ẢNH HƯỞNG KHÔNG THẤY ĐƯỢC

Có một câu chuyện kể về một thiếu nữ rất yêu thích những bông hoa.  Cô ta trồng một loài cây leo quí hiếm ở chân một bức tường bằng đá. Cây leo này mọc rất nhanh và mạnh, nhưng không hề trổ hoa. Hết ngày này sang ngày kia, cô tận tâm vun xới và tưới nước, cố gắng bằng mọi cách vun đắp cho nó nở hoa.

Vào một buổi sáng, lúc cô đang đứng trước cây leo này trong tâm trạng thất vọng, thì người hàng xóm tật nguyền nhà bên cạnh gọi cô lại và nói:

– Chị không thể nào tưởng tượng được rằng tôi vui mừng biết bao với những bông hoa trên cây leo nhà chị đã trồng đâu.

Cô liền nhìn qua phía bên kia tường và thấy cả một đám hoa.  Cây leo đã bò xuyên qua kẽ hở của bức tường và nở hoa ở phía bên kia. Tội nghiệp cô gái! Cô cứ nghĩ rằng cây leo của cô là đồ vô dụng, trong khi nó đã luôn luôn chứng tỏ được ích lợi của nó đối với một con người vô cùng cần đến nó. Người tật nguyền kia đã được phong phú hoá và rất đỗi vui mừng, nhờ những cố gắng đầy tin tưởng của cô gái kia, trong việc vun xới chỉ một thân cây leo, mặc dù cô ta không thể nhìn thấy được những kết quả trong việc làm của mình.

(3000 Illutrations) 

******************************

Thông thường những công việc tôi làm thường ngày, tôi sẽ được nhìn thấy cái hiệu quả cho dù đó là đạt hay không đạt sau những ngày tháng chăm chỉ làm việc.

* Chăm sóc một giỏ lan, sau một thời gian vun tưới kết quả là những cánh hoa lan đang nở tươi, mang hương thơm ngào ngạt.

* Bác sĩ chăm sóc bệnh nhân đều mong muốn bệnh nhân của mình được khỏi bệnh theo phương hướng cách chữa trị của họ.

* Nhận dạy một lớp giáo lý trong giáo xứ, qua một vài giờ học, tôi có thể nhận ra được cái hiệu quả cách thức trình bày và sự tiếp thu của học viên trong lớp.

* Các công ty, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà nông … Tất cả họ đều hoạt động theo hướng đi lên để phát triển cái ngành nghề họ đang phục vụ, tất cả phải đạt tiêu chuẩn, đạt chỉ tiêu.  Nếu không đạt họ phải có kế hoạch, phương hướng khác để khắc phục lại những khuyết điểm, mong cho điều mình muốn đạt được thành công.

Nhưng  trong  thế giới tâm linh có những việc làm con người không nhìn thấy được cái hiệu quả của mình một cách hữu hình. Chúa Giêsu đã nói : “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 21,29b). Trong cuộc sống đạo của người Kitô Giáo, các Mầu Nhiệm Thiên Chúa đã thực hiện, là những kim chỉ nam để hướng con người tìm đến nguồn ân sủng của thuở ban đầu.

Cô thiếu nữ trong câu chuyện, chăm chút cho gốc hoa, tưới nước bắt sâu mỗi ngày, để mong muốn nó sẽ trổ ra những bông hoa xinh xắn trong khu vườn nhà cô. Có lẽ cô vô tình không nhìn thấy khe hở nơi bức tường. Rồi tất cả những công lao của cô được bù đắp không phải nơi nhà cô, mà ở nơi bên kia bức tường. Chính những cố gắng của cô đã làm cho người tật nguyền bên cạnh nhà cảm thấy vui  khi được ngắm nhìn những bông hoa. Những bông hoa đó  chính  là  những bông hoa  ân đức cô đã vô tình làm một việc rất cao đẹp mà cô không hề hay biết, tặng cho người cô đơn tật nguyền bên cạnh nhà.

Nơi luyện tội các linh hồn đang mong được hưởng những bông hoa của mọi người. Chính họ giờ đây không thể trồng, không thể cắt tỉa vun tưới.  Họ chỉ còn trông chờ vào thân nhân, bạn bè trồng tỉa giúp họ bằng những hy sinh, hãm mình, ăn chay, cầu nguyện. Đấy chính là những ngành chồi sẽ vươn qua bức tường vô hình, để trổ sinh những nhánh hoa các linh hồn đang trông chờ.

Đang trong tháng mân côi , mỗi ngày trong kinh nguyện hãy xướng lên lời kinh mân côi, dành ít phút để nhớ đến người đã khuất, các linh hồn giờ đây đang còn bị giam cầm nơi luyện tội, đấy chính là một việc làm mỗi Kitô hữu cần làm và làm hằng ngày, chứ không phải cứ tháng mười một mới nhớ đến. Bạn và tôi, một ngày nào đó chính bản thân mình cũng sẽ cần những bông hoa ân đức, những lời cầu nguyện của mọi người

******************************

Lạy Chúa, xin cho các linh hồn đang còn giam cầm nơi luyện tội, đặc biệt các linh hồn mồ côi không còn ai nhớ đến để cầu nguyện cho.  Con xin dâng lên Chúa những hy sinh nhỏ bé của con trong ngày hôm nay, để xin Chúa giảm bớt tha thứ những phần phạt những linh hồn ấy đang phải gánh chịu. Xin Chúa sớm đưa những linh hồn ấy được hưởng Nhan Thánh Chúa nơi Thiên Đàng. Amen

Pet P.B.H

PHỤC VỤ

Một lần Đức Hồng Y Roncalli vừa từ trên xe bước xuống, phái đoàn tòa Giám mục ra đón.  Mọi người ngạc nhiên thấy trên vai áo Hồng Y có vương mấy cọng rơm đồng quê.  Ai hỏi ngài cũng cười xòa vui vẻ, nhưng mấy nhân viên phụ tá trên xe đều hiểu chuyện.  Chiếc xe của Đức Hồng Y đang từ hướng Bắc xuống miền Nam qua vùng đồng ruộng.  Giữa đường một chiếc xe bò chở rơm sa hố.  Người đánh xe gắng sức đẩy phụ nhưng xe không nhúc nhích.  Đức Hồng Y cho xe dừng lại, xắn tay áo hò dô ta đẩy phụ, và chiếc xe rơm sa lầy lại chuyển bánh tiếp tục lên đường.

Những cọng rơm trên vai áo Hồng Y đối với Ngài chỉ cười xòa cho qua.  Nhưng thực sự tỏ rõ cho chúng ta một Hồng Y không quản ngại khó khăn hay sợ bẩn chiếc áo dòng sang trọng.

Sau này lên ngôi Giáo Hoàng, Đức Gioan 23 vẫn tiếp tục nếp sống bình dị phục vụ.

Lần khác, cả giáo triều Rôma báo động:  “Đức Giáo Hoàng mất tích”.  Nhân viên an ninh đổ xô đi tìm.  Cuối cùng người ta gặp ngài đang trò chuyện thân mật với các tù nhân trong khám đường Rôma.

*****************************

“Con người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người” (Mc 10,45).

Đó là Hiến Chương Nước Trời, là Hiến Pháp Đức Kitô đã tuyên bố cho Giáo Hội.  Từ đây, mỗi tín hữu Kitô phải là đầy tớ của mọi người.

Người lãnh đạo trong Giáo hội chính là “Đầy tớ của các đầy tớ” (Servus Servorum).  Chữ La tinh “Minister” có nghĩa là đầy tớ.  Vì thế, trong Giáo hội chỉ có kẻ thừa sai, người thừa tác, nữ tỳ, tôi tá, hay mục tử chăm lo cho đoàn chiên.

