LINH ĐẠO LỮ HÀNH

Cuộc đời quá vắn vỏi.  Phải chăng phải lo tận hưởng lạc thú thế trần?

Những người đang trên đường

Đức Giêsu nói: “Đừng tích trữ những gì có thể mục nát hay trộm cướp có thể lấy đi được, nhưng hãy tích trữ những gì không hư nát và không thể bị đánh cắp.”  Cái mình cho là quý, mình luôn bận tâm và hướng lòng về đó.  Cái mình cho là quý, có thực sự là những điều trường tồn?  Tiêu chuẩn nào giúp mình nhận ra cái có giá trị thực sự?  Cái chết giúp con người nhận ra, mình chỉ là lữ khách.

Cái chết đến với mình lúc nào mình đâu có biết!  Một tai nạn giao thông có thể xảy ra ai lường trước được.  Mình đâu có thể mang tài sản vật chất đi với mình được.  Cuộc đời này qua mau.  Ai hành động như thể sống vĩnh viễn trên cõi đời này, là người không khôn ngoan.  Giờ chết đến, tôi sẽ ra đi tay trắng, và chỉ mang theo chính mình, ngay cả thân xác này cũng không thể mang theo được.

Đức Giêsu đã dùng dụ ngôn người đầy tớ chờ chủ về để dạy thái độ phải có khi sống trên dương thế này.  “Sẵn sàng.”  Phải tỉnh thức vì không biết giờ nào chủ về đến.  Cái chết là chung cho tất cả mọi người, cho cả các tông đồ và dân chúng.  Cách đối xử của Thiên Chúa với mọi người đều như nhau, dù ở bất cứ địa vị hay bậc sống nào.  Sự trung thành không hệ tại ở chức vụ nhưng qua cuộc sống, nơi việc làm.

Đức tin giúp sống linh đạo lữ hành

Chính đức tin giúp mỗi người sống linh đạo lữ hành trong đời trần thế này.  Vì tin vào Lời Chúa, mà Noê đã đóng tàu khi tất cả dường như rất bình yên.  Vì tin mà Abraham đã bỏ quê cha làng xóm để đi đến phương trời xa, đi theo lời mời gọi vừa chắc chắn vừa rất xa vời.  Ngay cả khi chết Abraham vẫn còn phải tin rằng mình sẽ có con cháu đông như sao trên trời như cát dưới biển, vẫn phải tin rằng Thiên Chúa sẽ ban cho mình và con cháu đất để sở hữu và canh tác (vì khi vợ Abraham là Sara chết, Abraham phải mua đất chôn vợ).  Vì tin mà bao nhiêu người đã dám hy sinh mạng sống để trung thành với Thiên Chúa.

Nếu không có đức tin, Noê, Abraham, và các anh hùng tử đạo đã không hành xử như vậy.  Nếu không có đức tin, các tín hữu đã chẳng sống nghèo và giúp đỡ những người khốn khổ.  Nếu không có đức tin, chắc người ta đã sống phóng đãng và bất chấp tất cả, cốt sao để được lợi trước mắt.

Đức tin giúp con người hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại, chấp nhận những điều không vừa ý một cách can đảm và anh hùng, cũng như giúp con người sống hạnh phúc trong những điều kiện mà người ta tưởng rằng không có thể.

Linh đạo lữ hành

Khi coi cuộc sống trần gian như cuộc lữ hành, không có nghĩa, coi thường cuộc sống trần thế, nhưng muốn nói, cuộc sống trần thế là thời gian dẫn ta tới sự sống vĩnh cửu.

Cuộc sống trần thế này rất quan trọng, nếu ta không tận dụng hoặc không sống nó một cách trọn vẹn, ta không thể dễ dàng tới đích ở cuối đường đời.  Cuộc đời chóng qua, nhưng rất quan trọng.  Cũng tương tự dùng máy bay để đi tới một nơi nào đó, tuy dù chỉ bay trong mấy giờ nhưng rất quan trọng, nếu không dùng thời giờ đó một cách đúng đắn nghiêm chỉnh, người ta không đi được tới nơi người ta muốn.  Đời tạm dẫn ta về quê trời, nếu không sống trọn vẹn đời tạm, e rằng khó đạt đến quê trời.

Đức tin giúp người ta nhận biết đúng thực tại, và Thiên Chúa luôn luôn ban ơn giúp người ta sống với Ngài ngay trong cuộc sống đời tạm này.  Thiên Chúa làm tất cả cho ta.  Hãy tin tưởng và vui sống, ngay cả trong “biển đời” này.

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

LÀM VIỆC QUÁ MỨC, MỚI ĐẦU LÀ TỐT LÀNH, KẾT CUỘC LÀ CHẠY TRỐN 

Có những mối nguy hại khi làm việc quá mức, dù việc làm hay động cơ của nó có cao đẹp thế nào đi chăng nữa.  Các hướng dẫn thiêng liêng, bắt đầu từ Chúa Giêsu, đã luôn luôn cảnh báo về những nguy hại của thói tham công tiếc việc.  Biết bao nhiêu bà vợ, trẻ con trong gia đình, biết bao nhiêu bạn bè, biết bao nhiêu người trong cộng đồng mong muốn người họ yêu thương chú tâm đến họ nhiều hơn thay vì cứ mải vùi đầu vào công việc.

Nhưng thật khó để tránh cho mình không rơi vào cảnh bận bịu quá mức và lao tâm khổ trí vì công việc, đặc biệt trong những năm tháng chúng ta dồi dào sinh lực, có những trách nhiệm nuôi nấng con cái, trả các khoản vay, điều hành giáo hội cũng như các tổ chức, đang ngày càng đè nặng hơn trên đôi vai chúng ta.  Nếu bạn là một người nhạy cảm, bạn sẽ đấu tranh không ngừng để những áp lực này không đè nặng trên bạn.  Về điểm này, Henry Nouwen mô tả đời sống của chúng ta như cái vali bị nhồi nhét quá nhiều.  Luôn luôn có việc phải làm, luôn luôn phải gọi điện thoại, phải gặp một ai đó, phải trả biên lai, phải kiểm tra một cái gì đó trên internet, phải đi khóa vòi nước bị hở, phải tuân theo thêm một đòi hỏi từ giáo hội hay xã hội, phải đi mua thêm thứ đồ gì đó.  Các đòi hỏi của đời sống cứ triền miên không dứt và chúng ta luôn nhận thấy vẫn còn có môt trách nhiệm gì đó mà chúng ta cần phải thực hiện.  Một ngày của chúng ta quá ngắn để làm cho hết những việc đó.

Và rồi chúng ta lao vào công việc.  Khởi đầu là một ý muốn tốt đẹp và vô hại, nhưng rồi nó biến qua thành một thứ khác.  Đầu tiên, chúng ta làm hết mình vì những đòi hỏi của cuộc sống buộc chúng ta phải làm như vậy, nhưng dần dần chúng ta gắn chặt với chúng, phục vụ tha nhân ngày càng ít mà thỏa mãn cá nhân ngày càng nhiều.

Đầu tiên, chúng ta thường mù quáng về điểm này, công việc sớm trở thành như một lối thoát.  Chúng ta luôn bận tâm bận trí, chúng ta có đủ lời để bào chữa và lý luận cố hữu sao cho khỏi đối diện với các mối quan hệ trong gia đình, giáo hội hay với Thiên Chúa.  Áp lực liên tục của công việc và trách nhiệm là gánh nặng nhưng lại là tấm chắn tối hậu của chúng ta.  Chúng ta không thấy được hương hoa cuộc sống nhưng cũng không đối diện với những điều sâu sắc nơi phần chìm của bề mặt cuộc sống.  Chúng ta có thể tránh né những vấn đề chưa giải quyết trong các mối quan hệ và trong tâm hệ mình.  Chúng ta có một lời bào chữa hoàn hảo!  Đó là chúng ta quá bận rộn.

Thường thì xã hội lại cổ võ cho xu hướng thoát ly này của chúng ta.  Với những thói nghiện khác, hẳn chúng ta đã phải đi gặp bác sĩ rồi, nhưng với thói nghiện công việc, thường thường chúng ta lại được ngưỡng mộ nếu nghiện nặng và được tuyên dương vì chính sự ích kỷ này: Nếu tôi ăn uống quá độ, nghiện chất kích thích, tôi bị người ta khó chịu và thương hại, nhưng nếu tôi làm việc quá độ đến đỗi thờ ơ với những cấp bách lớn lao và quan trọng của cuộc sống, người ta lại nói với tôi: “Hẳn bạn thật tuyệt vời!  Bạn tận tụy quá mức!”  Hội chứng nghiện công việc là một thói nghiện mà nhờ nó chúng ta được tuyên dương.

Ngoài việc nó cho chúng ta một lối không lành mạnh để thoát khỏi những vấn đề quan trọng mà đáng ra chúng ta phải giải quyết, thói làm việc quá mức còn gây nên một mối nguy lớn khác.  Chúng ta càng vùi đầu vào công việc thì càng dấn sâu vào mối nguy xem ý nghĩa đời sống dựa trên công việc hơn là dựa trên các quan hệ của mình.  Khi càng chìm đắm trong công việc, thì các mối quan hệ của chúng ta càng sứt mẻ nhiều hơn, và rồi ý nghĩa đời sống ngày càng phụ thuộc vào công việc hơn là quan hệ.  Vô số cây bút thiêng liêng đã nêu lên các mối nguy trong thói tham công tiếc việc, một điểm không nhỏ trong số đó là càng ngày chúng ta càng khó tìm ra ý nghĩa đời sống ở bất cứ nơi nào khác ngoài công việc.  Những thói quen cũ rất khó bị phá vỡ.  Nếu chúng ta đã dành nhiều năm để xây dựng bản sắc của mình qua cách làm việc cật lực và được yêu mến do tính cách nhà nghề hay lòng tận tụy của mình, thì thật khó để chúng ta thay đổi và tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời từ bất cứ điều gì khác.

Các ngòi bút thiêng liêng kinh điển đều nhất loạt lưu ý về mối nguy trong sự làm việc quá mức và thói tham công tiếc việc.  Thật vậy, Chúa Giêsu đã lưu ý Martha khi cô mải mê với những việc cần làm để dọn bữa ăn rồi phàn nàn Maria không chịu giúp cô.  Câu trả lời của Chúa thật bất ngờ, thay vì trách Maria lười biếng và khen Martha tận tụy, Chúa Giêsu lại nói Maria đã chọn phần tốt hơn, và rồi trong lúc đó và trong bối cảnh đó, tính lười biếng của Maria lại thắng sự bận rộn của Martha.  Tại sao vậy?  Bởi đôi khi trong đời sống có những điều quan trọng hơn cả công việc, cho dù đó là công việc cao quý và cần thiết để thể hiện lòng hiếu khách và để chuẩn bị bữa ăn cho mọi người.

