BUÔNG BỎ NỖI SỢ SAI LẦM

Gần đây trong một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh, phóng viên hỏi tôi câu hỏi sau: “Nếu cha ở trên giường chết, cha muốn để lại gì khi chia tay?”  Câu hỏi làm tôi chưng hửng lúc đó?  Tôi muốn để lại gì trong các lời nói cuối cùng của mình?  Không có thì giờ để suy nghĩ, tôi khựng lại.  Tôi muốn nói: “Đừng sợ.  Sống nhưng không sợ.  Đừng sợ chết.  Nhưng nhất là đừng sợ Chúa!”

Tôi là người công giáo từ trong nôi, cha mẹ tôi rất tuyệt vời, tôi được các cô thầy tận tâm dạy giáo lý, và tôi được ưu tiên học thần học trong các lớp học tốt nhất thế giới.  Tuy nhiên, tôi đã phải mất năm mươi năm để thoát ra khỏi một số nỗi sợ trong đạo làm tôi bị tê liệt và để nhận ra Chúa là người duy nhất mà mình không được sợ.  Tôi đã phải để một phần lớn đời mình để tin những lời Chúa nói hơn ba trăm lần trong Thánh Kinh và đó là những lời đầu tiên Chúa Giêsu nói với người Ngài gặp lần đầu tiên sau khi Ngài sống lại: Đừng sợ!

Đó là cuộc hành trình năm mươi năm để tôi tin điều đó, để tin tưởng nó.  Trong phần lớn cuộc đời, tôi đã sống trong nỗi sợ hãi sai lầm về Chúa và nhiều thứ khác.  Khi còn nhỏ, tôi đặc biệt sợ sấm sét, mà trong đầu óc thơ bé của tôi, sấm sét cho thấy Chúa có thể dữ dội và đe dọa đến mức như thế nào.  Về mặt tôn giáo, sấm sét là điềm báo cho chúng ta biết, chúng ta phải sợ.  Cùng các nỗi sợ này, tôi còn nuôi dưỡng nỗi sợ cái chết, tự hỏi linh hồn đi đâu sau khi chết, đôi khi tôi nhìn về chân trời u tối sau khi mặt trời lặn và tự hỏi liệu những người đã chết có ở đâu đó ngoài kia không, tôi bị ám ảnh trong bóng tối vô tận này, vẫn đau khổ cho hoàn cảnh của họ.  Tôi đã không có lý trong cuộc sống.  Tôi biết Thiên Chúa là tình yêu, nhưng tình yêu này cũng là một công lý quyết liệt, đáng sợ và đòi hỏi.

Các nỗi sợ hãi này vẫn âm thầm ở trong lòng tôi suốt tuổi vị thành niên.  Năm 17 tuổi tôi quyết định đi tu, đôi khi tôi tự hỏi liệu tôi có tự do trong quyết định này không, hay do một nỗi sợ sai lầm.  Tuy nhiên, bây giờ khi nhìn lại, với năm mươi năm sau, tôi biết đó không do nỗi sợ bắt buộc tôi, mà do một cảm nhận chân thực khi được gọi, ảnh hưởng của cha mẹ tôi và các nữ tu dòng Ursuline đã dạy tôi, rằng cuộc sống của mỗi người không phải là của họ, cuộc sống được kêu gọi phục vụ.  Nhưng nỗi sợ tôn giáo vẫn mạnh mẽ trong tôi.

Vậy, điều gì đã giúp tôi buông bỏ điều đó?  Điều này không xảy ra trong một ngày hoặc một năm; Đó là kết quả tích tụ trong năm mươi năm với các mảnh ghép gom lại với nhau.  Nó bắt đầu với cái chết của cha mẹ tôi khi tôi hai mươi hai tuổi.  Sau khi chứng kiến mẹ và cha tôi qua đời, tôi không còn sợ chết.  Đó là lần đầu tiên tôi không sợ một xác chết vì các thi thể này là của cha mẹ tôi.  Nỗi sợ hãi của tôi về Chúa cũng giảm dần mỗi khi tôi cố gắng gặp Chúa với tâm hồn trần trụi trong lúc cầu nguyện và nhận ra tóc của mình sẽ không trắng bạc khi mình đứng trước mặt Chúa; vì vậy tôi không còn sợ.  Nỗi sợ hãi của tôi cũng giảm khi tôi phục vụ người khác và hiểu Lòng Thương Xót Chúa khi tôi học và dạy thần học, hai lần chẩn đoán ung thư buộc tôi phải suy ngẫm về cái chết thực sự của chính mình, và như một số đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã hình thành cho tôi làm sao có thể sống tự do hơn.

Về mặt đầu óc, một số người đặc biệt giúp đỡ tôi: John Shea đã giúp tôi nhận ra Chúa không phải là luật phải tuân theo, mà là năng lực đồng cảm vô tận, Ngài muốn chúng ta hạnh phúc; Robert Moore đã giúp tôi tin rằng Chúa đang thích thú nhìn chúng ta; Charles Taylor giúp tôi hiểu Chúa muốn chúng ta phát triển; các lời chỉ trích bài tôn giáo cay đắng của những người vô thần như triết gia Frederick Nietzsche đã giúp tôi thấy, nơi mà khái niệm riêng về Thiên Chúa và tôn giáo của tôi cần thanh tẩy nhiều; và người anh cả, một linh mục truyền giáo, đã làm xáo trộn thần học của tôi với những câu hỏi thiếu tôn kính như, loại Thiên Chúa nào muốn chúng ta sợ hãi Ngài?  Các mảnh này mảnh kia đã ráp lại với nhau.

Những lời nói cuối cùng nào là quan trọng?  Chúng có thể có nhiều ý nghĩa hay không có bao nhiêu ý nghĩa?  Những lời cuối cùng cha tôi nói với các con là “hãy cẩn thận, cẩn thận”, cha tôi muốn nói đường từ bệnh viện về nhà trơn trợt trong tuyết và đá.  Lời nói cuối cùng không phải lúc nào cũng để lại một thông điệp; nó có thể chỉ là lời tạm biệt hay tiếng thở dài đau đớn, kiệt sức không nghe được; nhưng đôi khi những lời này cũng là di sản của chúng ta.

Có cơ hội để lại một vài lời cuối cùng cho gia đình, bạn bè, tôi nghĩ sau khi nói lời tạm biệt lần đầu tiên, tôi sẽ nói: đừng sợ.  Đừng sợ sống, đừng sợ chết.  Nhất là đừng sợ Chúa.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

GIÁ TRỊ CỤC TẨY

Có một cậu bé hỏi cha: Tại sao bút chì có tẩy?

Người cha ôn tồn trả lời: để xóa đi những chữ viết sai, viết chưa đẹp hoặc để xóa đi những gì không đúng trên trang viết!

Quả thực, cục tẩy thật cần thiết.  Nếu không có nó thì trên trang giấy sẽ bề bộn những gạch xóa lem luốc.  Cục tẩy sẽ làm mới lại những gì đã viết lên trang giấy không đúng.  Cục tẩy sẽ chỉnh lại những lỗi viết sai hay ẩu thả của chủ nhân.

Cuộc đời con người cũng cần có một cục tẩy.  Một cục tẩy của lòng bao dung và sự tha thứ.  Một cục tẩy có khả năng xóa đi những sai lầm của người khác và của chính bản thân ta!  Nếu cuộc đời chúng ta không dám sử dụng cục tẩy để xóa đi những bất hòa ghen tương, những hận thù tranh chấp, những lỗi lầm tội lỗi sẽ làm cho những trang giấy cuộc đời nhem nhuốc những dòng gạch và xóa!  Muốn cuộc đời mình đẹp thì phải biết xóa đi những gì không đúng, không đẹp để trang giấy cuộc đời rạng rỡ hơn.  Nhưng đáng tiếc, có rất nhiều người cho tới lúc tuổi già vẫn để cục tẩy của mình còn nguyên vẹn vì chúng ta ít can đảm xóa đi những hận thù.

Có một lần sau khi giảng về lòng bao dung tha thứ, vị linh mục hỏi các giáo dân của mình ai sẽ sẵn sàng tha thứ cho kẻ thù.  Khoảng một nửa trong số họ giơ tay lên.  Chưa hài lòng, ông giảng thêm 20 phút nữa và hỏi lại câu hỏi cũ.  80% giáo dân giơ tay.  Vẫn chưa hài lòng, ông giảng thêm 15 phút nữa và lặp lại câu hỏi trên. Nôn nóng về bữa ăn trưa tuyệt vời của ngày chủ nhật, tất cả giáo dân đều đưa tay lên trừ một ông lão.

– Ông Jones, ông không sẵn sàng tha thứ cho kẻ thù à?

– Tôi không có kẻ thù nào.

– Thật lạ lùng.  Thế ông bao nhiêu tuổi rồi?

– 86.

– Ông Jones này, ông hãy vui lòng lên đây và cho mọi người biết bí quyết để một người sống đến 86 tuổi mà không có một kẻ thù nào cả.

Ông lão bước lên phía trước rồi từ từ quay lại:

– Dễ ợt.  Chẳng qua là tôi sống lâu hơn chúng nó thôi.

Hôm nay Chúa bảo chúng ta phải tha thứ cho nhau không phải là bảy lần mà là bảy mươi lần bảy, nghĩa là rất nhiều và mãi mãi.  Nếu chúng ta không tha thứ nghĩa là chúng ta vẫn để cục tẩy còn nguyên vẹn, đó là lý do khi nhìn vào trang giấy cuộc đời mình thì lắm lem luốc bởi hận thù chua cay.  Con người chúng ta “nhân vô thập toàn.”  Chúng ta lớn lên trong sự tha thứ của người khác thì chính chúng ta cũng phải học tha thứ cho tha nhân.  Thế nên, hãy sống bao dung.  Hãy biết tha thứ để cục tẩy của chúng ta mòn dần theo năm tháng, đừng bao giờ để cực tẩy của mình ở mãi trong kho.  Bởi vì nếu không sử dụng đến nó cuộc đời của chúng ta sẽ chi chít những vết gạch xóa sau những lần mắc sai lầm!  Một tờ giấy như vậy chắc chẳng có gì tốt đẹp phải không?

Chúa Giêsu dạy ta biết tha thứ.  Ngài đã sống điều đó.  Ngài luôn cảm thông với những lầm lỗi của tha nhân.  Ngài dùng tình thương tha thứ để sửa lại lỗi lầm con người.  Tình thương ấy Ngài đã mang lại cuộc đời mới cho Gia-kêu, cho Ma-da-lê-na, cho Phao-lô…  Ngài đã dùng cục tẩy của sự tha thứ một cách quảng đại.  Ngài đã xóa đi những vết nhơ tội lỗi của con người.  Ngài đã xóa đi những bụi đời trong thân phận yếu đuối của con người.  Ngài đã đi đến tận cùng của sự tha thứ là tha cho kẻ đã hành hạ và kết án Ngài.

Là người Kitô hữu chúng ta phải sống tình thương tha thứ.  Tha thứ để sửa đổi anh em.  Tha thứ để xóa đi những vết hận thù trong lòng chúng ta.  Tha thứ để ta nên hoàn thiện hơn như Cha là Đấng hoàn thiện luôn cho mưa thuận gió hòa trên mọi người.

Tuy nhiên, tha thứ để rồi cũng biết nhìn nhận tội lỗi của bản thân.  Không phải bao giờ mình cũng đúng mà có khi chính chúng ta là kẻ gây ra đau khổ cho tha nhân, thế nên, trong nhiều trường hợp chính chúng ta là người cần đến sự tha thứ của người khác.

Có một câu chuyện kể rằng:

A nói với B: “Khu nhà tôi vừa dọn về một ông hàng xóm bất lịch sự.  Tối hôm qua, đã gần một giờ sáng rồi mà ông ta còn qua đập cửa nhà tôi rầm rầm.”  B hỏi: “Thế anh có báo cảnh sát không?”  A trả lời: “Không, tôi mặc kệ ông ta, xem ông ta như thằng điên vì lúc ấy tôi đang tập thổi kèn saxophone.”

Chuyện gì cũng có nguyên nhân, nếu biết trước lỗi của mình thì hậu quả sẽ khác đi.  Tuy nhiên, chúng ta lại thường ít khi thấy mình sai, nhưng lại dễ dàng thấy người khác sai.

Xin cho chúng ta luôn biết hoàn thiện mình như Cha chúng ta.  Hoàn thiện con người không làm điều gì tổn thương với tha nhân.  Hoàn thiện còn để lòng mình xóa đi những ghen tương, đố kỵ để sống hòa hợp với nhau. Amen.

Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

MỪNG SINH NHẬT MẸ MARIA

Tuy các tài liệu lịch sử về Đức Maria rất hiếm, nhưng bên cạnh đó lại có nhiều truyền thuyết chung quanh cuộc đời Đức Mẹ, cũng tương tự như đối với Chúa Giê-su.  Các sách Tin Mừng hầu hết đều chú trọng đến hoạt động công khai của Đức Ki-tô, đặc biệt là cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Người.  Cũng nhằm đáp ứng óc hiếu kỳ của độc giả nói chung – các tín hữu nói riêng – nhiều truyền kỳ đã được soạn với những chi tiết liên quan đến gia thế và thời thơ ấu cũng như hành trình Thương Khó và Phục Sinh vinh hiển của Người.  Đó là nguồn gốc các sách được gọi là “ngụy Phúc Âm” soạn theo thể văn của Tin Mừng chính hiệu.  Các sách này xuất hiện từ thế kỷ thứ II trở đi.

