XA MẶT, KHÔNG CÁCH LÒNG

Câu nói: Xa mặt cách lòng tiết lộ một sự thật chua chát của lòng con người.  Khi xa nhau thì người ta dễ quên nhau.  Bao nhiêu đôi vợ chồng đỗ vỡ vì sống xa nhau. Bao nhiêu con cái xa cha mẹ, thì dễ thành bất hiếu, bất nhân, bụi đời, hư hỏng. Bao nhiêu đầy tớ khi chủ vắng nhà thì như gà vọc niêu tôm. Đúng như dụ ngôn đầy tớ bất trung (Mt. 24, 48-51)

Đức Giêsu muốn đề phòng cho các môn đệ khỏi lâm vào cảnh đau lòng xa mặt cách lòng, nên trước khi về trời, về cùng Chúa Cha, Người đã đảm bảo với môn đệ rằng về phía Thiên Chúa không có chuyện xa mặt cách lòng, và về phía con người cần phải giữ lời Thầy để xa mặt, nhưng không cách lòng.

1- Về phía Thiên Chúa:
Xa mặt, không cách lòng.  Để đảm bảo chắc chắn dù Đức Giêsu về trời, về cùng Chúa Cha, thì “Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở với anh em”, “Cha Thầy còn phải đến nhân danh Thầy, Đấng bào chữa là Thánh Thần sẽ dậy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.”  Đức Giêsu còn đoan hứa rõ ràng: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.  Chứ không để anh em mồ côi đâu.”  “Vì Thiên Chúa đã thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài cho thế gian được sống và sống dồi dào.”  Như vậy, cả Ba ngôi Thiên Chúa đều đến ở trong anh em, anh em được yêu mến, dậy dỗ, được bào chữa, nâng đỡ và được ban phúc bình an, không còn phải xao xuyến, sợ hãi, mà còn được vui mừng vì Thầy về cùng Chúa Cha cao trọng hơn Thầy.  Vậy, về phía Đức Giêsu, càng xa mặt về phần xác bao nhiêu, thì về phần thiêng liêng càng gắn bó kết hợp với anh em ở khắp mọi nơi, và khắp mọi lúc.

2- Về phía con người:
Xa mặt, phải làm sao để không cách lòng?

Để đề phòng khi xa mặt Chúa, mà lòng mình không xa Chúa; khi chủ vắng nhà, đầy tớ không bất trung vọc niêu tôm, thì Đức Giêsu đã bảo: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy” giữ lời Thầy, thực thi lời Thầy, sống lời Thầy, truyền bá lời Thầy, mới chứng tỏ lòng yêu mến Thầy. Như thế, xa mặt, nhưng không cách lòng.  Giữ lời Thầy là một trắc nghiệm rõ nhất, chính xác nhất về lòng mến Chúa.  “Lửa thử vàng, gian nan thử đức” thì giữ lời Thầy là lửa thử lòng mến Thầy.  Trong khoa học, để biết chắc một giả thuyết đúng, người ta phải thử bằng thí nghiệm, bao lâu chưa chứng nghiệm chắc chắn, thì chỉ là giả thuyết, chưa có giá trị khoa học.  Nhà bác học Pasteur đã bác bỏ giả thuyết tự vật chất sinh ra sinh vật.  Ông đã làm thí nghiệm nhiều lần đem dấm lên núi cao, nơi không khí trong sạch không có vi khuẩn, dấm không bao giờ lên men.  Dấm chỉ lên men khi có vi khuẩn.  Nhờ thí nghiệm đó, Pasteur đã phát minh ra khoa vi trùng học để chữa bao nhiêu chứng bệnh của con người.

Đức Giêsu đã dậy chúng ta khám phá ra lòng mến Chúa bằng phương pháp “giữ lời Chúa.” Hãy làm thí nghiệm xem chúng ta có lòng mến Chúa thật hay giả: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy.”

Các môn đệ sống với Thầy bằng xương bằng thịt, ai cũng tỏ ra yêu mến Thầy.  Nhưng khi xa mặt Thầy, khi Thầy về cùng Chúa Cha, các ông muốn biết mình còn yêu mến Thầy nữa không, thì phải xem mình có thực thi lời Thầy không?  Nếu các ông giữ lời Thầy, sống theo lời Thầy, chứng tỏ chắc chắn các ông còn yêu mến Thầy.  Quả thực, trừ Giuda, hết thảy các môn đệ chẳng những giữ lời Thầy, sống lời Thầy, mà còn rao giảng lời Thầy, viết sách truyền bá lời Thầy cho muôn dân, muôn thế hệ.  Các ông còn hy sinh chịu chết để chứng tỏ lời Thầy thật là lời hằng sống, lời của Chúa Cha ban ơn cứu độ, ban sự sống hạnh phúc muôn đời cho những ai tin và giữ lời Thầy: “Lời Thầy nói với anh em là Thần khí và sự sống” (Ga. 6, 63) “Ai nghe lời Thầy và tin vào Đấng đã sai Thầy thì có sự sống đời đời” (Ga. 5, 24).  “Ai tuân giữ lời Tôi, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 8, 51).  Các môn đệ đã giữ lời Thầy để chứng tỏ lòng mến Chúa và nhờ đó các ông được phần thưởng vinh quang muôn đời.

Phần chúng ta thì sao?  Có bao giờ chúng ta dùng phương pháp “giữ lời Thầy” để thử mình có lòng mến Chúa không?

Thường thì chúng ta tưởng mình có lòng mến Chúa bằng đi lễ, đọc kinh, dâng hoa, rước kiệu, tổ chức Giáng sinh, Phục sinh long trọng vui vẻ…  Như thế là yên tâm mình đã giữ đạo, là có lòng mến Chúa.  Sợ rằng chúng ta chỉ kính bằng môi miệng mà lòng xa Thiên Chúa!

Có người tưởng mình giữ trọn mười điều răn như chàng thanh niên giầu có trong Tin Mừng “đã giữ tất cả các điều đó từ thuở nhỏ” (Mt. 19, 16-22; Lc. 18, 18-23).  Anh tưởng như thế là được sống đời đời!  Thật lầm to!  Lời Chúa không phải chỉ có mười điều răn theo lối sống tiêu cực của anh, anh chưa có lòng mến Chúa và yêu người tích cực.

Chúng ta phải tích cực giữ lời Chúa, sống lời Chúa, thực thi lời Chúa và loan truyền lời Chúa như các môn đệ đã thi hành và ghi chép lại trong Tin Mừng.

Ca dao có câu: “Cá không ăn muối, cá ươn.  Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.”  Nếu chúng ta không sống lời Chúa, mặc nhiên là cãi lời Chúa, chắc chúng ta sẽ chẳng được sống đời đời.  Người xưa còn khuyên: “Con ơi muốn nên thân người.  Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha.”  Lời mẹ cha là phàm nhân còn có sức huấn luyện con cái nên người tốt: Huống chi lời Chúa, làm sao chúng ta không lắng nghe?

Lạy Chúa Giêsu, thân phận con là loài hình hài thể xác, luôn bị hấp dẫn bởi hình danh sắc tướng mầu mè cụ thể trước mắt.  Khi xa mặt, dễ cách lòng, xin nâng đỡ phận hèn mệnh bạc của con, để con tận tình giữ lời Chúa.  Xin Lời Chúa sẽ soi sáng con yêu mến Chúa và gắn bó với Chúa luôn mãi.

Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm
(Trích trong “Xây Nhà Trên Đá”)

NHỮNG BÀI HỌC QUA THẤT BẠI

Chúng ta học được gì qua các thất bại, qua những lúc bị hạ thấp vì lỗi lầm của mình?  Thường thì đó là cách duy nhất để chúng ta phát triển.  Khi bị hạ thấp vì những bất đạt của chính mình, chúng ta học được những bài học cuộc đời mà chúng ta không hề cảm nhận được khi đầy tự tin và kiêu hãnh.  John Updike đã nói, có những bí mật mà người khỏe mạnh không biết được.  Bài học này có đầy trong Kinh thánh và thấm sâu trong mọi linh đạo của mọi tôn giáo đáng trọng.

Linh mục Raymond E. Brown, đã cho chúng ta một mô tả về sự khôn ngoan Kinh thánh này.  Suy ngẫm về việc dân Chúa chọn, dân Israel, đã có lúc họ phản bội lại đức tin của mình và hậu quả là bị hạ bệ, bị Chúa ngoảnh mặt làm ngơ, cha Brown cho thấy, về lâu dài, cái tưởng như là thảm họa này cuối cùng lại là một trải nghiệm tích cực.  “Dân Israel hiểu thêm về Chúa trong đống tro tàn của Đền thờ bị dân Babylon hủy diệt, hơn là trong thời kỳ huy hoàng của Đền thờ dưới thời Vua Salomon.”

Cha Brown nói thế nghĩa là sao?  Ngay trước khi bị Nebuchadnezzar, vua của Babylon chinh phạt, dân Israel đã trải qua một thời kỳ mà nhìn bên ngoài tưởng như là thời kỳ huy hoàng nhất trong lịch sử của họ (về mặt chính trị, xã hội, và tôn giáo).  Israel có được đất hứa, đã chinh phục mọi kẻ thù của mình, đã có một đức vua vĩ đại trị vì, và có một đền thờ nguy nga ở Giêrusalem làm nơi thờ phượng và trung tâm quy tụ toàn dân.  Tuy nhiên, trong cái có vẻ là hùng mạnh đó, và có lẽ chính vì nó, mà Israel đã trở nên tự mãn về đức tin và lòng trung tín ngày càng lung lay.  Sự tự mãn và lung lay đó dẫn đến sự sụp đổ của nó.  Năm 587 trước Công Nguyên, nó đã bị một nước ngoại bang chinh phạt, bị cướp hết đất đai, hầu hết dân chúng bị đày đến Babylon, vua bị giết và đền thờ bị phá hủy đến tận viên đá cuối cùng.  Israel đã phải trải qua gần nửa thế kỷ lưu đày, không có đền thờ, đấu tranh để tin tưởng rằng Thiên Chúa yêu thương mình.

Tuy nhiên, xét toàn cảnh, chuyện này hóa ra lại tích cực.  Nỗi đau khi bị lưu đày và những nghi hoặc trong đức tin do đền thờ bị phá hủy, cuối cùng lại được bù đắp bằng những gì dân Israel học được qua việc bị hạ nhục và khủng hoảng, cụ thể là họ biết được Thiên Chúa vẫn trung tín dù chúng ta thì không, biết được những thất bại mở mắt chúng ta nhìn ra sự tự mãn và mù quáng của mình, biết rằng những thứ bề ngoài là thành công thường là ngược lại, cũng như những thứ bề ngoài là thất bại thường cũng là ngược lại.  Như cha Richard Rohr nói, trong thất bại, chúng ta có cơ hội để “ngã lên”.

