NƯỚC MẮT VÀ HẠNH PHÚC

Tôi cười khi tôi vui.  Tôi khóc lúc khổ đau.  Nụ cười biểu hiệu cho hạnh phúc.  Nước mắt tượng trưng cho nỗi buồn.  Như thế, trong hạnh phúc không có nước mắt.  Nhưng nước mắt có thể mời gọi hạnh phúc trở về.  Nước mắt là những lời giải thích về đau khổ.  Tôi có đau khổ tuyệt vọng, tôi có đau khổ ăn năn.  Bởi đấy, nước mắt cũng có hai dòng, một dòng tuyệt vọng, một dòng sám hối.

Nước mắt tuyệt vọng là nước mắt của con tim oán than chối từ một niềm tin.  Càng chối từ niềm tin bao nhiêu thì nỗi đắng cay càng oan nghiệt bấy nhiêu.  Nước mắt tuyệt vọng là ngọn than hồng thắp lửa thêm cho đau khổ và khi đau khổ bùng cháy sẽ tiêu diệt đời mình.

Nước mắt ăn năn là nỗi nhớ thương của một tâm hồn gởi một tâm hồn. Nước mắt ăn năn sẽ lôi kéo tình yêu trở về và nước mắt ăn năn là mời gọi duy nhất tình yêu không thể chối từ.

Lầm lẫn và yếu đuối giăng mắc đó đây, do đó tình yêu hoen ố, bởi đấy hạnh phúc chông chênh.  Vì lầm lẫn, tôi có thể làm người yêu tôi buồn.  Vì yếu đuối, tôi có thể phản bội người yêu tôi.  Yếu đuối và lầm lẫn như những thành tố làm nên cuộc đời.  Tôi chẳng thể tránh được yếu đuối.  Tôi không thể thoát khỏi lầm lẫn.  Dù không muốn, chúng vẫn chẳng thiếu vắng trong đời tôi.  Có yếu đuối là có bất toàn, có lầm lẫn là không trọn vẹn.  Vì thế không có tình yêu tuyệt hảo và hạnh phúc vô song trên cõi đời này.  Chỉ có hạnh phúc tương đối nên hạnh phúc nên hạnh phúc ấy có thể nhạt nhòa.  Không có hạnh phúc tuyệt hảo thì cũng không có đau khổ vô cùng.  Bởi đó, trong dại dột tôi có thể học được khôn ngoan.  Trong đau đớn tôi vẫn có hy vọng tìm về niềm vui.

Lầm lẫn và yếu đuối gây thương tích cho hạnh phúc.  Thương tích nơi hạnh phúc chỉ được xoa dịu và tái sinh bằng nước mắt ăn năn.  Xin cho tôi biết khóc, biết chua xót ăn năn.  Bởi nếu tôi không biết khóc, biết xót xa hối hận thì tôi chẳng bao giờ mời gọi được hạnh phúc tôi đã đánh mất trở về.  Và như thế, đời tôi nghèo nàn, cơ cực.

Tình yêu là giây đàn rung lên hạnh phúc.  Chỉ cần sẽ chạm tay cũng đủ làm giây đàn im tiếng.  Chỉ cần một tư tưởng phản bội cũng làm cho tình yêu hoen ố.  Chỉ cần một chút oán thù cũng đủ làm cho mặt hồ bình an thành mờ đục.  Nhưng cái mầu nhiệm của tình yêu là chỉ cần một zzgiọt nước mắt ăn năn cũng đủ để tình yêu tha thứ gọi hạnh phúc trở về.  Tình yêu nào khi nghe nước mắt sám hối nhớ thương mời gọi mà không trở về thì đấy không còn là tình yêu nữa.

Nước mắt rơi trong im lặng nhưng tiếng nói của nước mắt lại sâu như lòng biển, lại dài như chiều cao của trời.

Nhìn khóe mắt Phêrô, nước mắt đã chảy, và Chúa Giêsu chẳng còn cách nào khác là yêu thương bằng một tình yêu rộng lớn hơn.

Nhìn khóe mắt Mai Ðệ Liên, nỗi u buồn đọng đó, và Chúa Giêsu chẳng còn cách nào khác là để nỗi buồn đó thấm vào tim mình bằng những dòng máu tha thứ và yêu thương vô bờ.

Tội và đau khổ là định mệnh trong cuộc đời.  Tôi phải khiêm tốn nhìn nhận mình chẳng thể tránh khỏi.  Nhưng tội và đau khổ không có toàn năng lực chế ngự vĩnh cửu cuộc sống, chúng bị phá đổ bởi nước mắt.

Lạy Cha, xin cho con biết khóc mỗi khi tội trần con phạm.

Xin cho con được rửa tội hồn con bằng nước mắt ăn năn.

Và lạy Cha,

Ðừng bao giờ để con tuyệt vọng vì mất niềm tin là mất cả cuộc đời.

LM Nguyễn Tầm Thường S.J

NÓI ĐƯỢC CÁC THỨ TIẾNG

zzLễ Ngũ Tuần là một lễ lớn của người Do Thái. Nhiều người Do Thái sùng đạo từ nước ngoài về Giêrusalem dự lễ. Còn Nhóm Mười Hai và mấy phụ nữ, trong đó có Đức Maria, thì cầu nguyện tại một căn nhà trong thành. Chính trong bầu khí của một cộng đoàn cầu nguyện mà Thánh Thần, Đấng Cha hứa ban, đã đến với họ.

Thánh Thần chẳng có một khuôn mặt để ta ngắm nhìn nhưng ta vẫn nhận ra Ngài nhờ những dấu chỉ: Một tiếng từ trời như tiếng gió thổi dữ dội, những lưỡi lửa tản ra và đậu xuống từng người.

Bỗng chốc Thánh Thần đầy tràn mọi người hiện diện. Có cái gì đó được mở tung, để tự do bay bổng. Có ngọn gió ùa đầy nhà làm căng buồng phổi. Có ngọn lửa ấm lan tỏa trong trái tim. Có cái gì thôi thúc người ta mở cửa, đi ra và cất tiếng. Phải kêu to cho mọi người, chẳng có gì phải sợ, về những kỳ công Thiên Chúa đã làm cho Thầy Giêsu.

Trước mặt mười hai người đánh cá quê mùa ít học, người từ khắp nơi trên thế giới đổ về. Họ là những người Do Thái sinh sống ở nước ngoài, nên họ đã kinh ngạc, sửng sốt, thán phục, khi họ nghe các ông nói được tiếng của vùng đất họ sinh sống.