Mỗi lần đi tìm gia thế của Đức Giê-su, thì lại bắt gặp những truyền kỳ về Đức Maria, nổi tiếng nhất là tác phẩm được đặt tên là “Proto-Evangeliun Jacobi – Tiền Phúc Âm của Gia-cô-bê” (1).  Tác phẩm này được soạn từ một người tự xưng là Gia-cô-bê, người anh cùng cha khác mẹ với Đức Giê-su (tức là con riêng của Thánh Giu-se với người vợ trước).  Tác phẩm “Proto-Evangeliun Jacobi” cũng được gọi là “De Nativitate Mariæ” (việc sinh hạ Đức Maria).  Dựa theo tác phẩm này, người đọc được biết quý danh song thân Đức Maria là ông Gioakim và bà Anna.  Sách gồm 24 chương chia làm ba phần:

* Phần I (16 chương đầu) kể lai lịch, thời thơ ấu của Đức Maria.

* Phần II (5 chương từ 17 tới 21) thuật lại các phép lạ xung quanh việc sinh hạ Đức Giê-su.

* Phần III (3 chương cuối: 22-24) kể chuyện vua Hê-rô-đê tàn sát các thiếu nhi ở Bê-lem.

Trước hết, xin tìm hiểu ý nghĩa cụm từ “ngụy Phúc Âm” trong những bản dịch tiếng Việt của HĐGMVN.  Mới nghe tiếng “ngụy” thì giật mình, vì nó mang một ý nghĩa xấu (Ngụy thư: ngụy là sai trái, giả tạo; thư là sách báo, văn thư).  Từ điển Hán Nôm của Nguyễn Quốc Hùng định nghĩa Ngụy thư là “Loại sách sai lầm, vô giá trị – Loại sách giả mạo, không phải thật do đời xưa truyền lại.”  Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu thì định nghĩa Ngụy thư (偽 書) là: 1- Sách mạo danh người xưa viết ra, không phải thật của tiền nhân truyền lại.  2- Ngụy tạo văn thư.  Nếu khách quan nhận xét thì có thể coi Ngụy Phúc Âm “Proto-Evangeliun Jacobi” theo nghĩa 1 của Từ điển Thiều Chửu (vì chính tác giả đã mạo danh Thánh Gia-cô-bê Tông đồ, người anh em cùng cha khác mẹ của Đức Giê-su).

Tuy nhiên, nếu tìm về nguyên bản La-tinh thì có thể hiểu rõ hơn: Danh từ “Apocrypha” (Việt Nam dịch là Ngụy thư) phát xuất từ tiếng Hy Lạp “apokryhos” nghĩa là “ẩn giấu” hay “bí mật.”  Danh từ này được dùng để chỉ các tác phẩm được viết “bên lề” và thường có liên hệ ít nhiều với các sách Thánh Kinh.  Theo nghĩa thứ hai, đây là các sách không có nguồn gốc rõ ràng, không chính thống, nội dung chứa đựng những điểm kỳ bí, mặc dù ban đầu “Apocrypha” là một danh từ mang nghĩa tốt, đáng tôn trọng.  Theo ý kiến của ông Rhodes Montague (người Pháp), các Ngụy Thư là loại sách “linh thánh và bí ẩn nên không thể truyền bá đến tay mọi người, vì thế phải được dùng riêng trong số các tín hữu đứng đầu, bộ phận vòng trong của các tín hữu.” (ý muốn nói sách này được dùng riêng cho các giáo phụ)

Wikipedia tiếng Việt giải thích khá chi tiết và rõ ràng: “Ngụy thư Gia-cô-bê” hay “Tin Mừng của Gia-cô-bê” còn được gọi là “Tin Mừng Thời thơ ấu của Gia-cô-bê” hoặc “Tiền Phúc Âm của Gia-cô-bê” (Protoevangelium Jacobi), là một Tin Mừng có lẽ được viết vào khoảng năm 145, trình bày một câu chuyện liên quan đến sự ra đời và sự dạy dỗ của Đức Mẹ Maria.  Nó là nguồn gốc lâu đời nhất để khẳng định sự đồng trinh của Đức Maria không chỉ có trước, nhưng cả trong và sau sự ra đời của Chúa Giê-su.  Các bản thảo cổ xưa còn lưu lại về cuốn sách có tiêu đề khác nhau, bao gồm “Sự ra đời của Đức Maria”, “Các câu chuyện về sự sinh ra Rất Thánh Maria, Mẹ Thiên Chúa” và “Các khải huyền của Gio-an.”

Ngụy thư này xứng đáng được gọi là “Phúc Âm Đức Maria” vì là “văn phẩm Ki-tô giáo đầu tiên quan tâm đặc biệt về cuộc đời Đức Maria.”  Nhiều chi tiết của tác phẩm này còn là tiền đề được khai triển trong các nghệ phẩm và văn chương Thánh Mẫu qua nhiều thế kỷ như: “Đức Maria thuộc dòng dõi vua Đa-vít”, “Việc ra đời kỳ lạ của Mẹ Maria” và “biến cố Truyền Tin cho Đức Maria” xảy ra tại Giê-ru-sa-lem; kể cả cuốn sách “Các anh em của Chúa” (là con của Thánh Giu-se với người vợ trước).  Tác phẩm “Proto-Evangelium Jacobi” cũng đã mở đường cho việc thiết lập ba lễ: Đức Maria Đầu Thai, Sinh Nhật Đức Maria, và Lễ Đức Maria dâng mình vào đền thờ.

Căn cứ vào “Proto-Evangeliun Jacobi”, thì không thấy nói đến ngày sinh của Đức Maria.  Theo dự đoán của các Giáo phụ, có lẽ lễ mừng kính sinh nhật Đức Mẹ bắt nguồn từ Giê-ru-sa-lem: Vào thế kỷ V, một nhà thờ được xây cất tại khu đất theo tục truyền là nơi bà Anna đã sinh con, mà người ta suy đoán ngôi thánh đường này được cung hiến vào ngày 8/9, nên lấy ngày đó là ngày sinh của Đức Mẹ.  Dưới khía cạnh thần học, có thể tìm được 2 khía cạnh chủ yếu:

1- Liên quan đến bản thân Đức Maria: Từ lễ sinh nhật Đức Mẹ, Giáo hội đã mừng lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên tội – tức là lễ bà Anna thụ thai, chín tháng trước đó – vào ngày 8/12.

2- Liên quan đến lịch sử cứu độ: Lời nguyện Phụng vụ lễ Sinh nhật Đức Mẹ (“Lạy Chúa, ngày sinh nhật của Đức Giê-su Con Một Chúa, Chúa đã mở đầu kỷ nguyên cứu độ, thì hôm nay, ngày sinh nhật của Thánh Mẫu Người, xin Chúa cũng rộng ban muôn phúc lộc, và cho chúng con hưởng bình an.  Chúng con cầu xin,  nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.”) đã chúc tụng Thiên Chúa vì công trình cứu chuộc nhân loại.  Kế hoạch này được tiền định từ trước vô cùng, nhưng được thực hiện tiệm tiến qua dòng lịch sử: Ngày sinh của Đức Mẹ kết thúc giai đoạn chuẩn bị cho biến cố Nhập Thể của Đức Ki-tô, bây giờ chỉ còn chờ đón ngày ra đời của Đấng Cứu Tinh.

Hội Thánh chỉ mừng kính 3 lễ “sinh nhật”: Ngày sinh của chính Đức Giê-su, của Đức Trinh nữ Maria và của Thánh Gio-an Tẩy Giả.  Ngoài ra, Giáo hội không mừng ngày sinh của các thánh, vì ngày sinh của con cháu A-đam là một ngày u buồn tràn đầy nước mắt do cái di sản tội lỗi mà con người mang theo khi vào đời (vì tội Nguyên tổ, con người chỉ chào đời bằng tiếng khóc chớ chưa thấy ai cười khi được sinh ra).

1- Sinh nhật Thánh Gio-an Tẩy Giả: Vì được thánh hóa từ trong lòng mẹ, nên việc chào đời của Thánh Gio-an Tiền Hô là một biến cố vui mừng đặc biệt.

2- Riêng với lễ sinh nhật của Đức Mẹ: Giáo hội hân hoan ca tụng vì nhờ có Mẹ làm cầu nối đem hồng ân cứu rỗi đến cho trần gian.

3- Người đem hồng ân đó chính là Đức Giê-su Con Thiên Chúa và cũng là Con của Mẹ: Ngày sinh của Người tràn đầy niềm vui trong tiếng hoan ca của các thiên thần (“Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho người thiện tâm”).

Vì thế, ngay từ thế kỷ VI, cả Giáo hội Đông phương và Tây phương đều đã cử hành lễ mừng kính sinh nhật Đức Mẹ.  Đến thế kỷ X, lễ mừng được phổ biến khắp nơi và trở thành một trong các lễ trọng mừng kính Đức Mẹ.  Vào thế kỷ XII, lễ này còn kéo dài thành tuần bát nhật, theo lời hứa của các Đức Hồng Y họp mật nghị bầu Giáo hoàng.  Các Nghị phụ hứa sẽ thiết lập tuần bát nhật để tạ ơn Đức Mẹ, nếu có thể vượt qua được các chia rẽ vì cuộc vận động của vua Frédéric và sự bất mãn của dân chúng.  Đức Giáo Hoàng Cê-les-ti-nô IV đắc cử chỉ trị vì được có 17 ngày (25/10/1241 – 10/11/1241) nên chưa thực hiện được lời hứa.  Mãi đến giữa thế kỷ XIII, Đức Giáo Hoàng In-nô-cen-tê IV (1243-1254) đã hoàn thành lời hứa này.

Mừng kính sinh nhật Mẹ, người Ki-tô hữu hãy tuyên tín rằng Đức Maria là Người Mẹ đích thực của chúng ta, còn hơn gấp bội phần người mẹ sinh ra phần xác của chúng ta nữa.  Mẹ chính là Mẹ của những người mẹ trên thế gian.  Đức Ki-tô Thiên Chúa đã ban Mẹ cho chúng ta qua đại diện là môn đệ yêu dấu Gio-an trong hy tế thập giá.  Vì là hiền mẫu, Mẹ Maria yêu thương chúng ta một cách trìu mến nhất: Mẹ bảo bọc và gìn giữ, lo liệu và giúp đỡ chúng ta trong mọi tình huống, cả tinh thần lẫn vật chất.  Hãy thử nghĩ xem Thiên Chúa muốn con cái Người phải yêu một người mẹ như vậy với một tình yêu thế nào?

Trong 10 điều răn Thiên Chúa đã truyền dạy, thì có 3 điều “mến Chúa” và 7 điều “yêu người”, và trong 7 giới răn “yêu người” thì điều răn đứng hàng đầu là “Hãy thảo kính cha mẹ.”  Điều đó cho thấy Thiên Chúa muốn chúng ta phải yêu mến, kính trọng, hiếu thảo với cha mẹ như thế nào.  Với cha mẹ phần xác còn như vậy, huống hồ là đối với Người Mẹ trên hết các người mẹ ở thế gian này.  Vì thế, hãy xác tín rằng Thánh ý Thiên Chúa muốn chúng ta hãy phụng sự, tôn vinh, và yêu mến Mẹ Maria bằng tất cả tâm hồn, sức lực và trí khôn, đồng thời hãy học theo Mẹ sống đức tin bằng hai tiếng “xin vâng” đối với Thiên Chúa và bằng cả tấm lòng thương yêu với tất cả mọi người.  Càng yêu mến Mẹ, chúng ta càng làm đẹp lòng Thiên Chúa, đó là điều tất yếu.

Ôi!  Mẹ tuyệt mỹ, Mẹ tuyệt vời, Mẹ là kỳ công của sự cao sang, của sự vĩ đại, chúng con vui mừng xiết bao vì Thiên Chúa đã cất nhắc Mẹ lên phẩm tước cao trọng nhường ấy!  Mẹ thật xứng đáng được mọi thế hệ ca ngợi là người diễm phúc, mọi miệng lưỡi hoan ca chúc tụng, mọi thân thể phủ phục tung hô, và mọi dân nước mến yêu, kính trọng.  Từ ngai tòa Nữ Vương cao sang Mẹ đang ngự trị, xin Mẹ ghé mắt nhân từ đoái thương cứu giúp đàn con nơi cõi trần chất ngất đau thương.  Cúi xin Mẹ hãy bảo bọc, chở che, cứu giúp, đỡ nâng, và cầu bầu cùng Trưởng Tử Giê-su Ki-tô cho chúng con được hưởng nhờ những hồng ân Thiên Chúa đã ban cho Mẹ, để chúng con đời sau cũng được vui hưởng ánh sáng huy hoàng của vinh quang Mẹ cho đến muôn muôn đời.