Tôi tin rằng không có hình ảnh nào dễ hiểu hơn để hiểu được những gì Giáo hội đang phải chịu đựng nhục nhã vì cuộc khủng hoảng xâm hại tình dục của các giáo sĩ trong giáo quyền, và trong các giáo hội khác nữa.  Hãy nói lại thấu suốt của cha Raymond Brown như thế này: “Giáo hội có thể học biết thêm về Thiên Chúa trong đống tro tàn của khủng hoảng xâm hại tình dục của các giáo sĩ hơn là trong các thời kỳ huy hoàng với các đại thánh đường, với sự mở mang cực đại của Giáo hội, với thẩm quyền tuyệt đối của Giáo hội.”  Giáo hội cũng có thể biết thêm về chính mình, về kiểu bịt mắt làm ngơ những lầm lỗi của mình, và về nhu cầu phải thay đổi cơ cấu, và biến đổi con người trong Giáo hội.  Mong là như cuộc lưu đày Babylon với dân Israel, chuyện này đến tận cùng cũng là một điều tích cực đối với Giáo hội.

Hơn nữa, một chuyện đúng với Giáo hội (và chắc chắn với các tổ chức khác nữa) thì cũng đúng cho mỗi người chúng ta trong đời sống riêng.  Sự nhục nhã chặn đường chúng ta vì những bất đạt, tự mãn, thất bại, phản bội, không chịu nhìn ra lỗi lầm, những thứ đó đôi khi có thể là cơ hội để chúng ta “ngã lên”, để khi ở trong đống tro tàn chúng ta học biết được những điều chúng ta đã không học được khi đang trên đà thành công.

Hầu như không có ngoại lệ, những thành công lớn trong đời, những thành tựu lớn, và những vinh quang danh giá thường không đào sâu con người chúng ta.  Xin trích lại lời của James Hillman, thành công thường không đem lại chiều sâu gì cho cuộc đời chúng ta.  Ngược lại, nếu can đảm và thành thật suy ngẫm mọi điều từng đem lại chiều sâu và tạo nên tâm tính chúng ta, chúng ta phải thừa nhận, trong mọi trường hợp, nó đều là một thứ gì đó đáng hổ thẹn, một cảm giác bất đạt về thân thể, một nét không mấy tự hào thưở nhỏ, những lỗi lầm đáng xấu hổ trong đời, hay một tính cách mà chúng ta thấy phần nào hổ thẹn.  Đây là những điều cho chúng ta chiều sâu.

Sự nhục nhã tạo nên chiều sâu, nó đẩy chúng ta đi vào những phần sâu sắc hơn trong tâm hồn mình.  Tuy nhiên, không may là, không phải lúc nào nó cũng đem lại kết quả tích cực.  Nỗi đau của nhục nhã khiến chúng ta sâu sắc, nhưng có thể là sâu sắc theo hai hướng, hướng thấu hiểu và thông cảm nhưng còn là hướng chua cay thù hận cả thế giới.

Nhưng điều tích cực là: Như dân Israel trên bờ biển Babylon, khi đền thờ của chúng ta bị phá hoại hay bị hủy diệt, trong đống tro tàn của thời kỳ lưu đày, chúng ta có cơ hội để nhìn ra những điều thâm sâu hơn mà thường chúng ta nhắm mắt làm ngơ.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CHÚT TÂM TÌNH THÁNG HOA DÂNG MẸ

Cứ mỗi độ tháng Năm về, người Công giáo Việt Nam cùng Giáo hội hoàn vũ tưng bừng, rộn rã bước vào mùa dâng hoa kính Đức Mẹ Maria, Mẹ Chúa thiên đình với tên gọi rất dân dã là “tháng Hoa Đức Bà.”  Các giáo xứ lại nô nức bước vào mùa dâng hoa kính Đức Mẹ với nhiều thể loại phong phú như rước kiệu, dâng hoa… tùy vào tập quán, điều kiện của mỗi địa phương.

“Hoa thắm nở đẹp đồng nội xa
Mùa hoa về hương ngát trời bao la
Con yêu Mẹ nhiều hái về ngàn đóa mà tiến dâng.”
Khúc hát dâng hoa (Hải Triều)

Bài hát diễn tả lòng mến tha thiết của những người con mộc mạc chân chất với những đóa hoa đồng cỏ nội mộc mạc đã dần dần đi vào lòng tín hữu với những điệu múa dâng hoa tràn đầy hương sắc và dạt dào tình cảm.  Hoa được Thiên Chúa tạo tác với muôn sắc xinh tươi, hương thơm ngào ngạt đã điểm tô thêm cho vẻ đẹp vũ trụ.  Hoa cũng trở thành bạn thân thiết với con người: người ta dùng hoa trong các nghi lễ thờ cúng, các lễ hội…, tặng hoa cho nhau nhân những dịp lễ kỉ niệm, kết thân với nhau bằng những nụ hoa và cũng có thể xa nhau bằng những vòng hoa tiễn biệt.

Tại Châu Âu, tháng Năm là thời điểm chuyển giao của mùa xuân và mùa hè, là thời điểm muôn hoa đua nở, vạn vật tràn đầy sức sống và màu sắc.  Theo Lm. Đoàn Quang, CMC (Nguyệt san Trái Tim Đức Mẹ tháng 5-08 trg 4), vào những thế kỷ đầu, người Rôma tổ chức những ngày lễ tôn kính Hoa là Nữ thần mùa Xuân, đánh dấu sự kết thúc một mùa đông dài.  Các Kitô hữu ban đầu đã thánh hóa tập tục trên và tổ chức những cuộc rước kiệu hoa và cầu nguyện cho mùa màng phong phú.  Có nơi người ta tổ chức các cuộc “Rước xanh” bằng việc đi cắt các cành cây xanh tươi đang nở hoa, đưa về trang hoàng trong các nhà thờ và đặc biệt các bàn thờ dâng kính Đức Mẹ.

Tập tục này đã được Đức Thánh Cha Piô VII khuyến khích, Đức Piô IX đã ban ơn toàn xá cho những ai tham dự việc đạo đức này.  Đức Thánh Cha Piô XII, trong Thông điệp “Đấng Trung gian Thiên Chúa”, nhấn mạnh “việc tôn kính Đức Mẹ trong tháng Năm là việc đạo đức được thêm vào nghi thức Phụng vụ, được Giáo hội công nhận và cổ võ.”  Và năm 1965, Đức Thánh Cha Phaolô VI cũng đã nêu lên những giá trị cao quý của việc tôn kính Đức Mẹ trong tháng Năm:

“Tháng Năm là tháng mà lòng đạo đức của giáo dân đã kính dâng cách riêng cho Đức Mẹ.  Đó là dịp để bày tỏ niềm tin và lòng kính mến mà người Công giáo khắp nơi trên thế giới có đối với Đức Mẹ Nữ Vương Thiên đàng.  Trong tháng này, các Kitô hữu, cả ở trong thánh đường cũng như nơi tư gia, dâng lên Mẹ từ những tấm lòng của họ những lời cầu nguyện và tôn kính sốt sắng và mến yêu cách đặc biệt.  Trong tháng này, những ơn phúc của Thiên Chúa nhân từ cũng đổ tràn trên chúng ta từ ngai tòa rất dồi dào của Đức Mẹ” (Tông huấn về việc tôn kính Đức Mẹ, số I).

Đất nước Việt Nam với muôn ngàn “kỳ hoa, dị thảo” và những tín hữu có lòng mến mộ đặc biệt đối với Đức Mẹ đã tổ chức các hình thức rước kiệu, dâng hoa vào tháng kính Đức Mẹ theo lịch phụng vụ của Giáo hội từ những thế kỷ trước.  Muôn hoa ngàn sắc đã được cha ông ta chắt lọc và đưa vào lời ca, điệu múa dâng hoa chúc tụng cảm tạ và mừng kính Mẹ.  Vãn hoa dâng kính Đức Bà là một trong số những thể loại mà những ai đã từng lớn lên ở những xứ đạo đồng bằng miền Bắc không thể không biết.

Đức Bà thờ Chúa một bề,
Hoa Quỳ chăm chắm hướng về thái dương.
Tội nguyên không nhiễm khác thường.
Hoa Sen trên nước chẳng vương bùn lầy.
Lòng đầy thánh sủng giáng lâm,
Hoa Lê tuyết đượm mầu thơm khác vời.
Tuổi cao phúc đức càng đầy,
Lạ lùng hoa Cúc nở ngày vãn thâu.
Toà cao thần thánh kính chầu,
Hoa Mai đỉnh núi nở đầu trăm hoa.
Muôn loài cám mến âu ca,
Hoa Đơn phú quý gần xa vui vầy.
Các ơn Chúa phó trong tay,
Hoa Lan vương giả hương bay ngạt ngào.

Nghinh hoa tụng kỳ chương (Phạm Trạch Thiện – 1852)

Những nét đẹp của cuộc đời Mẹ đã được xưng tụng qua ý nghĩa của bảy loài hoa theo quan niệm truyền thống Việt Nam: hoa Quỳ hướng về vầng thái dương, Mẹ luôn một niềm quy hướng về Chúa.  Mẹ tinh tuyền như hoa Sen, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.  Mẹ tràn đầy ân phúc của Thiên Chúa giáng lâm như hoa Lê tuyết thấm đượm hương sắc tuyệt vời.  Như hoa Cúc sung mãn trong nắng hanh vàng của mùa thu, tuổi càng cao phúc đức Mẹ càng tràn đầy.  Mẹ được muôn loài tôn kính như hoa Mai đỉnh núi được phong tặng ngôi vị đứng đầu trăm hoa.  Mẹ Thiên Chúa phú quý cao sang như hoa Mẫu đơn nhưng lại gần gũi và bao dung với mọi người bằng tình thương của một người mẹ.  Như hoa Lan tinh tế dịu dàng mà tỏa hương ngát thơm, Mẹ Thiên đình vương giả vì được các ơn Chúa phó trong tay.

Bảy loại hoa cùng năm sắc màu đã hòa thành một tấu khúc tuyệt vời tôn vinh Mẹ đầy ơn phúc vì Mẹ chính là đóa hoa Huyền Nhiệm trong vườn hoa Thiên quốc đầy hương sắc!

