NHỮNG BẰNG CHỨNG CHO THẤY ĐỨC GIÊSU ĐÃ CHẾT THẬT SỰ VÀ ĐÃ SỐNG LẠI VỚI SỰ SỐNG MỚI

Vì sự phục sinh của Đức Giêsu là một kinh nghiệm vô cùng đặc biệt và khó hiểu, chẳng ai trong chúng ta có kinh nghiệm phục sinh giống như Ngài nên nhiều người, kể cả những tín hữu, đã tỏ vẻ nghi ngờ.  Họ không tin vào điều này.  Việc không tin này càng gia tăng trong thế giới ngày nay, khi thế giới công nghệ phát triển, đặc biệt là những phát kiến trong lãnh vực y khoa.  Có nhiều người chết lâm sàng, rồi sống lại.  Cũng có những người đã chết thật rồi sống lại, họ kể lại cho người biết những gì họ đã thấy.  Bởi thế, nhiều người đặt vấn đề là liệu Đức Giêsu có phục sinh theo kiểu mà chúng ta vừa nói thật không.  Liệu rằng Ngài có chết lâm sàng rồi sống lại?  Liệu rằng Ngài chỉ giả chết, rồi sau đó tỉnh dậy rồi bỏ trốn?  Liệu Ngài có thông đồng với các môn đệ để bịa ra một câu chuyện phục sinh thật hoành tráng để lừa gạt người khác?   Hay liệu rằng các môn đệ có bị ảo giác khi cho rằng Đức Giêsu đã phục sinh và hiện ra với họ.

Để phản bác lại tất cả những điều này, một bằng chứng rõ ràng và thuyết phục nhất (dù chưa đầy đủ) chứng minh cho chuyện Ngài đã sống lại, là việc người ta không thể tìm thấy được xác của Ngài.  Tất cả mọi vĩ nhân trên thế giới này đều đã chết và thân xác của họ vẫn còn được xác định.  Còn Đức Giêsu thì không.  Các môn đệ sẽ không thể bịa chuyện rằng Đức Giêsu đã phục sinh và hiện ra với mình, vì chỉ cần lính Rôma trưng dẫn cái xác là mọi chuyện sẽ được giải quyết.

Nhưng biết đâu các môn đệ đã đánh cắp cái xác thì sao?  Điều này càng khó có thể xảy ra hơn nữa.  Khi Đức Giêsu bị bắt và hành hình, ai trong các ông cũng sợ đến nỗi bỏ chạy.  Phêrô còn không dám thừa nhận rằng mình có tương quan với Đức Giêsu.  Ngay cả sau đó, các ông vẫn còn nhốt mình trong phòng vì sợ thì làm sao dám cả gan đi đánh cắp xác Thầy tại một ngôi mộ có lính La Mã được trang bị vũ khí canh giữ.  Ngoài ra, chúng ta cũng không tìm thấy lý do gì để các ông phải liều mạng làm chuyện này.  Các ông không thể tự dưng đi đánh cắp cái xác, giấu một nơi không ai biết, rồi bịa chuyện Thầy Giêsu sống lại, sau đó chịu chết vì câu chuyện tưởng tượng ấy: người thì bị chặt đầu, người thì bị đóng đi, người thì bị tùng xẻo…

Hơn nữa, nếu đây là một âm mưu tập thể thì chỉ cần một người trong số họ khai ra sự thật thì kế hoạch sẽ vỡ tan tành.  Các ông lại là những ngư phủ thất học, làm sao có thể nghĩ đến và bịa ra một câu chuyện về sự phục sinh mà đến nay chúng ta còn không biết nó là cái gì.  Vả lại, nếu các ông bịa chuyện thì không nên đưa phụ nữ vào vì thời đó chẳng ai tin lời một phụ nữ như chuyện bà Maria Madalena ra mồ và gặp Chúa.  Ngoài ra, các ông cũng không thể bịa chuyện Đức Giêsu hiện ra với mình vì Đức Giêsu không chỉ hiện ra với các ông mà còn với nhiều người khác, trong đó có một người rất thù ghét Kitô giáo là Phaolô.  Chính Phaolô đã dành trọn cuộc đời còn lại của mình để làm chứng về sự phục sinh của Đức Giêsu.  Thậm chí, ông đã chết vì sự thật ấy.  Những bằng chứng này cho thấy, các môn đệ không thể đánh cắp xác chết của Đức Giêsu rồi bịa chuyện được.

Có thể có trường hợp Đức Giêsu đã không chết, ngài chỉ ngất đi, hoặc chết lâm sàng thôi, rồi sau khi được đưa xuống thập giá và đem vào mộ, Ngài đã tỉnh lại và bỏ trốn?  Nghĩ như vậy có được không?  Giả thuyết này cũng không vững, vì có nhiều bằng chứng cho thấy Đức Giêsu đã chết thật.  Theo luật, lính La Mã phải kiểm tra rất kỹ rằng tử tù phải chết rồi thì mới cho tháo xuống khỏi thập giá, còn không thì phải đập dập ống chân tử tù để hắn ta không thể bỏ trốn.  Việc Đức Giêsu không bị đập dập ống chân (x.Ga 19,31-33) cho thấy lính La Mã xác nhận rằng Ngài đã chết.  Lính La Mã sẽ phải lãnh cái chết nếu không kiểm tra cẩn thận.  Như thế, hẳn là anh lính này phải rất cẩn trọng.  Gioan cũng thấy máu và nước chảy ra từ cạnh sườn (x.Ga 19,34-35), điều này cho thấy phổi của Ngài đã bị ép và không thể hoạt động được nữa.  Giả như đến đây Ngài vẫn chưa chết thì Ngài cũng không thể thở được khi bị những tấm vải liệm quấn lấy từ đầu đến chân và bị đặt trong một khe đá kín (x.Ga 19,38-42).

Hơn nữa, một thân xác tàn tạ sau khi bị đánh đập và đóng đinh như thế thì sao có thể đẩy nổi tảng đá lớn lấp mộ mà không bị lính La Mã đứng canh phát hiện.  Giả như Ngài có làm được thì Ngài đã đi đâu, làm gì?  Tại sao không ai thấy?  Và quan trọng hơn nữa, một con người sống dở chết dở, thân bại danh liệt như thế, vốn dĩ đã làm cho các môn đệ thất vọng tràn trề, làm sao có thể khiến bao nhiêu người sẵn sàng bịa chuyện rồi sẵn sàng chết vì mình với một sự can đảm và khảng khái như vậy.  Bởi vậy, giả thuyết cho rằng Đức Giêsu không chết hoặc chỉ chết lâm sàng không đáng tin.

Một chứng cứ rất hùng hồn để chứng minh cho sự phục sinh của Đức Giêsu chính là những lần Ngài hiện ra, cùng ăn uống, trò chuyện, chia sẻ, giảng dạy và ban thêm sức mạnh cho các ông.  Chỉ có thể là Đấng Phục Sinh mới khiến cho các ông mở toang cánh cửa sợ sệt để hiên ngang bước ra ngoài trước đám đông mà giảng dạy.  Chỉ có thể là sức mạnh của Đấng Phục Sinh mới có thể giúp các ông được biến đổi từ trong ra ngoài: các ông có thể nói được nhiều ngôn ngữ, có thể làm các phép lạ, có thể mạnh dạn đối chất với các nhà cầm quyền, có thể có những lời nói làm say mê lòng người, cuốn hút họ và trao ban cho họ niềm tin.  Trải qua hơn hai ngàn năm, đức tin này ngày càng được chứng thực bởi nhiều vị thánh, những người được ơn đụng chạm và cảm nghiệm nó trong một tương quan sâu sắc với Chúa.  Và nhờ đó, nó vẫn trường tồn và thêm vững mạnh.  Tất cả những điều tuyệt vời này không thể đến từ một câu chuyện huyền hoặc do một số người thất học bịa ra hay từ một cái xác không còn hình thù nằm trong nấm mồ, hay một người giả vờ chết rồi sau đó trốn chui trốn nhủi.  Nó chỉ có thể đến từ một Đấng đã phục sinh thật sự, đã đi vào trong sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa.

Đức Giêsu đã sống lại từ cõi chết.  Halleluia!  Halleluia!