Ơn nói được nhiều thứ tiếng là ơn của Thánh Thần, nhằm giúp cho việc loan báo Tin Mừng nơi mọi dân tộc. Tin Mừng bằng tiếng mẹ đẻ giúp người nghe cảm thấy gần gũi. Rồi Tin Mừng ấy lại trở thành gạch nối liên kết mọi người, thuộc mọi ngôn ngữ, màu da, xã hội, văn hoá khác biệt. Như thế Thánh Thần làm con người hiểu nhau, gần nhau, và giúp Hội Thánh trở thành Hội Thánh của mọi dân tộc. Nhưng đã có lúc những người nói cùng một thứ tiếng mà vẫn không hiểu nhau.

Lễ Hiện Xuống là lễ khai sinh một Hội Thánh truyền giáo. Đức Giêsu đã chào đời tại Châu Á từ hơn 2,000 năm. Làm sao để mọi người Châu Á hiểu được Tin Mừng: đó là vấn đề mà tất cả chúng ta hết sức quan tâm. Hiểu được là bước đầu để đón nhận và tin theo. “Chúng ta đều nghe họ dùng tiếng nói của chúng ta mà loan báo những kỳ công của Thiên Chúa“.

Làm sao chúng ta sử dụng nhuần nhuyễn các ngôn ngữ Á Châu để trình bày mặc khải của Đức Giêsu Con Thiên Chúa? Phong tục, văn hoá, tín ngưỡng, luân lý, truyền thống của họ cũng là những thứ ngôn ngữ mà ta cần trân trọng tìm hiểu.

Xin Thánh Thần giúp ta học được ngôn ngữ Việt Nam hôm nay, để nói cho người Việt hiểu và hiểu được điều người Việt nói.

Xin cho Hội Thánh biết khiêm tốn và can đảm học lại ngôn ngữ của những người mà Chúa sai ta đến. Kinh Thánh đã được dịch ra 2,197 ngôn ngữ. Chúng ta còn cần dịch ra một thứ ngôn ngữ mà ai cũng hiểu, đó là ngôn ngữ của phục vụ, bác ái và yêu thương.

***

Lạy Chúa là Thần Khí Sự Sống và Tình Yêu, xin ban cho con một thời để yêu và một thời để sống; để con sống vì tình yêu Thiên Chúa, và để con yêu vì cuộc sống muôn loài.

Xin dạy con biết yêu những điều tốt đẹp, cao quý và biết ghét những điều đê tiện, xấu xa.

Xin dạy con luôn sống vì những điều mình yêu, và dám chết vì những điều mình ghét.

Xin cho con biết “đưa tình yêu vào cuộc sống” để mỗi giây phút sống, con đều cảm nhận được niềm hạnh phúc yêu thương.

Xin cho con biết “đưa cuộc sống vào tình yêu” để từng giây phút yêu, con đều làm cho cuộc sống thêm giá trị.

Và xin cho con biết hòa nhập cả hai nên một: Để sống là yêu và yêu là sống, vì hiểu được rằng Thiên Chúa Hằng Sống cũng chính là Thiên Chúa Tình Yêu. Amen.

(Trích trong “Manna”)

 

Đức Mẹ tìm thấy Chúa Giêsu

MẦU NHIỆM MÂN CÔI: Năm sự vui – Mầu nhiệm thứ năm:  

zzNăm ấy Đức Giêsu lên 12 tuổi.  Thánh Gia Thất đóng cửa nhà.  Nhà có ba khẩu.  Chỉ có Thánh cả Giuse buộc phải về thủ đô dự lễ.  Nhưng vì lòng sốt sắng, nên cả ba người cùng đi.  Hằng triệu người đổ về thủ đô, chập chùng như thác vỡ bờ.  Lạc đà, lừa ngựa, người hành hương, người đi buôn bán. Nhìn lên trời chỉ thấy mây.  Nhìn xuống đất chỉ thấy người. Người đông như kiến.  Dường như người còn đông hơn kiến.

Lễ Vượt Qua kéo dài tám ngày.  Khói hương nghi ngút.  Nghi ngút đến ngộp thở.  Càng ngộp thở chừng nào, người ta càng thấy long trọng chừng nấy.  Rồi lễ hội kết thúc.  Ai nấy ra về.  Lại trùng trùng điệp điệp.  Người lại đông như kiến cỏ.  Tìm người thân trong rừng người này còn khó hơn tìm cái đinh trong đống sắt vụn.

Đức Maria và Thánh cả Giuse cùng về không thấy con đâu.  Hơi băn khoăn một tí.  Nhưng không sao, vì cậu bé Giêsu khôn lắm, ngoan lắm, lanh lắm.  Có lẽ cậu đi với chú hoặc cậu ở một đoạn đường nào đó…

Đến tối, đoàn hành hương dựng lều nghỉ đêm.  Làng nào theo làng nấy.  Nhà nào theo nhà nấy.  Chừng đó Đức Maria và Thánh cả Giuse mới phát giác ra rằng cậu Giêsu không có trong đoàn hành hương.

Thế mới khổ.  Sáng hôm sau đoàn Nadarét tiếp tục đi về hướng Bắc, còn Đức Maria và Thánh cả Giuse phải quay trở lại để tìm con, tìm mãi.  Tìm mỏi mệt.  Hỏi thăm nơi này.  Hỏi thăm nơi kia, không thấy.  Ba ngày sau mới thấy con của mình ở ngay trong Đền thờ ở giữa các bậc vị vọng.  Cậu bé trả lời và phỏng vấn các vị trí thức thủ đô, khiến mọi người sửng sốt.  Bé khôn quá, khôn trước tuổi.  Mẹ hỏi con “Tại sao con để cha mẹ vất vả tìm con ?”  Cậu bé cố tình ở lại mà không cho cha mẹ hay, nay lại trả lời một câu khiến cha mẹ lắc đầu không hiểu được.  Bé bảo: “Cha mẹ đừng tìm con.  Con phải lo phục vụ cho Cha con ở trên trời”.  Trẻ con mà ăn nói như thế, cha mẹ hiểu sao nổi.  Chẳng hiểu, nên chẳng biết phải làm gì.  Đành để đấy, để suy đi, nghĩ lại xem ý Chúa muốn gì.

Mẹ yêu dấu.

Câu nói của cụ già Simêon cách đây 12 năm về trước, lại xuất hiện trên màn hình ký ức của Mẹ “Trẻ này sẽ nên như lưỡi gươm xuyên qua tim của Mẹ”.  Mẹ lại thấy đau, đau quá.  Nhưng Mẹ lại hóa giải nỗi đau bằng cách cúi đầu thưa: “Xin Vâng”.  Ý của Chúa Cha thì cao vời vợi, sâu thăm thẳm.  Thân phận của Mẹ thì bé bỏng quá.  Nhưng bé bỏng để được bao bọc trong vòng tay yêu thương vời vợi.  Lời chứ không lỗ, sướng chứ không khổ.