Xin dâng lên Mẹ sắc hoa đỏ là màu Máu Thánh Con Mẹ đã đổ ra trong hy tế của giao ước mới cứu độ con người.  Màu đỏ còn diễn tả sự đau khổ hy sinh của Mẹ “chịu như dao sắc thâu nơi lòng mình” dưới chân thập giá để hiệp thông với người Con yêu dấu.  Đó cũng là màu của những giọt máu tử đạo âm thầm của các chứng nhân Tin Mừng, là màu hoa thắm sắc hy sinh, là đời sống khó khăn, vất vả của tất cả mọi thành phần dân Chúa.

Nhiệm thay hoa đỏ hồng hồng,
Nhuộm thêm Máu Thánh thơm chung lòng người.
Vì thương Con gánh tội đời,
Chịu như dao sắc thâu nơi lòng mình.

Sắc hoa trắng chỉ sự trong sạch của tâm hồn, màu trắng tinh khôi của đức đồng trinh vẹn tuyền của Mẹ.  Xin dâng lên những tâm hồn non trẻ, đang thiếu vắng niềm tin, sự đơn sơ trong trắng và lòng nhiệt thành.  Xin Mẹ thương gìn giữ và dìu dắt để tất cả các bạn trẻ luôn biết nhận thức được đâu là những giá trị tốt xấu của cuộc sống.  Biết xa tránh những cạm bẫy xấu xa của tội lỗi và gìn giữ tâm hồn luôn được sạch trong như tấm áo trắng lãnh nhận khi chịu phép rửa tội.

Xinh thay hoa trắng tốt lành,
Ví cùng nhân đức đồng trinh Đức Bà.
Nguyên tuyền hơn ngọc hơn ngà,
Sáng trong hơn tuyết cùng là hơn gương.

Như hoa quỳ, hoa hướng dương luôn hướng về mặt trời.  Mẹ là biểu tượng của lòng tin kiên vững, luôn hướng về Thiên Chúa.  Màu hoa vàng còn chỉ đức mến vẹn toàn, diễn tả lòng yêu mến và trung thành của Mẹ.  Xin dâng lên những người cha, những người mẹ nặng gánh gia đình.  Xin Mẹ thương nâng đỡ phù trì, để họ biết noi gương Mẹ, luôn trung kiên tin tưởng vào tình yêu Chúa để chu toàn trọng trách giáo dục con cái nên người và là chứng nhân của Tin Mừng Chúa Kitô giữa lòng đời.

Quí thay này sắc hoa vàng
Sánh nhân đức mến Bà càng trọng hơn.
Một niềm tin kính nhơn nhơn,
Vững vàng cậy mến trong cơn vui sầu,

Màu hoa tím chỉ sự tuân phục, xin vâng theo thánh ý Chúa của Mẹ ngay từ giây phút sứ thần truyền tin đến trọn cuộc đời.  Màu tím đơn sơ mà thấm nhuần nhân đức khiêm nhu tuyệt hảo của Mẹ.  Sắc tím u buồn còn như muốn che khuất cả con đường đức tin khi điểm đến là đỉnh cao Thập Giá.  Nguyện xin Mẹ giúp chúng con biết sáp nhập những đau thương, bệnh tật, tang tóc, cô đơn, thử thách trong đời với hiến tế Thập Giá của Đức Kitô.  Xin cho những tâm tình, những cố gắng, những dấn thân âm thầm, những quên mình để đem lại niềm vui cho người khác của mọi thành phần dân Chúa trên khắp hoàn vũ này được trở nên của lễ cứu độ cùng với Chúa Kitô Phục Sinh.

Dịu thay hoa tím càng màu.
Ý trên bà những cúi đầu vâng theo.
Bằng lòng chịu khó trăm chiều,
Khiêm nhường nhịn nhục hằng yêu hãm mình.

Sắc hoa xanh ca tụng nhân đức trọn lành thánh thiện của Mẹ.  Hoa xanh cũng tượng trưng cho tuổi thơ hồn nhiên, tươi đẹp và đầy trong sáng mà Chúa đã ban cho chúng con qua con cái của chúng con.  Ngày xưa Mẹ đã nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ thơ Giêsu như thế nào; thì hôm nay cúi xin Mẹ dạy cho chúng con biết noi gương Mẹ để lo lắng cho con cái chúng con luôn biết bước đi trong đường lối của Chúa.

Lạ thay là sắc hoa xanh.
Mừng Bà nhân đức trọn lành cực cao.
Dờn dờn sau trước một màu,
Quản chi sương nắng dãi đầu ngày đêm.

Cũng xin dâng lên Mẹ những đóa “hoa lòng” thánh thiện: những gương sáng, những việc lành, những nghĩa cử bác ái với tha nhân trong đời sống thường ngày, những kinh nguyện chung mỗi tối trong gia đình.  Xin cho những đóa hoa chúng con tiến dâng được kết trái nhân đức, những nhân đức trọn lành mà suốt đời Mẹ đã thi hành vâng theo ý Chúa.  Từ trời cao, xin Mẹ cầu bầu cùng Chúa ban muôn ơn lành cho đoàn con cái sốt mến tâm thành hướng về Mẹ trong tháng hoa đầy hương sắc và dạt dào tâm tình con thảo.  Amen!

Jos. Hoàng Mạnh Hùng

YÊU NHƯ THẦY YÊU

Ngạn ngữ Pháp có câu: “Ra đi là chết trong lòng một ít” (Partir c’est mourir un peu).  Sự ra đi nào cũng để lại những vấn vương và lưu luyến cho người ở lại, nhiều khi còn mang vẻ bi thương và tang tóc nữa.  Cuộc ra đi thụ nạn của Chúa Giêsu cũng thế.  Chính vì vậy, trong giờ phút ly biệt đầy xốn xang và ngậm ngùi, Chúa Giêsu đã để lại những lời tâm huyết cuối cùng cho các học trò.  Những lời dặn dò thân tình ấy được Giáo hội đọc lại cho chúng ta trong phụng vụ hôm nay, giống như một di chúc thiêng liêng.  Các nhà chú giải vẫn gọi đó là “diễn từ biệt ly.”  Trong những lời trăn trối sau cùng ấy, Chúa nói với các môn đệ: “Thầy để lại cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau.  Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.”

Điều răn mới

Ai cũng biết, yêu thương là đạo lý căn bản của cuộc sống làm người.  Ngày xưa triết gia Aristotle đã nói cho các học trò của ông: “Tính ích kỷ và đầu óc hẹp hòi biến con người trở nên như thú vật, nhưng khi con người đối xử với nhau bằng lòng nhân ái, họ sẽ trở nên như thần thánh.”  Nói chung, tôn giáo nào cũng dạy người ta ăn ngay ở lành, và chẳng tôn giáo nào lại dạy con người làm những chuyện thất đức.  Tinh thần “Tứ hải giai huynh đệ” của triết lý Đông phương cũng tương tự như thế.  Thế thì, giáo huấn của Chúa Giêsu có gì là mới lạ?  Và tại sao Chúa lại gọi đây là điều răn mới?  Chúng ta phải đi sâu vào tư tưởng thần học của Thánh Gioan mới có thể khám phá ra tính cách mới mẻ và độc đáo của giới răn yêu thương mà Chúa Giêsu gửi trao như một di chúc thánh thiêng.

Ngay từ thời cựu ước, Đức Chúa Giavê cũng đã ban truyền thập giới trên núi Sinai qua Moisê, và 10 giới răn đó cũng được tóm kết qua 2 điều luật căn bản, đó là yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân.  Chính Chúa Giêsu cũng đã khẳng định điều đó khi trả lời cho vị luật sĩ (Lc 10,27) hay cho vị kinh sư (Mc 12,28) hoặc cho chàng thanh niên giàu có (Mt 19,18-20).

Tuy nhiên các luật sĩ và biệt phái thời xưa chỉ giữ luật một cách máy móc và vụ hình thức.  Chúa tuyên bố rằng Ngài đến không để bãi bỏ lề luật, nhưng mặc cho nó một chiều kích mới, đó là chiều kích nội tâm.  Giới răn mới mà Chúa nói hôm nay cũng chính là việc thực hành tình yêu, nhưng đi vào cốt lõi căn bản, nhắm đến chiều sâu nội tâm hóa của giới luật yêu thương.  Để huấn luyện các học trò hiểu thấu giới răn ấy, Chúa Giêsu lấy chính Ngài làm chuẩn mẫu: “Anh em hãy yêu thương nhau ‘như’ Thầy đã yêu thương anh em.”  Tính cách mới mẻ mà Chúa khởi dẫn chính ở điểm căn bản này.

Kinh nghiệm của Thánh Gioan

Khi nói về mình, Gioan giới thiệu rất đơn giản bằng thuật ngữ “người môn đệ được Chúa yêu mến.” Gioan là người học trò duy nhất được tựa đầu vào ngực Chúa trong bữa tiệc ly để lắng nghe từng nhịp đập nơi con tim thổn thức của vị Thầy khả ái.  Ngài cũng đứng dưới chân Thập giá cùng với Đức Maria để mục kích trái tim Chúa bị đâm thâu và mở toang ra, tuôn đổ những giọt nước và máu của tình yêu cho đến vô tận.  Tất cả những chi tiết này đều là những hình ảnh mà Thánh Gioan ghi lại để biểu thị bài học về tình yêu nơi Chúa Giêsu mà Gioan đã cảm thấu một cách tường tận.  Trong Tin mừng thứ tư, thánh ký quảng diễn rất nhiều về tình yêu mà Chúa Giêsu đã diễn bày, nhất là qua hình ảnh người Mục tử nhân lành, biết các con chiên trong đàn, đi tìm kiếm con chiên lạc, và hy sinh mạng sống cho đoàn chiên.  Thánh Gioan cũng dành ra suốt từ chương 13 đến hết chương 17 để viết lại diễn từ biệt ly, và điểm nhấn quan trọng nhất trong diễn từ chính là nói về tình yêu.  Trong diễn từ này, Chúa Giêsu lập đi lập lại điệp khúc tình yêu qua chính mẫu gương của Ngài.  “Không có tình yêu nào cao quý bằng mối tình của người hiến ban mạng sống cho bạn hữu.”  “Thầy để lại cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương.”  “Cứ dấu này người ta nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em hãy yêu thương nhau…”  Vì thế trong 3 lá thư Thánh Gioan để lại, đặc biệt trong thư thứ nhất, Ngài đã định nghĩa Thiên Chúa bằng một hạn từ rất đơn giản và cô đọng: ‘Thiên Chúa là tình yêu’ (1Ga 4,16).  Những chân lý về tình yêu, về giới răn mới mà Chúa Giêsu để lại cho các môn đệ được nói đến trong bài Tin mừng hôm nay, cũng được lặp lại rất nhiều lần trong lá thư thứ nhất của Thánh Gioan.

