:

– Hỡi người anh em, hãy cẩn thận giữ mình kẻo mất linh hồn đấy.

*******************************

Hai thái độ khác nhau đối với một người lầm lỗi giữa dân làng và giám mục A-mô-las có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn giáo huấn của Chúa Giêsu về việc sửa chữa lỗi lầm của nhau.

Ngược lại với phản ứng của dân làng, đức giám mục A-mô-las đã cố gắng áp dụng lời khuyên của Chúa Giêsu.  Trong một tình trạng khó xử, ngài đã tìm cách đem vấn đề đã được mọi người bàn tán trở thành một vấn đề cá nhân để có dịp thuận tiện nói chuyện diện đối diện với vị ẩn tu.

Tiếp đến, ngài đã không sửa lỗi ông như một người có thẩm quyền.  Trái lại ngài đã dùng thẩm quyền của mình bảo vệ cho vị ẩn tu để sau đó có thể khuyên nhủ ông như một người anh em.

Và sau cùng, dầu không cấu kết với đám đông để khinh thường và lên án vị ẩn tu đang vấp phạm, cũng như nêu bật mối nguy hiểm của lỗi lầm này đối với phần rỗi của đương sự, qua một lời khuyên nhẹ nhàng nhưng thẳng thắn: “Hỡi người anh em, hãy cẩn thận giữ mình kẻo mất linh hồn”.

*******************************

Lạy Chúa Giêsu, không ai trong chúng con là một người tốt lành hoàn hảo, không ai là người chưa từng phạm tội bao giờ, xin cho chúng con biết bắt chước thái độ của Ðức Giám Mục trong câu chuyện trên đây khi đối diện với những lỗi lầm của anh em mình.  Xin cho con biết học hỏi theo chân Thầy Giêsu: hiền lành, khiêm nhường, vị tha, không kết án ai, lúc nào cũng tạo cho tội nhân một cánh cửa, một lối thoát.  Xin dạy con thuộc lòng câu nói nhân từ của Chúa Giêsu với người phụ nữ ngoại tình:  “Tôi không lên án chị đâu!  Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” (Ga 8:11).

R. Veritas

BỨC ẢNH THÁNH TÂM CHÚA

Một tên bợm nhậu, đã gây bao chuyện rối trong cộng đoàn và gia đình, anh ta có một bà vợ rất đảm đang.  Trong kỳ đại phúc, chị ta giục chồng đi nghe giảng.  Anh ta đáp lại bằng những lời cục cằn và tục tĩu.  Cuối tuần, chị ta lại bảo chồng :

–   Thì ít ra anh cũng nên đến nhà thờ mà xem bức ảnh Thánh Tâm Chúa mới sắm về, ai cũng trầm trồ khen đẹp.

Anh chồng miễn cưỡng trả lời :

–   Thôi được, tôi không nói không.

Anh ta tới và cũng như mọi người đến ngắm bức ảnh.  Anh ngắm nghía cái vết đòng ở sườn và cái vòng gai quấn quanh Trái Tim của ảnh.  Bỗng anh suy nghĩ :

–   Chính tôi, chính tôi đã đâm những gai này vào Trái Tim Đấng Cứu Thế.

Anh hết sức xúc động.  Đôi mắt tràn lệ anh đứng một lúc lâu trước ảnh Chúa. Liền sau đó anh đến toà xưng tội, đi tham dự Thánh Lễ và đã rước Mình Thánh Chúa.  Trở về nhà, anh ôm vợ, ôm con, kể cho mọi người nghe niềm hạnh phúc anh đang hưởng và nói :

–   Từ trước đến giờ tôi đã gây cho em và các con biết bao khổ cực, từ nay tôi hứa sẽ chỉ đem lại cho cả nhà niềm vui và gương lành.

Anh đã giữ lời và đã biến nhà anh, mà trước kia anh làm thành hoả ngục, trở thành Thiên Đàng.

*************************

Trong sách Tin Mừng Thánh Gioan  thuật lại.  Khi người lính đến đánh giập ống chân các tử tội, thấy Chúa Giêsu đã tắt thở, tên lính lấy đòng đâm vào cạnh sườn của Chúa, tức thì máu cùng nước chảy ra (Ga 19,34), cái mũi đòng của tên lính đã tạo nên cái vết thương thứ năm nơi Chúa.  Tắt thở rồi đấy nhưng vẫn không được yên.

Ngày nay qua dòng thời gian con người tiếp tục, vô tình hoặc cố ý tạo thêm những vết thương mới nơi Trái Tim của Chúa, đó chính là cái vết thương “thứ sáu” của những hậu duệ ngày nay, cái vết thương  kín đáo nhất, đau đớn nhất, lớn nhất và lâu lành nhất cho đến bây giờ Chúa vẫn đang phải gánh chịu.

Anh chàng say sưa như hũ chìm trên kia, đã được chính Trái Tim Chúa đánh động, và bản thân anh ta  nhận ra được, chính những cái gai đó là của chính mình đã đâm vào Trái Tim Chúa. Anh ta đã thành tâm quay trở về với Chúa, như  đứa con hoang đàng đã nhận ra tất cả những lỗi lầm của mình và trở về với người cha của mình.  (Lc 15,11-26).