Ôi! “Lạy Chúa, Chúa đã ban cho Hội Thánh tìm được sức mạnh trong thánh lễ chúng con đang cử hành.  Xin cho chúng con cũng tìm được niềm vui trong ngày mừng sinh nhật Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a. Chính Người đã đem đến cho nhân loại niềm hy vọng và ơn cứu độ là Ðức Giê-su Ki-tô, Ðấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.”  (Lời nguyện nhập lễ lễ “Sinh Nhật Đức Trinh Nữ Maria”).  Xin tất cả hãy cùng “xin vâng” như Mẹ:

XIN VÂNG

Ôi! Hôm nay là ngày sinh của Mẹ,
Thần học tìm được hai sự liên quan:
Là hai khía cạnh mang tính liên hoàn,
“Bản thân Mẹ” và “Hồng ân Cứu Độ”.
Mẹ hoàn toàn không nhiễm tội Nguyên tổ,
Hồng ân đổ tràn cung lòng Anna.
Một thai nhi tên là Maria.
Thánh danh bao hàm lịch trình cứu thế.
Lời nguyện Phụng vụ lễ sinh nhật Mẹ,
Chúc tụng Thiên Chúa cứu chuộc muôn dân,
Đức Giê-su xuống thế làm người trần,
Chịu đòn, chịu chết trong tay quân dữ.
Ôi!  Lạy Mẹ!  Khi nghe lời Thiên sứ,
Mẹ “xin vâng như lời sứ thần truyền”,
Đã tượng thai trong lòng Mẹ trinh nguyên,
Chính bào thai là Ngôi Lời Nhập Thể.
Toàn nhân loại Nhờ Mẹ và Với Mẹ,
“Đem Vầng Đông rực rỡ xuống gian trần” (2),
Con Chúa Trời giáng thế cứu phàm nhân,
Chính là Mẹ sẽ đạp đầu rắn dữ (St 3, 14-15).
Chính là Mẹ hạ sinh một Trưởng Tử (Rm 8, 29),
Là Con Một Thiên Chúa xuống cõi trần,
Đấng Thiên Sai – Đấng Cứu Độ muôn dân,
Khỏi tội lỗi từ muôn đời muôn thủa.
Chính là Mẹ hiệp công cùng Thiên Chúa,
Trong chương trình giải thoát cả loài người,
Để giờ đây hưởng hạnh phúc tuyệt vời,
Cả Hồn Xác được vinh thăng Thiên Quốc.
Chính là Mẹ được muôn vàn ơn phước,
Từ nguyên sơ không mắc tội tông truyền,
Hạ sinh Con Trời, Mẹ vẫn trinh nguyên,
Để hiệp cùng Con đồng công cứu chuộc.
Ôi!  Lạy Mẹ!  Dưới cõi trần nhơ nhuốc,
Ngước nhìn lên ngai toà Mẹ Từ Nhân,
Con khấn xin khi rũ sạch bụi trần,
Được cùng Mẹ hưởng Thánh nhan Thiên Chúa.

JM. Lam Thy ĐVD

—————————————

Chú thích:

1) Các sách Thánh Kinh nói về Đức Maria rất sơ lược, trong khi đó cuốn “Proto-Evangeliun Jacobi” (Tiền Phúc Âm của Gia-cô-bê) cũng được gọi là “De Nativitate Mariæ” (việc sinh hạ Đức Maria) lại nói khá chi tiết về tiểu sử Đức Mẹ.  Vì thế các giáo phụ đã sử dụng sách này mỗi khi nói đến Đức Maria, thậm chí còn dùng tác phẩm này mở đường cho việc thiết lập ba lễ: “Đức Maria Đầu Thai”, “Sinh Nhật Đức Maria” và Lễ “Đức Maria dâng mình vào đền thờ.”  Duy chỉ có điều tác giả sách này không công khai xuất hiện, mà núp dưới danh hiệu “Gia-cô-bê” – người anh cùng cha khác mẹ với Đức Giê-su (tức là con riêng của Thánh Giu-se với người vợ trước) – nên sách này bị coi là “ngụy thư”.

Theo Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia thì nhân vật tên Gia-cô-bê trong Thánh Kinh có tới 4 người: Gia-cô-bê hay Gia-cơ (tiếng Anh: James, tiếng Pháp: Jacques, tiếng Tây Ban Nha: San Tiago) có thể đề cập tới:

a- Gia-cô-bê Công chính, anh em của Đức Giê-su, được cho là tác giả “Thư của Gia-cô-bê” thuộc Tân Ước, giám mục tiên khởi Giê-ru-sa-lem.

b- Gia-cô-bê, con của Dê-bê-đê, Tông đồ, cũng gọi là Gia-cô-bê Tiền, anh trai của Tông đồ Thánh sử Gio-an.

c- Gia-cô-bê, con của An-phê, Tông đồ, đôi khi được xác định là Gia-cô-bê Công chính.

d- Gia-cô-bê Hậu, con của bà Maria Clô-pát và ông An-phê; thường được xác định là Gia-cô-bê con của An-phê (trong trường hợp này, An-phê có tên khác là Clô-pát, hoặc ít nhất là chồng của Maria Clô-pát), hoặc được xác định là Gia-cô-bê Công chính.

(2) “Đem Vầng Đông rực rỡ xuống gian trần: Hymne Ave Regina Cælorum” (Đây là lời Giáo hội hát mừng Đức Maria, sau khi Mẹ “xin vâng như lời sứ thần truyền” hoàn tất mầu nhiệm Nhập Thể).

THÁNH TERESA CALCUTTA, NGƯỜI MẸ LÒNG THƯƠNG XÓT

Vị nữ tu Teresa thành Calcutta qua đời ngày 05.09.1997 đã được Hội Thánh tôn phong lên hàng Chân Phước ngày 19.10.2003, và ngày Chúa Nhật 04.09.2016 được tôn kính trên bàn thờ trong Hội Thánh Công Giáo là đấng Hiển Thánh.

Cuộc đời 87 năm trên trần gian của mẹ Thánh Teresa gắn bó với số phận của những người nghèo vừa về miếng ăn lương thực, quần áo, thuốc men chữa bệnh, nhà cửa, và vừa về gía trị nhân phẩm con người cùng đau khổ tinh thần của họ nữa.

1. Gia đình, nôi nuôi dưỡng lòng thương xót

Mẹ Thánh Teresa mở mắt chào đời bên nước Albania, vùng phía Đông Âu châu, nằm trong liên bang Nam Tư Cộng sản cũ thời Thống Chế Tito.  Albania là một nước nhỏ đại đa số dân cư theo Hồi giáo, đạo Công Giáo chỉ là một thiểu số trong xã hội này.  Gia đình Mẹ Teresa là một gia đình khá giả nếp sống bậc trung lưu có cuộc sống hạnh phúc, theo đức tin Công Giáo truyền thống đạo đức.

Buổi sáng nào người mẹ gia đình Drana của Teresa cũng đều đưa ba người con của bà đi nhà thờ đọc kinh cầu nguyện dâng Thánh lễ.  Buổi chiều tối gia đình tụ tập lại lần chuỗi mân côi, dù bận rộn hay có khách.  Vì với gia đình đó là điều quan trọng hơn cả.

Ngay từ khi con còn nhỏ, người mẹ gia đình Drana đã dậy các con mình sống bác ái lòng thương xót theo phương hướng Phúc âm của Chúa: “Những gì các con làm cho một người bé nhỏ hèn mọn nhất trong các con, chính là các con làm cho Thầy” (Mt 25,40).

Rồi hằng tuần, người mẹ Drana của Teresa có thói quen thăm hỏi những người bệnh nạn trong khu phố, và mang cho những người nghèo quần áo cũng như thực phẩm cần thiết.  Bà muốn con mình ngay từ nhỏ đã biết cùng đồng hành với những người như thế.  Bà thường nói với các con mình: “Các con có phúc lắm, có nhà ở đẹp, có đầy đủ lương thực và quần áo.  Các con không thiếu gì.  Nhưng các con không được quên có nhiều người phải sống trong hoàn cảnh thiếu ăn, có những trẻ em không có quần áo, khi đau bệnh, chúng không có thuốc trị bệnh cần thiết để chữa bệnh.”

Đời sống gương sáng của người mẹ Drana đã ghi khắc dấu vết sâu đậm trong tâm khảm đời sống của Teresa ngay từ nhỏ.  Có lần Teresa lúc nhìn lại thời nhỏ còn ở nhà với mẹ mình đã tâm sự: “Tôi không biết phải nói gì hơn nữa, gương sống của mẹ tôi, hay nếp sống đạo đức chăm chỉ đi nhà thờ cầu nguyện của mẹ tôi đóng vai trò ảnh hưởng rất quan trọng cho ơn kêu gọi của tôi trưởng thành chín mùi.”  Chính trong bầu khí chan chứa lòng thương xót đó của gia đình với những người chung quanh Teresa đã lớn lên và trở thành vị Thánh, người mẹ lòng thương xót sau này giữa lòng xã hội con người.

2. Con đường lòng thương xót

Lúc Teresa lên 12 tuổi đã cảm nghiệm thấy mình có ơn kêu gọi vào sống tu trì trong nhà Dòng, và còn hơn thế nữa cảm nghiệm ra ơn kêu gọi trở thành một nhà truyền giáo sang Ấn Độ, bên Á Châu.

Năm 18 tuổi Teresa đã nói với mẹ mình và cha sở ý muốn đi truyền giáo sang Bengale bên Ấn Độ để cùng làm việc với các Cha Dòng Tên Chúa Giêsu đang sinh sống nơi đó.  Nhưng để thực hiện được ý muốn đó, Teresa phải nhập Dòng Đức mẹ Loreto ở bên Dublin nước Ái nhĩ Lan.  Các nữ tu dòng Đức mẹ Loreto thời đó cũng đang hoạt động truyền giáo bên Bengale.

Teresa nghe theo tiếng gọi con đường đó và trở thành nữ tu của Dòng Loreto, rồi năm 1928 được sai sang Ấn Độ đến vùng Himalaja sống thời gian nhà tập tu luyện, sau đó đến Calcutta học thêm và trở thành cô giáo môn lịch sử, địa lý trường trung học St. Mary’s High School của nhà Dòng.

Nữ tu Teresa làm công việc trí thức dạy học ở trường học nội trú với nhiệt tâm đầy đủ trách nhiệm, nhưng tâm hồn luôn nghĩ đến việc truyền giáo cho những người nghèo nhất nơi những người nghèo bên Ấn độ, mà vị nữ tu ngày đêm ấp ủ hoài bão lúc nào cũng mơ tưởng mong muốn được sống được làm.  Vị Nữ tu Teresa tâm sự: “Tôi là cô giáo, đây là một nếp sống mới với tôi.  Ngôi nhà trường nội trú này rất đẹp cùng thuận lợi cho các học sinh.  Tôi yêu thích việc dậy học.  Tôi chịu trách nhiệm trông coi cả nhà trường, các nữ học sinh yêu mến tôi…”

Nhưng trong khu nhà trường nội trú đó, vị nữ tu Teresa không gặp được một ai là người nghèo đói bị bệnh hoạn, bị bỏ rơi ngoài đường phố.

Ngày 10 tháng Chín 1946 nữ tu Teresa đáp xe lửa đi Darjeeling vùng phía Tây Bengale, nơi xưa kia Teresa đã sống thời gian nhà tập, đi tĩnh tâm.  Khi xe lửa đến nhà ga thành phố Calcutta, vị nữ tu cô giáo trường nội trú nhìn thấy tận mắt cảnh từng đám đông người nghèo, người đau khổ thiếu thốn nghèo khổ, bệnh tật đui què sống chen chúc vất vưởng ngoài đường, những bà mẹ trẻ bồng bế cõng con không quần áo trên lưng, trên vai ăn xin ngoài phố xá… thật là một cảnh hãi hùng thương tâm với vị nữ tu trẻ tuổi Teresa.  Tâm hồn vị nữ tu Teresa bồi hồi dao động vì cảnh tượng quá thương tâm như thế.

Tâm hồn con mắt vị nữ tu Teresa càng mở ra to lớn hơn, và nữ tu Teresa đã có quyết định quay ngược lại với ơn kêu gọi mà chị đã cảm nghiệm được từ lúc còn ở quê nhà bên Albania: muốn trở thành nhà truyền giáo sống cho người nghèo khổ cùng cực bên Ấn Độ!