Thói lười biếng hẳn là do ma quỷ, nhưng bận rộn không phải lúc nào cũng là một đức tính tốt.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CHẤP NHẬN ƠN RIÊNG ĐỂ PHỤNG SỰ THIÊN CHÚA

Trưởng thành tâm linh là nhận biết sức mạnh và sự yếu đuối của mình.  Chúng ta bắt đầu nhận thấy các lĩnh vực cho phép chúng ta yêu mến và phụng sự Thiên Chúa – và tha nhân, đồng thời chúng ta cũng nhận thấy nơi nào chúng ta có thể làm việc, và chấp nhận rằng chúng ta có thể thiếu các tặng phẩm nào đó mà người khác lại có.  Chúng ta là những cá nhân, mặc dù chúng ta được liên kết với nhau trong Nhiệm Thể Đức Kitô.

Một sai lầm chúng ta thường mắc phải là so sánh mình với người khác.  Chúng ta có thể tập trung quá nhiều vào các tặng phẩm mà người khác có chứ không chấp nhận chính mình.  Người trưởng thành tâm linh là người nhận thấy mình thiếu khả năng hoặc tài năng về lĩnh vực nào đó.  Điều này không có nghĩa là chúng ta yếu kém, mà vì Thiên Chúa có con đường khác dành cho chúng ta khác với con đường của người khác.

Chúng ta không được yêu cầu bước đi trên con đường của người khác, mà được yêu cầu bước đi trên con đường mà Thiên Chúa đã đặt ra trước mặt chúng ta.  Ngài tạo nên mỗi chúng ta và Ngài biết rõ chúng ta có thể hoàn thiện theo cách nào.  Nếu chúng ta cầu xin Ngài và cứ để Ngài hành động, Ngài sẽ làm cho chúng ta nên thánh.  Điều đó có nghĩa là tự so sánh mình với người khác là ghen tỵ, mà đố kỵ với người khác là lãng phí thời gian.  Thiên Chúa muốn mỗi chúng ta sử dụng các tặng phẩm Ngài đã ban cho chúng ta để làm theo mục đích của Ngài chứ không theo mục đích riêng của chúng ta.  Đấng đáng kính Hồng Y Fulton Sheen giải thích: “Thiên Chúa trao ban các tặng phẩm khác nhau cho những con người khác nhau.  Không có nền tảng để cảm thấy thua kém người có tặng phẩm khác.  Khi nhận biết rằng chúng ta sẽ bị xét xử theo tặng phẩm mình đã nhận, chứ không phải là tặng phẩm mình không nhận, người ta sẽ hoàn toàn thoát khỏi cảm giác thua kém.”

Nhận biết Thiên Chúa mong muốn chúng ta là người mà chúng ta là, hoặc không đi cùng con đường như người khác thì chúng ta sẽ cảm thấy tự do.  Khi chúng ta không tự so sánh mình với người khác hoặc mong muốn những điều của chính mình, chúng ta có thể sống theo ý Chúa và theo kế hoạch Ngài đã dành cho cuộc đời của chúng ta.  Ngài muốn mỗi chúng ta nên thánh theo ý Ngài muốn với những gì là của chúng ta – mối quan tâm, năng lực, sức mạnh, sự yếu đuối, và sai lầm của riêng mình.  Dĩ nhiên Ngài muốn chúng ta tiếp tục hành động để vượt qua sự yếu đuối và sai lầm của mình.

Sự tự do này cũng có thể giúp chúng ta vượt qua thói ghen tỵ, đố kỵ, và ngồi lê đôi mách, hết chuyện nhà ra chuyện người – ngày nay gọi là dạng “bà tám.”  Đó là mối nguy hiểm, đặc biệt đó là thói xấu dễ dàng dẫn tới việc vu khống.  Tán gẫu nhiều sẽ dẫn tới ghen ghét hoặc thù hận.  Trước tiên chúng ta nhìn vào tặng phẩm của người khác – dù về thể lý, trí tuệ, tinh thần…  Chúng ta thường hủy bỏ bất cứ điều tốt nào mà chúng ta cảm thấy không an toàn vì mình thiếu điều tốt đó.  Điều này thường xảy ra trong môi trường công việc, nhưng cũng thường xảy ra trong các giáo xứ hoặc cộng đoàn.

Chúng ta biết rằng người nào đó làm điều gì đó mà chúng ta không thể làm được và chúng ta cảm thấy bị đe dọa, rồi chúng ta hành động trong nỗi lo sợ đó.  Chính nỗi lo sợ đó khiến chúng ta tin rằng chúng ta thua kém hoặc không được quý mến như người có khả năng kia.  Kẻ thù muốn dẫn chúng ta tới sự bất an và không tin tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta.  Lúc đó, chúng ta quên rằng mặc dù chúng ta không xứng đáng với tình yêu của Thiên Chúa, Ngài vẫn đại lượng trao ban cho chúng ta tình yêu thương vô hạn của Ngài.  Không có sự so sánh giữa bạn và tôi, bởi vì tình yêu Thiên Chúa dành cho mỗi chúng ta là tình yêu sâu thẳm nhất và trọn vẹn nhất, chúng ta không được phép lo sợ về sự yếu đuối của chúng ta, bởi vì đó là điều Thiên Chúa đã biết.  Tặng phẩm của chúng ta khác nhau.

Một dạng ngồi lê đôi mách khác do lòng thù hận.  Có thể ai đó làm điều gì đó mà chúng ta không thích hoặc tính cách người đó không hợp với mình, thế nên chúng ta “nói nhỏ” với người khác để làm cho chúng ta cảm thấy thoải mái hoặc làm hại người khác.  Chính những lúc đó Thiên Chúa yêu cầu chúng ta yêu thương cả những người chúng ta cảm thấy khó ưa hoặc những người phản bội chúng ta.  Là Kitô hữu và có nền tảng yêu thương, chúng ta được mời gọi yêu thương cả kẻ thù.  Nghĩa là chúng ta phải chấm dứt bàn ra tán vào, tránh xa những người lắm mồm nhiều chuyện.  Đó là do tức giận hoặc thù hận, nguyên nhân thường là do tính đố kỵ.

Để sống vì Nhiệm Thể Đức Kitô trong thế giới ngày nay, chúng ta phải sống theo kế hoạch của Thiên Chúa dành cho mỗi chúng ta để chúng ta có thể cùng phục vụ với các anh chị em khác trong Đức Kitô.  Nghĩa là chúng ta phải loại bỏ sự bất an và nỗi lo sợ về tình trạng mình không đủ tốt để chấp nhận và nghỉ ngơi trong tình yêu mà Thiên Chúa dành cho mỗi chúng ta.  Các con đường của chúng ta đều khác nhau.  Các tặng phẩm Thiên Chúa ban cho mỗi chúng ta cũng khác nhau.  Hãy nhìn vào cách khác nhau mà các thánh đi theo con đường riêng, sứ vụ riêng, tặng phẩm riêng, và tính khí riêng.  Thánh Teresa Calcutta có sợ Thánh Thomas Aquinô không?  Không.  Các ngài sống theo con đường nên thánh riêng mà Thiên Chúa đã mời gọi, các ngài phục vụ Thiên Chúa và Giáo Hội cũng hoàn toàn theo tính cách khác, kinh nghiệm khác, trí tuệ khác, và các nhiệm vụ rất khó.  Chúng ta không được mời gọi giống như các ngài, nhưng chúng ta được mời gọi giao lại các tặng phẩm của mình cho Thiên Chúa theo mục đích của Ngài.

Một trong những điều bất công mà chúng ta làm cho nhau là muốn con đường của người khác cũng như con đường của mình.  Chúng ta sai lầm khi tin rằng cách của chúng ta là cách duy nhất đúng đắn bởi vì kinh nghiệm của mình cũng phải là cách đối với người khác.  Thiên Chúa không có nhiệm vụ chung cho tất cả chúng ta, thế nên nếu chúng ta tin rằng cách của mình là cách duy nhất, chúng ta sẽ đối lập với Thiên Chúa.  Chúng ta phải nhớ rằng mỗi chi thể trong Nhiệm Thể đều phải hướng về cùng một mục đích, nhưng không cùng một con đường.  Có vô số con đường tới Giêrusalem, nhưng đích đến luôn luôn giống nhau.  Điều này cũng đúng đối với Thời Cánh Chung của chúng ta.

Có sự tự do lớn lao khi nhận biết sức mạnh và sự yếu đuối của mình.  Điều đó cho phép chúng ta ấp ủ con đường riêng mà Thiên Chúa kêu gọi mỗi chúng ta bước đi.  Điều đó dạy chúng ta cẩn thận và giúp chúng ta biết khi nào nói “có” và khi nào nói “không”.  Có nhiều điều mà người khác có thể làm tốt hơn chúng ta bởi vì họ có tặng phẩm đặc biệt mà Thiên Chúa ban cho họ, giống như chúng ta đặt các tặng phẩm dưới chân Chúa để phục vụ Giáo Hội và thế giới.  Khi chúng ta đón nhận các tặng phẩm đó, chúng ta sẽ giảm bớt xét đoán người khác vì con đường của họ khác với con đường của chúng ta và chúng ta cũng sẽ thấy dễ dàng tránh né những cuộc tán gẫu.   Tất cả chúng ta đều phải tìm kiếm đường lối của Thiên Chúa dành cho chúng ta, chứ không phải con đường của chính chúng ta.  Yêu thương nhau như anh chị em trong Đức Kitô là nhận biết các tặng phẩm riêng ở mỗi người.  Khi làm vậy, chúng ta sẽ có thể kết hợp các tặng phẩm của chúng ta để chúng ta có thể đưa thế giới sa ngã này về với Đức Kitô.