*************************

Giáo Hội dành trọn cả tháng sáu này, để mọi Kitô hữu Kính Thánh Tâm Chúa cách đặc biệt.

Nguyện xin Thánh Tâm Chúa, là nguồn tình yêu bao la, xin cho con được lòng sốt mến,  đến với Thánh Tâm Chúa, nhất là những khi con vô tình đã phạm những lỗi lầm, làm tổn thương đến Trái Tim Chúa.  Để từ nguồn tình yêu của Chúa đó, con sẽ được Chúa thứ tha và nhận được ân sủng của Chúa dành cho con.  Xin Chúa cũng ban cho tất cả mọi người nhận ra được Tình yêu của Chúa luôn ở trong cuộc sống mỗi người.  Đặc biệt nơi những tâm hồn còn nguội lạnh, xin Thánh Tâm Chúa đánh động tâm hồn họ, để tất cả cùng hoà nhịp với lời nguyện xin  trong bài thánh ca vang vọng mỗi khi tháng Sáu về.

Thánh Tâm Chúa Giêsu nguồn êm ái dịu dàng
Xin hãy ban xuống lòng con tàn lửa say yêu một Chúa.
Thánh Tâm Chúa Giêsu tràn lan niềm thương xót
Xin thương những người đã trót vô tình xúc phạm đến Thánh Tâm Cha.

Pet. PBH

BÌNH AN GIỮA CHỐN PHONG BA

Ngày xửa ngày xưa có một vị vua treo giải thưởng cho nghệ sĩ nào vẽ được một bức tranh đẹp nhất về sự bình an.  Nhiều họa sĩ đã cố công vẽ những bức tranh tuyệt đẹp để trình lên vua.  Nhà vua ngắm tất cả các bức tranh đó nhưng chỉ thích có hai tấm và ông phải chọn lấy một.

Một bức tranh vẽ hồ nước yên ả.  Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ vì có những ngọn núi cao chót vót bao quanh.  Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng mịn màng.  Tất cả những ai ngắm bức tranh này đều cho rằng đây là một bức tranh bình an thật hoàn hảo.

Bức tranh kia cũng có những ngọn núi nhưng những ngọn núi này trần trụi và lởm chởm đá.  Ở bên trên là bầu trời giận dữ đổ mưa như trút kèm theo sấm chớp.  Đổ xuống bên vách núi là dòng thác nổi bọt trắng xóa.  Bức tranh này trông thật chẳng bình an chút nào.

Nhưng khi nhà vua ngắm nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt của một tảng đá.  Trong bụi cây một con chim mẹ đang xây tổ.  Ở đó, giữa dòng thác trút xuống một cách giận dữ, con chim mẹ đang an nhiên đậu trên tổ của mình..…  Bình an thật sự!

Nhà vua công bố:  “Ta chấm bức tranh này!  Sự bình an không có nghĩa là một nơi không có tiếng ồn ào, không khó khăn, không cực nhọc.  Bình an có nghĩa ngay chính khi đang ở trong phong ba bão táp ta vẫn cảm thấy sự yên tĩnh trong trái tim.  Đó mới chính là ý nghĩa thật sự của bình an”. 

***************************

Sau khi Đức Giêsu chịu chết, các tông đồ sợ người Do Thái lùng bắt, nên đã trốn vào phòng, cửa đóng then cài.

Giữa cơn phong ba bão táp, Đức Giêsu sống lại, hiện ra với các ông, như chim mẹ an nhiên đậu trên tổ canh giữ bầy con, Người mang lại cho các ông sự bình an đích thực:  “Bình an cho anh em!”

Bình an của Đấng Phục sinh không phải là thứ bình an không có sóng gió.  Bình an của Người là bình an trong tâm hồn.  Bình an ấy không loại trừ phải đối đầu với kẻ thù.  Bình an ấy giúp ta đối diện với khổ đau và nỗi chết.  Chính vì thế mà sau khi trao bình an, Đức Giêsu đã cho các môn đệ “xem tay và cạnh sườn” Người.  Đó là bằng chứng của một cuộc chiến đấu đầy gian truân mà các môn đệ sẽ phải đi tới.

“Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”.  Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo:  “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,21-22).  Nhận được bình an, lòng tràn ngập hân hoan, các môn đệ không còn nhát sợ.  Với sức mạnh của Thánh Thần các ngài mạnh dạn tung cửa ra ngoài, hiên ngang rao giảng về Đức Giêsu, Đấng đã bị người ta giết chết, nhưng Thiên Chúa đã cho Người sống lại.  Người đang hiện diện sống động giữa các ngài và đang hoạt động mãnh liệt trong các ngài.

Lễ Hiện Xuống nhắc nhở người tín hữu về một Thánh Thần bình an đã hoạt động trong lòng Giáo hội suốt 2000 năm qua.  Người cũng đang hiện diện trong những người đã lãnh nhận Bí tích Thêm Sức để sai họ đi làm chứng nhân cho Tin Mừng.

Làm chứng cho Tin Mừng là để Thánh Thần mở toang cánh cửa tâm hồn, không còn nhát sợ nhưng can đảm chiến đấu với thử thách, khổ đau trong cuộc sống.