Chính mẹ Thánh Teresa sau này đã tâm sự nói về quyết định quay ngược lại tận căn rễ của mình: “Trong đêm hôm đó mắt tôi đã mở ra nhìn thấy cảnh thương tâm cùng cực của con người nghèo khổ xấu số, và tôi cảm thấy tận sâu thẳm sự gì là căn bản ơn kêu gọi của tôi.  Đó là tiếng gọi mới của Chúa nói với tôi, một ơn kêu gọi trong lòng ơn kêu gọi.  Chúa kêu gọi tôi không được từ bỏ đời sống là nữ tu, nhưng hãy thay đổi nếp sống.  Có thế mới phù hợp nhiều hơn với tinh thần phúc âm, với tinh thần truyền giáo, mà Chúa ký thác ban gửi cho tôi…  Tôi cảm nghiệm ra rằng Chúa muốn tôi bỏ nếp sống thanh bình yên lặng tiện nghi nhà Dòng của tôi, mà đi ra ngoài đường sống phục vụ những người nghèo khổ.  Với tôi sứ mạng đã rõ ràng: Tôi phải đi ra khỏi nhà Dòng và sống với những người nghèo khổ cùng cực.  Chúa đã gọi tôi đến sống với những người không có sự gì ở thành phố Calcutta này….  Cuộc tĩnh tâm của tôi ở Darjeeling là những ngày suy nghĩ về sứ mạng ơn kêu gọi mới của tôi, mà tôi đã tiếp nhận trên đường tới đây.  Sau đó về lại Calcutta, tôi quyết định thay đổi nếp sống đời tu.”  Con đường dấn thân cho lòng thương xót với con người cùng khổ, cùng đinh trong xã hội Calcutta bên Ấn Độ bắt đầu từ quyết định thay đổi ra đi đến với họ của mẹ Thánh Teresa.

3. Nhà Dòng lòng thương xót: Dòng thừa sai bác ái

Con đường thay đổi nếp sống của nữ tu Teresa để ra đi sống với và cho người nghèo cùng khổ không đơn giản dễ dàng.  Vì phải vượt qua những chặng thử thách có phép chấp thuận của nhà Dòng Loreto cho nữ tu Teresa ra đi, phép của Đức Giám Mục Calcutta, phép của Thánh bộ giáo sỹ tu sỹ bên Roma, và sau cùng phép phê chuẩn của Đức Thánh Cha cho mẹ Teresa lập Dòng mới như mẹ thỉnh nguyện xin.

Sau những năm tháng khảo sát điều tra, ngày 7.10.1950 Tòa Thánh đã phê chuẩn chấp thuận cho mẹ Teresa thành lập Dòng Thừa sai bác ái bên Calcutta Ấn Độ để giúp phục vụ người nghèo khổ cùng cực trong xã hội.

Thế là ơn kêu gọi phục vụ truyền giáo cho người nghèo của mẹ Teresa về phương diện pháp lý theo luật đạo thành sự.

Ơn kêu gọi hoài bão lòng mong ước đến sống truyền gíáo lòng thương xót giữa những người nghèo khổ, mà mẹ Teresa đã đón nhận ơn soi sáng từ Thiên Chúa nguồn tình yêu thương, giờ đây thành hiện thực cho đời mẹ.

Như các Dòng truyền thống trong Hội Thánh Công Giáo, Dòng của Mẹ Teresa cũng có ba lời khấn: khó nghèo, vâng lời và khiết tịnh, ngoài ra Dòng còn buộc các chị em nữ tu lời khấn thứ tư nữa: sống vị tha bác ái thương người.

Mẹ Teresa, vị sáng lập Dòng Thừa sai bác ái tâm sự: “Chúng tôi có trách nhiệm bổn phận với lời khấn phục vụ cho hết mọi người không đòi hỏi thù lao được trả công.  Lời khấn này có nội dung là chúng tôi không làm việc phục vụ cho người giầu có, không làm việc vì thù lao tiền bạc, chúng tôi không được nhận tiền bạc thù lao.”

Dòng Thừa sai bác ái của Mẹ Teresa chọn áo Sari dài phủ kín thân thể của phụ nữ Ấn Độ vẫn thường mặc hằng ngày.  Áo Sari mầu trắng bằng vải thô, bên vành áo có ba vạch mầu xanh da trời nói lên ý nghĩa mầu của bầu trời.  Phía bên trái áo Dòng Sari có gắn cây Thánh Giá Chúa Giêsu, để nhắc nhở người nữ tu nhớ đến Chúa Giêsu.

Mẹ Teresa cắt nghĩa về áo dòng Sari: “Chiếc áo Dòng Sari giúp người nữ tu cảm nhận mình là người nghèo giữa những người nghèo, nhận ra mình cũng là người bệnh tật đau khổ, là trẻ em, là những người già yếu bị bỏ rơi.  Và với chiếc áo Dòng Sari cùng chia sẻ đời sống không có gì thừa tự để lại cho thế giới.”

Chiếc áo Dòng áo Sari hèn mọn theo kiểu của người phụ nữ bình dân trong xã hội Ấn Độ nói lên sâu đậm căn tính lòng thương xót cùng đồng cảm với con người của Dòng Thừa sai bác ái do mẹ ThánhTeresa sáng lập.

4. Dụng cụ lòng thương xót

Mẹ Thánh Teresa lúc còn sinh thời đã thuật kể lại về nhà Dòng Thừa sai bác ái phục vụ cho người nghèo, trẻ con, người bệnh tật bị bỏ rơi trên toàn thế giới: Dòng chúng tôi có 3.500 chị em nữ tu nơi 95 quốc gia với 445 nhà, chúng tôi càng cần thêm nhiều ơn kêu gọi nữa do Chúa gửi đến…

Chúng tôi là dụng cụ của Thiên Chúa.  Những công việc phục vụ cho bác ái tình yêu là những công việc phục vụ cho hòa bình.  Chúng tôi không bao giờ có ý nghĩ về chính trị.  Chúng tôi chỉ muốn phục vụ giúp đỡ người nghèo khổ, vì họ cần đến tình yêu của chúng tôi…

Công việc dấn thân phục vụ người nghèo, người cùng khổ là chứng từ cụ thể cho đức tin.  Nó cắt nghĩa cho người nghèo, người đau khổ về tình yêu Thiên Chúa trao tặng cho họ.  Ở Ấn Độ, một phóng viên người Hoa Kỳ quan sát tôi săn sóc người bệnh bị bệnh da lở loét rất nguy hiểm, anh ta nói với tôi: “Dạ, việc như vậy dù có cho tôi một triệu Mỹ kim, tôi cũng không làm!”  Tôi nói lại ngay: Đúng thế, tôi cũng chẳng làm dù có được một triệu Mỹ kim!  Nhưng tôi làm vì tình yêu Chúa.  Người nghèo khổ bệnh tật này với tôi là thân thể Chúa Giêsu Kitô…  Anh phóng viên nghe thế đứng yên lặng rất mủi lòng cảm động, và hiểu nhận ra sức mạnh nào đã kêu gọi cùng thêm sức nâng đỡ việc làm của chúng tôi…

Chúng tôi luôn nỗ lực cố gắng tìm đến nơi có những người lâm vào hoàn cảnh đau khổ mà không có ánh sáng niềm hy vọng.  Đó là nơi những người nghèo khổ, đói khát và bị bệnh tật, nhất là những người bị bỏ rơi sinh sống vất vưởng.  Chúng tôi đến những nơi đó do Chúa sai đến và chỉ cho chúng tôi việc phải làm…

Với Mẹ Thánh Teresa và Dòng của Mẹ, cầu nguyện với Chúa là suối nguồn kín múc sức mạnh cho việc làm bác ái lòng thương xót con người mà Chúa gửi sai đến: “Ngày sống làm việc của chúng tôi đặt trên căn bản cầu nguyện.  Dòng chúng tôi là Dòng chiêm niệm ở giữa lòng trần gian.  Vì thế cầu nguyện là căn bản đời sống nhà Dòng.  Chúng tôi luôn luôn cầu nguyện khắp mọi nơi đang khi làm việc cũng như lúc đi dọc đường.  Nếu chúng tôi không liên lỉ sống kết hợp với Chúa, chúng tôi đâu có thể có sức lực để sống dấn thân hy sinh phục vụ được.”

Khi người ta xin Mẹ tấm thẻ địa chỉ của Dòng, Mẹ Thánh Teresa rút trong túi áo Dòng Sari ra một mảnh giấy nhỏ rẻ tiền mầu xanh, trên có in dòng chữ bằng tiếng Anh:

“Chúa Giêsu vui mừng hạnh phúc đến với chúng ta,
khi sự chân thật muốn được loan truyền,
khi sự sống muốn được cho bừng lên chỗi dậy,
khi ánh sáng muốn được bật chiếu tỏa lan ra,
khi tình yêu muốn được yêu mến,
khi niềm vui muốn được tiếp tục cho đi,
khi hòa bình muốn được xây dựng lan tỏa gieo rắc.”  (Mẹ Teresa)

Xin Mẹ Thánh Teresa cầu cho chúng con!

Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long

 SỬA LỖI CHO NHAU

Con người luôn có lầm lỗi.  Ai nên khôn mà không dại một lần.  Và chắc chắn là không chỉ một lần mà rất nhiều lần trong cuộc đời.  Phạm lỗi cũng không dừng lại ở lứa tuổi nào mà ở bất cứ lứa tuổi nào cũng có thể phạm lỗi.  Có điều là chẳng mấy ai trong chúng ta dám nhận mình có lỗi.  Chẳng mấy ai dám thú nhận về những lầm lỗi của bản thân.

Đó là điều mà chúng ta cần phải được người khác sửa lỗi.  Nếu không được người khác sửa sai thì mình sẽ không bao giờ đứng lên làm lại cuộc đời.  Một đứa bé để có thể nói đúng, nói không sai chính tả cần được cha mẹ sửa giọng nhiều lần mới có thể nói không bị ngọng.  Về nhân bản con người cũng phải được người khác dạy bảo, sửa lỗi thì mới hoàn thiện chính mình.

Như vậy, sửa lỗi là bổn phận của cha mẹ, của thầy cô, của bạn bè và nhận được sự chỉ dạy là của từng người chúng ta.  Nếu chúng ta không sửa lỗi cho anh em là chúng ta đang có lỗi với chính mình vì chúng ta chưa sống tròn bổn phận của mình với tha nhân.  Đôi khi còn bị người mà mình đã không dậy dỗ oán trách lại chúng ta.

Có một đứa trẻ từ nhỏ đã thích ăn trộm.  Một hôm, nó đi học về, trong cặp có thêm một chiếc bảng học sinh.  Mẹ nó hỏi:

– Sao con lại có tới hai chiếc bảng?

Đứa con đáp:

– Một cái là của bạn cùng lớp với con.  Con đã lén lấy cho vào cặp đấy.

Bà mẹ vui mừng nói:

– Con của mẹ thật thông minh.  Hai cái bảng chắc chắn là tốt hơn một cái rồi.

Ít lâu sau, đứa con lại mang về một cái áo da, trị giá 50 quan tiền.  Đứa con đưa chiếc áo da cho mẹ, mẹ nó khen:

– Con trai của mẹ thật là giỏi, biết hiếu thảo với mẹ.  Ra mẹ thơm một cái nào.

Đứa con trai ngày một lớn lên, càng ngày càng lấy trộm những thứ có giá trị hơn.  Hôm nay ăn trộm bò, ngày mai ăn trộm ngựa, ngày hôm sau trộm vàng bạc châu báu.  Bà mẹ luôn luôn khen ngợi con, trong nhà thiếu thứ gì, liền bảo với con trai để nó đi trộm về.

Có một lần, đứa con ăn trộm đồ bị người ta bắt quả tang, giải lên quan phủ.  Vì hắn trộm quá nhiều thứ nên bị phạt tội chết.  Tên trộm bị trói hai tay ra sau lưng, giải ra pháp trường.  Mẹ hắn đi theo sau, khóc lóc thảm thiết.  Tại pháp trường, tên trộm xin quan cho hắn được nói với mẹ vài lời.  Khi bà mẹ bước tới gần, hắn liền cắn mạnh vào tai mẹ.  Mẹ hắn đau quá kêu toáng lên, lớn tiếng mắng con:

– Mày thật là đồ bất hiếu, tự mình phạm tội chết còn chưa đủ hay sao mà còn muốn làm mẹ thành tàn tật à?

Đứa con giận dữ nói với mẹ hắn:

– Lần đầu tiên tôi ăn trộm cái bảng về, nếu bà đánh tôi một trận và dạy bảo tôi thì tôi không đến nỗi như ngày hôm nay và đã không bị xử tội chết.

Hóa ra không dạy dỗ người khác có khi dẫn đến “gậy ông đập lưng ông.”  Dạy người khác sửa sai là giúp mình được sống bình an hạnh phúc.  Không dạy người khác sửa sai là mình đang “nuôi ong trong tay áo,” hậu quả sẽ là mình bị ong chích đầu tiên.  Thế nên, khi làm điều sai trái, dù là cái sai rất nhỏ, thì cũng phải kịp thời sửa chữa.  Nếu không, cứ để nó lớn dần lên thành cái sai nghiêm trọng thì có thể khiến mình phải hối hận cả đời.

Hôm nay Chúa nhắc chúng ta phải sửa lỗi cho nhau.  Sửa lỗi không phải chỉ trích.  Chỉ trích là công kích nhau, là rêu rao lỗi lầm của nhau.  Chỉ trích thường thiếu bác ái, thiếu tinh thần xây dựng cho nhau.  Sửa lỗi đòi hỏi sự tế nhị, kín đáo, thông cảm với yếu đuối lỗi lầm của nhau.  Sửa lỗi là một bổn phận, là bác ái mà chúng ta phải thực thi cho tha nhân.  Sửa lỗi trái ngược với bỏ mặc, và thiếu trách nhiệm với tha nhân.  Trong tinh thần bác ái và yêu thương chúng ta phải có bổn phận sửa lỗi cho nhau.  Cha mẹ sửa lỗi cho con cái.  Vợ chồng sửa lỗi cho nhau.  Thầy cô sửa lỗi cho học trò.  Bạn bè sửa lỗi cho nhau.  Tất cả phải có bổn phận giúp nhau thăng tiến.  Không bỏ mặc nhau nhưng luôn dìu nhau tiến bước.