Mẹ của Giacôbê và Gioan xin Đức Giêsu cho hai con bà được làm tể tướng trong nước của Người.  Nhưng họ đã không hiểu rằng Đức Giêsu không  bước lên ngai vàng để thống trị, mà Người chỉ leo lên thập giá để hiến dâng mạng sống, để yêu thương và “yêu cho đến cùng” (Ga 13,1).

Hôm nay, Chúa cũng mời gọi các tín hữu Kitô hãy noi gương Người: phục vụ và hiến dâng mạng sống cho tha nhân.  Trước nhất là yêu thương phục vụ những người trong gia đình: “Charity begin at home” (Bác ái bắt đầu từ gia đình), sau đó mới lan tỏa sang những người chung quanh, nhất là những người nghèo hèn, yếu đuối.

Nếu chúng ta chưa giống được như Cha Maximilien Kolbe xin chết thay cho bạn tù, như thánh Martino Porres  bán mình làm nô lệ, hoặc như Cha Damien tông đồ người hủi, thì ít là mỗi ngày chúng ta hãy âm thầm phục vụ hết mình những người thân yêu, những người Chúa giao phó trong gia đình mình, trong cộng đoàn mình.

Báo chí Pháp đăng hình của cha Damien sau mấy chục năm phục vụ trong trại cùi, ghép cạnh hình cha hồi còn trẻ đẹp.  Tấm hình gây xúc động cho biết bao con người.  Khi nhìn vào tấm hình, mẹ ngài không thể tin được con mình đã thay hình đổi dạng đến thế.  Chính thái độ tận tụy phục vụ đã tiêu hao sức lực và tàn phá hình hài con người.  Vì thế, chúng ta không thể phục vụ nếu không có sẵn một tấm lòng dấn thân quảng đại.

Người thành công nhất là người phục vụ cho đồng loại nhiều nhất.  Albert Shweitzer đã nói: “Người hạnh phúc thật là người biết tìm cách sống thiện ích cho người khác”.  Martin Luther King nói:  “Chúng ta học bay như chim trên trời, học bơi như cá dưới nước, nhưng lại chưa học sống với nhau như anh em”.  Ở giây phút định mệnh của mỗi con người chỉ có cường độ của tình yêu và tinh thần phục vụ là có giá trị.

*****************************

Lạy Chúa, ai trong chúng con cũng có một chút ham mê địa vị, chức quyền.  Nếu Chúa xếp đặt cho chúng con một chức vụ nào đó, xin cũng ban cho chúng con một ơn này, là chức vụ càng cao, chúng con càng biết khiêm tốn phục vụ anh em nhiều hơn.  Amen!

Thiên Phúc

CẦU NGUYỆN MÀ KHÔNG ĐƯỢC NHƯ Ý

Sau khi lên ngôi Giáo Hoàng, Đức Bênêđictô XVI đã có buổi tiếp kiến hàng ngàn người đồng hương Đức của Ngài bên trong đại thính đường Phao-Lô. Họ đã đến Roma để chúc mừng Ngài và cũng để tham dự lễ đăng quang Giáo Hoàng của ngài.  Nhưng trong buổi tiếp kiến, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô đã cảm động thổ lộ tâm tình của Ngài như sau:

“Trong mật nghị Hồng Y, đã nhiều lần cha cầu xin Thiên Chúa tha cho cha công việc này, vì cha chỉ hy vọng và mong muốn sống những năm cuối đời trong thầm lặng và bình an bên quê nhà, cha nghĩ rằng cha đã sắp sửa hoàn tất công việc mà Thiên Chúa đã giao phó cho cha và giờ đây với tuổi già sức yếu, cha có thể sống những năm tháng cuối đời trong an bình, bên cạnh người anh ruột mà cha hằng thương mến, đó là đức ông George Ratzinger .

Thế nhưng khi cuộc đếm phiếu vào chiều thứ Ba (ngày 19 tháng 4 năm 2005), từ từ lộ ra là cha được khá nhiều phiếu, cha bắt đầu cảm thấy choáng váng mặt mày vì đây là lưỡi chém rớt xuống cuộc đời của cha. Điều này chứng tỏ rõ ràng là Thiên Chúa không nhận lời cha cầu xin, Ngài không cất chén đắng cho cha.“

* * * * *

Bạn thân mến! Có phải cứ thành tâm cầu nguyện thì việc gì ta xin cũng được Thiên Chúa nhận lời? Nếu không được nhận lời, thì ta phải hiểu thế nào? Nếu đứa con còn nhỏ của ta cứ năn nỉ xin ta cho con bọ cạp để chơi, xin ta cho cái xe hơi để lái, ta có cho nó không?

Nhiều khi chúng ta có cảm tưởng Chúa ban cho ta con bọ cạp, trong khi có thể chính chúng ta lại xin con bọ cạp mà không hay biết.  Con cá Chúa cho, nhưng nhiều lúc ta lại tưởng là rắn. Chỉ có Chúa mới biết rõ điều gì là tốt, là cần thiết, là thích hợp cho ta. Hãy luôn tin tưởng và phó thác vào tình thương của Chúa, vì Ngài luôn yêu thương chăm sóc cho ta nên luôn ban cho ta những điều “tốt và hạp”.

Trong những trường hợp khác, có người phải chịu những thử thách quá lớn trong cuộc sống, những đau khổ dồn dập khiến cho họ gần như mất đức tin, không còn tin rằng Thiên Chúa là người Cha nhân hậu.  Họ đã kêu gào lên Chúa nhưng chỉ thấy Chúa thinh lặng.  Đau khổ đã làm họ quên đi tiếng kêu xin của Đức Giêsu trên thánh giá  “Lạy Cha! sao Cha bỏ con? ” Tiếng kêu xin ấy vẫn còn vang vọng cho đến ngày nay.  Thiên Chúa ở đâu?  Ngài có nghe tôi nài xin không?  Ngài có thấy nỗi khổ của tôi không?

Nhìn ngắm Đức Giêsu trên thánh giá giúp ta tìm lại được niềm tin, giúp ta hiểu được phần nào mầu nhiệm của đau khổ: “Cha thương Con, nhưng Cha vẫn thinh lặng, vẫn không cứu Con khỏi đau khổ, khỏi sự chết.  Cha muốn Con đi ngang qua con đường mà bao người đã đi, con đường tối tăm của niềm tin, của đau khổ và sự chết…  Tình yêu của Cha chỉ bừng sáng khi Cha cho Con phục sinh.  Cuối đường hầm là ánh sáng. Con phải đi hết đường hầm mới thấy ánh sáng.

* * * * *

Ly Thiên Chúa là Cha chúng con! Trong Mật Viện Hồng Y vừa rồi, Chúa đã không nhận lời cầu xin của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô.  Trong vườn cây Dầu, Chúa cũng không nhận lời Đức Giêsu khi Ngài cầu xin cho khỏi uống chén đắng (Mt 26,39.42).  Vậy mỗi khi con cầu xin và không được nhận lời, xin cho con biết noi gương Đức Giêsu; bắt chước Đức Giáo Hoàng Bênêđictô để giữ lòng bình tâm và tin tưởng vào tình yêu thương của Thiên Chúa, để nhận biết điều mình cầu xin không phải là ý của Thiên Chúa, không nằm trong chương trình của Thiên Chúa, không mang lại ích lợi cho đời sống thiêng liêng của con. Xin cho con biết phó thác cuộc đời của con trong vòng tay thương yêu của Chúa, Amen .