Làm chứng cho Tin Mừng là để Thánh Thần dẫn dắt chúng ta đến với người nghèo khổ, bất hạnh, để tận tình yêu thương và kính trọng họ cho xứng với phẩm giá con người.

Làm chứng cho Tin Mừng là để Thánh Thần thúc đẩy chúng ta đến với những người chưa nhận biết Chúa bằng đời sống dấn thân phục vụ trong hân hoan.

Nếu mỗi người tín hữu biết mềm mại để Thánh Thần canh tân đổi mới, nếu mỗi chúng ta biết lắng nghe tiếng nói thầm lặng nhưng mạnh mẽ của Thánh Thần, thì mọi người sẽ thấy những biến đổi kỳ diệu trên toàn thế giới.

***************************

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài hãy đến như ngọn gió mát, thổi vào cuộc đời chúng con luồng sinh khí mới để cả trái đất này được thay da đổi thịt trong cùng một Thánh Thần Tình Yêu.  Amen!

Thiên Phúc

THA THỨ

Có một phụ nữ Mỹ gốc Do Thái tên là Ross Price đã bị Đức Quốc Xã giam giữ tại trại Robincaz và sau đó chuyển đến trại Darkham.  Năm 1945, khi quân đội đồng minh giải phóng Âu Châu, Ross Price được may mắn còn sống sót và định cư tại Hoa Kỳ.  Bà Ross Price vẫn luôn nhớ đến những năm tháng đầy kinh hoàng ở trại tập trung.

Một đêm Giáng Sinh nọ, bà không thể tưởng tượng được rằng, chính những người lính Đức và các cai ngục mừng lễ Giáng Sinh cách vui vẻ trong những bài hát của họ có tên của Đấng Cứu Thế mà dân Do Thái hằng mong đợi.  Bà tự nghĩ, vị cứu tinh mà Thiên Chúa đã hứa cho dân tộc bà, Ngài đang ở đâu, sao Ngài không đến tiêu diệt quân tàn bạo dã man kia????

Thế rồi năm 1980, người ta mời bà đến Berlin để phát biểu nhân một cuộc tập họp để lên án Đức Quốc xã.  Sau khi qùy gối cầu nguyện lâu giờ, người đàn bà đã nhận lời.  Năm 1981, bà đã có mặt tại chính sân vận động Berlin.  Trước một cử toạ gồm 40 ngàn người, bà Ross Price đã kể lại chuỗi ngày của bà trong các trại tập trung.  Kết thúc chứng từ, bà trích đọc lời tiên tri Isaia 53: “Đẹp thay những bước chân người sứ giả đã loan báo Tin Mừng… Chính những nỗi khổ đau của chúng tôi mà Người đã gánh chịu, và Ngài đã hiến thân chiu chết và đã bầu cử cho những tội nhân.”

Ba Ross Price thuật lại rằng khi bà trở về chỗ ngồi thì có một số người đến gần bà bằng một giọng rất cảm động van xin bà như sau: “Chúng tôi chính là những người canh tù tại các trại tập trung. Bà có thể tha thứ cho chúng tôi không?” Bà Ross Price trả lời trong nước mắt: “Nếu Thiên Chúa đã tha thứ cho tôi bằng cái chết con Ngài, tại sao tôi lại không tha thứ cho các ông?”

Một người đàn ông đã quì khóc dưới chân bà. Từ lúc đó, bà Ross Price không còn nghi ngờ gì về Chúa Kitô nữa.

*****************************

Tha thứ là thể hiện cao cả nhất của tình yêu. Yêu thương đồng nghĩa với trao ban. Con người có thể cho đi của cải mình, con người cũng có thể trao ban chính mạng sống mình vì người mình yêu. Nhưng tha thứ còn hơn cả trao ban chính mình, vì tha thứ là trao ban cho kẻ thù của mình. Tha thứ quả thật là trao ban hai lần.  Spaak có nhận xét rằng: “Dưới mắt tôi, tha thứ là nhân đức cao đẹp nhất trong các nhân đức”; thánh Gandhi cũng khuyên chúng ta: “Luật vàng của xử thế là biết tha thứ cho nhau.”

Khi tự hiến trên thập giá Chúa Giêsu đã thể hiện trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Ngài đã tha thứ cho những kẻ hành hạ Ngài.  Đó là nét cao cả nhất trong dung mạo của Chúa Giêsu. Con người sẽ cảm thấy gần gũi với Ngài khi họ sống yêu thương. Nhưng con người sẽ nhận ra được dung mạo đích thực của Ngài khi họ biết tha thứ.

Qua cử chỉ tha thứ, con người như cảm thấy mình được lớn lên được tái tạo trong cuộc sống mới.  Đó là ơn cao trọng nhất mà Đấng cứu thế mang lại.  Ngài là Đấng Cứu Độ nhân loại vì Người đã tha thứ cho con người và mang lại cho con người một cơ hội để đổi mới.  Mỗi một hành động tha thứ là một cuộc Phục sinh.

*****************************

Lạy Chúa, tha thứ là điều khó khăn nhất trong cuộc sống.  Không có ơn Chúa con không thể tha thứ cho anh em con.  Xin ban cho con luôn biết vượt qua những trở ngại để thực thi sự tha thứ, và không ngừng cảm nhận được ơn tha thứ của Chúa.  Amen!