Sửa lỗi cho nhau không chỉ với tội lớn mà ngay cả tội nhỏ cũng cần được nhắc nhở, được giúp cải thiện.  Bởi vì “nhỏ ăn trộm dây cột bò, lớn sẽ ăn trộm cả con bò.”  Vì phạm tội sẽ thành thói quen.  Phạm tội một lần thì sợ hãi, nhưng nhiều lần thì lương tâm đã chai lì, đánh mất sự sợ hãi lo âu.

Chúa Giê-su dạy ta cách sửa lỗi tiệm tiến với tình yêu thật tế nhị.  Sửa lỗi cách kín đáo bằng lời chân tình góp ý thẳng ngay với nhau.  Nếu thất bại cần thêm lời của nhân chứng để người được sửa lỗi càng nhận biết lỗi lầm của mình hơn.  Nếu vẫn thất bại thì cần đến cộng đoàn để nhờ sức mạnh của cộng đoàn giúp kẻ có lỗi ăn năn sửa đổi.

Xin Chúa giúp chúng ta biết can đảm sửa lại những lỗi lầm.  Biết bỏ đi tính tự ái, cố chấp để lắng nghe lời góp ý chân thành của tha nhân.  Xin đừng vì cố chấp mà trở thành kẻ ngang bướng làm hại đến cộng đoàn.  Amen. 

Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

ĐIỀU GÌ ĐÃ XẢY RA VỚI MƯỜI HAI VỊ TÔNG ĐỒ?

Philípphê phục vụ các cộng đoàn nói tiếng Hy Lạp.  Giacôbê trở thành giám mục đầu tiên của Giêrusalem . Giuđa Tađêô được tôn kính là “Tông đồ của người Armênia”.

Ở phần cuối của Phúc âm Mátthêu, trước khi mô tả việc Chúa Giêsu lên trời, thánh sử trình bày lời Chúa Giêsu nói với các tông đồ: “Vậy các người hãy đi làm cho muôn dân nước trở thành môn đệ …” (Mátthêu 28, 19-20).  Như đã thấy trong sách Công vụ và trong nhiều tác phẩm truyền thống khác của Kitô giáo (ngụy thư hay không), khi nhận được lệnh truyền của Chúa là đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng, các tông đồ đã không lãng phí thời gian của mình.  Tất cả các tài liệu các tông đồ ban đầu trình bày họ ngay lập tức đặt tay vào cày, dấn thân vào công việc khó khăn là gieo hạt giống đức tin ở mọi nơi họ đi qua.  Vậy rốt cuộc các ngài đã đi đâu?  Các ngài có thực sự “làm cho muôn dân nước trở thành môn đệ” không?

Phêrô
Theo truyền thống, người ta tin rằng thánh Phêrô lần đầu tiên đến Antiôkia và thành lập một cộng đoàn ở đó.  Ngài đã không ở lại đó lâu lắm, nhưng ngài thường được biết đến với tư cách là giám mục đầu tiên của Antiôkia.  Sau đó, ngài có thể đã đến thăm Côrintô trước khi đến Rôma.  Tại đây, ngài đã giúp thành lập cộng đoàn Kitô giáo và cuối cùng đã tử vì đạo tại Hí trường (Colosseum) Nero vào khoảng năm 64 sau Công nguyên ở Rôma.  Nhà thờ Thánh Phêrô ở Vatican được xây dựng trên phần mộ của Thánh Phêrô.

Anrê
Sau Lễ Ngũ Tuần, nhiều truyền thống cổ xưa cho thấy thánh Anrê, anh trai của thánh Phêrô, là Tông đồ cho người Hy Lạp.  Người ta tin rằng ngài đã rao giảng cho các cộng đoàn Hy Lạp và đã tử vì đạo tại Patras trên một cây thánh giá hình chữ X.  Các thánh tích của ngài cuối cùng được chuyển đến Nhà thờ Duomo ở Amalfi, Ý.

Giacôbê Lớn (Tiền)
Người ta cho rằng thánh Giacôbê là tông đồ đầu tiên tử vì đạo.  Trong Công Vụ Tông Đồ có đoạn viết, “Thời kỳ ấy, vua Hêrôđê ra tay ngược đãi một số người trong Hội Thánh.  Nhà vua đã cho chém đầu ông Giacôbê là anh ông Gio-an.” (Cv 12: 1-2).  Ngài qua đời vào năm 44 sau Công nguyên tại Giêrusalem, nhưng phần mộ của ngài không ở gần vị trí này.  Sau khi qua đời, thi hài của ngài được chuyển đến Tây Ban Nha và hiện đang được đặt tại Santiago de Compostela.  Phần mộ của ngài là điểm đến của các cuộc hành hương diễn ra trong hàng thế kỷ, gọi là El Camino, và vẫn còn phổ biến cho đến ngày nay.

Gioan
Tác giả của Phúc âm Gioan và Sách Khải huyền, thánh Gioan là tông đồ duy nhất không bị tử vì đạo.  Trong sách Khải Huyền, ngài viết từ đảo Pátmô, Hy Lạp, “Tôi là Gio-an, một người anh em của anh em, tôi cùng chia sẻ nỗi gian truân, cùng hưởng vương quốc và cùng kiên trì chịu đựng với anh em trong Đức Giê-su.  Lúc ấy, tôi đang ở đảo gọi là Pátmô, vì đã rao giảng Lời Thiên Chúa và lời chứng của Đức Giê-su.” (Khải Huyền 1: 9).  Ngài qua đời vào khoảng năm 100 sau Công nguyên và được chôn cất gần Êphêsô.

Philípphê
Trong những năm sau Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, thánh Philípphê phục vụ các cộng đoàn nói tiếng Hy Lạp.  Người ta biết rất ít về những chuyến đi của ngài, ngoại trừ việc ngài đã tử vì đạo vào khoảng năm 80 sau Công Nguyên.  Thánh tích của ngài được đặt tại Vương Cung Thánh Đường Các Thánh Tông Đồ (Santi Apostoli), ở Roma.

Bathôlômêô
Người ta biết rất ít về những nỗ lực truyền giáo của thánh Bathôlômêô.  Nhiều truyền thống khác nhau nói ngài đã rao giảng ở nhiều khu vực khác nhau.  Người ta tin rằng ngài đã tử vì đạo và hài cốt của ngài hiện đang được đặt tại nhà thờ Thánh Bathôlômêô trên hòn đảo duy nhất của dòng sông Tiber, ở Rôma.

Tôma
Tông đồ “đa nghi”, thánh Tôma được biết đến rộng rãi nhờ những nỗ lực truyền giáo ở Ấn Độ.  Có một câu chuyện phổ biến về một trong những chuyến đi của ngài tập trung vào việc trở lại đạo của một vị vua địa phương “đa nghi.”  Thánh Tôma mất khoảng năm 72 sau Công nguyên và phần mộ của ngài được đặt tại Mylapore, Ấn Độ.

Mátthêu (1)
Một trong bốn nhà viết sách Tin Mừng, thánh Mátthêu được biết đến nhiều nhất qua Phúc âm của ngài.  Ngài đã rao giảng cho các cộng đoàn khác nhau ở Địa Trung Hải  trước khi tử đạo ở Êthiopia.  Phần mộ của ngài nằm trong nhà thờ lớn ở Salerno, Ý.

Giacôbê Nhỏ (Hậu) (2)
Các học giả tin rằng thánh Giacôbê Nhỏ là tác giả của “Thư Thánh Giacôbê” được tìm thấy trong Tân Ước.  Sau khi các tông đồ phân tán và rời khỏi Giêrusalem, Thánh Giacôbê vẫn ở lại và trở thành giám mục đầu tiên trong thành phố thánh.  Ngài ở đó trong vài thập kỷ cho đến khi bị chính quyền Do Thái ném đá đến chết vào năm 62.  Một số di tích của ngài có thể được tìm thấy ở Vương Cung Thánh Đường Các Thánh Tông Đồ (Santi Apostoli), ở Roma.  Người ta cũng tin rằng phần mộ của ngài được đặt tại Nhà thờ Thánh Giacôbê ở Giêrusalem.

Giuđa Tađêô
Là sứ đồ “bị lãng quên” do tên của ngài giống với Giuđa Ítcariốt, thánh Giuđa đã rao giảng phúc âm ở nhiều nơi.  Ngài được Giáo Hội Armenia tôn kính là “Tông đồ của người Armenia.”  Ngài chịu tử đạo vào khoảng năm 65 sau Công nguyên tại Beirut, Lybăng.  Hài cốt của ngài hiện đang ở Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Roma.

Simon Nhiệt thành
Simon thường được miêu tả cùng với Giuđa Tađêô và một số người tin rằng hai người cùng nhau giảng đạo như một cặp.  Điều này một phần là do truyền thống cho biết cả hai ngài đều tử đạo ở Beirut trong cùng một năm.  Một số di tích của thánh Simon Nhiệt thành được cho là nằm trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Roma.

Mátthia
Sau khi được chọn làm “tông đồ thay thế”, một truyền thống nói rằng thánh Mátthia đã thành lập một giáo hội ở Cappadocia và phục vụ cho các Kitô hữu trên bờ biển Caspi.  Người ta tin rằng ngài đã chết một cái chết vì đạo, bị chặt đầu bằng rìu ở Colchis dưới tay nhiều người ngoại giáo ở đó.  Một số di vật của ngài được cho là đã được Thánh Hêlêna mang đến Roma.
________
Chú thích:
 (1) Tại sao Thánh Matthêu có hai tên trong Kinh thánh?

Người thu thuế nổi tiếng trở thành tông đồ có thể đã đổi tên riêng sau khi gặp Chúa Giêsu Kitô.

Việc thay đổi tên có ý nghĩa quan trọng trong Kinh thánh, vì chúng thường báo hiệu một sứ mệnh mới từ Thiên Chúa.  Ví dụ, Ápram trở thành Ápraham và Simon được đổi tên thành Phêrô.

Một nhân vật khác trong Kinh thánh mà nhiều học giả tin rằng đã được đổi tên là tông đồ Mátthêu.  Trong Phúc âm Mátthêu, người thu thuế được Chúa Giêsu Kitô kêu gọi trở thành tông đồ được đặt tên là “Mátthêu” (Mátthêu 9: 9).

Tuy nhiên, trong Phúc âm của Máccô, người thu thuế đó được đặt tên là “Lêvi” (Máccô 2:14).

Một số học giả tin rằng người thu thuế đơn giản có hai tên, một bằng tiếng Hy Lạp (Mátthêu) và một bằng tiếng Do Thái (Lêvi).  Điều này rất có thể xảy ra, vì các học giả chỉ ra Simon (Phêrô) và Saulô (Phaolô) là những ví dụ tương tự không biểu thị sự thay đổi tên, mà là sự tồn tại của hai tên ở hai ngôn ngữ khác nhau.

Đồng thời, các học giả khác tin rằng điều này có thể cho thấy một sự thay đổi tên.  Trong Bách khoa toàn thư Công giáo, có giải thích, “Có thể là Mattija, ‘món quà của Iaveh,’ là cái tên được Chúa Giêsu  đặt cho người thu thuế khi Ngài gọi ông làm Tông đồ, và từ đó ông được biết đến trong các anh em Kitô hữu, Lêvi là tên ban đầu của ông”.

Trong thực tế, cả hai lý thuyết đều có thể xảy ra.  Điều chắc chắn là sau khi bỏ công việc thu thuế, cộng đoàn Kitô giáo sơ khai đã mãi mãi gọi ông là “Mátthêu”.  Dù là trường hợp nào, cả hai tên đều có khả năng truyền cảm hứng cho những suy niệm hình tượng, như có thể thấy trong đoạn văn sau đây từ Truyền thuyết Vàng (Golden Legend), một văn bản phổ biến thời Trung cổ cung cấp những ý nghĩa đầy tính sáng tạo cho tên các vị thánh.

Mátthêu có hai tên, Mátthêu và Levi.  Mátthêu (Matthaeus) được hiểu là món quà hấp dẫn, hoặc là người đưa ra lời khuyên.  Hoặc tên đến từ magnus, vĩ đại và theos, Chúa, do đó có nghĩa là vĩ đại đối với Thiên Chúa, hoặc từ mamis, bàn tay, và theos, do đó có nghĩa là bàn tay của Chúa.  Thánh Mátthêu là một món quà hấp dẫn bởi sự hoán cải nhanh chóng của ông, là người ban phát các lời khuyên răn khi rao giảng, là người tuyệt vời đối với Thiên Chúa nhờ sự hoàn hảo của cuộc sống của mình, và là bàn tay của Thiên Chúa nhờ việc viết phúc âm của mình.  Levi được hiểu là đưa lên, hoặc đính kèm, hoặc thêm vào, hoặc đặt cùng.  Vị thánh được cất lên từ công việc thuế má, gắn bó với tông đồ đoàn, được thêm vào nhóm các nhà truyền giáo, và được xếp vào danh mục các vị tử đạo.

