CĂN BỆNH NGUY HIỂM

Tháng 10 năm 1990, ông Nhêbôisa Bôtrêvích, nhà tiên tri nổi tiếng gốc Nam Tư, người đã tiên báo bức tường Bá Linh sụp đổ và nước Đức thống nhất, trong cuộc gặp mặt tại nhà văn hóa Liên Xô, đã buồn rầu thông báo: chẳng bao lâu nữa, trên thế giới sẽ xuất hiện một căn bệnh nguy hiểm được truyền qua những tờ giấy bạc (x. Sáng Tạo số 44, tháng 10 năm 1990).

Nghe lời thông báo ấy, thú thật ban đầu tôi không tin.  Ba láp!  Nhưng khi tổng hợp những sự kiện nước ngoài: Tỷ phú Max Well chết đột ngột trên du thuyền để lại món nợ bất minh hàng triệu đô la; hàng loạt chính khách Nhật Bản rớt đài vì dính líu làm ăn với những công ty đa quốc gia; quan tòa Ý Falcon bị sát hại, tôi nghĩ có thể có một căn bệnh nguy hiểm truyền qua tiền bạc.  Rồi nối kết với một vài sự kiện gần đây trong nước: đường giây sextour Bambi bị đem ra ánh sáng, và băng cướp “quý tử” bị hầu tòa, tôi nghiệm ra thật có một căn bệnh như thế.  Để rồi hôm nay tiếp cận với Phúc Âm, khi Thiên Chúa không chấp nhận cho kẻ tin đặt Ngài đứng chung liên danh với tiền bạc, xin được chia sẻ về dấu vết của căn bệnh ấy.  Phần gọi tên xin nhường cho cộng đoàn.  Chỉ biết rằng một khi mắc phải căn bệnh ấy người ta khinh thường tất cả: phá đổ đạo đức, khai trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống và đó là căn bệnh nguy hiểm cho lòng tin tín hữu.  Có ba dấu vết:

1. Dấu vết thứ nhất được nhận ra trong thái độ cần tiền.

Tiền bạc vốn lạnh lùng.  “Lạnh như tiền.”  Tiền chẳng quen ai, nhưng ai cũng quen tiền: trẻ khóc đòi dòng sữa mẹ, nhưng được người lớn dỗ dành dúi vào tay một tờ giấy bạc, lâu ngày thành quen, để sau này mỗi lần khóc lại thích nhận lấy tờ giấy bạc thay cho nỗi sầu nhớ mẹ.  Một người nhà quê chẳng biết chữ nhưng trong sinh hoạt hằng ngày đố ai thấy bác tính toán sai một đồng.

Tiền chẳng có tình cảm, nhưng không thiếu những tình cảm với tiền: được tiền thì vui cười hỉ hả, mất tiền thì rầu rĩ xót xa.  Ngày tết lì xì tiền thay cho phước thọ và ngày cưới, mừng tiền thế cho tình thân.  Dù Tết hay Cưới, người ta đều chúc: “Tiền vô như nước sông Đà, tiền ra nhỏ giọt như cà phê phin.”

Tiền chẳng cần ai, nhưng ai cũng cần tiền: chưa sinh ra đã cần tiền để mẹ tròn con vuông, và chết rồi vẫn cần tiền để ma chay tốt đời đẹp đạo.  Trẻ cần tiền ăn học, lớn cần tiền để gầy dựng sự nghiệp, và già cần tiền để dưỡng thân.  Đời cần tiền để phát triển, nhưng đạo cũng cần tiền để xây dựng mở mang.

Tiền cần nên tiền quý.  Người làm ra tiền là người giỏi, nghề hái ra tiền là nghề trọng, người có nhiều tiền được nể vì.  Cứ như thế đồng tiền ung dung đi vào tư tưởng lời nói và việc làm của con người.  Tình trạng cần tiền lâu ngày ủ mầm có thể dẫn đến nguy cơ lệch lạc trong cách nhìn con người và sự việc, nhất là lẫn lộn giữa sở hữu và hiện hữu, giữa tài sản và con người.  Người ta tay không có thể bình đẳng, nhưng đồng tiền đặt lên ai thì cán cân nghiêng về người ấy.  Đáng giá trị rốt cuộc là đấu giá cả.  Và nguy hiểm là ở chỗ đó.

Sáng nay quan sát thiếu nhi sinh hoạt, thấy có một đội không chơi, hỏi ra mới biết đội đó không chơi chỉ vì thiếu vắng một em đóng tiền nhiều nhất.

2. Dấu vết thứ hai được nhận ra trong thái độ kiếm tiền.

Đối với nhiều người, kiếm tiền là một trách nhiệm thuộc bậc sống, bởi lẽ có tiền mới trang trải được những nhu cầu cơm ăn áo mặc hằng ngày.  Nhưng vấn đề không phải là kiếm tiền mà là cách kiếm tiền.

Kiếm tiền bằng lao động chân tay trí óc, đó là điều chính đáng, nhưng quá lo lắng đến kiếm tiền để rồi quên đi những trách vụ khác trong đạo làm người và làm con Chúa, thì ở đó căn bệnh đã xuất hiện ở dạng cấp tính, có nguy cơ gây thiệt hại cho chính bản thân và cho những người lân cận.

Kiếm tiền bằng thù lao phù hợp với công sức bỏ ra thì đó là lương thiện.  Nhưng kiếm tiền bằng cách chỉ đuổi theo tiền mà không biết đến giá trị đạo đức nào khác, hoặc tự động chấp nhận “thủ tục đầu tiên”, hay “quà biếu trên mức tình cảm” của một thứ lương đồng nghĩa với sự đút lót hoặc chủ động vi phạm lẽ công bình như làm hàng giả thuốc giả “sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi” của một thứ kinh tế mánh mung, thì ở đó căn bệnh đã phát triển ở dạng mãn tính chẳng những gây thiệt hại mà còn chà đạp lên tiếng nói lương tâm khi ăn trên mồ hôi nước mắt kẻ khác.  Lúc đó lương tâm nhẹ hơn lương lậu, lương thiện nhỏ hơn lương tiền, và lương tri phải nhường cho lương bổng lên ngôi.  Thiên Chúa ư?  Ngài đi chỗ khác chơi, để yên cho tôi làm giàu!

Kiếm tiền để sống là đẹp, nhưng thật thảm hại khi sống chỉ để kiếm tiền.  Đồng tiền ở đấy đã xuất hiện là một căn bệnh nguy hiểm.  Thảo nào người ta vẫn bảo “tiền bạc” là đồng tiền đi liền với bạc bẽo.

Ở đây xin nhường lời cho cụ ông trước kia giàu nứt đố đổ vách, giờ gặp cảnh khố rách áo ôm quyền chia sẻ kinh nghiệm: “Khi còn trẻ người ta sẵn sàng phí sức khỏe để kiếm tiền, nhưng khi về già người ta lại sẵn sàng phí tiền để tìm lại sức khỏe.”  Mà nào có được đâu!  Mời suy nghĩ.

3. Dấu vết thứ ba được nhận ra trong thái độ xài tiền.

Cần tiền – kiếm tiền – xài tiền.  Không có gì đáng nói nếu chỉ có thế.  Nhưng một khi xem tiền như một phương tiện vạn năng “có tiền mua tiên cũng được” lâu ngày sẽ trở thành di căn.  Hoặc trong lối sống ghẻ lạnh với những giá trị đạo đức để rồi hóa giá tất cả: phẩm giá, lẽ phải, tình thương, nhân tính…  Lối sống ấy chỉ có câu hỏi “bao nhiêu?”  Ngoài ra chấm hết.  Không lạ gì đồng tiền gây nên tệ hại theo kiểu nói “tiền tệ.”  Hoặc trong niềm tin dẫn tới hậu quả xem thường đạo giáo buôn thần bán thánh và hạ bệ Thiên Chúa, để tôn sùng tiền bạc làm thượng đế của mình như một câu vè truyền miệng đó đây: “Tiền là tiên là Phật, là sức bật con người, là nụ cười tuổi trẻ, là sức khỏe người già, là cái đà danh vọng, là chiếc lọng che thân, là cán cân công lý.  Hết ý!”

Vẫn biết “đồng tiền đi liền khúc ruột” theo kinh nghiệm của các bậc tiền bối là một lời dạy khôn ngoan rất gần với sự tiết kiệm vốn phải có cho mọi kẻ giữ tiền.  Nhưng khi cẩn trọng quá hoá keo kiệt trong những tiêu pha, đến nỗi không dám bỏ ra một đồng cho nhu cầu vật chất hay tinh thần thì xem ra đồng tiền lúc ấy đã “làm phiền” khúc ruột không ít.  Hoặc khi cẩn trọng quá hóa bịn rịn trong thái độ đối với tiền như “ra đường chắt bóp tiêu pha, về nhà ngây ngất lăn ra đếm tiền” thì chừng như đã để đồng tiền “xích xiềng” khúc ruột mà không ai biết.

Ngược với thái độ cẩn trọng là một sự hoang phí tiêu xài vung vít.  Khi vung vít nhẹ là khi “vung tay quá trán” con nhà lính tính nhà quan làm một xài hai.  Khi vung vít nặng là khi “vung tiền qua cửa sổ,” dấu hiệu của sự vô độ tiêu xài.  Rồi khi để cho đồng tiền len lỏi vào trong tính toán hằng ngày và giấc ngủ hằng đêm theo kiểu lên sàn thị trường chứng khoán ngợp choáng thời giờ, thì lúc ấy khúc ruột đã nuốt trửng đồng tiền, và hậu quả duy nhất chính là đồng tiền “xay nghiền” khúc ruột.

Làm sao tín hữu có thể dung hòa lòng tin với những sinh hoạt vốn liên hệ đến tiền?  Thưa dựa trên Phúc Âm chỉ cần một chữ Tín.  Nếu giàu, hãy tín trung với Thiên Chúa để biết xài tiền phù hợp với bác ái, vì tiền là một đầy tớ tốt nhưng lại là một ông chủ xấu.  Nếu nghèo, hãy tín thác nơi Thiên Chúa để từng ngày kiếm tiền mà không vi phạm công bình, vì chỉ để một đồng xu trên mắt thôi cũng đủ bị che chắn hết tầm nhìn hướng thượng.  Và dẫu giàu hoặc nghèo, hãy tín nghĩa để gần tiền mà chẳng hôi hám mùi tiền.  Tiền bạc như dòng nước, nếu không cẩn thận người ta có thể bị cuốn trôi.