Thiên Phúc

VẾT CHÂN NGÀI

Một nhà nghiên cứu người Pháp muốn đi qua sa mạc, ông mướn mấy người Ả Rập hướng đạo.  Khi mặt trời lặn, một người trong bọn trải tấm nệm trên cát và cầu nguyện.  Nhà trí thức hỏi:

–  Anh làm gì thế?

–  Tôi cầu nguyện.

–  À, anh cầu nguyện hả?  Anh cầu với ai chứ?

–  Tôi cầu với Allah, Thiên Chúa.

Nhà trí thức cười mỉa mai:

–  Anh có nhìn thấy Thiên Chúa bao giờ chưa?

–  Chưa, chưa bao giờ.

–  Thế anh có sờ thấy Ngài không ?

–  Không

–  Ủa, vậy đúng là anh điên, lại đi tin vào một ông Chúa mà anh không bao giờ xem thấy, nghe thấy hay sờ thấy được.

Người Ả Rập không biết trả lời làm sao.  Sáng hôm sau, lúc hừng đông, nhà nghiên cứu ra khỏi lều, ông lưu ý người hướng đạo :

–  Này, có con lạc đà vừa đi qua.

Đôi mắt người Ả Rập sáng lên :

–  Ngài có nhìn thấy con lạc đà không?

–  Không thấy.

–  Ngài có sờ được nó không?

–  Không.

–  Vậy ra Ngài cũng điên rồi vì tin rằng có con lạc đà vừa đi qua mặc dù ngài không nhìn thấy, không nghe tiếng, không sờ vào nó.

Nhà thông thái vặn lại :

–  Ô hay, anh không thấy những vết chân trên cát kia thôi.

Cùng lúc đó mặt trời mọc lên phía trời đông với tất cả huy hoàng tráng lệ.  Bằng một cử chỉ, người Ả Rập chỉ mặt trời :

– Ngài không thấy dấu vết của Đấng Tạo Hoá sao? Xin ngài biết cho rằng có Thiên Chúa đấy.

************

Ngày nay, cuộc sống mà con người gọi là hiện đại, tiến bộ vượt bực về mọi mặt.  Muốn di chuyển từ nơi này đến nơi khác một cách nhanh chóng đã có đủ mọi phương tiện máy bay, xe hơi, tàu thuỷ…  Ngồi trước màn hình vi tính, nhấn nhấn gõ gõ, chỉ trong chốc lát đã bày ra trước mắt mình điều mình muốn.  Ra ngoài đường phố, hoặc du lịch xa nhà con người vẫn liên lạc được với nhau bằng những chiếc điện thoại di động… và còn rất nhiều các thứ hiện đại khác nữa, đang phục vụ con người một cách hữu hiệu trong cuộc sống thường ngày. Nhưng Chúa ơi, ngày nay con người đang hưởng những phương tiện hiện đại đó, nhưng đâu có nghĩ ra được đó chính là những sản phẩm do chính Chúa đã cho phép con người tiếp tục công trình Sáng Tạo của Người.  Mà chỉ nghĩ : cái này là của Bill Gates, cái kia là của Nokia, Sony, Samsung, Honda, Mercerdes…  Như nhà nghiên cứu trí thức kia, quên đi rằng mình đang sống trong một hành tinh đầy bí ẩn, mà chính ông đang tìm tòi nghiên cứu. Ông đã không nghĩ ra được là phải đi tìm vị tác giả tạo dựng ra nó … để cầu nguyện, hướng dẫn soi sáng cho mình.

**************

Lạy Chúa, con xin cám ơn Chúa đã cho con được sống, được nhìn, được hưởng những vật dụng hiện đại trong những năm đầu của thế kỷ 21 này.   Xin Chúa giúp con nhận ra được rằng: Chúa là tác giả chính, nhưng Chúa lại muốn dùng sự thông minh, và bàn tay khéo léo của con người để tiếp tục công trình của Người.  Vì con người là một tạo vật hoàn hảo mà Chúa dựng nên (St 1,26).  Xin Chúa soi sáng cho những người Chúa muốn dùng, biết sử dụng sự thông minh và khéo léo của mình một cách sáng suốt, biết dùng cái quyền tự do Chúa đã ban một cách có ý thức, để sáng tác ra những vật dụng có ích  phục vụ cho nhân loại.  Xin Chúa cho con biết sử dụng những vật dụng đó một cách hữu ích, mang lại hiệu quả và ý nghĩa trong cuộc sống.  Amen!

Phạm Bá Huyến sưu tầm

LÀM CHỨNG

Christopher là một Kitô hữu ngoan đạo.  Anh không bao giờ bỏ lễ ngày Chúa nhật.  Anh sống cùng với gia đình trong một ngôi nhà đầy đủ tiện nghi, tại một khu vực hiện đại của thành phố.  Với sức khỏe tốt, một công việc an toàn, có thu nhập cao, anh cảm thấy hạnh phúc và mãn nguyện.