Trước đây ông có thể được gọi là “Levi”, nhưng kể từ khi ông gặp gỡ Chúa Giêsu, thế giới đã biết ông là “Mátthêu”.

(2) Tại sao Thánh Giacôbê được gọi là “nhỏ hơn”?

Có vẻ lạ khi gọi một vị thánh nào đó không phải là thánh lớn.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi ít người biết về tông đồ “Giacôbê nhỏ hơn”, là người được mừng lễ, cùng với Thánh Philípphê, vào ngày 3 tháng 5.  Có nhiều người đàn ông trong Tân Ước có tên là Giacôbê, và có hai vị được xác định ở trong nhóm 12 tông đồ ban đầu.

Có Giacôbê và em trai là Gioan, các con trai của Dêbêđê, đều là tông đồ, và sau đó là Giacôbê nhỏ hơn, thường được coi là “con trai của Alphê” cũng như “anh em của Chúa”.  Danh tính này khiến một số học giả cho rằng Giacôbê là anh em họ gần gũi với Chúa Giêsu, nhưng ngoài mối quan hệ đó, hầu như không có điều gì được đề cập về ông hoặc về quá khứ của ông.

Theo Butler, “tên gọi [‘nhỏ hơn’] được cho là bắt nguồn, hoặc từ việc ông được gọi làm tông đồ muộn hơn so với những người trước, hoặc do tầm vóc thấp bé, hoặc bắt nguồn từ thời trẻ.”

Về cơ bản tên gọi đó được dùng để phân biệt hai tông đồ có cùng tên.  Do sự khác biệt ban đầu này, Thánh Giacôbê  Nhỏ thậm chí còn được xếp vào một vị trí “kém hơn” trong Danh Sách Các Thánh (Roman Canon), xếp thứ tự thấp hơn Thánh Giacôbê Tiền trong danh sách các tông đồ.

Tuy nhiên, vai trò của Giacôbê trong Giáo hội sơ khai còn lâu mới “kém hơn” và các hoạt động của ông khá quan trọng.

Một số học giả tin rằng Thánh Giacôbê  Nhỏ là tác giả của “Thư thánh Giacôbê” được tìm thấy trong Tân Ước.  Đó là một bức thư ngắn tập trung vào sự kiên nhẫn trong lúc đau khổ và được biết đến rộng rãi nhất với những câu nói về đức tin và việc làm, “Nhưng có kẻ sẽ nói: Anh, anh có đức tin; tôi, tôi có việc làm!  Hãy cho tôi thấy đức tin không việc làm của anh, và tôi, tôi sẽ lấy việc làm mà cho anh thấy đức tin của tôi.” (Giacôbê 2:18)

Sau khi các tông đồ phân tán và rời khỏi Giêrusalem, Giacôbê vẫn ở lại và trở thành giám mục đầu tiên trong thành phố thánh.  Ông ở đó trong vài thập kỷ cho đến khi bị chính quyền Do Thái ném đá đến chết vào năm 62.  Công việc và máu của ông là tại các cơ sở của Giáo Hội ở Giêrusalem; đó là một trong những Ngai Tòa vĩ đại nhất trong Giáo hội Công giáo trong nhiều thế kỷ sau đó.

Cuối cùng, trong khi Thánh Giacôbê nhận được một danh hiệu nhỏ nhoi sau khi qua đời, điều đó nên nhắc nhở chúng ta rằng danh hiệu thực sự không quan trọng trong cuộc sống này hay đời sau.  Tất cả những gì quan trọng là làm theo ý muốn của Thiên Chúa và bước đi theo bước chân của Ngài.  Giống như Thánh Gioan Tẩy Giả, Thánh Giacôbê dạy chúng ta rằng chúng ta nên cố gắng nhỏ đi để Thiên Chúa có thể lớn lên trong cuộc sống của chúng ta.

Tác giả: Philip Kosloski
Nguồn: aleteia.org
Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung

KHÔNG BAO GIỜ THẤT VỌNG VỀ AI, BỎ MẶC AI

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói đến Giêrêmia, vị ngôn sứ thời Cựu Ước và Gioan Tẩy Giả, ngôn sứ thời Tân Ước.  Thật tương đồng khi cả hai vị được sai đến với vua dân của mình để nói cho họ điều Thiên Chúa muốn, rằng, như một người cha giàu lòng thương xót, Thiên Chúa không ngoảnh mặt làm ngơ trước sự cố chấp của con người.  Đấng không bao giờ thất vọng về ai, bỏ mặc ai; Người làm hết sức có thể để đưa tội nhân trở về.  Đó cũng là chi tiết chúng ta dừng lại hôm nay.

Thời Giêrêmia, dân chúng tưởng chu toàn lề luật là đủ, họ buông mình làm điều trái mắt Chúa.  Người sai Giêrêmia, “Ngươi hãy thắt lưng, chỗi dậy, nói cho họ biết tất cả những gì Ta truyền cho ngươi.  Đừng run sợ trước họ.”  Giêrêmia nói, rồi đây thành thánh sẽ hoang tàn, dân sẽ lưu đày nếu cứ phản nghịch.  Lời ông bị coi là phạm thượng, dân mưu sát ông đến mấy lần; ông chỉ thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.  Dẫu thế, Giêrêmia vẫn mạnh mẽ đến cùng.  Chính Thiên Chúa ban cho ông sức mạnh chỉ vì Người hằng xót thương dân.  Các học giả cho biết, Giêrêmia can trường thi hành sứ vụ những sáu mươi năm; quả Chúa không bỏ mặc dân, Người không hề không thất vọng.

Chẳng khá hơn thời Giêrêmia, xã hội thời Gioan cũng ví tựa vũng bùn khi tôn giáo bị lãng quên, phong hoá ra suy đồi, điển hình như việc Hêrôđê lấy vợ anh mình.  Giữa vũng bùn tanh hôi đó, Gioan xuất hiện như một đoá sen ngát hương, kêu gọi vua tôi trở về, “Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã gần đến”; “Vua không được phép chiếm lấy vợ anh mình.”   Và hệ luỵ là một cái chết oan khốc của một nhân cách phi thường trong ngày sinh nhật của một ông vua tầm thường; rượu nồng hoà với máu tươi, bánh thơm dọn với thịt người.  Tất cả chỉ để thoả dạ một người tình nham hiểm của một vị vua ngông cuồng.  Một vị thánh đã chết tức tưởi, vô duyên, khởi từ một điệu múa dáng duyên của một cô bé có duyên, con của một bà mẹ sắc duyên.

Thế mà câu chuyện buồn nhất, thê lương nhất ấy lại hé lộ một niềm vui và niềm hy vọng lớn nhất, rằng, Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về ai, bỏ mặc ai; Người làm hết sức có thể để đưa tội nhân trở về.  Thánh Marcô viết, “Hêrôđê biết Gioan là người công chính thánh thiện, nên sợ ông, và còn che chở ông.  Nghe ông nói, nhà vua rất phân vân, nhưng lại cứ thích nghe.”  Do sự yếu kém luân lý đạo đức, Hêrôđê, người rất muốn gặp Chúa Giêsu, vẫn sống trong tội; thế nhưng, tiếng chuông dóng lên từ Gioan vẫn chạm được lương tâm ông, khiến ông phải phân vân và bối rối; điều đó cho thấy ân sủng của Thiên Chúa đang khuấy động lòng vua; Thánh Thần của Người đang lay chuyển trái tim ông, chỉ cho ông biết tội mình, hầu tìm về con đường sáng.  Gioan biết, điều mình nói sẽ dẫn Gioan đến cái chết nhưng Thiên Chúa đã ban sức mạnh để Gioan chiến thắng; lòng thương xót của Thiên Chúa không cho phép Gioan rút lui cũng chỉ vì Người không bỏ mặc tội nhân nhưng ban ân sủng và Thánh Thần để mỗi người có cơ hội trở về.

Vì thế, đừng ai đánh mất hy vọng về chính mình hay về bất cứ một ai xem ra đang hư mất, đang ngấp nghé cửa hoả ngục hay đang ngụp lặn trong tội.  Nếu là chính mình, với lòng sám hối, hãy trở về; nếu là người khác, chúng ta tiếp tục yêu thương, cầu nguyện, đợi chờ và nói cho tội nhân biết điều Thiên Chúa muốn.  Đó sẽ là một cuộc trở về trọn vẹn Thiên Chúa đang chờ mong, cả triều thần thánh thiên đàng đang chực ùa ra để vỗ tay và reo hò.  Thiên Chúa có thể thay lòng đổi dạ những tội nhân khốn cùng nhất vì Người là Đấng xót thương, không bao giờ thất vọng về ai, bỏ mặc ai.

Anh Chị em,

Thật tiếc cho Hêrôđê, chỉ một chút xíu nữa, một chút thiện chí cuối cùng, để ông không đổ máu đấng thánh vô tội và không đánh mất linh hồn mình.  Và nếu Thiên Chúa đã sai Gioan đến với một vị vua thời Tân Ước thì hơn 1,000 năm trước đó, Thiên Chúa cũng đã sai một người đến với một vị vua khác của thời Cựu Ước nhưng câu chuyện kết thúc đẹp đẽ hơn, có hậu hơn với nhiều tình tiết tuyệt vời để chúng ta biết rằng, Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về ai, bỏ mặc ai.  Đó là câu chuyện Nathan đến với vua Đavít.  Tội của Đavít còn tầy đình hơn, Đavít đã cướp vợ và giết người trước khi Nathan đến; Hêrôđê chỉ mới cướp vợ nhưng chưa giết người trước khi Gioan đến.  Chỉ khác một điều, Đavít có mà Hêrôđê không có, đó là thiện chí cuối cùng; qua Nathan, Đavít kịp nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa, vua đã sám hối ăn năn khóc lóc thảm thiết và lòng thương xót của Thiên Chúa một lần nữa lại dẫy đầy để thứ tha tất cả.  Thiên Chúa không thất vọng về ai, bỏ mặc ai cũng là Đấng trở thành nguồn cảm hứng cho Đavít để thế gian có một kho tàng Thánh Vịnh vô giá của một thánh vương vốn đã từng là một đại tội nhân, đặc biệt với kiệt tác vô thời gian của ngài là Thánh Vịnh 50 mà chúng ta có thể nghêu ngao mỗi khi làm việc đền tội, nếu muốn.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Hôm nay ngày thứ bảy, con hướng lòng về Đức Mẹ là “Đức Bà bầu chữa kẻ có tội”, xin Mẹ giúp con; nhờ ơn Chúa, con sẽ biến tội nên hồng phúc; xin đừng để con tội chồng tội, vì Chúa không bao giờ thất vọng về ai, bỏ mặc ai,” Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

THEO THẦY GIÊSU

Có câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: Một con chồn muốn vào một vườn nho, nhưng vườn nho lại được rào dậu cẩn thận.  Tìm được một chỗ trống, nó muốn chui vào nhưng không thể được.  Nó mới nghĩ ra một cách: nhịn đói để gầy bớt đi.

Sau mấy ngày nhịn ăn, con chồn chui qua lỗ hổng một cách dễ dàng.  Nó vào được trong vườn nho.  Sau khi ăn uống no nê, con chồn mới khám phá rằng nó đã trở nên quá mập để có thể chui qua lỗ hổng trở lại.  Thế là nó phải tuyệt thực một lần nữa.

Thoát ra khỏi vườn nho, nó nhìn và suy nghĩ: “Hỡi vườn nho, vào trong nhà ngươi để được gì?  Bởi vì ta đã đi vào với hai bàn tay không, ta cũng trở ra với hai bàn tay trắng.”

Khi bước vào trong trần thế này, con người muốn mở rộng bàn tay để chiếm trọn mọi sự.  Khi nhắm mắt xuôi tay, cũng đành phải ra đi với hai bàn tay trắng mà thôi.

Chúa Giêsu dạy các môn đệ: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào có ích lợi gì?”  Xuất thân từ bụi đất, con người rồi cũng trở về với đất bụi.  Chỉ có sự sống vĩnh cửu mới tồn tại muôn đời.

Chúa Giêsu còn dạy rằng: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được mạng sống ấy.”  Ở đời ai cũng muốn được và sợ mất.  Không phải cứ thu vào là được, buông ra là mất.  Trái lại, nhiều khi phải chịu mất trước, rồi mới được sau.  Mất nhỏ để được lớn.  Mất ít để được nhiều.  Sống ở đời ai cũng tranh phần được và không muốn mất.  Vấn đề là phải xác định xem đâu là cái được thực sự, lâu bền, trọn vẹn, đâu là cái được quan trọng nhất, cần thiết nhất.  Kitô hữu là người say mê cái được vĩnh cửu, vì thế họ chấp nhận những mất mát tạm thời.  Họ tin rằng cuối cùng chẳng có gì mất cả.  Mọi sự, nếu họ mất vì Thầy Giêsu, thì họ sẽ được lại.  Mất tạm thời để giữ được mãi mãi.  Từ bỏ chính mình là để tìm lại cái tôi trong suốt hơn, ngời sáng hơn.

