THÁNH THOMAS MORE

Thánh Thomas More sinh ngày 7/2/1478 tại London trong một gia đình trí thức quý tộc mà chính Ngài đã nói: “Không danh giá nhưng lại lương thiện.”

Ngay sau khi cha ông qua đời, mẹ ông gửi ông đến trường đại học danh tiếng là Oxford để theo học ngành luật.  Ông đạt kết quả xuất sắc và sớm trở thành nghị sĩ khi mới 22 tuổi.  Ông lập gia đình với bà Jane Colt và sinh được 4 người con.  Sự nghiệp của ông tiến nhanh vì ông không những là luật gia, triết gia mà còn là nhà trí thức bách khoa thời Phục Hưng ở Anh.  Ông được bầu làm Chủ tịch Hạ viện Anh năm 1523 và sau đó lên tới chức Tể tướng từ năm 1529-1532.  Nhưng với đức tin Công giáo và tấm lòng vì Tổ quốc Anh, ông đã không đồng tình với những quyết định của vua Henry VIII nên ông đã bị đẩy vào đối tượng thù ghét của chính nhà vua.

Trước hết là khi vua Henry VIII muốn phế bỏ bà vợ hợp pháp của mình là Catherine ở Aragon để cưới cô Anna Boleyn vì bà Catherine không sinh được con cho vua.  Vua gửi đề nghị sang Giáo hoàng ở Roma nhưng không được chấp nhận.  Bà Catherine nguyên là vợ của ông Anthus –anh vua Henry VIII. Đức Giáo hoàng đã chuẩn cho vua Henry được cưới bà Catherine khi chồng bà qua đời.  Viện cớ phép chuẩn này không thành, vua hủy bỏ hôn ước và yêu cầu Tể tướng Thomas More tổ chức lễ cưới cho mình nhưng bị từ chối.  Vua Henry quyết định lập giáo hội Anh giáo tự trị, độc lập với Công giáo Roma và định phong cho Thomas More làm Giáo chủ.  Thomas More và Đức Giám mục John Fisher đã cực lực phản đối và xin từ chức.  Thomas More là người kiên quyết phản đối sự chia rẽ giáo hội nên ông cũng cực lực phản đối Tin lành Luther.  Thomas More viết cuốn sách nổi tiếng Utophia, nói về một hòn đảo hạnh phúc đầy tưởng tượng.  Ngài cũng viết cuốn “Dialogue concerning Heresies” (Đối thoại về các lạc thuyết).  Trong đó, ông phản đối chế độ quân chủ phong kiến mà muốn xác lập quyền tư hữu nhất là quyền tư hữu về ruộng đất.

Thomas More bị kết tội phản quốc và bị bắt giam ở ngục London 15 tháng.  Vua hy vọng ông sẽ hối cải quan điểm của mình.  Nhưng ông nói với quan canh ngục rằng, ông vẫn luôn luôn trung thành với vua, nhưng ông cũng phải trước hết trung thành với Thiên Chúa nên không thể thay đổi lập trường được.  Ông bị vua ra lệnh xử chém đầu.  Ra pháp trường, ông vẫn vui vẻ chào các quan và hẹn họ gặp nhau ở chốn vĩnh hằng.  Ông moi túi lấy một đồng tiền vàng đưa cho người lính hành quyết và nói: Làm ơn nhắm cho trúng nhé vì cổ của tôi hơi ngắn.  Lính canh bịt mắt ông, ông nói không cần đâu.  Rồi ông bình tĩnh ngả đầu trên thớt, lấy tay vuốt ngược chòm râu lên kẻo bị đứt và hài hước bảo: Chòm râu của tôi có tội gì với vua đâu mà bị xử trảm.  Ông bị chém đầu ngày 6/7/1535 khi mới 57 tuổi.

Năm 1935, Đức Giáo hoàng Piô XI đã phong thánh cho Thomas More và đặt ông làm quan thày của các luật gia.  Ngày 27/11/2000, Đức Gioan Phaolô II lại đặt thánh nhân là đấng bảo trợ các chính trị gia trên thế giới.  Ngài nói: “Thánh Thomas More là người thông minh, sáng suốt và rất mộ đạo.  Thánh nhân đã biết dùng quyền hành trần thế để thể hiện lý tưởng Phúc âm.  Thomas More đã lên đến chức vụ rất cao là Thủ tướng Chính phủ Hoàng gia Anh, nhưng ngài sẵn sàng từ bỏ quyền lực, của cải và sinh mạng, kể cả việc tử đạo khi lương tâm Công giáo đòi buộc ngài phản đối những ý đồ sai trái của vua Henry VIII.”

Vì thánh nhân có tính hài hước vui vẻ nên rất nhiều người kể cả Đức Giáo hoàng Phanxicô cũng luôn cầu khẩn cho được tính hài hước như ngài.  Trong bài diễn văn trước Giáo triều cuối năm 2014, Đức Phanxicô cho biết mình cầu nguyện với Thánh tử đạo người Anh Thomas More mỗi ngày.  Ngài xin thánh nhân cho mình được ơn hài hước vui vẻ.  Một liều hài hước lành mạnh trong cuộc sống hàng ngày giúp chúng ta rất nhiều.

Kinh của thánh Thomas Moore xin ơn hài hước vui vẻ

Lạy Chúa, xin ban cho con trí lĩnh hội, và cả điều để lĩnh hội.  Xin cho con thân thể khỏe mạnh, và tính hài hước tốt đẹp cần thiết để giữ sức khỏe đó.  Xin cho con một linh hồn đơn sơ biết quý tất cả những gì tốt đẹp, đừng dễ dàng sợ hãi trước mặt sự dữ, nhưng biết tìm cách đặt lại mọi chuyện vào đúng chỗ của nó.

 Xin cho con một linh hồn không buồn chán, không càu nhàu, thở dài hay than van, cũng không căng thẳng quá độ, vì những điều này ngăn cản một chuyện: Con chính là Con.  Lạy Chúa, xin cho con một trí hài hước tốt đẹp.  Xin cho con ơn có thể nói một câu đùa để tìm được chút vui vẻ trong đời, và có thể chia sẻ niềm vui đó với người khác.’

Bích Hải

DÂNG LỜI CHÚC TỤNG, BẺ RA VÀ TRAO CHO CÁC MÔN ĐỆ

Trong ngày lễ kính Mình Máu Chúa Kitô, Giáo Hội cho chúng ta nghe đoạn Tin Mừng về phép lạ bánh hóa nhiều.  Đây là phép lạ duy nhất được cả bốn Phúc Âm thuật lại.  Đây cũng là một phép lạ công khai trước mặt một số đông người.  Năm chiếc bánh và hai con cá trở thành lương thực nuôi khoảng năm ngàn người mà vẫn còn dư mười hai thúng miếng vụn.  Thánh sử Luca nhấn mạnh đến vai trò của nhóm Mười Hai trong phép lạ này.  Chính họ đã chủ động xin Chúa Giêsu giải tán đám đông để những người này tìm chỗ ăn, chỗ ở.  Và Chúa Giêsu dường như muốn đưa ra một thách đố cho nhóm Mười Hai: “Chính các con hãy cho họ ăn.”  Hãy lo cho họ sau khi đã được nghe giảng về Nước Thiên Chúa, được chữa lành khỏi mọi tật bệnh.  Các môn đệ thấy mình bất lực trước nhiệm vụ này dù mới đây họ đã được sai đi rao giảng và chữa bệnh và đã thành công.  Điều duy nhất họ có trong tay là năm chiếc bánh và hai con cá, nhưng chừng ấy thấm vào đâu so với nhu cầu của dân chúng: “Ở nơi thanh vắng này, dù có tiền cũng không mua được đủ bánh.”  Chúa cần các môn đệ nhìn nhận sự bất lực của họ, để rồi Ngài mời gọi họ cộng tác vào việc nuôi sống dân chúng.  Các môn đệ, theo lệnh của Chúa Giêsu, đã chia đám đông thành từng nhóm nhỏ.  Chính các ông đã trao bánh và cá cho Chúa Giêsu để rồi nhận lại từ tay Ngài và trao cho đám đông.  Phép lạ đã xảy ra trên bánh này khi Chúa Giêsu chúc tụng và bẻ ra.  Chúng ta không tưởng tượng nổi số lượng khổng lồ bánh và cá đã phát sinh từ hành vi bẻ ra này.  Bẻ ra và trao đi trở thành phép lạ nhân lên không ngừng.

Có thể hôm nay chúng ta cũng thấy mình đứng trước những nhu cầu lớn lao của con người.  Nhân loại vẫn ở trong tình trạng đói về nhiều mặt.  Hàng giờ có biết bao trẻ em chết đói trên thế giới này.  Trong tay chúng ta chỉ vỏn vẹn vài tấm bánh nhỏ, chúng ta lúng túng và thấy mình bất lực.  Nếu chúng ta dám trao cho Chúa Giêsu tất cả những gì chúng ta có; nếu chúng ta để cho Ngài thánh hóa những cố gắng nhỏ bé của mình; nếu chúng ta chỉ coi mình là người cộng tác của Thầy Giêsu đến phục vụ con người, thì phép lạ vẫn có thể xảy ra hôm nay.  Chúng ta vẫn có thể nuôi cả thế giới no nê và dư dật, nếu chúng ta biết cộng tác với Chúa.

Chúng ta đọc lại câu 16 đoạn Tin Mừng trên: “Chúa Giêsu cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ để các ông dọn ra cho đám đông.”  Khi kể lại cử chỉ của Chúa Giêsu làm lúc lập bí tích Thánh Thể, thánh Maccô cũng sử dụng bốn động từ trên đây.  Và trong biến cố hai môn đệ về Emaus, chúng ta cũng thấy thánh Luca dùng lại bốn động từ này: “Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho họ.”  Cử chỉ quen thuộc này đã làm cho hai môn đệ nhận ra Chúa Giêsu.  Giáo Hội thời khai sinh hẳn đã thấy sự liên hệ giữa phép lạ bánh hóa nhiều và bí tích Thánh Thể.  Trong cả hai trường hợp, Chúa Giêsu đều dùng một cử chỉ mà mời người khác ăn tấm bánh Ngài trao cho.  Rất có thể ý định lập bí tích Thánh Thể được khơi mào từ sau phép lạ bánh hóa nhiều.  Những chiếc bánh vật chất như đã giảm cơn đói cho một số người nhất định trong một thời gian nhất định.  Mana ngày xưa trong sa mạc cũng không cho người ta sự sống sau cái chết.

