THÁNH THỂ VÀ LÒNG MẾN: TRƯỞNG THÀNH

Có người băn khoăn khi đón nhận mầu nhiệm Thánh Thể này:

–  Tội như thế nào thì không được rước lễ?

Họ nhìn bí tích tình yêu với một chọn lựa nguyên tắc hơn là mức độ trưởng thành.  Sợ lề luật hơn là thúc đẩy bởi lòng mến.  Khi nói tội như thế nào, nghĩa là họ vẽ lằn mức.  Họ nhìn tội là những đơn vị đo lường.  Nếu bảo tội nặng bằng này, không được rước lễ.  Vậy tôi bớt đi một chút, có được rước lễ chăng?  Bớt bằng nào thì vừa đủ để rước lễ?

Vị đạo sĩ đưa khúc mía cho người học trò.  Khúc mía rất ngọt.  Người học trò đưa lên miệng lấy răng cắn vào vỏ mía.  Vừa cắn vào, đau buốt óc, anh không thể cắn nổi vì răng anh đau.  Càng cố cắn, càng khốn nạn cho mình.  Đây là cách hiểu lời Thánh Phaolô gởi giáo đoàn Côrintô: “Ai nấy hãy tự xét mình rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này.  Ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa là tự chuốc lấy án phạt cho mình” (1 Cor. 11: 22).  Khúc mía vẫn ngọt.  Anh từ chối khúc mía?  Hay khúc mía từ chối anh?  Vị đạo sĩ hỏi người học trò:

– Khúc mía có ra hình phạt cho con không?

Anh im lặng hỏi lòng mình:

– Có ai đem đĩa cơm thịt nướng rất thơm bón cho xác chết trong nhà quàng không?  Nhét đến đâu xác vẫn cứ nằm đó.  Mắt nhắm và môi cứ lạnh.  Càng nhét vào miệng, ta càng thấy rợn người.  Anh hiểu xác chết không có khả năng để ăn chứ không phải đĩa cơm từ chối.  Tội làm linh hồn tôi chết, nó không còn khả năng thích hợp đón nhận sự thánh thiện.  Bản chất của bình an không đi với gian dối. Niềm vui không đi với lỗi phạm.  “Anh em không thể vừa uống chén của Chúa và chén của ma quỷ được” (1 Cor. 10:21).

Giáo lý trả lời, có tội trọng thì không được rước lễ.

Dễ hiểu.  Vấn đề là:

Thánh Phaolô viết cho giáo đoàn Côrintô: “Khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con.  Nhưng khi tôi đã thành người lớn, thì tôi loại bỏ tất cả những gì là trẻ con.” (1 Cor. 13:11).  Giả sử bạn nghe tiếng nhỏ to: “Bận rộn thế này mà ngày mai lại phải vác mặt đến nhà ông ấy.” Họ không muốn nhưng vì lý do xã giao phải đến.  Rồi ngày mai người đó phải đến nhà bạn.  Rồi lại cũng xã giao cười cười, nói nói, nhưng lòng dạ chán lắm.  Bạn có vui trong cuộc gặp gỡ không?

Đừng hỏi có ăn được khúc mía không.  Mía bao giờ cũng ngọt, cũng thơm ngon.  Tùy khả năng của mình.

Lạy Chúa,

12Có tình yêu thì Thánh Thể mới là hoa trái.  Và hoa trái của Thánh Thể là tình yêu.

Có những thánh lễ, có những bí tích tình yêu như thế mà sao tâm hồn người tham dự thì như có nỗi chán chường.  Trong ngôn ngữ, chúng con diễn tả là “phải” đi lễ.  Trong khi các tín hữu sơ khai thì diễn tả “được” tham dự.  Đối với thánh lễ lúc ban đầu, sách Tông Đồ Công Vụ tường thuật là họ tham dự với lòng “vui vẻ”.  Hôm nay, nhiều khi chúng con tham dự với lòng nặng nề.  Khi chúng con nói “phải” đi lễ chứ không nói “được” là tâm hồn chúng con không nặng nề đó sao.  Nếu con không tha thiết với Thánh Thể thì con rước Thánh Thể để làm gì?

Lm Nguyễn Tầm Thường, S.J – trích trong “Thánh Thể –  Đường Đi Một Mình”

NÀY LÀ MÁU TA

Báo Thanh niên ra ngày thứ Hai 19-6 vừa qua đã đăng một bản tin nhỏ nói về “nhà vô địch” hiến máu nhân đạo. Ðó là anh Nguyễn ngọc Tú, ở phường 11, Quận 10, thành phố Hồ chí Minh. Từ 1994 đến nay, anh Tú đã hiến máu nhân đạo 35 lượt. Anh cho biết sẽ tiếp tục công việc tốt đẹp này.

Máu cần thiết cho sự sống. Thiếu máu nhiều bệnh nhân sẽ khó sống. Hiến máu đã cứu được nhiều người thoát chết. Hiến máu là tặng ban sự sống. Ðó là hình ảnh cuộc hiến mình của Ðức Kitô trên thập giá. Trong bữa Tiệc ly, Ðức Kitô cho biết Người sẽ đổ máu ra để cứu thế giới khi ZZNgười cầm chén rượu và nói : “Tất cả các con hãy cầm lấy mà uống. Này là chén Máu Thầy, Máu giao ước mới, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội”.

 Máu để cứu sống, máu để thiết lập giao ước, máu để tha tội, tất cả những ý nghĩa này đã được tiên báo trong Cựu Ước.

Máu để cứu sống được diễn tả bằng hình ảnh con Chiên Vượt qua. Ðể cứu dân Do thái ra khỏi ách nô lệ Ai cập, Chúa truyền cho người Do thái giết một con chiên còn trong sạch, lấy máu bôi lên cửa. Ðêm hôm ấy, thiên thần Chúa đến trừng phạt người Ai cập. Nhà nào có máu chiên bôi trên cửa sẽ được cứu thoát. Ðể tưởng niệm việc được cứu sống và được giải thoát khỏi ách nô lệ Ai cập, từ đó, hằng năm vào đúng ngày ấy, người Do thái vẫn giữ tập tục giết chiên mừng lễ. Lễ đó gọi là lễ Vượt qua. Con chiên bị giết gọi là con chiên Vượt qua. Khi hiến mình đúng vào dịp lễ Vượt qua, Ðức Giê-su trở thành Chiên Vượt qua mới. Máu Người đổ ra cứu linh hồn ta khỏi nô lệ tội lỗi và khỏi chết. Các thánh Giáo phụ cắt nghĩa rằng : Miệng ta là cửa linh hồn. Người rước Mình Máu Thánh Chúa vào miệng cũng như bôi máu chiên lên cửa nhà, sẽ được cứu sống và được giải thoát khỏi nô lệ tội lỗi.

Máu giao ước được diễn tả qua nghi lễ ông Mô-sê cử hành dưới chân núi Si-nai. Bài đọc thứ nhất hôm nay thuật lại : “Ông Mô-sê sai các thanh niên trong dân ít-ra-en tiến dâng những lễ toàn thiêu, và ngả bò tơ làm lễ hiệp thông tế Chúa. Ông lấy một nửa phần máu, đổ vào những cái chậu, còn nửa kia thì rảy lên bàn thờ. Ông lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân nghe. Họ thưa : Tất cả những gì Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và sẽ tuân theo. Bấy giờ, ông Mô-sê lấy máu rảy trên dân và nói : Ðây là máu giao ước Chúa đã lập với anh em”. Ðó là giao ước cũ hay là Cựu ước.

Tại Việt nam cũng như tại các nước á đông có tục “uống máu ăn thề”. Khi muốn giao kết với nhau, mỗi người lấy một chút máu của mình hoà chung vào một chén rượu. Sau đó mọi người chia nhau cạn chén. Việc uống máu ăn thề nói lên sự đồng tâm nhất trí. Những người cùng uống chung chén rượu pha máu trở nên ruột thịt với nhau, cùng sống cùng chết với nhau. Ðức Giê-su đổ máu ra để lập một giao ước mới giữa loài người với Thiên chúa. Máu Ðức Giê-su giao hoà con người với Thiên chúa và con người với nhau. Máu giao ước đó làm cho con người trở thành con cái ruột thịt của Thiên chúa và trở nên anh em ruột thịt với nhau. Ðó là Máu Giao ước.

Máu để tha tội được dùng nhiều trong Cựu ước. Khi dâng lễ đền tội, người ta cũng xả thịt một con vật dâng cho Thiên chúa. Thày cả lấy máu con vật vảy lên tội nhân để ban ơn tha tội. Khi ta rước Mình Máu Thánh Chúa, ta cũng được tha tội vì Máu Chúa không vảy lên thân xác, nhưng vảy vào linh hồn ta.

