ĐI SAU CHÚA

Đang khi dân chúng còn mù mờ về vai trò và con người của Đức Giêsu thì Phêrô, vị Giáo hoàng tiên khởi đã mạnh mẽ tuyên xưng: “Ngài là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.”  Phêrô được khen là có phúc vì nhận được mạc khải từ trên cao.  Thế nhưng chỉ một khoảnh khắc sau, chính Phêrô lại bị Thầy mình trách là “Satan” vì lòng dạ tăm tối, chỉ “hiểu biết những sự thuộc về loài người” và đang “làm cớ cho Thầy vấp phạm.”

Phêrô tuy nhận chân Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, nhưng trong cái nhìn của ông, Đấng Cứu Thế sẽ là người hùng mạnh, đánh đông dẹp bắc, chinh phục vua Chúa, thâu tóm quyền hành, và rồi đăng quang thống trị thế giới.

Đức Giêsu hiểu rõ quan niệm trần gian của các tông đồ về Đấng Cứu Thế, nên ngay sau lời tuyên xưng đức tin của Phêrô, Ngài cấm các ông nói cho người khác những gì họ mới biết.  Ngài muốn giúp các ông thay đổi quan niệm về Đức Kitô.  Đức Kitô đúng nghĩa sẽ là đấng phải đau khổ, bị từ khước, chịu giết chết trước khi đi đến toàn thắng.  Sức mạnh của Đức Kitô không ở trong binh khí hay chiến mã như bao vua chúa trần gian, song là nơi thập giá khổ đau.  Chiến lược của Đức Kitô là đi xuống chỗ tận cùng trong lũng sâu nước mắt của nhân loại để nâng tất cả lên trong vinh quang của Thiên Chúa.

Nhưng nào các tông đồ có hiểu được điều đó!  Và đâu phải chỉ có các ông.  Chính tôi lắm khi cũng không hiểu nổi đấy chứ.  Tôi cứ nghĩ Chúa là Đấng quyền năng đầy sức mạnh, phải cứu con người khỏi bao gian nan, khốn khổ, trái ý trên đường đời; phải ra tay làm nhiều phép lạ cho người ta tin; chứ đàng này Chúa lại im như bất lực, thậm chí còn để cho dân Chúa, Giáo hội Ngài chịu biết bao thách đố đau thương.

Cũng như Phêrô, tôi muốn chỉ cho Chúa phương cách cứu thế, chứ làm theo kiểu của Chúa thì e rằng chẳng còn ai tin và Ngài sẽ thất bại ê chề.

Cũng như Phêrô, tôi muốn chận Chúa lại, không cho Ngài tiếp tục cuộc hành trình kỳ quặc về Giêrusalem.  Tôi muốn “dạy” cho Ngài lối đường nên đi.  Tôi muốn Ngài rút bớt điều kiện cho mọi người cảm thấy nhẹ nhàng; cung cấp bánh ăn, của cải vật chất dư đầy cho người ta theo đông; làm nhiều phép lạ, ảo thuật giựt gân cho dân chúng thích thú.

Nhưng Chúa Giêsu quát lên: ‘Hỡi Satan, hãy lui ra đàng sau Ta.”

Có hai lần trong đời mình, Chúa Giêsu đã dùng đến chữ “Satan.”  Một lần với tên Cám dỗ và lần này với Phêrô.  Satan đối nghịch với Thiên Chúa.  Satan làm đảo lộn trật tự thế giới.  Satan phá hoại chương trình của Thượng Đế nơi con người.  Thế nên lời quở mắng “Satan” là lời khiển trách nặng nề nhất.

Nhưng để ý sẽ thấy: trong lần quở mắng tên Cám dỗ, Chúa Giêsu bảo nó “hãy cút đi”, Ngài không còn muốn thấy mặt nó nữa; nhưng khi khiển trách Phêrô, Chúa Giêsu lại nói “hãy lui ra sau Ta.”  Như thế Ngài vẫn cho người môn đệ cơ hội hoán đổi hướng nhìn và cách đi.  Thay vì đi trước và chỉ lối cho Chúa, tôi phải hướng theo và tiếp bước sau Ngài.

Satan không thể bước theo Chúa vì bản chất kiêu ngạo của nó.  Nhưng riêng tôi, dù bao vấp phạm lầm lỡ, dù lắm khi sống theo ý mình, hay từng chạy theo tiếng gọi của quỷ ma, tôi vẫn được ban cho cơ hội làm lại hành trình của người môn đệ Đức Kitô, dẫu biết rằng không môn đệ chân chính nào của Ngài lại không phải mang thập giá: “Ai muốn đi sau Ta thì hãy chối bỏ mình, hãy vác lấy khổ giá mình và theo Ta” (Mt 16:24).

Thánh Phêrô, sau lời khiển trách của Thầy, đã về lại với chỗ đứng đúng nhất của mình: ông không đòi Chúa theo ý mình, song là vâng theo ý Chúa; ông không dẫn đường cho Chúa nhưng là bước theo dấu chân Ngài.  Cao điểm của sự “đi theo” này là việc Phêrô chịu đóng đinh thập giá vì Đức Kitô vào năm 69 AD.

Như thế, vị Giáo hoàng tiên khởi, với biết bao yếu đuối sa ngã, cuối cùng đã lấy cái chết của mình để xác minh chân lý thập giá.  Từ chỗ muốn dạy cho Thầy mình về sự khôn ngoan của thế gian đến việc khám phá và ôm ấp giá trị sâu xa sự điên rồ của Thiên Chúa.  Từ chỗ phủ nhận và ngăn chận Thầy mình bước đi trên con đường khổ đau, đến việc chính mình anh dũng tiến vào.  Nhưng nhờ đâu mà Phêrô có được thái độ và hành vi hào hùng đó?  Phải chăng chính nhờ niềm xác tín vào Đức Giêsu, Đấng ông đã tuyên xưng.  Nếu không có xác tín, hẳn ông đã chẳng dám theo.

Niềm tin mãnh liệt vào Đức Giêsu thúc đẩy người ta vâng theo lời Ngài.  Khi Chúa bảo “Hãy lui ra sau Ta”, Phêrô vâng lời lui ra chứ không giận dỗi bỏ đi.  Khi bị mắng là “Satan”, Phêrô vẫn khiêm tốn nhìn nhận tầm nhìn nông cạn của mình chứ không tự ái phản đối.

Thử hỏi tôi có được niềm xác tín làm phát sinh thái độ khiêm tốn và nghe lời Chúa như thế không, hay tôi vẫn khăng khăng chối từ lối đường thập giá?

Một nhà tư tưởng quả quyết: “Luật của thập giá là luật phổ quát.  Làm người, không ai thoát khỏi thập giá.”  Như thế chối từ thập giá là chối từ làm người đúng nghĩa.

Nhưng phải vác thập giá theo Đức Giêsu – tức là sống theo những giá trị Tin Mừng như vị tha, thanh khiết, chân thật, từ tâm, phục vụ, quên mình…- tôi mới là con người trọn vẹn, một con người phản chiếu dung mạo Thiên Chúa.

LM Phêrô Bùi Quang Tuấn

SỨC MẠNH CỦA SỰ THINH LẶNG

Sự thinh lặng là một trong những trạng thái mà không ít người sợ hãi khi phải đối diện.  Nhưng, sự thinh lặng là khoảnh khắc vô cùng quan trọng để ta lắng nghe khao khát chân thực nơi cõi lòng mình.  Cách riêng trong đời sống đức tin, thinh lặng là giây phút để ta tìm đến Chúa giữa những bộn bề cuộc sống.

Thinh lặng là bí quyết của sự suy ngắm và chiêm ngưỡng.  Nhất là trong thời buổi công nghệ và truyền thông hiện đại thống trị, thinh lặng càng trở nên khó khăn hơn.  Vì thế, thinh lặng là khoảng thời gian rất quý báu.

Đối với người Kitô hữu, một trong những việc quan trọng đó là lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành.  Để lắng nghe tiếng Chúa ta cần có một khoảng không gian và thời gian thinh lặng cho sự gặp gỡ với Ngài.  Chỉ có kinh nghiệm về sự thinh lặng và cầu nguyện mới tạo ra môi trường thích hợp cho Lời Chúa được lắng  đọng và thấm nhập vào tâm hồn ta.

Nhìn lại hành trình của Chúa Giêsu, ta có thể nói đó là một cuộc đời thinh lặng.  Ngài đến trần gian trong thinh lặng của một trẻ thơ đơn sơ nghèo hèn.  Ngài sống ẩn dật trong thân phận một người thợ mộc vô danh.  Ngài thinh lặng 30 năm trong thân phận một người con trong gia đình nhỏ bé Nagiarét.  Ngài đã thinh lặng bước trọn con đường Thập giá giữa những lời sỉ nhục, kết án, giữa những đòn roi, lưỡi đòng…

Và Đức Maria cũng thế, Mẹ đã bắt đầu hành trình thinh lặng từ lời thưa xin vâng.  Mọi biến cố xảy ra với Đức Giêsu đã được Mẹ cất giữ và suy niệm trong lòng.  Mẹ đang thinh lặng đồng hành cùng Chúa trên bước đường truyền giáo và chính Mẹ cũng đã thinh lặng cho đến giây phút chứng kiến con của mình bị treo trên thập giá cho đến chết.

Thật thế, sự thinh lặng nơi Chúa Giêsu hay Đức Maria chính là khoảng thời gian cho Lời Chúa được lắng nghe.  Đó là thời khắc để Lời Chúa hướng dẫn và biến đổi.  Và đó cũng là lúc các Ngài nhận lãnh nguồn ơn thiêng trước những biến cố lớn lao.

“Phúc cho dạ đã cưu mang Thầy và vú đã cho Thầy bú!”  Nhưng Chúa Giêsu nhấn mạnh rằng: “Những ai nghe và giữ lời Thiên Chúa thì có phúc hơn” (Lc 11:27-28).  Thật vậy, phúc cho Mẹ không chỉ là cưu mang và cho Chúa Giêsu bú mớm, nhưng hơn thế nữa, Mẹ đã để cho Lời Chúa thấm nhuần trên hành trình dương thế của mình; trong thinh lặng Mẹ đã nghiền ngẫm và để Lời Chúa trở nên kim chỉ nam cho cuộc đời Mẹ.

Noi gương Chúa Giêsu và Mẹ Maria trong sự thinh lặng để lắng nghe Lời Chúa, chúng ta được mời gọi hãy loại khỏi tâm hồn những lo lắng, ồn ào, những sôi sục của hận thù, ích kỷ, những dấu vết của buồn thảm, bi quan.  Thay vào đó bằng một đời sống thinh lặng trong tin yêu và phó thác để chúng ta có thể nghe được tiếng Chúa trong mọi biến cố của cuộc sống.

Trên dòng đời lắm nổi trôi này, sự thinh lặng sẽ giúp ta nhận ra tiếng Chúa giữa những kỳ công của thiên nhiên; biết nhận ra tiếng Ngài trong nơi những mảnh đời khốn cùng bất hạnh, và biết nhận ra tiếng Ngài giữa những thất bại, thử thách.  Nhờ đó, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta luôn biết đáp trả bằng tiếng xin vâng với thái độ nhiệt thành và vui tươi chấp nhận.