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

THÁNH TÔMA VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

Chúa Nhật II phục sinh Giáo hội tuyên dương lòng thương xót Chúa.  Thánh Gioan Phaolô II đã thiết lập lễ này đáp lại ý Chúa muốn qua thánh nữ Maria Faustina: “Ta muốn ngày lễ kính lòng thương xót là một trợ giúp và là nơi trú ẩn cho mọi linh hồn và nhất là cho những người tội lỗi đáng thương.  Trong ngày ấy, lòng thương xót của Ta sẽ rộng mở, Ta sẽ tuôn đổ một đại duơng hồng ân xuống các linh hồn đến gần nguồn mạch lòng thương xót của Ta” (Tiểu nhật ký, số 699).  Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II qua đời vào đêm cuối tuần Phục Sinh đầu tiên (ngày 2 tháng 4 năm 2005).  Lòng thương xót Chúa đã chiếu một luồng ánh sáng vào cái chết của một vị thánh thời đại.

Lòng thương xót của Chúa được diễn tả qua cuộc thương khó và cái chết của Ngài trên thập giá.  Điều quan trọng được Thánh Kinh ghi nhận là thân xác phục sinh của Chúa Giêsu vẫn còn mang thương tích của cuộc khổ nạn, vẫn còn lỗ đinh ở chân tay và vết giáo đâm ở cạnh sườn.  Tin Mừng phục sinh là Tin Mừng về các vết thương đã lành nay thành những vết sẹo.  Lòng thương xót ghi đậm nét nơi các vết thương trên thân thể Chúa.  Vì thế, việc đầu tiên khi hiện ra với các môn đệ, sau khi trao sự bình an, là cho các ông xem các vết thương ở tay và cạnh sườn, các môn đệ vui mừng và bình an.

Lòng thương xót Chúa đối với con người trước và sau phục sinh không thay đổi, vì Chúa Giêsu vẫn là một để cho người ta nhận ra Ngài.  Vết thương diễn tả lòng thương yêu của Chúa với con người không thay đổi.  Ngài còn khoe và cho phép Tôma lấy tay kiểm tra vết thương.  Chúa không che dấu, không tiếc xót dù Tôma có cứng lòng, đòi thực tế phải thấy mới tin.

1. Đức tin của Tôma

Chúa sống lại, các môn đệ không dễ dàng tin, thánh sử Luca kể: “Khi từ mộ trở về, các bà Maria Macđala, bà Gioanna và bà Maria, mẹ ông Giacôbê và các bà khác cùng đi với mấy bà này.  Các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy.  Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin” (Lc 24,11).  Thánh Matthêu thuật lại: khi mấy người phụ nữ báo tin cho các môn đệ: Chúa đã sống lại rồi, các ông cũng hoài nghi.  Rồi, “khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi” (Mt 28,17).  Riêng Tôma đã nói một câu quyết liệt: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.”  Đây là kiểu tin bằng lý luận kiểm chứng, chỉ tin khi thấy, khi đã có đủ bằng chứng rõ ràng hiển nhiên.

Tôma đại diện cho những người lý luận, cái gì cũng muốn xem tận mắt, bắt tận tay.  Chỉ tin những gì thấy được.  Chỉ chấp nhận những gì sờ được.  Đòi kiểm nghiệm tất cả.  Đòi tự mình chứng nghiệm tất cả.  Không chỉ tin vào lời nói suông.  Tôma không vội tin một cách dễ dàng như bao người khác.  Ông là người có tính thực tế của khoa học phải qua kiểm chứng, kiểm nghiệm bằng mắt thấy, tai nghe, tay chân sờ mó đụng chạm hẳn hoi thì mới tin.  Đây phải chăng là thái độ khôn ngoan, cẩn thận trước một quyết định hết sức quan trọng của đức tin nơi Tôma?  Cám ơn thánh Tôma, vì nhờ ngài mà các môn đệ khác được chứng kiến tỏ tường Chúa sống lại, được nhìn thấy những vết thương ở tay chân và cạnh sườn Người.

Trước khi tin, Tôma phải hoài nghi đã.  Tôma chỉ tin những điều hợp lý, những gì “thấy được, sờ được.”  Đây không phải là thái độ cố chấp của Tôma mà ngược lại là thái độ không nhẹ dạ, không cả tin vội vàng bằng tai nghe.  Đó là lối phân tích theo nhận định tự nhiên của con người và cũng là kinh nghiệm sống đức tin của nhiều người chúng ta.  Dù sao, đây cũng là một khó khăn riêng tư của Tôma trong việc tin vào Chúa sống lại.  Chúa Giêsu hiểu ông, nên đã đích thân đến và giúp cho ông dễ dàng hơn để tin vào Chúa.  Ngài mời gọi ông hãy tin vững vàng.  Và ông đã nói lên lời tuyên xưng đức tin thật đẹp đẽ, thật trang trọng “lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi.”  Cuối cùng, Chúa Giêsu đã ban cho Toma sự bình an và đức tin mạnh mẽ qua sự hoài nghi, để ông tuyên xưng đức tin cá nhân của mình: “Lạy Thiên Chúa của con.”  Sau khi nhận lãnh Chúa Thánh Thần, Tôma đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi.  Theo lưu truyền, ông đi rao giảng đức tin và lòng thương xót của Chúa ở Ba tư, Xyri rồi chịu tử đạo ở Ấn Độ.

Thần học gia Hans Kung nói: “người tín hữu không bao giờ nghi ngờ sẽ khó lòng hoán cải một người hoài nghi.”  Nhà thần học Paul Tillich nói: “sự hoài nghi chín chắn là sự khẳng định của đức tin.  Nó chứng tỏ một sự quan tâm rất nghiêm chỉnh.”  Còn Thomas Merton bảo: “người có niềm tin mà chưa từng trải qua sự nghi ngờ thì không phải là người có niềm tin.”  Jean Guitton, một nhà triết học người Pháp, nói: “Chính vì nghi ngờ thường trực mà tôi lại có thể tin vững.”  Thực tế, trên đời có biết bao điều chúng ta không thấy mà vẫn tin, không kiểm tra được mà vẫn phải chấp nhận và sống điều ấy.  Sự hoài nghi giúp chúng ta trưởng thành trong đức tin, thúc đẩy ta thắc mắc, tìm hiểu, học hỏi, cầu nguyện, nghiên cứu sách vở (Lm. Pet. Bi Trọng Khẩn).

2. Lòng mến của Gioan

Có hai mức độ tin: mức độ thấp là tin vì thấy, tin dựa vào bằng chứng; mức độ cao là tin mà không cần thấy, tin không dựa trên bằng chứng mà dựa trên tình yêu.  Đây là mối phúc thứ 9 như lời Chúa Giêsu nói với tông đồ Tôma: “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20,28).  Không thấy mà tin không có nghĩa là tin một cách mù quáng, vu vơ, không có cơ sở, không có lập trường mà là bằng tình yêu nên đức tin vững mạnh hơn, truởng thành hơn.  Thánh Gioan, “người môn đệ Chúa yêu”, bằng tình yêu, Gioan “đã thấy và đã tin” và nhận ra điều mà mọi người khác không nhận ra.  Phúc âm kể: khi thấy một bóng người mờ mờ đi trên mặt biển, mọi người khác đều tưởng là ma, chỉ có Gioan tức khắc nhận ra đó là Thầy mình.  Khi Chúa Phục Sinh hiện ra bên bờ biển hồ Tibêria, “các môn đệ không nhận ra” nhưng “ môn đệ được Chúa Giêsu thương mến” đã nhận ra và nói với Phêrô “Chúa đó” (Ga 21, 4-7)…  Rõ ràng, con đường tình yêu đi đến niềm tin nhanh chóng hơn, nhẹ nhàng hơn, thoải mái hơn.

Tin mừng Phục Sinh cho thấy: có hai con đường dẫn tới đức tin, một con đường bằng lý luận với những bằng chứng rõ ràng, và con đường thứ hai là dựa vào tình yêu, thoạt xem có vẻ tầm thường nhưng thực ra lại nhanh chóng, nhẹ nhàng và cũng không kém phần vững chắc.  Chúng ta hãy củng cố đức tin của mình bằng cả hai con đường đó.  Phải có những suy nghĩ lý luận thật vững chắc về Chúa, mặt khác chúng ta cũng hãy cố gắng yêu mến Chúa ngày càng nhiều hơn, bởi vì cũng như thánh Gioan, nếu có thêm sức mạnh của tình yêu, chúng ta sẽ được mở mắt để nhận biết những gì mà người không yêu Chúa không nhận biết.