Những ý nghĩa mà máu súc vật trong Cựu ước tượng trưng nay được hoàn thành viên mãn trong Máu Ðức Kitô. Nhân loại đang rên xiết trong ách nô lệ đã được Người giải thoát. Nhân loại đang xa lìa Thiên chúa và bất hoà với nhau đã được Người giao hoà thành một gia đình thương yêu thuận hoà, sống chết có nhau. Nhân loại đang sống trong tội lỗi được Máu Người tẩy sạch mọi vết nhơ.

Chúng ta được ân phúc dường ấy là nhờ Người đã tự hiến mạng sống vì ta. Dòng Máu Người đổ ra đến đâu đem sự sống đến đấy. Dòng Máu Người lan tới đâu thì ban ơn tha tội đến đấy.

Mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa, ta hãy cảm tạ tình yêu vô biên của Người đã hiến mình, đổ máu để cứu chuộc ta. Người đã gánh lấy tội lỗi của ta để ta được trong sạch. Người đã nhận lấy thân phận nô lệ cho ta được tự do. Người đã chịu chết để cho ta được sống.

Mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa, ta hãy đáp lại tình yêu của Người bằng cách siêng năng đến lãnh nhận và siêng năng đến thờ lạy Ðức Giê-su ngự trong phép Thánh Thể.

Mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa, ta hãy noi gương Người, biết quên mình, hiến thân phục vụ đồng loại. Người đã trở thành tấm bánh bị bẻ ra để hiến tặng cho ta. Ta cũng phải hiến đời mình như tấm bánh bẻ ra để hiến tặng cho anh em.

TGM. Ngô Quang Kiệt

LỄ KÍNH CÁC TỔNG LÃNH THIÊN THẦN

Hôm nay toàn thể Giáo Hội mừng lễ kính các tổng lãnh thiên thần Micaen, Gabrien và Raphaen. Xin được gợi ý suy niệm ba điểm sau đây: Sự hiện diện của các thiên thần; sứ mạng của các ngài; nhiệm vụ của chúng ta đối với các thiên thần.
  1. Sự hiện diện của các thiên thần

zzLà người Kitô hữu, chúng ta xác tín về sự hiện diện của các thiên thần.  Có vô số các thiên thần. Có các tổng lãnh thiên thần.  Có các thiên thần bản mệnh. Đó là chân lý đức tin.  Sách Giáo lý Giáo Hội Công Giáo số 328 dạy rằng: “Sự hiện hữu của các hữu thể thiêng liêng, không có thân xác mà Thánh Kinh thường gọi là các thiên thần, là một chân lý đức tin.  Chứng từ của Thánh Kinh cũng rõ ràng như toàn thể Thánh Truyền.”

Thật vậy, từ Cựu Ước sang Tân Ước, nơi này nơi khác làm chứng cho chúng ta về sự hiện diện của các Thiên Thần.  Xin được đơn cử một vài dẫn chứng: Thánh vịnh 103 diễn tả:

“Chúng tụng Chúa đi, hỡi muôn vì thiên sứ
Bậc anh hùng dũng mãnh thực hiện lời Người
Luôn sẵn sáng phụng lệnh” (Tv 103,20)

Các Thiên Thần hát mừng Chúa trong đêm Giáng Sinh: “Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.” (Lc 2,13-14)

Trong ba năm giảng đạo, Chúa Giêsu đã nhiều lần nhắc đến các Thiên Thần.  Ngài cho biết rằng, dù là kẻ bé mọn thì cũng có các Thiên Thần đồng hành, gìn giữ: “Anh em coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này; quả thật, Thầy nói cho anh em biết: các Thiên Thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 18,10).  Ngài cho biết thêm: trong cuộc phán xét chung, khi Con Người đến trong vinh quang, có các thiên thần theo hầu (x. Mt 25,31).  Và Sau khi sống lại, con người giống như các thiên thần (x.Lc 20,36).  Và trong đoạn tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã nói với ông Nathanaen rằng: “Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người (Ga 1,51).

Thỉnh thoảng các tông đồ cũng nhắc tới sự hiện diện của các thiên thần.  Thánh Phêrô nhắc đến các thiên thần dữ: “Thiên Chúa sẽ không dung thứ cho các thiên thần có tội, nhưng đã đẩy họ vào hố địa ngục tối tăm giữ họ để chờ chuộc phán xét” (2 Pr 2,4).  Trong bài đọc thứ nhất, sách Khải huyền nói đến sự giao chiến giữa thiên thần Micaen với Con Mãng Xà (Kh 12,17).  Thánh Phaolô nhắc đến tên tổng lãnh thiên thần, Ngài nói: “Vì khi hiệu lệnh ban ra, khi tiếng tổng lãnh thiên thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và những người đã chết trong Đức Ki-tô sẽ sống lại trước tiên” (1Tx 4,16).

Như vậy, niềm tin vào sự hiện diện của các thiên thần là niềm tin chắc chắn, vì có nền tảng từ Thánh Kinh và Thánh Truyền.

  1. Sứ mệnh của các thiên thần
    “Ngay từ khi Chúa sáng tạo trời đất, các thiên thần luôn có mặt, và suốt lịch sử cứu độ, các ngài đã hoặc xa hoặc gần loan báo ơn cứu độ và phục vụ việc thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa” (x.Giáo lý HTCG số 332).

Thánh Augustinô nói rằng: “Tên các thiên thần là danh xưng chỉ các chức phận chứ không chỉ bản tính.”  Thường chúng ta nghe kể đến ba Tổng lãnh thiên thần mà Giáo Hội mừng kính hôm nay: Micaen, Gabrien và Raphaen.  Tổng lãnh thiên thần Micaen với danh hiệu là “Ai bằng Thiên Chúa.” Tổng lãnh Thiên thần Gabrien với danh hiệu là “Sức mạnh của Thiên Chúa.”  Tổng lãnh thiên thần Raphaen với danh hiệu là “Linh dược của Thiên Chúa.”  Ngoài ra, còn có vô số các thiên thần: “Các Ngài đã đóng lại vườn địa đàng, bảo vệ ông Lót, cứu chữa Agar và con bà này, ngăn lại bàn tay của ông Abraham, Lề Luật cũng đã được thông ban nhờ thừa tác vụ của các ngài.  Các ngài đã dẫn đưa Dân Thiên Chúa.  Các ngài đã loan báo những sự sinh con, và những ơn gọi, đã trợ tá cho các tiên tri” (x. Giáo lý GHCG số 332).

Sách Isaia diễn tả các thiên thần Xê-ra-phim đứng chầu: “Phía bên trên Người, có các thần Xê-ra-phim đứng chầu.  Mỗi vị có sáu cánh: hai cánh để che mặt, hai cánh để che chân và hai cánh để bay” (Is 6,2).

Các thiên thần luôn luôn chiêm ngưỡng thánh nhan của Cha Thầy trên trời (x. Mt 18,10).  Các thiên thần là những người làm theo lời Thiên Chúa, luôn chú ý nghe lời Ngài, sẵn sàng để chờ lệnh của Thiên Chúa.

Các thiên thần là những sứ giả của Thiên Chúa.  Thiên thần Gabrien truyền tin cho Đức Mẹ (x.Lc 1,26-38) và ông Giacaria (Lc 1,5-25).  Thiên thần Raphaen được sai đến với ông Tôbia để thi hành nhiệm vụ: dẫn đường, cưới vợ, chữa mắt và dâng những lời cầu nguyện của ông Tôbia và cô Sara lên trước nhan Thiên Chúa (x. Tb 12,12).  Thiên Thần Micaen giao chiến với con Mãng Xà.

Các thiên thần có sứ mạng bảo vệ Chúa Giêsu và thờ lạy Ngài.  Từ khi sinh ra ở hang đá Bêlem, các thiên thần hát lời ngợi khen “Vinh danh Thiên Chúa trên trời” (Lc 2,14).  Các thiên thần đã bảo vệ tuổi thơ của Chúa Giêsu, phục vụ Ngài trong hoang địa, an ủi Ngài trong lúc hấp hối.  Cũng chính các thiên thần đã “loan báo tin mừng” (Lc 2,10) khi đưa tin mừng của việc Nhập thể và của sự Sống lại của Chúa Kitô.  Và cũng các thiên thần sẽ loan báo cuộc trở lại của Chúa Kitô, phục vụ cho cuộc thẩm phán (x. Giáo lý HTCG số 333).