Mẹ ơi!  Mẹ không hiểu ý Chúa nhưng Mẹ hiểu rằng “xin vâng” chính là ý của Ngài.  Xin giúp con nên giống Mẹ để Mẹ nào con nấy.

Lm. Piô Ngô Phúc Hậu

 

Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu

MẦU NHIỆM MÂN CÔI: Năm sự vui – Mầu nhiệm thứ bốn:

Theo trình thuật của Luca thì Thánh Gia Thất còn lưu lại ở niềm Nam cho tới sau ngày thứ bốn mươi mới trở về Nadarét.  Trong thời gian dài này Thánh Gia Thất trú ngụ ở đâu?  Có thể giả thiết rằng sau khi Mẹ và Con đều cứng cáp, thì Thánh Gia Thất đến trú ngụ ở ngôi nhà rất thân thương ở Sin Karim. Đó là nhà bà Êlisabét, nơi mà Đức Maria đã ở đó ba tháng. Hai chị em lại sung sướng hàn huyên về lịch sử cứu độ.  Êlisabét thì được bồng ẫm Đấng Cứu Thế. Maria thì được bồng ẫm vị Tiền Hô của Đấng Cứu Thế, lại có thêm hơn một tháng tuyệt vời.

Khi bé Giêsu được 40 ngày tuổi, thì Đức Maria bồng con lên Đền thờ Giêrusalem để chu toàn hai điều luật: Dâng con trai đầu lòng cho Chúa Giavê; thanh tẩy người mẹ đã mắc uế, vì có chảy máu khi sanh con.

Nhân dịp này có một cụ già tên là Simêon.  Ông chỉ mơ ước được thấy Đấng Cứu Thế trước khi chết. Hôm ấy ông linh cảm Đấng Cứu Thế đang ở trong Đền Thờ.  Ông đến.  Ông gặp.  Ông xin được bồng Đấng Cứu Thế bốn mươi ngày tuổi.  Ông mừng quá.  Ông xin được chết.

Với kinh nghiệm dày cộm của một ông già đạo đức, ông mô tả Đấng Cứu Thế như một tảng đá để cho người này vấp ngã và để cho người kia được đứng lên.

zzÔng nhìn Đức Maria với ánh mắt thương cảm và tiên báo đời của Mẹ Đấng Cứu Thế sẽ khổ lắm.  Khổ như có một lưỡi dao đâm thủng trái tim Mẹ yêu dấu.

Mẹ dâng con vào Đền thờ, con chẳng thấy có gì vui.  Con hận!  Hận lắm.

Con hận ông già Simêon vì ông thật thà quá.  Ông nói tiên tri đời Mẹ sẽ khổ vô cùng.  Khổ suốt đời. Khổ vì con.

Lúc ấy Mẹ mới chừng mười bảy tuổi, tuổi đang khủng hoảng để trưởng thành; tuổi thôi làm con nít, nhưng chưa làm người lớn; tuổi còn đang sống với mơ hơn là sống với thực; tuổi thấy đời nhiều màu hồng hơn màu tím.  Vậy mà ông nỡ tâm xán trên đầu mẹ một câu nói, một sự thật tàn nhẫn đến mức độ người trải đời cũng không chịu nổi.  Người mẹ mười bảy tuổi phải nhìn đứa con bốn mươi ngày tuổi như một lưỡi dao sắc xuyên qua tim mình.  Hình ảnh này in hằn vào ký ức của người mẹ trẻ không thể xóa được.  Mẹ biết Mẹ sẽ khổ suốt đời vì con.  Nhưng con không thấy Mẹ thất vọng.  Mẹ vẫn can đảm. Mẹ vẫn đứng.  Đứng mãi cho tới khi Con của Mẹ bị treo trên khổ giá.  Mẹ là người đàn bà vĩ đại, xuất thân từ gian khổ, gian khổ tàn nhẫn.

Mẹ yêu dấu,

Con lại hận luật Môsê.  Luật Môsê bảo rằng đàn bà sanh con có chảy máu nên bị uế và phải được thanh tẩy.  Sanh con có mất máu, đó là công trình sáng tạo của Chúa Cha, tại sao lại bảo là uế.

Mẹ thánh thiện như thế; Mẹ sanh Đấng Cứu Thế cao cả là như vậy mà tại sao lại bảo là uế và bắt Mẹ phải làm lễ thanh tẩy.  Con cho đó là một sự xúc phạm đến Mẹ, đến cuộc đời đầy ân sủng của Mẹ. Thôi, xin Mẹ tha thứ cho luật Môsê.  Phần con thì cũng chẳng muốn hận làm chi nữa, vì luật ấy đã cũ rồi “và cái gì cũ kỹ, lỗi thời thì sắp tan biến đi”( Dt 8, 13)

Lm Piô Ngô Phúc Hậu

CÓ CHÚA CÙNG HOẠT ĐỘNG

Thứ hai thì ngắm Đức Chúa Giêsu lên trời, ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời.

Ái mộ những sự trên trời là một ơn ta phải xin, vì dưới đất có nhiều điều làm ta ái mộ: Ái mộ một người, một vật hay một việc nào đó. Ái mộ quá có thể dẫn đến tôn thờ và làm nô lệ.

Trái đất có vẻ đẹp riêng của nó, vẻ đẹp làm dịu lòng ta trong hành trình cuộc đời. Tiếc thay nhiều lúc vẻ đẹp ấy giữ chân ta lại, không cho ta bước nhanh tới đích. Lắm khi vẻ đẹp ấy kéo ghì ta xuống, không cho ta ngước lên cao.

Có vẻ trời ở xa, xa như huyền thoại. Có vẻ chỉ trái đất là có thật, gần gũi. Ta bị hút vào trái đất, đắm đuối mê say, quên mình chỉ là người tạm trú trên mặt đất.

Chúa về trời, về với thế giới của Cha, điều đó nhắc ta nhớ đời là một cuộc hành trình mà đích điểm nằm ở phía bên kia.

Trời là đích xa nhưng chi phối những chọn lựa gần. Cần chọn hướng đi, chọn phương tiện sao cho đạt đích. Không có trời thì chẳng biết đi đâu!

Con người cần có một trung tâm nằm ngoài mình, thu hút mình, nâng mình lên, kéo mình ra khỏi cái tầm thường, thực dụng.

Trời là trung tâm của đất. Đất cho con người sự sống. Trời cho con người lẽ sống.

Nếu chỉ biết có đất, con người sẽ rơi vào tuyệt vọng, vì đất chẳng thể thoả mãn con người. Nơi lòng mỗi người đều có một mảnh trời riêng. Mảnh trời này cứ đòi gặp bầu trời cao rộng như gặp lại chốn cũ người xưa.