3. Lòng Chúa Xót Thương

Nhân loại thời nay khát khao một “Thiên Chúa tình yêu giàu lòng thương xót” (1Ga 4,8; Ep 2.4) để họ tôn thờ, tựa nương và tìm được ý nghĩa cuộc đời.  Lòng thương xót là tình yêu thương, là lòng trắc ẩn với người đau khổ, với người nghèo đói, với người bệnh tật, với người tội lỗi.  Nhân loại thời nay cần tình yêu, đây là một dấu chỉ của thời đại.  Vì thế, mỗi người tùy vào khả năng của mình hãy đặc biệt quan tâm đến việc thực thi lòng thương xót.  Mỗi tín hữu được mời gọi trở thành nhân tố tích cực để sống và làm chứng cho lòng thương xót.

Điều làm nên nét độc đáo của người tín hữu là nhân đức thương xót, thể hiện bằng đạo yêu thương, được bộc lộ nơi bản thân và cuộc đời mỗi cá nhân.  Mỗi người trong chúng ta, bằng cách thực thi bác ái, lòng thương xót và tha thứ, có thể trở nên dấu chỉ quyền năng tình yêu của Thiên Chúa có sức biến đổi tâm hồn, đem lại hòa giải và bình an.  Trong Tông sắc Misericordiae Vultus (Dung mạo Lòng Thương Xót), ĐTC Phanxicô nói: “Thời đại ngày nay, khi Hội Thánh đang thực thi công cuộc Tân Phúc Âm hóa, lòng thương xót quả là cần thiết để một lần nữa tạo nên nhiệt tình mới và đổi mới các hoạt động mục vụ.  Điều tối quan trọng đối với Hội Thánh, cũng như để làm cho lời rao giảng của Hội Thánh đáng tin, chính là sống và làm chứng cho lòng thương xót.  Ngôn ngữ và hành động của Hội Thánh cần phải thông truyền lòng thương xót, để đến với trái tim con người và giúp họ gặp thấy lối đường dẫn về Chúa Cha” (số 12).  Đáp lại lời kêu gọi của ĐTC Phanxicô, trong Thư gởi cộng đoàn dân Chúa (17.9.2015), HĐGMVN nhấn mạnh: “Mỗi người Công Giáo phải trở thành nhân tố tích cực trong việc xây đắp nền văn minh tình thương và văn hóa sự sống.  Không có những chứng nhân của lòng thương xót, xã hội sẽ trở thành một sa mạc hoang vu, cằn cỗi, không sức sống.”

Chúa Phục Sinh cho các tông đồ xem những thương tích cuộc khổ nạn nay đã thành sẹo như mời gọi các ngài chiêm ngắm chính nguồn mạch của Lòng Thương Xót không bao giờ cạn vơi.

Thánh Tôma Aquinô đã cầu nguyện rằng: “Chúa ơi, con không xin được xem thương tích Chúa như ông Tôma tông đồ, nhưng con tuyên xưng Chúa là Chúa của con.  Hãy làm cho con luôn tin vào Chúa, cậy trông vào Chúa và yêu mến Chúa nhiều hơn nữa.”  Người kitô hữu đôi khi không cần trí tuệ để tin vào những thực tại thiêng liêng; không cần giác quan để kiểm soát những dấu chỉ mầu nhiệm trong đạo, mà cần sống bằng lòng mến.  Càng yêu mến nhiều thì càng tin chắc.  Càng tin vững thì càng bình an.  Như vậy, con đường của lòng tin là con đường của lòng mến.  “Ai xót thương người, sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7).  Những ai luôn tin vào sự hiện diện của Chúa Giêsu phục sinh đều luôn sống tích cực và khám phá ra điều kỳ diệu trong những cái tầm thường để có khả năng chứng mình về tình yêu và lòng thương xót của Chúa.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

HÃY NHÌN XEM 

Thân xác chúng ta thường mang những vết sẹo, hậu quả của những lần bị trầy trụa, té ngã.  Có những vết sẹo gợi lại cả một vùng kỷ niệm.  Dù vui hay buồn thì cũng là chuyện đã qua.  Vết sẹo làm ta kém đẹp, nhưng không làm đau như xưa.  Khi Ðức Giêsu phục sinh hiện ra thăm các môn đệ, Ngài giúp họ nhận ra Ngài nhờ những vết sẹo.  Ngài cho họ xem những vết sẹo ở tay và cạnh sườn.  Những vết sẹo nói lên một điều quan trọng:  Thầy chính là Ðấng đã bị đóng đinh và đâm thâu; Thầy đã chết nhưng Thầy đã thắng được cái chết.

Chúng ta ngỡ ngàng khi thấy Chúa phục sinh có sẹo, dù điều đó chẳng đẹp gì.  Ngài không ngượng mà cho các môn đệ xem.  Những cái sẹo sẽ ở mãi với Ngài trên thiên quốc.  Chúng gợi lên những kỷ niệm buồn phiền, thất bại, đớn đau.  Nhưng nếu không có chúng thì cũng chẳng có phục sinh.  Chẳng cần phải xóa đi khỏi ký ức cuộc khổ nạn kinh hoàng và cái chết nhục nhã.

Chúng ta cũng lên thiên đàng với các vết sẹo của mình.  Sống ở đời sao tránh khỏi những dập gẫy, thương tích.  Nếu chúng ta đón nhận mọi sự với tình yêu thì mọi sự sẽ trở nên nhịp cầu cứu độ.  Tin Mừng phục sinh là Tin Mừng về các vết thương đã lành.  Có những vết thương tưởng chẳng thể nào thành sẹo.  Chúng ta có dám cho người khác thấy sẹo của mình không?

Cuộc khổ nạn của Thầy đã làm các môn đệ bị thương.  Các vết sẹo của Thầy sẽ chữa lành những vết thương đó.  Hẳn Tôma đã nhìn thật lâu những dấu đinh.  Chính lúc đó ông khám phá thật sâu một Tình Yêu.  Tình yêu hy sinh mạng sống và đủ mạnh để lấy lại.  Tình yêu khiêm hạ cúi xuống để chinh phục ông.  Ông đâu dám mong Thầy sẽ đích thân hiện đến để thỏa mãn những đòi hỏi quá quắt của mình.  Lòng ông tràn ngập niềm cảm mến tri ân.  Ông ra khỏi được sự cứng cỏi, khép kín, tự cô lập, để bước vào thế giới của lòng tin.  Tôma đã tin vượt quá điều ông thấy.  Ông chỉ thấy và chạm đến các vết sẹo của Thầy, nhưng ông tin Thầy là Chúa, là Thiên Chúa của ông.

Tin bao giờ cũng đòi một bước nhảy vọt khỏi cái thấy.  Chúng ta không được phúc thấy Chúa theo kiểu Tôma,  nhưng chúng ta vẫn được thấy Chúa theo những kiểu khác.  Cần tập thấy Chúa để rồi tin.  Có khi phải tập nhìn lại những vết sẹo của mình, của Hội Thánh, của cả thế giới, để rồi tin rằng Chúa phục sinh vẫn đang có mặt giữa những trăn trở và vấp váp, thất bại và khổ đau.  “Phúc cho những ai không thấy mà tin”, và phúc cho những ai biết thấy nên tin.

***********************************

Lạy Chúa, xin cho con luôn vui tươi, dù có phải lo âu và thống khổ, xin cho con đừng bao giờ khép lại với chính mình; nhưng biết nghĩ đến những người quanh con, những người – cũng như con – đang cần một người bạn. 

Nếu như con nên yếu đuối, thì xin cho con biết yêu thương và sáng suốt hơn, thông cảm và nhân từ hơn.  Nếu bàn tay con run rẩy, thì xin giúp con luôn biết mở ra và cho đi.  Khi lâm tử, xin cho con biết đón nhận khổ đau và bệnh tật như một lời kinh. 

Ước chi con sẽ chết trong khiêm hạ và tín thác, như một lời xin vâng cuối cùng.  Và con sẽ về nhà Chúa, để dự tiệc yêu thương muôn đời.  Amen!