Bữa tiệc ly không phải là một hành vi đột xuất không suy nghĩ trước.  Trái lại, Chúa Giêsu đã phải bận tâm với mơ ước nuôi cả nhân loại, nuôi họ bằng chính bản thân Ngài và ban cho họ sự sống vĩnh cửu: “Này là mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con.  Này là chén máu Thầy, sẽ đổ ra cho các con.”  Chúa Giêsu mời chúng ta ăn tấm bánh và uống chén rượu đã được thánh hiến để có dịp tham dự vào cái chết và sự phục sinh của Ngài; vào chính bản thân Ngài.  Bí tích Thánh Thể là sáng kiến của một tình yêu biết tìm kiếm.

Cựu ước đã hứa rằng trong những ngày sắp đến, Thiên Chúa sẽ nuôi dân Người dư dật.  Chúa Giêsu đã làm trọn lời hứa đó phần nào qua phép lạ bánh hóa nhiều.  Nhưng đó cũng chỉ là hình bóng của bí tích Thánh Thể mà Ngài sẽ thiết lập sau này.  Khi thông hiệp với Chúa Kitô Phục Sinh với hình bánh và hình rượu, chúng ta còn cần đến đức tin, chúng ta mong chờ ngày được tham dự bữa tiệc ở Nước Trời, nơi chúng ta thông hiệp trọn vẹn với Ngài, không qua bức màn đức tin nữa nhưng diện đối diện.  Chúa Giêsu đã bẻ bánh nhiều lần trong cuộc đời của Ngài.  Đời Ngài được kết tinh trong hành vi bẻ bánh.  Tấm bánh trong bữa tiệc ly đã trở thành tấm thân Ngài được bẻ ra và trao cho con người qua cái chết trên thập giá: “Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy.”  Giáo Hội thời khai sinh đã không quên mệnh lệnh đó, họ tiếp tục cử hành bí tích Thánh Thể mà họ gọi là lễ bẻ bánh tại các nhà riêng của tín hữu.  Bẻ bánh trở thành nét đặc trưng của cộng đoàn Kitô sơ khai.  Nghi thức này thường được cử hành vào ngày Chúa Nhật, ngày thứ nhất trong tuần.

Xin Chúa giúp chúng ta gặp Ngài trong lễ bẻ bánh.

R. Veritas (Trích trong “Mỗi Ngày Một Tin Vui”)

ÐƯỜNG ÐỜI

 

Tôi sống trong cuộc đời nhưng tôi có riêng đường đời của tôi.  Mới hôm nào bố mẹ nhìn bầy con chung quanh mâm cơm chiều.  Chỗ nào cũng là gần gũi yêu thương, từ nhà ra sân, từ ngõ đi vào.

Dòng sông lớn lên âm thầm rẽ nhánh.  Tôi đi theo tiếng gọi của đời tôi.  Lũ em lần lượt bước vào ngõ quanh của mỗi đứa.  Bây giờ đã là xa cách.  Trong cuộc đời, nhưng mỗi đứa có riêng đường đời của mình.

Kinh Thánh kể, sau khi dâng lễ ở Jerusalem về, Mẹ Maria lạc mất Chúa.  Mẹ hối hả đi tìm: “Cha con và mẹ phải đau khổ đi tìm con.”  Chúa thưa lại: “Mẹ tìm con làm chi, vì con phải ở nơi nhà Cha con” (Lc 2, 48-49).  Trong cuộc đời, Chúa có đường Chúa phải đi.  Mẹ Maria có lối của Mẹ.

Mỗi người có một cuộc sống riêng nên không đường của ai giống đường của ai.  Tuy vậy, chỉ có một người gọi, đó là Chúa.  Và cũng chỉ có một tiếng gọi, đó là tiếng gọi về Nhà Cha.  Chỉ có một thứ tiếng gọi và do một người gọi, thì đường đi có khác, vẫn ở trong toàn thể.  Ở trong toàn thể thì có liên hệ và ảnh hưởng.  Với ý nghĩa đó, cuộc sống đức tin của người này liên quan đến cuộc sống của người kia.  Lối về Nhà Cha phải đi riêng đường của mình.  Ðiều ấy có nghĩa là đi một mình.  Ði một mình trong hàm ý là tự mình đi chứ không phải là đi lẻ loi.

Chúa Giêsu lên đường về Jerusalem để chịu tử nạn.  Theo tiếng gọi, Phêrô cũng lên đường với Ngài.  Nhưng trên đường đi, Phêrô gợi ý cho Chúa bỏ cuộc (Mc 8,31-33).  Làm gì có Phục Sinh nếu Chúa Giêsu nghe lời Phêrô chối từ Thập Giá.  Từ bỏ con đường của mình phải đi là đánh mất bản tính của mình.  Nếu Chúa cũng chỉ là Chúa khi Chúa đi con đường của Chúa thì đấy phải là định luật không thể thay thế cho tôi.  Tôi sẽ chẳng còn là tôi nếu chối từ con đường của mình.

**************************************

Mỗi người có một con đường, vì sao họ lại không đi được đường của họ?

Trên đường đời, cả hai: đau khổ và hạnh phúc, đều là những tiếng gọi dỗ dành làm tôi lạc lối.  Ðau khổ dẫn tới lẩn tránh đường đi.

Phêrô đã âm thầm cảm nghiệm được một khúc đời khốn khó nếu để Chúa về Jerusalem tử nạn.  Ðau đớn thường dẫn đến chạy trốn.  Trên đường đi, có những quãng đời rộn rã tiếng cười như ngày Chúa long trọng vào thành thánh: “Dân chúng rất đông đảo, trải áo choàng trên đường, nhóm khác chặt cây mà lót lối đi.  Kẻ trước, người theo sau tung hô rằng: Hosanna, con vua David.  Vạn tuế Ðấng nhân danh Chúa mà đến.  Hosanna trên chốn trời cao” (Mt 21,8-9).  Tưng bừng là thế đó, nhưng lại không hiểu những ngày hắt hiu: “Hồn Ta buồn quá đỗi, muốn chết được.  Các ngươi hãy ở lại mà thức với Ta.”   Ðã chẳng ai thức với Chúa trong giờ phút lẻ loi nhất ấy: “Simon, ngươi ngủ sao? Ngươi không thể thức với Ta được một giờ ư?” (Mc 14,34-37).  Có những ngã tư đông đúc, cũng có những ngõ vắng dẫn vào cô tịch đìu hiu.  Ngõ vắng ấy là ngại ngùng.  Cô tịch đìu hiu kia là đau khổ.  “Ai bỏ tất cả mà theo Ta sẽ được gấp trăm” (Mc 10,28-30).  “Ai muốn theo Ta hãy vác thập giá mà theo Ta” (Mc 8,34).  Lời ban đầu là quãng đường đẹp hứa hẹn đầy mộng ước.  Lời kế tiếp là khúc vắng dẫn vào đìu hiu, cô tịch.

Chúa không về Jerusalem để chết vĩnh viễn trên thập giá, mà là để đón nhận phục sinh vì hoàn tất thánh ý của Chúa Cha.  Bởi đó, đường về Nhà Cha thì Nhà Cha mới là cùng đích.  Nhưng cô tịch đìu hiu, những ngõ vắng nếu có trên đường đi, tôi phải chấp nhận.  Chối từ phương tiện là chối từ cùng đích.  Ðường của Gioan Tẩy Giả là “mọi thác ghềnh sẽ được lấp đầy, đồi cao sẽ hạ thấp, nơi cong queo nên ngay thẳng” (Lc 3,4-6), để dọn đường cho Ðấng Cứu Thế đến.  Chấp nhận đường của mình.  Gioan đã phải đi những quãng đường rất vắng vẻ, rất đìu hiu trong ngục tối vì dám làm chứng cho sự thật.  (Mc 6,17-28).

Trời sa mạc rộng quá.  Gioan cất tiếng kêu.  Tiếng kêu trong sa mạc thì thấm vào đâu.  Nhưng lối đi của Gioan là thế.  Sứ mạng của sứ ngôn là lên tiếng.  Không thể để cái hoang vu của sa mạc làm nản lòng.  Dù không có ai nghe, người sứ ngôn vẫn phải cất tiếng.  Chối từ lên tiếng là đánh mất bản tính làm sứ ngôn của mình.  Bản tính đó hệ tại là người sứ ngôn có lên tiếng hay không chứ không hệ tại người nghe chối từ hay chấp nhận.

Gian nan làm người ta muốn chối từ con đường của mình thế nào thì hạnh phúc giả cũng làm người ta lạc lối như thế.

Ảo ảnh hạnh phúc dễ đưa lầm đường.

Vì đường đời đi trong cuộc đời, nên có lúc người khác đi cùng với tôi.  Ði cùng không có nghĩa là đi con đường của nhau.  Ðường tôi đi vẫn là của riêng tôi, nên dù không ai đi cùng, tôi vẫn phải đi.  Những lúc trên đường vắng ấy, một quán hạnh phúc bên ngã rẽ dễ mời tôi tắt lối quẹo ngang.  Sau những ngày ăn chay trong sa mạc, Chúa đói.  Ma quỷ đã đến cám dỗ Ngài: “Nếu ngươi là con Thiên Chúa, thì hãy truyền cho viên đá này thành bánh” (Mc 4,3).  Luôn luôn có lời ngọt ngào bảo tôi chối bỏ con đường của tôi.

Trong hôn nhân, biết bao đổ vỡ đã đến từ những bóng mát hạnh phúc ở bên cạnh.  Trong đời tu, biết bao trống trải đã ủ xuống hồn vì những lời gọi không chính đáng.  Mỗi người có một lối đi.  Vì cùng đi trong cuộc đời, nên sẽ thấy có người bước tới, có người quay về, có người tắt ngang.  Ðiều ấy dễ gây xôn xao.  Có người lấy bóng hạnh phúc của kẻ khác làm của mình, vì thế họ chẳng bao giờ tìm được hạnh phúc thật.  Có người lại lôi kéo kẻ khác vào con đường của họ.  Làm như thế, ngỡ là yêu thương, nhưng thật ra, họ đã tàn tật hóa con đường của nhau phải đi.  Nâng đỡ nhau trên đường đi không bao giờ có nghĩa là đi con đường của kẻ khác.  Yêu thương là để kẻ khác đi trên con đường của họ.

