CHIẾC GIƯỜNG VÀ QUAN TÀI

Một vật dụng trong gia đình mà từ Đông Tây Nam Bắc, Á Âu Nhật Tầu, lớn bé già trẻ, giỏi dốt giàu nghèo, đẹp xấu khoẻ ốm, và làm bằng chất liệu gì thì ai cũng biết, đó là chiếc giường.

Chiếc Giường

Chiếc giường thật đơn giản và tiện dụng, nó không chỉ để ngủ, mà còn là địa điểm:

Dùng để dựa lưng khi mệt mỏi, nằm nghỉ lúc đêm về, tâm sự khi vai nặng, sẻ chia lúc đơn côi, kết giao tình loài người, sự sống được chuyển giao.  Nhờ nó, con người tăng thêm sức khoẻ, gánh nặng nhẹ vơi, bồi dưỡng tinh thần, trút bầu tâm sự, sự sống phục hồi, cảm thông cuộc sống, tình nghĩa tăng thêm, tình yêu dạt dào, thân xác trao ban, tâm hồn dâng hiến, hoan lạc phát huy, mầm sống khởi sự…

Nơi đây, quá khứ được nhìn lại, tương lai được định hướng, hiện tại được đón nhận.

Nơi đây, nhiều thứ được nghĩ đến, tốt lành và xấu xa, đời này và đời sau, ma quỷ và Thiên Chúa, thiên thần và con người, gia đình và cuộc sống, xã hội và tôn giáo…

Nơi đây, ta dễ dàng để xét suy lời nói, kiểm tra việc làm, ăn năn hối cải, điều chỉnh cuộc sống, thăng tiến bản thân, thánh hoá con người, xây dựng quê hương, mở rộng Giáo hội.

Nơi đây, tâm hồn lắng đọng, cõi lòng nhẹ trôi, thế giới riêng mình.  Cuộc đời, dù sóng gió cao dâng, ta vẫn có thể nằm lên nó chờ đợi và hy vọng sau cơn mưa trời lại sáng.

zzTừ đây, những kế hoạch hình thành, các khát vọng hiện đến, nhiều ước mơ nảy sinh.

Từ đây, ta đợi hừng đông xuất hiện để bắt đầu một ngày mới với tia nắng ấm, muông thú chào đón, con người vẫy gọi.

Từ đây, ta thực sự nhìn thấy mình quá nhỏ bé đối với thiên nhiên, càng bé nhỏ hơn so với Đấng đã tạo dựng nên vũ trụ lớn lao kỳ diệu này.

Nhưng, xét cho cùng, tất cả chỉ là tạm thời, ngắn hạn.

Vì mặt ta còn phải hướng lên trời, mong mặt trời chiếu sáng, ngày mới bắt đầu.  Ngày mà ta có thể khởi sự nhưng lại không biết chắc chắn kết quả khi chiều về.  Càng không biết vận mạng của ta sẽ kết thúc lúc nào.  Vì vậy cần phải: Cúi xin Chúa sáng soi cho chúng con được biết việc phải làm, và khi chúng con làm xin Chúa giúp đỡ, để từ khi khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa.

Rồi dù lúc khởi sự cho đến hoàn thành đều tốt đẹp, thì ta cũng không rời bỏ chiếc giường được, mà còn phải vòng lại mỗi khi chiều về, đêm đến.  Mặt trời luôn đánh thức ta dậy để cộng tác làm việc bằng chính đôi chân, bàn tay, khối óc của mình, qua các bổn phận và trách nhiệm theo từng ơn gọi, nhờ ơn Chúa.

Giống như ăn uống, con người phải ăn mãi để duy trì và phát triển sự sống.  Tiến trình tiệm tiến của kiếp nhân sinh này giúp cho con người lớn lên, khôn thêm, dày dạn kinh nghiệm hơn.

Một khi con người không cần đến chiếc giường tạm này nữa, thì chiếc giường tạm thứ hai sẽ phục vụ ta, đó là chiếc quan tài.

Quan tài

Nằm trong chiếc quan tài chắc là hạnh phúc lắm, vì ta không còn phải nghe, phải nhìn, phải nói, phải làm, những điều không muốn nói, không muốn làm, không muốn nghe, không muốn nhìn nữa.  Giấc ngủ không còn bị làm phiền, không phải chập chờn thức giấc vì cuộc sống nữa.