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J

NGÔI MỘ TRỐNG

Những người tin và người không tin đã tranh luận về sự phục sinh ngay từ ngày Chúa Giêsu sống lại.  Thật sự, chuyện gì đã xảy ra?  Làm sao mà Ngài sống lại từ cõi chết?  Một thi thể thật sự đã chết có thể sống lại và bước ra khỏi mộ, hay phục sinh là một sự kiện biến đổi đời sống trong lương tâm của các môn đệ Chúa Giêsu?  Hay phục sinh là cả hai, một sự kiện vừa thể lý, vừa nội tại trong lương tâm các tín hữu?

Rõ ràng chẳng có ai chứng kiến chuyện thật sự xảy ra.  Những người tuyên xưng Chúa Giêsu đang sống không nhìn thấy Ngài đứng dậy và ra khỏi mộ, họ chỉ gặp Ngài sau khi Ngài đã sống lại, và ngay lập tức những người tin và những người hoài nghi liền chia thành hai phe, những người tuyên bố đã được chạm vào Ngài bằng xương bằng thịt và những người nghi ngờ lời chứng đó.

Có những người tin và những người hoài nghi, và còn có những người tin rằng sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện đức tin chứ không phải về thể lý, họ tin thi thể người chết không thể đứng dậy mà ra khỏi mộ.

Sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện thể lý hay đức tin?  Là cả hai.  Với các Kitô hữu, đây là sự kiện vĩ đại, cả về đức tin lẫn lịch sử.  Không thể giải thích hai ngàn năm lịch sử của đức tin Kitô, bằng cách nào khác ngoài hiện thực phục sinh.  Hiểu sự phục sinh của Chúa Giêsu như một sự việc đơn thuần, rằng thân thể Ngài trỗi dậy từ hầm mộ, là cắt bỏ đi ý nghĩa của sự phục sinh.  Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, với các Kitô hữu, phục sinh cũng phải là một sự kiện mang tính thể lý đến tuyệt đối.  Tại sao lại thế?

Trước hết, là bởi Tin mừng nói khá rõ ràng khi nhấn mạnh ngôi mộ trống và Chúa Giêsu phục sinh không phải là một linh hồn hay hồn ma.  Ví dụ như, chúng ta thấy trong Tin mừng theo thánh Luca, Chúa Giêsu đã mời Tôma kiểm tra thân thể Ngài.  “Hãy coi tay Ta, chân Ta; Chính là Ta đó!  Hãy rờ nắn mà xem, ma nào lại có thịt có xương như các ngươi thấy Ta có.”

Để trọn vẹn ý nghĩa sự phục sinh của Chúa Kitô, thì phải có sự sống lại của thân thể.  Cần phải có ngôi mộ trống và thi thể sống lại.  Tại sao lại thế?

Không phải như một kiểu bằng chứng cho phép lạ, nhưng là vì sự nhập thể.  Tin vào sự nhập thể mà không tin vào tính thể lý của sự phục sinh thì thật là mâu thuẫn.  Chúng ta tin rằng Ngôi Lời đã nhập thể làm người.  Và chính điều này đưa mầu nhiệm Chúa Kitô và hiện thực phục sinh ra khỏi giới hạn thuần tinh thần.  Nhập thể luôn luôn bao hàm một hiện hữu có tính thể lý, sờ mó được, như định nghĩa về vật chất là “một sự gì đó có chiếm hữu không gian và có trọng lượng.”

Tin vào sự nhập thể là tin rằng Thiên Chúa đã sinh ra trong thân xác thật, sống trong một thân xác thật, chết trong thân xác thật, và sống lại trong thân xác thật.  Tin rằng phục sinh chỉ là một sự kiện đức tin trong lương tâm các tông đồ, thì dù có phong phú và thật đến mấy, cũng vẫn tước bỏ ý nghĩa của sự nhập thể, và rơi vào chủ nghĩa nhị nguyên xem trọng tinh thần và khinh thường thể xác.  Một thuyết nhị nguyên như thế hạ giá sự nhập thể và xói mòn ý nghĩa của phục sinh.  Nếu phục sinh chỉ là một sự kiện tinh thần, thì đó chỉ là một sự kiện nhân loại chứ không phải một sự kiện bao hàm cả vũ trụ.  Nói thế là xem đó chỉ là một sự kiện trong lương tâm con người chứ không phải sự biến đổi của vũ trụ.

Nhưng sự phục sinh của Chúa Giêsu không chỉ là một sự mới mẻ tuyệt đối trong lương tâm con người, mà còn là một sự mới mẻ tuyệt đối về bản chất vũ trụ, mới mẻ trong từng nguyên tử.  Phục sinh sắp xếp lại tâm hồn và tâm trí con người, nhưng nó cũng sắp xếp lại các nguyên tử.  Trước khi Chúa Giêsu phục sinh, xác người chết không sống lại, họ vẫn chết, nên khi Ngài sống lại, thì đó là một sự mới mẻ tuyệt đối cả về tinh thần lẫn vật chất.  Chính xác là bởi tính vật chất tuyệt đối đó, nên sự phục sinh của Chúa Giêsu đem lại hy vọng mới cho từng phân tử cũng như cho tất cả mọi người.

Tôi tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết, một cách vật chất, theo nghĩa đen.  Tôi cũng tin rằng sự kiện này thiêng liêng vô cùng, là một sự kiện đức tin, là sự biến đổi lương tâm, là hy vọng mới tăng sức cho lòng mến mới và sự tha thứ mới.  Nhưng phục sinh cũng là một sự kiện biến đổi vật chất đến từng phân tử và biến đổi xác người chết.  Đây là một sự kiện tuyệt đối mang tính thể lý, cũng hệt như mọi sự kiện khác trong công cuộc nhập thể khi Thiên Chúa mang lấy xác phàm thật sự.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

THÁNH GIÁ VIẾT TRÊN CÂY NẾN

Trong đêm Vọng Phục Sinh, Cây Nến Phục Sinh là tâm điểm của cử hành Phụng Vụ.  Đức Giêsu Kitô đã ra khỏi mồ tối tăm, đã chiến thắng thần chết, và trở thành Nguồn Ánh Sáng, Sự Sống cho nhân loại.

Để đánh mốc thời gian lịch sử cứu độ, trong đêm ấy, linh mục chủ tế khắc ghi trên nến với những dấu chỉ như sau:

– “Đức Kitô là một, (vẽ đường dọc)

–  Hôm qua cũng như hôm nay, (Vẽ đường ngang)

–  Là Alpha và là Omega, (Viết chữ Alpha trên cây Thánh Giá)

–  Nghĩa là Khởi nguyên và tận cùng, (Viết chữ Omega ở phía dưới Thánh Giá)

–  Người làm chủ thời gian, (Viết số đầu của năm đó bên góc trái phía trên Thánh Giá).

–  Và muôn thế hệ, (Viết số thứ hai của năm nơi góc phải phía trên Thánh Giá).

– Vạn Tuế Đức Kitô, Đấng vinh hiển quyền năng, (Viết số thứ ba của năm góc trái phía dưới Thánh Giá).

– Vạn vạn tuế. Amen, (Viết số thứ tư của năm nơi góc phải phía dưới Thánh Giá).

Với năm hạt hương biểu thị năm dấu đinh của Chúa Giêsu khổ nạn được gắn trên cây nến Phục Sinh, gắn trên mỗi góc của Thánh Giá, vừa gắn vừa đọc:

– Vì năm vết thương

–  Chí thánh và vinh hiển

–  Xin Chúa Kitô

–  Gìn giữ

–  Và bảo vệ chúng ta.”  (Sách Lễ Roma).

Khi ghi dấu năm cứu độ chung quanh trục cây Thánh Giá, Giáo hội cũng ghi khắc vào đó cả khối tình tri ân của những năm hưởng nhờ hồng ân cứu độ trong lịch sử thời gian.  Thánh Giá nối trời với đất trong không gian mênh mông.  Thánh Giá là điểm thâu họp lịch sử dọc theo dòng thời gian.  Thánh Gía bao gồm hai chiều kích ấy.  Đức Kitô là trung tâm điểm của không gian và thời gian.