Tuy nhiên, có một điều làm cho anh bận tâm, liên quan đến người hàng xóm bên cạnh nhà anh.  Ðó là một người tự nhận mình là vô thần, và không bao giờ đến nhà thờ.  Với tư cách là Kitô hữu, Christopher cảm thấy rằng anh có trách nhiệm trong việc cố gắng cải tạo người hàng xóm đó.  Nhưng anh phải làm việc này như thế nào đây?  Trong nhiều dịp nói chuyện với người đó, anh đã đưa đề tài tôn giáo ra một cách hết sức tích cực có thể được.  Than ôi, anh chẳng đi đến đâu cả.

Thế rồi một ngày kia, anh nảy ra một sáng kiến. Nếu anh chỉ làm sao cho người hàng xóm đó đọc được Tin Mừng, thì chắc chắn là anh thành công rồi.  Ai có thể không được Tin Mừng lay chuyển?  Vấn đề duy nhất là làm thế nào để gửi cho anh ta bản sao của sách Tin Mừng.  Anh có thể gõ cửa nhà anh ta, và đưa tận tay cuốn sách đó.  Nhưng chắc hẳn điều đó sẽ gây khó chịu cho anh ta.  Anh phải tìm một cách nào tế nhị hơn. Vậy anh nên làm gì đây?  Anh gửi cho anh ta một cuốn bản sao của sách Tin Mừng, mà không để tên người gửi.

Sau khi làm công việc này, anh chờ đợi xem điều gì sẽ xảy ra.  Nhiều ngày trôi qua, không có gì xảy ra cả.  Không hề có một dấu hiệu nhỏ nhoi nào chứng tỏ rằng người hàng xóm đó đã đọc được ánh sáng Tin Mừng.  Hai tuần sau, vợ của Christopher có dịp sang thăm nhà bên cạnh.  Khi trở về, chị nói với chồng:

– Anh có biết gì về cuốn bản sao của sách Tin Mừng, mà anh đã gửi cho anh ta không?

– Sao thế?

– Cuốn sách đó nằm trong thùng rác rồi!

Christopher phẫn nộ.  Quẳng sách Tin Mừng vào thùng rác là một việc không phải chút nào.  Anh đi sang nhà bên cạnh, và khi đi ngang qua thùng rác, anh đã nhặt cuốn sách đó lên và nói với người hàng xóm:

– Tôi hy vọng rằng tôi không xâm phạm gì đến anh. Nhưng tôi nhìn thấy cuốn sách này trong thùng rác của anh.  Anh biết không, nếu anh chỉ đọc cuốn sách này thôi, thì anh có thể tìm thấy Thiên Chúa.

Người hàng xóm trả lời một cách đáng ngạc nhiên

– Nhưng tôi đã đọc cuốn sách đó rồi. Mỗi ngày tôi đều đọc đấy chứ.

– Tôi không hiểu gì cả.

– Anh là một người tín hữu phải không?

– Ðúng vậy. Mà tại sao anh lại hỏi tôi như thế?

– À, trong suốt 10 năm qua, mỗi ngày tôi đều đọc cuộc sống của anh.

**********************************

Trước khi xa rời các tông đồ, Ðức Giêsu đã ủy thác cho họ việc rao giảng Tin Mừng cho toàn thế giới. Người còn hứa gửi Chúa Thánh Thần đến với họ, để giúp đỡ họ thực hiện được sứ vụ đó.

Ngày nay, công việc rao giảng Tin Mừng cho toàn thế giới tùy thuộc vào chúng ta.  Ðây là một đặc ân vĩ đại, nhưng cũng là một công việc dễ làm nản lòng.  Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể tin tưởng vào sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần.  Cách thế tốt nhất để rao giảng Tin Mừng chính là bằng cách sống đời sống Kitô hữu của mỗi người chúng ta.  Một câu hỏi mà mỗi người chúng ta đều có thể tự hỏi là:  Nếu người khác nhìn vào cuộc sống của tôi, họ có thể nhận ra hình ảnh của Chúa Kitô được miêu tả trong Kinh Thánh không?

Có một bài viết ngắn về điều này :

“Tôi là cuốn sách Kinh Thánh đối với người hàng xóm của tôi; người đó đọc tôi mỗi khi gặp tôi.
Hôm nay, anh ta đọc tôi trong ngôi nhà của tôi, ngày mai, anh ta đọc tôi trên đường phố.  Anh ta có thể là một người họ hàng, một người bạn, hoặc chỉ là một người quen biết sơ giao mà thôi.  Thậm chí anh ta có thể không biết tên tôi, tuy nhiên, anh ta vẫn đang đọc Kinh Thánh qua cuộc đời của tôi”.

**********************************

Lạy Chúa Giêsu Thăng Thiên, Chúa biết các tông đồ xưa: bơ vơ lạc lõng, tối tăm và yếu đuối, họ cần có Chúa biết bao trên bước đường chứng nhân, thế mà Chúa vẫn dứt áo về Trời.  Cuộc sống của chúng con bơ vơ giữa chốn chợ đời cũng đầy những vấp ngã lầm lỡ, cuộc đời của chúng con lắm lúc chỉ là những trang sách chiến tranh thù hận, giành giựt cơm áo, bon chen vật chất, làm sao chúng con dám làm chứng cho Chúa qua những mảnh đời đen tối được.  Xin cho chúng con luôn ngước mắt về Trời cao để nhờ đó cuộc sống của chúng con hướng thiện hơn.  Xin ban Thánh Thần như Chúa đã hứa hầu giúp chúng con sống tốt đẹp hơn, xứng đáng là một chứng nhân cho Chúa, để mọi người có thể qua cuộc sống đó mà tin vào Chúa.  Amen!