Khác với giường, nơi đây, thời gian nghỉ ngơi khác nhau, tùy lòng từ bi của Thiên Chúa và công phúc của người còn sống.

Khác với giường, nơi đây, con người đợi hừng đông chiếu sáng, nhưng là ánh sáng vĩnh cửu.

Khác với giường, nơi đây, con người chờ mặt trời ló rạng, nhưng là mặt trời công chính không bao giờ lặn.

Khác với giường, nơi đây, con người mong được thức dậy, nhưng không phải ngày mới, mà là sự sống mới.

Khác với giường, nơi đây, ta mong thức dậy, nhưng không phải để gặp con người, mà để gặp Thiên Chúa.

Khác với người còn sống, khi Chúa gọi dậy thì sẽ không bao giờ phải ngủ lại, mà là thức, sống mãi với Ngài.

Người còn sống có thể chủ động tích đức lập công và có nhiều cơ hội đầu tư cho cuộc sống đời này và và đời sau.  Còn người từ giã cõi tạm, họ trở nên thụ động, không còn khả năng làm được gì nữa, tất cả phải nhờ vào lòng từ bi xót thương của Thiên Chúa và cậy vào lòng quảng đại, ưu ái nhớ đến của người trần gian.

Giường tạm là phương tiện tốt để nhắc nhở cho ta chuẩn bị cho chiếc quan tài ấm cúng, bình yên, an toàn và mau chóng được trở về trong tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi.

Không biết lo xa, ắt sẽ buồn gần.  Hãy sẵn sàng và tỉnh thức.  Hãy bám vào sức mạnh của Chúa Giêsu, vì Ngài “Là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”; Ngài là Bánh từ trời xuống, bánh này khi ăn uống thì không còn đói khát, và không phải chết nữa, dù có chết cũng sẽ được sống lại trong vinh quang với Ngài.

Hãy nhớ đến chiếc giường đời này, là tạm thời.

Hãy nhớ đến chiếc quan tài, giường tạm thôi, đừng sợ hãi.

Hãy nhớ sự sống này chỉ thay đổi chứ không mất đi.

Thanh Thanh

THẦN KHÍ ĐỔI MỚI

zzTại một giáo xứ ở miền Sicilia, thuộc miền Nam nước Ý, có một tập tục khá ngộ nghĩnh và lý thú.  Mỗi năm vào dịp lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, sau bài Tin Mừng, cha xứ ra lệnh thả ra trong nhà thờ một con chim bồ câu tượng trưng cho Chúa Thánh Thần.  Khi con chim câu nầy đậu xuống trên vai hay đầu ai thì người ấy không được tránh né hoặc đuổi đi, nhưng phải quyết tâm thực hiện một công tác cụ thể, to hoặc nhỏ tùy theo khả năng của mình, để chứng tỏ rằng mình làm công việc ấy là do sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần.  Lịch sử giáo xứ ấy có ghi lại một số sự kiện điển hình như sau:

Một lần chim câu đã đậu xuống trên vai ông hiệu trưởng.  Kết quả là ông đã quyết tâm thực hiện một cuốn sách giáo khoa rất có giá trị.

Lần khác, chim câu đáp xuống trên đầu một công tước vùng ấy, khiến ông ta phải ra tay nghĩa hiệp, bỏ tiền xây một hệ thống dẫn nước được đặt tên là “hệ thống dẫn nước Chúa Thánh Thần”.

Có một linh mục trẻ được chỉ định đến thay thế cho cha xứ già đã đến tuổi hưu.  Dù không tán thành nhưng cũng chưa dứt khoát bỏ đi tập tục đã thành truyền thống kia.  Vào dịp lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống đầu tiên của ngài ở xứ mới, vị linh mục trẻ vẫn cho giữ thông lệ thả chim câu, nhưng ra lệnh mở hết tất cả các cửa chính và cửa sổ với hy vọng là chú chim câu sẽ bay ra ngoài để tung cánh trong bầu trời cao rộng.  Trớ trêu thay, sau khi bay lượn vài vòng từ đầu này đến đầu kia của nhà thờ, chim câu đã đáp xuống vai phải của cha xứ mới trong tiếng vỗ tay vang dội của giáo dân.  Phải hứa làm gì cụ thể bây giờ đây?  Cha xứ mới chỉ tuyên bố là ngài sẽ đầu tư mọi khả năng và thời giờ để phục vụ tốt cộng đoàn giáo xứ.  Và ngài đã giữ lời hứa.