J.B Lê Đình Nam

LÒNG TIN CỦA BÀ LỚN THẬT

Bài Tin Mừng hôm nay kể lại chuyện Đức Giêsu chữa bệnh từ xa, tại Tia và Xiđon, vùng đất của dân ngoại.  Nhưng chuyện chữa bệnh không quan trọng lắm.  Chuyện quan trọng là lòng tin của người phụ nữ Canaan.  Hẳn bà biết ít nhiều về Do Thái giáo, khi gọi Đức Giêsu là Con Vua Đavít.  Con Vua Đavít là tước hiệu người Do Thái dùng để chỉ Đấng Mêsia.  Bà tin Đức Giêsu có thể chữa lành con gái của bà.

Người phụ nữ trực tiếp gặp Đức Giêsu và ngỏ lời nài xin: “Xin thương xót tôi… con gái tôi bị quỷ hành hạ dữ lắm.”  Người mẹ đau vì con của mình đau.  Bà kêu xin Đức Giêsu thương mình, bằng cách chữa lành cho cô con gái.  Nhưng bà chỉ gặp sự thinh lặng như thể Người không nghe thấy.  Dầu vậy bà vẫn không ngừng đi sau và kêu to.  Tiếng kêu dai dẳng của bà đuổi theo các môn đệ khiến họ bực bội.

Khi không chịu nổi được nữa, họ mới chạy đến với Thầy Giêsu.  “Xin Thầy cho bà ấy đi đi, vì bà ấy cứ kêu sau lưng chúng ta mãi.”  Có vẻ các môn đệ muốn Thầy gặp bà và cho điều bà cần.  Cho đến nay vẫn chưa có cuộc đối thoại giữa bà và Đức Giêsu.  Người phụ nữ vẫn là người độc thoại.

Đức Giêsu vẫn chưa muốn nói chuyện với bà.  Người chỉ nói với các môn đệ và xác định sứ vụ của mình: “Thầy chỉ được sai đến với những chiên lạc nhà Israel thôi.”  Đây là lời từ chối đầu tiên, rõ ràng và dứt khoát.  Nó như đặt một dấu chấm hết cho mọi hy vọng của người mẹ.  Đức Giêsu như muốn nói: Đừng kêu la vô ích.  Chị không phải là chiên của nhà Israel.  Dân ngoại lúc này không phải là sứ vụ của tôi, vì Cha tôi chưa sai tôi đến.

Lòng tin của người phụ nữ bị thử thách đến tột độ.  Chắc bà bị cám dỗ bỏ đi vì sự thinh lặng lạnh lùng, và sự từ chối cương quyết của Đức Giêsu.  Nhưng trái tim của một người mẹ không cho phép bà làm thế.  Bà trở nên táo bạo hơn và dám vượt lên trước để gặp Đức Giêsu.

Trong thái độ cung kính bái lạy, bà tiếp tục nài xin: “Lạy Ngài, xin giúp tôi” (c. 25); khác với lúc nãy: “Lạy Ngài, xin thương xót tôi” (c. 22).  Cả hai lời nài xin đều nhắm đến người con, dù có vẻ bà chỉ xin cho bà.  Xin giúp tôi bằng cách giúp con tôi khỏi móng vuốt quỷ dữ.  Hạnh phúc của người mẹ gắn liền với hạnh phúc của con, vì tình yêu nối kết cả hai nên một.

Tuy vậy lời nài xin này của trái tim người mẹ dường như vẫn chưa đụng được vào trái tim Thầy Giêsu.  Người đưa ra lời từ chối thứ hai quyết liệt hơn và có thể gây tổn thương nghiêm trọng: “Không nên lấy bánh dành cho con mà ném cho chó.”  Con ở đây là dân Israel, là người trong nhà, có quyền hành.  Dân ngoại đôi khi được ví với chó nuôi trong nhà.  Hai bên không ở trên cùng một mặt phẳng.

Câu nói này của Đức Giêsu phản ánh cái nhìn của người Do Thái.  Họ tự hào về tính ưu việt của mình trong tư cách là Dân riêng của Chúa.  Nói chung họ cho rằng chỉ họ mới xứng đáng hưởng ơn cứu độ.

Người phụ nữ không phản đối cái nhìn của Đức Giêsu, bà không cảm thấy mình bị xúc phạm và giận dữ bỏ đi.  Trái lại, bà đón nhận cái nhìn ấy và tìm thấy một kẽ hở cho ơn Chúa: “Thưa Ngài đúng thế.  Nhưng chó con cũng được ăn các mảnh vụn rơi xuống từ bàn của chủ.”  Bà chấp nhận mình chỉ là chó con nuôi trong nhà, không phải là ông chủ đang ngồi tại bàn ăn.  Bà tin rằng dù mình không đủ tư cách để ngồi dự bàn tiệc cánh chung như những người Do Thái, bà vẫn có thể được hưởng chút vụn bánh từ bàn ăn rớt xuống.  Bà vẫn giữ niềm hy vọng ngay khi bị từ chối thẳng thừng.  Chính lời từ chối của Đức Giêsu lại mở ra niềm hy vọng.

Đức Giêsu bị ấn tượng bởi lòng tin của bà.  Người kêu lên: “Này bà, lòng tin của bà lớn thật.”  Đức Giêsu từng ngỡ ngàng trước lòng tin của viên bách quản (Mt 8,10-11).  Giờ đây Người đối diện với lòng tin của một người mẹ thương con.  Chính tình thương thêm sức mạnh cho lòng tin, khiến lòng tin trở nên kiên trì, bất chấp thinh lặng và từ chối.  Lòng tin không mất hy vọng ngay khi có vẻ chẳng còn gì để hy vọng.  Lòng tin mạnh mẽ và khiêm hạ của người mẹ đã chinh phục Đức Giêsu, và cuối cùng đã chạm được vào trái tim của Người.  Đức Giêsu đã để mình bị cuốn đi, ngỡ ngàng và ngây ngất…

Bây giờ Người mới thực sự nói chuyện với bà: “Này bà…”  Người sẽ làm điều trước đây Người không định làm.  Người sẽ đáp lại lòng tin của bà, lòng ao ước của bà chỉ bằng một lời nói từ xa cho một cô bé chưa hề gặp mặt: “Hãy xảy ra cho bà như bà muốn”.

Cô bé đã được chữa lành kể từ lúc đó.  Mẹ cô đã được thương xót và trợ giúp.  Đức Giêsu không cứng nhắc và bó hẹp trong sứ vụ Cha giao.  Người vẫn nghe tiếng kêu của con người và chấp nhận những ngoại lệ.  Ngoại lệ cũng nằm trong Ý Cha.  Ý Cha vẫn mở ra mới mẻ từng ngày đòi ta phải tìm kiếm liên tục.  Ngoại lệ hôm nay sẽ mở đường cho sứ vụ ngày mai: “Các con hãy đi, hãy làm cho mọi dân tộc thành môn đệ,” để “nhiều người từ Đông sang Tây sẽ đến và dự tiệc trong Nước Trời.”

Xã hội hôm nay không thiếu những bà mẹ khổ vì con mình bị ám.  Ám vì đủ thứ nghiện ngập do cuộc sống đem lại.  Các bà mẹ thấy mình bất lực, chỉ biết hy vọng vào Chúa.  Nhiều khi có cảm tưởng Chúa không nghe và lạnh lùng trước nỗi đau.  Hãy có lòng tin lớn của người phụ nữ Dân ngoại, tiếp tục tin, tiếp tục yêu, tiếp tục hy vọng và biết mình có thể chạm được vào trái tim của Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin ban cho con đức tin lớn hơn hạt cải, để con làm bật rễ khỏi lòng con những ích kỷ và khép kín.  Xin cho con đức tin can đảm để con chẳng sợ thiệt thòi khi trao hiến, chẳng sợ từ bỏ những gì con cậy dựa xưa nay.

Xin cho con đức tin sáng suốt để con thấy được thế giới mà mắt phàm không thấy, thấy được Đấng Vô hình, nhưng rất gần gũi thân thương, thấy được Đức Kitô nơi những người nghèo khổ.  Xin cho con đức tin liều lĩnh, dám mất tất cả chỉ vì yêu Chúa và tha nhân, dám tiến bước trong bóng đêm chỉ vì mang trong tim một đốm lửa của Chúa, dám lội ngược dòng với thế gian và khước từ những mời mọc quyến rũ của nó.

Xin cho con đức tin vui tươi, hạnh phúc vì biết những gì đang chờ mình ở cuối đường, sung sướng vì biết mình được yêu ngay giữa những sa mù của cuộc sống.

Cuối cùng, xin cho con đức tin cứng cáp qua những cọ xát đau thương của phận người, để dù bao thăng trầm dâu bể, con cũng không để tàn lụi niềm tin vào Thiên Chúa và vào con người.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

HƯỚNG LÒNG VỀ TRỜI VỚI MẸ

Vào thế kỷ 19, có một luồng thần học chủ trương rằng Đức Maria không phải chết và luồng thần học đó xin Đức Thánh Cha hãy định tín như vậy.  Với lý luận cũng như lập trường của họ, họ cho rằng Đức Maria không mắc tội nguyên tổ, nên không phải chết bởi vì sự chết là hình phạt của tội nguyên tổ.

Tuy nhiên đa số các nhà thần học cho rằng Đức Maria đã chết và sau đó được sống lại.  Đức Piô XII không bàn tới vấn đề này, không nói rằng Mẹ không phải chết, cũng chẳng nói Mẹ đã chết và đã sống lại; nhưng chỉ nói rằng: sau khi chấm dứt cuộc đời dương thế, Mẹ được cất về trời cả xác và hồn.  Nhìn Đức Mẹ ngủ, tôi thấy sáng lên vẻ đẹp thánh thiện cao quý.  Mẹ tuyệt đẹp vì Mẹ đầy ơn Chúa.  Mẹ đẹp thánh thiện vì ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội.  Mẹ đẹp cao quý vì làm Mẹ Đấng Cứu Thế.  Mẹ tuyệt mỹ vì niềm tin đơn sơ và cuộc sống khiêm nhường.  Nét đẹp ấy thoang thoảng như một hương thơm hảo hạng toả ra lôi cuốn.  Nét đẹp ấy mặn mà như thứ muối thiêng liêng.  Nét đẹp ấy lung linh như ánh sáng dịu mát.  Nét đẹp ấy huyền diệu như âm nhạc dịu êm mời gọi con người nâng tâm hồn lên tới Chúa.

Ngày 1-11-1950, đúng vào dịp lễ Các Thánh Nam Nữ, Đức Thánh Cha Piô XII long trọng tuyên bố tín điều Đức Maria Hồn Xác Lên Trời : “Thánh Mẫu Thiên Chúa là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Maria Trọn Đời Đồng Trinh, sau khi sống trọn cuộc đời trần thế, đã được triệu hồi cả hồn và xác vào trong vinh quang thiên quốc.”

Và khởi đi từ lời tuyên bố trong Thánh Lễ tuyên tín long trọng hôm ấy, mầu nhiệm Đức Maria được Thiên Chúa đưa về trời cả hồn và xác, trở thành chân lý đức tin cho toàn thể Giáo hội.