Hình Thánh Giá viết trên Cây Nến Đêm Vọng Phục Sinh, có ý nghĩa thâu họp vạn vật, mang ý nghĩa vũ trụ.  Thánh Irénée viết: “Ngài đã đến dưới dạng hữu hình với những gì thuộc về Ngài, Ngài đã trở thành xác thịt và xác thịt ấy đã được treo lên cây Thập tự để bằng cách ấy thâu họp vào mình cả vũ trụ.” Thánh Giá trở thành trục thế giới.  Thánh Cyrille ở Jérusalem viết: “Chúa Trời đã dang hai tay trên cây Thập Tự để ôm lấy bờ cõi Vũ trụ và vì vậy núi Golgotha là trục thế giới.”  Trên trục vũ trụ ấy có treo lên một người Con của Thiên Chúa.  Thánh Phaolô thì diễn tả trục này: “Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô” (Ep 1, 10).

Là Trục của thế giới, Thánh Giá có trung tâm điểm là Đức Giêsu Kitô.  Nhìn theo chiều kích cánh chung, thời gian sau cùng nhân loại sẽ chịu sự phân chia, bên tả hoặc bên hữu.  Đó là thời gian của sự phán xét.  Trục còn có nghĩa là mốc tuyển chọn, những người được tuyển chọn và những người tự mình đánh rơi.  Thánh Phaolô nhìn trục này như sự phân chia Lề Luật và Đức Tin, phân chia tâm hồn con người thành hai phần, nhục thể và Thần Khí, để rồi cho thấy sự thống nhất của phân chia là việc hoán cải, tái sinh, công chính hóa, lề luật, nhờ vào niềm tin cuộc khổ nạn của Đức Giêsu trên Thánh Giá.

Là trục của thế giới, nhìn theo chiều kích cánh chung, Thánh Giá biểu trưng là chiếc thang, một chiếc thang đưa con người đi lên tham dự vào đời sống của Thiên Chúa.  Một chiếc thang để đất trời không còn xa nhau.  Chiếc thang nhiệm mầu mà thánh Nữ Perpétue thấy trong ngày chịu tử đạo: “Tôi nhìn thấy một cái thang bằng đồng thanh, cao khác thường, vươn tới tận trời, nhưng hẹp tới mức chỉ có thể đi lên từng người một: Hai bên thang tua tủa các khí giới: Kiếm, giáo, móc câu, gươm, như vậy mà nếu người nào lên mà lơ đãng, không chú ý nhìn lên trên cao, sẽ bị tan nát thịt da, để lại những mảng thịt mắc vào những khí giới đó.  Và bên dưới cái thang có một con rồng to lớn dị thường, nằm đó chăng bẫy những ai đạp chân lên thang, làm cho họ khiếp sợ không dám trèo lên.  Còn tôi, khi tôi đặt chân lên trên bậc thang thứ nhất, tôi đã đạp lên đầu con rồng đó, thế là tôi đi lên được và nhìn thấy một khu vườn rộng mênh mông.”  Chiếc thang có những bậc của thử thách.  Niềm an bình sẽ xuất hiện khi bước lên bậc thang thứ nhất.  Và cứ thế theo từng bậc niềm an bình sẽ được gia tăng cho đến khi hoàn toàn ở trên đỉnh thang.  Muốn đi lên cao, cần rũ bỏ, rũ bỏ làm cho nhẹ nhàng thanh thoát trên đường đi lên.  Đó cũng là thời gian dành cho việc cầu nguyện và ăn chay thực thi đức ái để trút bỏ mỗi ngày trong cuộc sống.

Thánh Giá là sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa bởi vì “Sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh sức hơn loài người” (1Cr 1, 24 -25).  Thánh Giá đã trở thành dấu chỉ của tình yêu hy vọng và sự sống.

Thánh Phaolô có một ước muốn: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gl 6,14).

Đức Cha Lambert de la Motte sáng lập Dòng Mến Thánh Giá.  Chắc hẳn ngài đã cảm nghiệm sâu sắc về Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô nên mới có ý tưởng này!  Dòng Mến Thánh Giá là Hội Dòng chọn Đức Kitô chịu đóng đinh là đối tượng duy nhất của tình yêu của lòng trí.  Kể cũng thật lạ!  Không chọn cái gì nhẹ nhàng mà lại chọn Đấng chịu đóng đinh trên Thánh Giá, phải vác phải mang ách nữa chứ!  Ngài có thành công gì đâu trước mắt người đời!  Có nhẹ nhàng gì đâu trước mắt trần thế!  Thế nhưng, Đấng chịu đóng đinh là hồng ân cứu rỗi.  Chọn con đường theo Chúa là đi vào con đường hẹp.  Một chọn lựa khôn ngoan vì đã chọn chính Đấng Cứu Độ.  Thánh Giá là đỉnh cao ơn cứu độ.  Mến Thánh Giá là tình yêu cao nhất của đời dâng hiến.  Từ đó nẻo đường cứu độ mở ra cho bản thân và có khả năng giúp cho những người khác tiến vào nẻo đường ấy.

Thánh Giá đã in sâu và gắn chặt với Chúa Giêsu Kitô.  Ngay cả sau khi Chúa sống lại vinh quang, các vết thương khổ nạn thập giá vẫn hiển hiện vẫn không bị xóa nhòa.  Thánh Giá Chúa Kitô xuyên qua thời gian và hiện diện trong mỗi giây phút cuộc đời chúng ta.  Sự hiện diện ấy làm thay đổi tất cả.

Đêm Vọng Phục Sinh, cả nhà thờ lung linh ánh nến.  Từ cây nến mẹ, nến Phục Sinh ánh sáng thắp lên các cây nến nhỏ trên tay mọi người.  Lửa Phục Sinh bừng cháy, sáng rực nhà thờ, rạng rỡ từng khuôn mặt, ấm áp mọi tâm hồn.  Cử chỉ chuyển lửa Phục Sinh, thắp sáng cho nhau là một hình ảnh tuyệt đẹp.  Đây là đêm rất đẹp trong ánh sáng chứa chan tình Chúa, tình người.

Ánh Sáng Phục Sinh đem lại sự sống mới cho toàn thể loài người khi tất cả được nâng lên và được kéo về bình diện siêu nhiên qua Thánh Giá, trong tình yêu viên mãn của Đấng Cứu Độ.  Chúa Kitô đã tỏa chiếu Ánh Sáng Tình Yêu qua toàn bộ hành vi yêu thương trên Thánh Giá.

Nếu như thập giá phô diễn bạo lực tội ác và đau thương thì Thánh Giá mạc khải Tình Yêu Thiên Chúa đối với nhân loại.  Trong Tình Yêu ấy, Đức Kitô đã chỉ cho nhân loại con đường sống ngang qua cái chết.  Trong Tình Yêu ấy, chúng ta ngắm nhìn, chiêm ngưỡng suy niệm để nhận ra những giá trị đích thực của cuộc sống qua Mầu Nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô.

Nếu thập giá là biểu tượng của đau khổ thì Đấng chịu đóng đinh đã chiến thắng đau khổ.  Chúa Kitô đã tạo ra sự khác biệt hoàn toàn giữa thập giá và kẻ bị đóng đinh.  Khi nhận lấy thập giá, Chúa Kitô đã dùng tình yêu biến đau khổ thành niềm vui.  Tình yêu làm cho thập giá trở thành Thánh Giá.

Thánh Giá biểu tượng cho cuộc chiến đấu của Chúa Giêsu, và cũng là biểu tượng cho tình yêu mạnh hơn sự chết, và cho sự Thiện sẽ giành chiến thắng cuối cùng trên sự Ác.

Thánh Giá là cánh cổng dẫn vào sự sống, thất bại chuyển thành chiến thắng, sự sống bị tước đoạt trở thành sự sống viên mãn, ai đánh mất mạng sống mình sẽ tìm gặp lại sự sống, ai can đảm chết cho Chúa Kitô sẽ được sống muôn đời.