Linh Xuân Thôn

TIẾNG GỌI TÌNH YÊU

“Thiên Chúa là Tình Yêu”, hồn tôi run lên và trái tim chai đá nguội lạnh từ lâu bị chạm mạnh, nước mắt tôi cứ trào ra như suối khi mấy chữ này được lập đi lập lại trong buổi tĩnh tâm cuối tuần năm 1987.  Tôi đã nghe câu này nhiều lần rồi, nhưng cứ như gió thoảng mây bay, lọt qua tai rồi nhanh chóng tan biến đi chẳng để lại hơi tích gì.  Lần này, tôi thật sự cảm nhận được Chúa Giêsu yêu thương tôi xiết bao, đến nỗi Ngài đã bằng lòng chịu chết cho tôi (cho chính tôi chứ không phải cho ai khác) dù tôi bất xứng.  Tôi thầm thì với Giêsu:  “Tại sao Ngài lại chết cho con?” “Con biết Ngài yêu và chết cho nhân loại, nhưng tại sao Ngài lại yêu con và chết cho chính con?”  “Con không xứng đáng, Chúa ơi!”  Tôi thổn thức trong cái nhìn trìu mến đầy yêu thương của Giêsu.  Mỉm cười, Ngài dang rộng hai cánh tay đã bị treo lên vì tội tôi và như đang muốn ôm ấp vỗ về đứa con bé bỏng vào lòng.  Chúa Giêsu đã chết để tôi được sống!  Ngài chấp nhận chết để chuộc được tôi về từ sự chết!  Một tình yêu vô điều kiện và lòng thương xót vô bờ!  Giờ đây tôi mới cảm nhận được và muốn đáp trả lại tình yêu đó.  Tôi muốn hét to lên cho thế giới biết rằng “Thiên Chúa là Tình Yêu,” “Thiên Chúa là Tình Yêu.”  Đây là kinh nghiệm trở về đầu tiên trong cuộc đời đầy sóng gió của tôi.

Sau lần tĩnh tâm đó, tôi tham gia vào một nhóm cầu nguyện Đồng Hành họp mặt vào mỗi thứ sáu hàng tuần để cầu nguyện, chia sẻ đức tin và cùng nhau đồng hành trong Chúa Giêsu.  Tôi nhận ra rằng Thiên Chúa đang dùng nhóm nhỏ bé thân yêu này để dạy tôi cầu nguyện.  Với sự hoạt động của Chúa Thánh Thần trong nhóm, lần đầu tiên trong đời, tôi bắt đầu mò mẫm đọc Kinh Thánh và bắt đầu yêu thích nó.  Ngày qua ngày, đức tin tôi từ từ lớn lên và được nuôi dưỡng qua những lần bập bẹ đọc Lời Chúa.  Trước khi tham gia vào nhóm cầu nguyện, tôi chưa bao giờ dám rờ vào cuốn Thánh Kinh, tôi tự ngụy biện vì đó là sách “thánh” nên tôi cảm thấy không xứng đáng rờ vào “thánh”.  Một lý do khác là cuốn Kinh Thánh quá dầy, mà tôi thì không hứng thú gì với việc đọc sách.  Biết người, biết ta.  Biết sách dầy, chẳng bao giờ đọc cho hết thì thôi, thà đừng đọc.  Bây giờ nghĩ lại, tôi mới thấy Thiên Chúa đã ban thần khí Ngài giúp tôi đọc hết cuốn sách và cảm nhận được tình yêu qua Lời Hằng Sống đó.

Cũng vào thời gian đó, tôi đang yêu một cô gái và muốn kết hôn với nàng.  Tôi cầu nguyện với Chúa Giêsu bằng lời Kinh Thánh của phúc âm thánh Gioan: “Bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con.  Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó.” (Ga 14:13-14).  Tôi tin tưởng vào điều tôi cầu xin.  Sáu tháng sau, tôi ngỏ lời cầu hôn với nàng và bị từ chối phũ phàng.  Tôi choáng váng ngỡ ngàng, trời đất như sụp đổ.  Tôi thất vọng vào nàng thì ít, nhưng thất vọng nơi Giêsu thì nhiều, thất vọng nơi Người mà tôi đã đặt trọn niềm tin.  Tôi cảm thấy như bị phản bội và tôi trút cơn giận lên Giêsu.  Tôi đã sống trong điên cuồng và hạch hỏi Chúa Giêsu ba bốn tiếng mỗi ngày để thuyết phục Ngài rằng tôi đúng và tốt hơn hết Chúa nên thay đổi ý định của Ngài đi.  “Hãy làm cho nàng đổi ý, Chúa ơi, tại sao Chúa nói bất cứ điều gì con xin thì Chúa sẽ cho, vậy mà thực tế là nàng từ chối lời cầu hôn của con.”

Lạ thay, càng “tranh luận hạch tội” với Giêsu, tôi càng hiểu Ngài hơn.  Càng hiểu biết Ngài, tôi càng yêu mến Ngài nhiều hơn và muốn dâng hiến trọn đời cho Ngài.  Lặng thinh chiêm ngắm tình yêu vô điều kiện của Chúa Giêsu, tôi càng thấm thía sâu xa sự khác biệt giữa tình yêu có điều kiện của con người và tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa.  Sau sáu tháng chìm đắm trong cầu nguyện, tôi bâng khuâng không biết có nên lập gia đình nữa hay không.  Tôi thưa với Ngài rằng tôi chỉ muốn sống mãi trong biển tình bao la của Giêsu.   Đây là bước ngoặt thứ hai tôi trở về trong vòng tay của Chúa Giêsu để tình yêu và đức tin của tôi ngày càng lớn hơn.  Kỳ diệu thay, tôi cứ ngỡ rằng tôi sẽ thuyết phục Ngài làm theo ý muốn tôi, thì chính Ngài lại đang thuyết phục tôi thực thi thánh ý Chúa Cha.

Trong cùng thời gian đó, năm 1988, có rất nhiều người Việt đang sống tại các trại tị nạn tại các nước Đông Nam Á.  Tôi quyết định đến một trại tị nạn ở Hồng Kông để làm việc thiện nguyện.  Tôi lên đường chỉ vỏn vẹn với một ba lô sau lưng và một trái tim nóng bỏng yêu thương mong muốn được san sẻ.  Tôi làm việc ở đó hai năm phục vụ và giúp đỡ những người nghèo tị nạn, tôi yêu họ biết bao và yêu công việc bé nhỏ đơn sơn của tôi.  Dầu vậy, sau hai năm làm việc, tôi cảm thấy sức tàn hơi kiệt: đời sống tâm linh khô khan, tinh thần mệt mỏi, thể xác rã rời và tài chánh kiệt quệ.  Tôi trở lại Mỹ nghỉ ngơi lấy lại sức và đi làm để dành tiền để chuẩn bị cho chuyến đi tới.  Sau khi để dành được chín ngàn mỹ kim, tôi lại lên đường đi Phi Luật Tân để làm việc trong trại tị nạn Palawan năm 1990.  Mặc dù tôi rất yêu quý những kinh nghiệm quý báu trong cuộc sống ở trại tị nạn, nhưng cũng như lần trước, sau vài năm làm việc, tôi lại rơi vào tình trạng khô khan khủng hoảng.  Từ đó, tôi quyết định phải nhận định lại để tìm thánh ý Chúa cho cuộc sống tương lai của tôi.