Mở ra những trang Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo từ số 963- 975, ta thấy 5 lý chứng rất mạnh mẽ và xác thực minh chứng việc Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời:

Vì Đức Maria là Mẹ Chúa Kitô: Thánh Kinh diễn tả rõ ràng Đức Maria hiệp thông chặt chẽ với Chúa Giêsu trong nhiệm cuộc cứu chuộc, và luôn chia sẻ số phận với Con.  Vậy xét theo thiên chức làm Mẹ, đương nhiên đòi hỏi phải có việc Mẹ và Con hòa hợp sum vầy với nhau, vì cả hai đã yêu mến nhau tha thiết, cho nên chắc chắn Chúa Kitô vì lòng hiếu thảo, đã ban cho Mẹ mình được hồn xác về Trời sau khi ly trần, là điều hợp tình hợp lý.

Vì Đức Maria Trọn Đời Trinh Khiết: Thiên Chúa đã làm cho Đức Maria chịu thai, sinh con mà vẫn trinh nguyên, thì sau khi Mẹ qua đời, Ngài đã gìn giữ thân xác Đức Mẹ khỏi hư nát, và sau khi đem Mẹ về Trời, Ngài đã làm cho xác Mẹ nên vinh hiển.  Nên thánh Đamascênô tiến sĩ quả quyết: Vì Đức Mẹ đã được sinh con mà vẫn trinh nguyên, thì cần thiết là sau khi qua đời, xác Đức Mẹ cũng phải được bảo tồn nguyên vẹn.

Vì Đức Mẹ luôn hợp tác với Chúa Kitô: ngay từ thế kỷ II, các Giáo Phụ đã trình bày Đức Mẹ như là một Evà Mới hợp tác chặt chẽ với Adam Mới là Chúa Kitô để chiến thắng Satan.  Vì thế, cũng như Chúa Kitô sống lại vinh hiển là việc thiết yếu và là dấu chiến thắng cuối cùng, thì Đức Mẹ đã cùng Con chiến đấu cũng phải được cùng Con chiến thắng, nghĩa là Thân Xác Đồng Trinh của Đức Mẹ cũng phải được Lên Trời Vinh Hiển.

Vì Đức Mẹ Đầy Ơn Phúc: các thánh tiến sĩ đã coi việc Đức Mẹ Hồn Xác về Trời như là bổ túc cho việc Đức Mẹ được Đầy Ơn Phúc.  Như lời cha Ađômêô quả quyết: Thân xác Đức Mẹ không hề bị hư nát vì đã kết hợp với linh hồn và đã được đầy ơn.

Vì Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội: theo lời xác quyết của Đức Thánh Cha Piô XII: Thân xác con người bị chết và bị tan rã ra tro đất là do hậu quả tội Nguyên Tổ.  Đức Maria không hề mắc tội Nguyên Tổ, cũng không hề có tội riêng, cho nên đương nhiên và rất hợp lý là Đức Maria được Hồn Xác Về Trời.”

Mẹ về trời có nghĩa là mẹ đang sống.  Sự sống của Mẹ không phải chỉ giới hạn trong cuộc đời, nhưng bao trùm cả lịch sử: Lịch sử của cả loài người lẫn lịch sử của mỗi người chúng ta.

Đức Mẹ là một thụ tạo nhưng được Thiên Chúa cho về trời cả hồn và xác mà không phải đi qua ngưỡng cái chết, gọi là “mông triệu.”  Đó là một đặc ân vì Mẹ vô nhiễm nguyên tội, hoàn hảo các nhân đức, và mau mắn xin vâng Thánh ý Chúa Cha.  Đức Mẹ về trời là ấn tín bảo đảm cho những người tin vào Đức Kitô cũng sẽ được sống lại và lên trời sau khi hoàn tất chuyến lữ hành trần gian.  Lên trời là về Quê Hương Vĩnh Hằng, mục đích của mỗi Kitô hữu là như vậy.

Thị kiến kỳ lạ mà Gioan đã thấy và đã ám chỉ Đức Mẹ.  Thánh Gioan cho biết thêm: “Tôi nghe có tiếng hô to trên trời: Thiên Chúa chúng ta thờ giờ đây ban ơn cứu độ, giờ đây biểu dương uy lực với vương quyền, và Đức Kitô của Người giờ đây cũng biểu dương quyền bính, vì kẻ tố cáo anh em của ta, ngày đêm tố cáo họ trước tòa Thiên Chúa, nay bị tống ra ngoài” (Kh 12, 10).  Thị kiến này cũng khiến chúng ta phải cẩn trọng hơn về đức ái, nhất là trong cách đối xử với tha nhân hằng ngày.

Ngay cả Hồi giáo cũng tôn trọng Đức Mẹ, coi Đức Mẹ là phụ nữ cao cả nhất trong Kinh Koran (Kinh thánh của Hồi giáo).  Công giáo có nhiều danh xưng dành cho Đức Mẹ: Nữ vương Hòa bình, Đức Maria Trinh Vương, Đức Mẹ Phù hộ các Giáo hữu, Đức Mẹ Ban Ơn Lành, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Đức Mẹ Mân Côi, Đức Mẹ Thương Xót, Đức Mẹ Vô Nhiễm, Đức Mẹ Hoa Hồng,… và Đức Mẹ còn gắn liền với các địa danh trên khắp thế giới, riêng Việt nam cũng có Đức Mẹ La Vang, Đức Mẹ Giang Sơn, Đức Mẹ Mằng Lăng, Đức Mẹ Sao Biển, Đức Mẹ Trà Kiệu,…

Tác giả Thánh vịnh đã từng ca tụng: “Hàng cung nữ, có những vì công chúa, bên hữu ngài, hoàng hậu sánh vai, trang điểm vàng Ô-phia lộng lẫy.  Tôn nương hỡi, xin hãy nghe nào, đưa mắt nhìn và hãy lắng tai, quên dân tộc, quên đi nhà thân phụ.  Sắc nước hương trời, Quân Vương sủng ái, hãy vào phục lạy: Người là Chúa của bà” (Tv 45, 10-12).

Quyền năng và tình yêu Chúa tràn đầy trên Mẹ làm cho Mẹ được khỏi tội tổ tông và được đầy ơn sủng ngay từ trong lòng mẹ.  Quyền năng và tình yêu Chúa bao phủ suốt cả đời Mẹ trên từng ý nghĩ, từng tình cảm, từng mỗi hành động, từng mỗi bước đi… khiến cho tâm hồn Mẹ luôn hướng về Chúa mà tạ ơn và ngợi khen liên lỉ.  Quyền năng và tình yêu Chúa đong đầy trọn vẹn nhất trong khoảnh khắc lịch sử, Mẹ lên trời cả hồn cả xác.  Đặc ân cao trọng này, chính là triều thiên sáng chói bao phủ lên Mẹ, vốn đã được “Thánh Thần ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao rợp bóng trên bà” (Lc 1,35).

Với lời Xin Vâng và bằng lời Xin Vâng trót cả tâm tình phó thác, Mẹ để cho Thiên Chúa hoàn toàn làm chủ cuộc đời của mình để làm những việc Thiên Chúa muốn làm trong chương trình cứu rỗi loài người chúng ta.

Ngày Chúa Giêsu Đấng Cứu thế ra đời, khởi đầu công việc cứu thế, Mẹ có mặt ở đó để chứng kiến giây phút trọng đại này.

Lúc Chúa khởi sự cuộc đời công khai, tại tiệc cưới Cana, Mẹ có mặt ở đó như một người mẹ luôn lo lắng cho con cái của mình.

Lúc Chúa rao giảng: Mẹ có mặt xa xa; nhưng khi Chúa bị treo trên Thánh Giá: Mẹ đứng thật gần.  “Mẹ đứng sát cạnh Chúa Giêsu… như một trợ lực cho người con để Ngài làm xong những công việc cần phải làm cho mọi sự được hoàn tất.”

Và vào ngày đầu tiên đánh dấu sự ra đời của Giáo hội, Mẹ có mặt ở đó với tất cả lòng yêu thương để khích lệ các tông đồ can đảm dấn thân vào cuộc sống mới: Cuộc sống làm chứng cho Chúa Giêsu Phục sinh.

Và rồi Mẹ cũng tiếp tục có mặt, có mặt như một nhắc nhở để những người con của mẹ nơi trần thế chớ có vì cuộc sống tạm bợ mà quên mất trời cao.

Trong Mầu nhiệm Mân Côi mùa Mừng, mầu nhiệm thứ tư: Đức Chúa Trời cho Đức Mẹ lên trời.  Xin cho con được chết lành trong tay Đức Mẹ.  Mầu nhiệm thứ năm: Đức Chúa Trời thưởng Đức Mẹ trên trời.  Xin cho con được thưởng cùng Đức Mẹ trên Nước Thiên Đàng.  Hai mầu nhiệm này không chỉ nhắc nhở chúng ta cầu nguyện với Đức Mẹ, mà còn hy vọng được trường sinh để cùng Đức Mẹ mãi mãi chúc tụng Thiên Chúa.  Đường về dù xa hay gần, đường đi có thể gập ghềnh nhiều nỗi, nhưng có Đức Mẹ đồng hành thì chúng ta cứ an tâm tiến bước.

Mẹ Maria đã được Chúa đưa cả hồn và xác về trời.  Mẹ Maria không chết.  Tình Mẹ vẫn mãi mãi thiên thu ở bên đoàn con suốt cuộc đời.  Thế nhưng, niềm vui và hạnh phúc chỉ ngập tràn trong cuộc đời chúng ta nếu chúng ta ý thức Mẹ vẫn đang sống bên cạnh chúng ta.  Chúng ta đang từng phút giây tận hưởng tình thương và sự chăm sóc vỗ về của Mẹ, nhưng thật bất hạnh nếu chúng ta chỉ sống như người mồ côi, thì  có lẽ chúng ta cũng chỉ ngậm ngùi như người Phật Tử nhận lấy bông hồng trắng trong ngày của mẹ với lời ai oán: “Mất mẹ là mất cả bầu trời” thương yêu.

Mừng lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời là chúng ta xác tín lại niềm tin của chúng ta vào Chúa Giê-su: Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.  Xin Đức Mẹ Maria luôn cầu bàu cho mỗi người chúng ta khi còn ở đời này, biết yêu mến những sự trên trời và để sống như đang sống với Mẹ ở trên trời.

Huệ Minh

NHỮNG ĐIỀU SÂU SẮC HƠN Ở DƯỚI BỀ MẶT

Bạn hãy hình dung điều này.  Bạn là con trai, con gái hiếu thảo và mẹ bạn là góa phụ sống ở nhà hưu dưỡng.  Bạn may mắn được sống gần trong khi chị bạn ở xa đất nước hàng ngàn dặm.  Vì vậy, mọi gánh nặng rơi vào bạn, người chăm sóc mẹ mình.  Bạn đến thăm mẹ mỗi ngày.  Mỗi buổi chiều, trên đường đi làm về, bạn ghé thăm mẹ một giờ khi bà ăn bữa ăn tối sớm.  Và bạn trung thành làm năm lần một tuần, năm này qua năm khác.