Yêu như Thầy đã yêu

Nhiều người ngoại giáo thường hỏi chúng ta, đạo nào cũng hay, cũng đẹp, thế đạo Công giáo có cái gì đặc sắc mà các anh muốn quảng bá?  Thánh Gioan hôm nay đã trả lời thay cho chúng ta.

Chúa Giêsu mời gọi chúng ta sống yêu thương giống như Ngài đã yêu thương.  Chúa Giêsu không phải là một lý thuyết gia, không phải là một nhà mô phạm lý thuyết, nói một đàng làm một nẻo.  Cái chết của Chúa Giêsu lột tả trọn vẹn tình yêu mà Ngài muốn diễn bày.  Ngài đã đi đến tận cùng của giai điệu yêu thương khi bị treo thân trên Thập giá như một tên tội phạm và quảng diễn rất cụ thể điều Ngài đã nói với các môn sinh: “Không có tình yêu nào cao quý hơn mối tình của người hiến thân vì bạn hữu.”  Trong bữa tiệc ly, Chúa còn cúi xuống rửa chân cho các học trò như một người tôi tớ.  Bằng nhiều cách, Chúa đã cố gắng cắt nghĩa giới răn mới mà người muốn truyền thụ lại bằng chính cuộc sống gương mẫu của Ngài.

Kết luận

Thánh Phanxicô Salê, vị Tiến sĩ đức ái, đã viết trong khảo luận về Đức Ái của Ngài: “Con người là sự hoàn thiện của vũ trụ, tình yêu là sự hoàn thiện của con người.  Đức ái chính là sự hoàn thiện của tình yêu.”  Sống sung mãn ơn gọi tình yêu, chính là con đường dẫn đến hoàn thiện và đó cũng là lộ trình nên thánh mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta dấn bước.  Nhưng chúng ta thực hành giới răn mới đó như thế nào?  Một nhà xã hội học đã chua chát nhận xét: “Ngày nay, con người đã rất tiến bộ và thành công vượt bậc.  Người ta đã lên được tới mặt trăng, đã nghiên cứu đến tận sao hỏa, đã chế tạo các phi cơ với vận tốc khủng khiếp…  Nhưng có một điều rất đơn giản là học cách sống tử tế với vợ mình, mà nhiều người học mãi cũng chẳng xong.”

Nói về tình yêu trên lý thuyết rất dễ, nhưng sống và thực hành theo gương Chúa Giêsu không phải là một chuyện giản đơn.  “Hãy yêu như Thầy đã yêu” là bài học mà chúng ta phải nghiền gẫm và phải phấn đấu để thực hành cho đến suốt đời.

Lm. GB. Trần Văn Hào

THÁNH MATTHIAS TÔNG ĐỒ

Sau khi Chúa lên trời, các Tông Đồ đón chờ Chúa Thánh Thần hiện xuống.  Các ngài đã chọn thánh Matthias vào nhóm Mười Hai, thay thế cho Giuđa, để làm trọn con số tượng trưng của mười hai chi tộc Israel.  Thánh Matthias vốn là một môn đệ của Chúa và nhân chứng của sự kiện Chúa sống lại.  Theo truyền tụng, ngài đã giảng đạo và tử đạo tại Ethiopia.  Nhờ sự vận động của thánh nữ Helena, di hài của thánh nhân đã được chuyển về Trier nước Đức, và được tôn nhận làm bổn mạng của thành phố này.

1 . Thiên Chúa tuyển chọn.

Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn và cắt đặt các con đi hầu đem lại hoa trái, ngõ hầu hoa trái các con tồn tại.

Sau khi Giuđa phản bội, chỗ của ông trong nhóm Mười Hai bị bỏ trống.  Cuộc tuyển chọn người thay thế Giuđa đã làm trọn lời Chúa Thánh Thần tiên báo, và Chúa Giêsu đã thiết định rõ ràng: Chúa muốn có mười hai Tông Đồ, bởi vì Dân Mới của Chúa cũng phải có mười hai trụ cột, giống như dân Israel có mười hai chi tộc.  Thánh Phêrô đã dùng quyền tối cao trong cộng đoàn gồm 120 môn đệ, nêu lên những điều kiện Thầy Chí Thánh đã đặt ra.  Ai hội đủ những điều kiện ấy sẽ được đứng vào Tông Đồ đoàn: người ấy phải quen biết Chúa Giêsu, và phải làm chứng cho Người.  Thánh Phêrô đã giải thích cho cộng đoàn: Trong số những anh em cùng chúng tôi theo Chúa Giêsu suốt thời gian Người sống giữa chúng ta, kể từ khi Người được Gioan làm phép rửa cho đến ngày Người lìa bỏ chúng ta và được rước lên trời, phải có một người trở thành chứng nhân cùng với chúng tôi để làm chứng Người đã phục sinh.  Thánh Phêrô nhấn mạnh người được tuyển chọn phải là một chứng nhân về những lời giảng dạy và những sự kiện trong toàn bộ cuộc đời công khai của Chúa Giêsu, nhất là sự kiện phục sinh.  Ba mươi năm sau, chúng ta thấy thánh nhân cũng lặp lại điều ấy trong chứng từ sau cùng cho các tín hữu: Khi chúng tôi nói cho anh em biết quyền năng và cuộc quang lâm của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, thì không phải chúng tôi dựa theo những chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo, nhưng là vì chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người.

Thánh Phêrô không tự mình tuyển chọn, nhưng trao phó việc ấy cho Thiên Chúa, như tập tục thỉnh thoảng vẫn gặp trong Cựu Ước.  Chúng ta đọc trong sách Châm Ngôn, Người ta gieo quẻ trong nếp áo, nhưng mọi quyết định đều do nơi Giavê.  Vậy họ đề cử hai người: ông Giuse, biệt danh là Barsabbas, cũng gọi là Công Chính, và ông Matthias – tên đầy đủ là Mattathias, nghĩa là “quà tặng của Thiên Chúa.”  Họ rút thăm, và ông Matthias đã trúng thăm: ông được kể thêm vào số mười một Tông Đồ.  Tài liệu lịch sử cổ xưa ghi lại một truyền tụng, cho biết vị Tông Đồ này thuộc nhóm bảy mươi hai môn đệ Chúa Giêsu đã sai đi rao giảng tại các thành nước Israel.

Trước khi bầu chọn, thánh Phêrô và toàn thể cộng đoàn đã cầu nguyện, bởi vì sự lựa chọn không phải là của các ngài: ơn gọi luôn luôn là một sự lựa chọn của Thiên Chúa.  Vậy các ngài cầu nguyện: Lạy Chúa, chính Chúa thấu suốt lòng mọi người, xin chỉ cho thấy Chúa chọn ai trong hai người này.  Mười một Tông Đồ và các môn đệ không dám đảm nhận hoặc từ chối trách nhiệm tuyển chọn người thay thế Giuđa, nhưng trao phó cho Thiên Chúa.  Về sau, thánh Phaolô cũng nói ngài được cắt đặt không bởi người đời hay nhờ người đời, nhưng là nhờ Chúa Giêsu Kitô và Thiên Chúa là Cha.  Chính Thiên Chúa đã tuyển chọn và sai đi, ngày nay cũng như ngày xưa.

Mỗi người chúng ta có một ơn gọi nên thánh và tông đồ.  Chúng ta lãnh nhận ơn gọi ấy trong bí tích Thánh Tẩy.  Và ơn gọi ấy đã được Thiên Chúa xác nhận qua những lần can thiệp vào đời sống chúng ta.  Có những giờ phút trong cuộc đời, lời mời gọi theo Chúa Giêsu trở nên đặc biệt căng thẳng và rõ rệt.  Tôi không nghĩ Thiên Chúa cưỡng ép tôi.  Nhưng… Thiên Chúa không cần sự đồng ý của chúng ta để làm “rắc rối” cuộc đời chúng ta.  Người cứ vào: và việc là thế đấy!  Lúc đó, chúng ta có đáp ứng hay không là tùy chúng ta.  Hôm nay, chúng ta hãy tự hỏi trong giờ cầu nguyện: Tôi có trung tín với những gì Thiên Chúa muốn về tôi hay không?  Tôi có cố gắng thực thi thánh ý Chúa trong mọi công việc của tôi hay không?  Tôi có sẵn sàng đáp lại những điều Thiên Chúa đòi hỏi tôi trong cuộc đời hay không?

2. Ơn thánh luôn đầy đủ để đáp ứng ơn gọi.

…Và lá thăm chỉ đúng Matthias.  Ơn gọi của thánh Matthias nhắc cho chúng ta rằng, ơn gọi luôn luôn là một tặng ân nhưng không.  Thiên Chúa tiền định cho chúng ta được nên giống Con của Người và được thông phần đời sống thần linh của Người.  Thiên Chúa ban cho chúng ta một sứ mạng trên trần gian, để rồi muôn đời được hưởng hạnh phúc thiên đàng với Người.  Thiên Chúa mời gọi chúng ta sống thân mật với Người và mở rộng vương quốc của Người, ai nấy trong hoàn cảnh và địa vị riêng.  Ngoài ơn gọi nên thánh phổ quát, Chúa Giêsu còn đặc biệt mời gọi riêng nhiều cá nhân: một số làm nhân chứng bằng nếp sống xa lìa trần thế; một số khác phụng sự Người qua thiên chức linh mục.  Nhưng với đại đa số, Chúa để họ sống giữa trần thế và thánh hóa trần thế từ bên trong, hoặc trong bậc hôn nhân, như một con đường nên thánh, hoặc trong bậc độc thân, để hiến dâng trọn vẹn trái tim tình yêu cho Thiên Chúa và các linh hồn.