Nguy hiểm trên đường đi là sự lừa dối lương tâm của chính mình.  Khi người ta gian lận nhiều lần, thì dần dà sẽ thành thói quen, nhưng thành thói quen không có nghĩa là được phép.

Cứ đi lại nhiều lần trên bãi hoang, thì tự nhiên sẽ thành đường đi, nhưng thành đường đi không có nghĩa đấy là chính lộ.

**************************************

Lạy Chúa, hôm nay con muốn nói với Chúa về nỗi lòng của con đã thấy gì trên đường con đi.  Trên đường đi, con thấy có nhiều quán trọ.  Có quán cho con bóng mát.  Có quán bảo con đừng đi.  Mệt nhọc làm con muốn dừng nghỉ.  Chống đối, hiểu lầm, ghen tỵ, kết án làm con muốn bỏ cuộc.  Và dường như, nếu con càng dừng nghỉ thì con càng ngại đi.  Nếu con càng làm quen với lười biếng thì con càng ngại ngùng trở về con đường Chúa muốn con sống.  Rồi, đường đi cứ thế mà chậm thêm.  Và, cũng trên đường đi, sao có nhiều quãng đường thật xấu, gồ ghề như quãng đường Chúa đi xưa.  Hình ảnh đồi sọ làm con tính toán lưỡng lự.  Có những quãng đường sao mà tối tăm làm con hồ nghi không biết có phải là đường thật không.  Ðây là lúc con phân vân không biết thánh ý Chúa ở đâu.  Và cũng là những lúc con bị cám dỗ nghi ngờ ơn gọi Chúa đã ban.  Ði trọn tiếng gọi của mình theo Phúc Âm không dễ vì có nhiều hình ảnh đánh lừa con.  Có phải vì thế mà Chúa đã dặn: “Ðường dễ dãi sẽ dẫn đến hư đi” (Mt 7,13-14).

Hôm nay, có điều con cũng muốn thưa với Chúa là dù được an ủi hay chịu đựng âm u của những ngày nặng nề, con vẫn nghe thấy tiếng Chúa khuyến khích con đi con đường của riêng con.  Tuy có khó khăn nhưng con vẫn tin ở trước mặt là một bình minh rất đẹp.  Ðiều ấy làm con vững tâm.

**************************************

Trong lịch sử lầm đường, chối bỏ lối đi của mình bao giờ cũng có mặt của Satan.  Khi Phêrô ngăn cản Chúa đừng chịu chết.  Chúa mắng: “Satan hãy cút khỏi sau Ta vì đây không phải là đường lối của Thiên Chúa” (Mt 8,31-33).

Phúc Âm thánh Luca nói về Giuđa như sau: “Satan nhập vào hắn, và y đi thương lượng với các thượng tế để làm sao nộp Ngài cho họ” (Lc 22,3-4).

Trong sa mạc, kẻ cám dỗ Chúa đừng đi con đường của Chúa cũng là Satan (Mt 4,1-11).

Ngày xưa trong vườn địa đàng, Adong, Evà đã không đi được con đường của mình cũng vì lời ma quỷ lừa gạt.  Lịch sử lầm đường là lịch sử có mặt của Satan.  Ðiều ấy cho tôi tin chắc rằng khi tôi không muốn đi con đường của mình, tôi phải cẩn thận vì tiếng nói của thần dữ rất tinh vi.

Nói về hành động Giuđa đi lạc lối, Phúc Âm thánh Gioan kết luận: “Lập tức hắn đi ra và trời đã tối” (Gn 13, 30).  Khi nói trời đã tối, Gioan không có ý viết một bài văn chương tả cảnh hoàng hôn.  Bằng ngôn ngữ thần học, rất sâu sắc, Gioan muốn nói khi con người chối bỏ ơn gọi của mình để Satan đổi hướng đời mình phải đi, đấy là lúc “người ta yêu mến bóng tối hơn sự sáng” (Ga 3,19).

Không đi đường mình phải đi, chìm vào bóng tối thì tôi tìm thấy gì trong vùng đất ấy?

Trời đã tối, tiếng than ngắn ngủi mà thăm thẳm như nỗi tuyệt vọng mịt mù, buông xuống che kín một đời người.  Lời thánh Gioan nhắn nhủ nghe buồn như tiếng thở dài, nhẹ mà rất sâu: “Ai đi trong tối tăm thì chẳng biết mình đi đâu” (Ga 12,35).

**************************************

Lạy Chúa, con đường đời của riêng con.  Chối bỏ con đường của mình là lừa dối chính mình và tránh mặt Chúa, kẻ đang đợi chờ con ở đầu đường bên kia.

Lm. Nguyễn Tầm Thường, S.J

NGÀY CỦA CHA

Hàng năm chúng ta đều kỷ niệm “Ngày của Cha”, ngày mà chúng ta được mời gọi để nói lên lòng biết ơn với người cha.  Đối với một số người đây là chuyện dễ dàng vì họ có một người cha tốt, đối với một số người khác, đây là điều khó khăn: Làm sao mình biết ơn người cha khi cha của mình phần lớn thời gian vắng mặt trong cuộc đời hoặc ngược đãi mình?

Đáng buồn thay, thế giới của chúng ta có quá nhiều người cha vắng mặt và ngược đãi.  Vì vậy, nhiều người trong chúng ta đi suốt cuộc đời trong cố gắng chật vật, dù vô thức, để tìm cho được thăng bằng lành mạnh giữa tự do và kỷ luật.  Thay vào đó chúng ta luôn luôn giao động giữa một bên là quá khắt khe với bản thân và một bên là quá dễ dãi với bản thân.

Hơn nữa, nếu chúng ta có một người cha vắng mặt hoặc ngược đãi, chúng ta có khuynh hướng sống, luôn luôn đi tìm – một cách vô thức – một điều gì đó đã không được trao cho, đó là sự chấp thuận của người cha.  Điều này khiến chúng ta rụt rè, thường giận dữ, và đói khát hình ảnh một người cha.

Nỗi đói khát này, đói khát được người cha hay một ai đó đại diện cho ông để khẳng định và chúc phúc cho mình, có lẽ đó là cơn đói sâu sắc nhất trên thế giới ngày nay, đặc biệt đối với phái nam.  Rất ít người trong cuộc đời được cha ruột hay hình ảnh một người cha khẳng định và chúc phúc.

Một người cha là như thế nào?  Các nhà nhân loại học cho chúng ta biết hình mẫu người cha có những phẩm chất này: Ông là người thu xếp để tạo trật tự, cáng đáng, nuôi sống và chúc phúc cho gia đình.  Điều đó có nghĩa gì?

Trước tiên, ông phải là cội nguồn của trật tự chứ không phải của rối loạn.  Một người cha tốt sống theo cách mà gia đình ông cảm thấy yên ổn, an toàn khi có ông bên cạnh.  Một người cha tồi, qua việc ông vắng mặt, không đáng tin cậy, hoặc ngược đãi đã làm cho gia đình cảm thấy bất ổn.  Ví dụ, người cha có gốc là rối loạn khi ông không chung thủy, nghiện rượu, hoặc đang mang một thói nghiện ngập nào đó.  Khi đó, cách hành xử của ông sẽ không lường trước được, lúc nào các con cũng đoán xem ông có về nhà hay không – nếu về thì tâm trạng của ông lúc đó sẽ như thế nào.  Dần dà, tính chất khó lường này sẽ thấm vào con cái, đến một lúc chúng cảm thấy cha mình là nguồn gốc của mất trật tự, của hỗn loạn.  Ngược lại, một người cha tốt, kể cả khi gia đình ông coi ông là chán ngắt và tẻ nhạt, sẽ làm cho gia đình cảm thấy an toàn và an ổn.

Thêm nữa, người cha tốt gánh vác gia đình hơn là đòi hỏi gia đình gánh vác ông.  Người cha tốt là người lớn, người có tuổi đáng kính, chứ không phải là anh chị em hay là một đứa trẻ (xét về hành vi) mãi mãi đòi hỏi gia đình phải gánh vác mình.  Một người cha tốt không để vấn đề và mối lo, những chuyện đau lòng và mệt mỏi của riêng mình, thành tâm điểm chú ý của cả gia đình.  Thay vào đó ông vượt lên chuyện mệt mỏi và đau lòng của riêng mình để tập trung vào những chuyện đau lòng, đau đầu của gia đình.

Vượt lên trên điều đó, một người cha tốt nuôi dưỡng gia đình chứ không bắt gia đình nuôi dưỡng ông.  Không đòi hỏi, cho dù vi tế và vô thức, con cái phải mang lại ý nghĩa, sự hài lòng và vinh quang cho ông.  Thay vào đó ông quan tâm nhiều hơn đến việc con cái và gia đình tìm thấy được ý nghĩa, sự hài lòng và hạnh phúc trong chính cuộc đời của họ.  Những người cha người mẹ tốt nuôi dưỡng con cái mình; những người cha người mẹ tồi bắt con cái phải nuôi dưỡng mình.

Cuối cùng, một người cha tốt khẳng định và ngưỡng mộ con cái thay vì đòi hỏi chúng khẳng định và ngưỡng mộ ông.  Một người cha tốt tỏ ra cho con thấy ông tự hào về chúng chứ không ghen ngược lại về tài năng và thành tựu của chúng.  Ông không đòi hỏi con cái nói lên lòng tự hào của chúng về ông.  Daniel Berrigan, trong cuốn tự truyện chín chắn viết hồi cuối đời, chia sẻ ông đã phải cố gắng chật vật ra sao với nhiều vấn đề trong suốt cuộc đời, đặc biệt với vấn đề thẩm quyền, vì ông thiếu lời chúc lành của người cha.  Chẳng hạn, ông thường thấy sợ không dám nói với cha tin vui là ông vừa xuất bản một cuốn sách vì sợ cha ông ghen tỵ.  Sau khi kể điều đó, ông hỏi độc giả: Có kinh ngạc gì không trước chuyện ông đã luôn ranh mãnh và nghi ngờ mọi hình bóng thẩm quyền trong suốt cuộc đời người lớn của mình?  Sự vắng bóng lời chúc lành của người cha làm cho tâm hồn của chúng ta co lại.