Constance T. HullTrầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

HÃY SỐNG NHƯ SẼ CHẾT

Một học sinh miệt mài học tập, sau những năm dài chăm chỉ, hy vọng sẽ nắm trong tay mảnh bằng cấp, nhờ đó có thể vun đắp cho tương lai đời mình.  Tương tự, người lao động muốn làm việc thành thạo, phải có một thời gian gắn bó với việc mình làm, biết đâu nhờ đó tương lai rạng sáng hơn…  Như vậy, sau những năm dài học tập hay làm việc đều là một quá trình.  Để làm thành quá trình, đòi phải có thời gian…

Cùng là một quá trình, đời người là sự góp nhặt thời gian.  Để làm thành một cuộc đời, ai cũng phải một lần có mặt trong thời gian.  Thời gian là cánh cửa mở rộng với cuộc đời của người này, nhưng cũng có thể khép chặt nơi cuộc đời của người khác.  Vì có những cuộc đời dài đến trăm năm, nhưng không ít mảnh đời chỉ mới thành thai trong lòng dạ một ai đó đã vội tắt.  Dẫu thời gian có một chiều dài hay chỉ là khoảng ngắn, đủ để ta gọi đó là cuộc đời.  Cuộc đời là một quá trình dài ngắn khác nhau, cũng giống như học tập hay làm việc đòi cả một quá trình.

Giống nhau đến vậy.  Nhưng lại không giống chút nào với quá trình học tập, làm việc của một học sinh hay một người lao động.  Rất khác, khác xa, khác đến nỗi không thể so sánh!  Sao giống rồi khác?  Chẳng phải mâu thuẫn lắm sao?

Một quá trình học tập, làm việc của một người, đưa tới niềm hy vọng và tương lai sáng sủa phía trước.  Nhưng cái đích cuối cùng mà mỗi cuộc đời phải chạm tới không bao giờ là tương lai sáng sủa, ngược lại, rất oan nghiệt, vì đó là cái chết.  Chết là kết thúc của một hành trình sống.  Chết là không bao giờ hiện diện nữa, là mất hút, là thối rữa, hoặc chỉ còn một chút tro tàn.  Nói cho cùng: Nếu chỉ nhìn trên bình diện thể xác và vật chất, con người chẳng khác một con vật: sống để rồi chết; chết để rồi tàn phai.

Nói như thế, có thể bị coi là bi quan.  Nhưng đó là sự thật.  Vì chân lý cuối cùng trong cuộc đời mỗi người sẽ quy về một sự thật hiển nhiên Là: Có sống, sẽ có chết!  Bạn và tôi đều đặn nhịp bước trong cuộc đời, vẫn cần những khoảnh khắc dừng chân nhìn thẳng vào sự thật bị coi là bi quan ấy để nhận ra mình, nhận ra lẽ sống mà mình đang chọn, cách sống mà mình đang thực hiện.  Nếu cần, điều chỉnh cho phù hợp.

Thật ra, sống hay chết chẳng bi quan với hết mọi người.  Chỉ những ai thiếu đức tin, không tin, nếu có lúc bất chợt suy tư, trước mặt họ đúng là đáng sợ, bi quan, là cả một bầu trời vô định và đen tối, một khoảng không vô tận không biết lấy gì lấp đầy.

Nhưng với người có đức tin, lẽ sống họ chọn sống là chính đức tin, sẽ cung cấp cho họ lối sống phù hợp với đức tin.  Đức tin ấy nung đốt trong lòng họ niềm mến yêu con người, mến yêu cuộc đời.  Chính vì lẽ sống đức tin, niềm mến yêu ấy, họ sống vị tha, khoan dung, biết khước từ sự sang trọng giả tạo, khước từ đam mê sở hữu, đam mê vật chất một cách tha hóa, biến chất đến độ mất lương tri, chẳng còn nhân phẩm…

Bởi đó, nếu thời gian là thước đo những tháng năm dài học tập, làm việc của người học trò hoặc của người lao động, thì thời gian cũng sẽ là cán cân đong đếm cuộc đời mỗi người.  Chiếc cán cân ấy khắc ghi từng con số.  Nếu bạn là người có đức tin, hãy sử dụng cuộc đời mình để khi thời gian càng dài, cán cân thời gian đo cuộc đời càng thêm những chỉ số của sự cộng tác với ơn Chúa, lòng đạo đức, sự thánh thiện, chứ không phải khắc thêm chỉ số của bần tiện, gian dối, giả trá, tội lỗi…

Nếu nói nghĩ về cuối hành trình của cuộc đời mỗi người để nhận ra cái chết đang chờ đón là bi quan, thì hôm nay, trong Tin Mừng, Chúa Giêsu mời gọi hãy nhìn thẳng vào nỗi bi quan ấy và suy nghĩ cách thấu đáo về lối sống và lẽ sống mà mình chọn sống.  Đó là câu chuyện nhà phú hộ có dư thừa của cải kia, chỉ biết xây dựng cuộc sống của mình trên đống của cải ấy.  Chính khi ngụp lặn trong đam mê vật chất, nhà phú hộ đã đánh đổi Thiên Chúa, thay vào đó là cái kho của cải to lớn mà ông còn đang dự định xây lại một cái kho khác còn to lớn hơn.

Nhưng khốn nạn cho ông!  Chính khi nhà phú hộ khép kín đời mình trên đống của; khi còn đang ảo tưởng về sự tính toán khôn ngoan của mình; khi ông chất chứa, không chỉ trong kho, nhưng trong chính lòng ông mọi thứ tham vọng trần tục, kiêu ngạo và hưởng thụ, là chính lúc cái chết đang ập đến trên ông.  Lời của Thiên Chúa qua môi miệng Chúa Giêsu còn đó, như một bản án khắc nghiệt dành cho những ai đam mê thế tục đến mức che mờ đức tin, nặng hơn: chối từ đức tin: “Nhưng Thiên Chúa bảo anh ta rằng: ‘Hỡi kẻ ngu dại, đêm nay người ta sẽ đòi linh hồn ngươi, thế thì những của cải ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai?’”  Và Chúa kết luận, một lời kết luận cũng khắc nghiệt không kém: “Vì kẻ tích trữ của cải cho mình mà không làm giàu trước mặt Chúa thì cũng vậy.”

Hóa ra nghĩ về cuối hành trình của sự sống để chuẩn bị cho giờ chết chẳng phải bi quan, nhưng là thái độ lạc quan, rất lạc quan và khôn ngoan, rất khôn ngoan.  Vì nếu ai biết sống như sẽ chết, nghĩa là chuẩn bị sẵn sàng cho cái chết của bản thân như đức tin dạy bảo, chắc chắn người đó thanh thản lắm, tâm hồn thơ thới bình an lắm.  Những người như thế sẽ để lại trong lòng người ở lại nhiều niềm thương, nỗi nhớ vô cùng.

Ngược lại, kẻ chỉ biết xây dựng đời mình bằng cách loại trừ đức tin, bằng hưởng thụ, tham lam, đam mê xấu, tha hồ ngụp lặn trong tội lỗi, suốt đời là những bước đi vô định, để cuối cùng, đứng trước cái chết, rơi vào nỗi hoang mang, lo sợ, lương tâm dằn xé, đó mới chính là nỗi bi quan đến tột cùng, bi quan không gì bằng!  Nỗi bi quan lớn như vậy là bởi sống không định hướng.  Mà sống đã không định hướng, chết tất sẽ mịt mù, bi đát.

Bạn và tôi là người có đức tin, hãy nhớ điều này: Thật ra của cải không xấu.  Xây kho hay hưởng thụ vừa phải những gì Thiên Chúa ban cũng không xấu, “nhưng phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam” (Lc 12, 15).  Đừng để nhà kho, két sắt, ví tiền thành mục đích.  Vì người giàu đáng yêu trước mặt Chúa là người biết cho đi.  Làm sao để cuối hành trình trần thế, đến trước tòa Chúa, chúng ta thấy kho của mình trống trơn, vì vừa mới cho đi tất cả.

Lm. Vũ Xuân Hạnh

MỘT VỊ THÁNH DÁM NGHĨ LỚN TRONG ĐỜI TU

Tôi có vài dịp trò chuyện với những người giúp khơi nguồn sáng tạo cho tuổi trẻ.  Họ cố gắng giúp người trẻ tìm được động lực không chỉ để làm giàu, nhưng còn để phát triển một cách bền vững.  Với những năm kinh nghiệm trong nghề, họ trích nhiều ví dụ sống động từ những người đã thành đạt và hạnh phúc trên thế giới.  Những điều họ chia sẻ cứ theo tôi hoài.  Tuy nhiên, là tu sĩ theo Chúa Giêsu, tôi có được phép nghĩ lớn và được làm những điều vĩ đại không?  Nếu cứ lướt trên những đường băng [1] mơ mộng ấy, liệu người tu sĩ có rơi vào con đường danh vọng và cao ngạo kiêu kỳ không?  Rối bời…

Tôi cầu nguyện, hỏi Chúa.  Chiêm ngắm những vị thánh, tôi thấy họ cũng có những ước mơ lớn lao.  Chỉ khác một điều là họ đặt ước mơ, hoài bão ấy trong kế hoạch của Thiên Chúa.  Họ làm mọi thứ vì lòng yêu mến và dấn thân hết mình vì lý tưởng Giêsu.  Một trong những vị thánh mang những đặc tính ấy, chúng ta phải kể đến thánh I–nhã, Đấng sáng lập Dòng Tên.

Trước năm Columbus khám phá ra Châu Mỹ cũng là lúc I–nhã chào đời (năm 1491).  Được sinh ra trong một gia tộc giàu có ở Loyola, Tây Ban Nha, I–nhã mê thích chuyện binh đao thế sự. [2]  Ông thích luyện võ nghệ và ước mơ chinh phục những tiểu thư xinh đẹp.  Người ta ngả mũ tán phục chàng hiệp sĩ I–nhã trong trận chiến ở pháo đài Pamplona (năm 1521).  Hào khí chiến đấu trong ông luôn hừng hực, kết quả là một viên đại bác đã khiến ông gãy chân.[3]  May mà quân Pháp tử tế giúp đưa ông về gia đình để điều trị.