Trong xã hội tiêu thụ và hưởng thụ ngày nay, bóng tối của quyền lực, tiền của, danh vọng, lạc thú đang che mờ bóng Thánh Giá.  Con người đang lao mình vào bóng tối bằng mọi giá.  Xã hội hôm nay cần phải được ánh sáng của Thánh Giá soi dẫn.  Từ Thánh Giá Ðức Kitô, tình thương chúc phúc thế gian, sự sống chan chứa cho lòng người.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

“HỌ NHÌN XEM ĐẤNG HỌ ĐÃ ĐÂM THÂU QUA”

Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá thật thê thảm, nhưng cũng thật sâu thẳm nhiều người biết đến.  Trải qua năm này sang năm khác chúng ta lại nghe bài thương khó và nhìn lại biến cố đau thương này.  Nhưng nếu chỉ nghĩ đến khía cạnh thê thảm về cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá thôi, thì nhiều người sợ không muốn theo đạo, hoặc không muốn nhìn lên cây Thập giá.  Vì thế, điều căn bản và sâu thẳm khi SUY TÔN Thánh giá là chúng ta SUY TÔN TÌNH YÊU CỦA NGÀI.
  • Trước hết, vì tội lỗi nhân loại nên con người phải chết. Chúa Kitô đã nhập thể.  Ngài cũng chấp nhận cái chết.  Nhưng cái chết của Ngài là vì “yêu những kẻ thuộc về Người đang ở thế gian này và Người đã yêu họ đến cùng.”
  • Đó cũng là điều căn bản mà chiều nay chúng ta cử hành, chúng ta chiêm ngắm: chiêm ngắm Tình Yêu được biểu lộ ra bên ngoài, Tình Yêu chiến thắng đến cùng, chiến thắng sự chết và chiến thắng tội lỗi.
  • Vâng, chiều nay chúng ta cử hành cuộc chiến thắng của một VỊ VUA, VUA TÌNH YÊU được thể hiện trên cây thập giá để chúng ta ngắm nhìn.
  • Đó là một sự kinh ngạc đến nỗi viên sỹ quan ngoại giáo đã phải kêu lên: “Thật, người này là Con Thiên Chúa.” Liệu chúng ta có ngây dại hoặc đần độn mãi không?  Chắc chắn rằng không!  Người ta đã đâm thâu trái tim Con duy nhất, Con Thiên Chúa.  Và chúng ta đã khám phá ra TÌNH YÊU của Ngài được thể hiện ở đó.  “Trong trái tim Chúa yêu muôn đời, con xin được một chỗ nghỉ ngơi.”
  • Yêu đến cùng! Vâng, Ngài đã chết; Vua vũ trụ đã chết vì một sức mạnh và ngọt ngào vô biên:  Mọi sự đã hoàn tất.  Chúng ta chiêm ngắm Đấng đã chết vì Tình Yêu.
  • Chúng ta thấy trong bàn tay bị đóng đinh của Chúa Giêsu trên thập giá, có cả những bàn tay khép kín, sợ sệt của chúng ta chẳng có gì để mà yêu, để mà mở ra. Hãy xin Chúa ban cho chúng ta ơn tha thứ và biết mở bàn tay ra để yêu!
  • Chúng ta thấy trên bàn chân Chúa bị đóng đinh, có cả những bước chân chối từ của chúng ta không muốn để Chúa dẫn đi, để vâng lời Ngài và tin tưởng vào Ngài. Chúng ta đã phạm tội vì không để Chúa dẫn đi trên con đường tình Yêu Thập giá.  Hãy xin Chúa ban cho chúng ta ơn phó thác.
  • Chúng ta thấy trong trái tim Chúa bị đâm thâu, có cả những thiếu sót của tình yêu chúng ta: tình yêu ty tiện và vụ lợi. Hãy xin ơn biết mở trái tim chúng ta ra cho Chúa và cho anh chị em chúng ta!
  • Vâng, chiều nay chúng ta mệt nhọc vì tội lỗi chúng ta; chúng ta như Phêrô chối Chúa và trốn chạy. Nhưng trước tình yêu cao cả của Chúa, như Phêrô, chúng ta hãy khóc.  Những giọt nước mắt thống hối và bình an để tình yêu Chúa lấp đầy; những giọt nước mắt của trái tim trẻ thơ sẽ tìm lại được tình yêu.  Và cuối cùng chúng ta được yêu, được yêu đến cùng.  Mọi sự được hoàn tất!
  • Một lát nữa, chúng ta suy tôn Thánh giá; khi suy tôn chúng ta sẽ lãnh nhận hoa quả của Thập giá. Và khi suy tôn, chúng ta liên tưởng đến Mẹ Maria, người Mẹ liên kết thẳm sâu với Thập giá chừng nào!
  • Vì thế, chúng ta hãy đón nhận Đức Maria như người mẹ của chúng ta! Món quà tuyệt vời!  Mẹ Maria đứng dưới chân thập giá, chắc chắn Mẹ cũng đứng dưới chân những đau khổ của chúng ta, dưới cả những tội lỗi của chúng ta.  Mẹ khóc vì chúng ta và cho chúng ta!
  • Chiều nay, khi suy tôn Thập giá, chúng ta có thể nói với Chúa Giêsu về tình yêu của chúng ta bằng hương thơm trái tim chúng ta, hay nói cụ thể hơn bằng lời cầu nguyện sâu xa, chăm chú, đầy tình yêu. Hoa quả của Thập giá, chính là tình yêu được canh tân vì Chúa Kitô.
  • Hơn nữa, hoa quả vĩ đại nhất của thập giá, chính là có thể đón nhận thân thể Chúa Giêsu như Giuse Arimathia. Thân thể Chúa Giêsu chỉ muốn nên một với chúng ta, đó là Thánh Thể quý giá chừng nào mà một lát nữa chúng ta đón nhận và cố gắng đón nhận mỗi ngày.
  • Trên con đường theo Chúa Kitô, đôi lúc chúng ta có thể như Nicođemo đến với Chúa Giêsu ban đêm vì sợ người Do-thái; nhưng từ nay chúng ta hãy là Nicodemo xuất hiện giữa công nghị để bảo vệ đức tin chúng ta, bảo vệ danh Chúa Kitô, như Ngài đã bảo vệ chúng ta vì chúng ta không còn sợ nữa.
  • Tôn kính Thánh giá, đón nhận thánh giá, đó là trở nên nhân chứng của Chúa Kitô.

Lạy Chúa Giêsu Kitô, giờ đây chúng con xin phó thác vào Chúa, vị VUA VŨ TRỤ của chúng con!  Xin Chúa tạo dựng lại thế giới, đặt sự sống mới vào mọi nơi và mọi người.  Xin Chúa làm sống lại tất cả những gì đã chết.  Xin Chúa làm cho trái tim tội lỗi của chúng con biết mở ra cho tương lai Phục sinh!

 Lm. Gioan Đặng Văn Nghĩa

NGHĨ VỀ SỰ CHẾT

Khi biết rằng Minh Sư của mình sắp lìa xa cõi trần, các đệ tử vô cùng thất vọng. Minh Sư nhìn họ và tươi cười bảo :

– Các con không thấy rằng cái chết làm cho đời sống của ta đáng yêu, đáng qúy hơn sao?

– Dạ không. Chúng con chỉ ước mong thầy đừng bao giờ chết thì hơn.

– Các con ơi! Bất cứ cái gì thực sự sống thì đều phải chết. Các con hãy nhìn xem những bông hoa ngoài kia:  chỉ những bông hoa giả, làm bằng giấy, bằng nhựa mới không bao giờ chết.

( Anthony de Mello, trích trong The Song Of Bird)

* * * * *

Bạn thân mến! Chết là điều chắc chắn sẽ xảy đến cho mỗi người chúng ta, không ai trên cõi đời này mà không có ngày phải đi qua sự chết. Chết là một kết thúc của cuộc sống này và là một khởi đầu cho một cuộc sống khác. Ðó là một chân lý hết sức rõ ràng và chắc chắn. Nó nhắc nhở chúng ta về bản chất thật ngắn ngủi, thật mong manh phù du của đời sống con người trên dương thế này.

Hằng năm, cứ vào tháng 11, Giáo Hội mời gọi mọi tín hữu hãy nghĩ đến những người đã chết, đã ra đi trước chúng ta, trong đó có thể có những người thân yêu trong gia đình, có ông bà tổ tiên, có cha mẹ anh em bạn bè … “Hãy cầu nguyện với họ và cầu nguyện cho họ”, đó là điều mà Giáo Hội mời gọi chúng ta cùng nhau thực hiện trong tháng 11 này.

Khi nghĩ đến những người đã chết, chúng ta cũng phải nghĩ tới cái chết của chính bản thân mình.  Có những điều chắc chắn về cái chết của cuộc đời mình, đó là:

  • Tôi là một con người nên tôi phải chết.
  • Khi chết tôi không mang theo được điều gì ngoài trừ tội lỗi và công phúc.
  • Chết không phải là hết, mà là còn…còn đời sau, còn ra trước tòa Chúa.