Qua cầu nguyện và nhận định, tôi thấy rõ có ba con đường trước mắt.  Con đường thứ nhất là tiếp tục công việc thiện nguyện đã mang lại cho tôi nhiều niềm vui phục vụ nhưng sau đó là tình trạng kiệt quệ về tài chánh cũng như đời sống tâm linh.  Con đường thứ hai là lập gia đình để thoả mãn những nhu cầu đòi hỏi bình thường của một người đàn ông.  Khi cân nhắc hai con đường này, tôi thấy niềm vui trong phục vụ thì sâu sắc và mãnh liệt quá đến nỗi tôi không muốn từ bỏ nó.  Còn nếu lập gia đình ư?  Tôi sẽ bị trói buộc vào những bổn phận của đời sống hôn nhân và sẽ không còn tự do để đi phục vụ những người nghèo tại các quốc gia đang phát triển nữa.  Tôi cảm thấy Giêsu đang mời gọi tôi làm một cái gì đó khác hơn, cao cả hơn, vì thế tôi từ bỏ ý định lập gia đình.  Con đường cuối cùng đang mở rộng trước mắt là gia nhập vào một dòng tu để có cơ hội tiếp tục làm những công việc thiện nguyện mà tôi yêu thích.  Dòng tu đó sẽ giúp đời sống tâm linh tôi ngày càng phát triển hơn, sẽ nâng đỡ tinh thần tôi qua tình đồng môn những khi tinh thần tôi bị suy sụp, và giúp đỡ tôi về mặt tài chánh khi cần thiết.  Kết quả là tôi vào Dòng Tên và trở thành tu sĩ của dòng từ năm 1993.  Tôi chọn Dòng Tên vì tôi thích phương pháp Linh Thao của thánh I-Nhã thành Loyola.  Chính nhờ phương cách thao luyện đời sống tâm linh này giúp tôi trong việc nhận định tìm thánh ý Chúa và giúp tôi trải qua các kinh nghiệm trở về.

Tôi vào Dòng Tên với niềm lo sợ về vấn nạn học hành vì tôi vốn không thích học.  Tôi nghĩ mình không có khả năng để tiếp thu vì tôi đã bị rớt khi lấy bằng kỹ thuật trung cấp hai năm (Associate of Arts Degree) vào năm 1987.  Thiên Chúa đã làm tôi ngạc nhiên biết bao khi nhà dòng gởi tôi đi học đại học, buộc tôi phải học và tôi đã lấy được bằng Cử nhân (Bachelor’s Degree).   Sau đó tôi hoàn tất bằng Cao học Thần học (Master’s Degree in Divinity).  Thành thật mà nói, tôi không ngờ Chúa Giêsu đã dắt tôi đi một quãng đường xa như vậy.  Gia đình tôi cũng kinh ngạc như tôi.  Khi bước chân vào tập viện, anh trai tôi đã nói với tôi:  “Nếu Chữ cảm thấy không thích hợp với đời sống tu trì thì yên tâm, gia đình mình lúc nào cũng sẵn sàng chào đón Chữ về.”  Chị tôi mới đây thì nói:  “Cả gia đình đều nghĩ rằng Chữ không thể học được vì Chữ không thích đọc sách và bị cà lăm từ nhỏ.  Đó là lý do tại sao cha mẹ khuyến khích cậu học nghề như nghề nông hay mộc hơn là sách vở vì cậu có khiếu về các nghề đó hơn.”

Khi nhìn lại quãng đường đã qua, tôi tự nhủ: “Chắc Chúa điên rồi!”  Tôi thường nghi ngờ hỏi Chúa: “Chúa ơi, Ngài có chắc là đầu tư đúng người không?” “Chúa biết con cà lăm và chậm hiểu.  Làm sao con có thể nói cho thế gian biết tình Chúa yêu con và yêu thế gian lớn đến thế nào?”  Càng biết Giêsu, tôi càng cảm nghiệm rằng tình yêu của Chúa Giêsu cho tôi vượt ngoài sự hiểu biết của tôi.  Chỉ có tình yêu mới giải thích được!

Chỉ vì yêu tôi mà Ngài đã cùng đi với tôi một quãng đường xa như thế.  Chỉ vì tình yêu “điên rồ” mà Thiên Chúa đã gọi tôi để yêu thương, để loan truyền tình yêu và lòng thương xót của Ngài.  Tôi muốn nói lên cho cả thế giới biết rằng Thiên Chúa đã gọi một người ngu si và bất xứng như tôi để tiếp tục sứ mạng của Ngài.  Sứ mạng đó là loan truyền một tình yêu không sợ hãi, một tình yêu không điều kiện.  Để nói được như thế, mục đích cuộc đời tôi là đáp trả lời mời gọi yêu thương của Thiên Chúa Tình Yêu, tất cả là cho Tình Yêu và vì Tình Yêu.

Anh chị em thân mến, nguyện xin Thiên Chúa của tình yêu vô điều kiện đánh động tâm hồn mỗi người để anh chị em được tràn ngập niềm vui thánh thiêng.  Xin hãy cầu nguyện cho tôi để tôi có thể tiếp tục trung thành loan truyền tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa đến tận cùng chân trời góc biển.

Ngô Văn Chữ, S.J.
26 tháng 5, 2006

A CALL TO LOVE

“God is love!”  I was full of tears during a weekend retreat in 1987 when God touched my heart and soul with this phrase.  I heard this phrase many times before but it never touched me.  This time, I realized that Jesus loves me so much and died for me even though I am an unworthy sinner.  I said to Jesus, “Why do you die for me?” “I know you love the world and die for the world, but why do you love me and die for me?” “Is it worthwhile for you to die for me?” “I don’t deserve your goodness.”  Then, I felt Jesus looked at me silently, smiled, and stretched out his arms to die for my sins.  Jesus died so that I could live.  Out of unconditional love and compassion, Jesus died and redeemed me.  Therefore, I wanted to respond to His love.  I wanted to yell out to the whole world that:  “God is love!”  This was the first turning point of my conversion experience.

Later on, I joined a spiritual exercise prayer group that met every Friday to pray and to share our faith with each other.  I now realize that God used this group to teach me how to pray.  With the spiritual movement in the group, I began to read the Bible and fell in love with it.  It was the first time I read it.  My faith grew and was nourished from this very Bible.  Before joining the prayer group, I never dare to read the Bible – partly because it’s a Holy Book and I felt I was not worthy, another reason was because it is too thick and I did not think I could finish it because I did not like reading.  Now, I realize that God has given me the inspiration to read it and to fall in love with it.

At that time, I also fell in love with a woman and I wanted to marry her.  I prayed to Jesus and the word from John appeared to me, “I will do whatever you ask in my name, so that the Father may be glorified in the Son.  If in my name you ask me for anything, I will do it” (Jn 14:13-14).  I believed it!  After six months I asked that woman if I could marry her and she refused.  I was shocked!  I was very much disappointed at the woman, but doubly disappointed at Jesus.  I felt like Jesus betrayed me.  I was angry with Jesus.  Honestly, those days I went crazy and argued with Jesus three or four hours each day and night in order to … convince Jesus that I was right and Jesus had better change His mind!  “How come you said that whatever I ask you will give to me?” “The fact is that the woman refused me!”  But then gradually, the more I conversed with Jesus, the more I got to know Him.  The more I knew Jesus the more I loved Him and wanted to follow Him and to devote my life to Him.  I came to realize that God wanted to show me the human conditional love versus the divine unconditional love.  After six months of praying, I thought about whether I still wanted to get married or not, and I told Jesus that I only wanted to abide in His Unconditional Love.  This was the second turning point for me to grow deeper in my love for God.  Instead of me convincing Him, Jesus convinced me!

In 1988, there were many Vietnamese refugees in the Asian camps.  I decided to go and do missionary work at a refugee camp in Hong Kong.  I brought with me one back pack and a burning desire to love.  I worked here for two years, serving the poor and helpless refugees and I loved it!  However, after two years, I was broke – physically, financially, mentally and spiritually.  I had to go back to the U.S. to rest and work to build up some financial support for my next trip.  After earning nine-thousand dollars, I went to the Philippines to work with the refugees again in Palawan camp in 1990.  I also loved this experience!  But then, after a few years, I experienced feelings of desolation similar to what I went through in Hong Kong.  From there, I went through a discernment process to seek God’s will for me and to decide on my next move.