Không hài lòng với lần phẫu thuật đầu tiên, ông đề nghị bác sĩ mổ lần hai để kéo dài chân ông ra.  Đau đớn vô cùng, vì thời đó không có thuốc gây mê, nhưng ông vẫn chấp nhận vì ông cần vẻ điển trai trước nhiều thiếu nữ.  Sau lần phẫu thuật đó, ông vẫn phải chấp nhận đi cà nhắc.[4]

Có lẽ cuộc đời ông thay đổi từ những ngày tháng trên giường bệnh.  Ông nhờ người tìm những sách kiếm hiệp, tiểu thuyết để giết thời gian.  Tiếc là người ta chỉ tìm được cho ông hai cuốn: Gương Chúa Giêsu và Hạnh các thánh.  Thôi thì có còn hơn không!  Ông đọc và đọc.  Trong sách đó, hai vị thánh tác động mạnh đến ông là thánh Phanxicô Assisi, và thánh Đa Minh.[5]  Ông nói hai vị đại thánh này làm được những điều trọng đại, ông cũng sẽ làm được và muốn làm vĩ đại hơn.  Họ ăn chay hãm mình, ông cũng muốn làm hơn họ.  Theo gương hai vị thánh này, I–nhã cũng muốn hiến mình để đi chinh phục Đất Thánh cho Kitô giáo.  Theo đó, người ta thấy tinh thần hiệp sĩ luôn chất chứa trong con người I–nhã.

Từ đó ông lên đường thực thi hoài bão lớn lao.  Thay vì trở lại phục vụ vua trần gian, ông quay sang phục vụ Vua Hằng Sống, đó là Thiên Chúa.  Chắc chắn đường lối huấn luyện của Thiên Chúa sẽ khác đường lối lập nghiệp của người đời hôm nay.  I–nhã tìm nguồn động lực, gợi hứng từ chính Thiên Chúa.  Ông rút lui vào cô tịnh.  Một mình đối diện với chính mình, với Thiên Chúa để ông tìm câu trả lời cho thành công của mình.

Người ta vẫn còn thấy biết bao đau khổ gian nan của chàng hiệp sĩ chập chững trên con đường thiêng liêng.  Ông nhiều lần muốn từ bỏ ước mơ thánh thiện, phụng sự Thiên Chúa và giúp đỡ tha nhân.  Những hào nhoáng vinh quang thế sự thi thoảng ùa về khiến ông rối bời.  Ngoài ra, hình ảnh những tiểu thư đài các khiến ông xao lòng.  Tuy nhiên, sau những lần đó, ông cảm thấy không được gợi hứng nhiều.  Ông thất vọng, nhụt chí và mất sức sống.  Ngược lại, những lần suy nghĩ về Thiên Chúa, những lần cầu nguyện nhiều giờ bên Chúa, ông lại tìm được nhiều hứng khởi; nhiệt huyết yêu mến trong ông dâng trào.  Kinh nghiệm ấy được ông gói gọn trong hai từ: Thần hiệp; nghĩa là, được kết hợp trọn vẹn với Thiên Chúa.

Trong khi ở hang động Marêsa chừng 1 năm [6], ông viết lại những kinh nghiệm thiêng liêng trong một cuốn sách: Linh Thao.  Đây là công cụ để giúp người ta dám nghĩ lớn, dám làm lớn trong Thiên Chúa.  Ông lên đường để thực hiện giấc mơ ấy vào năm 1523.  Lúc nào ông cũng được thôi thúc nói về Thiên Chúa và giúp đỡ các linh hồn.  Tâm hồn thính giả cũng bừng sáng khi nghe I–nhã chia sẻ.  Từ đó, ông bắt đầu nổi tiếng.

Chưa dừng ở đó, I–nhã còn nghĩ lớn đến chuyện phải qua Giêrusalem để đi lại những chỗ Giêsu đã đi qua.  Ông muốn giống Đức Giêsu hoàn toàn.  Từ Barcelona, ông bắt tàu vượt biển đến Đất Thánh mà trong tay không có tiền (năm 1523).  Ông đi bằng niềm tin!  Chính Thiên Chúa đã giúp ông đến được Đất Thánh.  Nơi đây, người đời thấy chí khí của ông rõ hơn: ông muốn ở lại để truyền giáo cho người Hồi giáo.  Thời đó, dĩ nhiên không ai cho ông ở lại vì tính chất phức tạp và nguy hiểm của vùng đất này.  Ông bị đuổi về Tây Ban Nha.

Nơi quê nhà vào năm 1524, ông vẫn rong ruổi rao truyền kinh nghiệm thiêng liêng để giúp người ta yêu mến Chúa.  Ông nói những điều liên quan đến đức tin mà một giáo dân như ông thời đó không được phép.  Bởi thế, ông bị giáo quyền tra khảo, bỏ tù và dọa nạt.  Tuy nhiên, vẫn khí chất cương nghị, ông không từ bỏ ước mơ nói về Thiên Chúa cho con người.  Lúc ngoài 30 tuổi vẫn luôn đặt câu hỏi cho mình: “Tôi phải làm gì?”  Đó là câu hỏi đã đẩy ông đến vùng trời Paris.

Số là sau những lần khó khăn với giáo quyền, ông quyết định đi học để làm linh mục.  Vì khi có bằng cấp, ông được phép nói về Thiên Chúa và sẽ được nhiều người tin tưởng hơn.  Ông chọn một trường học tốt nhất thời đó: Đại Học Paris.[7]  Đây là giai đoạn thách đố với một người lớn tuổi (30) như ông, cặm cụi với từng con chữ.  Nhanh chóng ông quen dần với môi trường tri thức, và có những người bạn mới.  Ông gọi họ là những người bạn trong Chúa (friends in the Lord).  Trong đó phải kể đến thánh Phanxicô Xaviê, một người có hoài bão lớn không kém I–nhã.

Lúc này, năm 1534, nhóm của I–nhã có 9 anh em.  Ai cũng nuôi ước mơ lớn và sẵn sàng làm bất cứ điều gì để tôn vinh Thiên Chúa hơn.  Sau khi tốt nghiệp đại học [8], họ khấn hứa giữ khó nghèo, khiết tịnh.[9]  Họ chọn một thủ lãnh là Chúa Giêsu.  Đó là nhóm Bạn Đường, tiền thân của Dòng Tên sau này.  Họ ước mơ xa hơn là đi đến Đất Thánh để phụng sự Chúa ở đó.[10]  Tuy nhiên, thời đó đang có chiến tranh, nên tàu đi đất thánh rất hiếm.  Trong hoàn cảnh đó, họ bàn thảo nghiêm túc với nhau dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.  Trong văn bản của cuộc họp đó, nhóm đã thống nhất: “Nếu trong vòng một năm không đi được Đất Thánh, họ sẽ về Rôma để đặt mình dưới chân Đức Giáo Hoàng.”  Chiến tranh mỗi lúc một leo thang, nên họ thực hiện kế hoạch về Rôma.

Khi về Rôma vào năm 1536, nhóm mạnh dạn xin với Đức Giáo Hoàng thành lập Dòng và lấy tên là Dòng Giêsu (The society of Jesus).  Bởi, họ biết chỉ có như thế nhóm mới liên kết được với nhau trong Chúa Kitô và trong Giáo hội.  Năm 1539, Giáo hoàng Phaolô III phê chuẩn.  Kể từ đây, ước mơ của I–nhã được Thiên Chúa đặt vào lòng Giáo Hội để phục vụ con người một cách hiệu quả.  Trong vai trò là bề trên tổng quyền, I–nhã cùng với Dòng phát triển nhanh chóng cả về hai phương diện: giáo dục và truyền giáo trên khắp thế giới: Âu, Á, Phi, Mỹ.

Thánh I–nhã qua đời tại Rôma vào ngày 31 tháng 7 năm 1556, để lại một con đường gợi hứng cho biết bao nhiêu người.  Con đường ấy phải bắt nguồn từ Thiên Chúa, và mọi gợi hứng, động lực đều chỉ với một mục đích: Cho vinh danh Thiên Chúa hơn – Ad Maiorem Dei Gloriam.

Trở lại vấn đề trên đây, hóa ra đi tu cũng đòi hỏi người tu sĩ nhiều ước mơ lớn lao.  Thiên Chúa đòi hỏi họ dấn thân hết mình, làm mọi sự với mục đích không vì danh vọng tiền tài.  Đích nhắm cho những cố gắng ấy là để làm cho vinh danh Chúa hơn và giúp cho nhiều linh hồn được cứu độ hơn.  Như thế, nguồn cảm hứng và động lực của người tu sĩ được kín múc từ Thiên Chúa.  Họ sẵn sàng bước vào những cuộc chiến đấu thiêng liêng.  Qua những môi trường huấn luyện như thế, họ biết mình, biết Chúa và biết phải làm gì.

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ
Nguồn: https://dongten.net/

[1] Đây là tựa đề cuốn sách nổi tiếng: Tony Buổi Sáng, Trên Đường Băng, Nxb Trẻ, 2017.

[2] Như lời thú nhận của thánh nhân: “Mãi cho đến 26 tuổi, ông ta là người chỉ xả thân vào những chuyện hư danh thế tục, đặc biệt ông thích thú về những việc tập luyện võ nghệ với khát vọng mãnh liệt và hư danh làm sao cho mình được nổi tiếng.” (Tự thuật số 1).

[3] Một chân của I-nhã bị thương nhẹ, nhưng chân kia bị gãy nghiêm trọng. Sau khoảng 12-14 ngày ở lại Pamplona, I-nhã được khiêng về gia đình tại lâu đài Loyola trên một chiếc cáng, cách Pamplona chừng 70 dặm.

[4] Khi viết về giai đoạn này, cha Polanco –thư ký của cha I-nhã – cho biết: “Có thể thấy nơi I-nhã là một con người Thiên Chúa tạo nên cho một mục đích lớn lào.”

[5] Ông nói: “Giả như tôi làm điều mà thánh Phanxicô đã làm và điều mà thánh Đaminh đã làm thì sao?”, hay “Thánh Đaminh đã làm điều này; còn tôi, tôi cũng phải làm điều đó. Thánh Phanxicô đã làm điều kia, còn tôi, tôi cũng làm điều ấy.” (Tự thuật số 7).

[6] Inhã lưu lại Manresa trong khoảng một năm từ 25-3-1522 đến tháng 2-1523, sau đó đến Barcelona.

[7] Inhã đã đi bộ tới Paris vào tháng 2 năm 1528.

[8] Năm 1535 I-nhã đã tốt nghiệp hai bằng: cử nhân triết học và cao học thần học tại Đại Học Paris. Một năm sau, I-nhã được thụ phong linh mục và cử hành thánh lễ mở tay tại Rôma.

[9] Trong một nhà nguyện ở Montmatre tại Paris vào ngày 15 tháng 8 năm 1534. Ở đó họ đã khấn khó nghèo và khiết tịnh như là một thân thể tông đồ tu trì đích thực, và họ đã khấn đi Giêrusalem, hoặc Rôma.