Các thiên thần không những có sứ mạng phục vụ Chúa mà còn có sứ mạng phù hộ loài người. “Từ tuổi thơ cho đến chết, cuộc sống con người được các ngài bảo vệ và được các ngài cầu bầu cho.  Mỗi tín hữu có bên cạnh mình một thiên thần như vị bảo vệ và như mục tử để hướng dẫn mình tới sự sống” (x. Giáo lý HTCG số 336).  Các Giáo phụ không ngừng lặp lại rằng: “Thiên Chúa yêu thương chúng ta dường nào, Ngài sai các thiên thần là một loài cao cả hơn chúng ta, để giúp đỡ chúng ta trên đường lữ hành.  Các thiên thần biểu lộ lòng thương yêu săn sóc của người Cha đối với từng người chúng ta”.

Nói tóm lại, sứ mệnh của các thiên thần là phụng thờ Thiên Chúa và phù hộ loài người.

  1. Nhiệm vụ của chúng ta đối với các thiên thần

Từ nhỏ tôi rất ấn tượng về bức tranh “chết lành.”  Trong bức tranh đó: zzKẻ hấp hối là một người chồng đang âu yếm nhìn vào thánh giá Chúa.  Có linh mục đang ban các bí tích sau hết.  Có vợ con bên cạnh.  Có Chúa ngự trên cao đang chờ đón.  Đặc biệt, có các thiên thần.  Một thiên thần đang ở bên cạnh giường để an ủi.  Một thiên thần đang xua đuổi ma quỷ.  Còn bức tranh “chết dữ”: Kẻ hấp hối cũng là một người chồng.  Ông không nhìn thánh giá, không chịu lắng nghe linh mục khuyên bảo, không để ý đến người vợ yêu quý của mình.  Ông chỉ nhìn vào bức hình của một cô gái đang còn trong tay ma quỷ  (có lẽ là người tình).  Vợ khóc lóc.  Ma quỷ vây xung quanh giường, rắn rết, lửa hoả ngục… Còn thiên thần đang khóc và bỏ đi.

Sứ điệp của hai bức tranh đó mời gọi chúng ta: Hãy nghe theo sự hướng dẫn, thúc giục của các thiên thần.  Hãy liên kết với các thiên thần, nhất là tổng lãnh thiên thần Micaen để đẩy lùi quỹ dữ dưới mọi hình thức đang vây bủa chúng ta: Vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé (x.1Pr 5,8).  Hãy xin thiên thần Gabrien giúp chúng ta biết mau mắn thưa xin vâng những sứ điệp mà Thiên Chúa muốn gửi đến trong cuộc sống hằng ngày.  Hãy xin thiên thần Raphaen đồng hành với chúng ta, nhắc nhở chúng ta làm nhiều việc thiện.  Xin Ngài dâng lên trước toà Chúa tất cả các việc lành chúng ta làm.

Ước gì, chúng ta luôn biết cộng tác với các thiên thần sống lành để được chết lành, đừng để thiên thần phải khóc khi nhìn thấy chúng ta sa hoả ngục như trong bức tranh “chết dữ” kia. Amen

Lm. Anthony Trung Thành

 

THIÊN CHÚA MUỐN TÔI LÀM GÌ BÂY GIỜ?

zzAi muốn bắt chước Ðức Mẹ luôn luôn tìm Thánh Ý Chúa và “xin vâng”. “Hãy thành sự cho tôi theo ý Ngài”.

Khi Chúa Kitô sống trong tôi, tôi cũng tìm lương thực nội tâm trong Thánh Ý Thiên Chúa.  Sống theo Thánh Ý Chúa mang ích lợi cho tôi bởi vì Ngài che chở tôi và Ngài muốn làm vinh hiển cho tôi.  Nhưng theo vết chân Chúa Kitô tôi không tìm Thánh Ý Chúa vì “ích lợi” này mà vì tôi yêu thương Ngài.

Ðây là một trái tim mới, là một con người mới trong tôi.  Vì thương yêu Thiên Chúa, thánh I-Nhã muốn biết Thiên Chúa kêu mời ngài làm gì.  Từ từ qua kinh nghiệm nhiều năm trời tìm Thánh Ý Chúa, thánh I-Nhã được Chúa ban một khả năng đặc biệt để tìm kiếm Thánh Ý Chúa.

Ðây cũng là khả năng đặc biệt Thiên Chúa ban cho nhà Dòng thánh I-Nhã sáng lập và cho những ai muốn kết thân với Chúa Kitô dưới sự hướng dẫn của ngài: “Luôn luôn phục vụ Thiên Chúa vì tình yêu”.

Cách Tìm Thánh Ý Chúa

Chúng ta không có thể tìm Thánh Ý Thiên Chúa cách trực tiếp, ngay trong trái tim Ngài bởi vì trong đời này chẳng ai có thể gặp gỡ Thiên Chúa cách trực tiếp.

Chúng ta cũng không có thể tìm hiểu Thánh Ý Chúa như một kế hoạch Ngài soạn thảo sẵn và dành cho chúng ta.  Thánh Ý Chúa cũng không phải là một chương trình gồm có những biến cố sẽ xảy ra cho mình và những hành động Ngài mong muốn chúng ta thực hiện.

Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta có quyền mở trái tim mình cho những ý muốn, niềm hy vọng và tình yêu chúng ta muốn lựa chọn.  Chính Ngài là Ðấng tôn trọng quyền tự do đó.

Chúng ta tìm Thánh Ý Chúa trong các kinh nghiệm sống.  Khi giữa Thiên Chúa và chúng ta có một tình thân mật, một mối liên hệ sống động, chúng ta sẽ nhìn nhận những tác động vui buồn nội tâm.  Qua những tác động nội tâm đó chúng ta sẽ nhận ra Thiên Chúa mong chúng ta làm gì, làm như thế nào.

Không biết Thiên Chúa dành cho chúng ta những gì trong tương lai, nhưng mỗi lần chúng ta tuân theo các tác động của Chúa có một kết quả . Nhìn lại các năm trời vừa qua chúng ta sẽ khám phá ra một đường hướng, một kế hoạch kỳ lạ, đầy khôn ngoan, lòng nhân từ và vinh quang.  Chúng ta tin rằng đó là kế hoạch Thiên Chúa dành cho chúng ta.

Chúng ta tìm những “tác động” nội tâm.  Có thể là tác động vui, cũng có thể là tác động buồn.  Khi chúng ta bước theo Thánh Ý Chúa thường Ngài ban cho chúng ta bình an và niềm vui nội tâm.  Khi chúng ta theo ý mình và từ chối tiếng kêu mời của Thiên Chúa, chúng ta cảm thấy u buồn như thanh niên giàu có không dám “nghe” tiếng kêu mời của Chúa Kitô.

Tìm Thánh Ý Chúa là luôn luôn mở lòng cho Ngài, là sống trong tình thân mật với Ngài.  Như Ðức Mẹ, Ðức Mẹ chẳng biết Thiên Chúa dẫn Mẹ đi đến đâu.  Nhưng trong mỗi hoàn cảnh và biến cố, Ðức Mẹ lắng nghe và đón nhận ý muốn Thiên Chúa.  Ðức Mẹ giữ trong lòng các biến cố để tìm hiểu đường lối và Thánh Ý Chúa.

Chúng ta tìm Thánh Ý Chúa trong các liên hệ với anh em, trong cách chúng ta tiếp xúc với họ. Trong tình thân mật với Chúa chúng ta sẽ tìm cách phục vụ, cách tiếp xúc với họ theo Thánh Ý Ngài.

Những kẻ biết nhận ra Thánh Ý Chúa, như thánh Gioan, sẽ nhận ra Ngài trước.  Trong các ngã ba, trong các xung đột, lúc phải tìm một hướng đi, có kẻ nhận ra Thánh ý Chúa trước, giúp người khác cũng nhận ra Ý Ngài.

Xác Ðịnh Thánh Ý Chúa

Làm sao chúng ta có thể xác định chúng ta thực sự theo Thánh Ý Chúa chứ không phải theo ý mình?

Thiếu tình thân mật với Thiên Chúa chúng ta dễ suy luận và nhận định các vấn đề theo ý riêng, do quan niệm bản thân.  Tưởng rằng đang phục vụ Thiên Chúa thực sự chúng ta có thể âm mưu ích lợi và danh vọng riêng.

Khi gặp sóng gió và thử thách chúng ta mới có thể biết đường lối chúng ta đang theo và động lực đang thúc đẩy chúng ta là do tình yêu Thiên Chúa hay do tự ái riêng.

Khi gió thổi mạnh và nước tuôn đến chúng ta mới có thể biết ngôi nhà được xây dựng trên cát hay trên tảng đá.

Lúc thành công, mọi người đứng vững, hăng hái hoạt động.  Nhưng lúc gặp hiểu lầm, thất bại và bị sỉ nhục những kẻ muốn phục vụ một mình Thiên Chúa mới tiếp tục hoạt động và bình tĩnh dấn thân tiếp.

Chúa hỏi các môn đệ: “Bạn muốn gì?”