Có lẽ hình ảnh này có thể giúp ích ở đây: Khi con bò mẹ sinh con, con bê non rơi ra khỏi tử cung trong tình trạng bị bó chặt, cứng đơ, toàn thân bị quấn trong bọc nhau giống như keo dính.  Nhưng Tự nhiên đã tính đến chuyện này và đã ban cho bò mẹ bản năng đúng đắn.  Ngay lập tức, bò mẹ quay ra phía sau và liếm cái bọc bó chặt đó khỏi thân bê con cho kỳ hết.  Ngay khi được liếm xong, bê con đứng dậy, dò dẫm và bắt đầu tự đi được.

Con người chúng ta cũng sinh ra trong tình trạng tương tự.  Chúng ta cũng bước vào cuộc đời trong tình trạng bị bó chặt, nhưng trong trường hợp chúng ta, sự bó chặt không hẳn là về mặt thân thể.  Đó là sự bó chặt sâu hơn và phức tạp hơn nhiều – và cha mẹ là người xóa bỏ tình trạng đó bằng cách thu xếp để tạo trật tự, gánh vác, nuôi dưỡng và chúc lành cho chúng ta.  Không người cha nào làm được điều đó một cách hoàn hảo, nhưng nếu cha của bạn đã làm điều đó thậm chí chỉ được một nửa mức thỏa đáng, thì bạn hãy bày tỏ lòng biết ơn, và bạn nên biết là bạn được phước lành!

Rev. Ron Rolheiser, OMI

DÂNG LỜI CHÚC TỤNG BA NGÔI

“Xin dâng lời tôn vinh chúc tụng Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Kh 1,8a)

Một đan sĩ nọ đã nói: “Nếu ngày xưa Moisen đã không bước vào chỗ tăm tối và mù mịt trên núi Sinai, ông đã không gặp thấy Chúa.  Cũng vậy, nếu chúng ta không thấy mình dốt nát và mù tối khi suy hiểu về Thiên Chúa, chúng ta sẽ không bao giờ nhận biết được Ngài.”  Điều này rất đúng khi chúng ta suy niệm về mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi mà Giáo hội hôm nay mừng kính.  Đây là mầu nhiệm căn bản nhất của đức tin Công giáo, đồng thời cũng là chân trời vĩ đại và tối tăm nhất đối với đầu óc suy lý của con người.  Mầu nhiệm Ba Ngôi rất khó hiểu và thực ra chúng ta không thể hiểu nổi.  Khi đối diện trước các thực tại của Thiên Chúa, chúng ta không thể nhận thức bằng lý trí nhưng chỉ có thể trải nghiệm bằng đức tin.  Thái độ cần thiết nơi chúng ta không phải là đứng lên cách ngạo nghễ để vắt óc tìm tòi, nhưng phải quỳ gối xuống cách khiêm tốn trong cung chiêm và thờ lạy.

Thực hành đức tin khi tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi.

Trước khi bắt đầu làm bất cứ công việc gì, người Công giáo chúng ta luôn bắt đầu bằng dấu Thánh giá với lời tuyên tín: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.  Thánh Phaolô thường gửi lời chào thăm đến các cộng đoàn với văn thức xưng tụng Thiên Chúa Ba Ngôi.  Giáo hội cũng dùng lại văn thức này để khởi đầu Thánh lễ khi vị linh mục chào chúc cộng đoàn: “Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em (2 Cor 13,13; Eph 1,2).  Chúng ta nhớ lại giai thoại về thánh Augustinô.  Khi Ngài đi bách bộ bên bờ biển và suy tư về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, Ngài gặp một em bé đang dùng cái vỏ sò để múc nước biển đổ vào một cái lỗ nhỏ tí xíu.  Em bé nhắc nhở cho thánh nhân biết rằng, việc lấy một cái vỏ sò bé tí teo đong đầy nước biển xem ra khá xuẩn ngốc, nhưng việc dùng đầu óc chật chội của con người để cố nhét vào cả bầu trời bao la của mầu nhiệm Thiên Chúa còn xuẩn ngốc hơn gấp bội.  Vì vậy, đi vào thế giới của mầu nhiệm, chúng ta phải hết sức khiêm tốn và nhận ra những bất toàn nơi đầu óc mình.

Các thánh giáo phụ vay mượn ý nghĩa của 3 lời khuyên phúc âm để minh họa tình yêu đối với Thiên Chúa Ba Ngôi.  Sống tinh thần khó nghèo chính là thể hiện niềm tin vào Chúa Cha, đấng quan phòng và luôn yêu thương con cái mình.  Đức Khiết tịnh diễn bày tinh thần từ bỏ để sống với một tình yêu thuần khiết theo gương Chúa Giêsu.  Sự Vâng phục của người tu sĩ mời gọi chúng ta mở lòng cho Chúa Thánh Thần tác động.  Đó chính là ân ban của Thần Khí giúp chúng ta luôn biết tìm kiếm và quy thuận thánh ý của Thiên Chúa.  Chúa Giêsu cũng đã mặc khải cho chúng ta về Chúa Cha và về Thần khí tác sinh.  Khi Ngài lãnh phép rửa tại sông Giođan, mầu nhiệm Ba Ngôi từ từ được vén mở, qua tiếng Chúa Cha từ trời vọng xuống và Thánh Thần đậu xuống trên Ngài dưới hình chim bồ câu.  Ngoài những điều mà Kinh thánh mạc khải, giáo huấn của Giáo hội cũng đầy ắp những gợi mở cho chúng ta về mầu nhiệm cao cả này.  Đây là giáo lý căn bản và chúng ta vẫn thường xuyên tuyên xưng mầu nhiệm ấy mỗi khi chúng ta giơ tay làm dấu Thánh giá để cầu nguyện cùng Chúa Ba Ngôi.

Phẩm tính căn bản của mầu nhiệm Ba Ngôi chính là tình yêu.

Trong lá thư thứ nhất của Thánh Gioan, vị tông đồ đã định nghĩa về Thiên Chúa qua một hạn từ rất đơn giản và cô đọng: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,16).  Đức Thánh Cha Phanxicô cũng khẳng quyết rằng, ‘Lòng thương xót’ là tên gọi thứ hai của Thiên  Chúa, bởi vì thương xót là cách hiển thị rõ nét về tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người.  Khi chiêm niệm về mầu nhiệm Ba Ngôi, chúng ta hãy cảm nghiệm như Thánh Phaolô đã từng diễn tả: “Thiên Chúa đã đổ đầy tình yêu của Người vào tâm hồn chúng ta, nhờ Thánh Thần Người ban cho chúng ta (Rm 5, 5b).  Để mặc khải về tình yêu của Chúa Cha, Đức Giêsu đã nói với Nicôđêmô: “Thiên Chúa yêu trần gian đến nỗi đã ban chính con một của Ngài để ai tin vào người Con, sẽ được sống.  (Ga 3,16). Vì thế khi chúng ta được rửa tội nhân danh Chúa Ba Ngôi, chúng ta bắt đầu sống ơn gọi làm con và khởi đầu sứ vụ thực hành tình yêu như Mẹ thánh Têrêsa Calcutta đã nói: “Mỗi người chúng ta được trao ban một sứ vụ để chu toàn, đó là sứ vụ của tình yêu.”

Kết luận 

Một bữa nọ, Ông Voltaire, một triết gia vô thần đi bách bộ với một anh bạn trên con đường quê ven rừng.  Giữa giao lộ có một cây Thánh giá phủ đầy tuyết.  Voltaire đã công khai bỏ đạo từ lâu, và hoàn toàn không còn tin vào Thiên Chúa nữa.  Ông còn ngạo nghễ chế diễu niềm tin của các Kitô hữu.  Nhưng người bạn đang đi với ông lại có niềm tin rất sâu xa.  Voltaire chỉ vào cây Thánh giá phủ đầy tuyết và nói với anh bạn: “Đây là hình ảnh của tôn giáo ngày nay.  Thiên Chúa của các anh đã bị văn minh khoa học phủ kín mặt mày và niềm tin tôn giáo đã bị sự lạnh lùng băng giá của con người hôm nay che lấp.  Vì vậy, Thiên Chúa của các anh không còn lý do để hiện hữu nữa.”  Chợt lúc đó, có một cơn gió mạnh thổi đến hất tung chiếc mũ trên đầu Voltaire và quăng xuống đất, đồng thời cơn gió đã làm tan chảy lớp tuyết bao phủ cây Thánh giá.  Gương mặt Chúa Giêsu từ từ hiện lộ một cách rõ nét.  Người bạn của Voltaire lúc đó mới trả lời ông: “Này bạn, đây mới là hình ảnh đích thực của niềm tin tôn giáo ngày hôm nay.  Cho dù con người vẫn lạnh lùng và chai cứng như lớp tuyết trắng che kín Thánh giá, nhưng sức mạnh của Thiên Chúa vẫn dư sức hất tung sự kiêu ngạo của con người và làm tan chảy sự lạnh lùng nơi con tim sỏi đá của mọi người.  Ngài luôn hiện hữu cho dù con người vẫn đang ra sức loại trừ Ngài.”

Một nhà tu đức đã nói: “Chúng ta hãy kiếm tìm Thiên Chúa chứ đừng tìm nơi ở của Ngài.”  Chúa ở khắp mọi nơi và đang ở trong tâm hồn mỗi người.  Chúng ta hãy không ngừng đi kiếm tìm Ngài.

Lm. GB. Trần Văn Hào

BÀI HỌC VỀ LỄ NGŨ TUẦN

Khi suy nghĩ về lịch sử và phụng vụ của Lễ Ngũ Tuần, chúng ta có 7 bài học sau đây.