Chúa Giêsu cũng quả quyết: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình đi, vác thập giá mà theo.”  Muốn làm môn đệ Chúa Giêsu, phải “đi theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.”  Theo Thầy không phải để vinh thân phì gia.  Theo Thầy để tìm một lẽ sống cho cuộc đời, vì Thầy là con đường dẫn về nguồn sống là Chúa Cha.  Thầy là sự thật giải thoát muôn dân.  Muốn theo Thầy, không những phải “từ bỏ chính mình”, tức là “tư tưởng của loài người”, mà còn phải mang thân phận như Thầy với thập giá riêng trên vai.  Thực tế, theo hay không theo Thầy, con người vẫn không thoát khỏi khổ giá.  Nhưng nếu theo Thầy, môn đệ sẽ tìm được hướng giải thoát.  Muốn theo Thầy “anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa” (Rm 12,1).

Theo Thầy Giêsu là đi vào con đường từ bỏ

Từ bỏ là một quy luật.

– Quy luật của sinh tồn: có nhiều thứ nếu ta không chịu bỏ, thì ta sẽ chết.  Chẳng hạn ta có một khúc chân đang bị hoại tử.  Nếu không cắt bỏ nó đi thì chứng hoại tử sẽ lan dần đến toàn cơ thể làm ta phải chết.

– Quy luật của phát triển: cơ thể ta hằng ngày hằng giờ hằng phút đều bỏ đi những chất thải, bỏ đi một số tế bào già nua để thu nhận vào những chất dinh dưỡng, để sinh những tế bào mới.  Nhờ đó, cơ thể lớn dần lên.  Trong quá trình phát triển, con người phải đi qua từng giai đoạn, bỏ đi đứa bé sơ sinh, đứa trẻ con ấu trĩ… có thế mới phát triển dần thành người lớn.

– Quy luật của cải thiện: cải thiện là bỏ đi những cái chưa tốt để lấy vào những cái tốt hơn.

– Quy luật của tiếp nhận: có bỏ thì mới có nhận.  Thí dụ ta có một cái chai đang đựng nước.  Muốn có một lít rượu thì trước hết phải đổ bỏ một lít nước kia ra khỏi cái chai.

Chẳng những phải bỏ bớt, bỏ cái này, bỏ cái kia… mà có khi phải bỏ hoàn toàn, bỏ tất cả nữa.  Chẳng hạn chiếc xe gắn máy của tôi đã hư quá nặng, nếu tiếp tục sử dụng thì có ngày sẽ gây tai nạn, có sửa bộ phận này, bộ phận khác cũng không bảo đảm an toàn.  Vì thế tôi phải bỏ hẳn để mua một chiếc xe khác. (sợi chỉ đỏ).

Làm môn đệ Thầy Giêsu là làm một người khác hẳn, cho nên không lạ gì khi Người bảo chúng ta phải “từ bỏ mình.”  Cái phần “mình” được bỏ đi bao nhiêu thì cái phần “Chúa” được gia tăng bấy nhiêu.  “Từ bỏ mình” hoàn toàn thì sẽ trở thành “Kitô khác” hoàn toàn.

Như thế, từ bỏ nhưng không mất, mà lại được; không thiệt thòi mà lại có lợi hơn.

Theo Thầy Giêsu là đi vào con đường sự sống

 Theo Thầy Giêsu là đi vào con đường thánh giá dẫn đến phục sinh.  Con đường từ bỏ là con đường dẫn đến vinh quang.  Phải qua sự chết, mới đến sự sống.  Phải qua tủi nhục, mới đến vinh quang.  Phải qua gian khổ, mới đến hạnh phúc.  Khi mời gọi “Hãy theo Thầy”, Chúa muốn chúng ta triển nở đến viên mãn.

Theo Thầy Giêsu, các môn đệ bị người đời chê là khờ dại vì sống từ bỏ và vác thập giá hàng ngày.  Thế nhưng họ vui mừng sống một nghịch lý căn bản “mất mạng sống mình vì Thầy.”  Con người ta cứ tưởng rằng, chiếm hữu càng nhiều thì càng làm cho mình giàu có thêm.  Thực ra, chẳng có gì quí hơn mạng sống.  Nhiều người đánh đổi mạng sống để có của cải vật chất.  Thực tế chưa ai giàu có đến nỗi làm chủ được cả trần gian.  Nhưng “nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?  Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?” (Mt 16,26).  Chỉ một cách duy nhất có thể tìm lại được mình là “mất mạng sống mình vì Thầy” (Mt 16,25).  Như thế, phải chăng Thầy có sức thu hút khiến người ta không thể cưỡng lại được?  Giống như ngôn sứ Giêrêmia, họ phải thốt lên: “Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ.  Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng” (Gr 20,7).  Thầy có sức quyến rũ mãnh liệt, vì đã vận dụng được nghịch lý của cây thập giá để “ngày thứ ba sẽ chỗi dậy” (Mt 16,21) từ cõi chết.  Cả thế giới cũng không đem lại sự sống.  Chỉ một mình Thầy mới có thể làm cho người môn đệ “tìm được mạng sống ấy” (Mt 16,25), vì Thầy là “sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,25).  Bởi thế, Thầy có sức quyến rũ hơn cả vũ trụ vì Thầy là “con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6).

Lời Chúa hôm nay gởi đến cho chúng ta sứ điệp: từ bỏ không phải để mất, mà để được, được lại một cách sung mãn, hoàn hảo và cao cả phong phú hơn gấp bội.  Mất hiện tại, để được tương lai.  Mất đời này, để được đời sau.  Mất phàm tục, để được thần thiêng.  Mất tạm bợ, để được vĩnh cửu.

Thánh Phanxicô Assisi đã cảm nghiệm sâu xa chân lý này nên đã thốt lên lời ca bất hủ: “Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh.  Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân.  Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ.  Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.”

Các vị tử đạo là những người say mê sự sống, đến nỗi dám chấp nhận cái chết.  Các ngài coi trọng sự sống vĩnh cửu của mình hơn cả thế giới phú quý vinh hoa.

******************************************

“Lạy Chúa Giêsu,

Chúa đã chịu chết và sống lại, xin dạy chúng con biết chiến đấu trong cuộc chiến mỗi ngày để được sống dồi dào hơn.

Chúa đã khiêm tốn và kiên trì nhận lấy những thất bại trong cuộc đời cũng như mọi đau khổ của thập giá, xin biến mọi đau khổ cũng như mọi thử thách chúng con phải gánh chịu mỗi ngày, thành cơ hội giúp chúng con thăng tiến và trở nên giống Chúa hơn.

Xin dạy chúng con biết rằng, chúng con không thể nên hoàn thiện nếu như không biết từ bỏ chính mình và những ước muốn ích kỷ.

Ước chi từ nay, không gì có thể làm cho chúng con khổ đau và khóc lóc chỉ vì quên đi niềm vui ngày Chúa Phục Sinh.

Chúa là mặt trời tỏa sáng Tình Yêu Chúa Cha, là hy vọng hạnh phúc bất diệt, là ngọn lửa tình yêu nồng nàn; xin lấy niềm vui của Người mà làm cho chúng con nên mạnh mẽ và trở thành mối dây yêu thương, bình an và hiệp nhất giữa chúng con.  Amen.” (Mẹ Têrêxa Calcutta).

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

ĐAM MÊ CỦA THÁNH AUGUSTINO

O. Wide đã khẳng định: “Mỗi vị Thánh có một quá khứ, mỗi tội nhân có một tương lai. Câu nói này được áp dụng triệt để cho cuộc đời của Thánh Augustino, một con người sống với nhiều nỗi đam mê. Có những đam mê đã kéo theo một đời sống lệch lạc và truỵ lạc, cũng có những đam mê giúp ngài sống thật và sống thánh.  Tất cả được bộc bạch trong cuốn Tự Thuật, một trước tác của ngài.

Lược qua tác phẩm, chúng ta ghi nhận hai điểm nổi bật nơi đam mê của thánh nhân: danh vọng và sắc dục.  Thông thường, chỉ có những đau khổ hay mất mát lớn lao cách nào đó mới khiến con người giảm trừ hay chấm dứt đam mê quá đà hoặc bất chính; thánh nhân cũng không phải trường hợp ngoại lệ.  Nhưng với ơn Chúa, ngài đã “lột xác” trải qua một cuộc biến đổi ngoạn mục mà đó cũng là một phần thao thức ngài muốn trình bày trong tác phẩm Tự thú này.

Trước tiên, chúng ta bàn đến đam mê danh vọng nơi ngài.  Đam mê này được chính thánh Augustino nhìn nhận, thích trổi vượt hơn người khác, vì vậy vinh dự của ngài là làm đẹp lòng người khác[i] .  Thật ra, nếu ngài có trí khôn và tài giỏi thì việc trổi vượt hơn người hay được người khác khen ngợi, đó là điều chính đáng.  Nhưng ngài đã lừa dối giáo sư, giấu giếm cha mẹ vì ham chơi, say mê những vở kịch nhảm nhí, điên cuồng; bắt chước các trình diễn đó rồi sinh ra kiêu hãnh, tìm tiếng khen…  Chúng ta nghe chính ngài tự thú: “Về các loại cám dỗ khác, còn có một cách nào đó dò xét được mình, còn về loại này (đam mê danh vọng), thì hầu như không có cách nào cả”[ii].  Nói như thế, ngài tỏ ra bất lực nhưng kỳ thực với ơn Chúa, ngài nỗ lực rất nhiều.  Ngài ý thức đam mê này quá quy về bản thân nên ngài hướng ra tha nhân, ngài viết: “Con thấy rõ là các tiếng khen của người ta đã làm cho con chăm chú đến lợi ích của con”[iii] .  Điều này được chứng thực qua việc ngài dùng tài hùng biện để thuyết phục người khác tìm đến chân lý.

Quả thật, với vinh dự sinh viên thủ khoa môn này, ngài nhanh chóng trở thành nhà hùng biện.  Đam mê này đã khiến ngài tìm đến Cicéron là tác giả cuốn Hortensius.  Chính tác phẩm này làm thay đổi nguyện vọng và ước muốn của thánh nhân, muốn quay về sự khôn ngoan bất tử.  Bắt đầu ngài tìm đọc Kinh Thánh nhưng cảm giác vô vị.  Có thể nói, đây chỉ là một cảm xúc nhất thời vụt tắt.  Nhưng dù sao, ngài cũng biểu hiện một cảm thức đam mê đi tìm Chân, Thiện, Mỹ.

Đam mê chân lý là một điều đáng ước ao nhưng chân lý là một thực tại không dễ thủ đắc vì lý trí đã ra tối tăm vì “vết thương tội lỗi.”  Một khi lý trí sai lầm, chân lý ấy biến thành một loại nguỵ biện.  Do đam mê hiếu tri đi tìm chân lý, thánh Augustino vương phải bè rối mà ngài ví như người có cặp mắt mù tối vướng phải cạm bẫy giăng trên đường.  Bè rối ấy âm mưu đẩy khoa học lên đến đỉnh điểm để loại tôn giáo khỏi đời sống con người.  Sự thể càng thêm trầm trọng khi một Giám Mục tên là Faustus cũng theo bè rối này.  Với tài hùng biện và lối nói dí dỏm đã làm say mê thánh nhân khiến ngài càng xác tín về những “chân lý” sai lầm; dầu là những gì thánh nhân tiếp xúc chỉ là nguỵ biện.  Nhưng điều tệ hại là một khi nhổ hết cỏ mọc hoang, mảnh đất tâm hồn trở nên trống rỗng vì không có một giáo lý lành mạnh khác trồng vào cho đến khi ngài gặp được Giám mục Ambrôsiô, từ những bài giảng hùng hồn và không kém phần hùng biện của Đức Cha này, ngài đã nhận ra được chân lý mình phải tin nhận.

Nhưng cuộc trở về của ngài không phải một sớm một chiều.  Chúng ta nghe ngài tâm sự: “Sự xấu kinh niên có sức mạnh trên con hơn là sự lành mới mẻ đối với con.  Cái giây phút mà con sẽ được thay đổi càng gần tới, thì làm cho con càng sợ hãi; nó không làm cho con lùi bước, cũng chẳng đổi chiều, nhưng là lưỡng lự.  Đây là một cuộc chiến giằng co nội tâm nhưng “giờ Chúa đã đến.”  Ngài tỏ ý muốn bằng chính dấu chỉ bên ngoài.  Ngài viết: “Việc dạy học quá vất vả đã làm cho phổi con yếu đi, con khó thở và sự đau ngực chứng tỏ có vết thương” [iv].  Nỗi đau này đồng nghĩa với việc từ bỏ nỗi đam mê hùng biện là mối cản trở lớn khiến ngài không thể hợp nhất với Giáo Hội.  Thêm một dấu lạ khác nữa, “Chúa hành hạ con với cái bệnh đau răng nguy kịch đến nỗi làm cho con không nói được nữa.  Trong lòng con nảy ra ý nghĩ là kêu gọi các bạn có mặt tại nhà, cầu xin Chúa cho con…  Nhưng chúng con vừa quỳ gối để khẩn khoản cầu xin thì cơn đau biến mất… Và tự đáy lòng, con cảm thấy một sự khuyến cáo của Chúa và vui vẻ trong đức tin”[v].