Chữ TÍN ấy là thuốc chủng ngừa căn bệnh nguy hiểm mà Bôtrêvích đã tiên báo.

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống – Trích dẫn từ “Nút vòng xoay”

HUYỀN NHIỆM TÌNH BẠN

Nếu giữa sa mạc hoang vắng và cằn cỗi, một cụm cỏ hay đóa hoa dại là cả một bầu trời hy vọng cho người lữ khách; và nếu giữa sa mạc nóng cháy, một tiếng suối róc rách là cả nguồn hy vọng tràn trề cho người lữ thứ, thì tình bạn đích thực là một hồng ân lớn lao mà Thiên Chúa trao tặng cho chúng ta trong hành trình cuộc đời.  Một hành trình rất dài và rất xa mà ta không thể đi một mình!  Thế nên, “bạn hữu” vừa là một ý niệm có một vị thế trong trái tim vừa là một huyền nhiệm trong đời sống.  Chắc hẳn nó vượt lên trên những nét điểm xuyết cho bức tranh cuộc đời ta, làm cho cuộc đời ta đầy màu sắc, phong phú và có giá trị.  Do đó, có được người bạn tốt được ví như có cả một kho tàng (Cn 6,14).

Tình bạn có thể bắt đầu ở những hoàn cảnh khác nhau, và người ta kết bạn cũng có nhiều lý do khác nhau.  Triết gia vĩ đại Aristotle nói, đời người thường có ba loại tình bạn [1].  Trước hết, đó là tình bạn vì lợi ích bản thân, ví như tình bạn của những người làm ăn buôn bán hay những tương quan xã giao.  Có thể nói đây là mức độ thấp nhất của tình bạn, theo tôi, cấp độ này chưa được gọi là tình bạn bởi đó chỉ là những tương quan xã hội nhằm mưu cầu ích lợi.  Thứ hai là tình bạn của những người cùng chia sẻ những mối quan tâm hay cùng sở thích.  Loại tình bạn này có vẻ “khá hơn” vì nó không nhằm đến việc thu tích lợi ích cho bản thân, song là cùng chia sẻ niềm vui qua việc cùng tham gia vào những hoạt động nào đó mà họ thích, như: thể thao, âm nhạc, hội họa, và nhiều mối bận tâm chung khác.  Sau cùng là loại tình bạn giữa những người chân thành, họ kết bạn vượt lên trên lợi ích bản thân và sở thích mà vì thiện ích cho người bạn của mình.  Nói cách khác, họ kết bạn vì nhắm đến sự thiện hảo của bạn mình và mong muốn những điều thiện hảo cho người bạn của mình.

Trên thực tế, nhiều lúc tình bạn bắt đầu từ những tương giao xã hội hay cùng sở thích, nhưng nó dần được “nâng cấp” và lớn lên do nó tìm được sự đồng điệu và ước ao cho nhau điều thiện hảo; tuy nhiên, cũng có những “tình bạn” chỉ dừng lại ở mức độ như lúc ban đầu mà thôi.  Thật ra, người ta có thể có nhiều bạn, như bạn làm ăn, bạn đồng môn, đồng nghiệp, nhưng bạn thân thì chỉ có hạn bởi vì tình bạn chân thành luôn đặt trên nền tảng của tình yêu vô vị lợi và thiêng liêng.  Tình yêu ấy ước mong sự thiện hảo cho người bạn của mình.  Tình yêu ấy dẫn đến thái độ can đảm sửa lỗi cho nhau (x. Cn 27,5) để giúp nhau cùng thăng tiến, ngõ hầu làm cho cuộc đời của ta trở nên sung mãn và tự do hơn, hạnh phúc hơn.  Bên cạnh yêu thương, yếu tố tôn trọng hẳn là quan yếu trong mối tương quan bạn hữu.  Tôn trọng là tôi không bắt buộc bạn tôi phải giống tôi.  Tôi không bắt buộc bạn tôi phải “tốt như tôi.”  Tôi hiểu và chấp nhận bạn như bạn là.  Và bạn cũng đón nhận tôi với con người thực của chính tôi, với tất cả những yếu đuối và năng lực của tôi.  Chúng ta là bạn của nhau khi chúng ta hiểu và đón nhận sự độc đáo của nhau.  Tôn trọng lẫn nhau là chấp nhận và vượt qua những khác biệt để bổ túc cho nhau, nhờ đó tạo ra sự phong phú.

Viết tới đây, tôi cảm thấy mình được đánh động sâu xa khi nghĩ về tới tình bạn trong Chúa của Những Bạn Đường Đầu Tiên của Dòng Tên, cách đặc biệt là tình bạn của Thánh I-nhã, Thánh Phêrô Farve và Thánh Phanxicô Xaviê.  Trong thời gian các ngài ở đại học Paris, các ngài đã giúp đỡ nhau tiến lên trên con đường học tập và đi sâu vào mối tương quan thiết thân với Thiên Chúa.  Các ngài đã luôn mưu cầu ích lợi thiêng liêng cho nhau và chia sẻ những kinh nghiệm thiêng liêng cho nhau.  Sau này, tình bạn sâu xa ấy được Thánh Phanxicô diễn tả ra bên ngoài bằng cách cắt tên và chữ ký của các bạn, bỏ vào một túi nhỏ và luôn đeo trước ngực – để luôn nhớ tới những người bạn của mình – khi ngài được sai đi sứ vụ ở miền Viễn Đông xa xôi.

Nhưng nếu có những tình bạn chân thành, đáng ngưỡng mộ thì cũng không thiếu những kẻ lợi dụng bạn bè để mưu cầu ích lợi cá nhân.  Gặp phải những người bạn như thế quả là bất hạnh và đau khổ.  Thánh vịnh gia cũng phải thốt lên trong hoàn cảnh bi đát ấy: “Cả người bạn thân con hằng tin tưởng, đã cùng con chia cơm sẻ bánh, mà nay cũng giơ gót đạp con” (Tv 40,10).  Những kinh nghiệm đau thương này cho chúng ta biết phải sáng suốt lựa chọn bạn bè, đôi khi cũng phải thật dè dặt.  Đây cũng là một khía cạnh của huyền nhiệm tình bạn.  Hóa ra, tình bạn cần phải được “thử nghiệm” trong những gian truân và thời gian hẳn là “phép thử” khả dụng nhất.  Chính thời gian và thử thách làm cho tình bạn càng ngày càng trở nên “chất” hơn, nghĩa là kho tàng ấy ngày càng lớn mạnh và vững chắc hơn.  Quả thế, với thời gian, tình bạn chân thành được lớn lên trong khi thấy những lỗi lầm, yếu đuối và qua việc chia sẻ những ước mơ.  Tình bạn được củng cố khi những điều tận thâm tâm được thốt lên và những đau đớn mất mát đau thương được đồng cảm.  Tình bạn sẽ sống mãi dù có những hiểu lầm và nó được lớn mạnh nhờ vượt qua những nỗi sợ hãi.  Tình bạn đích thực vượt lên trên những quà tặng vật chất; và đôi lúc nó thực sự lớn lên nhờ những nỗ lực, hy sinh và cả sự thương tổn.  Điển hình như tình bạn của Chúa Giêsu và Thánh Phêrô.  Vì thế, một tình bạn thực sự vững bền nhờ những thử thách và gian khổ, bởi trong gian nan thử thách ta mới biết đâu là người bạn đích thực, như sách Huấn Ca nói: “Có người là bạn khi đồng hành với con, nhưng ngày con gặp nạn, nó chẳng còn là bạn nữa.  Khi con gặp may, thì nó chẳng khác nào chính con, nhưng lúc con sa cơ, nó liền chống lại và lánh mặt con” (Hc 6,10-12).

Tình bạn đích thực không thể mua bán hay có được nhờ những mưu mô thấp hèn.  Tình bạn chỉ có thể là quà tặng của Thiên Chúa ban, để nâng đỡ con người trong hành trình cuộc đời, để cuộc đời họ sung mãn và hạnh phúc hơn.  Nhiều khi chính ta cũng không hiểu vì sao ta là bạn với người đó, cũng không nhớ lúc nào tình bạn nảy sinh.  Tình bạn chân thành vẫn là một huyền nhiệm nhưng ta có thể hiểu rằng, đó là ân sủng – quà tặng của Thiên Chúa.

Xin mượn lời của Anselm Grün trong “Một chút suy gẫm về huyền nhiệm của tình bạn” để kết thúc. Đó cũng là điều tôi mong ước gởi đến bạn:

Tôi mong bạn có một bạn trai,
với anh, bạn có thể chia sẻ những suy nghĩ,
các tình cảm và các kinh nghiệm của mình.
Tôi mong bạn có một người bạn gái,
gần bên cô, bạn có cảm tưởng như bạn đang ở nhà mình,
gần bên cô, bạn cảm thấy được con người đích thực của bạn,
gần bên cô, lòng bạn dâng lên lòng biết ơn đã có được cho đời mình,
và… cho tình bằng hữu của mình.

Trình Phan Sinh, SJ
[1] X. Aristotle, Nicomachean Ethics, (Indianapolis/Cambridge: Hackett Publishing Company, Inc., 2014), 136-174.

CHỈ VÀI BƯỚC THÔI

Đức Cha Bùi Tuần viết: “Tôi thấy từ nhà ông phú hộ đến chỗ ông ăn mày Ladarô chỉ khoảng vài bước, nghĩa là cách nhau chỉ có cái cổng.  Khi sống, ông phú hộ đã không chịu bước vài bước đó, để cảm thương và cứu khổ cho người hành khất Ladarô luôn nằm đó (x. Lc 16,19-26).  Hậu quả là khi chết rồi, người phú hộ đó đã phải ném vào vực sâu hoả ngục, xa cách thiên đàng cao sang vời vời.  Vài bước vô tâm đã đưa tới cực hình vô tận…  Dụ ngôn người Samari tốt lành (x. Lc10,30-32) cho thấy: cũng chỉ vài bước thôi, thầy Tư tế và thầy Lêvi đã tránh sang bên kia đường, để khỏi cứu nạn nhân.  Lý do họ vịn vào để tránh cứu nạn nhân, có thể là vì quá bận với những công tác tôn giáo ở nhà, hoặc vì không rõ lý lịch nạn nhân.  Và họ an tâm.  Nhưng Chúa Giêsu coi đó là một an tâm xấu, có thể là một tội đáng phải phạt.”