[10] Họ đã quyết định phải đi Giêrusalem để sống cả đời mình ở đó cho lợi ích của các linh hồn. Các học giả cho rằng có lẽ lần trước ở Giêrusalem, I-nhã đã ngầm xin phép với những vị có thẩm quyền của Dòng Phanxicô về ý định này.

ĐƯỢC THỤ THAI BỞI HÃM HIẾP, TẠ ƠN CHÚA TÔI KHÔNG BỊ PHÁ THAI

“Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo; dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con.  Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng, công trình Ngài xiết bao kỳ diệu!  Hồn con đây biết rõ mười mươi.  Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm gì, khi con được thành hình trong nơi bí ẩn, được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu.

Con mới là bào thai, mắt Ngài đã thấy; mọi ngày đời được dành sẵn cho con đều thấy ghi trong sổ sách của Ngài, trước khi ngày đầu của đời con khởi sự.” (Thánh Vịnh 139, 13-16)

Tôi luôn ý thức rằng mình là một người con nuôi.  Tôi nhớ cảnh cha mẹ tôi đã phải đặt tôi ngồi xuống, và giải thích mọi chuyện cho tôi.  Tôi đã khóc cho tới khi ngủ thiếp đi bởi ý nghĩ rằng, họ không phải là cha mẹ ruột của tôi.  Tôi cảm thấy bị bỏ rơi và tổn thương vì điều đó.

Họ yêu tôi rất nhiều và muốn giúp tôi giải quyết những cảm xúc tuôn trào ấy, nhưng họ không biết nó đau đến thế nào.  Họ không thể biết được.  Họ biết cha mẹ mình.  Nhưng tôi thì không.

Cuộc đấu tranh nội tâm ấy tiếp diễn trong nhiều năm.  Tôi đã không biết rằng mình chỉ biết một phần câu chuyện.  Và đến tận trung học, tôi mới phát hiện ra rằng: mẹ đẻ của tôi đã bị hãm hiếp.

Tôi đã không ngừng tưởng tượng ra cảnh tượng ấy trong tâm trí mình – và làm thế nào mà gần như tôi không thể được sinh ra trên đời.  Một phụ nữ trẻ được bạn trai hẹn hò và đưa đón vào một buổi tối trong thành phố.  Anh ta quyến rũ và có tài thuyết phục.  Buổi tối ấy thật tuyệt, và mọi thứ bỗng trở nên tồi tệ.  Cô ấy đã bị hãm hiếp trong buổi hẹn hò.

Chín tháng sau, tôi được sinh ra trong thế giới, bởi một người mẹ không hề mong muốn tôi – thậm chí chẳng muốn biết tôi là trai hay gái.  Không được yêu thương, không được mong muốn, nhưng tôi đã may mắn được cứu thoát khỏi sự tàn bạo của nạo phá thai, thứ tội ác mà chẳng hiểu tại sao lại được chấp nhận trong xã hội của chúng ta.

Tôi đã từng có ý nghĩ rằng, mày là sản phẩm của tội ác, số phận đã định đoạt rằng mày chẳng làm nên trò trống gì cả.  Đó là điều mà ma quỷ nói với tôi.

Trong nhiều năm, tôi đã phải sống với những cảm giác, những ý nghĩ dai dẳng và đáng ghét đó – cái cảm giác rằng số phận đã dành cho tôi điều gì đó khủng khiếp bởi cái cách mà tôi được sinh ra.  Tôi thật đáng thảm hại, hoặc ít nhất đó là điều mà tôi luôn tự nói với mình.

Tôi đã có những ngày, những tuần, những tháng vui vẻ… nhưng rồi lại ủ dột trở lại.  Tôi vẫn nhớ rõ ràng những gì xảy ra vào ngày hôm đó, Satan đã làm cho những lời nói rất tình cờ của mẹ tôi từ sự thật trở thành lời nói dối.  Tôi đã không nói với chính mình rằng mình sẽ chẳng làm nên trò trống gì, mà là ma quỷ nói với tôi rằng mày sẽ chẳng làm nên trò trống gì – bất cứ điều gì cũng có thể làm tôi ngã lòng và đặt câu hỏi về mục đích cuộc đời tôi.

Ai có thể tưởng tượng rằng mình bị hãm hiếp và rồi phát hiện ra rằng mình đang mang trong bụng đứa con của gã đàn ông đó?

Khi còn là học sinh trung học, tôi đã biện minh rằng phá thai có thể chấp nhận được trong hoàn cảnh bị hãm hiếp – ý tôi là, làm sao bạn có thể mong đợi một phụ nữ chịu mang thai một đứa trẻ bởi hành vi tội ác khủng khiếp đó?  Khoan đã, đó phải chăng là chính tôi… tôi đã đặt câu hỏi về mọi thứ: giá trị của bản thân và thậm chí cả sự tồn tại của chính mình.

Ý nghĩ tự tử đến và đi.  Chỉ cho đến khi tôi tìm kiếm tiếng nói của Thiên Chúa trong cuộc đời mình, thì ý nghĩ đó mới bắt đầu biến mất.

Tôi hầu như chẳng biết rằng Thiên Chúa mời gọi tôi đến với Ngài.  Ngài muốn gọi tôi ư?  Không thể thế được – Ngài đâu biết gì về tôi, chẳng biết tôi từ đâu tới… “Đúng rồi, Ashley, Ta muốn con,” Tôi mở cuốn Kinh Thánh của mình, tới sách Ngôn sứ Giê-rê-mi-a chương I, câu 5: “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hóa ngươi; Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân.”

Ngài biết tôi, Ngài đã dựng nên tôi, Ngài yêu tôi.  Bạn thấy đấy, tôi không phải là một sản phẩm lỗi. Thiên Chúa biết điều gì sẽ xảy ra, ngài biết ngày được thành hình, và có một kế hoạch lớn lao hơn cho tôi, mà không ai có thể hiểu hết được.  Thậm chí cha mẹ nuôi của tôi cũng không thể hiểu được, Cha trên trời của tôi đã mặc khải cho tôi ý nghĩa và mục đích mà Ngài đã ghi khắc vào cuộc đời tôi.

Thiên Chúa biến sự dữ thành sự lành.  Tôi là con của Thiên Chúa!  Ngài đã làm cho tôi được nhận nuôi, và công trình lộng lẫy của Ngài thật tốt đẹp, vững chắc và kỳ diệu.  Tôi ở đây để chia sẻ Tin Mừng, và kế hoạch Thiên Chúa dành cho cuộc đời bạn và tôi.  Tôi sống sót – không phải vì một sai lầm, mà nhờ hồng ân Thiên Chúa.

Tất cả chúng ta đều phải nhớ rằng Thiên Chúa có kế hoạch cho cuộc đời của chúng ta.  Chúng ta có thể không thấy và không hiểu hết nó là gì.  Tất cả những gì chúng ta có thể làm hàng ngày là tìm kiếm thánh nhan Thiên Chúa và thánh ý của Ngài.  Chúng ta không được nản chí, khi cảm thấy rằng thế giới đã quay lưng lại với mình, nó phải như vậy.

Nhưng Thiên Chúa không quay lưng với chúng ta.  Ngài đã, và vẫn đang làm chủ mọi sự.  Bởi tôi đã được hoài thai và chào đời trong hoàn cảnh đặc biệt, nên tôi có cơ hội tuyệt vời để lên tiếng chống phá thai và chia sẻ tình yêu của Đức Kitô cho những người đang thiếu.

Hàng ngày tôi đều nhắc nhở mình rằng kế hoạch của Thiên Chúa thì hoàn hảo.  Tôi có diễm phúc được viết và nói về những gì Ngài đã làm cho tôi và thông qua tôi.  Xin ngợi khen Thiên Chúa bởi sự mặc khải của Ngài trong sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a: “Vì chính Ta đã biết các kế hoạch Ta định làm cho ngươi – sấm ngôn của Đức Chúa – kế hoạch thịnh vượng chứ không phải tai ương, để các ngươi có một tương lai và một niềm hy vọng.” (Gr 29, 11)

* Ashley Lawton là một nhà văn, một nhiếp ảnh gia và là một diễn giả Kitô giáo, bà yêu thích việc chia sẻ lời chứng bảo vệ sự sống của mình.  Hiện bà đang cùng chồng và hai con nhỏ sống ở Greenville, Nam Carolina.

Hà An, dịch từ Lifesite – Thái Hà

LỜI KINH TUYỆT DIỆU CỦA MUÔN THẾ HỆ

Trong cuộc sống, chúng ta thấy có nhiều mối liên hệ được thiết lập.  Nào là mối liên hệ anh em, bạn bè, đồng nghiệp, cha mẹ, vợ chồng, con cái…, từ đó nảy sinh các mối tương quan như: thỉnh nguyện, kêu cầu, đơn xin, nguyện vọng… Đó là các mối liên hệ tự nhiên.  Tuy nhiên, ngoài các mối liên hệ thông thường trên, nơi các tôn giáo và trong đời sống tâm linh, chúng ta cũng có những mối liên hệ và tương quan với Đấng Siêu Việt.  Vì thế, với người tín hữu Kitô, chúng ta luôn cầu nguyện với Thiên Chúa là điều không thể thiếu trong đời sống đức tin của mỗi tín hữu.

1. Kinh lạy Cha, khuôn mẫu cầu nguyện

Với người Công Giáo, tâm tình đó được khởi đi từ chính mẫu gương của Đức Giêsu khi Ngài thường cầu nguyện với Thiên Chúa Cha.  Không những thế, Ngài còn dạy cho các môn đệ của mình cầu nguyện khi một người trong số họ lên tiếng ngỏ lời: “Lạy Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện như Gioan đã dạy môn đệ ông”.

Khi được môn sinh bày tỏ ước nguyện, Đức Giêsu đã hướng dẫn các ông cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha.

Qua kinh nguyện này, trước tiên, Đức Giêsu đã giúp cho các môn đệ đi vào mối liên hệ thân tình Cha – con với Thiên Chúa Cha: “Lạy Cha chúng con ở trên trời.”  Đây chính là lời nguyện mà chính Đức Giêsu đã thường xuyên thưa lên với Cha Ngài.  Ngài cũng muốn cho các môn đệ có được tâm tình ấy như chính Ngài với Thiên Chúa.