Ơn gọi không phát xuất từ những khát vọng hay ước muốn tốt lành.  Các thánh Tông Đồ, và hôm nay là thánh Matthia, đã không chọn Chúa Giêsu làm Tôn Sư như kiểu những người Do Thái thường chọn một rabbi nào đó làm tôn sư.  Chính Chúa Giêsu đã tuyển lựa – một số trực tiếp – số khác, như thánh Matthias, qua việc bầu chọn mà Giáo Hội phó thác trong tay Chúa.  Không phải các con đã chọn Thầy, Chúa Giêsu nhắc nhở các Tông Đồ trong bữa Tiệc Ly, nhưng chính Thầy đã chọn các con và đã cắt đặt để các con đi và mang lại hoa trái, và để hoa trái các con tồn tại.  Những người này diễm phúc biết bao khi được lãnh nhận đặc ân lớn lao?  Thực sự không có gì để thắc mắc tại sao những người này lại được tuyển chọn.  Đơn giản vì Chúa đã gọi họ, chứ không gọi những người khác: Chúa gọi đến với Người những kẻ Người muốn.  Đó là toàn bộ phận phúc và mục đích của cuộc sống.

Từ giây phút Chúa Giêsu tuyển chọn và mời gọi một linh hồn theo Người, sau đó còn nhiều lời mời gọi khác nữa, có thể lặng lẽ, nhưng đánh dấu con đường cho linh hồn bước đi trong cuộc sống.  Thiên Chúa ban cho linh hồn những tri thức và ân sủng đặc biệt để nâng linh hồn lên cao, làm cho linh hồn khao khát sự hoàn thiện, muốn phục vụ toàn thể nhân loại, nhất là những người chung quanh.  Ơn Chúa không bao giờ thiếu cho chúng ta.

Truyền tụng kể lại, như các Tông Đồ khác, thánh Matthias cũng đã chịu tử đạo.  Thánh nhân đã làm trọn nhiệm vụ vinh quang, nhưng đôi khi rất gian nan mà Chúa Thánh Thần đã ủy thác cho ngài từ ngày ấy.  Trong trường hợp chúng ta, việc trung thành với ơn gọi sẽ giúp chúng ta tìm được hạnh phúc và ý nghĩa của cuộc đời.

3. Hạnh phúc và ý nghĩa của đời tín hữu.

Chúa Giêsu đã tuyển chọn những kẻ thuộc về Người: Người kêu gọi họ.  Ơn gọi là một vinh dự lớn lao, cho họ được hợp nhất thân thiết với Thầy Chí Thánh, với những quyền lợi đặc biệt để đáng được nhậm lời khi cầu nguyện.  Trên một số điểm nào đó, ơn gọi mỗi người dựa trên con người của họ: có thể nói ơn gọi và đương sự nên một với nhau, hợp nhất với nhau.  Điều này nghĩa là – trong sáng kiến của Thiên Chúa – có một ưu ái đặc biệt dành cho những người được gọi, không những được ơn cứu độ, mà còn phân phát ơn cứu độ nữa.  Và vì thế, từ đời đời, từ khi chúng ta bắt đầu xuất hiện trong chương trình của Đấng Tạo Hóa và Người muốn chúng ta được hiện hữu, Người cũng muốn chúng ta được mời gọi, qua việc an bài cho chúng ta tất cả những ân huệ và điều kiện, để chúng ta tự tình và ý thức đáp lại lời mời gọi của Chúa Kitô hoặc của Giáo Hội.  Thiên Chúa là Đấng yêu thương chúng ta, chính Người là Tình Yêu, là Đấng đã kêu gọi chúng ta (cf Rm 9:11).

Thánh Phaolô hầu như bao giờ cũng khởi đầu các bức thư bằng những câu như sau: Phaolô, tôi tớ của Đức Giêsu Kitô, được mời gọi là Tông Đồ, được dành riêng cho Phúc Âm của Chúa…  Thánh nhân được kêu gọi và tuyển chọn không phải bởi con người hoặc nhờ con người, nhưng nhờ Đức Giêsu Kitô và Thiên Chúa là Cha.  Thiên Chúa kêu gọi chúng ta như Người đã kêu gọi Moses, Samuel, Isaia.  Đó là một ơn gọi không dựa trên công trạng cá nhân: Thiên Chúa đã gọi tôi từ lòng mẹ.  Thánh Phaolô còn trình bày rõ ràng hơn: Người đã cứu độ chúng ta và đã kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Người, không phải vì công kia việc nọ chúng ta đã làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Người.

Chúa Giêsu đã mời gọi các môn đệ hãy chia sẻ chén đắng, tức là cuộc sống và sứ mạng của Người.  Giờ đây Chúa cũng mời gọi chúng ta như thế: chúng ta phải cẩn thận đừng để tiếng Chúa bị mất hút giữa những náo động.  Nếu không ở trong Chúa hoặc không phải vì Chúa, thực sự chẳng có gì là niềm vui.  Một khi chúng ta đã nhận ra tiếng Chúa Kitô mời gọi chúng ta theo Người, thì không còn gì là quan trọng nữa so với việc theo Chúa.  Về phần Chúa Kitô, Người sẽ dần dần tỏ cho chúng ta – trong suốt cuộc đời chúng ta – những kho tàng phong phú của ơn gọi mà chúng ta lần đầu tiên đã nghe thấy, khi Người đi qua bên cạnh chúng ta.

Sau khi được tuyển chọn, thánh Matthias không còn được Thánh Kinh nhắc đến nữa.  Cùng với các Tông Đồ khác, ngài đã nghiệm được niềm vui bừng cháy trong ngày Hiện Xuống.  Thánh nhân đã đi rao giảng và chữa lành bệnh tật.  Ngài để lại một di sản đức tin không thể phai nhoà, một đức tin bền vững mãi đến thời kỳ của chúng ta.  Ngài cũng là một ngọn đèn cháy sáng trên thiên đàng cho Thiên Chúa vui hưởng.

Sưu tầm

GIÁ TRỊ CỦA NHỮNG NGƯỜI MẸ

Tục ngữ Do Thái có câu: “Thiên Chúa không thể ở mọi nơi, nên Ngài đã tạo dựng những người mẹ” (God could not be everywhere, so He made mothers).  Đây là tình cảm lâu dài và tốt đẹp.  Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng nhờ đảo ngược câu nói mà chúng ta đến gần chân lý hơn: “Thiên Chúa có thể ở mọi nơi và chứng tỏ điều đó bằng cách tạo dựng những người mẹ” (God could be everywhere and proved it by creating mothers).  Hình ảnh này phù hợp với nhận xét của tiểu thuyết gia Hoa Kỳ William Makepeace Thackeray, trong cuốn Vanity Fair (Hội chợ Phù phiếm): “Mẹ là danh xưng đối với Thiên Chúa trên những đôi môi và trong những trái tim của những người con bé bỏng.”

Người mẹ không thể thay thế Thiên Chúa, nhưng hành động như người trung gian chuyển lòng nhân từ của Thiên Chúa sang những người khác.  Dĩ nhiên, người ta có thể phản bác rằng người cha cũng làm điều này.  Điều này đủ mức thật.  Nhưng có điều gì đó trong đặc quyền về cách thức mà người mẹ bộc lộ sự hiện hữu của Thiên Chúa.  Theo cách mầu nhiệm nào đó, điều đó như thể người mẹ có được vậy, một kinh nghiệm đối diện của Thiên Chúa.  Điều này có thể đáng hoan nghênh hơn nếu chúng ta hiểu vai trò của Đức Mẹ là nguyên mẫu tâm linh của mọi người mẹ.

Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã nhận xét về Đức Mẹ: “Mẹ giữ trong lòng bí mật làm Mẹ Thiên Chúa, là người đầu tiên được thấy Thiên-Chúa-làm-người, hoa trái của lòng mẹ.”  Khái niệm về việc Đức Mẹ là người trần tục đầu tiên Mary thấy Thiên Chúa vừa gây ngạc nhiên vừa soi sáng.  Là mẫu gương của những người mẹ, kinh nghiệm này gồm cả bản chất làm mẹ và mẫu gương của các phụ nữ đã từng sinh con.

Nếu ông bà nguyên tổ coi Thiên Chúa là Cha nghiêm khắc theo cách nào đó, thì các thế hệ đều tôn kính Đức Mẹ là người hiền từ và dễ gần gũi.  Nathaniel Hawthorne bày tỏ tình cảm này đẹp hơn trong cuốn Blithedale Romance khi ông viết: “Tôi luôn ganh tỵ với người Công Giáo về Đức Tin của họ nơi Đức Trinh Nữ thánh thiện và ngọt ngào, Đức Mẹ đứng ở giữa họ và Thiên Chúa, che chắn sự chói lọi uy nghiêm của Ngài, nhưng cho phép Tình Yêu Chúa tuôn đổ trên người thờ kính theo cách hiểu của con người qua vị trung gian của sự dịu dàng nữ tính.”

Thánh Augustinô nói rằng sự dịu dàng từ mẫu đặc biệt này có thể thấy ngay ở những con thú hung dữ – như người Việt nói: “Cọp dữ không ăn thịt con.”  Ông nhận xét trong The City of God (Thành phố của Thiên Chúa): “Có con cọp cái nào không thương và không vuốt ve con nó?”  Ngược với câu tục ngữ Do Thái nói ở trên, chúng ta có thể ám chỉ câu tục ngữ Tây Ban Nha: “An ounce of mother is worth a ton of priests” (Tạm dịch: “Một lạng người mẹ đáng một tấn linh mục”).

Khái niệm về “sự nhiệt thành” đã thôi miên người Hy Lạp cổ đại.  Thế giới không thể là một nơi, như Democritus ước đoán, không có gì hơn một số nguyên tử không thể đếm xuất hiện trong rất nhiều hình thể.  Nghĩa là có thể tính toán đối với sự nhiệt thành tìm được sự hưng phấn và niềm vui trong kinh nghiệm sống bằng cách nào?  Sự hưng phấn là hoạt động tâm linh không thể giải thích bằng vật chất.  Người ta đã nghi ngờ nhiều thứ: nhân đức, chân lý, kiến thức, và ngay cả tình yêu.  Nhưng không ai có thể nghi ngờ thực tế khả nghiệm của sự hăng hái.  Thế giới hiện đại của chúng ta vẫn liên kết với sự thấu hiểu này của người Hy Lạp cổ đại.  Từ ngữ “sự nhiệt thành” theo tiếng Hy Lạp là enthusiasmos, được rút từ chữ entheos có nghĩa là “được Thiên Chúa sở hữu” hoặc “được Thiên Chúa linh ứng.”  Người Hy Lạp tin rằng một người có thể hít thở bằng cuộc sống của Thiên Chúa, người đó có thể là người đem đến tinh thần của Ngài.  Họ tin rằng con người có thể là “bình chứa” đối với Thiên Chúa.  Một trong những từ đối với sự sống là zoe, không ám chỉ sự sống rộn ràng trong mỗi người, mà nói đến sự sống có thể được chia sẻ với người khác.  Khái niệm này về sự sống là nền tảng không thể thiếu đối với khái niệm của Kitô giáo về sự sống của Thiên Chúa, hoặc ân sủng, điều có thể chia sẻ trong chúng ta, và với Mẹ Maria và những người mẹ theo cách đặc biệt.  Đời sống của Đức Mẹ với Chúa Con là sự sống cao tới mức ưu việt.