Thế giới luôn gặp nhiều bế tắc khó khăn vì người ta đứng ở trên trái đất mà giải quyết. Cần nhìn trái đất từ trời, để thấy những giải pháp tận căn, bao quát, hiệu quả. “Sao các ông cứ đứng nhìn trời?” (Cv.1:11)

Kitô hữu không chỉ khoanh tay ngước nhìn trời, vì sứ mạng rao giảng Tin Mừng đang chờ đợi họ, vì trái đất còn bề bộn bao việc phải làm. Sống tận tình cho trái đất mà vẫn ngước lên trời cao, điều đó thật là một thách đố không nhỏ, nhưng lại là cốt lõi của đời sống Kitô.

Thiên đàng không phải là bầu trời trên đầu ta. Nhưng bầu trời cao vút, bao la, thăm thẳm, là một hình ảnh gợi mở về thiên đàng.

Bầu trời càng lúc càng bị che chắn bởi cao ốc. Hãy tìm những giây phút để ngước mắt lên… Ngắm bầu trời có thể giúp ta biết sống trên mặt đất.

*************

ZZLạy Chúa Giêsu, Chúa đã yêu trái đất này, và đã sống trọn phận người ở đó. Chúa đã nếm biết nỗi khổ đau và hạnh phúc của phận người.

Xin dạy chúng con biết đường lên trời, nhờ sống yêu thương:  Yêu Chúa và mến thương tha nhân.

Khi ngước nhìn lên quê hương vĩnh cửu, chúng con thấy mình được thêm sức mạnh để xây dựng trái đất này, và chuẩn bị nó đón ngày Chúa trở lại.

Lạy Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Thiên Chúa, xin cho những vất vả của cuộc sống ở đời này không làm chúng con quên trời cao; và những vẻ đẹp của trần gian không ngăn bước chân con tiến về bên Chúa. Ước gì qua cuộc sống hằng ngày của chúng con, mọi người thấy Nước Trời đang tỏ hiện. Amen

(Trích trong ‘Manna’)

 

TÌNH YÊU THẦM LẶNG CỦA CHA

Cô gái được sinh ra trong gia đình có người cha bị câm điếc bẩm sinh, nên cô ta thường xuyên bị trêu chọc, chế giễu của bạn bè ở trường.  Từ đó, cô gái trở nên ác cảm với người cha của mình.  Dù không thể nghe và nói như một người bình thường, nhưng ông ta vẫn hiểu được nỗi buồn và mặc cảm của cô con gái mình.  Vì vậy, ông luôn quan tâm, động viên, chăm sóc và cố gắng làm con gái vui hơn trong mỗi bữa ăn.  Ông đã dành tất cả tình yêu thương cho người con gái yêu quý.

Nhân dịp ngày sinh nhật của cô con gái, ông ta đã âm thầm chuẩn bị một cái bánh mừng sinh nhật, và viết những lời nhắn nhủ cho cô con gái: “Con gái yêu quý, cha bị câm điếc ngay từ khi mới sinh ra, cha xin lỗi con vì điều đó.  Cha không thể nói được như những ông cha khác, nhưng cha muốn con biết rằng, cha yêu con bằng cả trái tim mình”.  Thật là đáng tiếc, cô con gái chưa kịp đọc lời nhắn nhủ của ông, thì cô đã tự tử đúng vào ngày sinh nhật của mình.  Vì bị mặc cảm và áp lực quá lớn, cô không thể vượt qua bản thân, nên cô ta tìm đến cái chết.  Khi nhìn thấy con gái trong cơn hấp hối, người cha rất đau lòng, ông bế con chạy tới bệnh viện, cầu xin các bác sỹ cứu sống cô con gái bé bỏng của mình.  Với lời cầu khẩn tha thiết của ông, may mắn là cô con gái đã được cứu sống bằng chính những giọt máu của ông.  Khi tỉnh lại, cô con gái chỉ biết nắm tay cha và khóc.

Câu chuyện viết về tình yêu của người cha thật là cảm động, bao la, và cao quý.  Một tình yêu âm thầm, lặng lẽ và hy sinh mà ông ta đã dành cho đứa con gái yêu quý của mình.  Thế nhưng, cô ta vẫn không nhận ra tình yêu vô biên đó của cha.  Một thông điệp rất có ý nghĩa cho cuộc sống hôm nay, đó là: “Không có người cha hoàn hảo, mà chỉ có người cha luôn dành yêu thương hoàn hảo nhất cho những đứa con của mình”.

Khi nói đến tình yêu thầm lặng của người cha trên trần gian, nó nhắc nhớ chúng ta hiểu và ý thức hơn về tình yêu tuyệt vời của Chúa Cha trên trời, Ngài là khởi nguồn của tình yêu và ban phát tình yêu cho con người, và tình yêu đó được diễn tả trong thư thứ nhất của thánh Gioan: “Thiên Chúa là tình yêu”.  Do đó, người Ki-tô hữu phải yêu thương nhau bởi vì tình yêu đến từ Thiên Chúa.  Tình yêu là bản chất của Thiên Chúa.  Thiên Chúa thể hiện tình yêu của Ngài cho chúng ta qua Người Con Một của Ngài là Đức Giê-su đã đi vào thế gian để chuộc tội cho nhân loại và cho chúng ta được sống. Chính nơi Đức Giê-su, chúng ta có thể nhận biết Thiên Chúa và chia sẻ sự sống của Ngài.

zzĐiều này được thuật lại trong bài Tin Mừng hôm nay.  Chúa Giê-su nói rằng: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, thì Thầy cũng yêu mến anh em như vậy.  Anh em hãy ở lại trong tình yêu của Thầy.  Nếu anh em giữ giới răn của Thầy.  Điều răn đó là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.  Tình yêu là điều kiện tiên quyết để nhận biết về cuộc sống, đặc biệt là về Thiên Chúa.  Van Gogh nói: “ Điều tốt nhất để nhận biết Thiên Chúa là yêu thương tất cả: Yêu gia đình, yêu bạn bè, yêu vợ con, yêu tha nhân, yêu cuộc sống…, đó là những con đường dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa, và người dẫn dắt chúng ta là Chúa Giê-su”.  Và nơi đâu có tình yêu là ở đó có Thiên Chúa. Ngược lại, nơi nào không có tình yêu thì nơi đó không biết Thiên Chúa.