Through prayer and discernment, I recognized that I have at least three choices.  The first choice was to continue missionary work, which brought me a great joy; but after a while, left me with financial and spiritual difficulties.  The second option was to get married and to satisfy my human sexual needs.  In weighing these two options, I felt the joy of service so profoundly and tremendously that I did not want to forsake serving.  I realized that if I get married, I would be tied up with the married life and I could not be as free to serve the poor and the needy, especially those in developing countries.  I felt that Jesus was inviting me to something else; therefore, I dropped the marriage option.  The third choice was to enter a religious community which will give me the opportunity to do missionary works and at the same time provide me with spiritual guidance, companionship and the financial support that I need.  As a result, I enter the Society of Jesus and became a Jesuit in 1993.  I chose the Society of Jesus mainly because I like the Spiritual Exercises of Saint Ignatius of Loyola.  It was the Spiritual Exercises that helped me with my discernments and led to my conversion experience.

I entered the Jesuit life with the fear of studying simply because I did not like to study.  Part of it was also because back in 1987, I failed in getting the Associate of Arts Degree, so I thought that I did not have the ability to study.  God surprised me!  The Society of Jesus sent me to college, assigned me to study and I achieved a Bachelor’s Degree.  Then I went on to finish my Master’s Degree in Divinity.  Honestly, I could not believe that Jesus walked with me this far.  My family members were shocked as well.  My brother once told me when I entered the novitiate, “If you do not feel comfortable with that life, our family will welcome you back home.”  Recently, my oldest sister said: “Our entire family thought that Chu could not study literature because he never liked to read and because he stutters since childhood.  That’s why our parents allowed him to study occupations such as agriculture and woodworking since he is very good at these trades.”  As I looked back on my journey, I thought to myself: “God must be crazy!”  I asked God:  “Are you sure that you invest your gifts in the right person?”  “You know that I still stutter and I’m a slow learner.  How do I tell the world that you love me and you love the world that much?”  The more I get to know Jesus the more I realize that Jesus’ love for me is beyond my understanding.  Only love could explain!

It’s only because God loves me so much that He would walk with me this far.  Only with His “crazy” love that God has called me to love and to speak of His love and compassion.  I want to tell the whole world how stupid and unworthy I am whom God has called to carry out His divine mission – to love without fear and without any condition; to manifests the unconditional love of God.  So to speak, my life’s purpose is to respond to the call from Love, for Love and to love.

My dear brothers and sisters, may the God of unconditional love touch your heart so that you’ll burst out with tears of joy!  Pray for me so that I can continue to be faithful to proclaim God’s unconditional love to the whole world.

Chu Ngo, S.J.
May 26, 2006

KHO BÁU TRÊN TRỜI

Kagawa là một tín hữu Kitô Nhật Bản, khi nghe Lời Chúa phán: “Hãy đem bán hết gia tài, bố thí cho người nghèo, và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta”, ông liền bán căn nhà tiện nghi sang trọng của mình, đến khu nhà ổ chuột tồi tàn vùng Tokyo.  Nơi đây, ông chia sẻ của cải cho bất cứ ai cần trợ giúp, ông đi thăm nuôi tù nhân, an ủi giúp đỡ người bịnh, cấp dưỡng cho kẻ nghèo đói…  Có một lần, dù lâm bịnh, ông vẫn tiếp tục rao giảng dưới cơn mưa, miệng không ngừng thốt lên: “Thiên Chúa là tình yêu.  Ở đâu có tình yêu ở đấy có Thiên Chúa”.

Nhà thần học William Barclay đã trích dẫn những lời đầy sắc bén của Kagawa như sau: “Chúa ở trong tâm hồn những người hèn mọn nhất, Người hiện diện giữa những kẻ ăn xin, Người nằm chung với những ai bịnh hoạn, Người đứng về phiá những kẻ thất nghiệp.  Vì thế, ai muốn gặp Thiên Chúa hãy đến thăm tù ngục trước khi tới đền thờ, hãy đến thăm bịnh viện trước khi dự lễ, hãy giúp đỡ người nghèo khổ trước khi đọc Kinh Thánh”.

********

Người thanh niên trong bài Tin Mừng hôm nay là một con người đạo đức.  Anh đã thưa với Đức Giêsu: “Những giới răn ấy, con đã giữ từ thuở nhỏ” (Mc 10, 20).  Người đã chăm chú nhìn anh và đem lòng thương mến.  Người mời gọi anh tiến thêm một bước nữa:  “Hãy đem bán hết gia tài, bố thí cho người nghèo khó và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta” (Mc 10,21).  Trong khi người tín hữu Nhật Bản Kagawa mau mắn, vui tươi thực hiện ngay Lời Chúa thì người thanh niên lại sụ nét mặt, buồn rầu bỏ đi vì anh ta có nhiều của cải.

Qủa thật: “Đồng tiền đi liền khúc ruột”.  Có thể nói: “Tiền đã thắng tình”.  Lòng ham mê của cải đã thắng tình yêu dành cho Thiên Chúa và tha nhân.  Lòng tham đã bóp nghẹt con tim.  Tình yêu của anh chưa đủ mạnh để thúc đẩy anh làm điều nên làm và phải làm.  Thánh Phaolô cũng có cảm nghiệm ấy khi ngài viết:  “Điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm” (Rm 7,15).  Ngài cho đó là tội lỗi trong ta đã hành động, và chỉ có tin tưởng vào Đức Kitô mới giải thoát ta khỏi tình trạng ù lỳ đó.

Tình yêu phát sinh sức mạnh.  Thánh Augustinô quả quyết:  “Cứ yêu đi rồi làm điều gì mình muốn”.  Tình yêu sẽ thúc đẩy chúng ta phải làm một cái gì đó cụ thể cho anh em, một cái gì đó anh em đang thực sự mong đợi.  Chúng ta không thể nói yêu mến Chúa mà lại làm ngơ trước nhu cầu cấp bách của anh em.

“Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Thiên Chúa” (Mc 10,25).  Đây là một kiểu nói Á Đông, diễn tả một việc làm rất khó.  Đức Giêsu đã từng tham dự những bữa tiệc sang trọng của người biệt phái giàu có, từng ăn uống tại nhà những người thu thuế lắm tiền, từng chịu ơn những phụ nữ nhân đức nhiều của.  Vậy Người chỉ lên án những ai ham mê của cải, coi đồng tiền là chúa tể, làm nô lệ cho nó, để không dám mở tay ra với anh em và quảng đại với công việc của Thiên Chúa.

********

Lạy Chúa,

Có những lần lẽ ra phải cứu giúp người khác, nhưng vì ích kỷ, nên chúng con đã không làm. 
Có những lần lẽ ra phải hy sinh cho anh em, nhưng vì sợ phiền hà, nên chúng con đã làm ngơ.
Có những lần lẽ ra phải bỏ tiền trợ giúp một ai đó, nhưng vì so đo tính toán, nên chúng con lại thôi. 
Xin tha thứ cho chúng con, và xin đổ tràn tình yêu Chúa vào lòng chúng con, để chúng con có đủ can đảm bán tất cả những gì mình có mà mua được viên ngọc qúy là Nước Trời.  Amen!

Thiên Phúc

KHIÊM NHƯỜNG

Tại Vatican, trong Đền Thờ Thánh Phêrô có một bức tượng Chúa Chịu Nạn do Thorvaldsen (1770-1844), nhà điêu khắc Đan Mạch nổi tiếng thực hiện. Ngày kia một du khách đến viếng bức tượng, ông ta nhìn đi nhìn lại bức tượng nhiều lần rồi lắc đầu nói: “tôi nghe đồn bức tượng này nổi tiếng là đẹp lắm nhưng tôi chẳng thấy có gì là đẹp cả.”