Sưu tầm

KINH KÍNH MỪNG

Một sĩ quan Pháp kể câu chuyện này:  “Bị thương vào đùi, tôi nằm chờ đợi cấp cứu tới.  Bên cạnh tôi , một quân nhân trong đơn vị của tôi nằm sắp chết, vì một vết thương nặng trên đầu.  Anh móc trong túi ra một tượng Chịu Nạn nhỏ và đọc bằng tiếng La-tinh lời kinh Ave Maria.  Đột xuất từ xa đó một chút có tiếng đáp lại: Sancta Maria Mater Dei.  Người thương binh quay nhìn và thấy một thương binh Đức mở to đôi mắt xanh nhìn anh. Người thương binh của tôi ngừng một phút rồi trao tượng Chúa cho người kia.  Người thương binh Đức ghì tượng vào ngực rất tha thiết rồi trao trả lại.  Hai người nắm tay nhau.  Người này nói :

– Chúng ta có thể chết bình an được rồi. Chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ.

Người kia trả lời:

– Chúng ta cùng đi về quê, nơi không còn hận thù.

Lát sau, cả hai trút hơi thở cuối cùng, cùng nhau đi về quê an bình.

****************************

Tháng hoa đã trôi qua gần nửa tháng.  Giáo Hội đã dành riêng trọn cả tháng này để tôn kính Mẹ, vì Mẹ chính là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc.  Mẹ đã góp phần rất lớn trong công cuộc Cứu Độ của con Mẹ. Trong những lần Mẹ hiện ra tại Fatima,  Mẹ đã cho nhân loại biết chính cái phương thế để dẫn nhân loại đi đến đường Cứu Rỗi, một trong những điều kiện  đó, chính là siêng năng lần Mân Côi.

Câu chuyện trên cho con nhận ra rằng:  Phương thế hữu hiệu nhất để đạt tới đỉnh Ơn Cứu Rỗi chính là Kinh Mân Côi.  Lời kinh nguyện mà nhiều người cho rằng là nhàm chán, cổ hũ, vì chỉ lặp đi lặp lại câu điệp khúc Kinh mừng… –  Thánh Maria….

Trong lúc bi đát nhất của cuộc đời người lính trong thời chiến, hai người lính đã thể hiện chính cái niềm tin sâu thẳm của mình.  Cả hai đã không còn hận thù, cầm cái vũ khí của con người làm ra để bắn vào nhau. Mà trước lúc nhắm mắt lìa đời, đã biết dùng chính cái phương thế hữu hiệu Kinh Mân Côi đó, để dùng Mẹ làm máng chuyển cầu lời nguyện xin ăn năn thống hối của mình lên Thiên Chúa. để cùng dắt nhau về đến một nơi, mà nơi đó chỉ có sự bình an.

****************************

Lạy Mẹ Maria, trong cuộc sống hằng ngày con đã nhiều khi không còn nhớ tới Kinh Mân Côi.  Con biết rằng Mẹ buồn  con nhiều lắm.  Con không xứng đáng để Mẹ nhìn đến.  Nhưng tự nơi lòng Từ Mẫu của Trái Tim Mẹ, con tin rằng Mẹ sẽ không nỡ ngoảnh mặt làm ngơ.  Xin Mẹ giúp con biết quay trở về với Chúa thông qua Mẹ.  Con xin dâng Mẹ đoá hoa lòng đơn sơ nhỏ bé của con lên Mẹ, mong Mẹ thương nhận.  Amen.

Phạm Bá Huyến sưu tầm

NGƯỜI VẪN LÀ CHA

Trong nhà thờ họ Molina di Quosa, một giáo xứ nhỏ ở Trung Ý, có một tượng chịu nạn kỳ lạ  đóng khung trong một toà kính.  Tượng Chúa bị cụt hết ngón tay trái, bụng dưới có những lỗ thủng, đùi trên đầu gối phải giập nát.  Hỏi người coi nhà thờ thì ông cho biết:

– Bất cứ ai trong xứ này cũng biết sự việc của tượng. Đó là tượng Chịu Nạn của bọn Đức.

Khách tò mò :

– Sao lại tượng Chịu Nạn của bọn Đức.

Người coi nhà thờ sẽ dẫn khách ra trước cửa chính và trỏ :

– Ông có thấy cái quán Café Enzio Graziani kia không? Vụ này xảy ra ở đó vào tháng 6 năm 1944 đấy.  Lúc đó có một đại đội lính Đức đóng tại đây.  Viên trung uý đại đội trưởng tên là Heinrich Lohse là một con người hung ác, ai cũng khiếp sợ.  Hắn chửi rủa dân làng, la hét, nói tục tĩu và say xỉn.  Hắn ghét người Ý tới tận xương tuỷ.