Đây là một hồng ân đặc biệt mà chỉ nơi Kitô Giáo mới có.  Từ đây, chúng ta được gọi Thiên Chúa là Cha và mỗi người đều được trở thành nghĩa tử của Người.  Khi đã đi vào mối tương quan Cha – con với Thiên Chúa, Đức Giêsu muốn dẫn các môn đệ đến thái độ tôn vinh Thiên Chúa: “Xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển” và “Triều đại Cha mau đến.”

Thật ra, Danh Thiên Chúa mãi mãi rạng ngời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.  Vì thế, không cần đến lời tôn vinh của chúng ta thì những điều đó mới được hiện diện và tồn tại.  Không!  Nhưng khi chúng ta tôn vinh Thiên Chúa như thế, một lần nữa nói lên sự kết hiệp sâu xa giữa ta với Thiên Chúa và từ đó nảy sinh ơn cứu chuộc nhờ được thánh hóa trong Danh Cha.

Tiếp theo, Đức Giêsu hướng các môn đệ đến những nhu cầu của chính mình.  Những lời nguyện đó là: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày.”  Đây chính là nhu cầu thiết thực, gắn liền với đời sống thường nhật của con người.  Lời nguyện này muốn bày tỏ tâm tình phó thác nơi Thiên Chúa là Đấng An Bài và Quan Phòng cho con cái của Người.  Vì thế, đây là lời nguyện vừa mang tính thiết thực, vừa mang tâm tình cậy trông.

Kế đến là lời nguyện xin tha thứ: “Xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha mọi kẻ có nợ chúng con.”  Lời nguyện này nhắc cho người môn đệ biết rằng: mang trong mình thân phận yếu đuối của kiếp người, nên không ai là người không có những sai phạm với Chúa và với nhau.  Vì thế, xin ơn tha tội là điều không thể thiếu trong tâm tình cầu nguyện.  Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể được Thiên Chúa thương xót và tha thứ khi chính ta cũng phải rộng lòng xót thương và tha thứ cho anh chị em đã xúc phạm đến mình.  Bởi vì: nếu chúng ta không tha thứ cho nhau, thì Thiên Chúa cũng không tha thứ cho chúng ta.

Cuối cùng, lời kinh hướng các môn đệ ý thức sự giới hạn của bản thân, bởi lẽ, con người thường hướng chiều về tội lỗi hơn là điều thiện.  Hơn nữa, trước những bẫy cám dỗ đầy hấp dẫn và bắt mắt, khiến con người chẳng khác gì con thiêu thân lao mình vào đống lửa.  Trước dịp tội và cám dỗ, người môn đệ cần phải có ơn Chúa trợ giúp thì mới có thể chiến đấu và chiến thắng được ba thù.

Khi dạy các môn đệ xong, Đức Giêsu đảm bảo cho những lời nguyện xin ấy nếu phát xuất từ sự chân thành, tin tưởng, phó thác thì chắc chắn sẽ được Thiên Chúa nhận lời, vì: “Các con hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ thì sẽ mở cho.  Vì hễ ai xin thì được, ai tìm thì gặp, ai gõ thì sẽ mở cho.”

Như vậy, có thể nói, không có lời kinh nào ý nghĩa và giá trị cho bằng Kinh Lạy Cha, bởi vì kinh này do chính Đức Giêsu dạy cho các môn đệ và cho mỗi người chúng ta.  Vì thế, đây là lời kinh tuyệt vời trên hết mọi lời kinh.

2. Thực trạng đời sống cầu nguyện nơi chúng ta

Trong đời sống đạo của chúng ta ngày nay, nhiều người đã bỏ cầu nguyện, hay cầu nguyện chẳng khác gì cái máy, hoặc cầu nguyện là trao phó mọi sự nơi Chúa theo kiểu đào nhiệm.  Trong khi đó, tâm hồn chúng ta không có tâm tình chi cả.  Vì thế, không lạ gì khi thấy nhiều người và có thể chính chúng ta, mỗi khi cầu nguyện là kể ra một dãy dài dằng dặc những nhu cầu của bản thân mà không hề tôn thờ, tạ ơn cũng như hướng tha.  Hay nhiều khi chúng ta lại quá tập trung vào nhu cầu thể xác mà quên mất nhu cầu tâm linh.

Lại có những lúc chúng ta cầu nguyện theo kiểu mì ăn liền, tức là: mong sao Chúa phải là người đáp ứng theo lời nguyện xin càng nhanh càng tốt.  Cầu nguyện như thế, vô hình chung, chúng ta biến Thiên Chúa trở thành đối tượng chỉ để đáp ứng nhu cầu của mình, mà không hề nghĩ đến chuyện kết hợp nên một với Người để trở nên giống Người.

Một tâm tình phù hợp với đức tin, ấy là: khi cầu nguyện, không có nghĩa chỉ là xin ơn và cũng chẳng có nghĩa thuần túy là liệt kê những ước muốn, những kỳ vọng, những điều mà mình muốn xin.  Nhưng cầu nguyện trước hết là tâm tình tôn thờ, thống hối, tạ ơn rồi mới đến xin ơn.

Tuy nhiên, cần phải kiên trì trong lời cầu nguyện.  Chính vì thế, Đức Giêsu đã đưa ra dụ ngôn: “Người bạn bị quấy rầy” và chưng ra hình ảnh trai lỳ của người làm phiền trong đêm.  Cuối cùng, ông chủ khó tính cỡ nào cũng phải mủi lòng và thi ân cho người bạn sỗ sàng này.  Nói thế, không có nghĩa Thiên Chúa như ông chủ trong dụ ngôn, nhưng đây là hình ảnh biểu đạt một vị Thiên Chúa luôn luôn xót thương con người.  Thế nên, nếu ai kiên trì cầu xin với Chúa thì chắc chắn sẽ được nhậm lời.

Để làm sáng tỏ ý nghĩa này, thánh Augustinô đã giải thích: “Phải kiên trì khi cầu xin là để tăng thêm ước muốn của chúng ta, và cũng là để tăng thêm giá trị ơn Chúa sẽ ban.  Nếu chúng ta chưa nhận được điều mình xin, thì không phải là Chúa không sẵn sàng ban ơn, nhưng có thể điều cầu xin ấy không mang lại ích lợi cho linh hồn chúng ta, hoặc Ngài muốn dành cho chúng ta một ơn lớn lao hơn.  Cho dù sự đáp trả của Chúa không như lòng chúng ta mong ước hay không đúng lúc chúng ta mong đợi, thì đó cũng là bởi sự khôn ngoan và lòng yêu thương của một người Cha đầy lòng nhân ái.”

Tắt một lời, kinh Lạy Cha là một lời kinh tuyệt hảo.  Chính lời kinh này đã liên kết chúng ta nên một với Đức Giêsu và với nhau để dâng lên Thiên Chúa những lời nguyện xin trong tâm tình Cha – con.  Cũng chính trong mối liên hệ thân thương này, mà Thiên Chúa không ngừng thi ân giáng phúc cho những ai thành tâm, tin tưởng, phó thác và chạy đến với Người.

Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con!  Xin ban cho chúng con biết năng chạy đến với Chúa như con thơ bên lòng mẹ hiền, để được Chúa yêu thương, ban ơn và tha thứ cho những thiếu xót của chúng con. Amen.

Jos. Vinc. Ngọc Biển

SỰ GIÀU CÓ CỦA THIÊN CHÚA LÀ LỜI MỜI GỌI CHO LÒNG QUẢNG ĐẠI 

Mặt trời hào phóng một cách lạ thường, không giây phút nào là nó không chiếu sáng nhất.

Các nhà khoa học cho biết, bên trong mặt trời, cứ mỗi giây có một tỉ lệ tương đương với bốn triệu con voi được chuyển hóa thành ánh sáng, một thứ quà tặng chỉ biết cho đi, không bao giờ biết nhận lại.  Mặt trời vẫn tiếp tục đốt cháy nó.  Nếu sự hào phóng này ngừng lại, đương nhiên tất cả năng lượng sẽ mất nguồn cung cấp, mọi sự sẽ chết và bất động.  Chúng ta, và mọi vật trên hành tinh này, sống được là nhờ sự hào phóng của mặt trời.

Trong sự hào phóng này, mặt trời phản ánh sự giàu có của Thiên Chúa, một sự hào phóng mời gọi chúng ta cũng trở nên hào phóng theo, mở rộng quả tim, dấn thân nhiều hơn để tận hiến bản thân mình trong công việc hy sinh, để làm chứng nhân cho sự giàu có của Thiên Chúa.

Nhưng điều này không dễ.  Một cách bản năng, chúng ta có khuynh hướng tự nhiên là tích trữ và để dành để cho cuộc sống được an toàn.  Bản chất chúng ta là sợ và sống chùm với nhau.  Vì vậy, dù nghèo hay không, chúng ta đều có cảm nhận thiếu thốn, luôn luôn sợ mình không có đủ, và vì không có đủ, chúng ta phải cẩn thận khi cho, chúng ta không thể quá hào phóng được.

Nhưng Thiên Chúa làm ngược lại với điều tự nhiên trên.  Thiên Chúa rộng rãi, giàu có, quảng đại, và hào phóng vượt ra ngoài những lo sợ và tưởng tượng nhỏ nhoi của chúng ta.  Vũ trụ của Thiên Chúa quá phong phú và phi thường.  Kích thước của vũ trụ, chỉ tính riêng về những gì con người đã khám phá, cũng đã là không tưởng tượng nổi.  Quá dồi dào và hào phóng là đặc nét của Thiên Chúa.

Chúng ta thấy điều này qua dụ ngôn Người gieo giống trong Kinh Thánh: Người gieo giống, đại diện cho Thiên Chúa, người mà Đức Giê-su mô tả, không phải là người tính toán, gieo cẩn thận và chỉ gieo ở những mảnh đất màu mỡ.  Người gieo giống này gieo không phân biệt nơi gieo: bên vệ đường, trong bụi gai, trên đá, nơi mảnh đất cằn cỗi, cũng như nơi tốt tươi.  Hình như ông quá dư hạt giống nên có thể nói cách gieo giống của ông xuất phát từ tính hào phóng của sự dồi dào hơn là tính thận trọng của sự thiếu thốn.  Chúng ta cũng thấy sự giàu có này trong dụ ngôn người làm công vườn nho, gia chủ, đại diện cho Thiên Chúa, trả công đồng đều cho tất cả người làm công, không phân biệt ai trước ai sau.  Thiên Chúa, như chúng ta biết, giàu có vô hạn và không bao giờ tính toán chi ly trong việc ban phát.