*************************************

Thưa anh chị em, Với mỗi người chúng ta hôm nay, Chúa Thánh Thần vẫn là Đấng thiêng liêng.  Chúng ta không thể giới hạn cách thức tỏ hiện của Ngài trong hình thức của trận cuồng phong, lưỡi lửa, của chim bồ câu hay bất cứ một hình thức nào khác.  Quả thực, Ngài không ngừng hiện diện và tác động nơi chúng ta cách tự do và rộng khắp.  Ơn của Ngài nhằm thôi thúc chúng ta phải làm gì cụ thể trong việc đổi mới đời sống con cái đối với Thiên Chúa, góp phần phục vụ tha nhân, phục vụ cộng đoàn.

Bài sách Công vụ Tông đồ hôm nay kể lại cho chúng ta những sự lạ đã xảy ra bên trong và bên ngoài ngôi nhà nơi các môn đệ đang hội họp, có Đức Maria ở giữa.  Bên trong có tiếng gió mạnh thổi đến, lùa vào nhà.  Có những lưỡi lửa xuất hiện trên mỗi người.  Họ tràn đầy Thánh Thần.  Bên ngoài dân chúng bỡ ngỡ kéo đến bao vây.  Sự gì đã xảy ra?  Phêrô, con người nhát đảm ấy, hôm nay mở tung cửa và bước ra, theo sau là các môn môn đệ khác.  Họ lâng lâng như người say rượu, khiến dân chúng bàn tán, nhưng họ không say rượu mà say Chúa!  Vì hôm nay, ứng nghiệm lời tiên tri Gioel đã tiên báo: “Ta sẽ đổ Thánh Thần xuống và chúng sẽ nói tiên tri”.  Phêrô giảng bài đầu tiên làm cho 3.000 người trở lại.  Các Tông đồ khác cũng bắt đầu sứ mạng rao giảng, với đặc ân Thánh Thần ban cho là nói được tiếng bản xứ của mỗi thính giả từ các nơi đổ về.

Giáo Hội được sinh ra từ ngày Thánh Thần hiện xuống.  Ngày nay Giáo Hội đã có một trang sử dài gần 20 thế kỷ.  Giáo Hội cũng cần một luống gió mạnh thổi đến, lùa vào hầu có thể đổi mới mọi sự. Xưa Phêrô đã mở tung cửa đón nhận Thần Khí Thiên Chúa thì ngày nay các vị đại diện Phêrô cũng đã khai mở Công Đồng “như một lễ Hiện Xuống mới”, đem lại cho Giáo Hội một bộ mặt mới, một luồng gió mới.

Mỗi lễ Hiện Xuống là một ngày khai sinh mới của Giáo Hội, Thánh Thần là ai? – Thánh Phaolô, trong bài đọc II đã giải thích gồm tóm trong ý tưởng rằng, Thánh Thần là linh hồn của Giáo Hội.  Thánh Thần ban cho mọi tín hữu nhận lãnh Phép Rửa một niềm tin duy nhất, là “Chúa Giêsu là Thiên Chúa đã sống lại”.  Chúng ta phải tin, phải sống và phải loan báo.  Tuy rằng đức tin là một, nhưng Thánh Thần sẽ ban cho mỗi người, mỗi thời đại, những đặc sủng riêng tư, thích hợp cho từng dịch vụ, từng sinh hoạt, từng nơi chốn.  Thánh Thần như linh hồn của Giáo Hội, hằng huy động, hướng dẫn, thống nhất để xây dựng Giáo Hội.

Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII là một điển hình.  Khi mới được bầu làm Giáo Hoàng, Ngài là một cụ già đã 77 tuổi, cục mịch như một cha xứ nhà quê, ai cũng cho là “một Giáo Hoàng giao thời”. Nhưng ai ngờ con người ấy, trong triều đại chỉ 5 năm, trở thành dụng cụ của Chúa Thánh Thần để đổi mới, để thực hiện chính sách mà Ngài gọi là “ cập nhật hóa” (aggiomento), mở cửa để Giáo Hội bắt gặp đà tiến triển của thời đại văn minh.  Ngày nay, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong Tông thư “Tiến tới Thiên niên kỷ thứ ba” chuẩn bị cho toàn thể Giáo Hội mừng Đại Năm Thánh 2000 đã kêu gọi “trân trọng đặc biệt tất cả những gì Chúa Thánh Thần đã nói với Giáo Hội (Kh 2,7) cũng như những gì Thánh Thần nói với các cá nhân qua các đoàn sủng phục vụ cộng đoàn”.  Đức Thánh Cha nói tiếp: “Tôi muốn nhấn mạnh những gì mà Chúa Thánh Thần gợi ý cho các cộng đoàn khác nhau, từ những cộng đoàn nhỏ nhất- như gia đình, đến những cộng đoàn lớn hơn – như các quốc gia, các tổ chức quốc tế, kể cả những nền văn hóa, văn minh và những truyền thống lành mạnh” (TMA. Số 23).

Nhiều người tín hữu ngày nay vẫn còn có thái độ như nhóm nhỏ Tông đồ ngày xưa.  Họ sợ sệt, cửa đóng then cái, e rằng Thầy ra đi là đi mãi, tương lai mù mịt.  Nhưng Thánh Gioan cho biết, ngay chiều Phục sinh, Chúa Giêsu đã hiện đến trấn an các ông: “Bình an cho các con”.  Rồi Ngài thổi hơi trên các ông: “các con hãy nhận lấy Thánh Thần”.  Ai lại không liên tưởng đến “ làn hơi Thiên Chúa” thổi đến trên mặt nước “trong ngày khai thiên lập địa” (St 1,2) đến làn sinh khí mà Thiên Chúa thổi vào con người trong ngày tạo dựng Ađam (St 2,7).  Ngày nay, làn hơi ấy chính là Chúa Thánh Thần, là làn hơi ban sự sống (Ga 3, 5-6) và là sức mạnh tầy xóa mọi tội lỗi: “các con tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha, các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại” (Ga 20,23).  Qua làn hơi thở của Chúa, qua sức mạnh của Chúa Thánh Thần, các Tông đồ cũng như chúng ta ngày nay phải trở nên những chứng nhân của Chúa cho đến tận cùng trái đất.

Anh chị em thân mến, Ngày lễ Chúa Thánh Thần ngày khai sinh của Giáo Hội, là ngày nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội mở rộng vòng tay ôm cả thế giới.  Chúa Thánh Thần thôi thúc bên trong để chúng ta hành động cụ thể, tỏ lộ ơn Ngài ra bên ngoài và chúng ta sẽ chỉ có thể vững tin rằng mình đang sống dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần, khi mọi nỗ lực của chúng ta luôn theo sát với giáo huấn của Chúa Kitô và đều hướng đến việc kiến tạo tình yêu thương cảm thông nhau hơn. Chớ chi từ nay, chúng ta luôn biết mở mắt tâm hồn của mình để nhận diện ra bao cuộc hiện xuống của Chúa Thánh Thần trong đời mình và mở rộng tâm hồn sống theo ơn Ngài thôi thúc, hầu cuộc sống của chúng ta có thể đổi mới không ngừng trong tình yêu thương xây dựng.

Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’

 

GIA TÀI CỦA CHA TÔI

Cha tôi không còn nữa! Cha tôi đã mất ngày 22 tháng 5 năm 1998 ở Việt Nam, để lại lại cho tôi một gia tài vô giá.  Đó chính là niềm tin, là lý tưởng, là ý chí và nghị lực giúp tôi vững bước trên đường đời.

Ông nội mất khi cha tôi còn bé lắm!  Mấy năm sau bà nội “đi thêm bước nữa” nên cha tôi phải nghỉ học để tìm kế sinh nhai nuôi dưỡng 3 người em còn nhỏ dại mặc dầu lúc đó cha tôi cũng chỉ mới 15 tuổi đầu.  Cha tôi không phải là người giỏi, cũng không có tài gì đặc biệt nên đã không thể làm giàu về vật chất nhưng ý chí và nghị lực của ông thật tuyệt vời.  Cha tôi luôn luôn can cảm đối đầu với sự thật, cho dẫu có phũ phàng, và sẵn sàng chấp nhận “thua một trận để thắng cả cuộc chiến!”