Hôm đó là chiều thứ sáu, trời chập choạng tối, hắn chơi bài trong quán, hắn khuấy động và uống nhiều.  Miệng thốt ra toàn lời tục tĩu và lộng ngôn.  Chúng tôi đâu có hiểu gì, nhưng sợ lắm, vì biết rằng cái lão Henri cao ngỏng (tên riêng chúng tôi đặt cho hắn) trong cơn giận dữ dám làm tất cả mọi chuyện.  Cả quán im phăng phắc khi thấy hắn đứng dậy, rút súng lục tiến lại trước tượng Chúa Chịu Nạn treo trên tường.  Hắn chĩa súng bắn vào tượng bốn phát.  Sau mỗi phát hắn lại nghiến răng như thằng quỷ.  Sợ quá!  Chúng tôi chuồn sạch.  Viên thứ nhất cắt đứt hết ngón tay trái tượng.  Viên thứ hai trúng đùi phải, hai viên sau trúng sườn bụng dưới và làm bể hồ trên tường.  Hắn cười man dại chạy tới giật tượng xuống, nhổ vào tượng và ném xuống đất kèm theo những lời chửi rủa tục tĩu.

Anh tài xế của hắn tên là Georgis quê ở Turin là người duy nhất còn lại trong quán chứng kiến tất cả vở kịch.

Điều gì đã xảy đến cho con người bất kính hung tợn đó?  Bàn tay Chúa đè nặng trên hắn.  Tám ngày sau, Georgis lái xe đưa vị chỉ huy của anh đi Florence, xe chạy hết tốc lực trên xa lộ vì trên bầu trời đầy đe doạ.  Bốn khu trục cơ của Mỹ đang nhào lộn như bốn con chim mồi trên chiếc xe.  Hai chiếc bay đi, hai chiếc ở lại bám riết con mồi và vụt nhào xuống trên chiếc xe.  Hắn muốn chơi trò anh hùng?  Hay hắn quá sợ chết điếng đi chăng?  Ai mà biết!  Chiếc thứ nhất nhào xuống nhả đạn.  Một viên đạn tiện hết ngón tay trái hắn.  Hai viên nữa trúng bụng dưới.  Chiếc thứ hai nhào xuống, viên trung uý gập đôi người gục vào xe, viên thứ bốn xuyên thủng đùi phải hắn.

Các khu trục bay đi, Georgis từ chỗ nấp chạy ra xe, viên trung uý đang hấp hối.  Không tự chủ được, anh thốt lên:

– Tượng Chuộc Tội ! Tượng Chuộc Tội!

Một linh mục cũng từ chỗ nấp chạy tới.  Ngài đã chứng kiến cuộc tấn công trên xa lộ và đoán được tai nạn.  Ngài cúi xuống trên nạn nhân đang trút máu và mồ hôi, ngài nghe anh ta rên rỉ:

– Thực là bàn tay Chúa.

Rồi thu hết tàn lực anh ta đưa tay phải còn lại làm Dấu Thánh Giá.  Heinrich Lohse, con người phạm thượng đã an nghỉ trong bàn tay yêu thương của Chúa như người trộm lành bên phải Chúa.

Cái tin vụ phạm Thánh và hình phạt của Chúa loan đi rất nhanh.  Người ta đổ đi tìm tượng Chịu Nạn, tượng nằm trong một thùng chứa quân trang.  Cha xứ làm phép lại, cộng đoàn dân Chúa kiệu tượng về nhà thờ gói trong tấm vải đặt trong hộp kiếng.  Ngày kỷ niệm thứ hai cả giáo xứ rước Tượng quanh làng với đèn đuốc và ca nhạc tưng bừng.  Khách cứ đến quán Café xem các vết đạn trên tường và vào cha xứ, ngài sẽ mở công hàm cho đọc câu chuyện vụ việc có chữ ký xác nhận và chứng thực của anh tài xế Georgis. Khách tự kết luận vụ việc.

Hình phạt và ân sủng.  Lòng Nhân Từ và sự Công Bình của Chúa luôn đi đôi với nhau.

*******************************

Lạy Chúa, đứng trước hiện tượng The Da Vinci Code, con cầu xin Chúa cũng soi sáng dẫn lối cho những con người đang muốn bóp méo sự thật về Chúa, biết dừng lại những ý nghĩ ngông cuồng để họ biết suy diễn đúng đắn về Con Người và Ơn Cứu Độ của Chúa, cho họ biết quay trở về với Chúa như  anh chàng Heinrich Lohse ngông cuồng ngày nào.

HMN

TÌNH YÊU

Lần kia, có một thanh niên nghi ngờ về sự hiện hữu của Thiên Chúa.  Vì thế, anh ta đến thăm viếng một tu sĩ nổi tiếng là thánh thiện.  Anh hỏi vị tu sĩ: “Thầy có tin tưởng vào Thiên Chúa không?”.

Vị tu sĩ đáp: “có chứ”.

Người thanh niên hỏi: “Dựa vào chứng cứ nào mà thầy tin được?

Vị tu sĩ đáp: “Ta tin tưởng vào Thiên Chúa, bởi vì ta biết Người.  Mỗi ngày, ta đều cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm hồn ta”.

Người thanh niên hỏi “nhưng làm thế nào điều đó có thể xảy ra được?