1. Chúng ta không thể “có đủ” Thiên Chúa

Cân nhắc: các tông đồ trải qua 3 năm sống với Chúa Giêsu, Thiên Chúa Nhập Thể.  Họ nghe Ngài giáo huấn, thấy Ngài làm phép lạ, thấy Ngài bị đóng đinh.  Rồi họ nhận biết Đức Kitô phục sinh và tin Ngài thật là Con Thiên Chúa.  Nhưng sau khi trải nghiệm biến đổi với Thiên Chúa, có điều khác chờ đợi họ: Chúa Thánh Thần hiện xuống.  Chúng ta không bao giờ “có đủ” Thiên Chúa.  Chúng ta có thể đầy ắp nhưng vẫn muốn lại được có Ngài tràn đầy.

2. Ngôi này dẫn tới Ngôi khác trong Ba Ngôi

Dĩ nhiên điều này không có nghĩa là Chúa Giêsu “không đủ” đối với các tông đồ.  Hơn nữa, mỗi Ngôi trong Ba Ngôi cho chúng ta biết các Ngôi khác.  Chúng ta càng gần một Ngôi thì càng muốn các Ngôi khác.  Điển hình về điều này là diễn từ về cây nho thật và cành nho trong Ga 15:1-17.

3. Thiên Chúa đến với chúng ta qua nhiều cách

Thời Tân Ước, trước tiên Chúa Giêsu đến với chúng ta qua việc hóa thành nhục thể – Thiên Chúa nhập thể.  Rồi Ngài hứa ở với chúng ta qua Bí tích Thánh Thể với hình bánh và rượu.  Chúa Thánh Thần nhắc chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa đến với chúng ta bằng nhiều cách khác nhau.  Trong ngày Lễ Ngũ Tuần, đó là gió thổi đến từ trời và hình lưỡi lửa.

4. Cảm nghiệm Thiên Chúa – riêng tư và cộng đồng

Lễ Ngũ Tuần vừa mang tính riêng tư vừa mang tính cộng đồng.  Lưỡi lửa đậu trên đầu các tông đồ: mỗi lưỡi lửa đầy Chúa Thánh Thần.  Nhưng đó cũng là cảm nghiệm cộng đồng với ý nghĩa rộng lớn hết sức có thể.

Như Thánh Luca nói trong Cv 2:1-13, tại Giêrusalem “có những người Do Thái sùng đạo, từ các dân thiên hạ trở về.  Họ kinh ngạc vì ai nấy đều nghe các ông nói tiếng bản xứ của mình.”  Họ đã từng vô tổ chức trong cộng đồng Do Thái mà nay trở thành cộng đồng toàn cầu và Giáo Hội được khai sinh.

5. Chuẩn bị cho Thiên Chúa

Trong những ngày gần tới Lễ Ngũ Tuần, các tông đồ tích cực chuẩn bị, mặc dù họ không biết phải chuẩn bị thứ gì.  Theo Cv 1, các tông đồ làm ba việc chính: [1] thành lập cộng đoàn, [2] chuyên cần cầu nguyện, và [3] chọn một tông đồ mới cho đủ số mười hai – vì Giuđa đã chết.  Mặc dù chúng ta chuẩn bị lãnh nhận Thiên Chúa bằng những cách khác nhau, chúng ta có thể noi gương họ về mức độ cơ bản trong việc yêu thương người lân cận, yêu mến Thiên Chúa qua việc cầu nguyện, và vẫn vững vàng trong Nhiệm Thể Đức Kitô – Giáo Hội.

6. Mong chờ Thiên Chúa

Lúc này, sự chuẩn bị có vẻ dẫn tới sự trái ngược: mong chờ.  Ngay cả sau khi Thiên Chúa can thiệp mạnh mẽ vào cuộc sống của chúng ta, các tông đồ vẫn phải phục vụ Thiên Chúa.  Về phương diện này của Nước Trời, chúng ta cũng không ngừng làm điều đó.

7. Thiên Chúa không đến thế gian mà không có Đức Mẹ

Chúa Giêsu không đến thế gian này mà không có Đức Mẹ, và Chúa Thánh Thần cũng vậy.  Tác giả sách Công Vụ rất cẩn thận cho biết rằng Đức Mẹ ở với họ và cùng cầu nguyện chuẩn bị Lễ Ngũ Tuần: “Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thân mẫu Đức Giêsu, và với anh em của Đức Giêsu” (Cv 1:14).  Dĩ nhiên các phụ nữ khác cũng ở đó, nhưng Đức Mẹ là người duy nhất được nhắc tới cùng với 11 tông đồ.  Sự hiện diện của Đức Mẹ vô cùng quan trọng khi chúng ta nhớ lại rằng Đức Mẹ sống từng thời điểm trong sứ vụ của Chúa Giêsu – từ tiệc cưới Cana tới đồi Canvê.  Trên thế gian, nơi nào có Đức Mẹ thì nơi đó có Thiên Chúa làm công việc của Ngài.

Stephen Beale
Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

10 CÁCH RẤT ĐỜI THƯỜNG CÓ THỂ “CHỨNG MINH” SỰ TỒN TẠI CỦA THIÊN CHÚA

Ai trong chúng ta khi dấn thân vào sứ mạng tông đồ ít nhiều cũng từng kiếm tìm những cách thức đơn giản nhất có thể nhằm giải thích sự hiện diện của Thiên Chúa, sao cho mọi người, ngay cả những người chất phác nhất cũng hiểu được.

Chúng ta vận dụng hết khả năng hầu thấu hiểu Ngũ Đạo (5 cách chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa của Thánh Tôma Aquinô), nỗ lực nghiên cứu và dịch thuật những Giáo Huấn của Giáo Hội.  Chúng ta trích dẫn tư tưởng của các Thánh, các vị Giáo Tông.  Thậm chí, nhiều người còn sử dụng những phương thức sáng tạo hơn, hiện đại hơn như trình chiếu Video, thuyết trình với Powerpoint, hoặc lên Website Công Giáo tìm kiếm những nguồn mới có thể sử dụng trong lớp học tôn giáo của mình.

Nhưng Thiên Chúa làm cho mọi thứ dễ dàng hơn chúng ta tưởng.  Rốt hết, chính Ngài đã trở nên một con người đích thực.  Ngài đã trải qua những kinh nghiệm rất đỗi con người, cũng đói, cũng rét, cũng mệt mỏi, cũng đau nhức như chúng ta.  Chính vì vậy mà tất cả những kinh nghiệm mang chiều kích nhân loại đều có thể giúp chúng ta hiểu biết Thiên Chúa.  Thiên Chúa hiện hữu tròn đầy nơi mọi sự, bởi chính Ngài đã kinh qua mọi sự ấy và biến chúng thành những kinh nghiệm thánh thiêng.

Vì lẽ đó, hôm nay chúng tôi mang đến cho bạn một vài ý tưởng hầu giúp bạn nhận biết rằng Thiên Chúa đã “ở đó”, Ngài bước qua “nơi ấy” nhưng không ai nhận ra Ngài.  Dẫu thế, Ngài vẫn luôn hiện diện, vẫn sẵn sàng lắng nghe bạn.

Chắc chắn bạn đã từng có kinh nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời bạn; và đó là cách tuyệt vời để hiểu và diễn giải sự hiện hữu sống động của Ngài.  Và đây, chúng tôi đưa ra 10 điều rất đỗi thân quen cho thấy Thiên Chúa hiện diện trong cuộc đời mỗi người:

1. Trong lần đầu tiên bạn trở thành cha mẹ

Thật khó để giải thích ý nghĩa của việc trao ban sự sống.  Thiên Chúa mới chính là Đấng ban tặng sự sống, nhưng với tình yêu vô biên, Ngài cho phép chúng ta trở nên những người đồng sáng tạo và cộng tác vào kế hoạch yêu thương của Ngài.  Ẵm trên tay một con người do bạn LÀM RA, nhưng con người ấy đồng thời cũng là một “sản phẩm” khởi phát từ Ý Muốn thánh thiêng của Thiên Chúa, điều này chắc chắn là một trải nghiệm linh thiêng đối với bạn.

2. Khi bạn cảm thấy ngỡ ngàng trước một bầu trời hùng vĩ bao la

Có những lúc ta nhận ra tầm nhìn và sự hiểu biết của mình thật nhỏ bé, và mọi thứ đều nằm trong tay một ai đó vĩ đại hơn ta.  Con người không thể làm gì hầu thay đổi màu sắc trên bầu trời, hình dạng của những đám mây, ánh sáng xuyên qua cửa sổ v.v… Và đó mới chỉ là những thứ ta thấy được!  Còn biết bao điều khác vẫn tồn tại nhưng con người chẳng thể nào nhận ra, chẳng thể nào thấu hiểu!

3. Khi chiêm ngắm chính đôi bàn tay của mình

Đôi bàn tay hoàn hảo nhưng đồng thời lại vẫn chưa hoàn hảo; được thiết kế rất khéo léo, tinh tế, nhưng vẫn được đảm bảo mạnh mẽ, rắn chắc.  Chiêm ngắm và bạn sẽ thấy đôi bàn tay ấy đã trải qua năm tháng cuộc đời với biết bao công việc lớn nhỏ khác nhau, nhưng nó vẫn là nó, … và thật kỳ diệu: Thiên Chúa đã nghĩ và thiết kế đôi bàn tay ấy cho bạn.

4. Khi bạn trò chuyện với chính mình

Mỗi người không đơn thuần chỉ là một khối xương thịt hay một vật thể mang một kết cấu cơ học nào đó.  Có thứ gì đó bên trong thôi thúc họ vươn tới điều cao quí, nghiêng chiều về điều thiện hảo, và khát khao hướng về Thiên Chúa.  Cứ trò chuyện và đối diện với chính mình, trả lời những câu hỏi, giải quyết những rắc rối, nhưng rồi bạn sẽ nhận ra mình không phải là một sản phẩm của một định mệnh mù quáng ngẫu nhiên.  Sự hiện hữu của bạn vừa phức hợp, vừa toàn vẹn, đó là Thánh Ý và là kết quả của một sự sáng tạo vô biên từ Thiên Chúa.