Phúc cho môn đệ có thể đáp trả lại: “Con mong muốn nhận biết Chúa Kitô, và sức mạnh phục sinh của Người, con mong muốn thông phần vào sự thương khó của Người và nên giống Người trong sự chết với niềm hy vọng con cũng sẽ được sống lại từ các kẻ chết”. (Phil 3:10-11)

Julian Elizalde, SJ
Trích báo Ðồng Hành

LIÊN ĐỚI

zzToàn cầu hóa đã giúp nhân loại phát triển tình liên đới.  Nhân loại trở nên một cộng đồng sinh mệnh.  Sự an nguy không còn của riêng ai mà là của tất cả mọi người.  Cứu người chính là cứu mình.  Vì một thảm họa nếu không sớm được ngăn chặn, sẽ mau chóng lan tràn khắp thế giới.  Liên đới đang trở thành đức tính không thể thiếu được trong đời sống hiện tại.  Nó không chỉ là một việc làm thiện nguyện mà còn là một nhiệm vụ cấp bách của mọi công dân trên hành tinh.  Biết sống liên đới, nhân loại đang đi vào con đường Phúc Âm.

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã nhiều lần nhắc đến tình liên đới.  Phải liên đới vì mọi người đều là anh em với nhau.  Phải liên đới vì đó là điều kiện vào Nước Trời.

Bài Phúc Âm hôm nay cho ta thấy điều đó.  Có lẽ khi đọc bài dụ ngôn này, có nhiều người bất mãn tự hỏi: “Ông nhà giàu đâu có tội gì mà phải xuống hỏa ngục.  Ông không gian tham, trộm cắp, bóc lột. Tiền của do công sức mồ hôi nước mắt ông làm ra, ông có quyền ăn xài chứ?  Giàu có đâu phải là tội?”

Vâng, giàu có đâu phải là một tội.  Tuần trước Chúa Giêsu đã cho ta thấy giá trị tích cực của tiền bạc khi dạy ta hãy dùng tiền của mua lấy bạn hữu để họ đưa ta vào cuộc sống vĩnh cửu.  Tiền bạc, nếu biết sử dụng, sẽ có giá trị tích cực.  Nhưng nếu không biết sử dụng, sẽ trở thành nguy cơ.

Nguy cơ thứ nhất: Tiền bạc có thể mê hoặc tâm hồn.

Khi đó tiền bạc sẽ trở thành sợi dây trói buộc.  Tâm hồn mê tiền bạc giống như con chim bị cột, không cất cánh bay cao, bay xa được.  Đó là trường hợp chàng thanh niên đạo đức trong Phúc Âm.  Anh đến hỏi Chúa Giêsu làm thế nào để được sống đời đời.  Anh muốn vươn lên, muốn tiến bộ trên đường đức hạnh.  Nhưng tiền bạc đã ngăn cản bước tiến của anh.  Chúa Giêsu cất tiếng gọi anh.  Nhưng tiền bạc đã trói buộc bước chân.  Và anh bỏ cuộc quay về.  Đành cam chịu với nếp sống tầm thường xưa cũ.

Nguy cơ thứ hai: Tiền bạc dễ làm cho trái tim thành xơ cứng, chai đá.

Người có nhiều tiền bạc dễ rơi vào tình trạng tự mãn.  Tự mãn với những gì mình có, người giàu sẽ không cần tới ai khác và vì thế sẽ không chú ý đến những người chung quanh.  Đó là trường hợp ông nhà giàu trong bài Phúc Âm hôm nay.  Ông có nhà cao cửa rộng, mặc toàn gấm vóc lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình.  Chỉ mải mê hưởng thụ, ông không có thời giờ nghĩ đến người khác.  Ladarô nằm thoi thóp bên cửa nhà mà ông không nhìn thấy.  Ladarô có rên rỉ vì đau đớn, đói khát ông cũng không nghe thấy.  Tự mãn đã khiến trái tim ông khép chặt lại, biến ông thành vô cảm trước những đau khổ của tha nhân.  Những mẩu bánh dư thừa, ông đâu có tiếc gì.  Thế nhưng ông chẳng có thời giờ nghĩ đến Ladarô.  Và người ta vất những mẩu bánh dư thừa vào thùng rác trong khi Ladarô mơ ước được những mẩu bánh dư ăn cho đỡ đói.  Tự mãn đã biến ông nhà giàu thành ích kỷ, thiếu tình liên đới.

Nguy cơ lớn nhất mà tiền bạc có thể dẫn tới: Đó là làm cho ta mất hạnh phúc đời đời.

Hạnh phúc trên Nước Trời là một cuộc sống hiệp thông trong tình yêu của Chúa Ba Ngôi.  Tình yêu của Chúa Ba Ngôi là một tình yêu dâng hiến trọn vẹn.  Cho đi tất cả để nhận lãnh được tất cả.  Những người ích kỷ không biết cho đi, không biết chia sẻ, không thể tham dự vào sự sống hiệp thông này.  Vì thế, người ích kỷ là người tự chọn con đường xuống hỏa ngục.  Kẻ khép cửa lòng trước nỗi khốn cùng của tha nhân, là người tự đào huyệt chôn mình.  Người sống thiếu tình liên đới là người tự trục xuất mình ra khỏi Nước Trời.

Bây giờ thì chúng ta hiểu tại sao ông nhà giàu lại bị đày đọa trong hỏa ngục.  Ông nhà giàu không có tội gì.  Ông chỉ có tội thiếu sót: Thiếu sót tình liên đới, thiếu sót sự chia sẻ.  Trước đây ông đóng kín cửa để tự ngăn mình với Ladarô.  Nay cánh cửa đó biến thành vực sâu thăm thẳm chia cắt hai người. Trước kia ông chỉ cần xoay nắm mở cửa là gặp được Ladarô.  Nay ông không tài nào vượt qua được vực thẳm ngăn cách.  Trước kia ông nghĩ sẽ không bao giờ cần tới Ladarô.  Nay ông biết mình cần Ladarô cho mình một giọt nước thì đã trễ.  Tình liên đới nếu không tạo lập ở thế gian, khi chết rồi sẽ không còn cơ hội nữa.

Qua dụ ngôn này, Chúa muốn dạy ta biết: Ta sống trong cuộc đời không đơn lẻ, nhưng sống với người khác.  Người ta không phải là những đường thẳng song song không bao giờ gặp nhau.  Trái lại vận mệnh chúng ta đan xen vào nhau.  Vì thế trách nhiệm liên đới là không thể thiếu được.  Do đó cần phải quan tâm đến những người chung quanh mình.  Sự quan tâm này không phải tự nhiên có được, nhưng phải tập luyện hằng ngày.  Phải rèn luyện một trái tim nhạy bén biết cảm thương những cảnh ngộ bất hạnh.  Phải rèn luyện một trái tim quảng đại sẵn sàng chia sẻ với những anh em thiếu thốn.

Lạy Chúa, xin mở mắt con để con nhìn thấy Chúa trong những anh em sống chung quanh con.  Xin mở tai con để con nghe được tiếng họ đang than van đau khổ.  Xin mở trái tim con để con biết chia sẻ với mọi người những niềm vui, nỗi buồn của họ. Amen.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

 

TIỂU SỬ CHA PADRE PIO, NGƯỜI Ý (1887-1968)

I. Cậu Phanxicô con ông bà Horace làm nghề nông nghèo khó, sinh tại Pietrelcina, tỉnh Benevento, miền nam nước Ý, ngày 25.05.1887. Ông bà có 8 con, chết 3 còn 5 (2 trai 3 gái).

Vì không muốn Phanxicô vất vả nơi đồng áng, ông Horace đã sang New York, Hoa kỳ làm việc để kiếm tiền cho con đi học, đi tu.

zzNgày lễ Ba Vua năm 1903, Cậu vào Nhà Tập Dòng Phanxicô nhánh Cappucins tại Morcone, nhận tên Dòng là Piô.  Nhánh Capucins là nhánh không ngặt cũng không rộng.  Nhánh ôn hòa này cũng có Bề trên Cả như hai nhánh kia.  Nhánh Capuchins có khác chút ít bên ngoài như cho tu sĩ để râu và mặc áo dòng màu đen.  (Dương Liên Mỹ, ofm, Padre Pio, Sài gòn 1968, tr 16-19).

Trong thời gian Tập, vì hãm mình quá, 3 tuần không ăn uống gì, nhà Dòng tưởng thầy sẽ chết, nên cho về nhà ba má bổ dưỡng, không bao lâu thầy phục sức.  Trở về nhà dòng học thần học, nhiều lần anh em gặp thầy Pio quì gối để học bài.