Lúc còn ở miền Bắc, cha tôi đã từng đi “làm thuê ở mướn”, can tâm chịu nhục nhã để tìm phương tiện nuôi dưỡng các em khôn lớn, dựng vợ gả chồng cho từng người “để cô và hai chú không phải tủi thân vì ông nội chết sớm!”

Sau khi di cư vào miền Nam, ở Bình Giả một thời gian, cha tôi lại một lần nữa đưa gia đình đi dinh điền Phước Tín thuộc quận Phước Bình, tỉnh Phước Long vì sợ con cái mắc phải những cơn bệnh ngặt nghèo vì “ngã nước” nơi vùng đất đầy chướng khí lúc mới thành lập trại di cư này. Nhưng rồi thực tế quá phũ phàng, gia đình tôi lại dọn ngược trở về Bình Giả năm 1966 vì chiến tranh lan rộng trên vùng Phước Long.  Một lần nữa, cha tôi đã phải bắt đầu lại từ con số không, ăn nhờ ở đậu anh em bà con, làm thuê làm mướn sống qua ngày, rồi phát rừng kiếm đất cày cấy.

Trong thời gian chạy loạn và di chuyển trở lại Bình Giả, tôi đã mất một năm học, rồi vì tuổi trẻ ham chơi, tôi phải ở lại lớp thêm một năm nữa.  Tôi biết lúc đó cha tôi lo buồn nhiều lắm; tuy nhiên, vì sợ tôi chán nản bỏ bê việc học nên cha tôi chỉ ân cần nhắc nhở: “Con phải can đảm vươn lên. Con là niềm tự hào của cha. Nếu tự con không được can đảm cho lắm, thì cũng phải tỏ ra là mình can đảm. Người ta không phân biệt được một người can đảm với một người tỏ ra can đảm đâu…”

Sau năm 1975, khi biết anh em chúng tôi hầu như mất định hướng, không còn hứng thú tiếp tục học, cha tôi chỉ nhẹ nhàng khuyên bảo: “Các con phải cố gắng mà học. Đời cha đã khổ vì ông nội mất sớm, không được học nhiều nên cứ phải cày sâu cuốc bẫm. Thời nào người có học cũng hơn, các con cố lên, đừng chán nản.” Tôi không bao giờ quên giọng nói nghẹn ngào của cha khi tôi từ giã gia đình trở lại trường học vào một buổi sáng cuối thu năm 1975: “Cha không có một hũ vàng cũng không có một tủ sách để lại cho con. Cha chỉ biết cày sâu cuốc bẫm để nuôi con ăn học cho tới đầu tới đũa… Con đừng cầu mong của cải mà hãy cầu mong sự khôn ngoan, hiểu biết, và lòng dũng cảm.”

Chính nhờ những lời khuyên dạy đó mà đầu thập niên 1980, em trai tôi đã trở thành một giáo viên ở vùng “Kinh Tế Mới Xuân Sơn” gần Bình Giả thay vì phải “thi hành nghĩa vụ quân sự” ở Campuchia như bạn bè cùng trang lứa.  Và cũng chính nhờ những lời khuyên dạy đó mà sau khi tới Mỹ, tôi đã tìm mọi cách rời khỏi nông trại của người bảo trợ để tự đi tìm cho mình một tương lai qua việc học.

Những ngày đầu gian khổ ở Mỹ, tôi đã nghĩ thật nhiều về cuộc sống vất vả của gia đình đang lây lất qua ngày ở Bình giả, và thường xuyên ôn lại những lời khuyên dạy của cha tôi để làm động lực thúc đẩy mình phải vươn lên.  Thời sinh viên độc thân, với tiền học bổng và làm việc trong trường, tôi cũng tạm đủ sống, nhưng đêm từng đêm tôi vẫn đi quét nhà, hút bụi, lau cầu tiêu… để kiếm thêm tiền mua quà gởi về giúp gia đình bên Việt Nam.  Tôi rất vui mừng và hãnh diện vì trong gian nan khốn khó của những ngày đầu sống kiếp tỵ nạn, mặc dầu tôi không đủ khả năng để nuôi các em như cha tôi đã từng làm, nhưng tôi cũng giúp đỡ cha mẹ và các em, các cháu được phần nào qua cơn túng quẫn.