Năm này qua năm khác, khi bạn dành thì giờ cho mẹ, trong suốt một năm, có bao nhiêu lần bạn có cuộc trò chuyện thực sự nhiệt tình và sâu đậm với mẹ không?  Một lần?  Hai lần?  Không bao giờ?  Mỗi ngày bạn nói gì?  Những điều tầm thường: thời tiết, đội thể thao yêu thích của bạn, những gì con bạn đang làm, chương trình mới nhất trên truyền hình, những cơn đau nhức của mẹ và các chi tiết bình thường trong đời sống của bạn.  Đôi khi bạn còn ngủ gật khi mẹ ăn bữa tối sớm.  Năm nào tốt, có thể bạn có một hoặc hai lần có một cuộc trò chuyện có chiều sâu và hai mẹ con chia sẻ một điều gì đó quan trọng một cách sâu đậm hơn; nhưng, trừ trường hợp hiếm hoi đó, bạn sẽ chỉ lấp đầy thời gian mỗi ngày bằng cuộc trò chuyện hời hợt bên ngoài.

Nhưng, và đây là câu hỏi, có phải trên thực tế các cuộc thăm viếng hàng ngày với mẹ là hời hợt, hay đơn thuần do các câu chuyện trao đổi không sâu đậm phải không?  Bạn chỉ đơn giản có tương giao thân mật vì bổn phận?  Có điều gì sâu đậm xảy ra không?

Ồ, so sánh điều này với người chị sống xa quê, mỗi năm về nhà một lần để thăm mẹ.  Khi chị về, cả chị và mẹ đều cảm động, họ ôm nhau nồng nàn, rơi nước mắt nhìn nhau và dường như nói về những gì vượt ra ngoài các chuyện thời tiết, đội thể thao yêu thích và sự mệt mỏi của mình.  Và bạn ganh với cả hai!  Có vẻ như cuộc gặp một năm một lần này có cái gì mà chuyến ghé thăm hàng ngày của bạn không có.  Nhưng điều này có đúng không?  Có phải những gì đang xảy ra giữa chị và mẹ đúng thực là sâu đậm hơn các buổi bạn đến thăm mẹ hàng ngày không?

Tuyệt đối không.  Chắc chắn những gì họ có chỉ là về mặt xúc cảm và tình cảm, nhưng thực chất không có gì đặc biệt sâu đậm hơn.  Khi mẹ bạn qua đời, bạn sẽ hiểu mẹ mình hơn ai khác, bạn gần gũi với mẹ hơn chị của bạn rất nhiều.  Vì sao?  Vì trong suốt những ngày bạn đến thăm mẹ, có vẻ như bạn chẳng nói gì khác hơn là thời tiết, nhưng có những gì sâu đậm hơn đã nằm dưới bề mặt.  Khi chị đến thăm mẹ, mọi thứ đang diễn ra trên bề mặt (dù về mặt cảm xúc và yêu thương có thể hơn những gì nằm bên dưới).  Đó là lý do vì sao tuần trăng mật đẹp hơn hôn nhân.

Những gì chị của bạn đã có với mẹ là những gì các tập sinh sống trong cầu nguyện, và những gì các cặp vợ chồng trải nghiệm trong tuần trăng mật.  Những gì bạn đã có với mẹ là những gì những người đã trải nghiệm trong cầu nguyện và các mối quan hệ khi họ trung thành trong một thời gian dài.  Ở một mức độ thân mật trong tất cả các quan hệ của chúng ta, kể cả quan hệ với Chúa trong lời cầu nguyện, cảm xúc và xúc động (dù tuyệt vời như thế nào) sẽ trở nên ngày càng ít quan trọng và khi đó, chỉ cần ở bên nhau sẽ trở nên tối quan trọng.  Trước đó, những điều quan trọng đã xảy ra trên bề mặt, cảm xúc và xúc động là quan trọng; bây giờ sợi dây liên kết sâu đậm đã có bên dưới bề mặt, cảm xúc và xúc động giảm tầm quan trọng của nó.  Ở một chiều sâu nào đó của mối quan hệ, chỉ cần có mặt với nhau là điều quan trọng.

Quá thường xuyên, cả tâm lý đại chúng và linh đạo đại chúng không thực sự nắm bắt điều này và do đó tạo nhầm lẫn cho người tập sinh về hiệu năng cầu nguyện, cho cặp vợ chồng về tuần trăng mật và cho chiều sâu về bề mặt.  Trong tất cả các mối quan hệ của chúng ta, chúng ta không thể đưa ra lời hứa về những gì mình sẽ luôn cảm nhận, nhưng chúng ta có thể hứa sẽ luôn trung thành, cho thấy mình luôn ở đây, dù chúng ta chỉ nói về thời tiết, về đội thể thao yêu thích, về chương trình truyền hình mới nhất, hoặc về sự mệt mỏi của mình.  Và thỉnh thoảng có ngủ gật cũng không sao vì như Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu đã nói: một đứa bé dù thức hay ngủ cũng đẹp lòng cha mẹ, nhưng có lẽ khi ngủ thì sẽ đẹp lòng cha mẹ nhiều hơn!  Điều đó cũng đúng với lời cầu nguyện.  Thiên Chúa không phiền khi chúng ta ngủ gật trong lúc cầu nguyện vì chúng ta đã ở đó và thế là đủ.  Thánh Gioan Thánh giá, người bác sĩ Tây Ban Nha vĩ đại của tâm hồn nói với chúng ta, khi chúng ta vào sâu trong các mối quan hệ, dù đó là với Chúa trong lời cầu nguyện, với nhau trong tình thân mật, hoặc với cộng đồng đang phục vụ, cuối cùng bề mặt sẽ ít cảm xúc, ít xúc động, và những điều sâu sắc hơn sẽ bắt đầu xảy ra dưới bề mặt.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

THÁNH ĐAMINH

Lập Dòng Anh Em Thuyết Giáo (1170 – 1221)

1. Vài dòng lịch sử

Thánh Đaminh sinh tại Castile nước Tây Ban Nha, năm 1170.

Ngay từ lúc còn nhỏ, thánh nhân đã mến mộ sự học hành, cầu nguyện, hãm mình, sống khắc khổ và yêu thương người nghèo.  Mỗi ngày ngài đều có giờ nhất định để cầu nguyện và ăn chay hãm mình luôn.  Ngày kia có người đến xin Ngài giúp đỡ để chuộc lại đứa em bị bắt, ngài không còn tiền cho người ấy, vì đã bố thí hết, nên nói:

– Tôi không còn tiền, nhưng này chị hãy dẫn tôi nộp cho người ta, để chuộc em chị về.

Người này không thể chấp nhận được đề nghị đó, nhưng lòng hết sức cảm phục sự hy sinh cao độ của Ngài.

Vì muốn dâng mình giúp việc Chúa, nên thánh nhân được gọi đến thụ giáo với một Linh Mục ở Gumiel de Izán.  Năm 14 tuổi, Ngài gia nhập Đại chủng viện tại Palencia.  Sau khi hoàn tất việc học, Ngài được Đức cha Diégo de Azsvedo truyền chức Linh mục.  Và vì thấy ngài thông minh nhân đức, nên Đức Giám mục Martin de Bazan đặt ngài làm Kinh sĩ ở Osma.

Lúc Đức cha sang Pháp lo việc mục vụ, thánh nhân được đi theo.  Trong thời gian ở đây, ngài thấy tận mắt những khó khăn do bè rối Albigeois gây ra cho Hội Thánh.  Họ chủ trương tất cả những gì thuộc về vật chất đều xấu xa: muốn hoàn thiện phải tận diệt vật chất, sống hoàn toàn khắc khổ.  Ngài quyết định đem hết khả năng chống lại chủ trương sai lạc của họ.  Nhưng nhận thấy một mình không thể đương đầu với sức bành trướng quá mạnh của họ nên ngài kêu gọi nhiều nhà truyền giáo nhiệt thành cộng tác.  Đó là những người sau này sẽ trở nên tu sĩ hội dòng Ngài sáng lập, gọi là “Dòng Anh Em Thuyết Giáo.”

Một cộng tác viên của ngài kể lại:

“Đaminh có một đời sống luân lý, một lòng sốt sắng kính mến Chúa mãnh liệt, đến nỗi hiển nhiên ai cũng thấy ngài là tác phẩm của sự cao trọng và ơn thánh.  Ngài có một tâm hồn bình thản đến nỗi chỉ rộn lên khi phải trắc ẩn và thương xót.  Và vì tâm hồn hân hoan thì làm cho bộ mặt rạng rỡ, nên ngài cũng để lộ sự bình thản của tâm hồn ngài ra trên nét mặt hiền từ và vui tươi của Ngài.”

“Đâu đâu ngài cũng tỏ ra một con người của Tin mừng, cả trong lời nói lẫn hành động.”

“Ngài năng dâng lên Chúa lời cầu xin đặc biệt này là cho ngài được lòng bác ái chân thật, có khả năng săn sóc và đem lại phần rỗi cho người ta.  Ngài nghĩ mình sẽ thật là chi thể của Chúa, nên tiên vàn mình đem hết sức lực mình ra cứu rỗi các linh hồn, giống như Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chuộc mọi người, đã tận hiến mình để cứu chuộc chúng ta. Và chính để làm công việc ấy mà theo ý Chúa an bài sâu xa, Ngài đã lập ra “Dòng Anh Em Thuyết Giáo.”

Suốt sáu năm trời, thánh nhân dâng lời cầu nguyện, sự hy sinh kèm theo lời rao giảng kêu gọi mọi người trở về với đức tin chân chính, nhưng kết quả không được bao nhiêu.  Ngài buồn sầu than thở với Mẹ Maria và được Mẹ dạy bảo hãy rao giảng và cổ động mọi người lần chuỗi Môi Côi, để nhờ đó Mẹ cầu cùng Chúa cho những người lầm lạc trở về với Hội Thánh.  Vâng lời Đức Mẹ, ngài đem hết khả năng truyền bá chuỗi Môi Côi, giải thích các mầu nhiệm thánh, kêu gọi mọi người thực hành việc đạo đức này.  Kết quả thật là lùng!  Không bao lâu, những người tội lỗi và kẻ lầm lạc ăn năn trở về với Chúa.  Thánh nhân hết sức vui mừng, tạ ơn Chúa và tri ân Đức Mẹ.

Năm 1215, thánh nhân đến Rôma, xin Đức Thánh Cha Honoriô III châu phê luật dòng vào ngày 22/10/1216.  Từ đó, dòng phát triển mạnh mẽ và có mặt trên khắp thế giới.

Thánh nhân qua đời tại Bologna ngày 6 tháng 8 năm 1221.  Năm 1231 Đức Thánh Cha Gregoriô thứ IX đã tuyên hiển thánh cho ngài.

2. Lời trăn trối cuối cùng

“Anh em thân mến.  Đây là những gì Cha để lại cho anh em để anh em giữ lấy như là người con có quyền thừa kế:

Anh em hãy sống bác ái
Hãy giữ lòng khiêm tốn
Hãy tự nguyện giữ đức thanh bần – khó nghèo.”

Đây không phải là những gì rút ra từ sách vở, mà là kết tinh của cả một cuộc sống mà chính Ngài đã nỗ lực thực hiện trong suốt một cuộc đời 51 năm – hơn một nửa thế kỷ.

Đọc kỹ cuộc đời của ngài để rút ra những nguyên tắc làm linh đạo cho cuộc đời của mình.

Xác định cho mình một vị trí rất rõ ràng: Trước Thiên Chúa, trong Giáo Hội, và bên cạnh những người khác.

A. Truớc Thiên Chúa: Như một thụ tạo, một thụ tạo cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa.  Một thụ tạo không có gì cả.  Tất cả là do Thiên Chúa ban cho.   Luôn gần gũi, tin tưởng, phó thác nơi Thiên Chúa như một người Cha-Con.