Cũng có những điều không chắc chắn về cái chết của cuộc đời mình, đó là:

  • Cái chết sẽ đến với tôi vào lúc nào? Ngay bây giờ? Ngày mai hay vài ba năm sau?
  • Cái chết đến với tôi ở đâu? chỗ nào? Trong bệnh viện ? Ngoài xa lộ ?  Trên biển cả ? Trên máy bay?
  • Cái chết đến với tôi bằng cách nào? Chết vì bệnh? Vì tuổi già? vì tai nạn ?
  • Sau khi chết, tôi sẽ đi về đâu? Đi về cõi vĩnh phúc hay nơi trầm luân đời đời?

Cái chết của mỗi người là một chuyến đi sau cùng, một chuyến đi quyết định và quan trọng, chuyến đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại.  Nhất định nó phải xảy ra.

Một chuyến đi một vài tuần về thăm quê nhà, hoặc một chuyến đi nghỉ hè đôi ba bữa…Tôi đã phải xắp xếp chuẩn bị nhiều ngày, có khi nhiều tuần …. Nhưng tôi đã chuẩn bị được những gì cho chuyến ra đi vĩnh viễn và quan trọng này? Tôi có nỗ lực để xắp xếp chuẩn bị cho chuyến đi sau cùng và thật quan trọng này không?

* * * * *

“Nếu hạt lúa mì gieo vào lòng đất mà không thối đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình. Còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12, 24).

Lạy Chúa! Xin cho con chịu mất bản thân mình để được chính Chúa. Chịu mất điều tầm thường để được điều cao cả. Chịu mất trần gian tạm bợ này để được thiên đàng vĩnh cửu đời đời.

Xin cho cuộc sống của con hôm nay luôn mang đậm dấu ấn cầu nguyện sám hối và tin tưởng vào lòng thương xót Chúa,. Xin cho con biết “tránh tội lập công”, biết từ bỏ và sẵn sàng để “ra đi”, không bám dính vào cõi tạm của cuộc đời này. Xin cho con biết nỗ lực chuẩn bị cho chuyến ra đi tối quan trọng này, để con không bị rơi vào chốn trầm luân đời đời mà nhất định đi về cõi trường sinh vĩnh phúc Amen

Linh Xuân Thôn

BẠN ĐẶT NIỀM TIN NƠI ĐÂU?

Ngày 22 tháng 4, năm 1864, Quốc hội Hoa Kỳ cho ấn bản trên đồng 2 xu dòng chữ: “ In God We Trust”.  Đến ngày 30 tháng 7, năm 1956, phương châm này được in trên đồng tiền của nước Mỹ, từ tiền giấy đến các đồng xu.  Đó là niềm tin, nền tảng của nước Mỹ: trong mọi hòan cảnh, thịnh vượng hay lầm than đều tin tưởng Thiên Chúa.

******************************

Khi sai nhóm mười hai đi rao giảng, (Mc 6:7-13), Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ của Ngài một niềm tin tưởng tuyệt đối nơi sự quan phòng của Thiên Chúa.  Niềm tin là nền tảng để bắt đầu và  để duy trì mọi liên hệ.

Trước tiên, là sự tin tưởng của Chúa Giêsu với các môn đệ của Ngài.  Trong Nhóm mười hai này, không phải ai nấy đều đạo đức, thánh thiện, học hành cao, kiến thức rộng.  Ngược lại, một số các ngài là những người yếu đuối, tội lỗi, hay tranh chấp quyền lợi.  Như thánh Gia-Cô-Bê và Gio-an, hai vị cạnh tranh nhau chỗ ngồi bên cạnh Chúa Giêsu trong thiên quốc của Ngài.  Thánh Phê-rô thường bộp chộp, nói trước khi nghĩ.  Thánh Tô-Ma cứng lòng tin, thế mà Chúa Giêsu vẫn tin tưởng và giao cho các ngài một sứ mạng vô cùng cao cả là đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời, chữa lành người bệnh, xua đuổi tà thần ô uế.  Những công việc Chúa Giêsu đã làm, nay Ngài ủy thác cho các môn đệ, vì Ngài tin các ông.

Miếng ăn, áo mặc, chỗ ở là những nhu cầu tối thiểu của con người, và cũng là mối bận tâm hằng ngày của mỗi một người.  Chúa Giêsu biết rất rõ một khi đã lo lắng đến những nhu cầu này, các môn đệ sẽ sao lãng sứ mạng truyền giáo của các ngài.  Vì thế Ngài đòi hỏi các môn đệ ra đi không một đồng xu dính túi, không đem dư cái áo thứ hai, và cũng không cần lo lắng lấy gì lót lòng.  Chúa Giêsu  đòi hỏi các môn đệ của Ngài đặt sự sinh tồn vào tay Thiên Chúa.  Phải có niềm tin mãnh liệt lắm mới dám đáp trả lời mời gọi này.

Bạn thân mến!  Niềm tin của vợ chồng bạn cho nhau hôm nào còn không, hay đã phai nhạt theo thời gian, chỉ vì một vài bất đồng?  Một lần đứa con theo lời bạn bè bỏ nhà ra đi, nay đã quay về, sửa đổi, bạn có tha thứ, đặt lại niềm tin, cho con thêm một cơ hội không?  Bạn còn tin Giáo Hội, các vị chủ chăn khi trên báo chí, truyền thanh, truyền hình đăng tải vài hình ảnh không đẹp của một vài vị linh mục?  Bạn còn tin Thiên Chúa không?  Người vẫn hằng luôn thương yêu bạn dẫu khi bạn bất tòan, yếu đuối.  Ngài tha thứ bạn trước khi bạn ăn năn quay về. Bạn tin điều đó không?  Bạn đang đặt niềm tin của bạn nơi đâu?

******************************

Lạy Chúa, niềm tin là ánh sáng đưa dẫn con qua đêm đen.  Niềm tin là lửa hồng sưởi tan giá lạnh hận thù, tranh chấp.  Còn niềm tin, còn hy vọng.  Xin cho con tìm lại niềm tin một lần đã đánh mất nơi nhau.  Xin cho con luôn biết đặt niềm tin nơi Chúa, nơi nguồn bình an bất diệt của đời con. Amen.

Lữ Khách

TẤM GƯƠNG CỦA CÁC BẬC CHA MẸ

Vì nghèo , Mai phải chấp nhận nghề “buôn hương bán phấn” trong các hộp đêm và thiêu thân dưới ánh đèn màu để nuôi đàn em dại.  Lối xóm đàm tiếu, cô không màng đến, miễn là các em được no đủ, thành tài và hạnh phúc.  Một tối nọ, Mai trở về nhà với tấm thân rã rượi và tâm thần căng thẳng. Chợt thấy báo cáo của nhà trường để đó, cô cầm lên đọc.  Cô đau khổ cùng cực: “Hạnh đã bỏ học” và cũng đang làm nghề như cô!  Đôi giòng lệ tuôn chảy như suối.  Cô gào thét trong thất vọng: Thân xác cô nên đồ tiêu khiển cho thiên hạ, cô chấp nhận như thế để các em vươn lên, cô không muốn các em rơi vào hoản cảnh tội lỗi như cô.

Việc làm của Mai thật đáng cảm kích.  Vì thương các em, cô đành phải làm nghề như vậy, để lo cho các em học hành đến nơi đến chốn, nhưng Mai quên rằng chính việc làm của cô vô tình đã trở thành tấm gương cho các em bắt chước.  Đọc câu chuyện ấy, tôi thấy thông cảm với hoàn cảnh của Mai và thương cho cô ấy, cho những người vì em, vì con cái, mà sẵn sàng hy sinh quên mình như vậy.

Ông Duy say nghề đen đỏ.  Ông đánh vợ khảo tiền và mặc cho vợ tần tảo “nuôi năm con với một chồng”.  Nhưng khi nghe tin đứa con lớn còn “cao nghề” hơn ông, ông đã giận dữ chửi rủa con:  “Tao hư đã đành, nhưng maỳ không được hư.  Tao giết mày!”  Trong xã hội hiện nay, có không biết bao nhiêu là cảnh đau lòng như vậy:  chồng cờ bạc rượu chè, về đánh đập vợ con.  Ông Duy là người cha người chồng, mà chẳng quan tâm làm tròn trách nhiệm của người chồng người cha.  Nhưng ông cũng biết là ông “hư”, bởi vì khi nghe tin đứa con lớn của mình cũng cờ bạc mà còn giỏi hơn ông nữa, thì ông đã nổi giận và chửi rủa con thậm tệ.  Tuy nhiên, cha như vậy làm sao dạy dỗ được con?  Chính ông đã làm gương xấu cho đứa con, mà ông không ngờ.