Trước Tết Nguyên Đán năm 1998 tôi vội vã dẫn theo đứa con gái đầu lòng mới 8 tuổi trở về khi nghe tin cha tôi bệnh nặng, và sợ sẽ không còn sống được bao lâu!  Sau khi hoàn tất thủ tục Hải Quan và bước ra phía ngoài phi trường, tôi đã không cầm được nước mắt khi nhìn thấy cha già một tay chống gậy, một tay bám vào vai em tôi mới có thể đứng vững để nhìn lại đứa con trai sau bao nhiêu năm trời xa cách.  Cha tôi gầy gò và xanh xáo quá!

Hai cha con tôi ôm nhau khóc ròng, trong lúc mẹ và các em, các cháu cũng khóc như mưa.  Ngày tôi âm thầm lặng lẽ cỡi xe đạp rời Bình Giả ra Láng Cát để xuống thuyền đi tìm tương lai, trời mưa như thác đổ. Chiều nay tôi trở lại, trời Sàigòn nắng chang chang, nhưng sân phi trường cũng ướt đẫm nước mắt của cha, của mẹ, của anh em và con cháu.  Người ta trở về trong tiếng vui cười hớn hở, cả Việt Kiều lẫn thân nhân đi đón; chỉ riêng tôi trở về với nước mắt trong vòng tay gầy guộc, yếu đuối của cha già.  Khi ôm cha vào lòng để những giọt nước mắt yêu thương nhung nhớ của cha ướt đẫm vai áo, tôi mới nghẹn ngào, nức nở thốt lên: “Cha ơi! Con đã về!” Phải, tôi đã về!  Tôi đã trở về bên cha già như đứa con hoang đàng trong Phúc Âm tìm về với Người Cha Nhân Hậu… (Luca 15: 11-32).

Cha tôi vốn ít nói, bây giờ lại bệnh hoạn, đi đứng nói năng đều khó khăn, nhưng cũng không quên hỏi tôi trong nghẹn ngào: “Con có học được tới đầu tới đũa như lòng cha mong ước không?”  Nước mắt tôi lại trào ra.  Tôi vòng tay ôm cha tựa sát vào người.  Trời nóng lắm nhưng lòng tôi lại có cảm giác buốt lạnh và đang được sưởi ấm từ từ nhờ hơi ấm của tình cha…

Chúng tôi về tới Bình Giả lúc nào tôi cũng không hay vì trời đã chập choạng tối nên tôi không nhìn rõ cảnh vật hai bên đường làng.  Lúc xe đậu lại trước nhà, tôi mới chợt tỉnh cơn mơ… Anh em bà con trong làng không biết tôi trở về; do đó, khi thấy xe ngừng ở cổng, họ đoán là cha tôi từ bệnh viện trở về nên chạy đến thăm hỏi đầy nhà.  Một số người khi biết nhà có Việt Kiều đã âm thầm rút lui vì sợ mang tiếng đến thăm Việt Kiều chứ không phải thăm cha tôi.  Khi nghe em tôi nói thế, tôi ra sân đứng chào đón mọi người, nhưng hầu hết lấy cớ “để ông cụ nghỉ” và ra về.  Cha tôi mệt lắm, nhưng cũng cố gắng đứng lên nói vài lời cám ơn mọi người rồi mới để em tôi dìu vô phòng nghỉ, sau khi quay sang dặn tôi: “Cha biết con cũng mệt, nhưng cố được thì thay cha ngồi nói chuyện và cám ơn mọi người.  Ngày mai con đưa cháu đi một vòng thăm hỏi anh em bà con trong họ, trong làng cho phải phép.”