Tuy nhiên, ngày nay nhân loại vẫn có một khoảng trống rất lớn về sự hiểu biết và yêu mến Thiên Chúa.  Người ta vẫn thường đặt câu hỏi: Có Thiên Chúa không?  Tại sao con người phải đau khổ?  Sau biến cố 11 tháng 9 năm 2001 tại Mỹ, con gái của một vị giảng thuyết nổi tiếng được mời trả lời phỏng vấn trên truyền hình, và người hướng dẫn chương trình đã hỏi cô ta như sau: Tại sao Thiên Chúa lại có thể để xẩy ra một thảm họa khủng khiếp như vây?  Cô ta trả lời như sau:

Tôi nghĩ là Thiên Chúa rất buồn vì điều đó, ít nhất là Ngài cũng buồn bằng chúng ta.  Từ bao năm nay, chúng ta đã yêu cầu Ngài đi ra khỏi trường học, khỏi chính phủ và khỏi đời sống của chúng ta.  Ngài là người “Quân tử” nên đã lẳng lặng rút lui.  Làm sao chúng ta có thể mong Chúa ban ơn lành và che chở chúng ta khi chúng ta đã khẩn thiết xin Ngài để mặc chúng ta một mình?

Về những biến cố mới xảy ra như tấn công, khủng bố, bắn giết trong trường học, chiến tranh v.v., tôi nghĩ rằng mọi sự đã bắt đầu với Madeleine Murray O’Hare, khi bà ấy than phiền là không nên đọc kinh trong trường học nữa.  Và chúng ta đã đồng ý.  Rồi lại một người khác có ý kiến là chúng ta không nên đọc Kinh Thánh nơi trường học, chính quyển Kinh Thánh trong đó dạy chúng ta: “Chớ giết người, chớ trộm cắp, nhưng hãy yêu thương tha nhân như chính bản thân mình, v.v.”,và chúng ta cũng đã đồng ý.

Sau đó, bác sĩ Benjamin Spock lại nói, chúng ta không được đánh con cái mình khi chúng làm gì xấu, vì chúng ta có thể làm sai lệch nhân cách trẻ nhỏ của chúng ta và làm cho chúng không biết tự quý trọng bản thân mình nữa.  Con trai của chính vị bác sĩ ấy khốn thay đã tự tử.  Người ta lại nói rằng, một chuyên viên chắc chắn phải biết mình nói gì, còn ông ấy nói với chúng ta điều gì, thì chẳng quan trọng, và chúng ta cũng đồng ý luôn.

Bây giờ, chúng ta lại tự hỏi: Tại sao chúng ta lại không có lương tâm, không phân biệt được thiện ác, và chúng ta có thể nhẫn tâm giết chết một người lạ, một người thân hay chính mình?  Có thế sau khi suy nghĩ chín chắn, chúng ta đi đến kết luận rằng: “Chúng ta gieo nhân nào thì sẽ gặt quả ấy”. Thật kỳ lạ khi con người có thể vứt bỏ Chúa một cách dễ dàng, rồi sau đó lại tự hỏi tại sao thế giới biến thành địa ngục.  Thật kỳ lạ khi chúng ta lại có thể tin những gì báo chí nói mà lại nghi ngờ những gì Kinh Thánh dạy.  Thật kỳ lạ khi chúng ta lại lo sợ người đời nghĩ sao về mình hơn là những gì Thiên Chúa nghĩ về chúng ta.

Qua những dòng suy tư trên, chúng ta nhận thấy rằng, Thiên Chúa là Người Cha nhân từ, Người Cha thầm lặng luôn dành những tình yêu thương tốt nhất cho con cái của Ngài.  Cho dù, chúng ta có phản bội, bất trung, phủ nhận Thiên Chúa, thì Ngài vẫn yêu thương chúng ta đến cùng, bằng chính Người Con Một là Đức Giê-su chịu chết trên cây thập giá.  Nơi cây thập tự, tình yêu Thiên Chúa tỏ lộ cho chúng ta.  Nơi cây thập giá Chúa Giê-su, Thiên Chúa đã mạc khải ơn cứu độ cho nhân loại. Tất cả những điều đó không chứng minh đủ tình yêu của Thiên Chúa cho chúng ta sao?

Lm. John Nguyễn, Utica, New York.

 

VẾT SẸO

Mẹ ruột chúng tôi mất sau khi sinh em trai út của tôi.  Chị Như, chị hai tôi, lúc đó mới lên mười.  Tôi, đứa con gái thứ hai, lên tám ốm quặt quẹo.  Sau nữa, thằng Thành, năm tuổi, tròn như củ khoai ngơ ngác đi tìm mẹ suốt ngày.

Hai năm sau cha tôi tục huyền với người phụ nữ con nhà gia thế, một phụ nữ đẹp mới 27 tuổi.  Chúng tôi gọi người này là “má”.  Cha đi làm từ sáng đến tối, giao phó toàn bộ việc chăm nom con cái cho má tôi.  Má làm trăm thứ việc không mấy khi ngơi tay.  Chị em tôi no đủ, sạch sẽ, nhà cửa chúng tôi gọn gàng, bữa cơm dọn lên lúc nào cũng nóng sốt.

Cha tôi chung sống với má sau được ba năm thì đau nặng rồi mất.  Lúc sắp ra đi, cha không còn nói được chỉ nhìn má tôi rồi khóc.  Má lúc đó trẻ quá, đẹp quá lại chẳng phải má ruột của chúng tôi…

Cha vừa nằm xuống được mươi ngày đã có người đến đòi xiết nhà, xiết đồ.  Gia đình nhà má khăng khăng bắt má về gả chồng.  Rồi một ngày kia má kêu bán nhà, trả hết nợ rồi lặng lẽ dắt díu chúng tôi đi.  Đó là năm 1978.  Chúng tôi ở đậu nhà người chị họ xa của má, gọi là dì tư Tím.  Dì làm nghề ướp cá, bán cá, dì góa bụa và nghèo khó.  Căn nhà của dì không khác hơn cái chòi canh dưa là mấy, vậy mà còn chứa thêm má và bốn đứa chúng tôi.  Dì tư Tím đem biếu ba con gà mái dầu cho một người quen để xin cho má một chân hộ lý trong bệnh viện đa khoa.

Hằng ngày, má dậy từ 3g30 sáng, vào bệnh viện nấu nước, châm nước cho những bệnh nhân dậy sớm rửa mặt, pha sữa, pha trà để kiếm thêm chút tiền còm mua sách vở cho chị em tôi đi học.  Sáu giờ má tất tả về nhà lo cho chúng tôi ăn sáng và đến trường.  Bảy giờ má trở lại bệnh viện lau cầu thang, lau sàn, cọ rửa nhà vệ sinh, thay trải giường cho người bệnh, gom rác đem đi đốt…  Sau năm giờ chiều, má còn nhận giặt thuê quần áo cho những bệnh nhân khá giả.  Đến tám giờ tối má mới về đến nhà, mệt rã rời.