Một người khác quỳ sau lưng ông liền lên tiếng nói: “Ông phải quì gối xuống mà nhìn thì mới thấy đẹp.”

Người du khách liền quì gối xuống. Bây giờ ông mới khám phá ra vẻ đẹp lôi cuốn của bức tượng Chúa Chịu Nạn.

* * * * *

Bạn thân mến! Muốn gặp gỡ Chúa, muốn đón nhận lòng thương xót của Người, con người cần phải quì gối trong khiêm tốn.

Đức Cha Fulton J. Sheen đã viết: “Chúa Giêsu không sinh ra ở giữa trời, nơi người ta có thể đứng thẳng để nhìn thấy Ngài, nhưng Ngài giáng sinh trong hang đá, nơi người ta phải cúi đầu, khom lưng xuống  để bước vào. Đó là một cử chỉ khiêm nhường.”

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I đã nói: “Trên thiên đàng không thiếu những người thu thuế và các cô gái điếm, nhưng chắc chắn không có kẻ kiêu ngạo”

Khiêm nhường bao nhiêu cũng không đủ, chỉ một chút kiêu ngạo cũng quá nhiều. Đừng vì mình đạo đức mà khép kín trong tự mãn, cũng đừng vì mình tội lỗi mà khép kín trong tuyệt vọng. Ơn Chúa chỉ đến với người biết mở rộng tâm hồn ra để đón nhận. Tội lỗi hay công đức đều có thể làm ta khép lại hay mở ra. Điều quan trọng là nhận biết mình luôn luôn cần ơn Chúa.

Tội lỗi hay hành động xấu không làm người ta mất sự công chính cho bằng tính tự mãn, thói kiêu căng. Người thu thuế đã thật sự phạm nhiều tội lỗi, nhưng hành động khiêm tốn trong việc cúi đầu đấm ngực ăn năn, nhìn nhận mình là người tội lỗi và hết lòng thống hối nên đã được công chính trước Thiên Chúa.

Ai muốn đón nhận Chúa cũng phải trở nên một người khiêm nhường, rất khiêm nhường: Khiêm nhường trong cảm tạ, khiêm nhường trong vâng phục, khiêm nhường trong yêu mến, và còn phải khiêm nhường trong sám hối, ăn năn, trở về.

* * * * *

Lạy Chúa! Mỗi khi con tưởng mình tốt lành thánh thiện, chính là lúc con đang ở trong nguy cơ phạm tội, xa Chúa. Trái lại, khi con mang trong lòng sự khiêm nhường, nhận biết mình tội lỗi bất xứng, chính là lúc con đang lãnh nhận ơn Chúa, đang cảm nếm được sự ngọt ngào của tình Chúa xót thương.

Lạy Chúa Giêsu là đấng hiền lành và khiêm nhường, xin ban ơn giúp sức cho con, để mỗi ngày qua đi là mỗi lần con được trở nên giống Chúa hơn chút, Amen .

Linh Xuân Thôn

CẦU NGUYỆN LÀ CHIẾN THUẬT

Trong cuộc khảo thí tại trường sĩ quan trẻ, vị Thiếu tá giám khảo hỏi một chuẩn uý :

– Trong một cuộc hành quân, đơn vị do anh chỉ huy rơi vào tình huống này : Phía trước và hai bên đơn vị của anh bị quân đich vây chặt, chúng chặn cả lối rút lui của anh, có nghĩa là đơn vị anh bị bao gọn, lúc đó anh xử trí thế nào?

Mọi con mắt của Ban Giám Khảo đổ dồn về phía anh sĩ quan trẻ, anh suy nghĩ một lát rồi đứng nghiêm trả lời quyết định:

– Thưa Thiếu tá và Ban Giám Khảo, tôi sẽ hạ lệnh : CẦU NGUYỆN

Tất cả Ban Giám Khảo nhìn nhau bỡ ngỡ, không ai nghĩ tới câu trả lời như thế. Viên Thiếu tá vỗ vai anh sĩ quan trẻ và nói:

– Anh hãy xử trí đúng như hôm nay nhé!

****************************

Sách Tin Mừng ghi lại cách sống của Chúa, chứa đựng cả một kho tàng về gương cầu nguyện:

  • Sau khi chịu Phép rửa tại sông Giođan, Chúa lên núi ăn chay và cầu nguyện, để bắt đầu cho bước đường truyền giáo sắp tới. 40 ngày đêm (Mt 4,2b), một Vị Thiên Chúa mang thân phận con người cũng phải ăn chay cầu nguyện để xin Thiên Chúa Cha chúc lành cho việc làm Chúa sắp thực hiện.
  • Chúa dạy hãy cầu nguyện nơi kín đáo, đừng huênh hoang chỗ đông người (Mt 5,4-6)
  • Chúa đã dạy các Tông đồ cách cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha. (Mt 4,7-14)
  • Chúa cầm 2 chiếc bánh, 5 con cá dâng lời cầu nguyện, chúc tụng Thiên Chúa Cha, để thực hiện một phép lạ vĩ đại: Hoá Bánh ra nhiều cho 5000 người đàn ông, không kể đàn bà, trẻ em ăn, và còn dư 12 thúng đầy. (Mt 14,12-21)
  • Chúa dạy nếu cùng nhau hiệp lời để cầu nguyện, ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì Thầy ở đó giữa họ. (Mt 18,19-20).
  • Trước khi chịu khổ hình Chúa đem theo một số tông đồ vào vườn Giệtximani để cầu nguyện cùng Thiên Chúa Cha. Trước sự thử thách Chúa sắp trải qua, mồ hôi hoà lẫn máu nhỏ xuống. Một sự thử thách cao đến tột độ đối với bản tính con người của Chúa. (Mt 26,36-46)
  • Một lời cầu nguyện của Chúa Giêsu gồm 26 câu , đoạn 17 trong Tin mừng Thánh Gioan.
  • Trên Thánh Giá trước khi tắt hơi thở Chúa dâng lên Thiên Chúa Cha lời nguyện cuối cùng :Thế là đã hoàn tất. (Ga 19,30b)

… … …

Tôi còn nhớ có lần tôi đọc trong tác phẩm SỐNG HẠNH PHÚC của TGM Fulton J. Sheen có một câu chuyện kể về tấm gương sáng về cầu nguyện của tổng thống Abraham Lincoln.

Một nhân chứng đương thời với A. Lincoln, kể lại rằng ông ta có sống với A. Lincoln trong ba tuần lễ ngay sau khi trận đánh Bull Rull kết thúc :

– Đêm ấy tôi không ngủ được. Tôi bèn thử dợt lại những gì phải nói trước công chúng sáng hôm sau đó. Đã quá nửa đêm, đúng ra là gần hừng đông. Và tôi nghe có tiếng thầm thì trong phòng Tổng Thống ngủ. Cửa phòng hé mở. Theo bản năng. Tôi bước lại gần và thấy một cảnh không thể nào quên được. Tôi thấy Tổng Thống đang quì bên một cuốn Kinh Thánh đang mở. Ánh sáng trong phòng chỉ vừa đủ. Ngài quay lưng về phía tôi. Tôi đứng lặng một lúc, quá đỗi bàng hoàng và kinh ngạc. Rồi tôi nghe Tổng Thống cầu nguyện :

–  “Lạy Chúa, Chúa đã nghe lời cầu khấn của Salômon trong đêm khuya, xin cho được ơn khôn ngoan. Xin Chúa nhậm lời con đây, con không thể dẫn dắt dân tộc này nếu Chúa không ra tay giúp đỡ con. Con là kẻ nghèo hèn và tội lỗi. Lạy Chúa, Chúa đã nhậm lời cầu xin của Salômon, xin hãy nghe lời con nài van mà cứu lấy đất nước này!”