Mai sa vào cảnh khốn cùng ấy là vì muốn có phương tiện nuôi các em mình ăn học thành tài, nên chúng ta còn hiểu được nỗi đau đớn của cô khi biết em mình cũng đã ra như mình. Còn ông Duy, ông có quan tâm gì đến gia đình đâu? Đã vậy còn quát tháo… Tuy nhiên, rõ ràng, dù do hoàn cảnh sa cơ, dù do tính mê tật xấu, cá nhân người ta “hư” nhưng người ta vẫn không muốn con em mình “hư” như mình, rơi vào cảnh “ao tù nước đọng” như mình.  Nhưng dường như để có thể có những người em, người con “nên người”, người anh, người chị, người cha, người mẹ cũng phải trả cái giá là sống lương thiện để làm gương sáng cho con em.

******************************

Hai câu chuyện trên làm tôi nhớ đến một đoạn Phúc Âm của Thánh Gioan.

Đứng trước người phụ nữ ngoại tình, Chúa Giêsu chỉ nói: “Tôi cũng vậy, tôi không kết án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8 :11).  Là Đấng duy nhất có quyền kết án, thế  mà Ngài đã không kết án.  Nhưng tôi nghĩ rằng người phụ nữ này sẽ thay đổi. Bởi vì sự thông cảm của Ngài không phải là cớ để người ta tiếp tục “sa đà”; chính sự ngay thẳng, trong sáng của Ngài là một sự thúc bách người ta sửa đổi đời sống.

Là Đấng trong sạch vô tội, tôi nghĩ Ngài là Đấng duy nhất có quyền quát nạt rầy la, thế mà khi đối diện với tội nhân, Ngài lại có thái độ khác hẳn.  Ngài không quát tháo cũng chẳng rầy la, Ngài tế nhị giúp tội nhân ăn năn hối cải: chính Ngài đến nhà người tội lỗi mà ăn chung với họ.  Ngài dong duổi tìm kiếm con chiên lạc. Ngài luôn mở rộng đôi tay để đón những người tội lỗi, những người đau yếu bệnh tật.  Chúa không muốn con người hư đi, nhưng muốn con người ăn năn và quay trở lại với  Ngài.

Tôi không rơi vào trường hợp như cô Mai hay ông Duy, nhưng tôi nghĩ:  Nếu tôi gặp hoàn cảnh như vậy, không biết tôi có thể giận dữ được không; hay lúc đó tôi chẳng còn nói được lời nào, vì dù sao tôi cũng vô tình làm gương xấu cho các em, cho con cái của tôi, khiến chúng đã đi đến chỗ như vậy? Và nỗi hối hận ấy chắc chắn sẽ dằn vặt tôi suốt đời.  Cho nên đối với tôi, trong bất cứ mọi hoàn cảnh, tôi phải nhớ đến Chúa và phải nhìn đến Chúa, bởi vì chỉ có Chúa mới là toàn vẹn, chỉ có Chúa mới ban cho tôi ánh sáng đức tin để tiếp tục sống đạo, và để làm gương sáng cho các con em tôi.  Tôi tin Ngài luôn yêu thương nâng đỡ những ai cần đến Ngài, vì Ngài đã nói: “Ta là đường, là sự thật, và là sự sống” (Ga 14:6).

Ước gì nếu tôi gặp bất cứ trường hợp đau khổ hay tội lỗi, thì tôi biết tìm đến Chúa mà chia sẻ với Ngài để Ngài nâng đỡ và giúp tôi hiểu được Tình Yêu của Ngài thật quảng đại vô biên.

Têrêsa Hải Phượng

CON MẮT ÐỨC TIN

Tại một làng quê nghèo bên Việt Nam, có một người bị mù từ khi mới sanh. ông đã sống trong đêm tối mù mịt mấy chục năm trời. Vào một đêm tối, vì có chuyện phải ra khỏi nhà, ông đốt lên một ngọn đèn sáng, cầm trong tay và lần mò bước đi trên con đường làng. Trên đường đi, một người sáng mắt đã đụng vào ông, làm ông ngã xuống đất. Ông bèn la lớn tiếng rằng:

– Có mắt mà cũng như mù, không nhìn thấy tôi cầm đèn trong tay hay sao mà đụng vào tôi ?

Người sáng mắt lên tiếng đáp trả: “Ông ơi! Đèn ông cầm trên tay đã tắt từ lâu. Trong đêm tối, tôi không nhìn thấy ánh sáng ngọn đèn của ông, không nhìn thấy đường đi, cũng không nhìn thấy ông nên đã đụng vào ông, xin ông tha lỗi cho nhé .”

* * * * *

Bạn thân mến! Câu chuyện vui trên đây nói lên tầm quan trọng của ánh sáng và con mắt… Ánh sáng chiếu soi trên muôn lòai muôn vật. Ta nhìn thấy sự vật là nhờ có đôi mắt và ánh sáng. Nếu không có ánh sáng, ta không nhìn thấy gì hết, tất cả là một màu đen. Ta hòan tòan sống trong đêm tối.  Nếu con mắt bị hư hỏng, thì dù bên ngoài trời có sáng tỏ, ta cũng không nhìn thấy gì hết. Ta hoàn toàn sống trong đêm tối. Quanh ta, có nhiều thứ đêm tối khác nhau:

Có thứ đêm tối u mê dốt nát:  Ánh sáng văn hoá có đó. Sách vở chữ nghĩa có đó. Nhưng ta không đọc được. Vì ta mù chữ. Trí tuệ của ta thiếu đôi mắt nên ta chìm đắm trong đêm tối của u mê dốt nát.

Có thứ đêm tối phàm phu:  Thiên nhiên có biết bao cảnh đẹp. Nhìn cảnh hoàng hôn, bình minh… người hoạ sĩ với xúc cảm dạt dào có thể vẽ nên những bức tranh tuyệt tác. Ta không cảm được vẻ đẹp của đất trời vì ta không có cặp mắt hoạ sĩ.

Có thứ đêm tối đức tin. Cuộc sống thần linh có đó. Thiên Chúa hiện hữu đó. Nhưng ta không nhìn thấy được vì ta không có con mắt đức tin.

Ðức tin là ánh sáng soi rọi vào tâm hồn, cho ta thấy được những điều mà người không tin không thể thấy được. Ðức tin là ngọn đèn soi cho ta bước đi trên con đường tiến về cuộc sống vĩnh cửu. Ngọn đèn ấy chỉ đủ sáng cho ta bước từng bước nhỏ. Trong khi bầu trời vẫn bao phủ bằng đêm đen để ta phải phó thác tin yêu nơi Thiên Chúa.

Tin là một thái độ dấn thân, không ngồi lì một chỗ, nhưng lên đường và hành động theo lời Ðức Giêsu đã truyền dạy.

Tin là một hành trình ngày càng gian khổ. Ðức tin cần phải có thử thách. Thử thách như những bài học ngày càng cao, càng khó … bắt người tin phải có thái độ lựa chọn ngày càng dứt khoát hơn.

Ðức tin giống như hạt ngọc bị lớp đất bụi che phủ. Những khó khăn thử thách giống như chiếc dũa, dũa sạch bụi đá. Càng dũa nhiều, ngọc càng sáng, càng trong .

Ðức tin giống như ngọn đèn. Thử thách gian khổ là dầu. Càng có nhiều dầu gian khổ, đèn đức tin càng toả sáng, càng lan rộng .

* * * * *

Lạy Chúa Giêsu Kitô! Ngài là ánh sáng trần gian, là ánh sáng tinh tuyền, là ánh sáng vĩnh cửu đời đời… Xin Ngài dẫn dắt con bước đi trong suốt hành trình đức tin, để con có thể vượt thoát mọi bóng tối của đêm đen, để con có thể gặp gỡ xum họp với Ngài nơi cuối đoạn đường đời của con. Amen

Trích từ bài giảng của TGM. Ngô Q. Kiệt