Lối hành xử của ông Phú hộ “mackeno” hay thầy Tư tế và Lêvi “tránh sang một bên”, biểu tượng cho thái độ sống thờ ơ, dửng dưng, mặc kệ, đó là căn bệnh thời đại: vô cảm.

Có ba cấp độ vô cảm khác nhau trong đời sống hàng ngày.

Thứ nhất là vô cảm trước người khác, hiểu theo nghĩa là một hay nhiều người cụ thể, ở ngay trước mặt, như người thân trong gia đình, hàng xóm hay bất cứ ai đó gặp tai nạn ngoài đường.

Thứ hai là vô cảm trước đất nước hiểu theo nghĩa một cộng đồng mà mỗi người là một thành viên.

Thứ ba là vô cảm trước đồng loại, bao gồm cả những người ở xa, xa xôi và xa lạ, thuộc một đất nước khác hay một lục địa khác.

Tạm thời, xin gác loại vô cảm thứ ba lại. Chỉ tập trung vào hai loại vô cảm thứ nhất và thứ hai.  Lý do: một, đó là những vấn đề bức xúc nhất hiện nay; hai, sự vô cảm thứ ba chỉ khắc phục được nếu người ta đã vượt qua được hai loại vô cảm đầu tiên: Không hy vọng có người biết xúc động trước nỗi đau khổ của ai đó, ở châu Phi chẳng hạn, nếu người ta cứ dửng dưng trước những đau khổ ngay trước mặt và trước mắt mình.  Nếu có, đó chỉ là chút cảm xúc mang mùi lãng mạn chủ nghĩa; nó thoáng qua, rồi tắt, chứ chắc chắn sẽ không dẫn đến bất cứ một hành động cụ thể nào cả.

Vô cảm trước đất nước có nhiều biểu hiện, nhưng trung tâm vẫn là sự dửng dưng, hay nói theo chữ quen thuộc ở Việt Nam lâu nay, là mặc kệ.  Đất nước nghèo đói ư?  Mặc kệ!  Đất nước càng ngày càng lạc hậu ư?  Mặc kệ!  Sự bất bình đẳng trong nước càng ngày càng trầm trọng; khoảng cách giữa giàu nghèo càng ngày càng lớn; người giàu càng ngày càng giàu và người nghèo càng ngày càng nghèo ư?  Mặc kệ!  Nạn tham nhũng càng ngày càng hoành hành, càng phá nát nền kinh tế quốc gia ư?  Mặc kệ! Xã hội càng ngày càng băng hoại; văn hóa càng ngày càng suy đồi; giáo dục càng ngày càng xuống cấp ư?  Mặc kệ!  Trung Quốc xâm lấn Việt Nam, làm lũng đoạn kinh tế Việt Nam, bắt bớ và giết hại ngư dân Việt Nam ư?  Mặc kệ!  Dửng dưng hay mặc kệ trước những vấn đề liên quan đến danh dự quốc gia cũng là một sự vô cảm.

Nhưng tại sao người ta lại trở thành vô cảm?  Câu trả lời tương đối dễ: Một, người ta bị tước trách nhiệm đối với đất nước; và hai, bất cứ người nào còn có trách nhiệm và muốn biểu lộ trách nhiệm ấy thì bị chụp mũ, sỉ nhục, bắt bớ, giam cầm.  Trách nhiệm đối với đất nước trở thành một cái tội.  Dân chúng bị xem là những kẻ ngoại cuộc đối các vấn đề quốc sự.  Người nào không chấp nhận điều đó thì bị trừng phạt nặng nề.  Kẻ thì bị đạp vào mặt.  Kẻ thì bị bắt bớ.  Kẻ thì bị đe dọa.  Kẻ thì bị bêu xấu trên các phương tiện truyền thông đại chúng.  Trong hoàn cảnh như thế, người ta không vô cảm đối với đất nước mới là chuyện lạ. (x. Blog của tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc).

Một trong những phát minh vĩ đại của khoa học là sáng chế ra rôbốt.  Nhưng khoa học không thể tạo ra một con chip “tình cảm” để khiến rôbốt biết yêu, biết ghét, biết thương, biết giận.  Căn bệnh vô cảm biến con người thành rôbốt, vô tình, thờ ơ với mọi sự xung quanh.  Nhìn thấy cái xấu, cái ác mà không thấy bất bình, không căm tức.  Thấy những điều tốt đẹp, cao thượng mà không ngưỡng mộ, cảm phục.  Gặp người có hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn mà không thấy xót xa, thương cảm, không muốn ra tay giúp đỡ dù có điều kiện.  Đứng trước sự bất công, xấu xa, gian dối mà không thấy phẫn nộ, nhức nhối.  Thời nay, ra đường gặp người bị cướp, bị trấn lột, bị đuổi chém… nhưng lại ít thấy ai ra can ngăn, cứu giúp.  Không dại gì dây dưa vào, mackeno, là biểu hiện của bệnh vô cảm.

Lối sống dửng dưng, thờ ơ, mặc kệ đang hình thành một nền “văn hóa vô cảm” trong xã hội chúng ta.  Thái độ này đang được thể hiện tràn lan trong cuộc sống.  Hình ảnh những người trẻ nhường chỗ trên xe buýt cho người lớn tuổi hoặc phụ nữ có thai như là chuyện cổ tích; chuyện dửng dưng chứng kiến người thanh niên lừa một người mù đi bán vé số để cướp số tiền mưu sinh nhỏ nhoi được coi như chuyện nhỏ không đáng phải can thiệp, hay như chuyện một người phụ nữ bị đánh đập, bị lột hết quần áo và bị trói nằm trước mặt người qua đường mà chẳng ai quan tâm tới…  Môi trường sống hôm nay tràn lan những câu chuyện vô cảm như thế xảy ra hằng ngày.

Chỉ vài bước thôi ông nhà giàu có thể đến với Ladarô nghèo khổ.  Chỉ vài bước thôi thầy Tư tế và Lêvi sẽ chạm đến người bị nạn trên đường.  Chỉ vài bước thôi, sao mà khó đến vậy?  Âu cũng chỉ vì họ mắc bệnh vô cảm.

Sự vô cảm vì con người ích kỷ, tham lam.  Vì thế, suy cho cùng, bệnh vô cảm là do thiếu vắng tình yêu, xa cách với tình yêu, không quen nói về tình yêu, không quen thể hiện yêu thương, không bao giờ nuôi dưỡng tình yêu trong cuộc sống.

Dụ ngôn trong Tin Mừng hôm nay với hai hình ảnh trái ngược.  Tư tế và Lêvi tượng trưng cho tinh thần vị luật của Cựu ước.  Người Samari tượng trưng cho những người sống tình yêu.  Tư tế và Lêvi là những người đại diện tầng lớp đáng kính trọng nhất trong xã hội.  Họ chu toàn nghĩa vụ đối với Thiên Chúa nhưng lại dửng dưng trước đau khổ của anh em đồng loại.  Một người Samari (thường bị người Do thái khinh bỉ, khai trừ, coi là ngoại đạo, tránh giao tiếp) tình cờ đi ngang qua, thấy cảnh ngộ đáng thương của người bị nạn nên động lòng thương.  Chuyện tình cờ xảy ra trên đường: đức ái không luôn luôn đến từ nơi người ta chờ đợi.  Chẳng quan tâm đến việc xem nạn nhân là người Do thái hay không, anh làm tất cả những gì có thể để cứu giúp người bất hạnh này.  Săn sóc tại chỗ, đưa về quán trọ, anh còn dự liệu cả hoàn cảnh khó khăn mà người này có thể gặp phải khi không có anh bên cạnh, vì thế anh nói với chủ quán: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác.”  Chính hành động làm cho anh em khốn khổ của mình trong đời thường mới làm nên con người tôn giáo chứ không là địa vị hay chức vụ, dù đó là thầy Tư tế hay thầy Lêvi đi nữa.  Đối với nghĩa vụ đức ái, không có bất kỳ hạn định nào.  Bác ái là miệng nói tay làm, là giúp đỡ người khác thật sự theo khả năng của mình.

Tin Mừng hôm nay là câu chuyện đẹp về tình yêu thương.  Người Samari nhân hậu đã sống đức yêu thương cách tuyệt vời, đó là “yêu bằng việc làm.”  Anh đã cho đi mà không tính toán, không chờ đợi một lời cảm ơn nào, và có lẽ anh vừa đi vừa hát bài ca hạnh phúc.  Chúa Giêsu mời gọi chúng ta sống và thực thi yêu thương: “Hãy đi và làm như vậy”.

Lạy Chúa Giêsu,

Nếu chỉ với vài bước thôi, chúng con đã có thể cứu được một người cả xác cả hồn, thì xin cho chúng con có nhiều bước chân đi để đến với mọi người.  Chúng con biết, cuộc sống đạo sẽ trở nên phù phiếm nếu cái cốt lõi của đạo là yêu thương chỉ là điều phụ thuộc, Kitô hữu mà không thực hành bác ái bằng việc làm trong đời sống thì cũng chỉ là hữu danh vô thực.  Xin đừng để chúng con loay hoay với những tính toán ích kỷ, chai đá, dửng dưng trước những bất hạnh khổ đau của anh em.  Nhưng xin dạy chúng con biết chạnh lòng xót thương và giúp đỡ những ai đang cần đến chúng con.  Amen!

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

HIỂU RÕ HY SINH

Chúng ta nghĩ gì khi nói mình hy sinh?  Tôi hy sinh nghề nghiệp vì con cái!  Tôi hy sinh rất nhiều cho công việc!  Tình yêu đòi hỏi chúng ta rất nhiều hy sinh!  Đôi khi chúng ta phải hy sinh chính đời sống để giữ chính trực!  Chúa Ki-tô hy sinh chính mình vì tội lỗi chúng ta!  Bí tích Thánh Thể là một hy sinh!

Từ các thành ngữ chung này, chúng ta xem thêm định nghĩa của hy sinh trong tự điển Webster: Từ bỏ một cái gì có giá trị để mưu ích cho một cái khác.