Khi được hỏi về các phương tiện phải có để đưa cuộc thánh chiến đến thành công, tại cuộc họp do thánh bộ tổ chức, Đaminh đứng dậy nói với tất cả các vị chức sắc: “Xin các ngài hãy giải tán đoàn hùng binh của các ngài đi.  Hãy lội bộ qua các nẻo đường để rao giảng Tin mừng của Đức Kitô khó nghèo và bị ruồng bỏ.  Tất cả bộ vó giầu sang kia chỉ làm cho các ngài tê liệt.  Các Ngài mang nặng quá nên không thể được lôi cuốn vào trong cuộc chinh phục các linh hồn.”

B. Trong Giáo Hội: Như một thành viên của Gia đình Giáo Hội. Tìm mọi cách để sống mầu nhiệm Giáo Hội

C. Bên cạnh những người khác như anh em: Không coi mình như một kẻ có quyền mà coi mình như một người phục vụ. Sống đơn sơ chân thành với tất cả mọi người.  Và cuối cùng là hết lòng yêu thương mọi người.

Lạy Thánh Đaminh, xin cầu cho chúng con. Amen.

Lm Giuse Đinh Tất Quý

KHI HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN CÓ SÓNG GIÓ

Vào khoảng năm 860 trước công nguyên, vương quốc Israel bị ảnh hưởng bởi tà giáo.  Vua Ahab và hoàng hậu Izabel nuôi dưỡng hàng ngàn tiên tri Baal.  Nhiều đền thờ thần thoại được xây lên.  Dân chúng cũng hùa theo việc cúng bái Baal.  Nhưng tiên tri của Giavê Thiên Chúa là Êlia vẫn can đảm đương đầu với đám đông phản trắc để bênh vực chính giáo.

Một mình ông dám thách thức 450 tiên tri Baal hãy chứng minh cho toàn dân biết đâu là Chúa thật.  Êlia bảo người ta bắt hai bò tơ để đôi bên cùng xẻ thịt, đặt lên củi, và khẩn cầu.  Thần linh nào đáp lời nguyện xin, cho lửa xuống thiêu cháy đống củi cùng của lễ, thì đó chính là Đấng mọi người phải tôn thờ.

Sau khi giết bò và chất lên bàn thờ, 450 tiên tri và tư tế Baal bắt đầu kêu khấn: “Lạy thần Baal, xin đáp lời chúng tôi.” Nhưng không một tiếng trả lời!  Họ bắt đầu nhảy nhót như kiểu lên đồng.  Nhưng cũng chẳng thấy ai đáp lại!  Êlia mới chế nhạo: “Các ngươi phải kêu lớn lên nữa.  Không chừng thần linh đang suy tính hay bận rộn chuyện gì; cũng có thể ngài đi vắng hoặc đang ngủ.  Đánh thức ngài dậy đi!”  Các môn đệ thần Baal ra sức kêu gào, lại còn rạch mình cho máu chảy lai láng như kích động lòng trắc ẩn của thần linh.  Nhưng vẫn không thấy gì.

Lúc này Êlia mới giơ tay cầu nguyện: “Lạy Giavê Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Israel, ước gì hôm nay người ta nhận biết chính Người… xin nhậm lời tôi” (1 V 18,36-37), và lập tức Giavê cho lửa từ trời thiêu cháy hết mọi của lễ của Êlia.  Thấy vậy, toàn dân tung hô Thiên Chúa.  Thế rồi, khi được lệnh của Êlia, họ đem các tiên tri và tư tế Baal xuống núi giết sạch.

Chuyện xảy ra quá bất ngờ khiến hoàng hậu Izabel bàng hoàng căm tức.  Bà thề sẽ lấy mạng Êlia bằng mọi giá.  Khi biết thế, vị tiên tri tức tốc lên đường lánh nạn.  Sau một ngày trốn chạy vất vả trong vùng sa mạc khô khan, ông cảm thấy mệt mỏi chán chường.  Con người can đảm và nhiệt thành hôm nào bây giờ lại rơi vào tình trạng hoang mang cực độ đến nỗi muốn chết cho yên.  Ông thốt lên: “Nay đã đủ rồi, lạy Giavê, xin cất mạng tôi đi, tôi cũng không hơn gì các bậc tổ tiên.”

Người hùng của Thiên Chúa mà cũng có lúc đảo điên như thế thì huống chi là tôi!  Thế nhưng câu chuyện không chỉ dừng lại ở đó.  Kinh thánh kể tiếp:

Chính trong giây phút giao động và chán nản đó của người hùng, sứ thần Thiên Chúa đã đến nâng đỡ ông bằng bánh và nước.  Êlia đã ăn và uống.  Sau đó tiếp tục hành trình 40 ngày đêm đến núi Sinai.  Tại đây ông đi vào cuộc gặp gỡ và đối thoại với Thiên Chúa.  Cuộc gặp gỡ xảy ra không phải trong bão tố, đất động hay lửa chớp, nhưng trong làn gió thoảng đưa.

Từ trong làn gió thoảng ấy, Thiên Chúa cất lời nâng đỡ và chỉ dẫn Êlia.  Cuộc gặp gỡ thân tình với Giavê đã kéo ông khỏi hố sâu của lao đao thất vọng.  Kết quả, Êlia tìm lại được bình an và sức mạnh nội tâm, tiếp tục ra đi chu toàn sứ mạng làm chứng cho Thiên Chúa.

Thiết tưởng hành trình đức tin của người Kitô hữu cũng có những lúc khốn khó lao đao như Êlia vậy.  Dù là người nhiệt tâm và can đảm cách mấy cũng không tránh khỏi tình trạng bị thế gian săn đuổi, đe dọa, và bao chước cám dỗ tấn công.  Lắm lúc tưởng như sắp chìm sâu trong bão tố của hận thù, ích kỷ, đam mê.  Ngay như thánh Phêrô, vị tông đồ năng nổ và xông xáo nhất trong hàng ngũ các tông đồ, cũng đã từng bị sóng gió làm đảo điên đến nỗi “sắp chìm xuống” (Mt 14,30).  Nhưng khi ông thốt lên lời kêu van, “Lạy Thầy, xin cứu con”, thì bàn tay đỡ nâng của Thiên Chúa đã giải thoát và đem lại bình an ngọt ngào.

Cho đến hôm nay, những người theo Đức Kitô vẫn chưa hết bị sóng gió trần gian bủa vây, không chỉ là những truân chuyên trong cuộc sống, nhưng còn là những cám dỗ tinh vi của quỷ ma.  Nhưng liệu trước các phong ba dữ dằn đó, tôi có nghe được tiếng nói đỡ nâng và nhắc nhở của Thiên Chúa chăng?  Lắm khi tiếng nói của Ngài rất nhẹ nhàng như “gió hiu hiu thổi” chứ không phải như tiếng đất động, bão tố hay hỏa hoạn.

Thử hỏi: nếu là một thanh niên hay thiếu nữ đang tuổi lớn lên, trước những lời réo gọi của đam mê xác thịt, liệu tôi có nghe được tiếng nhắc nhở “phúc cho ai có lòng trong sạch” nơi lương tâm để vượt thoát cạm bẫy dục tình và tiến lên núi cao với Chúa không?

Nếu vì nhẹ dạ mà sa ngã hay mang thai, trước những sóng gió của từ khước khinh bỉ, hay giòng xoáy phá thai của thời đại muốn nhận chìm sự sống, liệu tôi có nghe được tiếng bảo thì thầm trong lương tâm rằng “phá thai là giết người,” và rồi hướng nhìn lên Chúa, kêu nài một sự đỡ nâng an ủi không?

Nếu là người mẹ có đứa con hư dại hay người vợ có ông chồng hủ bại, liệu tôi có nghe được lời nhắc nhở “hãy vững tin” của Đức Giêsu để tiếp tục hành trình làm nhân chứng cho đạo Chúa không?

Nếu là người cha phải lao đao vì trách nhiệm gia đình, bị giông tố của xã hội tấn công, bị chèn ép, hiểu lầm, khích bác…, liệu tôi có nghe được tiếng nói “Đừng sợ, có Ta đây”, và rồi đưa tay cho Đức Giêsu để Ngài kéo lên không?

Cuộc đời người Kitô hữu được ví như hành trình tiến lên núi Thánh giữa sa mạc nắng cháy, hay như chiếc thuyền đang tìm về bến bờ giữa bao sóng to, gió ngược.  Không có ơn Chúa đỡ nâng, chắc chắn con người sẽ ngã gục.  Cũng như nếu không có những chiếc bánh và ấm nước Thiên Chúa trao cho, Êlia đã bỏ cuộc giữa đường; hay nếu không có bàn tay Đức Giêsu giơ ra kéo lên, Phêrô đã chìm sâu trong sợ hãi và hoang mang.

Song khi có Chúa, bình an và sức mạnh sẽ đến.  Dù giông tố và thách đố trần gian cứ xảy ra, con thuyền đời tôi vẫn thẳng tiến, vì có Thiên Chúa đồng hành.

Nhưng để được như thế, có lẽ tôi phải không ngừng kêu lên: “Lạy Chúa, xin cứu con” (Mt 14,30).

Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn

CHỦ CHIÊN PHẢI CÓ MÙI CỦA CHIÊN

Hình ảnh và video của một bé trai 9 tuổi làm Đức Thánh Cha Phanxicô rơi lệ đã lan tràn ‘như lửa cháy’ trên cộng đồng mạng trong những ngày qua.

Lúc xe của Đức Thánh Cha đi qua, một cậu bé trai tên là Nathan de Brito, mặc áo thun của đội banh Brazil, đã len lỏi chạy theo Đức Thánh Cha một hồi rất lâu, rồi khi chiếc xe tạm ngừng thì đã vượt qua hàng rào an ninh, leo lên ôm lấy ngài và nói trong nước mắt: “Đức Thánh Cha ơi, con muốn trở thành một linh mục của Chúa Kitô, làm đại diện cho Chúa Kitô.”

Đức Thánh Cha đã tỏ ra rất xúc động, Ngài nói với em rằng:”Cha sẽ cầu nguyện cho con, nhưng Cha xin con cũng cầu nguyện cho Cha,” sau đó Ngài lau nước mắt cho em, ôm lấy em và nói, “Kể từ hôm nay thì ơn Kêu Gọi của con là chắc chắn nhé.”  Phải khó khăn lắm người ta mới gỡ em ra khỏi Đức Thánh Cha và kéo cậu xuống.  Cậu bé Nathan còn tiếp tục tung nụ hôn tới cho Đức Thánh Cha, cho đến khi một nhân viên an ninh giỗ dành cậu và đưa cậu về với gia đình.

Theo tin từ Brazil cho biết thì em Nathan là một cư dân của khu phố Cabo Rio, và sau khi sự việc xảy ra thì em đã được chào đón như một vị anh hùng.  Hãng truyền hình O Globo TV mô tả rằng: “Mọi người đều đã biết về ước muốn làm linh mục của em và muốn biết thêm về cuộc gặp gỡ với Đức Giáo Hoàng và làm thế nào mà em đã có đủ can đảm để vượt qua hàng rào các nhân viên bảo vệ.”  Bạn bè của em thì hãnh diện vì ‘một trong những người của chúng’ đã được gặp Đức Giáo Hoàng, còn gia đình de Brito thì cho biết họ cảm thấy “rất may mắn.”