Hôm nào mưa gió má về sớm hơn.  Má mua về cho chị em tôi mỗi đứa một trái bắp nướng hay một túi đậu nành rang thơm giòn.  Mấy chị em nằm bên má trên một manh chiếu rách, nghe má kể chuyện đời xưa.  Thằng út Tài sợ lạnh cứ ôm chặt má mà khen sao má ấm quá.  Thằng Thành nhõng nhẽo đòi má gãi lưng.  Cũng có khi má dạy chúng tôi những bài hò, bài vè để cả nhà thành một “dàn đồng ca” rất ăn ý, rất vui nhộn, mặc ngoài kia gió thổi mưa tuôn…

Mỗi năm vào ngày giỗ mẹ tôi, má làm một mâm cơm tươm tất.  Rồi má thắp mấy nén nhang thơm, gọi hết bốn chị em tôi lại bên bàn thờ mà nói: “Đây là mẹ ruột của các con, người đã sinh ra và nuôi nấng các con.  Tuy mẹ các con mất rồi nhưng ở trên trời mẹ các con vẫn luôn phù hộ cho các con mạnh khỏe”.  Vào ngày giỗ ba, má cũng làm như vậy.  Ngày ấy cũng như mãi tới bây giờ cũng vậy, tôi vẫn tin ba mẹ tôi ở trên trời nhìn thấy chúng tôi.

Có một sáng người ta đưa má về.  Chân má bị phỏng nước sôi do một bệnh nhân chạy vấp vào má.  Vết phỏng rất lớn.  Do ăn uống thiếu thốn, sức đề kháng yếu nên chỗ phỏng trên chân má rất lâu không lành, cứ sưng lên đau nhức.  Má mất ngủ nhiều, ốm rạc như con cò.  Chị hai khóc, năn nỉ má cho đi đổ nước thay má mà má không cho đi.  Rồi má nén đau, cố lê chân đi làm trở lại.  Về sau vết bỏng ở chân má làm sẹo, một sẹo lồi nhăn nhúm chạy từ cổ chân đến hết mu bàn chân trái.  Dáng má đi không còn tự nhiên nữa.

Dì tư Tím mua được một căn nhà ở gần chợ, bán rẻ căn nhà lá cho má con tôi.  Năm đó chị hai tôi thi đậu vào Trường cao đẳng Sư phạm Cần Thơ.  Thương má cực nhọc, chị định bỏ học đi làm thuê.  Má cương quyết không cho.  Chưa bao giờ má cương quyết như vậy.  Thắp nén nhang trên bàn thờ ba, má khấn (cốt cho chị hai nghe): “Con gái lớn của mình định bỏ học.  Khi về nơi chín suối, em biết nhìn anh sao đây…”

Chị hai khóc, xin lỗi má rồi chấp nhận đi học.  Hai năm sau tôi cũng vào đại học và cũng được má sắp soạn vali quần áo cho tôi rồi đưa đi.  Mở cái vali ra nhìn mà thương má đứt ruột: Ngoài quần áo, má còn bỏ vào kim chỉ, dầu gió, tem thư, bông băng, thuốc đỏ, thuốc cảm…

Dường như má có thể gói trọn sự thương yêu của má vào trong từng thứ một.  Bốn năm, chị em tôi ra trường lênh đênh tìm việc thì cũng là lúc thằng Thành vào Đại học Luật TP.HCM và năm sau nữa là thằng Tài vào Đại học Y Cần Thơ.  Làm sao đong được sự vất vả, cực nhọc của má lúc ấy.  Lưng má còng đi, tóc đã lốm đốm bạc, da tay chai sần.

Nhiều năm trôi qua má lần lượt dựng vợ gả chồng cho ba đứa con lớn.  Thằng Tài vẫn ở với má và chưa có gia đình riêng.  Giờ nó là bác sĩ ngoại khoa của bệnh viện mà xưa má làm hộ lý.  Nó tâm sự rằng hễ đi trực đêm mà nghe tiếng rao “nước sôi đây” là giật mình thảng thốt tưởng như tiếng má, nghẹn thắt cả lồng ngực.

Những ngày rảnh rỗi, chị em tôi dẫn lũ con về với má cho má vui.  Đám trẻ quấn quít với má không rời nửa bước.  Đứa nhổ tóc sâu, đứa bóp tay, đứa bóp chân cho bà.  Một lần bé Du con tôi xoa vào vết sẹo trên chân má mà nói: “Bà ngoại ơi, con bị phỏng tay có một chút đã đau ghê.  Ngoại phỏng nhiều vậy chắc là khiếp lắm…”

Má tôi cười: “Lâu quá, ngoại quên mất rồi”.

Một chiều mưa tôi về thăm má, nằm bên má tâm sự chuyện chồng con.  Mưa ầm ào, mưa tầm tã, tôi kêu lạnh má liền kéo mềm đắp cho tôi, tôi thì lại đắp cho má y như lúc tôi còn nhỏ ngủ chung với má vậy.  Chân tôi lạnh tôi tìm hơi ấm nơi chân má.  Tôi chạm vào vết sẹo trên cổ chân má, cái vết sẹo đã thành thân thuộc với tôi vậy mà tự nhiên tôi rơi nước mắt.

Nghĩ lại, tôi có chồng có con, vợ chồng tôi luôn quấn quít đầm ấm…  Còn má, má chỉ được hạnh phúc làm vợ trong ba năm lẻ.  Trong những năm tháng dằng dặc sau này, chắc cũng có lúc má khát khao một hạnh phúc riêng tư, cũng có lúc má cô đơn, mệt mỏi mà không có ai chia sẻ.  Má ơi, sự lựa chọn của má sao nghiệt ngã quá vậy!

abcĐã bao lần má kể cho các con tôi nghe những câu chuyện cổ tích về công chúa, về hoàng tử, về các cô tiên xinh đẹp… Một ngày kia con tôi lớn lên, tôi sẽ kể cho các con tôi nghe về “Bà Tiên” của chị em tôi, bà tiên tóc bạc, dáng đi hơi khập khiễng vì một vết sẹo dài… Truyện cổ tích má viết cho chúng tôi bằng cả sự nhọc nhằn, sự đau đớn, bằng nước mắt, mồ hôi và bằng cả cuộc đời của Má.

Lê Thúy Bảo Nhi

 

 

YÊU NHƯ CHÚA YÊU

Tình yêu là một đề tài muôn thuở, nhất là vào thời buổi kim tiền hôm nay. Tình yêu là một mặt hàng đắt khách. Tình yêu xuất hiện ở mọi nơi, mọi ngõ ngách của cuộc sống. Tình yêu xuất hiện trên báo chí và sách vở, trên phim ảnh và mọi ngành nghệ thuật. Những bài tình ca; những cuốn phim nói về tình yêu, những cuốn sách; những vần thơ được viết ra để ca ngơị tình yêu… Tất cả đã thu hút con người về với tình yêu.  Có vẻ như tình yêu hiện diện ở khắp mọi nơi và chi phối đời sống của mọi con người.

***

ZZBạn thân mến! Lời Chúa trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến tình yêu : “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em (Ga.13:34)

Yêu thương nhau” không những là một lời khuyên mà còn là một lệnh truyền của Chúa Giêsu, là đặc điểm của những người theo Chúa, là sứ mệnh của mỗi người Kitô.

Yêu thương nhau” đó là giới răn của Chúa. Nhưng không phải yêu thương theo kiểu phàm trần. Người đời thường chỉ yêu những ai yêu mình, yêu những người xem ra có lợi cho mình, yêu theo bản tính ích kỷ của mình. Chúa Giêsu muốn các môn đệ của Người phải yêu nhau như Chúa đã yêu.

Yêu như Chúa yêu” là phải hy sinh quên mình, phải khiêm ngường phục vụ anh em. Yêu như Chúa yêu là phải yêu cả những người bé nhỏ nghèo hèn, yêu cả những người ghét mình, những người làm hại mình, những người khó thương khó ưa.

Yêu như Chúa yêu” là phải không ngừng tha thứ, không ngừng làm hoà với nhau.

Yêu như Chúa yêu” là sự sống của Giáo Hội, là nét cao đẹp của người Kitô. Nét cao đẹp ấy phản ánh dung nhan Thiên Chúa. Nét cao đẹp ấy có sức hấp dẫn mọi người đến với Chúa.

Không còn nhầm lẫn nào nữa. Muốn làm môn đệ Chúa Giêsu, ta phải yêu như Chúa yêu.  Tình yêu của Đức Giêsu không phải tự Ngài nghĩ ra, không phải phát xuất từ chính Ngài, nhưng bắt nguồn từ Chúa Cha: “Như Cha đã yêu mến Thày thế nào, Thày cũng yêu mến anh em như thế”. (Ga.15:9).

***

Lạy Chúa, xin dạy con biết yêu mến anh em như Chúa đã yêu thương con. Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas

(BĐ1: Acts 14:21-27 –  BĐ2: Rev 21:1-5a  –  PÂ: Ga.13:31-33a, 34-35)

MỘT CHUYỆN TÌNH

ZZMột hôm, tôi dậy sớm xem hừng đông ló dạng.
Ôi, công trình Thiên Chúa đẹp không bút nào tả xiết.
Mắt ngắm nhìn, tôi ngợi khen Thiên Chúa vì kỳ công của Người.
Tôi ngồi đấy, và thấy rằng Chúa đang hiện diện.

Người hỏi tôi:

“Con yêu mến Ta không?”

Tôi đáp lại:

“Lẽ tất nhiên, Lạy Chúa! Chúa là Thiên Chúa và Đấng Cứu Độ con”

Và Người hỏi:

“Nếu con mang khuyết tật, con còn mến ta không?”

Tôi ngỡ ngàng.  Tôi nhìn xuống tay chân và toàn bộ hình hài rồi nghĩ rằng có bao điều tôi sẽ không làm được, những điều tôi thấy là đương nhiên.

Và tôi trả lời:

“Hẳn là sẽ khó, Lạy Chúa, nhưng con vẫn yêu Chúa”

Rồi Người lại hỏi:

“Nếu con mù, con vẫn còn yêu các tạo vật của Ta không?”

Làm sao yêu một điều mình không thấy? Và tôi nghĩ đến bao nhiêu người mù trên thế giới, và biết bao người như họ vẫn yêu mến Chúa và tạo vật Người.

Thế nên tôi đáp lời:

“Nghĩ như thế thật đau, nhưng con vẫn yêu Người”

Rồi Người tiếp tục hỏi:

“Nếu con điếc, con còn lắng nghe Lời Ta không?”

Làm sao nghe được điều gì nếu tai mình bị điếc? Rồi tôi chợt hiểu. Nghe Lời Chúa không chỉ bằng đôi tai, mà bằng cả tấm lòng.

Tôi trả lời:

“Thật khó lòng, nhưng con vẫn yêu mến Lời Người.”

Và rồi Người lại hỏi:

“Nếu con câm, con vẫn còn ca tụng Danh Ta?”

Làm sao ca hát khi mình không còn được cất tiếng? Nhưng tôi nhận ra rằng: Chúa muốn ta vang ca lên từ trái tim và tận đáy tâm hồn. Tiếng ca hát của ta có thế nào cũng được.  Và ngợi khen Chúa không chỉ là hát ca, nhưng trong những ngày gian nan, ta vẫn ca ngợi Chúa bằng cách cảm tạ Người. Vì thế tôi mới nói: “Dù con không thể hát, con vẫn còn ngợi ca Chúa”.

Tôi nghĩ rằng mình đã trả lời hay, nhưng…

Thiên Chúa hỏi:

“THẾ VÌ SAO CON PHẠM TỘI?”

Tôi trả lời:

“Vì con chỉ là con người. Con chưa phải trọn lành.”

“THẾ SAO KHI YÊN ỔN CON ĐI XA TA THẾ?
SAO KHI NGUY NAN CON MỚI CẦU NGUYỆN HẾT LÒNG?”

Tôi câm miệng.  Tôi chỉ còn biết khóc.

Chúa lại tiếp tục hỏi:

“Sao con chỉ hát với cộng đoàn và trong buổi tĩnh tâm?
Sao con chỉ kiếm tìm Ta trong thời gian thờ phượng?
Sao con cầu xin bao nhiêu thứ chỉ vì bản thân con?
Sao con cầu xin mà thiếu lòng xác tín?

Lệ trào mi chảy xuống má của tôi.

“Sao con xấu hổ về Ta?
Sao không rao giảng cho ra Tin Mừng?
Sao khi gặp gian truân,
con khóc lóc với người khác trong khi Ta trao vai mình cho con khóc?
Sao con chối từ khi Ta cho con cơ hội phục vụ Danh Ta?”

Tôi muốn trả lời, nhưng biết nói gì đây?

“Ta ân ban cho con sự sống, không phải để con vứt bỏ.
Ta ân ban cho con tài năng để phục vụ, nhưng con vẫn quay lưng.
Ta mặc khải Lời cho con, nhưng con không thêm gì trong hiểu biết.
Ta nói khó với con, nhưng con cứ bịt tai.
Ta chúc phúc cho con, nhưng con hướng mắt nhìn nơi khác.
Ta sai tôi tớ đến với con, nhưng con ngồi yên khi họ bị đuổi xua.
Ta nghe lời con cầu và đã nhậm lời mọi điều con cầu khẩn.
“CON CÓ THỰC SỰ YÊU MẾN TA CHĂNG?”