Đây là một định nghĩa đúng, nhưng nội dung còn hàm chứa nhiều điều hơn là mới nhìn lướt qua, rõ rệt hơn khi chúng ta xem lại khái niệm về hy sinh trong Sách Thánh của Do Thái và Kitô giáo.  Lấy ví dụ câu chuyện hy sinh I-xa-ác của tổ phụ Áp-ra-ham.  Đâu là lời kêu gọi tối hậu của Chúa khi Chúa đòi hỏi ông Áp-ra-ham hy sinh I-xa-ác.

Đây là các yếu tố bên ngoài của câu chuyện: Đã từ lâu Áp-ra-ham không có con trai.  Cuối cùng, khi mọi hy vọng của loài người không còn, bà Xa-ra thụ thai và sinh cho ông một đứa con trai, I-xa-ác, người Áp-ra-ham mô tả là “độc nhất”, “quý nhất” của ông.  Nhưng Chúa xin ông dùng I-xa-ác làm vật hiến tế.  Với tấm lòng nặng trĩu, Áp-ra-ham đồng ý và cùng I-xa-ác, hai cha con mang củi, lửa lên đường.  Trên đường đi, ông phải trả lời các câu hỏi hiếu kỳ của con vì sao họ không mang vật hiến tế đi theo.

Khi đến nơi, Áp-ra-ham nhóm củi, đốt lửa, trói I-xa-ác, rồi đưa dao lên cổ để giết.  Nhưng Chúa can thiệp.  Cuộc hiến tế ngưng lại, Chúa cho Áp-ra-ham con cừu đực làm vật hiến tế.  Câu chuyện kết thúc, ông Áp-ra-ham cùng I-xa-ác đi về trên vùng đất riêng của mình.  Đâu là bài học sâu xa trong chuyện này?

Ở một mức độ, bài học là Chúa không muốn con người hy sinh, nhưng ở một mức sâu thẳm hơn, mật thiết hơn, bài học tự trong lòng dạy chúng ta một cái gì về một nhu cầu sâu thẳm bên trong tâm hồn chúng ta, nhu cầu được tỏ tấm lòng muốn hy sinh.  Nói cách khác, bài học như sau: Để một cái gì đó được nhận như quà tặng, nó phải được nhận hai lần.  Điều này ngụ ý gì?

Theo định nghĩa, món quà là vật được tặng, tự nguyện cho, không buộc phải xứng đáng mới được nhận.  Phản ứng đầu tiên khi chúng ta nhận quà là gì?  Là câu trả lời bộc phát: “Tôi không thể nhận!  Tôi không xứng đáng nhận!”  Phản ứng bộc phát lành mạnh này là ngụ ý trả lui lại món quà.  Nhưng đương nhiên, người cho từ chối, họ trao lại món quà với lời trấn an: “Nhưng tôi muốn bạn nhận món quà này!”  Khi nhận lần thứ nhì, bây giờ món quà mới thật của mình, vì, khi muốn trả lại món quà, chúng ta nhận ra đây đúng là món quà không xứng đáng mà được hưởng.

Đây đúng là năng động trong câu chuyện hiến tế I-xa-ác.  I-xa-ác là món quà lớn nhất trong cuộc đời Áp-ra-ham, món quà ông không xứng đáng được hưởng.  Ý chí muốn hy sinh của ông đi đôi với hành vi bộc phát: “Tôi không xứng đáng được!  Tôi không thể nào nhận món quà này!”  Ông trả lại món quà.  Nhưng người cho, chính là Tình Yêu, chận đứng hành vi hy sinh và trả lại món quà.  Bây giờ Ap-ra-ham mới dám nhận I-xa-ác như một món quà, không mặc cảm có tội.  Khi họ cùng nhau đi về nhà, bây giờ I-xa-ác là đứa con theo một cách khác đứa con trước đây của ông.  Áp-ra-ham đã nhận món quà hai lần khi hy sinh món quà lần đầu.

Đó là cốt tủy của hy sinh: Để nhận cho đúng một cái gì, ngay cả chính cuộc đời chúng ta, đòi hỏi chúng ta phải biết nhận thức đó là món quà, một cái gì không xứng đáng mà được hưởng.  Và đã nhận món quà thì phải hy sinh, vui lòng cho lại một phần hay trọn món quà cho người đã cho.

Đây là năng động ngụ ý trong tục lệ hiến tế ngày xưa.  Ví dụ: Nhà nông gặt hái vụ mùa.  Nhưng trước khi ông và gia đình ăn no, ông phải lấy một ít (hoa quả đầu mùa) dâng lên Chúa dưới hình thức hiến tế, thường thường đốt để khói bay lên trời, xem như một ít hoa quả dâng trả lại Chúa vì họ xem hoa quả này là món quà Chúa cho họ.  Sau khi hy sinh theo kiểu này, người nông dân và gia đình mới thoải mái ăn no mà không có mặc cảm mang tội vì, qua hành vi trả lại người cho, họ ý thức đó là món quà.  Bây giờ họ mới thưởng thức mà không mang mặc cảm tội, vì họ đã hy sinh, họ đã biết đây là món quà.

Đó là cốt tủy bên trong của mọi hy sinh, dù hy sinh nghề nghiệp vì con cái hay hy sinh của Chúa Giê-su trên thập giá.  Hy sinh là nhận biết món quà là món quà.  Giống như ông Áp-ra-ham, cố gắng trả lại món quà cho người cho, nhưng người cho chận lại sự hy sinh và cho ông lại một cách sâu xa hơn.

Chúng ta sẽ tận hưởng cuộc sống sâu đậm hơn nếu chúng ta hiểu được điều này.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

THÁNH NỮ MARIA GORETTI BÔNG HUỆ NHỎ NHUỐM MÁU

*Bông Huệ nhỏ tuyết trinh nơi đồng nội,
Vượt lên cao tràn ngập nắng hồng ân,
Gió mưa lay, không vương mắc bụi trần,
Đẹp lòng Chúa, đem về vườn Thiên quốc.

“Xin kính chào Vị Nữ Thánh khả ái!  Hỡi Vị Tử Đạo dưới đất và Thiên Thần trên trời!

Từ nơi vinh quang, xin ghé mắt nhìn xuống đoàn con đây, đang yêu mến, tung hô và chúc tụng Ngài.  Trên vầng trán Ngài ghi rõ danh tánh chói sáng hiển vinh của Chúa Kitô chiến thắng.  Trên khuôn mặt tinh khiết Ngài tỏa sáng sức mạnh tình yêu và lòng kiên trung với Đức Lang Quân Chí Thánh.  Ngài là Vị Hiền Thê dùng chính máu đào mình họa lại hình ảnh Chúa Kitô.  Hỡi vị Nữ Thánh quyền uy cạnh ngai tòa Chiên Thiên Chúa, xin phó dâng lên Ngài những người đang có mặt nơi đây, cũng như những người đang kết hợp cách thiêng liêng với chúng tôi.  Tất cả đều ngưỡng phục lòng anh hùng của Ngài, nhất là muốn bắt chước Ngài trong nhiệt tâm giữ vững đức tin và bảo toàn phong hóa cao quí.

Từ nay các bậc làm cha mẹ chạy đến kêu cầu, xin Ngài trợ giúp trong nhiệm vụ giáo dục con cái.

Xin đặt vào vòng tay Ngài một trẻ thơ, cùng thanh thiếu nữ, hầu Ngài bảo vệ chúng thoát khỏi mọi hiểm độc và an vui bước trên đường đời trong niềm hoan lạc của những con tim trong trắng.

Ước gì được như vậy.”

Đó là lời Đức Thánh Cha Piô 12 vào chiều thứ bảy 24/6/1950 trong khung cảnh Năm Thánh, khi tuyên phong Hiển Thánh cho thiếu nữ đồng quê 12 tuổi MARIA GORETTI, trước sự hân hoan nồng nhiệt của 500 ngàn khách hành hương từ khắp nơi đổ về, cùng sự hiện diện của thân mẫu và gia đình cô.

Maria Goretti sinh 16/10/1890 tại vùng đồi thơ mộng gần thành phố Corinaldo, nước Ý.  Nhưng vì sinh kế cả gia đình phải chuyển đến vùng thôn quê sình lầy Ferriere di Conca.  Là chị cả trong một gia đình 6 anh chị em, cô luôn noi gương cha mẹ là người đạo hạnh và cần mẫn.

Sống trong cảnh nghèo túng, Goretti không được đi học, nhưng có lòng sùng kính đặc biệt Thánh Tâm Chúa và Mẹ Maria Đồng Trinh.  Mồ côi cha từ năm lên 10, nhưng mỗi lần đi ngang mộ cha đều dừng lại cầu nguyện cho cha.

Gia đình sau khi cha mất trở nên túng quẫn hơn, cô luôn nâng đỡ tinh thần cho mẹ, xốc vác mọi việc trong nhà, đóng vai người mẹ thứ hai đối với các em, luôn săn sóc, dạy bảo và thúc giục các em cầu nguyện.  Mỗi lần đi dự lễ, cô phải đi bộ 2 giờ đồng hồ, luôn là người đến sớm nhất và về sau cùng.  Cô rẩt cẩn thận trong cách ăn mặc, nói năng hòa nhã khiêm tốn, tránh truyện trò thô tục… nổi bật nhất là nhân đức khiết tịnh như bông huệ tuyết trinh.

Từ ngày ba ngã bệnh rồi mất, để có người giúp đỡ công việc đồng áng và chia sẻ hoa lợi, gia đình cô phải đón nhận một gia đình khác gồm 2 bố con đến ở chung.  Người con trai 19 tuổi tên Alessandro, đầu óc tràn đầy ý tưởng xấu, nên luôn nhìn Goretti với con mắt dục vọng.  Cô luôn ở nhà săn sóc các em khi mẹ làm việc ngoài đồng.

Nên một hôm, Alessandro đến cám dỗ cô phạm tội, nhưng cô rất sợ hãi và từ chối rồi tìm cách tránh xa chàng.  Rồi 10 ngày sau, chàng ta lại dở trò cũ, cô khiếp sợ và nói: “Nếu anh làm điều đó, anh sẽ phải xuống hỏa ngục!”  Chàng ta túm lấy cô, nhưng cô dùng hết sức để vượt thoát và chàng đe dọa giết nếu tiết lộ với người khác.