Hồng Y Joszef Mindszenty, người can đảm bảo vệ Giáo Hội trong thời gian cộng sản chiếm lĩnh Hungary, đã dành tình cảm mạnh mẽ với cương vị người mẹ.  Trong cuốn The Mother (Người Mẹ), ngài viết hùng hồn bày tỏ lòng tôn kính những người mẹ, nhấn mạnh sự gần gũi của họ đối với Thiên Chúa:

“Người quan trọng nhất trên thế gian này là người mẹ.  Bà không thể đòi hỏi lòng tôn kính của việc xây dựng Nhà Thờ Đức Bà.  Bà không cần.  Bà đã xây dựng cái gì đó quan trọng hơn bất cứ Nhà Thờ nào – sự cư ngụ đối với một linh hồn bất tử, sự hoàn hảo gọn gàng của cơ thể đứa trẻ.  Các thiên thần không được chúc lành bằng ân sủng như vậy.  Các thiên thần không thể chia sẻ phép mầu sáng tạo của Thiên Chúa là đưa những vị Thánh mới vào Thiên Quốc.  Chỉ có người mẹ khả thi.  Những người mẹ gần gũi với Thiên Chúa Tạo Hóa hơn bất cứ sinh vật nào, Thiên Chúa liên kết các sức mạnh với những người mẹ trong việc sáng tạo.  Còn gì vinh quang hơn là được làm mẹ?”

Donald Demarco,
bản dịch của Trầm Thiên Thu từ IntegratedCatholicLife.org

CHÚA CHIÊN LÀNH

Hình ảnh chiên cừu dễ gây ngộ nhận vì người ta cho rằng chiên cừu chẳng biết làm gì hơn là ngoan ngoãn vâng lời.  Nhưng con chiên trong bài Tin Mừng ta vừa nghe hoàn toàn không có tính cách thụ động như thế.  Trái lại phải tích cực, chủ động.  Sự tích cực chủ động của đoàn chiên được Chúa Giêsu diễn tả bằng những từ “nghe” và “theo”: “Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta”.

NGHE.  Chúa Giêsu chính là Lời của Thiên Chúa, nên ta phải nghe Người.  Nhưng nghe được Lời của Thiên Chúa không phải dễ.

Không dễ, vì Lời Thiên Chúa nhẹ nhàng như lời thì thầm của mây gió, sâu thẳm như tiếng nói của đáy đại dương, im lặng và bí hiểm như tiếng vỗ của một bàn tay.  Trong khi đó lời của trần gian, của ma quỷ lại ồn ào như một ngày hội, gào thét như cuồng phong và điên loạn như chiến tranh.

Không dễ, vì Lời Thiên Chúa mời gọi người ta vào con đường chật hẹp của từ bỏ mình, dẫn ta lên một ngọn đồi gai góc của thập giá hy sinh và thách thức ta phục vụ đến hy sinh cả mạng sống.  Trong khi đó lời của trần gian, của ma quỷ mở ra đại lộ thênh thang của danh vọng, dẫn ta đến dìm mình trong đại dương hưởng thụ và hứa ban tặng cho ta tất cả vinh hoa phú quý trên đời.

Vì thế, để nghe được Lời Chúa, ta phải có một đôi tai thật bén nhạy, được hướng dẫn bởi trí phán đoán sáng suốt và một trái tim yêu mến nồng nàn.  Nghe Lời Chúa với một thái độ như thế sẽ dẫn ta đến chỗ theo Chúa.

THEO.  Theo ai là quyến luyến, gắn bó và ràng buộc đời mình vào đời người đó.  Như thế theo ai là từ bỏ chính mình, cuộc đời mình để chia sẻ cuộc sống với người khác.

Theo tâm lý học, trong tình yêu có ba mức độ.  Mức độ thứ nhất: Thích nhìn, nghe người mình yêu.  Mức độ thứ hai: Trong mọi chương trình, tính toán của đời mình đều có bóng dáng của người yêu.  Mức độ cuối cùng: Chia sẻ tất cả những gì mình có, kể cả cuộc sống vì người yêu.

Như thế, theo tức là yêu thương ở cao độ.  Con chiên đi theo Chúa như thế phải hoàn toàn chủ động và nhất là thiết lập một quan hệ mật thiết với Chúa là Chủ đoàn chiên.  Hành động của Chúa chiên tốt lành được Chúa Giêsu tóm gọn trong hai động từ: “biết” và “cho”.

BIẾT.  Người chăn chiên tốt lành biết rõ từng con chiên.  Ông biết tên từng con.  Ông biết tình trạng sức khoẻ cũng như nhu cầu của từng con chiên.  Tương tự như thế, Chúa Giêsu biết rõ mỗi người chúng ta.  Người không chỉ biết mà còn thông cảm với mọi hoàn cảnh của ta.  Ta buồn vì bị người yêu phụ bạc ư?  Người cũng đã biết thế nào là nỗi đau của người bị phản bội.  Ta cay đắng với kiếp nghèo đeo đẳng ư?  Chúa Giêsu cũng đã sinh ra không nhà, sống ngoài đường và chết trần truồng trên thập giá.  Ta tuyệt vọng vì cuộc đời không lối thoát ư?  Chúa Giêsu đã trải qua những giờ phút đen tối trong vườn Giếtsimani và trên thập giá.  Ta cô đơn vì bị mọi người xa lánh ư?  Chúa Giêsu cũng đã bị mọi người chối bỏ, và Người cảm thấy như Đức Chúa Cha cũng từ bỏ Người.  Ta bị sỉ nhục mất hết uy tín ư?  Chúa Giêsu đã bị nhục nhã và mất hết uy tín khi phải chết như kẻ tội đồ nô lệ.

Chúa Giêsu là người chăn chiên tốt lành, hiểu biết mọi ngõ ngách u ẩn trong đáy lòng người, nên có thể chăm sóc an ủi từng người chúng ta.

CHO.  Chúa Giêsu là mục tử tốt lành vì đã tặng ban cho tất cả đoàn chiên món quà quý giá nhất là sự sống đời đời, sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, sự sống của chính bản thân Ngài.  Sống sự sống của Thiên Chúa rồi, đoàn chiên sẽ kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa.  Không ai cướp được đoàn chiên khỏi tay Người, vì Người dùng chính mạng sống mình mà bảo vệ.  Người ràng buộc đời mình vào sinh mạng của đoàn chiên.  Từ nay đoàn chiên và chủ chiên trở thành một cộng đồng sinh mệnh, sống chết có nhau, kết hợp với nhau trong một tình yêu thương không có gì có thể tách lìa được.

Chúng ta đang sống trong một thời đại đầy thay đổi.  Cuộc sống đang mở ra những chân trời mới đầy quyến rũ nhưng cũng đầy nguy hiểm cho đời sống tâm linh chúng ta.  Những giá trị bị đảo lộn.  Những con chiên đang bị lôi kéo rời xa đoàn chiên.  Nhu cầu cuộc sống xô đẩy chúng ta ra khỏi cộng đoàn khiến nhiều người trở thành những con chiên bơ vơ không người chăn dắt.  Trong một hoàn cảnh mới mẻ như thế, chúng ta rất cần có những vị mục tử thực sự hiểu rõ nhu cầu của đoàn chiên và thực sự hiến mình phục vụ đoàn chiên.  Chúng ta hãy cầu nguyện cho có nhiều người trẻ biết đáp lời Chúa mời gọi, hiến mình cho Chúa để phục vụ anh chị em trong nhiệm vụ mục tử.  Chúng ta cầu nguyện cho các linh mục của chúng ta trở thành những mục tử tốt lành noi guơng Vị Mục Tử duy nhất là Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Lạy Chúa là Mục Tử chăn giữ đời con, xin cho con biết lắng nghe tiếng Chúa và bước theo Chúa.  Amen.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

HIỂU SÂU HƠN VỀ ÂN SỦNG

Biểu hiện của lòng hối lỗi đích thực không phải là cảm giác tội lỗi, mà là cảm giác buồn phiền, hối hận vì đã làm sai.  Cũng vậy, biểu hiện của sống trong ân sủng không phải là cảm giác mình xứng đáng, mà là cảm giác mình được đón nhận và yêu thương dù cho mình không xứng đáng.  Chúng ta lành mạnh về tâm linh khi cuộc sống của chúng ta có sự thú tội thật tâm và tự hào thật tâm.

Jean-Luc Marion đã nhấn mạnh điểm này trong một bình luận về quyển Tự thú của thánh Augustino.  Ông xem tự thú của thánh Augustino là một tác phẩm về lương tâm đạo đức đích thực, bởi đó vừa là một thú nhận về lòng tự hào và thú nhận về tội lỗi.  Gil Bailie cho rằng lời bình luận này nêu bật một tiêu chuẩn quan trọng để phán định xem chúng ta có đang sống trong ân sủng hay không.  “Nếu thú nhận về lòng tự hào không đi kèm với thú nhận về tội lỗi thì nó là một hành động trống rỗng và khoa trương.  Nếu thú nhận về tội lỗi không đi kèm với thú nhận về lòng tự hào, thì nó trống rỗng và cằn cỗi như thế, là một đống tạp nham, là một lời hối hận kiểu con vẹt.”

Gil nói đúng, nhưng thú nhận cả hai cùng lúc thật không phải là chuyện dễ dàng.  Chúng ta thường rơi vào một trong hai kiểu, thú nhận về lòng tự hào và không thật sự thú nhận tội lỗi của mình, hoặc là hối hận kiểu con vẹt, một kiểu ngụy biện hơn là nỗi buồn phiền thật sự vì đã lầm đường lạc lối.