Năm 15 tuổi vào Dòng Capucins.  Ngày 10.08.1910, (23 tuổi) thầy Piô được thụ phong linh mục trong nhà nguyện của nhà thờ chính tòa Benevento.  Bảy ngày sau khi chịu chức linh mục, cha Piô được in 5 Dấu Thánh ẩn kín (chưa xuất hiện).

Tháng 9 năm 1916, Cha Pio được thuyên chuyển về Tu Viện Ðức Mẹ Ban Ơn (Santa Maria delle grazie), ở San Giovanni Rotondo, trong giáo phận Foggia.

Năm 31 tuổi (ngày 20.09.1918), sau khi Rước Mình Máu Thánh Chúa, các dấu thánh xuất hiện.  Cha đã chịu đau đớn mang 5 dấu thánh trong 50 năm.  Sau khi cha tắt thở, các dấu thánh này liền biến mất, không để lại vết tích nào.

II. Tôn sùng Đức Mẹ: Lần hạt suốt ngày:

Cha Piô rất sùng kính Đức Mẹ và ngài thường lần chuỗi hàng ngày.
Trong tu viện, một thầy hỏi ngài:
– Cha lần bao nhiêu chuỗi kinh Mân côi mỗi ngày?
– Khoảng 40.
– 40 lần 50 mươi, nghĩa là 2 ngàn kinh Kính Mừng mỗi ngày sao?
– Sao?  Chuỗi Mân côi chỉ có 5 chục thôi sao?  Một chuỗi Mân côi đầy đủ phải gồm 150 kinh Kính mừng và 15 kinh Lạy Cha.

Có lần ngài nói với một người con thiêng liêng:

“Luôn luôn nắm chặt lấy vũ khí của Đức Mẹ trong tay, nó sẽ giúp con chiến thắng kẻ thù.”
– Vũ khí đó là gì?
– Nó trên áo dòng của cha.
– Con đâu có thấy vũ khí nào đâu?  Con chỉ thấy xâu chuỗi Mân côi.
– Đó không phải là vũ khí sao? (Cuộc đời cha Piô, Người Tín hữu xb, 2000, tr 267)

Khi được hỏi di sản ngài muốn trối lại cho các con thiêng liêng của ngài là gì, Cha Thánh Piô đã trả lời:

“Lần chuỗi Mân Côi!”  Ngài cho rằng việc Đức Mẹ hiện ra ở mọi nơi kêu mời người ta đọc kinh Mân Côi là điều chắc chắn khiến ta phải chuyên cần đọc Kinh Mân Côi mỗi ngày.

Ngài còn nói: “Còn kinh nguyện nào đẹp hơn Kinh Mân Côi, kinh chính Mẹ dạy ta.  Hãy luôn lần chuỗi Mân Côi.”

Hai ngày trước khi qua đời ngài còn nói: “Hãy yêu Đức Mẹ và làm cho Đức Mẹ được yêu.  Hãy lần chuỗi Mân Côi và lần luôn luôn và lần càng nhiều càng tốt.”

Một lần Đức Mẹ cũng nói với thánh nữ Mectinđa rằng: “Khi sống con đọc bao nhiêu kinh Kính Mừng, khi chết con được bấy nhiêu ơn”.

Nhờ chuyên chăm sốt sắng lần chuỗi Mân Côi, Cha Thánh Piô đã kéo được biết bao ơn xuống cho bản thân ngài và cho những ai đến với ngài.

Hãm mình cao độ: Năm 1925, cha bị bệnh sa ruột, thường làm cha đau buốt, khi bước lên bàn thờ cha phải gắng hết sức để khỏi ngất đi, ngã xuống đất.  Bác sĩ Festa đã quyết định mổ ngay cho ngài tại Tu viện, vì trong thời gian này Tòa thánh hiểu lầm những báo cáo về ngài, nên  không cho ngài ra ngoài, không được liên lạc với người ngoài và không cho ai coi 5 dấu, cũng không được cử hành thánh lễ nơi công cộng.

Bác sĩ muốn đánh thuốc mê cho khỏi đau, nhưng ngài không đồng ý, sợ ông ta lén coi 5 dấu thánh. Cha bằng lòng mổ sống.  Cuộc mổ kéo dài 1 giờ 45 phút, mà cha không kêu ca.  Tới lúc gần xong, cha mới tràn nuớc mắt và kêu: “Xin Chúa Giêsu tha cho con, vì con không biết chịu khó như con phải chịu.”  Sau đó cha ngất đi vì kiệt sức.

Năm 1935, nhân dịp mừng kỷ niệm 25 năm thụ phong linh mục, Đức Piô 11 cho cha được trở lại giúp các linh hồn.

Cha thức dậy từ 3 giờ sáng để dọn mình dâng lễ tại phòng riêng để khỏi phiền anh em, Ngài dâng lễ cách sốt sắng như diễn lại cuộc tử nạn của Chúa trên núi Calvê xưa.  Thánh Lễ kéo dài từ 1g30 phút tới 2 giờ.  Có khi Thánh Lễ kéo dài đến 4 tiếng vì xuất thần, Sau lễ là giải tội từ sáng đến tối.

Ăn uống không bao nhiêu.  Người ta nói, ngài ăn không hơn một em bé đang trong nôi.

III. Giải tội cho người thập phương:

Ngài giải tội tùy theo tình trạng mỗi tâm hồn, chỉ cốt sao cho họ thành thực, được ơn tha thứ và cải thiện đời sống, nên nhiều khi ngài có những cư xử khác thường:

1/ Một người viết báo ở Rôma kể: Trước khi cha Piô ban phép giải tội, ngài nói với tôi cách gắt gỏng là hãy cẩn thận với vài khuyết điểm.  Lời ngài nói như xuyên qua linh hồn tôi.  Trong một dịp khác, ngài vạch rõ những khuyết điểm ăn sâu trong lòng, và tôi dần dà cải đổi.  Lần thứ ba, ngài hỏi: từ bấy lâu nay có xưng tội không?  Tôi mỉm cười và trả lời tự tin: Ngày nào con cũng dự lễ và rước lễ mà. Cha Piô nhăn mặt và gay gắt nói:

– Con đến đây để xưng tội chứ không để ca ngợi mình.  Thế con có nóng giận với các em gái con không?
– Dạ có.
– Đó là điều con phải xưng.  Và đừng làm thế nữa.

2/ Một bà kia xưng tội phạm đức trong sạch.  Bà biết rõ khi trở về bà sẽ bị cám dỗ và sa ngã lại.  Cha Piô từ chối ban phép giải tội.  Lần sau bà đến nữa, ngài cũng không giải tội.  Lần thứ 5, khi xếp hàng, bà nghĩ: Tôi thà chết không phạm tội này nữa.  Khi bà xưng, cha Piô lắng nghe, và ngài đã ban phép giải tội cho bà.  Ngài biết được nội tâm người ta.

3/ Một bà khác xưng rằng:
– Con đọc sách báo xấu.
– Con có xưng tội này rồi phải không?
– Dạ phải.
– Cha giải tội nói gì với con?
– Cha giải tội bảo con không được phạm tội này nữa.
– Không nói một lời, cha Piô đóng sầm cửa sổ, quay sang giải tội cho người bên kia.  Người phụ nữ ấy khóc lóc và đi xưng tội với một linh mục khác, sau đó rước lễ từ tay cha Piô.  Trước khi ra về bà khóc lóc, nói: “Tôi muốn đốt hết tất cả những sách báo xấu xa trên toàn thế giới.”
Cha Piô thật hài lòng, ngài muốn tội nhân thay đổi khi ra khỏi tòa giải tội.

4/ Ngày kia, có một anh thanh niên đến xin xưng tội với cha Piô.  Ngài nhìn anh với đôi mắt nghiêm nghị, ngài la lên “đồ con heo!”  Mọi người quay về phía anh, thật nhục nhã, anh ta vội vã rời phòng giải tội.  Một linh mục kinh ngạc, đăm đăm nhìn cha, nói:
– Sao cha dùng những lời lẽ thậm tệ đến thế?

– Cha Piô nhún vai: nếu tôi không la vào mặt hắn, hắn sẽ phải án phạt đời đời.  Hắn sống với vợ lẽ, và đây là điều ghê tởm trước mặt Thiên Chúa.  Sự nhục nhã đó có lợi cho hắn, vài ngày nữa hắn sẽ trở lại. Nếu tôi ban phép giải tội cho hắn bây giờ, hắn sẽ không sám hối và không sửa đổi.

Anh ta đã không thể ngủ nghỉ, ăn uống khi nghĩ tới mối liên hệ bất chính.  Anh ta đã trở lại, quì gối xuống ăn năn khóc lóc trước mặt cha Piô.  Ngài cúi xuống khoác tay lên người anh, ngài ôn tồn nói:

– Con thấy không, bây giờ Chúa Cứu Thế rất hài lòng về con.