Trưa ngày 5/7/1902, dưới nắng hè chói chang mọi người đang thu hoạch mùa đậu.  Chàng ngưng việc đi thẳng về nhà, thấy Goretti ngồi dưới chân cầu thang vá áo và trông chừng em ngủ.  Chàng ta mặt hầm hầm bước lên cầu thang vào phòng lấy một thanh sắt đã mài nhọn, quay xuống gọi: “Goretti vào đây nhờ một tí!”  Cô vẫn ngồi không nhúc nhích và không trả lời.

Anh ta nhào tới nắm tay cô kéo vào trong nhà.  Cô la lên: “Nếu làm điều đó anh sẽ phải xuống hỏa ngục.  Buông tôi ra!”

Điên lên vì bị từ chối, anh ta một tay nắm chặt tay cô, một tay cầm dao đâm túi bụi vào thân hình liễu yếu của cô bé.  Cô gào to kêu cứu, nhưng không ai bên ngoài nghe thấy.  Máu chảy thành dòng, tràn trên sàn nhà và cô gục ngã.  Nhưng cô còn tỉnh, cố lết tấm thân nát nhừ ra gần cửa kêu cứu.  Nghe tiếng kêu anh ta vội chạy lại, túm cổ cô đâm thêm nhiều nhát chí tử.  Cô bé bất hạnh phều phào kêu:

– “Lạy Chúa tôi! Lạy Chúa tôi!  Má ơi con chết mất!”  Rồi thiếp đi bất tỉnh…

Trong những giờ phút đau thương hấp hối, Goretti âm thầm cầu nguyện cùng Thánh Tâm Chúa và Mẹ Maria.  Cô sẵn sàng chờ đón giờ chết và tha thứ cho kẻ giết mình.  Khi Linh mục mang Mình Thánh Chúa đến, cô hớn hở đón nhận của ăn đàng trước khi về Thiên Quốc.  Ôm ghì Thánh Giá và ảnh Đức Mẹ hôn kính rồi thiếp dần.  Những giây phút cuối đời, Goretti hơi thở bị tắt nghẽn vị bị ám ảnh những giây phút kinh hoàng phải đối phó với hành động xấu xa của Alessandro.  Cử chỉ vô cùng mệt nhọc chống cự với một người vô hình.  Sau cùng bằng sức tàn mong manh, cô vùng dậy như muốn trốn thoát, rồi trong giây lát lại buông mình nằm xuống bất động.  Linh hồn trinh trong và xinh đẹp của Goretti từ từ ra khỏi xác bay về Thiên Quốc.  Lúc đó là chiều Chúa nhật ngày 6/7/1902, một ngày sau khi cô bị đâm 14 nhát dao.

Sau khi qua đời, Maria Goretti đã làm nhiều phép lạ.  Nhưng phép lạ to lớn nhất là hoán cải được Alessandro, cô đã hiện về trong tù trao tặng chàng những bông huệ trắng tinh.  Từ ngày đó chàng sống khiêm nhường thống hối tội lỗi mình.  Chàng được phóng thích sau 30 năm tù và suốt đời sống độc thân.

Về sau chàng xin vào tu viện Dòng Phan Sinh Hèn Mọn Capuchin, miền bắc Ý, trở thành phần tử Dòng Ba, ngày ngày cần mẫn làm những việc hèn mọn cùng chay tịnh để đền tội đến trọn đời, hưởng thọ 89 tuổi.

Ngày 28/4/1947, ĐTC Piô 12 phong Chân Phước cho Maria Goretti.

Ngày 24/6/1950, Ngài lại nâng lên bậc Hiển Thánh.

Rồi đặt Thánh Nữ làm Quan Thày và gương mẫu cho giới trẻ.

Hiện diện trong Lễ Phong Thánh, thân mẫu Thánh đã ngoài 80 tuổi và các em.

Maria Goretti trở thành vị Thánh tử Đạo vì bảo vệ đức Trinh Khiết khi mới 12 tuổi.

Hàng năm Giáo Hội mừng kính thánh Nữ vào ngày 6 tháng 7.

Lời kinh Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 dâng kính Thánh Nữ:

“Hỡi Cô Bé của Thiên Chúa!

Cô đã sớm biết thế nào là khổ cực, nhọc mệt, đau thương, cùng những niềm vui ngắn ngủi của cuộc sống.  Cô cũng biết thế nào là nghèo đói, mồ côi và đã không ngừng yêu mến tha nhân, tự làm người hầu hạ khiêm tốn, ân cần.  Cô sống tốt lành không khoe khoang và yêu mến Tình Yêu Chúa trên mọi sự, đã đổ máu đào để khỏi phản bội Chúa và tha thứ cho người đã giết mình, cầu mong hạnh phúc Thiên đàng cho anh ta.

Xin hãy bầu cử cho chúng tôi bên tòa Thiên Chúa Cha, cùng biết thưa vâng theo chương trình Thiên Chúa định liệu trên chúng tôi.

Hỡi Đấng là bạn hữu Thiên Chúa đang chiêm ngắm Chúa.  Xin cầu cùng Chúa ban cho chúng tôi những ơn xin cùng Ngài.  Chúng tôi cảm tạ Ngài, hỡi Maria Goretti vì tình yêu Ngài dành cho Thiên Chúa và cho anh chị em đồng loại, mà Ngài đã gieo vãi trong lòng chúng tôi- Amen.”

Đinh Văn Tiến Hùng
*Ghi chú: Dựa theo tài liệu của Raymond Thư, CMC

BÌNH AN

Nói đến các trường đại học nổi tiếng tại thủ đô Manila Phi Luật Tân, người ta không thể không nhắc đến đại học Ateneo de Manila của các Linh mục Dòng Tên.  Đây là một trong những trường cung cấp rất nhiều nhân tài cho nước Phi Luật Tân và dĩ nhiên là đa số học sinh và sinh viên của đại học này đều là thành phần khá giả trong xã hội.

Dưới chân trường học nằm trên một ngọn đồi này là một khu lao động nghèo mà có lẽ nhiều người không biết đến, và trong cái xóm nghèo nàn ấy có một cộng đoàn tu sĩ mà có lẽ nhiều người không biết đến, đó là cộng đoàn các tiểu đệ Charles de Foucaul, đa số các tu sĩ sống ở đây là người Việt Nam hoặc từng sống ở Việt Nam.

Một hôm, một Linh Mục Dòng Tên người Mỹ là giáo sư đại học Ateneo tình cờ đi lạc vào trong cái khu lao động ấy, điều làm cho ông ngạc nhiên là trong cái khu nghèo nàn đó lại có một người Bỉ, đây là một tiểu đệ đã sống ở Việt Nam gần 30 năm và đã bị trục xuất sau năm 1975.  Sau một hồi trao đổi với nhau, vị linh mục người Mỹ mới hỏi người Bỉ như sau: Ông làm gì ở đây?  Người Bỉ trả lời: Tôi đi chợ, tôi nấu ăn, tôi giặt quần áo, tôi sống với những người anh em nghèo trong khu lao động này.

Nghe thế vị linh mục người Mỹ như có vẻ tiếc rẻ sự hy sinh lãng phí của người Bỉ.  Ông nói về mình như sau: Còn tôi, tôi sang đây là để dạy học và thuyết trình.  Tôi đi đây đi đó, tôi đào tạo những người hữu ích cho xã hội.

Cuộc gặp gỡ và đối thoại trên đây giữa hai vị tu sĩ trong Giáo Hội, có lẽ cho chúng ta thấy được một số những khía cạnh khác nhau trong công cuộc truyền giáo trong Giáo Hội.  Vị Giáo sư người Mỹ trên đây là điển hình cho một đội ngũ đông đảo các nhà truyền giáo trong xã hội trên khắp thế giới, từ thành thị cho đến thôn quê, từ học đường cho đến các xưởng, từ đất Kinh đến miền thượng… nơi nào cũng có những nhà truyền giáo ngày đêm hăng say truyền giáo và hoạt động.  Nếu có những nhà truyền giáo hăng say hoạt động và rao giảng, thì cũng có những nhà truyền giáo sống giống như chứng nhân Tin Mừng.

Việc tiểu đệ Charles de Foucaul người Bỉ trên đây có lẽ là tiêu biểu của không biết bao nhiêu nhà truyền giáo âm thầm lấy cuộc sống chia sẻ của mình như một chứng từ cho Nước Chúa.  Tựu trung tích cực hoạt động hay âm thầm sống chứng nhân, cả hai hình thức đều có chung một sứ mệnh, đó là làm chứng cho Đức Kitô và mở mang Nước Chúa.  Cả hai đều được sai đi, cả hai đều bị ràng buộc bởi một đòi hỏi cơ bản nhất mà Chúa Giêsu đã đề ra cho các đồ đệ khi Ngài sai các ông lên đường rao giảng Tin Mừng.  Ngài nói với các ông: “Các con đừng mang theo túi, tiền, bao bị, giầy dép và đừng chào hỏi ai dọc đường.”  Như vậy, một cuộc sống siêu thoát một cuộc sống không lệ thuộc vào những của cải trần gian này, đó là biểu hiện tiên quyết của những chứng nhân Nước Trời.

Ra đi không hẳn là rời bỏ quê hương xứ sở của mình để đến một vùng đất xa lạ.  Ra đi thiết yếu là ra khỏi chính mình, ra khỏi con người ích kỷ của mình để đi đến với tha nhân trong tinh thần hòa giải, yêu thương, phục vụ quên mình.  Đó là ý nghĩa của mệnh lệnh mà Đức Giêsu trao ban các môn đệ khi Ngài nói: “Vào nhà nào trước tiên các con hãy nói: Bình an cho nhà này.”  Hiện diện với tha nhân bằng tinh thần chia sẻ, cảm thông, tha thứ, đó là sự ra đi đích thực của nhà truyền giáo.

Giáo Hội tự bản chất là truyền giáo.  Điều đó có nghĩa là Giáo Hội phải thể hiện ý muốn của Nước Trời mà Chúa Giêsu đã loan báo, nước của công lý, nước của hòa bình, nước của yêu thương, nước đó phải được tìm thấy trong Giáo Hội của Đức Kitô.  Là thành phần của Giáo Hội, mỗi người tín hữu chúng ta tự bản chất cũng là một nhà truyền giáo.  Điều đó cũng có nghĩa là những giá trị của Nước Trời cần phải được thể hiện trong chính cuộc sống của chúng ta.