Trong cả hai trường hợp, đều không có một ý thức thật sự về ân sủng.  Piet Fransen, với quyển sách về ân sủng được dùng như sách giáo khoa trong các chủng viện và trường thần học, cho rằng cả những tín hữu tự tín (những người vẫn âm thầm ghen tị với lạc thú của những kẻ vô luân, những thứ mà họ đã bỏ lỡ) cũng như những người ương ngạnh dù đã hối cải nhưng vẫn cảm thấy trân trọng những lầm lỡ của mình, cả hai loại người này vẫn chưa hiểu được ân sủng.  Chúng ta chỉ hiểu được ân sủng khi thật sự nắm bắt được những lời của người cha trong dụ ngôn người con hoang đàng nói với người con cả.  “Con của cha, con luôn ở với cha, và mọi thứ cha có đều là của con.  Nhưng chúng ta phải vui mừng vì em của con đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm được.”

Người anh cả sẽ không cay đắng nếu hiểu được rằng mọi thứ cha của anh có đều là của anh, và anh cũng sẽ không ghen tỵ với những lạc thú của người em hoang đàng nếu hiểu rằng người em đó đã chết đi.  Nhưng cần có nhận thức sâu sắc hơn để trực cảm được rằng so với cuộc sống trong nhà Chúa, thì mọi lạc thú đều là ngọn nến so với mặt trời.  Và cũng đúng như thế với những người đã trở lại, từ bỏ lối sống lầm lạc nhưng vẫn âm thầm vui mừng vì những trải nghiệm mà nó mang lại cho mình, và nuôi dưỡng một sự thương hại cao ngạo cho những người ít được trải nghiệm hơn.  Người này cũng không thực sự hiểu được ân sủng.

Trong quyển sách Khái niệm về Linh thánh (The Idea of the Holy), Rudolf Otto cho rằng khi đối diện với sự thánh thiện, chúng ta luôn có một phản ứng kép: thấy e ngại và được lôi cuốn.  Như thánh Phêrô trong sự kiện Chúa Biến hình, chúng ta cũng muốn xây một lều và ở lại đó mãi mãi, nhưng như thánh Phêrô trong sự kiện phép lạ bắt được nhiều cá, chúng ta cũng sẽ muốn nói: “Xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi.”  Trước sự linh thánh, chúng ta vừa muốn hớn hở tự hào vừa muốn thú nhận tội lỗi của mình.

Và thấu suốt này có thể giúp chúng ta hiểu được ân sủng.  Trong quyển sách của mình về ân sủng, Đời sống Ân sủng Mới (The New Life of Grace), Piet Fransen mở đầu bằng cách mời chúng ta hình dung cảnh này: Hãy hình dung một người sống theo chủ nghĩa khoái lạc một cách vô tâm.  Ông ta hoàn toàn chìm trong những khoái lạc của thế gian mà không nghĩ gì đến Thiên Chúa, trách nhiệm hay luân lý cả.  Rồi sau một cuộc đời chìm trong những khoái lạc vô luân, ông ta hối cải thật sự trên giường hấp hối, thật tâm thú nhận tội lỗi của mình, nhận lãnh các bí tích của giáo hội, và chết lành.  Nếu phản ứng của chúng ta với câu chuyện này là: “Gã này may mắn thật!  Hắn đã chơi bời mà cuối cùng vẫn được phúc!” thì chúng ta chưa hiểu được ân sủng.  Nếu nghĩ như thế thì chúng ta chỉ là những người đạo đức trong cay đắng, đứng đó như người anh cả cần phải nói chuyện thêm với Chúa.

Và cũng như thế với những người đã hoán cải mà vẫn cảm thấy những trải nghiệm hoang đàng của mình là một niềm vui sâu sắc hơn những người chưa từng hoang đàng.  Trong trường hợp này, người đó trở về nhà cha mình không phải bởi cảm thấy một niềm vui sâu sắc hơn, nhưng là bởi nghĩ rằng việc trở về là một trách nhiệm không mong muốn, một chuyện ít thú vị và vui vẻ hơn cuộc sống tội lỗi, nhưng là một chiến lược thoát thân buộc phải làm.  Người này cũng chưa hiểu được ân sủng.

Chỉ khi chúng ta hiểu được ý của người cha nói với người anh cả trong dụ ngôn người con hoang đàng: “Mọi sự cha có đều là của con,” thì chúng ta mới có thể vừa thú nhận niềm tự hào của mình vừa thú nhận tội lỗi của mình được.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

ĐỨC MẸ CỦA KINH THÁNH VÀ ĐỨC MẸ CỦA LÒNG SÙNG KÍNH

Có nhiều người tin rằng: Người Công giáo La Mã có khuynh hướng sùng bái Đức Mẹ, còn người Tin Lành và phái Phúc âm thì có khuynh hướng bài trừ Đức Mẹ.  Cả hai đều không chuẩn lắm.

Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, có hai tuyến lịch sử trong truyền thống Kitô giáo.  Chúng ta có Đức Mẹ trong Kinh thánh, và Đức Mẹ của lòng sùng kính, và cả hai đều góp những phần đặc biệt cho hành trình Kitô hữu của chúng ta.

Đức Mẹ của lòng sùng kính thì được biết đến nhiều hơn, chủ yếu là trong Công giáo La Mã.  Đây là hình ảnh Đức Mẹ trong chuỗi mân côi, Đức Mẹ của các đền thánh nổi tiếng, Đức Mẹ Sầu bi trong các kinh, Đức Mẹ dịu dàng chuyển cầu cho chúng ta đến với Chúa, Đức Mẹ tinh tuyền và trinh khiết, Đức Mẹ hiểu nỗi đau của con người, Đức Mẹ làm kẻ sát nhân phải mềm lòng, và Đức Mẹ mà chúng ta luôn có thể chạy đến kêu cầu.

Và Đức Mẹ này, trên hết là Mẹ của người nghèo.  Karl Rahner từng chỉ ra rằng khi nhìn vào mọi lần Đức Mẹ hiện ra mà đã được Giáo hội công nhận, bạn sẽ để ý thấy rằng mẹ luôn hiện ra với người nghèo, một đứa bé, một nông dân, một nhóm trẻ em, một người không có địa vị xã hội.  Đức Mẹ không bao giờ hiện ra với một thần học gia đang nghiên cứu, một giáo hoàng, hay một triệu phú.  Mẹ luôn là người mà người nghèo hướng về.  Lòng sùng kính Đức Mẹ chính là thần nghiệm của người nghèo.

Ví dụ như, chúng ta thấy rất rõ điều này trong tác động của Đức Mẹ Guadalupe bên Châu Mỹ La tinh.  Trong toàn châu Mỹ, hầu hết các thổ dân đều là Kitô hữu.  Tuy nhiên, ở Bắc Mỹ, nơi hầu hết thổ dân là Kitô hữu, Kitô giáo lại không phải là một tôn giáo bản địa, mà là một tôn giáo du nhập từ nơi khác đến.  Còn ở Châu Mỹ La tinh, khắp nơi mà giáo dân sùng kính Đức Mẹ Guadalupe, thì Kitô giáo được xem là một tôn giáo bản địa.

Nhưng lòng sốt sắng và sùng kính cũng có nguy cơ trật đường về mặt thần học và gây nên sự ủy mị không lành mạnh.  Đây cũng là vấn đề trong hình ảnh Đức Mẹ của lòng sùng kính.  Chúng ta có khuynh hướng nâng Đức Mẹ lên hàng thần thánh (mà thế là sai) và chúng ta quá thường sùng kính Mẹ đến nỗi trong tâm thức của chúng ta, một Đức Mẹ của lòng sùng kính không thể nào là một người khiêm hạ đã hát lên bài Magnificat.  Đức Mẹ của lòng sùng kính quá thường bị tôn vinh với sự sốt sắng, đơn giản hóa thái quá, và phi tính dục như thể cần bảo vệ Mẹ khỏi những phức tạp của thân phận con người.  Nhưng Đức Mẹ của lòng sùng kính vẫn cho chúng ta đối diện rõ ràng hành trình tâm linh của mình.

Còn Đức Mẹ của Kinh thánh và vai trò mà các Tin Mừng khác nhau đã nói đến về Mẹ, thì bị làm ngơ hơn nhiều.

Trong Tin mừng Nhất lãm, Đức Mẹ được thể hiện như hình mẫu người môn đệ.  Nói đơn giản hơn, Mẹ là một con người chuẩn mực ngay từ đầu.  Nhưng chúng ta lại không nhận ra như thế ngay lập tức.  Nhìn bề ngoài, đôi khi chúng ta lại thấy ngược lại.  Ví dụ như, trong nhiều dịp Đức Giêsu nói chuyện với đám đông, có người cắt lời và báo rằng mẹ và người thân của Ngài đang chờ bên ngoài và muốn nói chuyện với Ngài.  Và Chúa Giêsu trả lời: “Ai là mẹ Ta và ai là anh chị em của Ta?  Là người nghe lời Chúa và tuân giữ.”  Khi nói thế, Chúa Giêsu không có thái độ xa cách với mẹ mình, mà ngược lại thì đúng hơn.  Trong các Tin mừng, trước chuyện này, các thánh sử đã rất cẩn thận chỉ ra rằng Đức Mẹ là người đầu tiên nghe lời Chúa và tuân giữ.  Và như thế, chính Chúa Giêsu nêu bật mẹ mình trên hết là vì đức tin của Mẹ, chứ không phải vì huyết thống.  Trong Tin mừng Nhất lãm, Đức Mẹ là hình mẫu cho tinh thần môn đệ.  Mẹ là người đầu tiên nghe lời Chúa và tuân giữ.

Tin mừng theo thánh Gioan còn cho Mẹ một vai trò khác.  Mẹ không phải là hình mẫu cho tinh thần môn đệ (một vai trò mà thánh Gioan trao cho người môn đệ Chúa thương và Maria Magdalena) nhưng được xem là Evà, mẹ của nhân loại, và là mẹ của mỗi người chúng ta.  Thú vị là, thánh Gioan chưa từng nói ra tên của Đức Mẹ, ngài luôn luôn nói là “Mẹ của Chúa Giêsu.”  Và với vai trò này, Đức Mẹ làm hai điều:

Thứ nhất, Mẹ là tiếng nói cho sự hữu hạn của con người, như khi Mẹ lên tiếng trong tiệc cưới Cana “họ hết rượu rồi.”  Trong Tin mừng theo thánh Gioan, đây không chỉ là cuộc nói chuyện giữa Đức Mẹ và Chúa Giêsu, nhưng còn là cuộc nói chuyện giữa Mẹ Nhân loại và Thiên Chúa.  Thứ hai, là Evà, Mẹ toàn thể và Mẹ chúng ta, Đức Mẹ cũng bất lực trong và trước nỗi đau của con người khi Mẹ đứng dưới chân thập giá.  Trong biến cố này, Mẹ cho chúng ta thấy mình là Mẹ của toàn thể, nhưng cũng là một gương mẫu về cách đương đầu với sự bất công, cụ thể là đứng trong sự bất công đó mà không nhân đôi hận thù và bạo lực đó nhưng đáp lại bằng yêu thương.