Hình ảnh qua những tấm gương về việc cầu nguyện của anh chàng sĩ quan trẻ, của Tổng Thống A. Lincoln, đặc biệt qua Đức Giêsu đã để lại cho tôi những tấm gương đáng để cho tôi noi theo. Vì cầu nguyện chính là những lúc tôi được diện kiến với Chúa, để hàn thuyên tâm sự. Chính những lúc đó là lúc Chúa đang nghe tôi nói, và Chúa sẽ dẫn đường chỉ lối cho tôi đi. Câu trả lời của anh sĩ quan trẻ cho thấy một niềm xác tín đáng tin cậy nơi anh ta, đó là CẦU NGUYỆN.

Trong cuộc sống, thường tình tôi nghĩ đến Chúa khi gặp những đau khổ, thử thách, ngoài ra khi bình an, phẳng lặng tôi ít khi nào nhớ đến để cám ơn Chúa. Con thật là vô ơn bạc nghĩa quá Chúa nhỉ?

****************************

Lạy Chúa, từ đây xin cho con biết đến với Chúa trong cuộc sống hằng ngày. Những lúc thư thái bình an, cũng như lúc gặp gian nan thử thách, cho con biết đến với Chúa để cùng hàn huyên tâm sự chia sẻ niềm vui, nỗi buồn. Xin giúp con biết thực tâm tin tưởng, cậy trông, phó thác nơi Trái Tim đầy lòng thương yêu của Chúa.

  • Biết cảm tạ, tri ân Chúa đã ban cho con được sự bình an trong một ngày sống.
  • Biết  tin tưởng, phó thác vào ơn Chúa giúp, để con dùng nghị lực vượt qua những khó khăn. Amen

Pet. PBH

PHẢI RỬA CHÂN CHO NHAU

Người biết mình sắp qua đời thường để lại di chúc cho con cái.  Di chúc nói lên ước nguyện, lời nhắn nhủ hay lệnh truyền của người sắp ra đi.  Có thể nói Thầy Giêsu khi biết cuộc Khổ Nạn gần đến cũng đã để lại một di chúc kép cho các môn đệ dấu yêu:  Ngài đã rửa chân cho các môn đệ và nhất là Ngài đã lập bí tích Thánh Thể.

Thứ Năm Tuần Thánh là ngày chúng ta đặc biệt nhớ đến di chúc ấy.  Sống di chúc của Chúa Giêsu là cách biểu lộ tình yêu đối với Ngài.  Có nhiều điểm giống nhau nơi việc Rửa chân và lập Bí tích Thánh Thể.  Cả hai đều là những cử chỉ Thầy Giêsu làm lúc cận kề cái chết.  Cả hai đều được làm trong bầu khí một bữa ăn tối gần lễ Vượt Qua.  Vào lúc cuối đời, sau bao năm tận tụy với sứ mạng phục vụ, Thầy Giêsu muốn gói ghém trong hai cử chỉ đơn giản ấy lễ hiến dâng đời mình.  Cả hai đều tượng trưng cho cái chết tự hạ trên thập giá.

Rửa chân đòi Thầy phải cúi xuống rất sâu, phải trở thành tôi tớ phục vụ.  Rửa chân là điều mà tôi tớ không hẳn phải làm cho chủ, thì bây giờ Thầy làm cho trò.  Cái chết trên thập giá là sự phục vụ cao nhất được diễn tả qua việc rửa chân.

Bí tích Thánh Thể còn diễn tả cách tuyệt vời hơn cái chết hy sinh ấy.  Trong bí tích này, tấm bánh trở nên Mình Thầy bị bẻ ra và trao đi.  Rượu trở nên Máu Thầy, Máu sẽ bị đổ ra cho muôn người trên thế giới.  Trong cả hai biến cố Rửa chân và Bí tích Thánh Thể, Thầy Giêsu đều mời các môn đệ tham dự cách tích cực.  Tham dự vào cái chết của Thầy bằng cách để cho Thầy rửa chân, hay tham dự bằng cách ăn uống Mình và Máu Ngài.

Hai biến cố trên không phải là chuyện chỉ xảy ra một lần bởi Thầy Giêsu.  Thầy mời các môn đệ cũng làm như Thầy, và lặp đi lặp lại những cử chỉ đó.  “Anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 14).  “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy (Lc 22, 19).  Cúi xuống phục vụ tha nhân và lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể sẽ giúp chúng ta tham dự vào cái chết và sự Phục sinh của Chúa Giêsu.  Muốn ở lại trong tình thương của Thầy Giêsu, cần giữ lệnh Thầy truyền (Ga 15, 10).

Mà “đây là lệnh truyền của Thầy, anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15, 12).  Hơn nữa, Thầy Giêsu còn cho ta một cách khác để ở lại trong Thầy: “Ai ăn Thịt và uống Máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6, 56).

Thứ Năm Tuần Thánh là ngày lễ của Tình Yêu theo đúng nghĩa nhất. Yêu là cúi xuống phục vụ, yêu là bẻ đời mình cho tha nhân như Thầy Giêsu.  Ước gì chúng ta được ở lại trong tình yêu của Giêsu nhờ biết yêu.

****************************************

Lạy Thầy Giêsu, khi Thầy rửa chân cho các môn đệ, chúng con hiểu rằng Thầy đã làm một cuộc cách mạng lớn.  Thày dạy chúng con một bài học rất ấn tượng khi Thầy bưng chậu nước, bất ngờ đến với các môn đệ trong bữa ăn, khi Thầy cúi xuống, dùng bàn tay của mình để rửa chân rồi lau chân cho họ. 

Chắc Thầy đã nhìn thật sâu vào mắt của từng môn đệ và gọi tên từng người.  Giây phút được rửa chân là giây phút ngỡ ngàng và linh thánh. 

Lạy Thầy Giêsu, thế giới chúng con đang sống rất thấm bài học của Thầy.  Chúng con vẫn xâu xé nhau chỉ vì chức tước và những đặc quyền, đặc lợi.  Ai cũng sợ phải xóa mình, quên mình.  Ai cũng muốn vun vén cho cái tôi bất chấp lương tri và lẽ phải.  Khi nhìn Thầy rửa chân, chúng con hiểu mình phải thay đổi cách cư xử.  Không phải là ban bố như một ân nhân, nhưng khiêm hạ như một tôi tớ.  Từ khi Thầy cúi xuống rửa chân cho anh Giuđa, kẻ sắp nộp Thầy, chúng con thấy chẳng ai là không xứng đáng cho chúng con phục vụ.

Lạy Thầy Giêsu, Thầy để lại cho chúng con một di chúc bằng hành động.  Thầy đã nêu gương cho chúng con noi theo, để rửa chân chẳng còn là chuyện nhục nhã, nhưng là mối phúc.  Xin cho chúng con thấy Thầy vẫn cúi xuống trên đời từng người chúng con, để nhờ đó chúng con có thể cúi xuống trên đời những ai khổ đau bất hạnh.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu

TÌM LẠI SỰ NGẠC NHIÊN

Mấy năm trước, tờ Chicago Tribune (Diễn đàn Chicago) có đăng bài viết của Amelia Bahl nhan đề: “Đi đạo với Bà Tôi”.  Bài được viết theo thể đối thoại như sau;

Ricky hỏi:
– Thưa bà tại sao cây lại thay lá vào cuối mùa hạ?

Bà trả lời:
– Vì những lá cây cũ mèm xơ xác rồi, cần mặc lấy lá mới.
– Những lá mới từ đâu đến vậy?
– Từ sâu dưới lòng đất, bà mẹ thiên nhiên luôn bận bịu chuẩn bị lá mới cho chúng.
– Bà ơi, có bao giờ bà thấy bầu trời giống như một hồ nước úp lộn ngược không?
– Và những áng mây bé tí kia trông giống những chiếc thuyền buồm phải không nào?
– Cháu thắc mắc chả hiểu chúng dương buồm đi về đâu?
– Có lẽ đi dự “hội mây” đó cháu.
– Chúng sẽ làm gì ở đó nhỉ?
– Có lẽ để quyết định xem trái đất có cần mưa thêm không?
– Chà! Chúa lo lắng tất cả mọi sự, bà nhỉ?