Người tín hữu Kitô sẽ chỉ là người có tên gọi, có danh nghĩa mà không có thực chất nếu cuộc sống của họ chưa thực sự là một chứng nhân của Nước Trời.  Trong một xã hội nếu chỉ có những lời lẽ rêu rao và những khẩu hiệu rỗng tuếch thì con người chưa đạt được những thực tại của Nước Trời, hơn bao giờ hết người tín hữu Kitô Việt Nam chúng ta đang đứng trước một thách đố lớn, đó là trở thành những điểm tựa đáng tin cậy, những chứng từ sống động của những thực tại Nước Trời.

Chúng ta sẽ phải sống như thế nào để những người xung quanh nhìn vào sẽ phải thốt lên sự bỡ ngỡ như các người Do thái ngày xưa nhìn vào các tín hữu tiên khởi đã phải thốt lên: “Xem kìa, họ thương nhau là dường nào.”  Kitô giáo thiết yếu là một sức sống, sức sống ấy chính là Đức Giêsu Kitô, và sống đạo là sống bằng chính sức sống của Chúa Giêsu và truyền đạt sức sống ấy cho mọi người xung quanh.  Chúng ta hãy xin Chúa mở rộng tâm hồn để đón nhận sức sống ấy và chia sẻ sức sống ấy với tất cả mọi người qua mọi thế hệ.

Sưu tầm

SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

Tận hưởng giây phút hiện tại, ngày mai có việc của ngày mai!  Ai cũng muốn tận hưởng giây phút hiện tại.  Nhưng như tiểu thuyết gia người Ái Nhĩ Lan John McGahern nói: “Không có điều gì khó hơn là tận hưởng giây phút hiện tại!”  Tại sao?  Bởi vì chúng ta rất ngây thơ về chuyện này.

Chẳng hạn, như chàng thanh niên trẻ từng viết thư cho thi sĩ Rainer Marie Rilke than phiền anh muốn trở thành nhà thơ, nhưng cuộc sống thường ngày không tạo cho anh nhiều cảm hứng.  Anh phàn nàn cuộc sống của anh không phải là chất liệu cho thi ca, cuộc sống trong một ngôi làng nhỏ quá nhiều vất vả và áp lực.  Làm sao anh có thể làm thơ trong hoàn cảnh như vậy?  Chàng trai kết thúc bức thư nói rằng anh thèm có một cuộc sống như Rilke: thi sĩ được mến mộ, sống ở thành phố lớn, gặp được nhiều người thú vị.  Rilke dứt khoát không đồng ý với anh, ông hồi âm: “Cuộc sống hằng ngày có vẻ nhàm chán đối với bạn, hay bạn không đủ chất thơ để phát huy hết tất cả nét phong phú của cuộc sống này.  Vì đối với một thi sĩ, không đâu là không thú vị, không cảnh huống nào là không thú vị.”  Giây phút hiện tại vẫn còn đó để mình tận hưởng.

Robertson Davies, một văn sĩ nổi tiếng Canada kể lại câu chuyện tương tự, ông nói có lần ông nhận được bức thư của một chàng thanh niên nhờ ông viết thư giới thiệu xin tiền trợ cấp cho anh đi nghỉ mát ở Mê-xi-cô viết cuốn tiểu thuyết tiếp theo, vì anh là một cây viết đầy triển vọng.  Davies trả lời ông sẽ không viết lá thư đó, không phải vì không muốn giúp anh, ngược lại ông còn chúc anh trở thành một nhà văn nổi tiếng, nhưng vì ông cảm thấy chàng trai có ảo tưởng sai lầm nghĩ rằng mình sẽ tận hưởng giây phút đó để viết tiểu thuyết.  Davies khuyên anh nên cẩn thận về tính lãng mạn đặt không đúng chỗ: “Bạn muốn viết một điều gì đó sâu đậm và đầy cảm hứng trong lúc uống rượu và đi bộ trên bãi biển chăng?”  Nhà thơ khuyến cáo, không phải như vậy mà viết được.  Hãy ở nhà và viết cuốn tiểu thuyết của bạn.  Bà Annie Dillard cũng đưa ra lời khuyên tương tự.  Bà thích viết trong một túp lều gỗ kín mít.  Đối với bà, tận hưởng giây phút hiện tại ở một nơi yên tĩnh thì dễ hơn là nơi đông đúc, nơi ai cũng thấy.

Những ví dụ này cho thấy chúng ta thường bỏ quên giây phút hiện tại vì chúng ta có một ý niệm quá lãng mạn, sai lầm giống như hai chàng thanh niên xin các ông Rilke và Davies giúp đỡ.  Bằng cách nào để chúng ta có thể tận hưởng giây phút hiện tại?

Tôi thích câu trả lời của David Steindl-Rast.  Ông đưa ra một ẩn dụ rất hay về ý nghĩa tận hưởng giây phút hiện tại: Đối với ông, chúng ta nên hưởng giây phút hiện tại bằng cách “gặp thiên thần của từng giờ”.  Những thiên thần này là ai?  Họ là tài sản phong phú duy nhất gắn liền với từng giờ.

Mỗi mùa, tùy theo niên lịch văn hóa hay tôn giáo đều mang đến một tinh thần, một tâm trạng, một cảm xúc nào đó mà thỉnh thoảng chúng ta níu giữ lại, nhưng đôi khi chúng ta lại để hụt mất.  Cũng vậy với các giây phút trong ngày – sáng, trưa, xế chiều, chiều, tối, khuya.  Mỗi khoảnh khắc có một ánh sáng duy nhất, một tác động duy nhất lên cảm xúc chúng ta, và nói theo kiểu ẩn dụ, mỗi khoảnh khắc có mỗi thiên thần riêng đem đến cho chúng ta các ơn huệ đặc biệt.  Chẳng hạn, ánh sáng bình minh khác với ánh sáng hoàng hôn.  Vì thế, thiên thần bình minh tác động lên chúng ta khác với thiên thần hoàng hôn.  Tận hưởng giây phút hiện tại là gặp các thiên thần và để họ ban phúc lành cho chúng ta.

Tuy nhiên, chúng ta rất dễ quên điều này.  Ai trong chúng ta cũng đã từng nói: “Năm nay tôi bận rộn và căng thẳng đến nỗi quên khuấy mùa xuân đã trôi qua.”  “Năm nay tôi không chuẩn bị được lễ Giáng Sinh, bạn tôi vừa chết đầu tháng mười hai.”  “Tôi hụt mất mùa Chay năm nay.  Tôi lu bu nhiều việc đến nỗi mùa chay đến và đi hồi nào không hay.  Bạn biết những chuyện này xảy ra như thế nào rồi còn gì!”

Đúng là chúng ta đều đã làm như vậy.  Nhiều thứ ngăn cản chúng ta đến với các thiên thần của mỗi giờ – bận rộn, mệt mỏi, tiêu khiển, đau buồn, giận dữ, mơ mộng, căng thẳng, hấp tấp.  Bỏ quên một mùa đặc biệt cũng dễ và bỏ quên một buổi sáng, một buổi chiều, một buổi tối, hay một ngày bình thường lại càng dễ hơn.

Chúng ta phải làm gì để không bỏ quên những giây phút này?  Chúng ta cần cầu nguyện.  Đơn giản: Nếu chúng ta không cầu nguyện vào một buổi sáng nào đó, sự thiếu sót này làm mất lòng Thiên Chúa.  Chúng ta không được Chúa trợ giúp khi cầu nguyện.  Cầu nguyện là món quà, không phải là món nợ.  Nhưng, nếu chúng ta quên cầu nguyện vào một buổi sáng nào đó thì kinh nghiệm trở đi trở lại cho thấy, một cách rõ ràng, mối nguy hiểm thật sự là chúng ta cũng sẽ bỏ quên luôn cả buổi sáng hôm đó.  Buổi sáng sẽ đến và đi và chúng ta sẽ không gặp lại các thiên thần của buổi sáng – ánh sáng, tâm trạng, tinh thần, và sự tươi mới độc đáo của nó nữa.  Buổi trưa sẽ túm lấy chúng ta thậm chí trước khi chúng ta kịp nhận ra vừa có một buổi sáng.  Mặt trời buổi trưa và chiều sẽ mang đến những thiên thần mới, nhưng khi chúng ta bỏ quên các thiên thần buổi sáng, chúng ta cũng có thói quen bỏ quên luôn các thiên thần buổi trưa.  Một ngày sẽ đến và sẽ đi và chúng ta sẽ không giữ lại được… và nó cũng chẳng thay đổi gì quan trọng, theo cách nói của ơn huệ và hân hoan trong cuộc sống dù cho chúng ta có đang dạo bước trên bờ biển Mê-xi-cô hay ngồi trong túp lều gỗ.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

ANH LÀ TẢNG ĐÁ

Trong ngày lễ kính thánh Phêrô và thánh Phaolô, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm hai khuôn mặt, rất khác nhau mà cũng rất giống nhau.

Phêrô, một người đánh cá ít học, đã lập gia đình.  Ông theo Thầy Giêsu ngay từ buổi đầu sứ vụ.  Còn Phaolô là người có nhiều điều để tự hào, về gia thế, về học thức, về đời sống đạo hạnh.  Ông chưa hề gặp mặt Đức Giêsu khi Ngài còn sống.

Nhưng hai ông có nhiều nét tương đồng.  Cả hai đều được Đức Giêsu gọi.  Phêrô được gọi khi ông đang thả lưới bắt cá nuôi vợ con.  Phaolô được gọi khi ông hung hăng tiến vào Đamát.  Cả hai đã từ bỏ tất cả để theo Ngài.  Tất cả của Phêrô là gia đình và nghề nghiệp.  Tất cả của Phaolô là những gì ông cậy dựa vênh vang.  Bỏ tất cả là chấp nhận bấp bênh, tay trắng.  Cả hai đều đã từng có lần vấp ngã.  Vấp ngã bất ngờ sau khi theo Thầy như Phêrô, trong một phút giây quá tự tin vào sức mình.  Ngã ngựa bất ngờ và trở nên mù lòa như Phaolô, trong lúc tưởng mình sáng mắt và đi đúng hướng.

Vấp ngã nào cũng đau và in một dấu không phai.  Vấp ngã bẻ lái đưa con người đi vào hướng mới.