5. Một ngày nào đó bạn thấy bình an khỏa lấp cõi lòng, nhưng chẳng sao giải thích được

Có những yếu tố ngoại tại làm nên sự tĩnh mịch an nhiên, chẳng hạn như khi bạn được đảm bảo về tài chính, thể chất lành mạnh, gia đình êm ấm, được cư ngụ giữa mọi người.  Nhưng ngay cả khi một khía cạnh nào đó trên đây không thành tựu như bạn mong chờ thì vẫn có đó những giây phút bạn cảm nếm thứ bình an sâu thẳm cứ xâm chiếm nội tâm bạn.  Trước điều đáng ngạc nhiên ấy, bạn chẳng sao giải thích được.  Cứ như thể có ai đó vừa đặt nó trong tâm hồn bạn.

6. Khi bạn cảm nghiệm mình được yêu thương

Không chỉ là chuyện của việc đón nhận hay lòng tự trọng, kinh nghiệm mình được yêu thương còn cao cả hơn thế.  Cảm thấy mình được yêu cũng là cảm thấy mình xứng đáng, và cũng là hiểu được mình thực sự có giá trị.  Và ngay cả khi tình yêu mang tính nhân loại có bị giới hạn và đầy bất toàn, thì nó vẫn chất chứa một tia sáng giúp diễn tả Tình Yêu Thiên Chúa, và tình yêu nhân loại vẫn gợi lên trong bạn cảm giác mình được Thiên Chúa yêu thương.

7. Khi những thành tựu của nhân loại khiến bạn ngạc nhiên

Cứ như thể vẫn còn lại đây những hơi thở vốn tác thành mọi sự trong công trình tạo dựng.  Chúng ta thấy mình rất gần gũi với trí khôn nhân loại và thân quen với tốc lực mà trí khôn ấy hằng ngày xử lý các vấn đề, những bất tiện, và ngay cả nhiều điều ta không biết mình đã ước ao.  Thế nhưng ta lại không nhận ra rằng chỉ cần lui lại đôi bước là ta có thể chiêm ngắm và cảm thấy ngỡ ngàng trước sự thực con người được dựng lên và cách mà Thiên Chúa trao cho con người trí khôn để cộng tác vào công trình sáng tạo của Ngài.  Với trí khôn được lãnh nhận, con người làm nên những điều đáng kinh ngạc như dựng xây những tòa cao ốc chọc trời.  Và với cùng trí khôn ấy, họ tạo ra cả những điều đơn giản như chiếc muỗng nhỏ xinh.

8. Khi thấy người chúng ta ít mong đợi nhất có được niềm tin

Thường thì người ta hay đưa ra những xét đoán không có chủ đích về đời sống và Đức tin của người khác.  Và họ cũng thường “chẩn đoán” một vài người như những kẻ “chẳng thể nào đem lại niềm hy vọng,” bởi vì họ nghĩ rằng trong hệ thống những giá trị của những người này, kinh nghiệm về Đức tin là điều không phù hợp.  Nhưng khi nhận ra một vài trong số những “con chiên đã bị mất” này tỏ cho thấy một dấu chỉ của Đức tin trong họ, lòng chúng ta bừng sáng và niềm hy vọng được hồi sinh.  Khi nhìn thấy họ làm dấu Thánh Giá, nói về Thiên Chúa, chia sẻ những sứ điệp, những trích dẫn về Thiên Chúa và Đức Tin, và cả khi họ xin ta cầu nguyện cho họ, lúc ấy, lòng ta ngập tràn tình yêu Chúa, như thể ta hiểu rõ sự thật rằng Thiên Chúa ngự trị cả trong tâm hồn những người mà ta ít mong chờ nhất.

9. Lúc mọi thứ trở nên tốt hơn sau khi thấy mình đã mất hết niềm hy vọng 

Đôi khi có vẻ như Thiên Chúa đang chờ chúng ta chạm tới những giới hạn của mình, và khi ta chẳng thể làm gì khác, lúc ấy Ngài mới bắt đầu ra tay.  Điều này xảy ra cho chúng ta cũng giống như những cánh cửa vốn bị đóng kín mà nay được mở toang.  Và tình huống, và cuộc vật lộn vốn bị xem là “vô phương cứu chữa” này, giờ đây lại được giải quyết gọn gàng trong giây lát.

10. Khi ta đồng hành với một người thân yêu trong những giây phút cuối đời họ

Những giây phút này gợi lên một niềm đau xót, tuy nhiên, dưới ánh nhìn Đức Tin, chúng ta lại được khích lệ, được ủi an để đồng hành với người thân yêu và chiêm ngắm việc họ lên đường để gặp gỡ Thiên Chúa của họ trong bình an sâu thẳm.  Những ai đã từng đồng hành với người thân yêu trong những khắc cuối đời có thể được chứng kiến một cảm xúc mãnh liệt phút chia ly, nhưng cũng thấy một sự bình an và niềm an ủi sâu sắc khi biết rằng người thân yêu ấy đã lên đường trở về nhà để ở cùng Thiên Chúa của họ.

Sebastian Campos
bản dịch của Đaminh Phan Quỳnh, Dòng Tên (Theo Ephata)

LỄ CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG

Thiên Chúa có Ba Ngôi: Ngôi Nhất là Cha, Ngôi Hai là Con, Ngôi Ba là Thánh Thần.  Trong thực tế, chúng ta thường hay nói về Chúa Con, ít nói tới Chúa Cha, và rất hiếm khi nói về Chúa Thánh Thần.

Hôm nay, ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống là dịp thuận tiện để chúng ta nói về Chúa Thánh Thần: Ngài là ai?  Hoạt động của Ngài như thế nào?  Bổn phận của mỗi người Kitô hữu chúng ta đối với Ngài?

1. Chúa Thánh Thần là ai?

Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa Ngôi Ba, bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra.  Ngài là Thiên Chúa thật, cùng một bản tính và một quyền năng như Chúa Cha và Chúa Con.  Ngài còn được gọi là “Đấng ban Sự Sống” (Ga 6, 63), “Đấng Bảo Trợ” (Ga 15, 26), và “Thần Chân Lý” (Ga 16,13).

Kinh Thánh thường dùng những hình ảnh sau đây để chỉ về Chúa Thánh Thần: Nước, Lửa, Xức dầu, Áng mây và Ánh sáng, Dấu ấn, Bàn tay, Ngón tay và Chim bồ câu.

Mỗi hình ảnh đều mang một ý nghĩa biểu tượng: Nước: Tượng trưng cho sự tái sinh; Lửa: Tượng trưng cho năng lực biến đổi của các hành vi Chúa Thánh Thần; Xức dầu: Đồng nghĩa với danh xưng Chúa Thánh Thần; Áng mây và Ánh sáng: Vừa mạc khải Thiên Chúa vừa che khuất vinh quang siêu việt của Người; Dấu ấn: Đóng ấn ơn Chúa Thánh Thần vào người lãnh nhận bí tích Rửa tội, Thêm sức và Truyền chức thánh; Bàn tay: Tượng trưng cho sự chữa lành; Ngón tay: Tượng trưng cho quyền năng tác động; Chim bồ câu: Tượng trưng cho bình an, hoà bình.

2. Hoạt động của Chúa Thánh Thần

Thời Cựu Ước, Chúa Thánh Thần hiện diện trong mọi hoạt động quan trọng như: Khi Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ, khi Thiên Chúa hứa ban Đấng Cứu Độ, trong các cuộc thần hiện và trong niềm mong đợi Đấng Cứu Thế.

Sang Tân Ước, Chúa Thánh Thần hằng hướng dẫn đời sống và hoạt động của Chúa Kitô từ khi nhập thể cho đến phục sinh: Đức Trinh Nữ Maria mang thai bởi phép Chúa Thánh Thần (x. Lc 1, 35); Chúa Thánh Thần lấy hình chim bồ câu đậu trên đầu Chúa Giêsu khi Ngài chịu phép rửa tại sông Giođan (x. Lc 3,22); Chúa Thánh Thần dẫn Chúa Giêsu vào sa mạc để chịu ma quỷ cám dỗ (Lc 4,1; Mt 4,1; Mc 1,12); Quyền năng của Chúa Thánh Thần đã toả ra trong các hành vi của Chúa Giêsu để chữa lành các bệnh tật và ban ơn cứu độ (x. Lc 6,19; 8,46); Chúa Thánh Thần cũng làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết (x. Rm 1,4).

Chúa Thánh Thần hoạt động cách mạnh mẽ nơi các môn đệ trong ngày lễ Ngũ Tuần (x. Ga 20, 22-23).  Ngày lễ Ngũ Tuần cũng là ngày khai sinh của Giáo Hội.  Chính trong ngày này, các môn đệ được biến đổi, nói được các thứ tiếng lạ, can đảm loan báo Tin mừng và sẵn sàng làm chứng cho Chúa Kitô.  Trong việc xây dựng Hội Thánh và loan báo Tin Mừng, các Tông Đồ đều khẳng định rằng: “Thánh Thần và chúng tôi làm chứng” (Cv 5, 32).

Chúa Thánh Thần không những khai sinh nên Giáo Hội mà còn xây dựng và làm cho Giáo Hội được hình thành.  Ngài cư ngụ trong Giáo Hội và trang bị cho Giáo Hội bằng Lời Chúa.  Nhờ đó, Giáo Hội tin Lời Chúa, thực hành Lời Chúa và dùng Lời Chúa để giáo huấn.  Thánh Thần còn trang bị cho Giáo hội bằng các Đặc Sủng, Ngài ban ơn cho các chi thể tuỳ theo ý muốn của Ngài.  Thánh Syrilô nói: “Thánh Thần dùng miệng người này để giảng sự khôn ngoan, lấy lời ngôn sứ mà soi trí lòng người kia, ban cho kẻ này quyền xua trừ ma quỷ, cho kẻ kia ơn giải thích Thánh Kinh, thêm sức cho kẻ này sống tiết độ, dạy cho kẻ kia biết thương người, cho người này biết ăn chay và tập sống đời khổ hạnh, cho người kia biết khinh chê những thú vui thể xác, cho kẻ khác nữa ơn chuẩn bị tử đạo.  Người không bao giờ khác với chính mình như có lời chép: Thánh Thần tỏ mình ra cho mỗi người một cách, là vì ích chung.”

Nơi các Kitô hữu, Chúa Thánh Thần là Thần khí Tái Sinh, Thánh Hoá và làm cho họ được Vinh Hiển.