5/ Một hôm, ngài đang nói chuyện với một bà có ông chồng vừa qua đời.  Trước đây chồng bà đã bỏ bà và 2 con nhỏ để sống với một phụ nữ khác trong 3 năm.  Bất thình lình ông bị bệnh ung thư.  Trước khi ông chết, bà vợ này khẩn khoản xin ông lãnh nhận các Bí tích cuối cùng.  Ông nhận lời.

Người đàn bà nhỏ nhắn và đơn sơ này đưa tay sửa lại chiếc khăn vuông trên đầu và hỏi cha Piô:
– Thưa cha, linh hồn chồng con bây giờ ở đâu?
– Cha Piô nhìn bà ta với đôi mắt lo ngại.  Hình như ngài cảm được nỗi buồn phiền trong tâm hồn của bà, Ngài nói khẽ:
– Linh hồn chồng bà đã bị án phạt đời đời.

Người đàn bà lắc đầu khổ sở, nước mắt tuôn tràn.

Cha Piô nói tiếp cách buồn bã:
– Khi nhận các Bí tích sau cùng, ông ta đã giấu nhiều tội.  Ông không ăn ăn hối hận, cũng không quyết tâm chừa cải.  Ông vẫn là tội nhân đối với lòng thương xót Chúa, vì ông muốn hưởng hết lợi lộc của cõi đời này, rồi sau đó mới quay về ăn năn, thống hối…, nhưng không còn thì giờ cho ông nữa!

Trước khi bà ra về, ngài hết sức an ủi bà, nhưng suốt ngày những điều ấy chờn vờn trong tâm trí ngài, vì một người đã bị hư mất.

(Cuộc đời Cha Piô, Người Tín Hữu xb, 2000, trang 188).

Năm 1956, Cha khánh thành một Trung Tâm Xã Hội có tên gọi là “Nhà an ủi kẻ đau khổ,” và nay là bệnh viện lớn và tối tân, thuộc quyền Tòa Thánh.

Cha Pio qua đời lúc 2:30 sáng ngày 23.09.1968.

Tháng 11 năm sau, tức năm 1969, Tổng Cáo Thỉnh Viên của Dòng Cappucin xin phép làm án phong Chân Phước và Hiển Thánh cho Cha Pio.  Giai đoạn làm án phong thánh cho cha ở cấp giáo phận, đã được hoàn tất năm 1990 và tất cả các hồ sơ được chuyển đến Bộ Phong Thánh Roma.  Trong khoảng thời gian từ năm 1983 đến năm 1990, Tòa Án giáo phận đã thu lượm các tài liệu đóng thành 23 pho sách.

Yếu tố nổi bật trong linh đạo của Cha Pio chắc chắn là đời sống bí tích: các tín hữu tham dự các cuộc hành hương tại San Giovanni Rotondo hầu hết đều đến tòa giải tội lãnh nhận ơn tha thứ của Chúa, tham dự thánh lễ và rước lễ.

Sau khi ngài qua đời ngày 23/9/1968, (81 tuổi) có đến hơn một 100,000 người tham dự lễ an táng của ngài.  Ba vị Giáo Hoàng đã kết án cha là người giả hình đóng kịch.  Nhưng Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã long trọng cất nhắc cha lên hàng Hiển Thánh.  Lễ phong thánh cho ngài vào đúng Ngày của Cha (Father’s Day) 16/06/2002 là một lễ phong thánh có đông người tham dự nhất xưa nay, với con số gần nửa triệu người!  Thi hài thánh Padre Piô hiện quàn tại San Giovanni Rotondo, miền nam nước Ý.

Sưu tầm

Xin coi thêm: https://suyniemhangngay.net/2016/09/02/cuoc-doi-cha-pio/

VẬN MAY 

“Xin lỗi cậu, chúng tôi không thể làm gì hơn được.  Bệnh của cậu đã ở giai đoạn cuối.”

“Dạ, sao cơ?  Bác sĩ mới nói gì?” Anh xây xẩm mặt mày, không thể tin nổi sự thật này.

“Cậu còn khoảng sáu tháng nữa để sống…”

Anh ngất xỉu.

*****************************

Mình nhớ lại và kể cho bạn câu chuyện có thật này khi mình nghe Lời Chúa ngày hôm nay.

Ngươi hãy chia cơm cho người đói,
rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ;
thấy ai mình trần thì cho áo che thân,
không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục.
Bấy giờ ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông,
vết thương người sẽ mau lành.” (Is 58: 7-8)

Đó là Lời Chúa linh hứng qua miệng ngôn sứ I-sa-i-a.  Bảy thế kỷ sau ông, Thầy Giêsu của chúng ta khẳng định: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian… ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.” (Mt 5: 14,16)

Ta có thể tạm tóm lược nội dung Lời Chúa ở trên thế này: Ta được mời gọi để chữa lành các vết thương của bản thân qua việc trở nên ánh sáng.  Nghe như vậy vẫn có vẻ mơ hồ, phải không bạn?  Mình xin kể tiếp câu chuyện trên để minh hoạ.

Bệnh nhân đang trong giai đoạn cuối của căn bệnh nan y là một sinh viên đại học, sắp sửa tốt nghiệp. Tương lai phía trước đang mở ra với thật nhiều hoài bão, ước mơ, dự định.  Bỗng một ngày, anh cảm thấy mệt mỏi, đau đớn khác thường.  Người ta đưa anh đi nhà thương.  Kết quả là anh chỉ còn khoảng sáu tháng để sống.  Nếu ta ở trong tình cảnh như anh ấy, mình sẽ làm gì nhỉ?

Bạn thân mến, sau khi tỉnh lại, anh quyết định làm một việc ý nghĩa: Đó là dùng sáu tháng ngắn ngủi còn lại để sống cho những người đau khổ khác.  Anh đi đến những trung tâm HIV-AIDS trực tiếp chăm sóc cho các bệnh nhân.  Anh đến các trại cùi để rửa ráy vết thương cho họ.  Anh tìm đến những kẻ lang thang chẳng biết đi về đâu để an ủi họ cách này cách khác.  Anh hầu như quên đi chính mình.

Có người hỏi anh: “Tại sao lại làm như thế?

Anh trả lời: “Tôi vẫn còn may mắn hơn nhiều người khác.”

“Anh nói sao?  Anh may mắn hơn họ?  Anh chỉ còn mấy tháng trong khi họ có thể còn mấy năm để sống!”

“Vâng, tôi may mắn hơn họ vì tôi vẫn còn niềm tin vào Chúa Giêsu.”

ZZBạn biết không, sáu tháng sau, anh vẫn còn sống và không cảm thấy đau yếu nữa.  Trở lại bệnh viện để tái khám, các bác sĩ vô cùng ngạc nhiên vì căn bệnh nan y ấy không biết đã đi đâu.  Nhưng anh thì biết tại sao anh khỏi bệnh.  Khi anh chỉ tập trung vào người khác, tình yêu trong anh bỗng nhiên được thắp sáng làm cho anh quên đi chính mình và nỗi đau của mình.  Ánh sáng trong anh lớn lên, chiếu rọi anh, bao trùm anh và chữa lành anh.  Anh chìm vào trong ánh sáng chan hoà của tình yêu.  Một cách nào đó, tình yêu ấy đã sáng lên nhờ việc anh tiếp xúc với đau khổ của tha nhân.  Có thể nói: Chính những người đau khổ kia đã chữa lành cho anh khi anh đến với họ.

Mình không biết giải thích thế nào cho thoả đáng, nhưng đây là cảm nghiệm riêng của mình: Khi mình đang mang tâm trạng buồn sầu, đau khổ, thất vọng, chán nản,… mình sẽ thật may mắn nếu gặp được một ai đó đang đau buồn hơn mình; rồi nếu mình quan tâm đến họ thì chính mình sẽ được vơi đi nỗi buồn sầu đau khổ một cách tự nhiên và được chữa lành một cách kỳ diệu.

Bây giờ thì mình hiểu tại sao hàng triệu người đau khổ vẫn không ngừng chạy đến với “Người tử tội” chết thê thảm trên thập giá: Giêsu.  Tại sao?  Vì nơi Giêsu chịu đóng đinh ấy chứa đựng một đau khổ tột cùng có thể bao trùm, xuyên thấu mọi nỗi đau nhân loại.  Họ tìm thấy nơi Giêsu đau khổ ấy một sự thông hiểu trọn vẹn và một nguồn chữa lành sâu xa vô tận (Dt 4:15; 1P 2:24).