Phêrô và Phaolô đều yêu Đức Giêsu cách nồng nhiệt, vì họ cảm nhận sâu xa mình được Ngài yêu.  Này anh Simon, anh có mến Thầy không?  Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.” (Ga 21,16)

Cả Phaolô cũng yêu Đấng ông chưa hề chung sống, vì Ngài là “Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi.”  (Gl 2, 20).  Phaolô đã không ngần ngại khẳng định: Không gì có thể tách được chúng ta ra khỏi Tình Yêu của Đức Kitô (x. Rm 8, 35.39)

Tình yêu Đức Kitô là linh hồn của đời truyền giáo, vì nói cho cùng truyền giáo chính là giúp người khác nhận ra và yêu mến Đấng đã yêu tôi và yêu cả nhân loại.

Cả hai vị tông đồ đều hăng say rao giảng, bất chấp muôn vàn nguy hiểm khổ đau.  Phêrô đã từng chịu đòn vọt ngục tù (x. Cv 5,40).  Còn nỗi đau của Phaolô thì không sao kể xiết (x. 2C 11, 23-28).  “Tôi mang trên mình tôi những thương tích của Đức Giêsu” (Gl 6, 1-7).  Cả hai vị đã chết như Thầy.  Phêrô bị dẫn đến nơi ông chẳng muốn (x. Ga 21, 18).  Phaolô đã chiến đấu anh dũng cho đến cùng, và đã đổ máu ra làm lễ tế (x. 2Tm 4, 6).

Hội Thánh hôm nay vẫn cần những Phêrô và Phaolô mới, dám bỏ, dám theo và dám yêu, dám sống và dám chết cho Đức Kitô và Tin Mừng.  Hội Thánh vẫn cần những chiếc cột và những tảng đá.

*************************

Lạy Chúa, chúng con không hiểu tại sao Chúa chọn Simon, một người đánh cá ít học và đã lập gia đình, để làm vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội.  Chúa xây dựng Giáo Hội trên một tảng đá mong manh, để ai nấy ngất ngây trước quyền năng của Chúa.  Hôm nay Chúa cũng gọi chúng con theo Chúa, sống cho Chúa, đặt Chúa lên trên mọi sự: gia đình, sự nghiệp, người yêu.  Chúng con chẳng thể nào từ chối viện cớ mình kém đức kém tài.  Chúa đưa chúng con đi xa hơn, đến những nơi bất ngờ, vì Chúa cần chúng con ở đó.  Xin cho chúng con một chút liều lĩnh của Simon, bỏ mái nhà êm ấm để lên đường, hạnh phúc vì biết mình đang đi sau Chúa.  Amen!

Trích trong “Manna”

SỐNG ĐƠN GIẢN

Trong kho tàng văn chương tu đức Ấn Giáo có chuyện kể như sau:

Ở một làng nọ, có vị đạo sĩ, Sadhu, tu thân lâu ngày, gần đạt đến bậc thánh nhân.  Dân chúng ngưỡng mộ, quý mến nhà đạo sĩ, đến thỉnh ý, tầm thầy học đạo.

Một ngày kia, thấy vị đạo sĩ rách rưới, kẻ qua đường biếu nhà đạo sĩ manh vải che mình.  Những lúc Sadhu ngồi thiền niệm, bầy chuột tưởng tượng gỗ, rúc vào tấm vải gặm nhấm.  Tội nghiệp, có kẻ qua đường thấy thế, biếu Sadhu con mèo bắt chuột.  Dân trong làng thương tình, thay nhau đem sữa nuôi con mèo.  Rồi ngày nọ, có kẻ hành hương từ phương xa, nghe tiếng thơm nhân đức, đến viếng nhà đạo sĩ.  Người đàn bà giàu có ấy tặng đạo sĩ Sadhu con bò để lấy sữa nuôi con mèo.  Để nuôi con bò, người ta làm cho nó cái chuồng.  Từ dạo đó, con bò có chuồng, vị đạo sĩ không có nhà.  Thấy thế không ổn, dân trong làng làm cho nhà đạo sĩ chiếc chòi lá.

Từ ngày ấy, nhà đạo sĩ không còn nhiều thời giờ tu niệm như xưa, bận rộn nuôi con bò để lấy sữa nuôi con mèo.  Nuôi con mèo để đuổi lũ chuột.  Phải lo sửa sang căn nhà.  Dân trong làng không muốn nhà đạo sĩ mất thời giờ săn sóc con bò, họ gởi một người đàn bà đến cắt cỏ nuôi con bò, săn sóc con mèo thay cho nhà đạo sĩ có giờ thiền tu.

Nhà đạo sĩ đã có tấm vải che thân, có con mèo đuổi chuột, có con bò cho sữa, có căn nhà để ở, có người đàn bà săn sóc cuộc đời mình.  Chẳng bao lâu, nhà đạo sĩ không còn thời gian tĩnh mịch nữa, ông đầy đủ hết rồi.

Đâu là con đường tu đạo?  Ông lấy người đàn bà làm vợ, thế là chấm dứt cuộc đời hạnh tu…

Sống đơn giản đưa Shadu vào đời sống tu hạnh.  Mất đơn giản, ông mất lý tưởng.  Trong Giáo Hội, tất cả các đại thánh đều có đời sống đơn giản.  Không phải trong Giáo Hội Công Giáo mà thôi, tất cả thánh nhân trong tôn giáo khác cũng vậy. (x. Những trang nhật ký của một linh mục, Nguyễn Tầm Thường, SJ).

Bài đọc 1 hôm nay kể chuyện Êlisa quyết tâm theo Êlia để làm Ngôn sứ.  Êlisa là nông dân, đang cày ruộng với 12 cặp bò.  Nghe Thầy Êlia kêu gọi, Êlisa đã chẻ cày làm củi, giết bò làm lễ vật, thiêu đốt tất cả để dâng tiến Chúa, rồi lên đường theo Thầy.  Ruộng đất, trâu bò, cày cuốc là tài sản của nông dân.  Đốt cày cuốc, làm thịt trâu bò, có nghĩa là từ bỏ tài sản, là đoạn tuyệt với nghề nghiệp cũ.  Đó là một lựa chọn dứt khoát.  Ra đi không vướng bận, không luyến tiếc những gì đã có.  Đó là thái độ dứt khoát và phó thác, vâng phục hoàn toàn.

Khác với thái độ của Êlisa, Tin Mừng hôm nay thuật chuyện ba người muốn theo Chúa Giêsu, xin được làm môn đệ.  Chúa đòi hỏi họ phải dứt khoát trong chọn lựa.

Người thứ nhất hăng hái xin theo Chúa đi bất cứ nơi đâu.

Chúa Giêsu không giấu anh hoàn cảnh bấp bênh của mình.  Ngài sống cuộc đời phiêu bạt, không mái nhà để trú, lúc nào cũng ở trong tư thế lên đường.  Chấp nhận theo Ngài là chịu bỏ mọi an toàn, không ổn định, là sống thân phận lữ khách trên mặt đất (x.1Pr 2,11).  Theo Ngài là theo Đấng có chỗ tựa đầu.  Chỗ tựa đầu tiên là máng cỏ.  Chỗ tựa đầu cuối là thập giá.

Người thứ hai chấp nhận theo Chúa với điều kiện cho anh về chôn cất người cha mới qua đời trước đã.  Anh muốn chu toàn bổn phận thiêng liêng của người con.  Chúa Giêsu coi trọng việc hiếu kính mẹ cha (x. Mt 15,3-9), nhưng Ngài đòi anh dành ưu tiên cho việc loan báo Tin Mừng.

Người thứ ba xin về từ giã gia đình trước đã.

Chúa Giêsu đòi anh ta dứt khoát thẳng tiến như người cầm cày, không quay lại với những kỷ niệm quá khứ, không bị cản trở bởi những ràng buộc gia đình, để tận tâm tận lực lo cho Nước Thiên Chúa.

Ba người muốn xin đi theo để làm môn đệ của Chúa Giêsu.  Thế nhưng, họ không dứt khoát chọn lựa như Êlisa, họ vẫn còn đắn đo kỹ lưỡng, chần chừ vì những lý do xác thịt và bịn rịn gia đình.  Chúa Giêsu trả lời cho cả ba trường hợp là “hãy theo Ta” và đặt giá trị thiêng liêng lên trên mọi của cải vật chất.  Theo Chúa lên Giêrusalem là đánh đổi cuộc đời quá khứ để lấy một tương lai mới, tuy vô định, đầy gian nan, bất trắc nhưng tươi sáng và chân thật hơn.  Ba trường hợp khác nhau, nhưng đều chung một lời mời gọi từ Chúa Giêsu.  Ba lời đối thoại trên cũng là ba đòi hỏi hướng đến điều răn thứ nhất: “Phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn” (Mt 22, 37).

Theo Chúa phải can đảm, phải chọn lựa và ưu tiên tìm kiếm và loan báo về Nước Thiên Chúa trước, còn mọi chuyện khác, Chúa sẽ lo cho sau.  Con đường đi tìm Chúa là con đường của từ bỏ… Tuy nhiên, muốn đạt được hạnh phúc thật thì phải lựa chọn trong tinh thần dứt khoát.

Nếu cuộc đời con người là một chuỗi những chọn lựa, thì chính những chọn lựa ấy sẽ dệt nên cuộc đời riêng của mỗi người.  Nếu cuộc đời người Kitô hữu là một chọn lựa dứt khoát cho việc tìm kiếm Nước Thiên Chúa, thì đó chính là một chuỗi những lời đáp trả tiếng Chúa vang lên từng phút giây trong cuộc sống.

Nhìn lại những chọn lựa hằng ngày, chúng ta chợt giật mình, vì thấy chúng ta thường hay chọn mình: sở thích của mình, tự do của mình, hạnh phúc của mình, gia đình của mình…  Chúng ta chọn tất cả những gì ít nhiều dính dáng đến bản thân.  Nhưng Đức Giêsu lại dạy: “Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước đã, còn mọi sự khác, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33).

Ơn gọi của Êlisa đến trong lúc ông đang cày ruộng, đang làm những công việc hàng ngày.  Ơn gọi của Phêrô xảy đến khi ông đang thả lưới, của Môsê khi ông đang chăn chiên, của Mathêu khi ông đang ngồi bàn thu thuế…  Ơn gọi tiêu biểu của mỗi cá nhân là ở trong bổn phận hàng ngày.  Sống ơn gọi của mình là biết chọn lựa và ưu tiên.  Đó cũng là lời mời gọi, hãy đơn giản hoá cuộc sống.