Thiên Chúa cũng rộng rãi và quảng đại khi tha thứ, như chúng ta thấy trong các phúc âm.  Trong dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu, người cha tha cho người con hoang đàng, ông cho vượt lên sự giàu có của ông, nhiều khi sự giàu có này làm cho nhân phẩm bị mất vì quá tính toán cho mình.  Chúng ta cũng thấy sự rộng rãi này nơi Đức Giê-su khi Người tha thứ cho kẻ hành hình cũng như tất cả những ai bỏ Người trong cuộc thương khó.  Qua những gì chúng ta thấy, Thiên Chúa quá giàu tình yêu, quá giàu lòng thương xót nên Ngài mới phung phí, quá quảng đại, không tính toán, không kỳ thị, dám nhận bất trắc, và có quả tim rộng lượng vượt quá trí tưởng tượng chúng ta.

Và đó là lời mời gọi: Để có được một khái niệm về sự giàu có của Thiên Chúa, một giàu có dám nhận bất trắc, chúng ta cần có một quả tim luôn rộng mở và một lòng quảng đại vượt lên trên bản năng sợ hãi, bản năng làm chúng ta nghĩ rằng, chỉ vì chúng ta không có đủ nên cần tính toán chi ly nhiều hơn.

Trong tất cả các phúc âm, phúc âm thánh Lu-ca chứa đựng một trong những sứ điệp mạnh mẽ nhất về đức công bình (cứ sáu hàng là có một thách thức trực tiếp với đức công bình đối với người nghèo) nhưng tuy thế, trong phúc âm thánh Lu-ca, Đức Giê-su vẫn nhắc nhở về mối hiểm nguy của giàu có, Ngài không bao giờ lên án sự giàu có hay người giàu có.  Hơn thế Người phân biệt sự giàu có quảng đại và giàu có bủn xỉn.  Người giàu có quảng đại tốt lành vì họ tỏa ra và hiện thân cho sự giàu có và lòng quảng đại của Thiên Chúa, trong khi người giàu có bủn xỉn không tốt bởi vì họ đưa ra một hình ảnh sai lầm về sự giàu có, quảng đại, và quả tim rộng lớn của Thiên Chúa.

Đức Giêsu bảo đảm với chúng ta rằng chúng ta đong đấu nào sẽ nhận lại đấu đó.  Điểm chính là nói lên rằng không khí chúng ta thở ra là không khí chúng ta hít vào.  Điều đó không chỉ đúng về mặt sinh thái học mà nó còn đúng cho mọi khía cạnh chung của cuộc sống.  Nếu chúng ta thở ra sự bủn xỉn, chúng ta sẽ hít vào sự bủn xỉn; nếu chúng ta thở ra tính nhỏ nhen, chúng ta sẽ hít vào tính nhỏ nhen; nếu chúng ta thở ra sự gắt gỏng cay chua, chúng ta cũng sẽ hít vào sự gắt gỏng cay chua đó; và nếu chúng ta thở ra sự thiếu thốn khiến chúng ta tính toán và dè dặt, thì sự toán tính và dè dặt đó sẽ là không khí chúng ta hít vào.  Nhưng, nếu nhận thức được sự giàu có của Thiên Chúa, chúng ta sẽ thở ra lòng quảng đại và bao dung, và khi đó chúng ta sẽ hít không khí quảng đại và bao dung vào.  Chúng ta hít vào những gì chúng ta thở ra.

Tôi chưa bao giờ gặp ai thật sự có lòng quảng đại mà họ lại không nói rằng, lúc nào họ cũng nhận được nhiều hơn cho.  Và tôi cũng chưa bao giờ gặp một ai thật sự có quả tim rộng rãi mà lại sống trong cảm nhận mình thiếu thốn.  Để có lòng quảng đại và quả tim rộng mở thì trước hết chúng ta phải tin vào sự giàu có và lòng quảng đại của Thiên Chúa.

Nhờ sự giàu có của Thiên Chúa mà chúng ta nhận được ánh sáng mặt trời, một vũ trụ lớn lao hào phóng vượt sức tưởng tượng của loài người.  Đó không phải chỉ là thử thách cho tinh thần và trí tưởng tượng, nhưng đặc biệt là thử thách cho quả tim, để nó trở nên giàu có và quảng đại hơn.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

BẤT CÔNG VỚI CHÍNH MÌNH!

Ở đời, thấy người ta hay ta thán với nhau xã hội bất công, con người bất công…
Bản thân tôi, cảm thấy không ai bất công bằng chính mình.

Vì sao?  Thật đơn giản.  Con người khi sinh ra trong trần gian này, dưới con mắt đức tin thì con người có 2 phần: xác và hồn.
Điều này không cần nói nhiều thì ai ai cũng biết cả.

Nhìn vào cuộc đời, con người luôn bị cuốn hút bởi: CƠM – ÁO – GẠO – TIỀN!

Tất cả những thứ ấy chi phối đời sống của con người để rồi ai ai cũng phải nỗ lực để tìm cho thật nhiều tiền để nuôi sống bản thân, nuôi sống gia đình.  Điều này hoàn toàn đúng chứ không sai.  Thế nhưng, bất chợt, có khi nào đó trong cuộc đời, ta nhìn lại đời ta và ta giật mình qua lời nhắc nhớ của Thầy Chí Thánh Giêsu: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, các ngươi tìm ta không phải vì các ngươi đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê.  Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống đời đời, là của ăn Con Người sẽ ban cho các ngươi.  Người là Đấng mà Thiên Chúa Cha đã ghi dấu.”

Lời nhắc nhở này xem ra là xác đáng và hữu ích cho cuộc đời mỗi người và nhất là trong thời đại hôm nay.

Con người, dường như ai ai cũng cuống cuồng trong một thế giới lao động để tìm của nuôi thân.  Nhưng, bi đát ở chỗ ngày hôm nay không ai chết vì đói mà chết vì no và chết vì trong người có quá nhiều hóa chất.  Trên bàn ăn của con người ngày hôm nay, nhìn tới nhìn lui chỉ hóa chất và hóa chất.

Con người bất công với chính mình.  Vì sao?

Thân xác con người thì hữu hạn mà linh hồn là vô cùng.  Xác con người sẽ chấm hết sau cái chết nhưng linh hồn vẫn còn và linh hồn đó đi về đâu mới là chuyện quan trọng.

Chính thánh Inhaxio cũng đã hơn một lần nhắc nhớ con người:  Được lời lãi cả và thế gian, mất linh hồn nào được ích gì?

“Hãy tin vào Thiên Chúa”

Lời Chúa mời gọi chúng ta hết sức thực tế.  Niềm tin vào Thiên Chúa đó, chúng ta diễn tả như thế nào?  Câu trả lời cũng tự mỗi người chúng ta trả lời với Chúa mà thôi.

Mới hôm qua, có một người nhắn tin cho con như thế này: “Con nghe Tin Mừng Lời Chúa và bài giảng của Cha ấy, con cảm thấy con sống đúng là quá “Thực dụng” cầu lợi nhiều hơn là cho đi.  Thú thật cùng Cha gia đình chúng con còn khô khan về việc Thờ Phượng Kính Mến Chúa Lắm.  Xin Cha cầu nguyện cho gia đình chúng con.  Con cảm ơn Cha nhiều, kính chúc Cha thật nhiều sức khỏe và ơn Thánh Chúa đầy tràn trên Cha.”

Con có chia sẻ với vài người tâm tình này và những người này đều giật mình rằng chính bản thân họ cũng khô khan về việc thờ phượng kính mến Chúa lắm!

Có nghĩa rằng, người ta đến với Chúa cũng thực dụng như những người Do Thái ngày xưa nghĩa là đi tìm mối lợi cho được ăn bánh no nê thôi chứ không tin Chúa.

Thật vậy, con người, trong thân phận làm người rất dễ bị rơi vào tình cảnh thực dụng của một chia sẻ rất thực này.  Thực dụng với Chúa và với nhau nữa.  Nghĩa là họ đến với nhau tất cả cũng chỉ vì thực dụng chứ không hề biết sẻ chia.

Và rồi, nhìn lại cuộc đời, cứ nhìn thật, nhìn thẳng và nói với nhau đừng giấu diếm rằng mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi năm ta dành thời gian chăm chút cho phần hồn chúng ta được bao nhiêu?  Có người bỏ hàng giờ vào shopping và đi lựa hết đồ này đến đồ khác và đi mua mang về nhà.  Điều oái ăm là ở nhà, trong cái tủ quần áo của mình, có những món chưa mặc 1 lần hay chỉ mặc 1, 2 lần sau khi mua về để đó.  Tối nay về nhà, ta cứ thử lục lại trong tủ đồ của ta, ta sẽ thấy có quá nhiều món dư thừa mà ta không hề đụng đến và cứ để trong xó tủ cho vui.  Nhưng, tâm lý lúc nào cũng thấy thiếu và đi mua.

Mất thời gian cho shopping thì thoải mái và chả bao giờ thấy đủ cả.

Ngày nay, nhiều dịch vụ làm đẹp, nhiều dịch vụ chăm sóc sức khỏe.  Nghe đâu có nhiều cái dịch vụ là đi tập thể dục, đi đến phòng gym để làm đẹp, làm tốt cho sức khỏe.

Nói thì có thể là đụng chạm, xin các bà các cô tha thứ cho.  Mỗi khi đi làm tóc mất mấy tiếng thì các bà các cô là người hiểu hơn ai hết.

Phim một bộ dài bao nhiêu thì người xem trả lời.

Một chầu nhậu mất bao nhiêu thời gian thì người nhậu mới biết.

Hẳn nhiên, làm đẹp, nhậu, xem phim tự nó không phải là xấu vì là nhu cầu của con người hết sức bình thường.  Thế nhưng, bất thường ở chỗ là ta bỏ thời gian quá nhiều để chăm chút cho nó, còn phần hồn của ta, ta bỏ cho nó coi như là chết đói.

Cứ thực lòng thực tâm, một ngày, ta cho linh hồn ta ăn được bao nhiêu thời gian hay ta chỉ bỏ đói phần hồn của ta?

Đến Nhà Thờ, cha nào giảng dài một tí là ai oán.  Không thích cha đó thì không đi lễ… và hóa ra là người ta theo đạo cha chứ không phải theo đạo Chúa.