Còn cảm tưởng của em?

“Em cần phải học thêm thần học”, cậu bé nói với một nụ cười, thêm rằng em sẵn sàng làm “tất cả mọi thứ” để theo đuổi ơn gọi làm linh mục của em.  Keyla Fernandes, cô giáo của em, cho biết de Brito có điểm học xuất sắc và hạnh kiểm tốt.  “Hạnh kiểm tốt chứng tỏ em đã thấm nhuần các đức tính Kitô giáo, chẳng hạn như đức vâng lời,” cô nói.  Còn Cha Xứ Valdir Mesquita dự đoán rằng cuộc gặp gỡ với Đức Giáo Hoàng của em “sẽ truyền cảm hứng cho nhiều người khác muốn làm linh mục.”

Kể từ khi em lên năm hay sáu tuổi, “em đã nói rằng em muốn trở thành một linh mục.”  Cha Mesquita nói. “Cuộc gặp gỡ này chắc chắn sẽ lưu lại trong trái tim của em và mãi mãi thay đổi cuộc sống của em”. (x.vietcatholic.org).

Hôm nay Giáo hội mừng kính Thánh Gioan Vianney, bổn mạng các Linh mục.

Từ thửa nhỏ, Gioan Vianney khao khát làm linh mục.  Sau này ngài kể: “Khi tôi còn nhỏ, tôi không biết điều xấu.  Không đủ điều kiện vào chủng viện vì sức học yếu nên ngài đã phải cố gắng hết sức để có thể vượt qua.  Ước mơ làm Linh mục trong ngài luôn cháy bỏng.

Tài mọn, trí hèn, học kém, nhưng ngài vẫn được “đặc cách” thụ phong linh mục vào năm 1815, lúc 29 tuổi.  Sau 3 năm ở xứ Ecully, ngài được bổ nhiệm về xứ Ars, một giáo xứ nhỏ và xa xôi.  Khi vừa đặt chân đến xứ Ars, ngài đã quỳ xuống hôn mảnh đất này.  Trong thời gian quản nhiệm xứ Ars, một xứ nhỏ nhưng “rắc rối” đủ chuyện, ngài gặp nhiều giáo dân sống lạnh nhạt và sống buông thả trong tội lỗi.  Cha sở Vianney đã kiên nhẫn để thay đổi lòng người từng chút và từng ngày.  Trong các bài giảng đầu tiên, cha sở Vianney đã phản đối các thói hư tật xấu của dân xứ Ars như: báng bổ, nguyền rủa, không coi trọng ngày Chúa nhật, chỉ ưa tụ tập ăn nhậu và múa hát ở các quán xá, hát những bài ca trơ trẽn và ăn nói tục tĩu.  Ngài nói: “Quán xá là cửa hàng của ma quỷ, là trường học của hỏa ngục, là thị trường buôn bán các linh hồn, là nơi làm tan vỡ các gia đình, là nơi làm cho sức khỏe bị hao mòn, là nơi xảy ra các cuộc cãi vã và giết người.

Cha sở Vianney phải mất 10 năm mới có thể thay đổi dân xứ Ars.  Không còn làm việc ngày Chúa nhật, nhà thờ càng ngày càng đông người, không còn say xỉn.  Cuối cùng, các quán rượu đóng cửa vì không có khách, và các cuộc cãi vã trong gia đình cũng hết.  Lòng chân thật trở nên tính cách chung.  Cha sở Vianney viết: “Xứ Ars không còn là xứ Ars xưa nữa”, vì cả xứ đã thay đổi tận gốc rễ.  Cả xứ Ars trở nên một cộng đoàn đạo hạnh.

Năm 2010, tôi có đi hành hương đến thăm Xứ Ars.

Thăm nhà xứ, tôi thấy tất cả các căn phòng vẫn còn giữ nguyên trạng như những ngày thánh nhân còn sống, quá đơn sơ và nghèo nàn… Nhà bếp lụp xụp, khói đen phủ kín tường gạch trét vôi, mấy cái nồi niêu soong chảo cũ kỹ treo trên tường.  Cái nồi luộc khoai lang treo lơ lửng, bên dưới có bóng điện nhỏ như ngọn lửa cháy, chiếu rõ màu đen bụi khói qua năm tháng.  Khoai lang luộc là thức ăn hàng ngày của cha xứ.

Cái bàn ăn bằng gỗ cùng với hai cái ghế gỗ nhỏ toát lên cuộc sống đạm bạc của chủ nhân.  Cầu thang gỗ dẫn lên gác.  Căn phòng nhỏ thấp, nơi thánh nhân sống hơn 30 năm, có chiếc giường bị cháy xém do ma quỷ đốt, một cây súng dài rất cổ treo trên tường, nghe kể là các vị Hội đồng giáo xứ trực nhà xứ đem vào để bảo vệ cha xứ, một cái đồng hồ như là sáng kiến đặc biệt của cha Vianey chia đều công việc 24 giờ trong ngày của ngài.  Trong phòng còn có quan tài bằng gỗ sồi, sau 40 năm chôn trong lòng đất, khi khai quật ngôi mộ, xác cha thánh vẫn còn tươi nguyên, một phép lạ Chúa ban.  Bị ma quỷ quấy phá nhiều năm, cha thánh chuyển qua phòng khác là nơi dành cho Đức Giám Mục khi đến đây ban phép Thêm Sức.  Căn phòng thứ hai này cũng rất nhỏ và thấp, các đồ dùng trong phòng rất giản dị, nghèo nàn.  Cái bàn nhỏ bên trên còn để cuốn sách nguyện, từ đó nhìn lên có tượng thánh giá, có mấy tượng ảnh Đức Trinh Nữ Maria, cái giường ngủ nhỏ kê sát tường, nơi thánh nhân ngủ cho đến khi qua đời, đôi giày bạc màu thời gian với khổ chân người nông dân vẫn còn đó, bên cạnh có tủ sách khá nhiều cuốn sách dày, được biết ngài đã đọc và đánh dấu nhiều trang sách.  Thật quá đơn sơ khi nhìn ngắm các vật dụng.  Căn phòng ọp ẹp này lại là nơi sinh sống của một con người vĩ đại trong sự giản dị thanh thoát.

Nối giữa hai căn phòng ấy hiện nay là phòng trưng bày những đồ dùng hàng ngày như áo lễ, áo dòng, dù, sắc… tôi cảm động nhất khi nhìn và đọc lịch sử về cái áo lễ, mẹ của ngài đã dành nhiều thời gian để may cho con trai cái áo lễ vì nhà quá nghèo, ngày lễ mở tay, cha Gioan Maria Vianey đã mặc áo lễ do bàn tay mẹ làm nên vào năm 1810.  Trên gác là kho lúa mì, cha xứ dùng để nuôi các em cô nhi.  Chúa hay làm phép lạ cho kho lúa có đầy để nuôi trẻ mồ côi.

Sau đó, thăm nhà thờ và cử hành Thánh lễ tại chính bàn thờ mà ngày xưa Thánh nhân hằng ngày vẫn dâng lễ, đặt dưới tầng hầm.

Giáo hội Pháp xây dựng nơi hành hương nổi tiếng này với dáng vẻ hiền lành, đơn giản, khiêm tốn, đúng với cuộc đời của vị thánh đã sống ẩn khuất suốt 41 năm trong âm thầm, lặng lẽ hy sinh vì đàn chiên.  Ngay đến Vương cung Thánh đường bằng đá cẩm thạch được dân chúng đóng góp xây dựng sau khi ngài được tuyên Thánh, cũng được xây nối liền sau ngôi nhà thờ năm xưa với gác chuông cũ rêu phong, những khung cửa sổ bạc màu.  Bước vào nhà thờ, tôi nhìn thấy tòa giải tội nơi Thánh Gioan Vianney đã từng ngồi miệt mài mỗi ngày hàng chục tiếng đồng hồ, bất kể mùa hè hay mùa đông.  Tôi ngồi nơi tòa giải tội vài phút và thầm cầu nguyện với cha thánh.  Bên phải Nhà thờ có bàn thờ dâng lễ, phía trên có thi hài cha thánh.  Nhiều người đang quỳ gối cầu nguyện sốt mến.  Thánh lễ được cử hành hầu như liên tục trong ngày.  Hai ngày tĩnh tâm tại đây, tôi chứng kiến nhiều đoàn hành hương đến cầu nguyện và dâng lễ.

Bí quyết nên thánh của Cha sở Vianney là nguồn trợ lực vô biên từ Bí tích Thánh Thể, và con đường mục vụ khởi đầu bằng tòa giải tội.  Ngài không thông hiểu tiếng La tinh, nhưng lại thấu hiểu được tâm hồn con người.  Ngài có những lời khuyên đơn sơ, nhưng lại dễ lay động lòng người.  Ngài khuyên hối nhân bằng lời yêu thương nhẹ nhàng đầy Thần Khí nhưng lại hiệu quả lớn lao cho người ta trút bao gánh nặng tội lỗi, đắng cay khổ đau.  Ngài miệt mài nơi tòa giải tội để đánh thức niềm tin và đưa người ta trở về với Chúa.  Biết bao con người đã tìm lại bình an và niềm vui từ tòa giải tội này.  Biết bao tâm hồn đón nhận ơn Chúa từ bí tích hòa giải.  Ngồi nơi tòa giải tội của cha Vianney mà tâm hồn lâng lâng niềm hạnh phúc trong sứ vụ linh mục.  Qua trung gian Linh mục, hối nhân gặp được trái tim đầy thương xót của Thiên Chúa.  Và đó là hạnh phúc.  Người ta bảo trên đời có ba bóng dáng hạnh phúc tinh ròng: mẹ đem con đi rửa tội về, người lành tạ thế và hối nhân từ toà giải tội bước ra.  Nếu như hạnh phúc của người truyền giáo là có một người được rửa tội thì hạnh phúc của Linh mục giải tội là có một tội nhân được giao hòa với Chúa, được tìm lại ơn thứ tha và nguồn bình an niềm vui tâm hồn.  Hối nhân càng nhiều tội lỗi, càng lâu năm xa cách nguội lạnh mà được ơn trở lại thì Linh mục càng dâng đầy hạnh phúc.  Như thế Cha Vianney là người rất hạnh phúc.  Chúa phán với tiên tri Edêkiel: “Edêkiel, Ta đã đặt ngươi làm kẻ canh thức Israel.  Nếu ngươi không khuyến cáo các người ác bỏ đàng tội, thì nó sẽ phải chết.  Nhưng Ta sẽ hỏi tội ngươi về máu nó đã đổ ra” (Ed 3, 17-18).  Món nợ của Linh mục đối với Chúa là phải làm hết sức mình để cứu đoàn chiên khỏi tội.  Vinh quang của Linh mục là được chia sẻ vinh quang của Đức Mẹ và các thánh là những người đã cộng tác với Đức Kitô trong việc cứu con người khỏi tội lỗi.

Thánh Gioan Maria Vianney đã sống một cuộc đời thánh thiện, toàn tâm toàn lực phụng sự Chúa, phục vụ anh chị em.  Ngài ăn uống kham khổ, sống đơn sơ nhiệm nhặt.  Ngài hy sinh hãm mình hằng ngày để xin Chúa biến đổi lòng của từng anh chị em giáo dân, giúp họ biết sống thân tình với Chúa, biết thờ phượng Chúa trên hết mọi sự.