Mấy ngày Tết tôi bận tối tăm mặt mày vì người vô ra liên tục.  Việt Kiều nhà người khác về quê mang quà đi biếu bà con, riêng tôi lại ngồi nhà nhận quà của anh em bà con đến thăm cha tôi đang bệnh: Người mấy quả trứng, người ít trái cây, hộp sữa… Ôi! Cái tình người ở quê tôi đẹp quá!  Tôi đã đi qua hơn một nửa quả địa cầu, đến thăm cả trăm thành phố khác nhau, nhưng tôi chưa tìm được ở đâu người ta có “tấm lòng yêu thương chòm xóm” như tại làng Bình Giả – Quê Hương Yêu Dấu của tôi.  Có những người đã dọn ra Ngãi Giao hay vào Xuân Sơn, nhưng nghe tin cha tôi đi nhà thương về cũng lặn lội đến thăm.  Có người đã nói thẳng với mẹ tôi: “Nghe nói có Việt Kiều về, nhà con cũng ngại lắm, nhưng biết ông ở nhà thương về, không đến không được!”

Cha tôi chỉ là một nông dân tầm thường, nhưng mọi người trong làng đều thương mến… Tôi đã xúc động đến rơi lệ khi bà con trong làng nói cho tôi biết trên con đường nối liền Vũng Tàu và Quốc Lộ số 1, đi ngang cuối làng Bình Giả, trước khi vào tới xã Tân Lập, có một chiếc cầu mang tên cha tôi:  Cầu Ông Minh.

zzTôi đã chụp hình “chiếc cầu mang tên cha tôi” đưa về Mỹ, để chung vào hộp với tài liệu tôi viết lại những lời khuyên dạy của cha từ ngày còn bé… Đây chính là biểu tượng của một gia tài vô giá cha để lại cho tôi.

Đã từ lâu lắm rồi, trên con đường mòn từ Bình Giả vào Tân Lập, có một đoạn đi qua một con suối thuộc phần đất của gia đình tôi.  Chính cha tôi đã vận động bà con đốn cây xẻ gỗ làm một chiếc cầu khá tốt để giúp dân làng vận chuyển nông sản qua lại, và mọi người vẫn gọi là “Cầu Ông Minh”.  Khi chính phủ quy hoạch làm đường nhựa và xây cầu xi-măng, bà con trong vùng đã xin phép được chính thức đặt tên là “Cầu Ông Minh” trong bản đồ hành chính của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Việt Nam.

Ngày mùng 6 tết tôi phải lên đường trở về Mỹ. Cuộc chia tay nào cũng buồn cả!  Riêng tôi, khi nhìn thấy cha già chống gậy đứng bên cửa, nước mắt lưng tròng nhìn theo… tôi bước không đành!  Tôi ra xe, ngoảnh mặt lại thấy cha giàn giụa nước mắt, tôi lại chạy vào.  Ba bốn lần như vậy tôi cũng không làm sao cất bước lên xe.

Em tôi sợ trễ giờ lên máy bay nên vừa khóc, vừa nói: “Cha vô nhà đi, anh mới ra xe được!”

Không biết vô tình hay hữu ý, cha tôi nói một câu làm mọi người cùng bật khóc nức nở: “Con không cho cha nhìn anh con lần cuối được sao?”

Tôi ôm cha vào lòng thật chặt và nước mắt tuôn trào.  Con gái tôi cũng ôm bà nội khóc nức nở.  Cha tôi ôn tồn nói: “Con đưa cháu ra xe kẻo trễ.  Đừng khóc nữa… Con đi đi, cứ để cha đứng nhìn theo.”

Tôi chỉ còn biết “dạ” trong tiếng nấc và bước thụt lùi ra xe.  Đó là hình ảnh cuối cùng của cha tôi còn giữ mãi trong tim cho tới giờ này.  Người cha già chống gậy đứng bên cửa nhìn con ra đi, hay trông ngóng bóng con trở về? !!!

Nguyễn Duy-An

MUA MỘT TẶNG HAI

Chuyện kể rằng, chứng kiến trước cảnh đau thương vì sự gian trá lường gạt giữa con người với nhau, một thiên thần ẩn dạng dưới một nhà hiền triết rao bán hàng “sự thật”.  “Mời mua sự thật, mời mua sự thật, mua một tặng hai.  Mua sự thật sẽ được tặng tự do và hạnh phúc”.  Nhà hiền triết rao to tiếng giữa phố phường, chợ búa.