Từ những lời tự thuật trên, chúng ta có thể xác tín rằng đức tin là hồng ân Chúa ban và “giờ Chúa đến” thì không ai có thể ngăn cản được!  Vì ý muốn của Chúa là ý muốn quyền năng, nghĩa là muốn gì thì được vậy!

Hành trình đi đến đức tin của thánh nhân còn nếm trải một nỗi đam mê chết người là đam mê sắc dục.  Có thể nói, nó chi phối toàn bộ cuộc sống của ngài.  Augustino đã tự thú: “Con không biết phân biệt sự sáng sủa của tình yêu và sự tối tăm của nhục dục.  Cả hai tình yêu đều bốc cháy lẫn lộn trong con, lôi kéo tuổi xuân khờ dại của con qua những ghềnh dốc đam mê và dìm con xuống vực thẳm các nết xấu…  Sự dâm đãng đã làm con dao động và xiêu té, phung phí và tiêu tan sức lực” [vi].  Ngài và các bạn của ngài ganh đua nhau không phải tập tành nhân đức hay nghiên cứu tri thức mà lại so kè xem ai làm chuyện xấu xa đồi bại hơn.  Có lúc, vì muốn hơn chúng bạn, ngài phải nói dối, ngài tâm sự: “Con sợ bị khinh thị vì vô tội, bị coi hèn hạ hơn vì trong sạch”[vii].

Ngài mô tả đam mê nhục dục: “Chúng xuất hiện lờ mờ trước mặt khi con tỉnh thức, nhưng trong giấc ngủ, chúng gợi lên không những cảm giác thú vui, mà còn sự ưng thuận và như có cả hành động nữa”[viii].  Ở đây, có sự can dự của tiềm thức; những hình ảnh đập vào mắt, chúng ám ảnh toàn diện con người nên dịp tội và ưng thuận là khoảng cách mong manh.  Đến nỗi, khi nghĩ về những điều này, ngài thốt lên: “Trước thánh nhan Chúa, con là một bí mật cho con và đó chính là sự yếu đuối của con” [ix].  Quả thật, đam mê nào cũng đi kèm với khoái lạc, mà đam mê nhục dục chi phối toàn bộ sinh hoạt con người nên khi muốn từ bỏ ngay đối tượng đam mê, khoái lạc lại khuấy động, cảm xúc trào dâng, giác quan dễ tìm lại cảm giác cũ.  Với những nguy hiểm rình chờ, ngài chỉ còn cách kêu cầu Chúa: “Con đã nói cho Chúa nhân lành biết hiện trạng yếu đuối của con: con vui mừng mà run sợ về những ơn Chúa đã ban, con khóc lóc về những  thiếu sót trong con, con hy vọng Chúa sẽ hoàn tất nơi con lòng thương xót của Chúa, cho tới sự bình an trọn vẹn, mà mọi quan năng bề trong bề ngoài của con được hưởng nơi Chúa”[x].

Chúng ta vừa lược qua những đam mê của thánh Augustino, xem ra rất con người xác thịt nhưng nhờ ơn Chúa, ngài đã chuyển hướng biến nó thành phương tiện mang ơn cứu độ.  Chắc hẳn, đây sẽ là sứ điệp về niềm hy vọng cho mỗi chúng ta, rằng: chúng ta vẫn sống hoài nỗi đam mê mà không làm nguôi ngoai khát vọng nên thánh.  Một hành trình đến đức tin, một hành trình dài nên thánh đòi buộc ngài phải xét mình luôn, ngài tâm sự: “Con thường xuyên kiểm điểm về cái yếu đuối tội lỗi của con dưới những hình thức đam mê”[xi].  Và xác tín như thánh Phao lô: chính lúc tôi yếu là lúc tôi mạnh.

Phải chăng chính khi ngài trải qua những đêm tối lầm lạc, đam mê nhiều phen mà Giáo hội đã có một hướng nhìn đúng đắn và cởi mở từ học thuyết đam mê của ngài?

EYMARD An Mai Đỗ O. Cist.

[i] X. Thánh Augustino, Tự Thuật, QI, XIX, 30.

[ii] Sđd, QX, XXXVII, 60.

[iii] Sđd, Q X, XXXVII, 62.

[iv] Sđd, Q IX, II, 4.

[v] Sđd, Q IX, IV, 12.

[vi] Sđd, Q II,II.

[vii] Sđd, Q II, III,7.

[viii] Sđd, Q X, XXX, 4.

[ix] Sđd, Q X, XXXIV, 50.

[x] Sđd, Q X, XXX, 42.

[xi] Sđd, Q X, XLI, 66.

THÁNH BARTHÔLÔMÊÔ TÔNG ĐỒ

Thuộc dòng dõi vua Tolmai (2 Sam 3:3).  Vua Geshu con của Maacah, mẹ của Absalong sanh ra vua David.  Đàng khác Bartholomew họ hàng với Ptolemy vua nước Ai Cập.  Ông có bộ tóc đen quăn dài phủ tai, da trắng, mắt to, mũi thẳng, râu rậm chen lẫn những chùm râu trắng, người cao trung bình.  Ảnh hưởng bởi dòng dõi quý tộc và phong cách con nhà quyền quý ông thích mặc áo chùng màu trắng kèm theo những giải màu tím.  Áo choàng ngoài cũng màu trắng thêu màu tím bốn góc.  Là một người thông thái, thông thạo nhiều ngôn ngữ, tính tình nhân hậu, vui vẻ và chuyên cần cầu nguyện ngày đêm.  Tuy dòng dõi hoàng gia nhưng ông hội nhập vui sống với những ngư phủ, thứ dân, ngôn từ bình dị, không hề than thở hay tỏ ra cao ngạo.

Phúc âm Matthew, Marcô và Luca luôn nhắc đến Philip và Barthôlômêo.  Phúc âm Gioan nhắc Philip giới thiệu Nathanael cho Chúa Yêsu nên có nhiều học giả cho là Barthôlômêo và Nathanael là một.

Barthôlômêo giảng đạo tại Ấn Độ với tông đồ Phillip và miền Tiểu Á (Thổ Nhĩ Kì).  Hành trang giảng đạo vỏn vẹn có cuốn sách Phúc Âm thánh Mathêu viết bằng tiếng Hy Bá.  Vợ quan toàn quyền Astyages được ơn lạ.  Thánh nhân cứu sống qua cơn bệnh ngặt nghèo.  Bà tin theo đạo và trở thành người giúp việc tận tình cho việc truyền giáo.  Số người trở lại tin theo lên đến nhiều ngàn.  Làn sóng người tin đạo gây một phản ứng ngược mạnh mẽ trong giới lãnh đạo.  Trước áp lực của các quan cận thần và sợ tiếng quở trách của hoàng đế Rôma.  Toàn quyền Astyages ra lệnh ngăn cấm dân chúng không được theo đạo.  Lệnh cấm không làm giảm niềm tin; trái lại số người tin theo tăng ngày một nhiều.  Giải pháp duy nhất Astyages thực hiện là bắt các tông đồ tống ngục.  Việc làm gây tiếng vang giữa các tín hữu.  Người tin theo càng can đảm hơn.  Họ lầm lí luận xử tử các ngài đạo sẽ tan.  Họ không biết các ngài chỉ là công cụ của Thiên Chúa.  Ngoài xã hội, giết kẻ lãnh đạo đoàn thể đó tan. Lãnh đạo trong Giáo Hội là Chúa.  Đức Kitô đi rao giảng bây giờ trở thành kẻ được rao giảng.

Bị bắt chung với Philip, quan tòa ra lệnh tha Bartholomew, còn Philip thì bị án tử.  Lính được lệnh treo ngài vào thập tự không phải đóng bằng đinh nhưng dùng giáo đâm lủng hai đùi, xỏ giây qua treo ngược trên thập tự.  Bartholomew được tự do có lẽ do sự can thiệp của vợ quan toàn quyền, cũng có thể do chính vị chánh án xử cũng tin theo Chúa và nhận được ơn nên ông ra lệnh tha Bartholomew.

Chứng kiến cảnh Philip tử đạo, Bartholomew sang Armenia (quê hương mẹ Têrêsa).  Ngày nay phần đất này nằm giữa biên cương Irăn và Sô Viết.  Bartholomew là thánh bổn mạng của quốc gia này. Thực ra Bartholomew không phải là nhà truyền giáo đầu tiên trên phần đất này.  Trước đó vào các năm 43-66, thánh Tông Đồ Thađêô đến Armenia giảng đạo.  Barthôlômêô có mặt vào khỏang năm 66-68.  Như thế hạt giống Tin Mừng đức tin được thánh tông đồ Thađêô gieo rắc một thời gian dài là 23 năm trước đó.  Hai năm 66-68, Bartholomew là người tưới cho hạt giống đức tin nảy mầm và mọc xanh tốt.

Bartholomew không trú ngụ hẳn tại Liên Sô hay Armenia nhưng thường xuyên đi lại giữa hai nước.  Tại Armenia, Bartholomew đặt tay cầu nguyện cứu sống con gái vua.  Việc tốt lành này làm nổi giận các đạo sĩ hầu cận nhà vua vì họ mất sủng ái.  Gia đình tiểu vương tin theo Chúa nhưng các đạo sĩ trong cung điện mua chuộc anh vua.  Nhóm này âm thầm ngầm bắt Bartholomew lột da sống rồi đóng đinh ngược tại Bashlake năm 68.  Nay là thành phố Derbend.  Đây là một hải cảng dân chúng sống nghề buôn bán ngựa cho chiến tranh.

Trong quá khứ các nhà địa lý dường như không phân biệt rõ ràng, mạch lạc như chúng ta hiểu ngày nay.  Trong thời buổi hỗn mang đó, nhiều vua lắm chúa, bá tước và đại điền chủ đều xưng vương xưng bá, quyền hành như vua con một cõi nên việc phân biệt địa danh quả là có nhiều vấn đề.  Thời đó Ấn Độ được hiểu là một trong các miền ở các vùng Ả Rập, Ethiôpia, Libya, Parthia, Persia, Medes và một phần Ấn Độ ngày nay.

Bước chân truyền giáo của các tông đồ rất khó xác định vì các ngài ra đi tự do, không người chỉ định. Sau ngày lễ Ngũ Tuần các ngài hăng hái ra đi về một phương trời vô định.  Đến nơi này thấy có người đang truyền giáo các ngài bỏ đi nơi khác, thực hành câu sai đi rao giảng Tin Mừng đến khắp cùng bờ cõi.  Vì quan niệm tứ hải đều là nhà nên nơi nào chấp nhận hạt giống đức tin; nơi đó các ngài cư ngụ.  Nơi nào xua đuổi các ngài âm thầm ra đi.  Sau này tin tức truyền giáo viết phỏng theo lời tường thuật của dân địa phương, truyền khẩu, nhớ đến đâu kể đến đó.  Các sử gia cố gắng kiểm chứng, dò theo từng vết chân, bút tích, nhân chứng.  Căn cứ vào thánh đường, thánh tích, lời truyền nếu các chi tiết đó ăn khớp với nhau coi như tin đó chính xác, đáng tin.

Dẫu thế mức độ chính xác cũng chỉ tương đối.  Thứ nhất là chiến tranh, thứ hai là các tôn giáo bạn, nhóm nào cũng nhận đóng góp ít nhiều trong việc giúp các tông đồ.  Chính vì thế mà khi đọc về lịch sử truyền giáo, các sử gia thường phải đối chiếu nhiều tài liệu khác nhau: lịch sử dân tộc, lịch sử công giáo, chính thống, địa phương sử và chiến sử rồi so sánh, gạn lọc truyền thống có nhiều bằng chứng nhất giữ lại.  Truyền thống thần bí chờ nghiên cứu thêm.

Vấn đề ngôn ngữ là yếu tố khác.  Có bản viết bằng tiếng La Tinh, bản khác tiếng Hy lạp cổ, tiếng thổ dân nên cần rất nhiều công tra cứu để đọc và hiểu rõ tác giả muốn viết gì.  Da thuộc hiếm và đắt nên đắn đo từng chữ trước khi viết.

Ngày nay xác thánh Bartholomew được cất giữ ở nhiều nơi khác nhau.  Năm 508 vua Anastasius giữ xác thánh tại Duras, Mesopotamia.  Thế kỉ thứ 6 thánh Gregory de Tours chuyển xác về Sicily.  Năm 809 xác được chuyển sang Benevento.  Năm 983, vua Otto đệ tam chuyển sang Roma.

Hiện nay một phần thánh tích chôn cất dưới thánh đường Bartholomew.  Một xương cánh tay chuyển về Benevento và giám mục Edward tặng thánh đường Canterbury.

Tóm lược trong tài liệu:

1. The Search for the Twelve Apostles của W. McBirnie
2. The Twelve Apostles của R. Brownrigg

Lm Vũ đình Tường, Vietcatholic News