Chúa Thánh Thần là Thần khí Tái Sinh: Vì Ađam, con người trở thành nô lệ tội lỗi, trở nên kẻ thù của Thiên Chúa, bất tuân Thiên Chúa dẫn đến sự hư mất đời đời.  Tự con người không thể thay đổi được tình trạng đó.  Thánh Thần Thiên Chúa đã can thiệp để thay đổi con người.  Trước hết, bằng việc tái sinh qua Bí tích Rửa tội (x. Ga 3, 5-6).  Sau đó, bằng việc tái sinh qua bí tích Giao Hoà.  Nghĩa là, Chúa Thánh Thần soi sáng để người Kitô hữu nhận ra mình là kẻ có tội, cần được thanh tẩy để hưởng ơn cứu độ.  Chúa Thánh Thần còn giúp các Kitô hữu biết hoán cải để lãnh nhận Bí tích Giao Hòa.

Chúa Thánh Thần là Thần Khí Thánh Hoá: Chúa Thánh Thần giúp chúng ta chiến thắng con người cũ, giết chết việc làm của xác thịt (Rm 8,13) để chúng ta xứng đáng là đền thờ của Ngài.  Thánh Phaolô kê khai các việc của xác thịt như: “Dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy” (x. Gl 5, 19-21).  Chúng ta không thể chiến thắng được, nếu không nhờ Thần Khí.  Khi chúng ta nhờ Thần Khí mà chiến thắng các việc của xác thịt trên, thì chúng ta sẽ thu lượm được những hoa quả dồi dào của Thần Khí, đó là: “Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (x. Gl 5,11-23).  Chúa Thánh Thần còn cho chúng ta biết sự thật, dạy chúng ta biết cầu nguyện, thúc đẩy chúng ta sống mến Chúa yêu người và làm chứng cho Chúa Kitô.

Chúa Thánh Thần đã làm cho Đức Kitô được phục sinh vinh hiển, thì Ngài cũng sẽ làm cho chúng ta được sống lại vinh quang.  Con người và thân xác của chúng ta không còn nô lệ sự hư nát, nhưng sẽ sáng láng vinh hiển, thông phần sự sống bất diệt của Thiên Chúa Ba Ngôi (1Cr 15,42-45).

3. Bổn phận của chúng ta đối với Chúa Thánh Thần

Người Kitô hữu chúng ta cần xa tránh các tội phạm đến Chúa Thánh Thần, có bốn tội phạm đến Chúa Thánh Thần:

Thứ nhất, lộng ngôn chống lại Thánh Thần (Mt 12, 31-32).  Đó là tội “Cứng tin”, không chấp nhận hoạt động của Chúa Thánh Thần trong công trình cứu độ của Đức Giêsu Kitô.

Thứ hai, dập tắt Thần Khí (1Tx 5,19-22) thường được giải thích theo nghĩa “không biết tôn trọng các đặc sủng” mà Thánh Thần ban cho để xây dựng Hội Thánh.

Thứ ba, đối đầu với Thần Khí.  Đó là chiều theo xác thịt, để các khuynh hướng xấu đưa tới hành vi xấu, nghĩa là phạm tội thực sự.  Mỗi lần để cho xác thịt làm động lực chi phối hay làm chủ cuộc sống là một lần đối đầu với Thánh Thần.

Thứ tư, làm phiền lòng Thánh Thần.  Khi mọi hành vi và các cư xử không phù hợp với cương vị của người Kitô hữu đều làm mất lòng Thiên Chúa làm phiền lòng Thánh Thần (Ep 4,30).

Tóm lại, Thánh Thần là hồng ân vô giá mà Thiên Chúa ban cho những kẻ tin vào Đức Kitô.  Mỗi người Kitô hữu chúng ta đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần trong ngày lãnh nhận Bí tích Rửa tội, đặc biệt là khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Thêm Sức.  Vì vậy, chúng ta không những cần phải xa tránh các tội phạm đến Chúa Thánh Thần, mà còn cần phải tin kính, thờ phượng, năng cầu xin Chúa Thánh Thần soi sáng để chúng ta biết sống theo lương tâm ngay thẳng, cùng tôn trọng hồn xác ta là đền thờ của Người (x. 1Cr 6,19).

Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến, xin tiếp tục đồng hành với chúng con trong bổn phận xây dựng Giáo Hội và loan báo Tin Mừng.  Xin giúp chúng con biết xa tránh tội lỗi tôn trọng thân xác là đền thờ của Người.  Amen!

Lm. Anthony Trung Thành

———————

Tài liệu tham khảo:

  1. Khái Quát về Chúa Thánh Thần trong Kinh Thánh, ĐGM Phaolô Bùi Văn Đọc
  2. Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo số 683-747

HÃY SỐNG RỘNG RÃI VÀ QUẢNG ĐẠI

Đọc Phúc Âm, tôi thấy có ba mẫu gương rất đặc biệt và rất đáng cho chúng mình suy nghĩ, học hỏi và noi gương bắt chước.

– Mẫu gương thứ nhất là của người phụ nữ tội lỗi người đã dùng tóc và dầu thơm để lau chân Chúa Giê-su tại nhà của ông Si-môn (Lc 7:36-50).

– Mẫu gương thứ hai là của ông Da-kêu trưởng ty thuế vụ, một người giàu có nhất nhì ở thành Giê-ri-khô (c 19:1-10).

– Mẫu gương thứ ba là của một bà góa nghèo đã dâng cúng hai đồng tiền kẽm trị giá một phần tư đồng xu Rô-ma cho Đền Thờ [Mc 12:41-44).

Bạn có biết tại sao ba mẫu gương trên đáng cho tôi và bạn học hỏi, noi gương và bắt chước không?  Xin thưa là tại vì họ là những người đã sống một cách rộng rãi, hào phóng, và quảng đại với Thiên Chúa và với tha nhân.  Thật vậy! Phúc Âm kể lại rằng:

Người phụ nữ tội lỗi đã chơi rất xộp!  Cô đã dùng dầu thơm quý giá đổ lên chân, và lấy tóc của [cô] để lau chân của [Chúa Giê-su] (Lc 7:44-45).

Ông Da-kêu thì xộp hơn, ông đã tuyên bố công khai bố thí một nửa gia tài của ông cho người nghèo (Lc 19:8).

Và bà góa nghèo thì chơi xộp nhất.  Bà đã rút từ cái túng thiếu của [bà] mà bỏ vào [Đền Thờ] tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” (Mc 12:44).

Bởi vì người phụ nữ tội lỗi, ông Gia-kêu và bà góa nghèo đã xộp như vậy cho nên họ mới được Chúa Giê-su khen ngợi hết lời!

Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi [ông ta] cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham (Lc 19:8-9).

Ông thấy người phụ nữ này chứ? … chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau… đã không ngừng hôn chân tôi… chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi (Lc 7:44-47).

Thầy bảo thật anh em: bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết (Mc 12:43)

Còn bạn và tôi thì sao?  Chúng mình có xộp, có rộng rãi và hào phóng trong việc xử dụng của cải, tài sản, tài năng và thời gian mà Chúa giao cho tôi và bạn quản lý hay chưa?  Bạn nghĩ thử xem:

Bạn đã làm được gì, đã đóng góp được bao nhiêu tài lực cho công việc truyền giáo của Giáo Hội, cho những công việc chung của giáo xứ như ca đoàn, dạy giáo lý, dạy Việt ngữ…?  Bạn đã giúp đỡ được bao nhiêu lần và biếu tặng bao nhiêu tiền cho các cơ quan từ thiện chuyên lo cho các trẻ em khuyết tật, cho những người bị mù lòa, cho các bịnh nhân bị bịnh cùi, bịnh sida, cho các nạn nhân của thiên tai, bão lụt…?  Bạn đã dành ra bao nhiêu thời gian để đến chuyện trò, an ủi, thăm viếng và giúp đỡ cho ông bà, cha mẹ, những người già cả, côi cút, neo đơn, và những người cô thế cô thân trong các nhà dưỡng lão, trong các nhà tế bần, trong các bịnh viện hay tại các tư gia…?

Nếu bạn chưa khi nào đóng góp hay dâng cúng hoặc làm bất cứ công việc bác ái nào như đã liệt kê ở trên thì thật tôi bảo thật với bạn… Bạn đang là một người quản lý thiếu khôn ngoan đấy!  Tệ hơn nữa, coi chừng bạn còn là người đầy tớ tồi tệ và biếng nhác chỉ biết đem chôn giấu yến bạc của Thiên Chúa (Mt 25:25) mà không biết làm lợi ra thêm cho Thiên Chúa!  Coi chừng!  Sẽ có một ngày Ngài sẽ nói với bạn rằng: “Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa” thì lúc đó bạn sẽ đau khổ vô cùng bởi vì cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi! (Lc 16:2-3).

Nếu bạn đã đóng góp về mặt tài chánh và về mặt tinh thần cho những công việc tôi vừa kể trên nhưng chỉ rút từ tiền dư bạc thừa của [bạn] mà đem dâng cúng để bố thí cho Giáo Hội và bố thí cho tha nhân hoặc chỉ bố thí mỗi tuần một đồng bạc lẻ cho nhà thờ… thì bạn cũng cần phải suy nghĩ lại.  Bạn nghĩ thử xem tất cả những gì bạn đang có, hiện đang sở hữu như tiền bạc, xe cộ, nhà cửa, tàu bè, vợ chồng con cái, trí khôn, bằng cấp … là của ai vậy?  Của bạn hả?  Còn khuya!  Khi nhắm mắt xuôi tay từ giã cõi đời này bạn có mang theo được cái gì không?  Hễ thứ nào mà bạn mang theo được thì những thứ ấy là của bạn, còn không thì đừng có mơ!  Bạn có thấy những người chết họ mang theo được cái gì không?  Chẳng có gì cả!  Có chăng chỉ là lòng mến và tình yêu mà thôi!  Mà tiền bạc, của cải ở đời này tôi không dám cho đi thì làm sao tôi có được tình yêu, làm sao tôi có được bác ái… như là hành trang cho tôi xử dụng ở đời sau được?

Bác ái, quảng đại, rộng rãi và hào phóng trong việc xử dụng của cải đời này thì ngay từ bây giờ và nhất là ở đời sau, chúng mình sẽ hưởng được nhiều mối lợi và rất nhiều phúc lộc!  Tôi xin đơn cử ra đây một vài chứng cứ để bạn thấy sống rộng rãi và quảng đại với Chúa và với tha nhân là một mối phúc!