Để có được năng lực tốt nhất mà phụng sự Chúa, phục vụ anh chị em của mình, thánh nhân hoàn toàn phó thác đời mình trong tay Chúa.  Ngài chìm lắng suốt đời trong cầu nguyện.  Cả một ngày sống của cha sở Vianney là một ngày sống để cầu nguyện.  Thánh nhân bắt đầu ngày cầu nguyện của mình từ nửa đêm về sáng, khi mới một giờ đêm.  Khi mọi người còn đang yên giấc, ngài đã vào nhà thờ, quỳ trước nhà tạm, thầm thỉ với Chúa, chiêm ngắm Chúa.

Cha sở Vianney miệt mài ngồi tòa giải tội.  Ngài hầu như đọc được tất cả những điều sâu kín trong lòng người, khiến người ta tìm lại được niềm tin, sự bình an của tâm hồn.

Linh đạo Linh mục chính là nên thánh trong công việc mục vụ hàng ngày.  Trong ngày Tiếp Kiến chung vào ngày Thứ Tư, 16.5.2013, ĐTC Phanxicô nói: “Giám Mục không phải là Giám Mục cho bản thân ngài, mà là cho dân.  Cũng vậy, Linh Mục không phải là Linh Mục cho bản thân ngài, mà là cho dân: để phục vụ, nuôi dưỡng, chăm sóc dân là đoàn chiên của ngài để bảo vệ họ khỏi chó sói.”

Trong bài giảng Thánh Lễ Làm Phép Dầu vào lúc 9giờ30, ngày Thứ Năm Tuần Thánh, 28.3.2013, tại Đền thờ Thánh Phêrô ở Roma, ĐTC Phanxicô đã đòi hỏi các Linh mục phải luôn ý thức rõ ràng trách nhiệm chủ chiên của mình là phải mang vào mình mùi của chiên, ngài nói: “Tôi yêu cầu anh em hãy là những mục tử mang nặng mùi con chiên của mình.”

Qua đó, ĐTC muốn căn dặn các Linh mục rằng, cũng như người chăn chiên là phải sống gần gũi, sống lăn lộn với đàn chiên, phải sống chết với đàn chiên để lo lắng chăm sóc, bảo vệ và thăng tiến đàn chiên của mình, đến nỗi mùi của chiên đã ngấm vào không những áo quần mà cả da thịt người ấy nữa, thì người Linh mục, người chăn chiên về đàng thiêng liêng cũng phải vậy.  Linh mục phải biết sống dấn thân trọn vẹn cho cộng đoàn giáo xứ, cho các linh hồn, không những một cách công bằng, vô vị lợi và bất thiên tư, nhưng còn biết xả thân hy sinh cho quyền lợi chính đáng của giáo dân, biết lấy mọi nỗi thống khổ, mọi khó khăn vất vả và mọi gian lao khổ cực của giáo dân làm của riêng mình, và hết lòng tìm cách an ủi, giúp đỡ họ theo khả năng có thể của mình.

Cha sở Vianney “là mục tử mang nặng mùi con chiên của mình”, ngài là bổn mạng các Linh mục.  Hôm nay Giáo hội mừng kính thánh nhân, xin ngài giúp anh em linh mục chúng con luôn biết sống theo gương sáng của ngài.  Amen.

LM Giuse Nguyễn Hữu An

THÁNH ANPHONGSÔ, CON ĐƯỜNG NÊN THÁNH

Thánh Anphong Đấng Sáng Lập Dòng Chúa Cứu Thế.  Tiến Sĩ Hội Thánh.  Bổn mạng các nhà luân lý Công giáo.  Bổn mạng các cha giải tội.

Anphong Maria de Liguori sinh năm 1696 trong một gia đình quý tộc và giàu có ở Napoli.  Cha ngài, Don Giuseppe là sĩ quan Hải quân Hoàng gia đầy nghị lực, ý chí và trách nhiệm.  Mẹ ngài là bà Anna Catarina Cavalieri danh giá và thùy mị.  Gia đình được tám người con, Anphong là con cả.

Với trí thông minh đặc biệt, lại được giáo dục trong một môi trường thuận lợi để phát triển mọi khả năng trong mọi lãnh vực triết học, toán học, khoa học, văn chương và nghệ thuật.  Vì vậy, khi chỉ mới 16 tuổi, Anphong đã xuất sắc đạt được cả hai bằng tiến sĩ ưu hạng về Giáo luật và luật dân sự.

Cả kinh thành Napoli ngưỡng mộ vị luật sư trẻ trung tài hoa với kỳ tích, trong vòng tám năm, từ năm 1715 đến 1723 ngài đã thắng tất cả các vụ kiện.

Con đường công danh trải thảm mượt mà dưới chân vị luật sư trẻ đầy tài năng, dẫn ngài đi tới hết vinh quang này tới vinh quang khác.  Nhưng Thiên Chúa đã có một kế hoạch khác cho ngài.  Với những ân sủng Thiên Chúa ban, cộng với tinh thần đạo đức sốt mến và lòng yêu thương người nghèo, nhất là những người nghèo bị bỏ rơi hơn cả, Anphong đã mau chóng nhận ra thánh ý Chúa định cho cuộc đời mình, và ngài đã cương quyết thi hành.

Năm 1723 trong một vụ kiện lịch sử, Anphong, với lương tâm trung thực và thanh liêm, nghĩ tưởng công lý nằm trong lẽ phải, nhưng ngài bàng hoàng khi thấy đồng tiền bẻ cong công lý, quyền lực giày đạp luật pháp dưới chân.  “Hỡi thế gian, ta biết ngươi rồi… Vĩnh biệt pháp đình” là câu nói cuối cùng của vị luật sư trẻ khi nhìn ra được bộ mặt gian xảo của thế gian.

Cắt hết mọi mối tương quan, chìm đắm trong cô tịch để làm lại cuộc đời, nhưng vẫn duy trì nếp sống đạo đức và viếng thăm bịnh nhân.  Ngày kia, một câu nói xoáy vào tâm hồn: “Hãy để thế gian lại đó và hiến mình cho Ta,” Anphong tỉnh ngộ chạy đến nhà thờ Đức Maria Chuộc Kẻ Làm Tôi, rút thanh gươm quý tộc đặt dưới chân Đức Maria và thưa: “Vĩnh biệt thế gian và của cải phù vân.  Lạy Chúa, đời con nay thuộc về Chúa.  Chức tước và của cải gia đình, con xin dâng làm lễ toàn thiêu cho Thiên Chúa và cho Mẹ Maria.”

Dù người cha phản đối kịch liệt và làm mọi cách lôi kéo Anphong về lại thế gian, nhưng ngài vẫn quyết tâm trở thành tôi tớ của Đức Kitô.  Được thụ phong linh mục vào năm 1726 tại Tổng giáo phận Napoli, lúc ấy còn nhập nhằng lem luốc với hàng giáo sĩ xa hoa và các vị thánh, những tu sĩ dốt nát, sân si bên cạnh những vị dấn thân cho việc thăng tiến con người, cho những giá trị Kitô giáo, những cha giải tội phóng khoáng bên cạnh những linh mục nghiêm khắc, phản ánh đàng sau đó là sự đối chọi của hai nền luân lý khắt khe của phái Jansenisme, và phóng khoáng của phái Laxisme.

Cha Anphong gia nhập Hội Tông Đồ Thừa Sai của Giáo Phận để rao giảng Tin Mừng và dạy giáo lý cho những người nghèo khổ, bần cùng, đa phần bị nhiễm các thói hư tật xấu, bị cả Giáo hội lẫn xã hội bỏ rơi ở Napoli.  Ngài nhiệt thành xây dựng đời sống đức tin cho họ, khích lệ họ cải thiện lối sống, và nhẫn nại dạy họ cầu nguyện.

Chính sự gần gũi với đoàn chiên không người chăn dắt, Giáo hội qua cha Anphong đã đến vùng ngoại vi của việc chăm sóc mục vụ, làm sáng lên vẻ đẹp vốn có của Giáo hội, phải lem luốc trên đường phố với người nghèo chứ không ẩn mình trong sự an toàn giả tạo.  Sáng kiến mục vụ và sự dấn thân của Cha Aphongsô đã đạt kết quả rất đáng khích lệ.

Trong những khu “ổ chuột” nơi đầy rẫy “những bọn cặn bã” của thành phố, hình thành những nhóm người đêm đêm qui tụ nhau trong các tư gia để cầu nguyện và suy niệm Lời Chúa, hình thành nên “những nguyện đường về đêm.”  Dưới sự hướng dẫn của ngài và những thiện nguyện viên, việc giáo dục đức tin, luân lý và sự tương thân tương ái vừa cải hóa tâm hồn con người, vừa giúp cải tạo môi trường xã hội, vừa đẩy lùi những tệ nạn xã hội.

Hành trình của vị mục tử đi tìm những con chiên lạc còn khám phá ra những vùng đất như thể “Đức Kitô chưa bao giờ đặt chân đến” trong vương quốc Napôli, khiến tâm hồn ngài rúng động trước những đám đông nghèo khó bị bỏ rơi, gồm những nông dân và những mục đồng còn chưa biết sống người cho ra người, nói gì đến việc sống đời Kitô hữu.  Năm 1732, sau bao khó khăn phải vượt qua, nhưng với xác tín mãnh liệt và được Thánh Thần soi sáng thúc đẩy, cha Anphong lập Dòng Chúa Cứu Chuộc Rất Thánh.

Các tu sĩ, dưới sự hướng dẫn của Cha Anphongsô, trở thành những vị thừa sai của Chúa Cứu Thế với con tim tràn ngập niềm vui, mạnh mẽ trong đức tin, phấn khởi trong đức cậy, sốt sắng bởi lòng mến, bừng cháy lòng nhiệt thành, trong sự khiêm hạ của tâm hồn và bền chí cầu nguyện; bỏ mình và luôn sẵn sàng đảm nhận những công việc khó khăn, tham dự vào mầu nhiệm của Đức Kitô và công bố mầu nhiệm ấy bằng đời sống và lối nói giản dị theo tinh thần Phúc Âm, hầu đem lại ơn Cứu Chuộc chứa chan cho con người (x.HP 20).  Nhân đức và lòng nhiệt thành tông đồ của cha Anphong lan tỏa khắp nơi.

Năm 1762 Cha được bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Thánh Agata dei Goti.  Đến năm 1775, vì già cả, bệnh tật, ngài đã từ nhiệm.  Năm 1787, ngài được Chúa gọi về trong sự tiếc thương của mọi người: “Chúng ta đã mất một vị thánh.”  Năm 1839, Anphongsô được tuyên phong hiển thánh và năm 1871, Tòa Thánh tuyên dương ngài là Tiến Sĩ Hội Thánh vì đã đóng góp hữu hiệu cho nền Thần học Luân lý, và 1950 Đức Thánh Cha Piô XII công bố ngài là “Quan Thầy của tất cả các cha giải tội và của các nhà Thần học Luân lý.”