Đức Mẹ đã cho chúng ta một gương mẫu tuyệt vời, một gương mẫu không phải để chúng ta tôn sùng hay làm ngơ, nhưng là để sống.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CON CÓ YÊU MẾN THẦY KHÔNG?

Cuộc đời Phêrô có nhiều sôi nổi.  Có thể chia đời ngài ra làm hai.  Cuộc đời phần một, từ khi theo Thầy ở biển hồ Galilê đến lúc chối Thầy.  Phần hai, từ khi theo Thầy ở biển hồ Tibêria cho đến cuối đời chết ở Rôma.  Cuộc đời phần một: Phêrô đi từ lỗi lầm này sang lỗi lầm khác.  Cuối đời của Chúa, Chúa đã bị ông từ chối thê thảm (Mc 14, 66-72).  Gom nhặt những đoạn phúc âm nói về Phêrô, ta thấy mảnh đời của ông có nét chân dung thế này: Là tông đồ bị Chúa mắng nhiều nhất.  Mắng lần đầu tiên: Quân yếu tin (Mt 14, 31).  Lần thứ hai: Ngu tối (Mt 15, 16).  Lần thứ ba: Satan (Mc 8, 33).  Chúa chỉ khen có một lần khi Phêrô tuyên xưng: Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa “Này anh Simon, con ông Gioana, anh có phúc vì không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy nhưng là Cha của Thầy” (Mt 16,16-17).

Khi Chúa bị bắt, bị kết án, Phêrô đã chối Thầy ba lần.  Phêrô chối Chúa vì quá yếu đuối chứ không phải vì không yêu Thầy.  Trước cái chết, Phêrô rùng mình chối bỏ, tìm đường chạy trốn.  Thế nhưng trước yếu đuối ấy, Phêrô đã khóc lóc nhớ lại lời Chúa nói về thân phận mình, ông đã oà khóc nức nở như một đứa bé với dòng lệ sám hối.  Chúa đã nhìn ông bằng ánh mắt thứ tha trìu mến.  Đời ông là giằng co giữa yếu đuối và dũng mãnh, giữa trọn vẹn và dang dở, giữa xa và gần, giữa trời và đất.  Trái tim ông có u tối đi tìm ánh sáng, có nuối tiếc đi tìm lý tưởng.  Đời ông có tự tin gặp vấp ngã, có phấn đấu gặp thất bại.  Trong sự vấp ngã yếu đuối cuộc đời phần một của người môn đệ này vẫn luôn có một tâm hồn chân thành.

Phần hai cuộc đời Thánh Phêrô: là một thiên anh hùng ca.  Thiên anh hùng ca bắt đầu từ trang Tin mừng Chúa nhật hôm nay.  Câu chuyện kể về một đêm đen mờ mịt của biển hồ Tibêria.  Chúa Phục Sinh đã đưa đời ông từ đêm đen mờ mịt ấy đi về một cõi trời phiêu bạt mịt mù sương gió cho Nước Trời.  Sứ mạng theo Đức Kitô khởi đầu từ đây.  Bảy anh em ra đi đánh cá, vất vả cả đêm mà không được gì.  Đức Giêsu Phục sinh đến với họ và ban tặng mẻ cá lạ lùng.

Sau mẻ cá, Đấng Phục sinh đã hỏi ông: Phêrô, con có yêu mến Thầy không?  Phêrô đáp: Thưa Thầy, Thầy biềt rõ mọi sự, Thầy biết con yêu mến Thầy.  Chúa hỏi ba lần.  Phêrô xác định cả ba lần lòng yêu mến Thầy, càng về cuối càng cương quyết hơn.  Ba lần chối Chúa đi từ chối nhẹ đến nặng thì hôm nay Phêrô ba lần xác định tình yêu từ nông đến sâu.  Ba lời xác định ấy là bình minh rửa tội quá khứ.  Chúa trao đàn chiên cho Phêrô: con hãy chăm sóc đoàn chiên của Thầy.  Rồi Chúa nói với ông rằng: Thầy bảo cho anh biết, lúc còn trẻ anh tự thắt lưng lấy và đi đâu tùy ý.  Nhưng về già, anh phải giang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn tới nơi anh chẳng muốn.  Phúc âm Gioan cắt nghĩa rõ con đường này là: Người nói như vậy có ý ám chỉ ông phải chết cách nào.  Thế rồi Chúa bảo ông: hãy theo Thầy.  Chỉ chờ đợi lời mời gọi này, Phêrô lập tức lên đường thực thi sứ mạng Thầy trao.  Từ đây “trên tảng đá này, Thầy xây Giáo hội của Thầy, cửa hỏa ngục sẽ không thắng được.”  Từ đây, những trang sử vẻ vang của giáo hội sơ khai được viết nên bởi vị Tông đồ có lòng yêu mến Chúa thiết tha.

Ba lần được hỏi và thưa về tình yêu của Phêrô đối với Thầy Giêsu cũng là ba lần Phêrô được giao phó việc chăm sóc đoàn chiên.  Đó là vai trò mục tử của Phêrô.  Bằng tất cả trải nghiệm về đức ái mục tử theo gương Mục Tử Tối Cao, Phêrô đã dạy cho các mục tử trong Giáo hội tinh thần: “Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tụy.  Đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên.  Như thế khi Vị Mục Tử Tối Cao xuất hiện, anh em sẽ được lãnh triều thiên vinh hiển không bao giờ hư nát.” (1Pr 5, 2-4).

Phêrô trở thành một người lãnh đạo tốt.  Người lãnh đạo tốt là người biết tự cảnh giác về sự yếu đuối của mình.  Kinh nghiệm sa ngã đã giúp Phêrô thoát khỏi tính tự phụ và tin tưởng mù quáng vào khả năng của mình, đồng thời giúp ông thông cảm với yếu đuối của người khác.  Như thế Phêrô còn học biết một sự thật tuyệt vời về Chúa Giêsu.  Ông học được rằng, mặc dù ông đã chối Ngài nhưng Ngài vẫn yêu thương ông.  Chính tình thương của Ngài đã mang ông trở về cuộc sống.  Cái cảm nghiệm được yêu thương trong chính sự yếu đuối và tội lỗi của mình đúng là một cảm nghiệm sửng sốt.  Được yêu trong cái tốt của mình là chuyện bình thường.  Được yêu ngay trong cái xấu của mình, đó mới là sửng sốt.  Chính đó là ân sủng.  Cũng như tất cả là ân sủng đối với Thánh Phaolô.  Khi được tha thứ và yêu thương, ngài đã hiên ngang được sống và được chết cho Chúa Kitô, sung sướng vì đã mất tất cả và chịu đủ thứ khốn khổ vì Chúa Kitô.  Ân sủng của Chúa đối với Thánh Phêrô hay Thánh Phaolô đều là tình yêu cứu độ.

Cuộc đời Phêrô đầy lỗi lầm nhưng ông được Chúa yêu thương, được Chúa chọn lựa một cách đặc biệt.  Tại sao Chúa không trao Giáo hội cho một Tông đồ trí thức, có tài lãnh đạo, có tài hoạch định?  Chúa không đòi hỏi nơi Phêrô về tài năng, thông thái, khôn ngoan mà chỉ đòi hỏi lòng mến Chúa.  Sau ba lần hỏi “con có yêu mến Thầy không”, sau ba lần Phêrô xác định lòng yêu mến, Chúa trao Giáo hội cho ngài.

Yêu mến chính là điều kiện nền tảng để có thể chu toàn sứ mệnh mà Chúa trao phó.  Không có lòng yêu mến, công việc của người mục tử hay tín hữu dù thành công cũng chỉ là điểm tô, đánh bóng cho cá nhân mình.

Tại sao khi yêu, người ta thích tặng quà cho nhau?  Thích chở nhau đi chơi?  Thích lặn lội mưa nắng đến tìm nhau?  Nếu không yêu thì đem số tiền dành dụm để mua một món đồ đưa cho người khác thì quả là dại dột!  Nếu không yêu thì gò lưng đạp xe chở người ta đi chơi thì quả là ngốc nghếch!  Nếu không yêu mà lặn lội mưa nắng đi tìm người ta thì quả là khờ khạo!  Nhưng khi đã yêu thì tất cả đều đổi khác.  Tặng quà là một niềm vui, được chở người ta là một niềm hạnh phúc, lặn lội mưa nắng tìm đến nhau là bằng chứng của cả một tấm lòng thiết tha!  Cho nên thánh Augustinô đã nói rất đúng: “Ubi amatur, non laboratur”, khi đã yêu thì không còn biết cực nhọc.  Đối với Chúa cũng thế.  Nếu ta không yêu mến Chúa hay yêu mến quá ít thì cầu nguyện là việc chán ngán, đến nhà thờ là một gánh nặng, vác thánh giá là một cực hình.  Còn nếu ta yêu Chúa nhiều thì ta thích cầu nguyện, ta thấy hạnh phúc khi đến nhà thờ.  Cho nên muốn sống đạo tốt thì cần thiết phải có lòng yêu mến Chúa.  Yêu mến Chúa nhiều thì hăng say sống đạo tích cực.  Yêu mến Chúa ít thì ít hăng hái tích cực hơn, và nếu không yêu mến Chúa thì đạo trở thành gánh nặng, làm những bổn phận trong đạo không khác nào con trâu kéo cày.

Tình yêu Giêsu có sức mạnh cảm hoá con người và đối với bất cứ ai nếu họ biết đặt niềm tin nơi Ngài.  Tình yêu Giêsu sẽ mở ra tương lai cho tội nhân, khép lại quá khứ để họ trở thành thánh nhân.  Tình yêu Giêsu, một khi ta đã yêu Ngài thật sự, ta sẽ không còn hững hờ nữa mà dấn thân trọn vẹn cả cuộc đời cho tình yêu Giêsu.

Chúa hỏi Phêrô: con có yêu mến Thầy không?  Đó cũng là câu hỏi mỗi ngày Chúa hỏi tôi: con có yêu mến Thầy không?

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An