Vì lòng rộng rãi, quảng đại với tiên tri Ê-li-a mà bà góa thành Xa-rép-ta được no đủ trong suốt thời gian đói kém và đứa con trai của bà đã được sống lại từ cõi chết (1 V 17:10-16).  Vì lòng nhân ái, rộng rãi trong việc bố thí, giúp đỡ người nghèo cho nên ông Tô-bít đã được chữa sáng mắt. (Tb 11:1-19).

Nhờ tấm lòng quảng đại, đầy công đức vì những việc lành và bố thí đem của cải giúp đỡ cho người nghèo, mà bà Ta-bi-tha đã được thánh Phê-rô cầu nguyện cùng Chúa cho bà ta sống lại (CVTĐ 9:36).  Nhờ tấm lòng đại lượng, quảng đại và hào phóng, dám cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho người rách rưới ăn mặc, cho khách lạ ở trọ, đi thăm người bị tù đày, đến an ủi kẻ cô thân cô thế, đau yếu… mà rất nhiều người sẽ được xếp vào bên hữu và được mời vào hưởng niềm hạnh phúc vĩnh cửu của Ngài nơi Thiên Quốc (Mt 25:31-46).

Tắt một lời, khi tôi và bạn sống quảng đại, rộng rãi và hào phóng trong việc xử dụng của cải và tài sản mà Chúa trao phó cho chúng mình quản lý thì không bao giờ chúng mình bị thiệt thòi hay lỗ lã gì cả.  Thiên Chúa là một ông chủ giàu có và rộng lượng, khi kho hàng của chúng mình vơi đi thì lập tức Ngài sẽ đổ vào cho đầy ắp lại cho mà xem.  Bạn tin không?  Tùy bạn!

Bạn có muốn được Chúa Giê-su khen ngợi bạn hay không?  Nếu bạn không muốn thì thôi!  Còn nếu bạn muốn được Chúa Giê-su khen ngợi thì tôi và bạn hãy bắt chước bà góa nghèo:

Sống rộng rãi và đại lượng trong việc bố thí, giúp đỡ người nghèo, những người đang lâm vào cảnh túng cực cả về mặt vật chất cũng như tinh thần.  Sống quảng đại trong việc đóng góp cho Giáo Hội, cho giáo xứ, cho các dòng tu trong việc đào tạo, huấn luyện và bồi dưỡng chủng sinh, tu sĩ, linh mục…   Sống hào phóng với những người chung quanh ta, bỏ ra nhiều thời gian để gọi phone, đến thăm hỏi sức khoẻ cũng như giúp đỡ cho ông bà, cha mẹ, những người cô đơn, hiu quạnh, bịnh tật, kém may mắn…

Làm được những việc nhỏ mọn trên thì tôi tin là chúng mình đang cố gắng bắt chước bà góa nghèo và như thế là chúng mình đang chu toàn bổn phận của những người quản lý của Thiên Chúa.  Cố gắng lên bạn nhé!

“Hãy dùng tiền của mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước con vào nơi ở vĩnh cửu” (Lk 16:9).  Bạn đừng quên lời của Chúa Giê-su!

phamtinh@yahoo.com

BẢN NGỢI CA GIÁO HỘI

Carlo Carretto là tu sĩ người Ý, ngài qua đời năm 1988.  Ngài đã sống khổ tu trong Sa mạc Sahara nhiều năm, dịch Kinh thánh qua tiếng Tuareg, và từ sự cô tịch trong sa mạc, ngài đã viết nên những quyển linh đạo tuyệt vời.  Những tác phẩm và đức tin của ngài thật đặc biệt khi có thể kết hợp lòng sốt sắng trẻ thơ với tinh thần bài trừ ảnh tượng thánh sắc bén (khi cần thiết).  Ngài yêu mến giáo hội sâu sắc, nhưng không mù quáng trước những lỗi lầm và thất bại của Giáo hội, và ngài không ngại chỉ ra những khiếm khuyết đó.

Về sau, khi vấn đề sức khỏe buộc ngài phải rời sa mạc để về nghỉ hưu tại một nhà dòng ở quê hương Ý quốc.  Khi ở đó, ngài đã đọc một quyển sách của một nhà vô thần đã công kích lời của Chúa Giêsu trong bài giảng trên núi, “Cứ tìm rồi sẽ thấy”, một câu dĩ nhiên có nghĩa là nếu tìm kiếm Thiên Chúa với tâm hồn chân thành thì sẽ tìm thấy Ngài.  Nhà vô thần này đã đặt tên quyển sách là “Tôi tìm và chẳng thấy,” lập luận rằng theo kinh nghiệm của ông, một tâm hồn chân thành có thể tìm kiếm Thiên Chúa mà chẳng được gì.

Carretto đã viết một quyển sách để đáp lại luận điệu này, “Tôi tìm và đã thấy.”  Với ngài, lời của Chúa Giêsu là thật.  Trong cuộc tìm kiếm của mình, bất chấp có nhiều chuyện mình gặp có thể gợi lên sự vắng mặt của Thiên Chúa, ngài vẫn tìm thấy Thiên Chúa.  Nhưng ngài thừa nhận có những khó khăn, và một trong những khó khăn đó chính là Giáo hội.  Giáo hội có thể, và đôi khi đã, qua tội lỗi của mình, khiến nhiều người khó tin vào Thiên Chúa.  Carretto thành thật thừa nhận theo cách hạn chế điều này, nhưng lập luận rằng đấy không phải là toàn cục.

Do đó trong quyển sách của ngài vừa có tình yêu sâu đậm đối với đức tin và Giáo hội của mình, vừa không ngoảnh mặt làm ngơ trước những lỗi phạm của các Kitô hữu và Giáo hội.  Có lúc quyển sách của ngài như một Bản ngợi ca Giáo hội.  Tôi đọc thấy thế trong những dòng này:

Tôi phải phê phán người, Giáo hội của tôi quá chừng nhưng tôi yêu người quá chừng!

Người đã làm tôi khổ nhiều nhưng tôi nợ người nhiều.

Tôi muốn thấy người bị phá hủy nhưng tôi cần người hiện diện.

Người đã gây ra nhiều tai tiếng nhưng chỉ mình người giúp tôi hiểu ra sự thánh thiện.

Trong đời này tôi chưa bao giờ thấy điều gì ngu dân, thỏa hiệp, sai phạm đến thế, và cũng trong đời này tôi chưa bao giờ chạm đến điều gì tinh tuyền, quảng đại, và đẹp đẽ đến thế.

Nhiều lần tôi thấy như mình đã đóng sầm cánh cửa lòng trước mặt người, nhưng biết bao lần tôi cầu nguyện xin cho mình chết trong cánh tay người!

Không, tôi không thể thoát khỏi người, vì tôi kết hợp với người, dù không hoàn toàn như người.

Mà tôi biết đi đâu?  Đi xây một giáo hội khác?

Nhưng tôi không thể xây một Giáo hội khác không có những khuyết điểm như thế, vì chúng là những khiếm khuyết tôi mang trong mình.

Và nếu tôi xây Giáo hội khác, thì đó là Giáo hội của tôi, chứ chẳng phải của Chúa Kitô.

Không, tôi đủ tuổi để biết mình chẳng hơn gì người khác.

Tôi sẽ không rời bỏ Giáo hội được đặt nền móng trên đá này, bởi nếu thế tôi sẽ dựng một Giáo hội đặt nền móng trên thứ đá dễ vỡ hơn, là bản thân tôi.

Mà đá có là gì đâu?

Cái hệ trọng là lời hứa của Chúa Kitô, cái hệ trọng là chất kết dính các tảng đá nên một, là Chúa Thánh Thần.  Chỉ mình Thánh Thần có thể xây dựng Giáo hội với những hòn đá xấu xí bất toàn như chúng ta đây.

Đây là sự biểu lộ của một đức tin trưởng thành, một đức tin không quá lãng mạn và lý tưởng hóa cần được che chắn khỏi những thứ tăm tối trong đời, đây là một đức tin đủ thật để không yếm thế, bịt mắt chẳng nhận ra sự thiện rõ ràng cũng đang chảy trong Giáo hội.  Thật vậy, Giáo hội vừa cực kỳ thỏa hiệp vừa đầy ân sủng đến tuyệt vời.  Những đôi mắt ngay thẳng có thể thấy ra cả hai.  Một tâm hồn chín chắn có thể chấp nhận cả hai.  Trẻ con và tân tòng cần được che chắn đừng bị dấn sâu vào mặt tăm tối của mọi chuyện, những người trưởng thành hay chướng tai gai mắt cần phải mở to mắt ra trước sự thiện rõ ràng đang hiện diện.

Nhiều người đã bỏ Giáo hội vì nó làm cho họ bị chướng tai gai mắt với những tội lỗi đã thành thối, những điểm mù quáng, sự thủ thế, bản chất tự quy, và cả sự kiêu ngạo.  Những vụ xâm hại tình dục của các linh mục mới được phơi bày, và việc che đậy do tay giới chức trong Giáo hội, đã khiến rất nhiều người băn khoăn không biết liệu có bao giờ họ còn có thể tin tưởng vào cơ cấu, hàng giáo phẩm của Giáo hội nữa không.  Với nhiều người, vụ tai tiếng này có vẻ quá chấn động không thể chịu nổi.

Tôi tin bản ngợi ca của Carlo Carretto, có thể giúp chúng ta, dù chúng ta là người ngoan đạo hay đang khó chịu.  Với người ngoan đạo, nó sẽ cho họ thấy người ta có thể chấp nhận Giáo hội bất chấp tội lỗi của nó và thấy ra rằng việc chối tội lỗi đó không phải là hành động của tình yêu và trung thành.  Với những người chướng tai gai mắt, nó có thể là một thách thức muốn chúng ta đừng vì chuyện nhỏ bỏ chuyện lớn, đừng vì thế mà không thấy ra trong Giáo hội yếu đuối và tội lỗi, khốn khổ và tai tiếng, vẫn không bao giờ tắt ơn ban sự sống dư tràn của Thiên Chúa.

Rev. Ron Rolheiser, OMI