Cuộc sống thật đơn giản vì nó vốn rất đơn giản.  Khi còn nhỏ thì đơn giản, lớn lên trở nên phức tạp.  Khi nghèo khó thì đơn giản, lúc giàu có trở nên phức tạp.  Khi thất thế thì đơn giản, lúc có địa vị thì trở nên phức tạp.  Tự nhận bản thân đơn giản, đánh giá người khác phức tạp.  Thật ra, thế giới này rất đơn gỉan chỉ có lòng người là phức tạp.  Mà suy cho cùng thì lòng người cũng đơn giản, chỉ vì có lợi ích chi phối nên con người mới trở nên phức tạp.  Đời người, đơn giản thì vui vẻ.  Nhưng người vui vẻ được mấy người.  Đời người, phức tạp thì phiền não.  Nhưng người phiền não thì quá nhiều.  Trong cuộc đời mỗi người đều không thể tránh khỏi những lúc buồn phiền, lo lắng thậm chí là đau khổ.  Người vui vẻ không phải là người không có buồn phiền, mà là người không để cho những nỗi buồn và niềm đau ấy khống chế” (St).  Để sống bình an vui vẻ hạnh phúc, chúng ta chỉ cần sống đơn giản.  Chúa Giêsu là người thích sống đơn giản và bình thường.  Suốt ba năm rao giảng, Ngài mặc những chiếc áo, mang những đôi dép giản dị.  Ngài không nghĩ mình là Thiên Chúa, nhưng đã hạ mình trở nên như tôi tớ rửa chân cho các môn đệ, để đến với người nghèo, bệnh nhân và tội nhân.  Chúa Giêsu thích sự đơn sơ và bé nhỏ giữa đời thường.  Bởi vậy, Ngài mới nhắn nhủ các môn đệ: “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời ” (Mt 18,4).  Chúa Giêsu đã gieo vào lòng thế giới giá trị của yêu thương và phục vụ trong đơn giản âm thầm.

Đơn sơ là một đức tính quý báu trong linh đạo “thơ ấu thiêng liêng” của thánh Têrêxa Hài Đồng.  Sống đơn sơ và giản dị.  Đối với những tâm hồn đơn sơ, không cần có những phương thế phức tạp.  Nếp sống của Têrêxa luôn trong sáng, thành thực và tự nhiên.  Con đường thơ ấu thiêng liêng là sống cuộc sống đơn sơ, yêu mến Chúa, hướng tới trọn lành.  Sống đơn giản mới có được tinh thần thanh thoát và nhẹ nhàng, chúng ta mới nhạy bén để sống theo hướng dẫn của Thần Khí chứ không theo xác thịt, vì “anh em được gọi để hưởng tự do.”

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

TỪ BỎ: NGUYỆN ƯỚC CỦA MỖI NGƯỜI

“Vũ trụ và thời gian là một điệu nhảy của Chúa trong sự trống rỗng.  Sự tĩnh lặng của địa cầu là âm nhạc của một tiệc cưới.  Nếu chúng ta cứ kéo dài tình trạng hiểu lầm về những hiện tượng của cuộc sống, chúng ta càng phân tích chúng ra thành những kết cuộc vô nghĩa và mục đích phức tạp từ chính những khúc mắc của mình, chúng ta càng chìm sâu vào phiền muộn, phi lý, và tuyệt vọng.

Nhưng thật ra những điều đó không có quan trọng lắm, bởi vì không có tuyệt vọng nào của chúng ta có thể thay đổi được thực tế của vạn vật, hay làm nhem nhuốc đi niềm vui của điệu nhảy của vũ trụ mà nó luôn tồn tại.  Thực sự chúng ta đang ở giữa nó, và nó luôn ở giữa chúng ta, vì dầu muốn hay không, nó là nhịp đập trong huyết quản của chúng ta.  Tuy nhiên, sự thật vẫn mời gọi chúng ta biết quên đi chính mình, gởi gắm những gì riêng tư của chúng ta vào ngọn gió và cùng hoà chung vào điệu nhảy.”
Thomas Merton – New Seeds of Contemplation.

Khi đọc những lời tâm sự trên của Thầy Thomas Merton các bạn có thể nhận ra được sự thật của những lời nói ấy, sự thật được thốt ra từ một con tim đã khắc khoải với cuộc sống ngay từ thời thơ ấu.  Lớn lên trong hoàn cảnh thiếu bóng người cha và khi ông lên sáu lại mất mẹ.  Rồi ông theo người cha lang thang đây đó và bỏ lại một người em nhỏ cho họ hàng bên ngoại chăm sóc.  Nhưng những khắc khoải riêng tư ấy chẳng lấy đi được niềm vui trọn vẹn mà Thiên Chúa dành cho tất cả chúng ta nói chung, và Thầy Thomas Merton nói riêng; những tâm tình nặng trĩu của chúng ta chẳng bao giờ làm biến mất ánh nắng mặt trời dù chỉ là một tia nắng nhỏ; những bạo hành trên thế giới chẳng bao giờ lấy đi được khung trời xanh biếc; những lo lắng của chúng ta chẳng làm tắt tiếng chim kêu.  Gió vẫn thổi, mây vẫn trôi, đồi núi vẫn chập chùng, và sóng biển vẫn reo hò – không có gì thay đổi, và vũ trụ vẫn nhảy múa với bản tình ca tạo dựng.  Đây chính là sự thật.

“Tuy nhiên, sự thật vẫn mời gọi chúng ta biết quên đi chính mình… và cùng hoà chung vào điệu nhảy.”  Quên đi chính mình là điều mà Chúa Giêsu muốn nhắc nhở chúng ta trong bài Phúc Âm Luca chương 14.  Ngài mời gọi chúng ta từ bỏ mọi sự và vác thập giá để theo Ngài.  Sở dĩ lời mời gọi “từ bỏ” và “vác thập giá mình” luôn đi đôi với nhau vì “từ bỏ” tự chính nó là một thập giá nặng nề cho mỗi một người chúng ta.  Chúng ta có thể bỏ lối sống cũ để bước vào nề nếp của cuộc sống mới khi rời bỏ quê hương, khi lập gia đình, khi chọn cuộc sống tu trì, khi rời cuộc sống quen thuộc để đi làm ăn xa, v.v…, thế nhưng để buông thả sự “mất mặt”  hoặc đón nhận sự thua thiệt là một cái gì đó chúng ta khó mà chấp nhận được.  Có lẽ vì vậy trong Phúc Âm, Chúa Giêsu không nói đến thập giá của người khác nhưng Ngài nói đến “vác thập giá mình.”

Lắm lúc chúng ta hay cho rằng người này hoặc người nọ, cái này hoặc cái nọ là thập giá của mình.  Chúng ta chưa bắt tay vào việc mà đã thấy sự nặng nề của cây thập giá, nhưng thật ra điều đó có lẽ là một sự cố chấp hơn là sự thật.  Làm sao nó là thập giá của mình khi mình không để nó đè nặng trên vai, khi mình chọn Chúa cùng đồng hành và tin rằng mọi nặng nhọc của chúng ta đã có Con Một Thiên Chúa gánh vác, khi mình thật sự tin vào lời hứa của Ngài, “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghĩ ngơi bồi dưỡng” (Mt. 11:28)?  Hãy sống ơn cứu độ ngay từ lúc này, và hãy để Chúa Giêsu trả giá dùm mình bằng cách dâng lên tất cả những gì làm cho tâm hồn ta nặng nề, dù đó là điều làm cho ta mất mặt, lo lắng cho người thân đang trải qua những khó khăn, đang bị dày vò vì gia đình không hạnh phúc, hoặc cái gì đó làm cho ta cảm thấy thua thiệt.  Vì nếu chúng ta chưa biết buông thả và tin tưởng vào Chúa Giêsu và mang lấy ách nhẹ nhàng của Ngài, chúng ta thật sự không đáng là môn đệ Ngài.  Hãy sống với Ngài trong bằng an và “hãy gởi gắm những gì riêng tư của chúng ta vào ngọn gió và cùng hoà chung vào điệu nhảy” của bản tình ca tạo dựng.

Ở đây chúng ta không nói đến một lối sống thờ ơ vô trách nhiệm với những gì chúng ta cần phải làm hoặc làm lơ không đối diện với những gì chúng ta cần đối diện, nhưng hãy sống và làm tất cả với con tim và trong sự phó thác.  Thật ra chúng ta không làm chủ được gì: thời gian, bệnh tật, sự yếu đuối của con người, những gì xảy ra trong chốc lát hoặc ngày mai.  Thậm chí chúng ta không có thể mang lại bình an cho người khác khi con tim mình gặp những chuyện không vui.  Hãy đối diện những bất toàn và giới hạn của mình với Đấng đã đối diện những bất toàn và giới hạn của Ngài như là một con người với Thiên Chúa Cha.  Chúng ta nên sống mỗi ngày và bám vào Chúa Giêsu như người đang bị đắm thuyền bám vào cái phao, vì thực sự đó là cuộc sống của chúng ta.  Chúng ta biết rằng sống phó thác thật không dễ vì chúng ta ai cũng muốn mọi sự xảy ra như ta mong muốn hoặc trong phạm vi chúng ta có thể hiểu và chấp nhận được.  Tuy nhiên cuộc sống không bao giờ như chúng ta định và hành trình thiêng liêng là một hành trình đi vào trong thế giới bí ẩn của Thiên Chúa nơi chúng ta chẳng bao giờ hiểu và biết nhưng chỉ biết phó thác.  Vì thế, chúng ta vẫn cứ tiếp tục xin ơn để biết sống phó thác và đừng bao giờ bỏ cuộc.  Đừng quá chú tâm vào bản thân mình với những bất toàn của nó hoặc những gánh nặng mà nó đang mang, cũng như những lời nói không mấy thiện cảm mà quên đi sự hiện diện của một vũ trụ vô cùng tráng lệ Thiên Chúa đang ban cho để chúng ta làm chủ và thưởng thức.  Hãy cùng vui với tạo vật và tri ân tâm tình Thiên Chúa dành cho con người.  Hãy để nụ cười hồn nhiên của một em bé xoá tan đi nỗi buồn của mình.

Mong rằng mỗi người chúng ta biết nhận ra Chúa Giêsu là Thầy và là Chúa của mình, biết tin tưởng đủ để buông thả mọi sự cho Ngài, biết xin ơn sống ơn cứu độ ngay trong hiện tại, có như thế chúng ta mới đáng là người môn đệ thật sự của Ngài.

Củ Khoai