Bạn thân mến, khi ta đến với những anh chị em đau khổ, nhìn bên ngoài thì ta giống như người làm ơn, nhưng sâu xa bên trong thì ta là người chịu ơn.  Trong dòng đời này luôn có người đau khổ dưới nhiều hình thức khác nhau.  Ước chi tụi mình biết tranh thủ tận dụng họ như là vận may để sống lời dạy của Thầy Giêsu: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” và để những vết thương của chính mình được chữa lành.

Giuse Việt, O.Carm.

HUYỀN NHIỆM BA NGÔI

Bạn thân mến,

Trong mặc khải Thánh Kinh, có lẽ các bản văn trình bày mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi chiếm một chỗ rất khiêm tốn.  Câu văn nổi tiếng nhất nói về Thiên Chúa Ba Ngôi được tìm thấy trong Tin Mừng Matthêu đoạn 28, câu 19 mà chúng ta vừa nghe:  “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.  Và phụng vụ đã không ngần ngại chọn lời chúc lành trong thư thứ  hai của Thánh Phaolô gởi giáo đoàn Côrintô làm lời chào nhân danh Chúa Ba Ngôi đầu Thánh lễ : “Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần…” (2 Cr 13:13).

518Tín điều Một Chúa Ba Ngôi là cách người Kitô chúng ta hiểu về mầu nhiệm Thiên Chúa.  Cũng như anh em Do thái giáo và Hồi giáo, chúng ta tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất, chứ không phải là ba Thiên Chúa.  Nhưng Thiên Chúa này được mạc khải cho chúng ta trong quan hệ ba chiều của yêu thương giữa ngôi Cha, ngôi Con, và Thánh Linh.  Ba Ngôi đồng hình đồng dạng thành một đơn vị yêu thương duy nhất, nhưng lại có sự khác biệt:  Cha không phải là Con, Con không phải là Thánh Linh.  Trong tương quan giữa Ba Ngôi, cả ba không phải là các cá vị đơn lẻ, nhưng là mối tương quan hài hoà – hiệp nhất trong khác biệt, đấy chính là bản thể của Thiên Chúa.

Thánh I-nhã thành Loyola đã cảm nghiệm Ba Ngôi như ba nốt nhạc của một hợp âm – hài hoà nhưng không đơn điệu.  Thiên Chúa mà chúng ta tôn thờ không phải là một vị Thượng Đế cô độc ở một cõi xa xăm nào đó, nhưng là một cộng đoàn hiệp thông yêu thương.

Đã có thời người ta cho rằng khoa học và tôn giáo không đi đôi với nhau.  Nhiều người cho rằng với óc quan sát và phương pháp thực nghiệm, khoa học có thể giải thích tất cả những hiện tượng trên cõi đời này.  Một số người cực đoan hơn thì cho rằng khoa học có thể thay thế tôn giáo.  Tin vào khoa học thì không cần phải mê tín dị đoan, đi theo những tín điều lỗi thời không thể kiểm chứng.  Chẳng hạn như làm sao Ba lại bằng Một!  Phản logic!

Thực ra về bản chất, khoa học thực nghiệm không mâu thuẫn với tôn giáo.  Càng khám phá sâu xa về vũ trụ bao la, con người càng thấy mình nhỏ bé hơn, khiêm tốn hơn trong chiều sâu tri thức của mình.  Ngay cả trong đời sống con người, không phải điều gì cũng có thể giải thích được bằng khoa học thực nghiệm.  Tình yêu chẳng hạn.  Ai có thể cân đong đo đếm được tình yêu bằng những phương pháp khoa học thực nghiệm?   Ngay cả khoa tâm lý học cũng chẳng định nghĩa được tình yêu.  Chỉ có ai đang yêu mới thực sự biết tình yêu là gì.  Thế nên Một Chúa Ba Ngôi không phải là điều gì có thể giải thích hoặc nghiên cứu thấu đáo.  Con kiến không thể nghiên cứu về con người một cách trọn vẹn được.  Những gì con kiến biết được về loài người chỉ thích hợp với ngôn ngữ của loài kiến mà thôi.

Đứng trước huyền nhiệm Thiên Chúa, cách hay nhất là thinh lặng khiêm tốn biết ngôn ngữ của chúng ta có giới hạn.  Đối với mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, không một hình ảnh, một ngôn từ nào có thể diễn tả cách chính xác, rõ ràng và đầy đủ được.  Tuy vậy, chúng ta có thể tạm dùng một vài hình ảnh từ cuộc sống để diễn tả ảnh hưởng của mầu nhiệm Ba Ngôi trong cuộc đời mình.

Khi nhìn vào mặt trời chẳng hạn, chúng ta có thấy được ánh sáng, sức nóng, và sức cháy.  Cả ba đan quyện lấy nhau, đến đỗi không thể tách biệt được đâu là ánh sáng, đâu là sức nóng, và đâu là sức cháy của mặt trời.  Nguồn năng lượng cháy bỏng là hình ảnh của Chúa Cha, ánh sáng mặt trời là hình ảnh của Chúa Con, sức nóng bức xạ mặt trời là hình ảnh của Chúa Thánh Thần.  Ai nhìn thấy ánh sáng mặt trời thì biết mặt trời.  Ai cảm nghiệm được sức nóng của mặt trời thì biết mặt trời.  Mặt trời mang lại sự sống cho muôn loài muôn vật.  Không có mặt trời thì sự sống trên trái đất này không thể tồn tại như chúng ta đang thấy.

Ba Ngôi cũng có thể ví như một dòng sông mang sự sống đến cho con người và muôn vật.  Chúa Cha chính là cội nguồn của dòng sông.  Người đổ vào dòng sông nguồn nước phù sa mầu mỡ là tình yêu và ân sủng của Người.  Chúa Con là dòng sông chứa đựng nguồn nước tình yêu và ân sủng ấy.  Và Chúa Thánh Thần là sức đẩy để nguồn nước tình yêu chảy đến các tâm hồn.

Tách ra khỏi dòng sông, con cá sẽ chết.  Càng ở xa dòng sông, cánh đồng càng dễ nứt nẻ và khô cháy.  Lẩy ra một nốt nhạc, nó chỉ là một âm thanh trơ trọi, không còn là một bài ca.  Đó chính là những hình ảnh sống động giúp ta hiểu phần nào về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi.

Bạn thân mến,

Chuyện kể rằng: Ngày kia, để bắt đầu viết một thiên khảo luận về Chúa Ba Ngôi “De Trinitate”, thánh Augustine thành Hippo đã đi dạo trên bờ biển để suy nghĩ và cầu nguyện.  Bỗng chốc ngài nhìn thấy một em bé đang dùng một chiếc vỏ sò múc nước và đổ vào một chiếc lỗ nhỏ trên bãi cát.  Augustine dừng chân hỏi: “Em làm gì thế?”  Em bé trả lời: “Tôi muốn tát hết nước biển vào trong chiếc lỗ này.”  Augustine mỉm cười và nói:  “Làm sao tát hết được?”  Nhưng cậu bé nghiêm nét mặt và nói: “Tôi làm việc này còn dễ hơn ngài đang ảo vọng muốn trình bày cặn kẽ về Chúa Ba Ngôi.”

Nói đoạn, em bé biến mất.  Augustine hiểu rằng đó chính là một thiên thần được Chúa sai đến để nhắc nhở: Trí khôn con người thì quá nhỏ bé để hiểu về mầu nhiệm này.   Thế nhưng, con tim của chúng ta lại đủ to lớn để yêu mến Ngài.  Thực vậy, mạc khải về Ba Ngôi đã tỏ lộ không phải để chúng ta hiểu thấu, nhưng để chúng ta yêu mến.

Mầu nhiệm Ba Ngôi không chỉ là lời nói xuông, nhưng cần được đưa vào cuộc sống.  Càng xa rời tình yêu của Thiên Chúa bao nhiêu, con người càng cằn cỗi bấy nhiêu và rồi sẽ chết khô.  Bởi đó, sống mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi chính là biết mở lòng mình ra để đón lấy nguồn nước tình yêu và ân sủng của Người, để ta có thể sống và được sống dồi dào.   Thiên Chúa chúng ta tôn thờ là Đấng Sáng Tạo, Cứu Rỗi và Thánh Hóa.

Mỗi khi chúng ta cùng với Thiên Chúa sáng tạo thế giới này, hàn gắn, chữa lành, và thăng hoa nó là chúng ta đang đi sâu vào mầu nhiệm Ba Ngôi.   Mỗi khi chúng ta tập sống trong mối tương quan yêu thương và hiệp nhất trong sự khác biệt là chúng ta đang tuyên xưng mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi.

Hôm nay, mừng kính lễ Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta hãy cầu nguyện để được ơn cảm nghiệm và sống mầu nhiệm ấy.  Có như thế đời sống chúng ta ngày càng triển nở hơn, hạnh phúc hơn.