Vị tu sĩ trả lời: “Khi biết sống yêu thương, thì chúng ta cảm nghiệm được Thiên Chúa, và nỗi nghi ngờ tan biến, giống như làn sương buổi sáng bị tan biến trước ánh nắng mặt trời vậy”.

Người thanh niên suy nghĩ về câu nói này trong giây lát, rồi thắc mắc: “Làm thế nào để con có thể đạt được niềm tin chắc chắn này?”.

Vị tu sĩ đáp “Bằng cách hành động theo tình yêu.  Con hãy cố gắng yêu thương những người đồng loại; yêu thương họ một cách tích cực và không ngừng.  Trong khi con học hỏi được cách càng ngày càng yêu thương hơn, thì con sẽ càng ngày càng trở nên tin tưởng vào sự hiện hữu của Thiên Chúa, và sự bất tử của linh hồn.  Ðiều này đã được thử nghiệm.  Ðây là đường lối đúng đắn”.

***************************************

Vị tu sĩ chỉ phản ánh lại những lời nói của thánh Gioan “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu”.  (1Ga 4:7-8)

Tình yêu là điều kiện đầu tiên, để thực sự hiểu biết về cuộc sống, và đặc biệt là hiểu biết về Thiên Chúa. Như cha Zosima nói trong cuốn sách Anh em nhà Karamazov của Dostoevsky “Bạn phải yêu thương tất cả những gì mà Thiên Chúa đã tạo dựng nên, toàn bộ thế giới của Người, và mỗi hạt cát trong đó. Nếu bạn yêu thương tất cả mọi sự, thì bạn cũng sẽ nắm bắt được mầu nhiệm có trong tất cả mọi sự”. Van Gogh đã nói một câu tương tự :Cách thức tốt nhất để nhận biết Thiên Chúa là yêu thương nhiều thứ. Hãy yêu thương bạn bè, vợ con., và bạn sẽ được đi trên đường lối đúng đắn trong việc nhận biết Thiên Chúa”.

Tình yêu là người giáo viên tốt nhất mà chúng ta có. Nhưng tình yêu không đạt được sự hòa hợp riêng của nó. Người ta phải trả giá đắt cho tình yêu. Tình yêu thường đòi hỏi nhiều năm tháng kiên trì, qua những công việc lặt vặt, trước khi người ta có thể đạt được khả năng biết yêu thương.

Có một khoảng cách lớn, giữa việc nhận biết Thiên Chúa và yêu mến Người. Không biết yêu mến, có nghĩa là không biết Thiên Chúa. Nhưng khi chúng ta biết yêu mến, thì khoảng cách này được lắp đầy. Biết yêu mến, có nghĩa là biết Thiên Chúa. Ở đâu có tình yêu, ở đó có Thiên Chúa; ở đâu có Thiên Chúa, ở đó có tình yêu. Sự nhận biết không phải là chứng tỏ hoặc giải nghĩa.

Ghen ghét là một điều tồi tệ.  Ghét bất cứ thứ gì cũng đều là xấu xa cả. Thật là điều tốt đẹp, khi yêu mến tất cả mọi sự, ngay cả một bụi hoa hồng. “Ðối với tôi, tôi hài lòng được trở thành một người làm vườn, một người biết yêu quí những cây cỏ của mình” (Van Gogh).

Bởi vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, cho nên ngay từ bẩm sinh, mỗi người chúng ta đều có khả năng biết yêu thương. Tuy nhiên, để được như vậy, trái tim phải ngay thẳng. Nếu chỉ có được một trái tim ngay thẳng, thì chúng ta có thể hiến tặng nhiều hơn nữa. Nhưng than ôi ! Nhiều khi trái tim con người lại thờ ơ lạnh lẽo, đôi khi còn trống rỗng, tan vỡ nữa. Chúng ta không nên ngạc nhiên về điều này. Tất cả điều đó nói lên rằng chúng ta có một trái tim bằng máu thịt, chứ không phải là bằng đá. Nhưng chúng ta phải chữa lành những vết thương của trái tim, để có khả năng tạo ra được những hoa quả của tình yêu.

Khi chúng ta biết yêu thương, thì hình ảnh của Thiên Chúa đạt mức độ tươi đẹp nhất và rạng ngời nhất nơi chúng ta.

Sưu tầm

***************************************

Lạy Thiên Chúa Tình Yêu, con biết tình yêu Ngài đòi hỏi không chỉ dừng lại nơi gia đình, bạn bè, những người thân quen hiền lành dễ thương mà trải rộng ra thế giới bên ngoài đến những người xa lạ, nghèo khó, những người cau có khó ưa, những kẻ thương không dễ,  và hơn nữa là yêu chính kẻ thù mình..  Thật không dễ để thực hiện điều này trong  cuộc sống..  “Yêu thì khổ, không yêu thì không biết Thiên Chúa.”  Xin cho con sự khôn ngoan để biết chọn lựa, thà khổ, thà lỗ  còn hơn sự thiệt thòi không biết Thiên Chúa.  Con sẽ không làm được điều đó nếu không có sự trợ giúp của Thiên Chúa, xin hãy ở bên con để dạy con học một chữ YÊU!.