******************************

Bà của Ricky thực là một gương mẫu hoàn hảo cho người trưởng thành.  Bà không bị mất cảm thức của mình về những điều ngạc nhiên của trẻ thơ.  Biết ngạc nhiên là biết nhìn thấy sự vật giống như trẻ con nhìn thấy chúng.  Là biết đặt ra những câu hỏi tương tự như trẻ con thường hỏi.  Biết ngạc nhiên là biết nhìn mọi sự như chúng ta nhìn chúng lần đầu tiên, nghĩa là nhìn chúng với sự tươi mát lần đầu, toả ra sự mới mẻ từ đôi tay tạo dựng của Chúa khi chưa hề bị tì ố.  Biết ngạc nhiên là biết nhìn vào một cánh đồng cỏ ướt đẫm sau cơn mưa và nhận ra những dấu chân của Chúa trên đó.  Biết ngạc nhiên là biết nhìn vào đôi mắt trẻ thơ và nhận ra dấu tay của Thiên Chúa ẩn chứa trong đó.

Có một ví dụ thú vị cho vấn đề chúng ta đang bàn được thấy trong quyển sách của Charles Colson tựa đề “Born Again” (Tái sinh).  Colson một trong những người bị kết án trong vụ Watergate của tổng thống Nixon vào thập niên 1970.  Về sau, ông đã trở lại đạo Chúa.  Sự trở lại này đã để lại một ấn tượng sâu đậm trong tâm hồn ông mãi đến hôm nay.

Trong một đoạn sách của mình, Colson đưa chúng ta lùi về quá khứ 20 năm trước để tham dự một mùa hè thú vị mà ông đã trải qua cùng hai cậu nhóc, con của ông. Ông đã mua cho chúng một chiếc thuyền buồm dài 14 bộ (quãng 4 mét rưỡi) và đem nó ra hồ.  Khi cả ba đến bờ hồ, một cơn mưa phùn nho nhỏ của mùa hạ bắt đầu lất phất.  Tuy nhiên điều này chẳng làm cho họ quan tâm.

Sau khi thuyền rời khỏi bến, họ chỉ còn nghe thấy tiếng nước vỗ mạn thuyền và tiếng chiếc buồm sũng nước vỗ phành phạch trong gió.  Cậu bé Chris, 10 tuổi được giao nhiệm vụ điều khiển chiếc thuyền. Khi nhận thức được vai trò thuyền trưởng của mình, gương mặt cậu bé trông mới rạng rỡ làm sao! Ánh mắt cậu toé lên nỗi hào hứng khi biết rằng cậu đang nắm trong tay quyền điều khiển sức mạnh của gió. Nhìn vào khuôn mặt và ánh mắt cậu con trai, Colson hết sức sửng sốt.  Lúc đó, ông tâm sự với Chúa và ông vẫn còn nhớ mãi những lời tâm sự ấy:

“Lạy Chúa, xin cảm tạ Ngài đã ban cho con đứa con trai này, đã ban cho con giây phút kỳ dịêu này. Chỉ cần nhìn vào đôi mắt đứa nhỏ này, đời con đã thoả mãn rồi.  Trong tương lai, dù có xảy đến điều gì cho dẫu ngày mai con có phải chết, thì đời sống của con kể cũng đã mãn nguyện lắm rồi. Tạ ơn Chúa”.

Sau đó, Colson ngạc nhiên vì điều ông vừa làm. Trước đó, ông đâu có tin rằng Thiên Chúa có bản ngã, thế mà trong ngẫu hứng, ông lại thưa chuyện với Ngài như một Đấng có bản ngã.  Trong niềm vui vào giây phút ấy, tim ông đã vượt khỏi trí não để biểu lộ lời xác nhận sự hiện hữu của một Thiên Chúa hữu ngã.  Qua chính những lời cầu nguyện của mình, ông khám phá rằng dù ông chưa tự chứng minh được là có Thiên Chúa, ông vẫn có thể thưa chuyện với Ngài. Làm sao ông có thể thưa chuyện với Ngài được nếu không phải là tận thâm sâu tâm hồn ông vẫn ý thức rằng có ai đó đang lắng nghe ông từ một nơi nào đó. Thực thế, vào buổi trưa hè mưa phùn ấy, Colson đã khám phá ra cho mình điều mà các tác giả linh đạo luôn nhất trí với nhau, đó là: Sự ngạc nhiên là trọng tâm mọi lời khẩn nguyện và thờ phụng.

Điều này dẫn chúng ta đến với sứ điệp thực tiễn của bài Phúc Âm hôm nay.

Nếu chúng ta cảm thấy khó cầu nguyện và thờ phụng Chúa, có thể là vì chúng ta đã để cho cảm thức ngạc nhiên như trẻ con của mình bị khuất sau đám mây: có lẽ vì chúng ta đã không nghiêm chỉnh nghe theo lời Chúa Giêsu nói trong Phúc Âm hôm nay; “Ai không biết đón nhận nước Chúa như một trẻ nhỏ thì sẽ chẳng bao giờ vào được đó đâu”.

Có lẽ chúng ta đã đánh mất cảm thức ngạc nhiên như trẻ con của mình về vũ trụ. Có lẽ từ lâu lắm rồi chúng ta không còn đi bộ dạo chơi và trò chuyện với con cháu chúng ta.

Nhà viết tiểu thuyết hiện đại John Updike đã cảnh cáo chúng ta điều có thể xảy ra nếu chúng ta không còn biết tiếp xúc với những thành viên trẻ trong gia đình Thiên Chúa như sau:

“Nếu người lớn chúng ta không biết tiếp tục trò chuyện với trẻ con, chúng ta sẽ không còn là những con người nữa, mà chỉ còn là những cỗ máy biết ăn và biết kiếm tiền”. Nhà thừa sai vĩ đại Albert Schweitzer nói: “Bi kịch của cuộc sống chính là chúng ta đã chết mặc dù vẫn mang tiếng là đang sống”. Khi cảm thức ngỡ ngàng trước vũ trụ bắt đầu lịm tắt thì ý thức về cầu nguyện và phụng thờ cũng bắt đầu tàn lụi theo. Đây là một lời rất quan trọng và thực tiễn mà Chúa Giêsu dành cho chúng ta qua bài Phúc Âm hôm nay.

******************************

Để kết thúc xin mời anh chị em yên lặng hiệp ý cầu nguyện cùng tôi:

“Lạy Chúa, xin giúp chúng con giữ mãi được cảm thức ngạc nhiên trước cuộc sống, đừng để chúng con trở nên mù loà không nhìn thấy dấu tay Chúa trong vũ trụ quanh chúng con, đặc biệt nơi ánh mắt và khuôn mặt của các trẻ nhỏ.

Xin giúp chúng con biết luôn tiếp xúc với những trẻ em chung quanh chúng con, để đừng bao giờ quên lời Chúa Giêsu truyền dạy; “Kẻ nào không tiếp nhận nước Chúa như một trẻ nhỏ thì sẽ chẳng bao giờ vào được đó”.

Xin hãy giúp chúng con tái khám phá ra cách nào để ngạc nhiên ngõ hầu nhờ đó chúng con có thể tìm lại được cách thức cầu nguyện và phụng thờ Chúa.

Chúng con nguyện xin nhờ Chúa Giêsu là Đấng hằng sống hằng trị cùng Chúa và Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.”

Lm Mark Link, SJ