Bảo Lộc

NHÂN DANH CHA, VÀ CON VÀ THÁNH THẦN

zzNếu bạn đi khắp cùng trời cuối đất, bạn sẽ gặp những dấu vết của Thiên Chúa. Nếu bạn đi thẳng vào cung lòng bạn, bạn sẽ gặp chính Thiên Chúa.”

Nhiều người đã gặp thấy Ngài nhờ chiêm niệm suy tư. Nhưng con người không thể biết hết về Thiên Chúa, cũng không thể mô tả cho đủ về Ngài. Có những thiếu sót, vụng về và đôi khi sai lạc.

Ai có thể giúp ta thấy được khuôn mặt thực của Thiên Chúa? Ai sẽ chỉ cho ta con đường để gặp gỡ Ngài? Phải chăng là Đấng ở nơi cung lòng Thiên Chúa, Đấng ấy chính là Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể.

Nhờ Đức Giêsu mà mầu nhiệm Thiên Chúa được vén mở, nhờ Ngài mà chúng ta biết có một Thiên Chúa duy nhất trong ba Ngôi Vị là Cha, Con và Thánh Thần. Ba Ngôi khác nhau nhưng là cùng một Thiên Chúa. Thiên Chúa là Tình Yêu, Ngài duy nhất nhưng không đơn độc: “Ta và Cha là một” (Ga.14,10), và “Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta” (Ga.16,15).

Tình yêu khăng khít giữa Cha và Con là Thánh Thần. Trong niềm hạnh phúc sung mãn, Ba Ngôi đã dựng nên con người giống hình ảnh mình và muốn đưa con người đi vào hiệp thông với Thiên Chúa.

Đến với Chúa Cha, nhờ Chúa Con và trong Chúa Thánh Thần“: đó là hành trình thiêng liêng của mọi Kitô hữu.

Chúng ta cần ý thức về sự hiện diện của Ba Ngôi ở trong ta. “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và cư ngụ nơi người ấy” (Ga.14,23). “Cha sẽ ban cho anh em một Đấng Phù Trợ khác để Ngài ở với anh em luôn mãi” (Ga.14,16).

Chúng ta cần có mối tương quan riêng với từng Ngôi!

Chúa Cha, Đấng hằng làm việc để duy trì vũ trụ, con người.

Chúa Con, Đấng cứu chuộc nhân loại bằng hy sinh mạng sống.

Chúa Thánh Thần, Đấng thánh hóa và dẫn dắt Giáo Hội.

Sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là sống hiệp thông và chia sẻ, là ở lại trong Tình Yêu vì “ai ở trong Tình Yêu thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1Ga. 4,16).

Mỗi ngày chúng ta làm dấu nhiều lần trên thân xác: “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần“. Ước gì chúng ta cũng biết in dấu ấn Chúa Ba Ngôi trên cuộc đời ta, trên thế giới chúng ta đang sống.

Chúng ta đã được chịu Phép Rửa nhân danh Chúa Ba Ngôi, nhưng làm Phép Rửa cho muôn dân vẫn còn là ước mơ mà Đức Giêsu đã và đang mời gọi ta thực hiện.

*************

Lạy Chúa Ba Ngôi, Ngài là mẫu mực của tình yêu tinh ròng, xin cho con trở nên tình yêu cho trái tim khô cằn của thế giới hôm nay. Xin dạy con biết yêu như Chúa yêu, biết sống nhờ và sống cho tha nhân, biết quảng đại cho đi và khiêm nhường nhận lãnh.

Lạy Ba Ngôi chí thánh, xin cho con tin vào sự hiện diện của Chúa nơi sâu thẳm trong lòng con, và trong lòng từng con người bé nhỏ. Amen

(Trích trong “Manna”)

 

NÓI

Mấy ngày này nó đang suy nghĩ, suy nghĩ rất nhiều về sự truyền thông qua việc phát ngôn hàng ngày của nó, và những lời nói nó nghe được hàng ngày.

Băn khoăn nhiều, nó đi tìm một định nghĩa về chữ: “ Nói”, khi nó tra từ điển người ta định nghĩa chữ nói như sau: “Nói là phát ra những âm thành tiếng, thành lời… dùng một thứ tiếng nào đó để giao tiếp.” Trong cuộc sống hàng ngày ngôn ngữ thật sự rất cần thiết, nếu không có sự truyền thông qua việc nói chuyện thì rất khó để hiểu nhau, để chia sẻ với nhau và rất khó để làm việc cùng nhau.  Lời nói để trình bày tình cảm của mình với ai đó.  Và lời nói là công cụ hữu ích mà Thiên Chúa ban để con người có thể dùng để tôn vinh Thiên Chúa mà xin ơn cứu độ cho mình.

Những gì nói bên trên ai cũng biết tỏng tòng tong rồi, nhưng cái nó muốn đề cập là: Ngôn ngữ nói là một con dao hai lưỡi rất tiện dụng trong đời sống hàng ngày và thật sự cũng rất độc.  Đúng hay sai?  Nó đang băn khoăn.

Có khi lời nói ấy là sự chia sẻ trong đêm đen của sự mất mát.  Có khi lời nói ấy là lời động viên chân thành với một người thất bại trong cuộc sống tìm lại niềm tin để đi tiếp.  Có khi lời nói sửa sai cho một người lỗi lầm trong những góp ý chân thành.  Nhưng…. trong cuộc sống hình như không phải tất cả ai ai cũng sử dụng lời nói đúng theo sự định nghĩa thuần túy của nó.

Lời nói ấy có những khi trở thành tiếng mỉa mai châm biếm lẫn nhau, có khi vì ghen tỵ, có khi nhìn không ưa mắt – có ai đó đã có cơ hội được nghe những lời mỉa mai châm biếm thì đã biết rồi đó.  Nó như lưỡi dao gọt ổi đang cắt từng miếng từng miếng trong lòng kẻ nghe – khi đó “nói” là gây ra đau khổ cho người khác.  Đau lắm, khổ lắm.  Đúng hay sai?  Nó vẫn đang băn khoăn.

Có khi lời ấy lại toàn là những từ ngữ sáo rỗng, từ nổ đến khoác loác chỉ với mục đích nâng tầm quan trọng và thể hiện sự hiểu biết của mình thật cao trước mặt người nghe, muốn nói với thế giới rằng tôi là nhất – khi đó “nói” không giúp ích cho ai mà chỉ làm người bên cạnh cảm thấy khó chịu vì phải nghe. Đúng hay sai?  Nó vẫn đang băn khoăn.

Nó đang sống trong một nhóm nhỏ và nó gần như là nhỏ tuổi nhất nhóm.  Có những khi “nó” cũng hay nói gì đó mà không suy nghĩ làm anh em của nó phải buồn, nó cũng hối hận lắm.  Có khi nó cũng nói toàn lời sáo rỗng vì nó còn nhỏ – nó chưa ý thức được nhiều việc, đôi khi nói và làm theo cảm hứng. Nhiều khi các anh nói với nó giọng “lạ” nó lắc đầu không hiểu.  Nó hay nghĩ vui trong đầu đó là “mầu nhiệm” – thực ra là nó không dám hiểu, và không muốn hiểu vì lời đó sẽ làm nó đau đau ở tim, nhói nhói trong lòng.  Nó tự nhủ đôi khi nó cũng làm ai đó buồn như vậy nên hôm nay có người khác nói với nó thì cũng là lẽ đương nhiên thôi.

Nó lần đi tìm Lời Chúa, chỉ Lời Chúa mới là Chân Lý, nó nhớ tới câu trong sách Châm ngôn diễn tả việc cần làm của con cái Chúa: “Con hãy mở miệng nói thay cho người câm, và biện hộ cho mọi người bất hạnh.  Hãy mở miệng phán xử thật công minh, biện hộ cho những kẻ nghèo nàn khốn khổ” (Cn 31: 8-9).

Và mỗi buổi sáng trong kinh nhật tụng, nó và anh em trong nhóm đều đã làm dấu thánh giá nơi miệng và đọc: “Lạy Chúa Trời xin hãy mở miệng con, cho con cất tiếng ngợi khen Ngài.” 

zzLạy Thiên Chúa của con, xin cho con biết dùng tiếng “nói” như một khí cụ Chúa ban cho con để con mang yêu thương, mang chia sẻ, mang ủi an, mang lời nguyện cầu đến với những người anh em xung quanh con chứ không phải những tiếng mỉa mai gây đau khổ cho người thân cận – cũng không phải là những lời sáo rỗng chỉ là khoác lác vô nghĩa.  Xin cho con luôn biết dùng tiếng “nói” để ca tụng Chúa trong từng ngày con sống.  Xin giữ con trong từng suy nghĩ và từng lời nói hàng ngày. 

Dom Stone