Thời thánh Anphong, phái Jansenisme chủ trương khắt khe đến nỗi, thay vì rao giảng sự xót thương của Chúa để kêu gọi lòng tín thác, họ lại trình bày khuôn mặt của một vị Thiên Chúa công minh lạnh lùng và hay trừng phạt, khiến người ta không dám xưng tội, vì sợ sẽ phạm tội lại.  Cha Anphong, với lương tâm người mục tử, đã viết một tác phẩm mang tựa đề “Thần học Luân lý”, mang tính quân bình và có sức thuyết phục giữa các đòi hỏi của lề luật Thiên Chúa, được ghi khắc trong con tim con người, được Đức Kitô mạc khải cách trọn vẹn và được Giáo Hội giải thích một cách có thẩm quyền, với các dạng thức của lương tâm và sự tự do của con người; chính trong việc gắn bó với chân lý và sự thiện mà người ta có thể đạt được sự trưởng thành và kiện toàn chính mình.

Công trình của thánh Anphong để lại cho Giáo hội một nền tảng vững vàng về Thần học luân lý vẫn còn hữu ích cho đến nay.  Ngài thường khuyên các mục tử hãy trung thành với giáo huấn luân lý Công Giáo với thái độ bác ái, cảm thông, dịu dàng để các hối nhân cảm thấy cha giải tội là người đồng hành, nâng đỡ và khích lệ trong đời sống đức tin.

Thánh Anphong luôn nhắc rằng, các linh mục phải phản ánh dung mạo của lòng Chúa xót thương, là Đấng luôn sẵn sàng tha thứ và kiên trì kêu gọi kẻ tội lỗi hoán cải và canh tân đời sống.  Bên cạnh các tác phẩm thần học, Thánh Anphong còn viết rất nhiều sách đạo đức thiêng liêng khác, với văn phong bình dân giản dị, nhằm đào tạo đức tin và lòng sùng mộ cho dân chúng.  Đáng kể là các tác phẩm đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau như, “Le Massime eterne” (Các châm ngôn vĩnh cửu), “Le glorie di Maria” (Vinh Quang Đức Maria), “La practica d’amore Gesù Cristo” (Thực hành lòng yêu mến Chúa Giêsu Kitô).  Đây là tác phẩm sau cùng vừa tổng hợp những suy tư, vừa nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc cầu nguyện, vì nhờ đó, người ta mở lòng cho Ân Sủng, để chu toàn ý muốn của Thiên Chúa trong đời sống hằng ngày và đạt đến sự thánh hóa.

Thánh Anphong còn là tông đồ về cầu nguyện, Ngài viết: “Thiên Chúa không từ chối ơn thánh từ những lời cầu nguyện; với ơn thánh đó người ta được trợ giúp để vượt thắng mọi dục vọng và những cơn cám dỗ.  Tôi nói và tôi sẽ còn lặp lại mãi, bao lâu tôi còn sống, rằng tất cả ơn cứu độ của chúng ta là ở nơi việc cầu nguyện.”  Từ đó có phương châm: “Ai cầu nguyện, sẽ được cứu rỗi.”

Trong số các hình thức cầu nguyện, nổi bật là viếng Thánh Thể.  Ngài viết: “Chắc chắn trong tất cả các việc đạo đức thì đứng đầu, sau các Bí Tích, là việc thờ lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, là điều Chúa ưa thích và là điều sinh ích lợi cho chúng ta nhất…  Ôi, dịu ngọt biết bao khi hiện diện trước bàn thờ với đức tin… và dâng lên Chúa Giêsu Thánh Thể các nhu cầu của mình, như một người bạn làm với một người bạn với tất cả sự tín cẩn” Mầu nhiệm Nhập Thể và Thương Khó của Đức Giêsu cuốn hút Thánh Anphong trong việc suy niệm và giảng thuyết, vì chính ở điểm này, Đấng Cứu Thế trở nên quà tặng cho nhân loại, và “Ơn Cứu Chuộc nơi Người chứa chan.”  Đó chính là Linh đạo của Thánh Anphong, tập trung vào Chúa Kitô và Tin Mừng của Người.

Từ Tình yêu Chúa và công ơn Cứu Chuộc của Người, với lòng sùng kính Đức Trinh Nữ Maria, Thánh Aphongsô đã giải thích vai trò của Mẹ trong lịch sử cứu độ, với tất cả mọi danh hiệu và tước vị ngày nay người ta có thể thấy trong Kinh cầu Đức Bà.  Ngài còn quả quyết, những ai có lòng sùng kính đối với Mẹ Maria sẽ không bị hư mất, vì Mẹ là chốn nương ẩn cuối cùng, là niềm ủi an trong phút lâm chung.

Đối với Giáo hội nói chung và với Dòng Chúa Cứu Thế nói riêng, Thánh Anphong luôn là một tấm gương sáng về lòng nhiệt thành tông đồ, loan báo Tin Mừng cho mọi người, nhất là những người nghèo khó bị bỏ rơi, chuyên chăm cầu nguyện, sốt sáng cử hành các Bí Tích và một lòng sùng mộ Đức Maria.  Không một ai ở ngoài Ơn Cứu Chuộc của Chúa, vì Chúa luôn từ ái một niềm, vì Ơn Cứu Chuôc nơi Người chứa chan (Tv 129,7).

Lm. Giuse Ngô Văn Kha, DCCT

PHÉP LẠ CỦA SỰ LẮNG NGHE

Mỗi lần được nghe bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thường liên tưởng đến phép lạ Chúa hoá bánh ra nhiều hay là hình ảnh tiên báo về bí tích Thánh Thể.  Đây là cái nhìn thông thường.  Thế nhưng, theo tường thuật của thánh Mat-thêu, phép lạ đã diễn ra ngay từ lúc đám đông tìm kiếm Chúa.  Họ vượt qua mọi trở ngại của ngăn sông cách núi.  Họ rỉ tai nhau.  Họ lũ lượt mời gọi nhau lên đường tìm kiếm Chúa.  Họ đến với Chúa không phải vì miếng ăn.  Họ không xin Chúa bánh ăn.  Họ tìm Chúa để được nghe lời Người rao giảng.  Họ muốn tìm ra chân lý của cuộc đời.  Họ muốn hiểu về giá trị và mục đích của cuộc sống.  Thực sự họ đã say mê khi nghe Chúa giảng về Nước Trời.  Họ đã bị lôi cuốn bởi lời rao giảng của Chúa đến mức độ quên cả thời gian.  Trời đã tối mà xem ra đám dân chúng này vẫn chưa muốn rời xa Chúa.  Họ vẫn muốn được nghe lời hằng sống phát ra từ môi miệng Chúa.

Thánh Matthêu còn kể tỉ mỉ là số lượng khoảng trên 5.000 người đàn ông, không kể phụ nữ và trẻ em.  (Nếu tính tổng cộng phải trên 10.000 người).  Đây cũng là một sự kiện lạ.  Một sự kiện mà cho tới hôm nay dù rằng có âm thanh hỗ trợ, có phương tiện tối tân vẫn khó khăn truyền tải sứ điệp đến với thỉnh giả tại bãi biển đầy sóng gió ồn ào.  Nơi mà người ta nói “ăn sóng nói gió,” phải nói thật to, phải gào thật lớn mới nghe được nhau.  Thế mà, lời rao giảng của Chúa Giê-su lại đến với tai mọi người.  Mặc dù không micro, không loa phóng thanh.  Ngài nói trong gió trời lồng lộng, trong sóng vỗ miên man mà ai cũng nghe được.  Ai cũng hiểu.  Ai cũng say sưa nghe giảng.  Quả thực, đây là một phép lạ!  Phép lạ của sự tôn trọng và lắng nghe.  Họ tôn trọng Chúa là người đang nói và cũng tôn trọng tha nhân là người đang lắng nghe.  Thông thường ai cũng muốn nói, nhưng ở đây hầu như ai cũng muốn lắng nghe.  Chính nhờ thế mà đám đông đã tạo thành một không gian thanh bình, một nơi chốn của thinh lặng cho con tim rung cảm chan hoà yêu thương và tôn trọng lẫn nhau.

Và hôm nay phép lạ đó vẫn có thể tái diễn trong cuộc sống khi chúng ta biết lắng nghe, tôn trọng lẫn nhau.  Khi mỗi người biết nhường nhịn nhau và tha thứ cho nhau.  Thế giới hôm nay rất cần phép lạ này để thế giới được thanh bình hơn.  Để con người biết đối thoại với nhau trong chân thành, cởi mở và yêu thương.  Một thế giới mà con người biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhau, đó cũng là một thế giới hòa bình, một thế giới của bình an mà người người biết trao cho nhau niềm vui và hoan lạc hạnh phúc.  Một thế giới mà còn đầy những hiềm khích, nói xấu, bỏ vạ cáo gian thì làm sao có những giây phút bình yên.  Kẻ gieo gió đã gây tai họa tổn thất cho người khác và chính họ cũng sẽ không có được tâm hồn thanh thản bình an.

Một gia đình hạnh phúc là một gia đình biết lắng nghe nhau.  Vợ chồng lắng nghe nhau trong chân thành cởi mở.  Con cái vâng lời cha mẹ.  Kính yêu ông bà và cùng nhau kiến tạo một gia đình hạnh phúc yêu thương.  Một thôn ấp văn hóa là một thôn ấp người người biết nhường nhịn nhau.  Tối lửa tắt đèn có nhau trong sự chia cơm sẻ áo.  Không thể có một ấp văn hóa nếu hàng xóm láng giềng vẫn lời qua tiếng lại.  Chê bôi, dè bửu nhau.  Chỉ gây thêm hận thù.  Đánh mất truyền thống tổ tiên. “Thương người như thể thương thân.  Người trong một nước phải thương nhau cùng.”  Một xứ đạo hiệp nhất là một xứ đạo cảm thông tha thứ và sống chan hòa tình huynh đệ.  Một xứ đạo đúng nghĩa phải mô phỏng lại lối sống của cộng đoàn Giáo hội thời sơ khai mà sách tông đồ công vụ đã ghi lại.  “Ngày ngày họ chuyên chăm cầu nguyện, lắng nghe lời các tông đồ giảng dạy và gom góp của cải thành của chung.”  Một con người biết đóng góp và xây dựng giáo xứ trước tiên phải hỏi chính mình: “Tôi đã làm gì cho giáo xứ,” hay tôi chỉ là một lữ khách, sống bàng quan với công việc của giáo xứ.

Nét đẹp của Bài Phúc âm hôm nay không chỉ dừng lại ở việc con người biết lắng nghe và tôn trọng nhau mà còn quan yếu ở chỗ sự chia sẻ lương thực được trao tặng cho nhau.  Cho dù chỉ với phần lương thực quá ít ỏi của một đứa bé.  Thế nhưng, với 5 chiếc bánh và hai con cá được trao ban từ lòng quảng đại đã được Chúa nhân lên đến nỗi nuôi đủ 5 ngàn người ăn, không kể đàn bà và trẻ con.

Xin Chúa giúp chúng ta luôn quảng đại cho đi chính bản thân của mình, để trở nên nguồn sống cho tha nhân.  Xin giúp cho mỗi người chúng ta luôn biết cho đi chính sự sống mình để gieo mần sống đức tin cho các thế hệ mai sau.  Xin cho chúng ta luôn đơn sơ nhỏ bé ngõ hầu dễ dàng lắng nghe và tôn trọng lẫn nhau để xây dựng một thế giới văn mình tràn đầy tình thương.  Amen!

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền