NGUỒN GỐC THÁNG HOA KÍNH ĐỨC MẸ

Tháng Hoa có từ đời nào? Do ai khởi xướng?

Vào những thế kỷ đầu, hàng năm, khi tháng Năm về, người Rôma tôn kính sự thức giấc sau mùa đông dài của thiên nhiên bằng việc tổ chức gọi những ngày lễ tôn kính Hoa là Nữ thần mùa Xuân.

Các tín hữu Công giáo trong các xứ đạo đã thánh hóa tập tục trên khi tổ chức những cuộc rước kiệu hoa và cầu nguyện cho mùa màng phong phú.

zzCó nơi người ta tổ chức các cuộc “Rước xanh”.  Người ta đi cắt các cành cây xanh tươi đang nở hoa, đưa về trang hoàng trong các nhà thờ và đặc biệt các bàn thờ dâng kính Đức Mẹ.  Các thi sĩ cũng như các thánh đua nhau sáng tác những bài hát, bài giảng ca tụng những ngày lễ đó cũng như ca tụng Đức Mẹ.

Đến thế kỷ 14, linh mục Henri Suzo dòng Đaminh, vào ngày đầu tháng 5, đã dâng lên Đức Mẹ những việc tôn kính đặc biệt và lấy hoa trang hoàng tượng Đức Mẹ.

Thánh Philipe đệ Nêri, cũng vào ngày 1 tháng 5, thích tập họp các trẻ em lại chung quanh bàn thờ Đức Mẹ, để cùng các bông hoa mùa xuân, Ngài dâng cho Đức Mẹ các nhân đức còn ẩn náu trong tâm hồn non trẻ của chúng.

Đầu thế kỷ 17, tại Napoli, nước Ý, trong thánh đường kính thánh Clara của các nữ tu Dòng Phanxicô, tháng Đức Mẹ được cử hành công cộng: Mỗi chiều đều có hát kính Đức Mẹ, ban phép lành Mình Thánh.  Từ ngày đó, tháng Đức Mẹ nhanh chóng lan rộng khắp các xứ đạo.

Năm 1654, cha Nadasi, dòng Tên, xuất bản tập sách nhỏ khuyên mời giáo hữu dành riêng mỗi năm một tháng để tôn kính Đức Mẹ Chúa Trời.

Đầu thế kỷ 19, hết mọi xứ trong Giáo hội đều long trọng kính tháng Đức Mẹ.  Các nhà thờ chính có linh mục giảng thuyết, và gần như lấy thời gian sau Mùa Chay là thời gian chính thức để tôn kính Đức Mẹ.  Trong việc này linh mục Chardon đã có nhiều công.  Không những ngài làm cho lòng sốt sắng trong tháng Đức Mẹ được phổ biến trong nước Pháp mà còn ở mọi nước Công giáo khác nữa.

Đức Giáo Hoàng Piô XII, trong Thông điệp “Đấng Trung gian Thiên Chúa”, cho “việc tôn kính Đức Mẹ trong tháng Năm là việc đạo đức được thêm vào nghi thức Phụng vụ, được Giáo hội công nhận và cổ võ”.

Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, trong Thông điệp Tháng Năm, số 1 viết: “Tháng Năm là Tháng mà lòng đạo đức của giáo dân đã kính dâng cách riêng cho Đức Mẹ.  Đó là dịp để “bày tỏ niềm tin và lòng kính mến mà người Công giáo khắp nơi trên thế giới có đối với Đức Mẹ Nữ Vương Thiên đàng.

Trong tháng này, các Kitô hữu, cả ở trong thánh đường cũng như nơi tư gia, dâng lên Mẹ từ tấm lòng của họ những lời cầu nguyện và tôn kính sốt sắng và mến yêu cách đặc biệt.  Trong tháng này, những ơn phúc của Thiên Chúa nhân từ cũng đổ tràn trên chúng ta từ ngai tòa rất dồi dào của Đức Mẹ”

********************************

Một câu truyện cũ đáng suy nghĩ:

Ở thành Nancêniô trong nước Pháp, có một gia đình trung lưu.  Vợ đạo đức, chồng hiền lành nhưng khô khan.  Vợ luôn cầu xin Chúa mở lòng cho chồng sửa mình, nhưng chồng cứng lòng mãi.

Năm ấy, đầu tháng Hoa Đức Mẹ, bà sửa sang bàn thờ để mẹ con làm việc tháng Đức Mẹ.  Chồng bà bận việc làm ăn, ít khi ở nhà, và dù ông ở nhà cũng không bao giờ cầu nguyện chung với mẹ con.  Ngày lễ nghỉ không bận việc làm thì cũng đi chơi cả ngày, nhưng ông có điều tốt là khi về nhà, bao giờ cũng kiếm mấy bông hoa dâng Đức Mẹ.

Ngày 15 tháng Sáu năm ấy, ông chết bất thình lình, không kịp gặp linh mục.  Bà vợ thấy chồng chết không kịp lãnh các phép đạo, bà buồn lắm, nên sinh bệnh nặng, phải đi điều trị ở nơi xa.  Khi qua làng Ars, bà vào nhà xứ trình bày tâm sự cùng cha xứ là cha Gioan Vianey.

Ngài là người đạo đức nổi tiếng, được mọi người xem là vị thánh sống.  Bà vừa tới nơi chưa kịp nói điều gì, cha Gioan liền bảo:

–  Đừng lo cho linh hồn chồng bà.  Chắc bà còn nhớ những bông hoa ông vẫn đem về cho mẹ con bà dâng cho Đức Mẹ trong tháng Hoa vừa rồi chứ?

Nghe cha nói, bà hết sức kinh ngạc, vì bà chưa hề nói với ai về những bông hoa ấy, nếu Chúa không soi cho cha, lẽ nào người biết được?

–  Cha sở nói thêm: Nhờ lời bà cầu nguyện và những việc lành ông ấy đã làm để tôn kính Đức Mẹ, Chúa đã thương cho ông ấy được ăn năn tội cách trọn trong giờ chết.  Ông ấy đã thoát khỏi hỏa ngục, nhưng còn bị giam trong luyện ngục, xin bà dâng lễ, cầu nguyện, làm việc lành thêm cầu cho ông chóng ra khỏi nơi đền tội nóng nảy mà lên Thiên đàng.

Nghe xong lời cha Gioan, bà hết sức vui mừng tạ ơn Đức Mẹ.

Nếu chỉ vì mấy bông hoa mọn dâng kính Đức Mẹ cũng được Đức Mẹ ban ơn cứu rỗi lớn lao như vậy, thử hỏi, những ai trong tháng Năm này tham dự dâng Hoa, rước kiệu, đọc kinh Mân côi, hơn nữa, họ dâng lên Mẹ những hoa tin, cậy, mến, hi sinh, đau khổ, bệnh nạn…c hắc sẽ còn được Đức Mẹ ban muôn ơn trọng hơn nữa?  Mẹ thích những bông hoa Xanh của lòng Cậy, hoa Đỏ của Lòng mến, hoa Trắng của lòng trong sạch, hoa Tím của hãm mình, hoa vàng của niềm tin, hoa Hồng của kinh Kính mừng.

Thánh Anphongsô Ligori quả quyết rằng: “Nếu tôi thật lòng yêu mến Mẹ, thì tôi chắc chắn được lên thiên đàng”.  Thánh Bênađô thì diễn tả văn vẻ hơn: “Được Mẹ dẫn dắt, bạn sẽ không ngã. Được Mẹ che chở, bạn sẽ không sợ.  Được Mẹ hướng dẫn, bạn sẽ an lòng.  Được Mẹ ban ơn, bạn sẽ đạt đích mong chờ”.

Lm. Đoàn Quang CMC

********************************

Nơi ngưỡng cửa những buổi chiều
Lạy mẹ, con đến bên Mẹ với con tim đầy phiền muộn
Mẹ đã thấy điều làm con đau khổ trên đường con đi
Mẹ ơi, con biết rõ đôi tay mẹ đã ứ đầy
Những bó hoa của khổ đau mà mọi người đến để dâng lên Mẹ hiền.
Nơi ngưỡng cửa của những buổi chiều, Mẹ thật để ý ,
Vì đó là giờ mà tâm hồn con luôn quay về với Mẹ .
Mẹ ơi, những lời nói của con thật nặng nề .
Lời nguyện cầu của con còn nhút nhát .
Ðể nói chuyện với Chúa của con, con cần đến tiếng nói của Mẹ hiền .
Ngôi sao luôn tỏa sáng trong đêm tối của những nghi nan nơi con,
Mẹ hướng cái nhìn của con về bình minh của tình yêu mến .
Mẹ ơi, khi con do dự trước những giao điểm đường đời,
Con lập lại tên Mẹ và con lại luôn luôn bước tới.
Cho tới giờ được chúc phúc, giờ được nhìn ngắm dung nhan Mẹ,
Con sẽ không còn nghĩ tới những đá cản trên đường !
Mẹ ơi, khi con đợi chờ kết thúc của cuộc lữ hành,
Con sẽ đi về nhà Cha khi cầm tay Mẹ hiền ..

Jeannine Perrier

BIẾT THẦY LÀ BIẾT CHA

Nhiều lần Chúa Giêsu nói về Chúa Cha khiến các môn đệ đâm ra tò mò. Chúa Cha là Ai? Ngài ở đâu? Ngài là Ðấng thế nào? Thế nên, trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, Philipphê mới xin với Chúa Giêsu: ” Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” (Ga.14:8)

Dùng ngôn ngữ hạn hẹp của con người để diễn tả mầu nhiệm cao vời về Chúa Cha thì khác chi lấy gang tay đo trời cao vời vợi. Vì vậy, thay vì dùng lời nói để diễn giải, Chúa Giêsu dùng phương pháp trực quan. Ngài chỉ cho Philipphê cũng như các môn đệ xem chân dung và hình ảnh đích thực của Thiên Chúa Cha. Chân dung đó, hình ảnh đó chính là Ngài: “Ai biết Thầy là biết Cha” (Ga.14:7), và “Ai thấy Thầy là thấy Cha” (Ga.14:9)

Nhìn vào Chúa Giêsu, ta sẽ biết được Thiên Chúa Cha. Nơi Chúa Giêsu, ta tìm gặp được Thiên Chúa cha, dễ gần, dễ thấ

y, dễ quen. Thiên Chúa đâu chỉ ở nơi cao thẳm ngàn trùng. Thiên Chúa hiện diện nơi con người Chúa Giêsu, khiêm hạ; bao dung và yêu thương .

Chúa Giêsu cũng tỏ cho các môn đệ biết giữa Ngài và Chúa Cha có một mối hiệp thông mật thiết. Giữa Ngài và Thiên Chúa Cha có một gắn bó lạ lùng đến nỗi Chúa Giêsu dám nói: “Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy“(Ga.14:11). Những lời Chúa Giêsu nói chính là lời của Chúa Cha được nói qua môi miệng Chúa Giêsu: “Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Ðấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. (Ga.14:10).  Lời nói và việc làm của Chúa Giêsu chính là lời nói và việc làm của Thiên Chúa Cha. Toàn bộ cuộc đời Chúa Giêsu được Chúa Cha chiếm ngự. Ngài như tấm gương trong suốt, phản chiếu khuôn mặt và trái tim Thiên Chúa Cha; đầy nhân ái và bao dung với hết mọi người.

Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, Chúa Giêsu còn tự nhận mình là Con Ðường, thậm chí là Con Ðường độc nhất dẫn đến Chúa Cha: “Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” (Ga.14:6). Mọi con đường cứu độ đều phải đi Con Ðường Giêsu. “Thiên Chúa không ban một danh nào khác dưới bầu trời, để nhờ danh đó mà chúng ta được ơn cứu độ” (Cv.4:12). Nhân loại được cứu độ nhờ Danh Chúa Giêsu, kể cả những ai không biết Ngài, không được nghe Lời Ngài, nhưng đã sống theo những đòi hỏi của lương tâm, hợp với tinh thần của Tin Mừng Ơn Cứu Độ

Sau khi đã sống một đời yêu thương tự hiến, Chúa Giêsu đã về với Chúa Cha trong vinh quang phục sinh. Cuộc đời của Ngài đã trở thành con đường cho ta bước đi. Khi đi vào Con Ðường Giêsu, ta cũng trở nên nẻo đường cho những người xung quanh. Đó là nẻo đường dẫn đến Thầy Giêsu, và qua Ngài, nẻo đường ấy dẫn đưa đến Thiên Chúa Cha

Làm Kitô hữu là làm người giống như Chúa Giêsu Kitô, là trở nên một Giêsu khác, là hình ảnh trung thực của Đức Kitô, là ao ước được nói rằng: “Ai biết tôi là biết Ðức Kitô… Ai thấy tôi là thấy Ðức Kitô“.

***

Lạy Chúa Giêsu! Ðã bao lần con làm cho khuôn mặt Chúa trở méo mó, biến dạng và có thể là rất khó thương vì đời sống không tốt đẹp của con.

Xin cho con biết nhìn lên Chúa như một khuôn mẫu tuyệt vời để tu tập thành con người mới, con người có phẩm chất cao đẹp, có đạo đức và tình yêu thương, để nhờ đó con trở thành hình ảnh trung thực về Chúa cho thế giới hôm nay. Amen

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1:Cv.6:1-7 * BĐ2:1Pr.2: 4-9 * PÂ:Ga.14:1-12)

BÁN RUỘNG

zz“Chúa Yêsu lại dậy một thí dụ khác mà rằng: Nước Trời ví như người kia gieo giống tốt trong ruộng mình.  Nhưng lúc mọi người ngủ thì có kẻ thù đến gieo cỏ lùng lẫn với lúa rồi đi.  Khi lúa lớn lên và có bông thì cỏ lùng cũng xuất hiện” (Mt. 13: 24-26).

Lời Kinh Thánh trên đây nói về thửa đất đã có từ lâu.  Mảnh ruộng đã mấy đời cấy cày.  Một hôm, có khách qua đường dừng chân đứng ngó.  Người tìm đất gian manh suy tính.

Có thửa ruộng đã 20 năm, có mảnh đất đã 40 mươi tuổi đời.  Cuộc sống mỗi người là một thửa ruộng. Từ lúc chuông nhà thờ báo vui ngày tôi rửa tội, trong vườn ấy, Người trồng cây nhân ái.  Từ lúc thửa đất linh hồn tôi khai sinh.  Trong vườn ấy, Ngài gieo hạt giống độ lượng.

Ðã bao ngày Ngài cuốc vỡ đất bờ.  Vất vả, nhưng Ngài mơ một ngày thửa vườn sai trái.  Nắng có hanh nhưng lòng Ngài vẫn mát cho một chân trời hy vọng.  Tôi còn nhớ ngày Ngài trao thửa vườn cho tôi. Có mát dịu bình yên đi về, có sương ẩm là những lời kinh sớm hôm phủ trên bờ đất mềm.  Những hạt giống khiêm nhường, nhẫn nại, hy sinh, nhiệt thành Ngài gieo xuống hồn tôi, khoảng thời gian ấy, nhú mầm xanh đẹp làm sao.  Hây hây mầu bình minh rực rỡ là lời chuông ban sáng.  Êm đềm quá đỗi.  Trời càng hồng, thửa vườn càng căng mầu sống.  Ngài trao cho tôi, dặn dò cẩn thận, trong đôi mắt Ngài, ẩn giấu mầu hy vọng của một mùa gặt sắp tới.

******************************

Hôm nay nhớ lại thủa xa xưa đó, một hôm, có người khách lạ qua đường dừng chân đứng ngó.  Hắn ta đứng nhìn thửa vườn linh hồn tôi, suy tính.  Một lần, rồi một lần qua đi.  Ðến một chiều hoang dại hắn ghé chơi.  Tôi nghi ngại tần ngần.  Hắn nhìn cây nhân ái, ướm thử cành can đảm, đo nhánh trung thành.  Rồi hắn lại ghé chơi.  Dần dà, đến một ngày khi bình minh và hoàng hôn đều rải nắng như nhau.  Thì hắn, dường như không còn là khách lạ như xưa.  Hắn ta quen thuộc ra vào thửa vườn linh hồn của tôi.  Tôi chẳng còn phân biệt mầu nắng vàng đỏ của buổi chiều sắp tắt hoàng hôn và mầu cam ối khi mặt trời mọc.  Khởi đầu và tận cùng dường như mù mờ lẫn lộn.  Thánh thiện và tội lỗi giao thoa. Cái hiu hiu của chân trời lịm đi và cái hây hây của một bình minh đang lên nhù nhòa lẫn vào nhau.

Ngang đời, hôm nay Chúa trở về thửa vườn xưa.  Ngài hỏi lại chuyện cũ, muốn thăm lại vùng đất linh hồn tôi mà Ngài đã mơ một mùa sai trái.

******************************

Cỏ cây lên như nhau mất rồi.  Người khách lạ đã âm thầm làm việc, gã trồng những loại cây rừng hắn muốn.  Thửa đất linh hồn tôi, không hẳn là đã bị mua vì người mua không muốn xuất đầu lộ diện. Không hẳn là bán vì tôi tiếc đất không chịu ký tên.  Mơ hồ, lãng đãng.  Kinh Thánh chỉ bảo “khi ngủ” thì có kẻ thù đến gieo cỏ.  Hôm nay, nhìn lại, vườn không bán mà mất quyền làm chủ.  Khách lạ không mua mà lại gieo được thứ nó muốn trồng.  Linh hôn tôi đã một thủa bình yên.  Nay dậy sóng gian nan.  Cõi lòng tôi đã một thủa vườn lên màu xanh thong thả, gió về không lo âu.  Tim tôi đã một thủa ươm màu hồng của nắng, màu vàng rực của trời.  Giờ đây, tiếc nhìn dĩ vãng.

Ngang đời, hôm nay Chúa đến thăm linh hồn tôi, ruộng đất phai mầu chung thuỷ.  Ðất nhạt muối của lòng mến.  Bến bờ đợi trông một mùa lúa tốt đã bẽ bàng mất mát.  Chấp nhận những ngày nắng đổ, gánh đi những sỏi đá chai cứng của một linh hồn khô cằn.  Chúa đã nao nức vỡ đất nhìn về tương lai. Ngang đời, hôm nay Ngài đứng nhìn thửa ruộng mà bâng khuâng hỏi lòng.  Ðất không bán, ruộng không cho thuê, sao lại loang lổ những vùng cỏ hoang dại.

******************************

Lạy Chúa, hồn con là một thửa ruộng.  Chúa là người trồng.  Chúa đã nhọc nhằn vỡ đất hồn con.  Tại sao con lại coi thường kẻ thù phá hoại?  Có sa ngã nào con vấp phạm mà đã không qua những ngày tháng mở cửa linh hồn làm quen với những dịp tội.  Con có thể an ủi mình rằng làm sao mà tôi thức tỉnh được, tôi cũng thân phận yếu đuối.  Tuy nhiên, con thấy khó mà chấp nhận được lời giải thích đó. Kẻ thù gieo cỏ khi con ngủ, vậy khi thức dậy con không thấy gì khác lạ sao?  Từ khi cỏ mọc cho tới khi lúa trổ bông cũng cần thời gian chứ, có đam mê nào trở thành lối sống nếu con đã không cưu mang nó bằng những ngày tháng thật dài.  Con không bao giờ vác cuốc thăm ruộng hồn mình để biết nắng mưa sao?  Ðó là sự lười biếng của con.

Cái tinh vi của Satan là gieo cỏ lùng lẫn với lúa “rồi đi.”  Gieo xong, Satan không đứng đó nhưng bỏ đi.  Qua đêm, thức dậy không thấy bóng dáng kẻ thù nên con tưởng rằng thửa ruộng chỉ có hạt giống tốt thôi.  Trong cái thờ ơ của cuộc sống, con đã không xét mình kỹ lưỡng những công việc con làm và hồn con đã phiêu du vào những chân trời nguỵ biện.  Có những việc tông đồ đã bị hương khói Satan mờ mịt mà con cứ tiếp tục đi.  Nguy hiểm biết bao, xin Chúa hãy thức tỉnh con.

Lm Nguyễn Tầm Thường S.J – trích trong “Con biết con cần Chúa”

 

CĂN NHÀ

zzNgười Philipines có kể câu chuyện ngụ ngôn để nói lên sự quan trọng của tinh thần hiệp nhất trong một tập thể như sau.[1]

Một ngày nọ, các bộ phận của căn nhà đã tranh cãi nhau xem thử thành phần nào là quan trọng nhất trong một căn nhà.  Những chiếc cột thì cho rằng, chúng quan trọng nhất vì chúng là những cột trụ giúp căn nhà đứng vững.  Bốn bức tường cũng cho rằng, chúng mới quan trọng nhất vì chính chúng giúp che gió và giúp cho các cây cột đứng vững được.  Mái nhà cũng không chịu thua khi tranh cãi rằng, mái nhà là quan trọng nhất vì không có mái nhà thì không ai ở trong đó. Nếu không có mái nhà thì căn nhà sẽ chịu mưa nắng và không phải là nơi trú ẩn an toàn cho con người.  Những chiếc đinh dù rất nhỏ bé nhưng cũng lý luận rằng, chúng mới là quan trọng vì chúng biết liên kết những cây cột với các bức tường, chúng giúp cho mái nhà vững chắc.

Cuộc tranh cãi kéo dài ngày này qua ngày khác cho đến một hôm chúng quyết định không ở chung với nhau nữa.  Nghĩa là mỗi thành phần trong căn nhà tự tách mình ra đứng riêng.  Chúng quyết định nhờ chị gió, chị mưa và động đất giúp chúng tách mình ra khỏi căn nhà.  Chỉ sau một vài giây đồng hồ, căn nhà sập đổ hoàn toàn.  Những chiếc cột không còn đứng vững; những vách tường không có sức mạnh để cản gió; mái nhà không còn che mưa nắng được; và những chiếc đinh bị lăn lóc và không còn dùng vào được việc gì.

***********************************

Quí bạn thân mến, một căn nhà được xây dựng bằng nhiều thành phần khác nhau.  Những cây cột, những bức tường, những mái tranh, và những chiếc đinh.  Dù xem chừng như cái này quan trọng hơn cái kia, nhưng thực ra, chúng chỉ thực sự quan trọng khi chúng biết đứng chung với nhau.  Sự đứng chung với nhau giúp cho vai trò và giá trị của chúng thêm quan trọng, chứ không phải khi đứng riêng một mình làm chúng quan trọng.  Nói cách khác, khi biết đứng chung với nhau thì làm cho vai trò của mỗi thành viên thêm giá trị, nhưng khi đứng riêng, thì những giá trị cá nhân sẽ chẳng là gì cả.

Chiếc cột, bức tường, mái nhà, cây đinh chỉ chu toàn bổn phận và sứ mạng của chúng khi chúng chấp nhận chia sẻ trách nhiệm cho nhau; khi chúng biết đứng chung với nhau; và chấp nhận sự quan trọng khác nhau nơi những thành phần xung quanh mình.  Nếu chỉ nhận ra sự quan trọng của mình mà không nhận ra sự quan trọng của người khác thì sẽ dẫn đến cãi vả, tranh dành hơn thua, được mất.  Và ngược lại, nếu chỉ nhận ra sự quan trọng của người khác mà không thấy vai trò quan trọng của mình trong tập thể, thì mình cũng làm hỏng đi căn nhà đại cuộc.  Nói tóm lại, không ai quan trọng hơn ai, và cũng không ai kém quan trọng hơn ai.  Chúng ta có sự khác biệt trong vai trò, nhưng chúng ta không có sự khác biệt trong trách nhiệm.  Chúng ta có sự khác biệt trong vị trí của mội tập thể, nhưng chúng ta không có sự khác biệt trong sứ mạng.  Tất cả đều cần nhau, và tất cả đều lệ thuộc vào nhau.  Nếu không cần nhau, không hợp tác với nhau, thì dù thiếu đi một cây đinh, căn nhà cũng có thể bị phá sập bất cứ lúc nào.

Bạn thân mến, mời bạn nhận ra vai trò của mình và của người khác, cũng như trách nhiệm của mình và cũng như của họ.  Chúng ta nên nhìn vào trách nhiệm và sứ mạng của họ hơn là vị trí tước hiệu bên ngoài.  Dù vai trò của họ quan trọng đến bao nhiêu đi chăng nữa, họ vẫn phải cần bạn.  Và vai trò của bạn có nhỏ bé đến đâu đi chăng nữa, trách nhiệm của bạn cũng lớn như họ vậy.

Thưa bạn, tiếng vỗ tay của khán thính giả cũng quan trọng như khả năng trình diễn của người nghệ sĩ.  Nếu có khác nhau chẳng qua cũng chỉ là khác ở vị trí: kẻ đứng người ngồi.  Còn thực ra cả hai cũng chỉ phục vụ cho nghệ thuật và đem niềm vui đến cho nhau, phải không bạn?

Br. Huynhquảng

[1] Biên tập lại từ The Parts of the House Argue in Wisdom Tales (Atlanta: August House, Inc., 1996), 101.

MỤC TỬ VÀ ĐÀN CHIÊN

“Nhân danh Thiên Chúa, nhân danh những người đau khổ mà lời than khóc của họ vang vọng lên tới trời xanh… Tôi van xin anh em, tôi ra lệnh cho anh em: Nhân danh Thiên Chúa, hãy chấm dứt đàn áp! Chấm dứt chém giết!”.

Đó là lời nói lập đi lập lại nhiều lần của Đức TGM. Oscar Romero, vị mục tử của đàn chiên trong tổng giáo phận San Salvador, nói với quân đội và chính quyền độc tài El Salvador vào thập niên 80, khi cuộc nội chiến bùng nổ trong quốc gia vùng Nam Mỹ này.

zzĐức TGM. Oscar Romero là Giám mục của người nghèo, của công lý và sự thật. Ngài lên tiếng đòi quyền sống cho những người bị giết hại, đòi công lý cho những người bị áp bức… Ngài là tiếng nói can trường bất khuất thay cho những người có miệng nhưng không có tiếng nói, cho những người bị đàn áp trong một xã hội đầy bất công, bóc lột và chém giết lẫn nhau.

Để bênh vực đàn chiên của mình, để bảo vệ công lý và sự thật. Vị mục tử đáng kính và can trường đã phải trả một giá máu bằng chính mạng sống của Ngài. Vào ngày 24/03/1980, trong lúc đang cử hành Thánh lễ tại nhà nguyện của Bệnh viện Chúa Quan Phòng. Ngài đã bị chính quyền và quân đội giết hại bằng một phát đạn bắn vào ngực.

Vị mục tử của tổng giáo phận San Salvador đã nằm xuống, nhưng tinh thần tranh đấu cho người nghèo và người bị áp bức đã không nằm xuống. Máu của Ngài đã đổ ra vì công lý và sự thật để cho công lý và sự thật không bị đi vào quên lãng, nhưng được chắp cánh bay cao. Mạng sống của Ngài đã hy sinh vì đàn chiên để đàn chiên được sống, và sống dồi dào …

***

Bạn thân mến! Rải rác khắp nơi trong thế giới chúng ta đang sống hôm nay, vẫn còn biết bao vị mục tử đáng kính và can trường như Đức TGM. Oscar Romero. Các Ngài đã và đang chăn dắt đàn chiên của mình một cách oai hùng, đã anh dũng bênh vực và hy sinh cho đàn chiên của mình, đã dóng lên tiếng nói cho công lý, sự thật và nhân phẩm con người. Các Ngài đã gục ngã khi đang thi hành sứ vụ. Các ngài là hy vọng cho xã hội và cho cả thế giới hôm nay, vì các ngài chứng tỏ rằng tình yêu Chúa Kitô mạnh hơn bạo lực và sự thù hận. Các ngài không tìm kiếm sự tử đạo nhưng sẵn sàng thí mạng sống để bênh vực cho đàn chiên, để bảo vệ công lý và sự thật, và nhất là để giữ lòng trung tín với Tin Mừng mà các ngài đã được trao ban.

Tin Mừng Chúa nhật hôm nay cũng nhắc đến vị “Mục Tử Nhân Lành”. Đó chính là Đức Giêsu, Ngài là “cửa chuồng” (Ga:10.8) và qua đó từng con chiên được đưa vào chuồng để ngủ đêm an toàn, tránh được nanh vuốt của thú dữ. Chính nơi cửa chuồng này, người mục tử sẽ đứng cầm gậy kiểm điểm từng con chiên của mình, không để một con nào bị lạc mất. Và cũng chính nơi cửa chuồng này, người mục tử đứng chờ từng con chiên, dẫn chúng ra đi ăn mỗi buổi sáng. Ðó là lúc các chiên nghe và nhận biết tiếng gọi của mục tử. Ngài gọi tên từng con rồi dẫn chúng ra. Ngài đi trước, các chiên theo sau. Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ. “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi.”(Ga:10.27).

Chiên đã trở thành điều vô cùng quý giá đối với mục tử chân chính, đến nỗi mục tử dám hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên, để chiên được sống và sống dồi dào. Khác với mục tử giả hiệu là người chăn thuê. Họ bỏ chiên mà chạy khi gặp sói dữ và đàn chiên sẽ ra tan tác. Họ chỉ đến để giết hại và phá hủy đàn chiên. (Ga:10.12)

Ngày nay đôi khi người ta thường hay giới hạn ý nghĩa của chữ “mục tử” cho những người lãnh đạo tôn giáo. Nhưng thật ra, chữ “mục tử” còn dành cho tất cả những ai đảm trách việc trông coi và lãnh đạo: trông coi một gia đình; một hội đoàn; một xứ đạo hay một giáo phận… Lãnh đạo một phường; một quận; một tỉnh hay một quốc gia… một cách nào đó, đều có thể gọi là “mục tử”.

Mọi quốc gia, mọi giáo hội… tất cả đều rất cần có những Mục Tử Nhân Lành, hơn là việc có thật nhiều “anh hùng”. Câu chuyện sau đây minh họa điều đó.

Có hai người thuộc hai quốc gia nói chuyện với nhau:

– Tôi rất khâm phục đất nước anh, vì nước anh có rất nhiều “anh hùng”.

– Thế đất nước anh có nhiều “anh hùng” không ?

– Rất tiếc, đất nước tôi ít anh hùng lắm !

– Lạ nhỉ, đất nước tôi nhiều “anh hùng”, thế mà sao vẫn cứ nghèo nàn và lạc hậu, còn đất nước anh không có “anh hùng” mà sao lại phát triển và dân chúng lại giàu có như vậy ?

– À, đất nước tôi không có nhiều “anh hùng”, nhưng bù lại có được khá nhiều “Mục Tử Nhân Lành”

***

Lạy Chúa Giêsu!

Chúa chăn dắt con, con chẳng thiếu thốn chi
Trong đồng cỏ xanh rì, Người cho con nằm nghỉ.
Người đưa con tới giòng nước trong lành, và bổ sức cho con.
Dầu qua thung lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm. Amen

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1: Cv.2: 14a. 36-41 – BĐ2: 1 Pr.2: 20b-25 – PÂ: Ga.10:1-10 )

MẸ ƠI!  ĐỪNG KHÓC NỮA VẪN CÒN TÌNH YÊU Ở LẠI

Người phụ nữ nhảy ra khỏi ghế ngồi khi vừa thấy vị bác sĩ giải phẩu bước ra khỏi phòng mổ. Cô hỏi: ‘Thằng bé của tôi ra sao, thưa bác sĩ?  Liệu nó có qua khỏi không?  Chừng nào tôi gặp nó được vậy bác sĩ?’

Vị bác sĩ nói: “Rất tiếc.  Chúng tôi đã cố gắng hết sức, nhưng cháu đã không qua khỏi, thưa bà.”

Sally nói như thì thầm: “Tại sao trẻ con mà cũng bị ung thư?  Chúa có còn đoái hoài gì đến chúng con nữa không?  Ngài ở nơi đâu, Chúa ơi, khi con trai của con cần Ngài?”

Vị bác sĩ hỏi: “Bà có cần chút thì giờ ở riêng với cháu không? Một trong những y tá sẽ ra ngoài trong vài phút nữa, trước khi xác của cháu được chuyển qua trường đại học.”

Sally yêu cầu người y tá ở lại với nàng trong khi nàng nói lời từ biệt với đứa con trai của mình. Nàng luồn những ngón tay một cách yêu thương vào những lọn tóc quăn nghiêng qua màu đỏ của con. “Bà có muốn một lọn tóc của cháu không?” người y tá hỏi.  Sally khẽ gật đầu.  Người y tá cắt một lọn tóc của cậu bé, bỏ vào bao plastic và trao cho Sally.

zzNgười mẹ nói: ‘Đó là ý của Jimmy, cháu muốn hiến cơ thể của mình cho trường đại học để nghiên cứu.  Nó nói, “may ra sẽ giúp được cho một người nào đó.”

Lúc đầu tôi không chịu, nhưng Jimmy nói, “Mẹ à, con đâu có cần cơ thể này sau khi con chết đâu Mẹ.  Có thể nó sẽ giúp một đứa con trai nhỏ nào đó như con, được sống thêm một ngày với mẹ của nó, Mẹ à.”

Và người mẹ kể tiếp, “Jimmy của tôi có một trái tim và tấm lòng bằng vàng.  Nó luôn muốn giúp đỡ người khác khi nào hoàn cảnh cho phép.”

Sally bước ra khỏi bệnh viện Nhi Đồng Mercy (Lòng Thương Xót) lần cuối cùng, sau khi đã ở thường trực nơi đây từ sáu tháng qua.  Ngồi vào xe, nàng đặt bọc tóc của con vào chiếc ghế bên cạnh. Chuyến lái xe về nhà đầy nỗi khổ.  Càng khổ hơn khi bước vào căn nhà trống.  Nàng mang những đồ đạc của Jimmy, cùng với bao plastic đựng lọn tóc của con vào phòng của đứa con yêu dấu.

Nàng đặt những chiếc xe hơi con và những vật dụng riêng của nó vào đúng những chỗ mà Jimmy thường giữ.  Nằm nằm giăng ngang trên giường của con, ôm vào lòng chiếc gối của nó, rũ lòng ra theo những dòng lệ và rơi vào giấc ngủ.

Vào khoảng nửa đêm thì Sally tỉnh giấc.  Bên cạnh nàng là một lá thư xếp lại.  Nàng mở ra đọc:

“Thưa Mẹ,

Con biết là Mẹ sẽ nhớ thương con; nhưng đừng nghĩ rằng có bao giờ con sẽ quên Mẹ, hay thôi không còn yêu Mẹ nữa, chỉ vì con không được ở bên cạnh Mẹ để nói là “’Con Yêu Mẹ’ đó Mẹ ơi.  Con sẽ luôn yêu Mẹ, có thể nhiều hơn theo mỗi ngày đó Mẹ ơi.  Một ngày nào đó, chúng ta lại sẽ thấy nhau. Từ giờ cho đến ngày đó, nếu Mẹ muốn, thì Mẹ cứ nhận một chú bé nào đó làm con nuôi cho bớt nỗi cô đơn, con cũng vui với việc đó.   Nó có quyền ở căn phòng của con, chơi với các đồ chơi mà con chơi trước kia.  Nhưng nếu Mẹ quyết định chọn một đứa bé gái, có thể nó sẽ không thích những đồ chơi của con trai thì Mẹ sẽ phải mua cho nó những búp bê và những đồ chơi con gái đó Mẹ à.

Đừng buồn khi nghĩ đến con.  Con đang ở một chỗ khá lịch sự.  Ông và Bà đã gặp con khi con vừa mới đến và dẫn con đi xem vài chỗ, nhưng muốn xem hết mọi thứ thì mất một thời gian lâu hơn nữa.  Những thiên thần ở đây kỳ diệu lắm.  Con rất thích nhìn họ bay.  Và, Mẹ có biết không?  Chúa Jesus thật không giống như những hình ảnh mà ta thường thấy.  Dù vậy, khi thấy Ngài thì con biết liền là Chúa Jesus.  Chính Chúa Jesus đã đưa con gặp Đức Chúa Cha, và… con cho Mẹ đoán đó, con được ngồi trên đầu gối của Chúa Cha và nói chuyện với Ngài như thể con là ai quan trọng lắm vậy.

Đó là lúc mà con thưa với Chúa là con muốn viết thư cho Mẹ, để nói lời từ biệt cùng Mẹ và mọi thứ, dù con thừa biết là điều đó không được phép làm . Nhưng Mẹ ơi, Mẹ có biết gì không?  Chúa đưa cho con một ít giấy và cây bút riêng của Ngài để viết lá thư này mà con nghĩ là vị thiên sứ  Gabriel sẽ đến trao thư này cho Mẹ.  Chúa bảo con trả lời cho một trong những thắc mắc của Mẹ đã hỏi rằng “Chúa ở đâu khi con cần đến Chúa?”  Chúa nói rằng Ngài đang ở đó với con, cũng như khi con Ngài là Jesus đang bị treo thân trên thập tự giá thì Ngài cũng ở đó, cũng như Ngài luôn ở cùng với tất cả những người con của Chúa.

Ô, Mẹ à, con muốn nói là ngoài Mẹ ra sẽ không ai thấy những gì con đang viết cho Mẹ.  Đối với bất kỳ ai ngoài Mẹ thì họ chỉ thấy một tờ giấy trắng mà thôi.  Thật là kỳ diệu phải không Mẹ?  Bây giờ con phải trao lại cho Chúa cây bút của Ngài, vì Ngài đang cần viết thêm một số tên vào Sách của Sự Sống.  Đêm nay con sẽ được ngồi cùng bàn với Chúa Jesus và dùng bữa với Ngài.  Chắc là đồ ăn sẽ ngon lắm.

Ồ, con suýt quên nói cho Mẹ nghe.  Con không còn đau đớn nữa và bệnh ung thư đã đi mất. Con sung sướng vì thoát được cơn đau đớn quá sứcchịu đựng của con và Chúa cũng không đành lòng nhìn con đau đớn như vậy.  Đấy là lúc Ngài gửi Thiên Thần Thương Xót đến đưa con về.  Thiên Thần còn nói đây là Cuộc Đón Rước Đặc Biệt.  Mẹ thấy có oai không chứ?

Gửi Mẹ với Tình Yêu từ Thiên Chúa,
Đức Chúa Jesus và Con.

BỮA ĂN TỐI VỚI MẸ GIÀ

Sau 17 năm chung sống, vợ tôi bỗng muốn tôi đưa một người phụ nữ khác đi ăn tối và xem phim.  Cô ta nói: “Em yêu anh, nhưng em biết người phụ nữ khác cũng rất yêu thương anh và rất muốn có những khoảng thời gian ở bên anh”

Người phụ nữ mà vợ tôi nói đến đó chính là MẸ TÔI, hiện đang sống cô đơn từ 20 năm qua, thế mà tôi vì bận công tác và chuyện gia đình nên thỉnh thoảng mới ghé thăm bà.

Đêm đó, tôi gọi điện để mời bà đi ăn và xem phim

“Có chuyện gì không con?  Gia đình con ổn cả chứ?”  Bà lo lắng hỏi.  Mẹ tôi thuộc loại người phụ nữ hay lo lắng, cho rằng một cú điện thoại muộn hay một lời mời bất ngờ luôn là dấu hiệu báo trước của những chuyện không lành.

“Con nghĩ rằng con sẽ rất vui được ở bên mẹ một lúc – tôi trả lời – Chỉ hai mẹ con mình thôi”

zzMẹ tôi suy nghĩ một lát rồi trả lời: “Mẹ cũng rất thích điều đó”

Chiều Thứ sáu sau khi tan sở, tôi lái xe đến đón mẹ tôi.  Khi đến nơi, tôi nhận thấy mẹ tôi có vẻ bồn chồn náo nức về chuyện mẹ con tôi cùng ăn tối chung với nhau.  Bà đứng đợi tôi ở cửa, tóc uốn xoăn và mặc chiếc áo mà bà đã mặc trong lần sinh nhật vừa qua, miệng cười rạng rỡ: “Mẹ khoe với các bà bạn rằng mẹ sẽ đi ăn tối với con trai của mẹ và họ rất xúc động về điều này.”

Khi đến nhà hàng, mẹ tôi khoác tay tôi hãnh diện bước vào như thể bà là Đệ nhất Phu nhân.  Sau khi an vị, tôi đọc menu chọn món vì mắt mẹ tôi chỉ đọc được chữ to mà thôi.  Tôi bất chợt ngước lên và bắt gặp mẹ tôi đang nhìn tôi âu yếm.  Một nụ cười buồn thoáng hiện trên môi bà.  “Khi con còn bé, chính mẹ phải đọc menu chọn món”.

Tôi trả lởi : “Bây giờ đến lúc mẹ nghỉ ngơi để con đáp lễ cho mẹ chứ”

Trong suốt bữa ăn, mẹ con tôi nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, những kỷ niệm xa xưa từ thời nảo thời nao.  Thế nhưng mẹ tôi rất thích và ngồi nói suốt đến nỗi chúng tôi trễ mất buổi chiếu phim.

Khi về đến nhà, mẹ tôi nói: ” Mẹ sẽ đi ra ngoài với con lần nữa, nhưng lần này phải để mẹ mời”.  Tôi gật đầu đồng ý

“Bữa ăn tối của anh với mẹ thế nào ?”  Vợ tôi hỏi khi tôi về đến nhà

“Tuyệt vời!  Hơn cả mức anh tưởng”

Vài ngày sau, mẹ tôi qua đời vì bệnh tim.  Chuyện đó xảy ra bất ngờ đến nỗi tôi chẳng có cơ hội để làm điều gì đó cho mẹ tôi.

Một thời gian sau, tôi nhận được một lá thư, trong đó có bản sao hóa đơn của nhà hàng, nơi mà mẹ con tôi đã ăn bữa tối cuối cùng với nhau, kèm theo vài dòng chữ:

“Mẹ đã trả tiền trước cho hóa đơn này.  Mẹ không chắc mẹ có thể đi ăn với con hay không.  Nhưng không sao, mẹ đã trả tiền cho hai phần ăn – một phần cho con và một phần cho vợ con.  Con không thể nào hình dung được bữa ăn tối hôm đó có ý nghĩa như thế nào đối với mẹ đâu.  Mẹ yêu con, con trai của mẹ!”

From Internet

****************************

Lạy Cha là Chúa Tể muôn loài, là Đấng tạo dựng nên mọi sự, là Cha, là Mẹ của mỗi tạo vật chúng con.  Con không hình dung được Cha sẽ phản ứng ra sao nếu con muốn mời Cha một bữa ăn tối với con.  Một bữa tối chỉ có riêng con với Cha!  Con sẽ bỏ lại thế giới ồn ào sau lưng, không phone, không chat, không text, không online, không tivi, không bàn về tin tức thời sự nóng bỏng, không nói chuyện về công ăn việc làm, không xin xỏ….  Chỉ có hai người mình thôi để nói chuyện… trên trời dưới đất, rồi chúng ta sẽ  ôn lại những kỷ niệm của thời đã qua.  Con không biết Cha sẽ có bắt đầu bằng điệp khúc muôn thưở của các bà mẹ: “Ngày con còn bé…, “con nhớ không, ngày con còn bé xíu…”, “ngày con còn bé thơ… Cha đã vui biết bao lúc con khoác chiếc áo choàng trắng tinh trong ngày lễ rửa tội…”. 

Cha ơi, khi lớn lên, không có nghĩa là con xa dần vòng tay của Cha.  Xin cho con biết sắp xếp để có thời giờ với Cha, để mời Cha một bữa cơm tối rất riêng tư, để đi dạo dưới ánh trăng với Cha vài phút, để uống một tách trà nóng, một ly cam vắt với cha…  Cha có nhận lời mời của con không?  Con nghĩ là Cha sẽ vui và ngạc nhiên lắm khi con ngỏ lời mời Cha.   Đợi con Cha nhé, để con thu xếp.  Mong là không quá muộn màng.   Con yêu Cha! 

LTCT

 

ĐƯỜNG HY VỌNG

Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay thật đẹp.  Đẹp vì lời văn óng ả.  Đẹp vì tình tiết ly kỳ.  Đẹp vì tình nghĩa đậm đà. Đẹp vì những tư tưởng thần học thâm sâu. Nhưng đẹp nhất là vì bài Tin Mừng chất chứa một niềm hy vọng trong sáng, xua tan mọi bóng tối thất vọng não nề.

Hai môn đệ rời Giêrusalem trở về làng cũ. Giêrusalem là trung tâm tôn giáo. Rời Giêrusalem là dấu hiệu của sa sút niềm tin. Giêrusalem là trung tâm hoạt động. Rời Giêrusalem là dấu hiệu của chán nản buông xuôi. Trước kia hai ông đã bỏ nhà cửa, gia đình để đi theo Chúa Giêsu.  Nay hai ông trở về như kẻ thua cuộc. Ngày ra đi ôm ấp giấc mộng thành đạt. Ngày trở về ôm nặng một mối sầu. Sầu vì đã mất người Thầy yêu quí.  Sầu vì giấc mộng không thành.  Hai linh hồn sầu não, thất vọng lê bước trong ánh nắng chiều.

Nhưng giữa lúc buồn tủi, thất vọng ấy, Chúa Giêsu đã xuất hiện. Lập tức ánh sáng rực lên giữa màn đêm đen.  Niềm vui rộn rã xóa tan u sầu. Ngọn lửa bừng lên sưởi ấm những trái tim lạnh giá. Vì Chúa Giêsu đã đem đến cả một trời hy vọng.

Đọc trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, ta thấy Chúa Giêsu đã nhen nhúm niềm hy vọng trong tâm hồn các môn đệ Emmau bằng ba loại ánh sáng.

1) Ánh sáng đức tin thắp lên niềm hy vọng

Hai môn đệ đã chứng kiến cuộc sống và cái chết của Chúa Giêsu từ đầu cho đến cuối. Các ông đã thấy biết bao nhiêu phép lạ Người làm. Các ông đã nghe biết bao lời hay ý đẹp từ miệng Người phán ra.  Các ông đã công nhận Người là một “Ngôn sứ đầy uy thế xét về việc làm cũng như lời nói”.  Các ông đã hy vọng Người là Đấng giải thoát Israel. Nhưng cuộc thương khó và cái chết của Đức Giêsu khiến các ông chán nản và thất vọng.  Đến nỗi khi các phụ nữ ra mộ, gặp thiên thần báo tin Chúa đã phục sinh, các bà về kể lại, các ông vẫn không tin.

Bấy giờ Chúa Giêsu bảo các ông “Lòng trí các anh sao mà chậm tin lời các ngôn sứ vậy”.  Chúa Giêsu kêu gọi đức tin trở về. Chúa Giêsu khơi dậy đức tin đã lụi tàn bằng cặp mắt phàm trần và các ông không hiểu gì. Khi có đức tin, các ông sẽ hiểu tất cả. Đức tin là nguồn ánh sáng giúp ta nhìn ra ý nghĩa của các biến cố trong cuộc đời. Đức tin là đốm lửa thắp lên niềm hy vọng giữa đêm đen tuyệt vọng.

2) Ánh sáng lời Chúa gieo mầm hy vọng

Hai môn đệ đã đọc Kinh Thánh. Các ông thuộc vanh vách sách lề luật Môsê, các Ngôn sứ và Thánh vịnh. Thế nhưng các ông vẫn thất vọng. Vì các ông đọc Kinh Thánh mà không hiểu Kinh Thánh.  Các ông học Kinh Thánh như học một bài thuộc lòng.  Các ông đọc Kinh Thánh như đọc một bản văn cổ, chỉ có những dòng chữ vô hồn.

Chúa Giêsu phải giải thích Kinh Thánh cho các ông. Bắt đầu từ sách Lề Luật, rồi lời các Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh.  Khi nghe Chúa nói, tim các ông rộn ràng niềm vui, trí các ông bừng sáng như thể một ngọn lửa nhen nhúm trong lòng. Chúa Giêsu đã dạy các ông một cách đọc Kinh Thánh mới mẻ. Phải đọc giữa những hàng chữ để thấy rõ những ý nghĩa nhiệm mầu.  Phải tìm sau những hàng chữ để thấy được ý định kỳ diệu của Thiên Chúa. Phải đọc Kinh Thánh dưới sự hiện diện của Thiên Chúa. Phải thấy bóng dáng Thiên Chúa thấp thoáng trong những trang sách. Và phải đọc Kinh Thánh với một trái tim yêu mến tha thiết.

Khi trái tim mở rộng đón nhận, Lời Chúa sẽ gieo vào hồn ta những mầm mống hy vọng. Và cuộc đời sẽ thấy lại ý nghĩa, tìm được niềm vui.

3) Ánh sáng Thánh Thể nuôi dưỡng niềm hy vọng

Niềm hy vọng trở thành hiện thực khi Chúa Giêsu bẻ bánh. Chính qua cử chỉ bẻ bánh mà các môn đệ nhận ra Chúa Giêsu Phục Sinh. Niềm hy vọng không còn là hy vọng nữa, nhưng đã trở thành hiện thực. Không còn những bán tin bán nghi. Không còn những hoang lo lắng. Không còn những thấp thỏm lo âu. Vì các ông đã gặp được chính niềm hy vọng.

zzCuộc gặp gỡ chỉ thoáng qua, nhưng các ông đã mãn nguyện. Chúa Giêsu bẻ bánh là nhắc lại cử chỉ khi lập phép Thánh Thể.  Nhờ phép Thánh Thể toàn bộ con người các ông đổi mới. Dường như một linh hồn mới vừa nhập vào những xác thân mệt mỏi rã rời. Dường như dòng máu đã trở nên đỏ thắm. Dường như những tế bào đã trở nên tươi trẻ. Dường như trái tim đã trở nên rộn rã nhịp yêu đời. Lập tức các ông trở lại Giêrusalem. Đường đi khi trời còn sáng mà thấy xa xôi ngại ngùng. Đường đi về lúc trời đã tối đen mà sao thấy tươi vui gần gũi. Lúc đi có Chúa ở bên mà vì con mắt đức tin mù tối nên vẫn thấy buồn sầu. Lúc về tuy vắng bóng Chúa nhưng vẫn an tâm vì con mắt đức tin đã mở ra, vì vẫn biết có Chúa ở bên. Thánh Thể Chúa chính là lương thực nuôi dưỡng niềm hy vọng.

Nhờ có Thánh Thể, đường xa trở nên gần. Nhờ có Thánh Thể, đường buồn trở nên vui. Vì nhờ có Thánh Thể, ta luôn được ở bên Chúa.

Đời sống ta không thiếu những giờ phút khó khăn. Cuộc đời đầy thử thách nhiều lúc đẩy ta vào hố thẳm tuyệt vọng. Ta hãy học bài học Chúa dạy các môn đệ trên đường Emmau: “Hãy biết nhìn các biến cố trong cuộc đời bằng con mắt đức tin”. Dưới ánh sáng đức tin, đau khổ sẽ xuất hiện với một ý nghĩa tốt đẹp cho cuộc đời. Ánh sáng đức tin sẽ thắp sáng niềm hy vọng. Hãy biết nghe, đọc và suy gẫm Lời Chúa. Đừng đọc Kinh Thánh như đọc tiểu thuyết. Đừng học hỏi Kinh Thánh như học một lý thuyết. Hãy đọc với tình yêu. Hãy tìm bóng dáng Chúa xuyên qua các hàng chữ. Hãy mở rộng tâm hồn đón nhận Lời Chúa.  Lời Chúa sẽ như một hạt giống gieo vào lòng ta mầm hy vọng xanh tươi. Và sau cùng hãy đến với Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể.

Hãy kết hiệp với Chúa Giêsu trong Thánh Thể. Thánh Thể sẽ là lương thực nuôi dưỡng niềm hy vọng của ta.

Đường đời của ta cũng như quãng đường từ Giêrusalem đi Emmau. Khi ta không có niềm hy vọng thì con đường ta đi thật dài, thật xa, thật buồn, thật tối dù ta đi giữa ban ngày. Nhưng khi ta có niềm hy vọng, con đường sẽ trở nên gần gũi, vui tươi, và sáng sủa dù ta đi trong bóng đêm.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh là niềm hy vọng của con. Xin cho đường đời con đi trở thành đường hy vọng, vì luôn có Chúa ở bên con. Amen

TGM. Ngô Quang Kiệt
(BĐ1: Cv 2, 14. 22-28   – BĐ2: 1 Pr 1, 17-21 – PÂ: Lc 24, 13-35)

CÁCH TỎ TÌNH CỦA NGƯỜI DÂN TỘC

Nói đến người dân tộc thì mọi người đều liên tưởng đến những gì đơn sơ nhất, giản dị nhất. Từ chuyện  ăn mặc đến cách sống.  Và người ta cũng nghĩ rằng người dân tộc có một lối suy nghĩ rất ngây thơ, với người dân tộc thì gần như mọi chuyện thật nhẹ nhàng.

Con nói đến vấn đề này không phải là vô cớ.  Thời gian gần đây, con có dịp được đến với những người dân tộc.  Con đã đến  Gia Lai, con đã được dịp cùng một linh mục vào dự Thánh lễ trong một làng của người dân tộc.  Vào đến nơi mới thấy nơi Chúa ngự là một Thánh Đường cực kỳ đơn sơ, đơn sơ  như tấm lòng của người dân tộc.  Thánh Đường chỉ được dựng một cách rất giản dị, vì những người con của Chúa đa phần là những người dân tộc còn nghèo về vật chất.  Họ chỉ biết dâng Chúa tấm lòng phó thác, chứ họ không có gì để dâng Chúa.

Thấy mà thương làm sao, tuy Thánh Đường đơn sơ nhỏ bé nhưng tấm lòng của giáo dân nơi đây rất nhiệt tâm.  Để đến mà cầu nguyện và tham dự Thánh Lễ thì họ phải mất nhiều thời gian.  Người thì một giờ, người thì vài giờ, cũng có người mất cả buổi mới tới nơi…..  Nhưng khi họ bắt đầu vào lễ thì con thấy tâm hồn của họ, không còn chút gì vướng bận, lo ra.  Ở đây con tuyệt đối không thấy có một tiếng chuông điện thoại nào vang lên trong giờ lễ.  Có lẽ họ không có đủ phương tiện như người Kinh, nhưng chính vì thế mà Thánh Lễ được nghiêm trang hơn và họ đặt hết tâm hồn mình vào trong Chúa.

Lần đầu tiên con được nghe, được thấy.  Họ đọc kinh như hát, và khi họ hát Thánh ca còn tuyệt vời hơn.

zzChúng ta, ở những nơi phát triển thì bao nhiêu là dụng cụ phục vụ chúng ta một cách chu đáo.  Nhưng con nghĩ, nếu một lần quý vị nghe tiếng nhạc cụ của những người dân tộc khi được họ sử dụng trong Thánh Lễ thì quý vị sẽ thấy tuyệt vời như thế nào.  Những âm thanh làm cho con có cảm giác bay bổng và thấy gần gũi với Chúa nhiều hơn.

Tuyệt vời lắm, nếu quý vị đọc xong bài của con mà muốn tận mắt chứng kiến thì con xin mời quý vị một lần đền dự Thánh Lễ của người dân tộc.  Cụ thể hơn, con mời đến với Giáo Xứ Lệ Chí, gặp vị Linh mục chánh xứ, rồi vị linh mục nơi đó sẽ đưa qúy vị tới nơi để cùng tham dự Thánh Lễ trong làng.

Con lại được dịp thấy vinh quang của Chúa qua những người bị bệnh phong.  Được tới viếng thăm một ít người bệnh phong và thấy những con người sống trong hoàn cảnh bệnh tật và nhiều khó khăn trong cuộc sống.  Nhưng khi giao tiếp với người lạ, họ không hề ta thán về hoàn cảnh thực tại của mình. Con đã tận mắt chứng kiến một gia đình có hai ông bà cụ đều bị bệnh phong, họ vừa lớn tuổi vừa bệnh tật.  Ngoài bệnh phong thì ông còn những bệnh tật khác.  Họ là những người dân tộc.  Con gặp ông cụ ở nhà một mình vì bà cụ phải đi giữ bò.  Gặp con, ông đã cười rất tươi.  Nhìn ông, con không nhận ra vẻ gì là không hài lòng về cuộc sống.  Và con cũng không thấy ánh mắt lo lắng nơi ông, đáp lại tiếng chào của con là một nụ cười thật tươi.  Con cạn nghĩ  nếu không có Chúa trong lòng thì chắc chắn người đối diện sẽ không nhìn ra nét đẹp thánh thiện trong nụ cười đó.

Ở nơi đây, con thấy mình dường như tìm được một bài học về sống đạo hay, một cách cầu nguyện tuyệt vời, một cách sống biết phó thác nơi Thiên Chúa là Cha nhân loại.

Giờ thì con xin được chia sẻ với quý vị vì sao con cảm thấy mình là một người có chút gì đó giống người dân tộc khi trò chuyện và cầu nguyện cùng với Chúa và Mẹ của con.

Vì là bổn đạo mới vài tháng tuổi, nên con không có được những lời cầu nguyện căn bản, những công thức có sẵn hay lời nguyện hoa bướm.  Có lẽ vì thân phận thấp bé của mình, nên con đã được Chúa thương mà ban Thánh Thần xuống để dạy con biết nói lên những tiếng nói mà lòng con muốn tâm tình, và cầu xin Chúa qua những buổi con đi tìm hiểu và học hỏi về Kinh Thánh.

Con bị đau tim, mỗi lần tim con nhói đau, Chúa đã dạy con biết dâng trái tim con bằng cách cầu nguyện như sau: “Nhân danh Chúa Yêsu, con biết rằng mỗi nhịp đập trái tim con là một lời ngợi khen và chúc tụng Chúa.  Con xin Chúa gìn giữ trái tim con để con được ca tụng tôn vinh Chúa đến muôn đời.  Amen!”  Mỗi lần con cầu nguyện với một tâm tình con thơ như thế thì Chúa của con đều sờ chạm vào trái tim con mà con cảm thấy hết đau.

Chúa còn dạy con biết dâng những lễ vật khi hàng ngày đi dự Tiệc Thánh của Chúa.  Mỗi khi con đi lễ, con thường xuyên trò chuyện với Thiên Chúa của con như sau:  “Nhân danh Chúa Yêsu, con cám ơn Cha đã cho con được dự bữa Tiệc Thánh hôm nay.  Quà tặng hôm nay con dâng lên Cha là tấm bánh cuộc đời con, tấm bánh cuộc đời của những anh chị em thân thương của con, những bệnh tật và giới hạn của những người con yêu của Cha mà Cha đã mang đến cho con, kết hợp với Thánh Tâm Chúa Yêsu là Của Hiến Tế đẹp lòng Cha nhất.  Con xin Cha đón nhận để chúng con được giải thoát, chúc phúc và chữa lành một cách trọn vẹn hơn. Con cám ơn Cha.  Amen!”

Con đã dâng tất cả những gì con được và mất hàng ngày cho Chúa khi dự Tiệc Thánh, và cho tới hôm nay biết bao điều kỳ diệu, mà Chúa đã làm cho con.  Con luôn được bình an vì cuộc đời con có Chúa là gia nghiệp.  Người con trai của bạn gái con đã được chữa khỏi căn bệnh trầm cảm.  Còn rất nhiều nữa mà những anh chị em đó đã cùng con hiệp lời cầu nguyện với Chúa.

Những khi con đi sinh hoạt trong nhóm, mỗi lần con nhìn lên hình ảnh Chúa với thân thể đầy thương tích trên Thập Giá.  Con thấy đau lòng lắm và cố gắng quyết tâm không để Chúa phải chịu thêm đau đớn vì tội lỗi của con.  Con cũng đơn sơ cầu nguyện cho những ai đau yếu bệnh tật mà không nhận ra ơn cứu độ và chữa lành của Chúa, bằng cách cầu nguyện như sau và Chúa đã nhận lời chúng con: “Nhân danh Chúa Yêsu Phục Sinh đầy quyền năng, bởi những vết thương trên Mình Máu Chúa trên Thập Giá mà bệnh tật của những anh chị em thân thương của con đã được Chúa chữa lành, vì Chúa là vị Đại Thiên Y của chúng con.  Amen! “

Lời cầu nguyện này đã chữa lành cho chính con khỏi hẳn một căn bệnh nguy hiểm và cho cả người thân của con.

Cũng nhân đây, con rất khao khát những vị nào không phải là những người thuộc về Công giáo, thì quý vị cứ vô tư mà trò chuyện, tâm tình với Chúa đi.  Quý vị đừng nghĩ rằng, khi nào mình thuộc được nhiều kinh của Công giáo thì Chúa mới nhậm lời.  Các vị cứ dâng hết những gì các vị nghĩ trong lòng. Không cần theo bất cứ một khuôn khổ nào cả.  Thiên Chúa là một Đấng vô cùng nhân hậu và cực kỳ đáng yêu (theo suy nghĩ của con).  Chúa và Mẹ Maria luôn luôn dang tay chờ đón tất cả nhân loại để cưu mang và ban ơn cứu độ.

Con xin chân thành cám ơn quý vị đã dành thời gian quý báu để đọc bài chia sẻ của con – Một đứa con có tâm tình của dân tộc thật sự, vì con còn rất ngây ngô trong việc làm đẹp lòng Chúa.  Con rất mong được nhiều dịp học hỏi thêm để được trưởng thành.  Con xin chúc quý vị thật tràn đầy ơn Thánh Thần Chúa và xin Chúa luôn đồng hành, và chúc phúc cho quý vị.

Túc Lynh
Gia Lai, ngày 27/3/2011

TRÁI TIM NGƯỜI THẦY, TRÁI TIM HỌC TRÒ

zzAnh Chị em thân mến,

Thiên Chúa là tình yêu, một khi đã yêu, Ngài yêu cho đến cùng.

Thật ý nghĩa khi chúng ta chiêm ngắm hình ảnh Đấng Phục Sinh tỏ mình cho các môn đệ nhân Chúa Nhật “LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA”.  Trong vài phút, chúng ta thử quan sát Trái Tim Giêsu, trái tim người Thầy; đồng thời cũng thoáng qua trái tim Tôma, trái tim học trò; nhờ đó, có thể hiểu được đôi chút lòng Chúa, đôi chút lòng ta.

Trái Tim Giêsu, một trái tim chan chứa yêu thương mà Tin Mừng không ngừng lặp đi lặp lại đã bao lần “Ngài chạnh lòng thương” trước cảnh cùng khốn của con người:  Thấy dân chúng tất tưởi bơ vơ như chiên không người chăn, “Ngài chạnh lòng thương”; thấy người ta khiêng đi chôn con trai duy nhất của một bà goá, “Ngài chạnh lòng thương”; thấy những người phong cùi tiến đến từ xa, “Ngài chạnh lòng thương”; thấy hai người mù đang dò dẫm lại gần, “Ngài chạnh lòng thương”… Và chắc hẳn các tông đồ, kể cả Tôma, cũng đã ít nhiều cảm nhận cái thổn thức “chạnh thương” đó nơi Thầy mình.  Cũng trái tim đó, bởi đã chạnh thương cho đến cùng nên bị đâm thâu, để giọt máu sau hết và chút nước cuối cùng nhỏ xuống mà có lẽ Tôma đã chứng kiến xa xa hay ít nữa đã nghe thuật lại chiều ngày thứ Sáu hôm ấy vì ông không dám lại gần.

Trái Tim Tôma, một trái tim nhát đảm và ngờ vực.  Thầy mất, không ai biết vì lý do gì, “Đi Đi Mô” rời bỏ cộng đoàn.  Phải chăng trái tim Tôma đang tan nát vì thương tích, vì những vết đau dù không nhìn thấy nhưng là những thương tích có thật và đau thật.  Một trái tim ngờ vực khủng hoảng đến tội nghiệp, “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Ngài, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay tôi vào cạnh sườn Ngài thì tôi không tin”.  Ôi, còn đâu bao lời tiên báo và giáo huấn của người Thầy khả ái?  Còn đâu những cảm nghiệm đầy thán phục khi chứng kiến bao phép lạ của Con Đức Chúa Trời?

Thật là mỉa mai, thật là chua xót cho người môn sinh tuyệt vọng.  Thật là thất đoạt, thật là vô ích cho người Thầy luống công.  Sự ngã lòng của Tôma xúc phạm đến Thầy đâu kém việc bán Thầy hay chối Thầy của hai bạn đồng môn!  Có khi còn tệ hơn; bởi lẽ, Giuđa và Phêrô tránh né liên luỵ đến một người sắp từ giã cõi sống trong khi Tôma lại đan tâm chối nhận một Đấng vừa trở về từ cõi chết.

Vì thế, cũng bởi “chạnh thương” nên tám ngày sau, Vị Thầy lại phải hiện ra một lần nữa và trái tim đã yêu dấu loài người quá bội đó đã biết lựa lời khôn khéo nhẹ nhàng trách yêu người học trò.  Ngài dỗ dành chứ không mắng mỏ, chìu chuộng chứ không phỉ báng, “Hãy đặt ngón tay con vào đây, hãy nhìn xem tay Thầy, đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy.  Thôi, đừng cứng lòng nhưng hãy tin”.

Lạ thay, Tin Mừng không nói đến việc Tôma có sấn tới thọc tay vào lỗ đinh Thầy, đặt tay vào cạnh sườn Thầy mà trong đó cũng có một trái tim hay không.  Nhưng chúng ta có thể đoan chắc, chính Đức Giêsu Phục Sinh đã một lần nữa “chạnh thương chạm đến” và băng bó trái tim thương tích của người môn sinh.

Tim đụng tim, lòng chạm lòng!  Nhờ đó, bình an lại đến với tâm hồn người môn đệ; và thay vì reo lên Magnificat, Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, cách nào đó, Tôma đã phải cất cao Credo, Tôi tin!  Bởi lẽ, trước tiên là phải tin, sau đó mới có thể ca khen Đấng mình tuyên xưng.

Vậy là tim chữa lành tim, lòng cảm mến lòng.  Tim Thầy chữa lành tim trò, lòng Thầy khoả lấp lòng môn đệ.  Nhờ lòng Thầy chạnh thương mà từ đây, lòng người môn đệ xác tín thay cho ngờ vực; yêu mến thay cho hững hờ; chứng tá, thay cho trốn chạy; và bình an thay cho bất an.

Hơn lúc nào hết, có lẽ mỗi người trong chúng ta hôm nay, dù ở đấng bậc nào, cũng đều cảm thấy cần đến lòng Chúa xót thương hơn bất kỳ ai.  Vì chỉ có Chúa mới là Đấng xót thật và thương thật; chỉ có Chúa mới biết được mỗi người cần đến lòng Ngài xót thương biết bao; chỉ có Chúa là Đấng có thể chữa lành, có thể hàn gắn, có thể băng bó, có thể đem về và trao tặng bình an, một sự bình an không ai lấy mất.  Vì bình an của Chúa là chính Chúa.

Mừng kính Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa, chúng ta không quên cầu nguyện cách riêng cho các mục tử của mình và cho cả đoàn chiên được Chúa trao phó cho các ngài.  Vì nhiều lúc, cả đoàn chiên lẫn chủ chiên cũng đang “đi đi mô”, bất an vì ngờ vực, hững hờ vì thiếu lòng mến, trốn chạy vì nhát đảm.

“Vì sự đau khổ của Chúa Giêsu Kitô,
xin Cha thương xót chúng con và các Linh mục”.

“Vì sự đau khổ của Chúa Giêsu Kitô,
xin Cha thương xót chúng con và các Linh mục”.

“Vì sự đau khổ của Chúa Giêsu Kitô,
xin Cha thương xót chúng con và các Linh mục”. 

Lm. Minh Anh (Gp. Huế).