Tôi không thể trả lời. Làm sao trả lời đây? Tôi vô cùng bối rối. Không còn lời biện bạch. Tôi có thể nói gì đây? Lòng kêu thét và mắt tôi đẫm lệ,

Tôi trình Người:

“Lạy Chúa, xin thứ tha.  Con không xứng làm con của Chúa.”

Chúa đáp lời:

“Ân Huệ của Cha đấy, con ơi”

Tôi bèn hỏi:

“Sao Chúa vẫn tha thứ cho con?  Sao lại yêu con đến thế?”

Chúa trả lời:

“Vì con là công trình Sáng Tạo của Ta.
Con là con của Ta. Ta chẳng thể nào bỏ rơi con.
Khi con khóc, Ta đồng cảm và cùng khóc với con.
Ta cùng cười với con, khi con reo vui hớn hở.
Khi con xuống tinh thần, Ta luôn khích lệ con.
Ta nâng con dậy, khi con vấp ngã,
Khi con mệt mỏi, Ta bồng bế con.
Ta sẽ ở cùng con cho đến ngày sau cùng, và sẽ yêu thương con mãi mãi.”

Chưa bao giờ tôi khóc nhiều như thế. Làm sao tôi từng có thế sống dửng dưng? Làm sao tôi đã xúc phạm Chúa thật nhiều? Tôi hỏi Chúa:

“Chúa thương con đến mức độ nào?”

Chúa đưa tay ra và kìa dấu đinh xuyên thủng. Tôi gục đầu dưới chân Chúa Kitô, Đấng Cứu Độ tôi, và lần đầu tiên trong đời, tôi nguyện cầu thực sự!

Maranatha dịch – http://www.angelfire.com/ca/Guanja2/jesus.html

 

 

TÔI BẮT ĐẦU BIẾT… NÓI DỐI!

Thủa nhỏ, tôi được dạy rằng, phải sống trung thực không dối trá với bản thân mình và với mọi người vì đó là con đường sáng duy nhất của kiếp người.

Khi đó, tôi chưa hiểu thế nào là trung thực, thế nào là dối trá mà chỉ biết rằng những hành động nào của tôi làm vừa lòng người lớn, được khen là ngoan ngoãn thì đấy là những hành động trung thực. Nhưng đến một hôm, tôi đã biết sự thật trong những lời khen ấy.

Tôi bắt đầu biết nói dối, những lời nói dối chân thành nhất của đời mình.  Tôi có người bạn quanh năm lênh đênh trên con tàu nhỏ, đã cũ, đi câu mực, đánh cá trên biển, vài tháng mới trở lại đất liền vài ngày.

Một lần, anh đi biển và thời tiết thay đổi đột ngột khiến biển động dữ dội.  Nhà anh chỉ còn người mẹ già ốm yếu.  Vì quá lo lắng cho con trai, bệnh tim tái phát khiến bà phải vào viện trong tình trạng hôn mê.  Khi đó gió biển gào thét dữ dội.

Các bác sĩ quyết định phải mổ ngay nhưng họ không thể tiến hành ca mổ trong lúc bà mẹ lâm vào tình trạng hôn mê, suy kiệt tinh thần hoàn toàn.

Trong những lúc tỉnh táo ngắn ngủi, bà thều thào hỏi đã hết bão chưa, con trai bà đã về chưa? Khi đó có một người làng bên cho biết đã tìm thấy mãnh vỡ của con tàu nhà bà dạt vào bờ biển.  Bà hỏi các bác sĩ nhưng không ai trả lời.

Tôi đứng ở đó và thật rồ dại khi trung thực kể cho bà nghe rằng cơn bão khủng khiếp lắm, kéo dài vài ngày nữa mới thôi, con tàu đã bị vỡ, sóng xô vài mảnh vào bờ, con trai bà (bạn thân của tôi) không biết số phận ra sao?

Các bác sĩ không kịp cản tôi.  Câu chuyện tôi vừa kể đã đánh gục những sức lực yếu ớt cuối cùng của bà.  Bà nấc nhẹ và thiếp đi.  Bác sĩ bó tay.  Tôi tình cờ phạm phải một tội ghê ghớm mà suốt đời tôi không tha thứ cho mình. Sau khi tan bão người bạn tôi sống sót trở về do một chiếc tàu khác cứu.

zzAnh không trách tôi mà chỉ gục bên mộ mẹ khóc nức nở.  Sự trung thực ngu ngốc đã vô tình khiến tôi phạm sai lầm khủng khiếp.

Trong truyện ngắn nổi danh ” Chiếc lá cuối cùng” của O.Henrry, một bệnh nhân tin chắc mình sẽ chết.  Cô đếm từng chiếc lá rụng của tán cây ngoài cứa sổ và tin rằng đó là chiếc lá đồng hồ số phận của cô.

Khi chiếc lá cuối cùng rơi xuống, cô sẽ chết.  Nhưng chiếc lá cuối cùng không bao giờ rụng xuống.  Cô gái bình phục, sống khỏe mạnh mà không biết rằng chiếc lá cuối cùng đó chỉ là một chiếc lá giả do một họa sĩ muốn cứu cô vẽ lên vòm cây trơ trụi.

Như vậy sự thật không phải được nhìn thấy bằng mắt, được cảm nhận bằng tri thức.  Nếu tôi không kể về cơn bão tôi thấy, mảnh ván tàu vợ tôi được nghe thì có lẽ người mẹ ốm yếu ấy không chết.

Nếu như không có chiếc lá giả kia, cô gái sẽ chết vì bệnh tật và vì tuyệt vọng.  Sự thật trong đời sống con người phải đồng nghĩa với tình yêu nữa.  Chỉ có điều gì cứu giúp con người, làm cho con người mạnh mẽ lên, hướng con người về ánh sáng… điều đó mới là sự thật.

Còn tất cả những hành động, những lời nói cho dù đúng với mắt mình thấy, tai mình nghe, tri thức của mình hiểu nhưng chúng khiến cho người khác, hoặc cho niềm tin cuộc sống, mất đi sức mạnh tinh thần dẫn đến việc hủy hoại đời sống thì đều không phải là trung thực.  Nếu chúng là sự thật, đó là sự thật của một con quỷ không biết yêu thương con người.

Một lời nói dối trong tình yêu có thể cứu người và một lời nói thật phũ phàng có thể giết người.  Tất nhiên chúng ta sẽ chọn lời nối dối chân chính.

Tuy vậy để phân biệt khoảng cách giữa những lời nói này cũng là một điều khó khăn và tùy thuộc vào từng hoàn cảnh đặc biệt.  Bạn có biết nói dối thế nào để lời nói dối ấy là lời nói dối chân thành, chứa đầy tình yêu thương con người?

Đơn giản thôi.  Bạn hãy giữ lấy một trái tim tha thiết với cuộc đời và đồng loại.

Khuyết Danh