Mùa này là mùa mà nhiều giáo phận thuyên chuyển.  Cứ không thuyên chuyển thì thôi mà cứ thuyên chuyển là có chuyện.  Cha ở xứ nào đó chừng 5 năm là đổi, đó là chuyện hiển nhiên và bình thường.  Thế nhưng khi đổi là ai oán và có người bỏ không đi nhà thờ vì giám mục dám chuyển cha của họ.  Hóa ra họ theo đạo cha chứ không theo đạo Chúa.

Chả có cha nào giảng dở cả.  Cha nào cũng phân tích, chia sẻ và mời gọi mọi người sống Lời Chúa thôi.  Có điều anh bất công, anh chê cha này, anh khen cha kia.  Thế nhưng chuyện quan trọng cần đó là anh có sống Lời Chúa hay không mà thôi.

Không chăm chút phần linh hồn, không nuôi dưỡng phần hồn mà cứ mãi chạy theo thứ lương thực hay hư nát.

Thử hỏi mỗi người, dù chăm chút cho sắc đẹp, dù giành nhiều thời gian để tập gym, dù ăn thật kỹ và thật bổ để lo cho thân xác nhưng thử hỏi cái mạng sống này giữ được bao lâu?  Có người ăn uống cho thật kỹ nhưng rồi chết vẫn chết và không thoát khỏi cái chết.

Mạnh giỏi chăng là được tám mươi thôi như Thánh Vịnh nhắc nhở.

Chính vì thế, cũng cần chăm sóc cho cơ thể, cho sắc đẹp nhưng chuyện cần hơn là chăm chút cho phần hồn của chúng ta.  Thế nhưng, ta cứ tự lòng nhủ lòng và tự lương tâm ta trả lời với Chúa là ta dành cho phần hồn của chúng ta được bao nhiêu hay ta cứ mãi lo thân xác mà không chăm chút phần hồn.

Lời Chúa ngày hôm nay nhắc nhớ chúng ta nhìn lại bản thân của mỗi người.  Có khi ta quá bất công với chính bản thân chúng ta mà chúng ta không biết.

Hãy tội nghiệp cho bản thân chúng ta hơn là tội nghiệp cho con người và xã hội.

Người Giồng Trôm

YÊU THEO CÁCH CỦA NGƯỜI MÌNH YÊU

Trên đường đi Giêrusalem, cách thành thánh 3 cây số, Chúa Giêsu ghé lại Bêtania, nơi ở của Mácta, Maria và Lagiarô, một gia đình mà Ngài rất quen thân và vẫn thường lui về nghỉ ngơi trong những dịp thi hành sứ vụ tại thủ đô.  Không có nơi nào tính cách nhân loại mà Luca chủ trương phác họa được diễn tả trọn vẹn hơn ở đây, trong khung cảnh đầm ấm của gia đình, mà cũng khó gặp được một bức họa tâm lý sống động hơn ở đây.  Có người tưởng tượng rằng Mácta là người khô khan nhưng cương nghị và đắc lực, còn Maria thì đôn hậu, đa cảm và lười.  Thật ra cả hai chị em đều có những đức tính đáng khen.  Cả hai đều yêu kính Chúa Giêsu và ước ao làm vui lòng Chúa.  Nhưng trong dịp này vì lòng nhiệt thành phục vụ, Mácta đã làm việc quá nhiều để sửa soạn một bữa ăn ngon.  Còn Maria vì trực giác hơn được điều Chúa muốn nên cứ ngồi dưới chân Chúa mà nghe lời Nguời dạy.  Nàng biết Ngài mong ước được mạc khải chính mình, muốn ban cho họ những sứ điệp từ trời, không phải vì lợi ích cho Ngài, mà vì phần rỗi của nhân loại.  Bởi vậy, theo nghệ thuật tiếp khách, nàng phải để ý đến ý muốn của vị khách trước.  Trong việc tiếp đãi Thầy, nàng đã làm được việc lớn hơn chị nàng.

“Mácta tất bật lo việc phục vụ.”  Nàng bù đầu với nhiều công việc mình muốn làm.  Một kẻ theo Chúa có thể cố gắng thái quá, đôi khi điều đó bị thúc đẩy do cảm giác tự tôn và kiêu hãnh.  Điều đó đã khiến cho người ta cáu kỉnh như Mácta khi nàng chỉ trích em mình, làm giảm giá em mình trước mặt vị khách của cả hai, vì câu nàng nói với Chúa ngụ ý trách cả Chúa nữa: “Em con để con một mình phục vụ mà Thầy không quan tâm sao?”

Đáp lại Chúa tỏ lòng ưu ái bằng cách thân mật gọi tên nàng, nhưng trách nhẹ tinh thần của nàng và bày tỏ nguồn gốc của tinh thần ấy: “Mácta!  Mácta!  Con băn khoăn lo lắng về nhiều chuyện quá!  Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi.  Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi.”  Ý Ngài muốn nói: không cần phải một bữa ăn thịnh soạn, một vài món cũng đủ rồi, nhưng có một điều cần thiết, điều ấy Maria đã chọn.

Chúng ta thử tìm những bài học nơi đây:

Nó bày tỏ sự va chạm giữa những tính tình khác biệt.

Có người thì tự nhiên hăng hái hoạt động, lại có người khác ưa trầm tĩnh.  Thật khó cho một người năng nổ hiểu một người chỉ thích ngồi yên để trầm tư mặc tưởng.  Ngược lại, người trầm tư mặc tưởng lại thường khinh dể những người cứ luôn tay luôn chân.  Không có vấn đề phải trái ở đây.  Thiên Chúa đã không dựng nên mọi người giống nhau.  Thiên Chúa cần có những người như Maria, nhưng Ngài cũng cần những người như Mácta, và cả hai người đó đều phục vụ Chúa.  Không ai được độc quyền phục vụ Chúa hay chủ trương rằng chỉ có cách mình phục vụ mới là chính đáng.

Trong một cuộc lễ trọng, trên bàn thờ chưng đầy hoa nến, một cây nến được cắm giữa chậu hoa, đến cuối lễ, cây nến cháy hao dần và sức nóng toả ra làm các cánh hoa rũ rượi cụp xuống.  Hoa than thở với nến: Chị và chúng em cùng phụng thờ Chúa, sao chị lại đốt rụi chúng em!

Nhưng ở đây còn có một bài học nữa: Bài học về một thứ lòng tốt sai lầm.

Hãy nghĩ đến chỗ Chúa Giêsu đang đi đến khi chuyện này xảy ra.  Ngài đang trên đường đến Giêrusalem.  Toàn thể hồn xác Chúa đang lâm vào một cuộc chiến đấu nội tâm để làm cho ý muốn của Ngài hiệp nhất với ý muốn của Chúa Cha.  Khi Chúa Giêsu tới gia đình này, đó là một ngày trọng đại cho họ.  Để mừng ngày trọng đại này, Mácta rất muốn thực hiện một điều tốt nhất mà gia đình có thể thực hiện được.  Vì thế nàng chạy ngược chạy xuôi, nấu nướng, và đó chính là điều Chúa Giêsu không muốn.  Ngài chỉ muốn một điều là được yên tĩnh.  Với hình ảnh thập giá ở trước mặt cùng một sự căng thẳng trong tâm hồn, Ngài đã rẽ bước về Bêtania để tìm một chỗ lặng lẽ nghỉ ngơi, dầu chỉ được một hai tiếng đồng hồ, để tránh xa đám đông dân chúng quá nôn nao đòi hỏi, và để có thể chia sẻ tâm tình với bạn thân để lòng vơi đi nỗi căng thẳng.  Đó là điều Maria đã đem đến cho Ngài và đó cũng là điều mà Mácta vì lòng tốt đã làm hết sức để phá đi.  “Chỉ một việc cần” câu ấy có thể có ý “Ta không muốn một bàn đầy thức ăn, Ta chỉ cần một món thật đơn giản.”  Maria hiểu, còn Mácta thì không hiểu được.  Đây là một trong những khó khăn của cuộc đời.  Thường thì chúng ta muốn tử tế với mọi người, nhưng tử tế theo cách của chúng ta.  Nếu cách thế của chúng ta không được thừa nhận, chúng ta cảm thấy dễ phật lòng tưởng rằng người ta không trọng mình.

Nếu chúng ta đang cố gắng ăn ở tốt với người khác, trước hết chúng ta phải hiểu ý của người mà mình muốn giúp đỡ, rồi chúng ta phải quên những chương trình của mình và chỉ nghĩ đến điều mà người đó đang cần.

Trong lịch sử nước Mỹ, trong những ngày đen tối nhất của cuộc nội chiến Nam Bắc, Lincoln viết thư mời ông bạn cũ ở xứ Illinois tới Washington để thảo luận vài vấn đề.  Ông bạn tới Bạch cung và Lincoln nói với ông trong mấy tiếng đồng hồ về tờ thông báo ông định công bố để thủ tiêu chế độ nô lệ.  Tổng thống ôn lại tất cả các lý lẽ bênh vực cho các đạo luật ấy và những lý lẽ phi bác lập trường đối nghịch.  Ông lại đọc cả những bức thư và bài báo viết về vấn đề đó, trong đó nhiều người trách ông chần chừ chưa phế bỏ chế độ nô lệ, lại có những bài chỉ trích vì ông có ý tiến hành việc ủng hộ chế độ nô lệ.  Sau khi hăng hái nói một hồi lâu.  Lincoln bắt tay ông bạn già, chúc ông ta bình an và tiễn ông ta trở về Illinois, chẳng hỏi ý kiến gì hết.  Lincoln đã nói, đã trút bỏ những suy nghĩ đang đè nặng trong lòng ông, như vậy đầu óc ông được sáng suốt.  Ông bạn già kể lại: “Khi Lincoln nói xong rồi, ông ấy bình tĩnh hơn.”  Lincoln chỉ cần một người bạn thân biết nghe ông nói và hiểu lòng ông để ông trút bầu tâm sự của ông thôi.

Chúa Giêsu yêu thương Mácta và Mácta cũng yêu mến Chúa, thế nhưng khi Mácta tỏ lòng tốt, thì lại chỉ tốt theo cách của nàng, điều mà thực sự không tốt với Đấng mà tâm hồn đang khao khát sự yên tịnh, sự thân mật.  Chúa Giêsu yêu Maria vì Maria yêu Chúa, Maria cũng hiểu biết Chúa nữa. 

 Sưu tầm