Một chính trị gia dừng lại và hỏi. “Làm thế nào để mua sự thật?  Giá bao nhiêu?”  Nhà hiền triết đáp, “Giá của sự thật là sự thật; và ông sẽ được tặng thêm tự do và hạnh phúc.”  “Xin ngài cho biết cụ thể hơn?”.  Chính trị gia hỏi tiếp.  “Xin thưa,” nhà hiền triết trả lời, “Cứ mỗi tối trước khi đi ngủ, ông trung thực trả lời ba câu hỏi sau: (1)Tôi đã sống đúng với sự thật? (2) Tôi đã giám sống cho sự thật?  Và (3) tôi đã sống vì sự thật không?  Giá để trả cho món hàng sự thật là ông sống với (cảm nghiệm), sống cho (phục vụ), và sống vì (bảo vệ) sự thật.  Khi ông sống như thế, ông sẽ được sự thật, và còn được tặng thêm tư do và hạnh phúc nữa.”  Chính trị gia cầm  món “sự thật” về nhà bắt đầu thực hành với ba câu hỏi trên.  Nhưng chỉ vài hôm sau, ông đã trả món hàng ấy lại, vì hằng ngày ông thường bàn đến chiến tranh, thế lực, phe nhóm, hơn thua.  Ông thừa nhận rằng, ông chưa đủ can đảm để lên tiếng binh vực cho nạn nhân vô tội.  Ông chưa can đảm bảo vệ sự thật cho các nước nghèo, và dân tộc xấu số.  Tiền bạc và quyền lực xem chừng như mạnh hơn sự thật.

Một nhà tu đi ngang qua nghe ông cụ rao, “Mời mua sự thật, mời mua sự thật. Mua một tặng hai.”  Tò mò, tu sĩ dừng lại và nói.  “Tôi là người rao giảng sự thật, ông biết gì về sự thật mà bán?”  Nhà hiền triết tươi cười đáp.  “Con rất mừng và cám ơn ngài là người rao giảng sự thật.  Chỉ có điều là nếu ngài muốn có tự do và hạnh phúc thật thì xin ngài cầm lấy món hàng “sự thật” và thử dùng xem sao.”  Sau khi được giải thích về giá cả, nhà tu đưa “sự thật” về nhà và bắt đầu thực hành.  Nhưng cũng chỉ vài hôm sau, vị tu sĩ cũng trả nó lại, vì mỗi lần đọc kinh nguyện, tiếng kêu khóc của người nghèo, của những quả phụ, của các em nhỏ, của nạn nhân bị áp bức bất công như nhảy múa rối lên trong từng trang kinh.  Người tu sĩ thấy rằng, mình có sống với sự thật, nhưng mình chưa can đảm sống cho và vì sự thật.  Sự thật mời gọi mình đi ra khỏi cảnh yên hàn cửa nhà tu để đến với những con người đang bị chà đạp phẩm giá.  Ông như thấy rằng, sự yên ổn ngại dấn thân dường như mạnh hơn sự thật mà ông đang rao giảng, đều này làm ông trả lại “món hàng.”

Tiếng rao, “Mời mua sự thật, mời mua sự thật, mua một tặng hai” vẫn được vang lên.  Một cụ già nông dân dừng lại và nói to.  “Sự thật có cóc gì mà phải mua. Sự thật là quà tặng. Tôi được tặng nó từ lâu rồi.”  Nhà hiền triết tỏ vẽ vui mừng và nói, “Chúc mừng bác. Thế ai tặng cho bác?”  Bác nông dân đáp. “ Tôi không biết ai đã tặng tôi, nhưng từ nhỏ ba tôi đã dạy tôi chỉ sống từng ngày.  Mỗi ngày trước khi đi ngủ, ba giúp tôi nhìn thẳng vào lòng mình và trả lời ba câu hỏi thật nghiêm túc: (1) Tôi có sống thật với nhân phẩm cao quí của tôi không? (2) Tôi có sống cho những gì mà tôi yêu, tôi tin không? Và (3) tôi có can đảm làm chứng cho sự thật không?  Nhà hiền triết mĩm cười mãn nguyện và thưa.  “Bác đã có tất cả rồi. Chúc mừng bác.”

******************************

Bạn thân mến, câu chuyện tưởng tượng trên một lần nữa đề cao giá trị của sự thật. Nói đến sự thật ai ai cũng mong mõi và khao khát để chiếm lấy, vì nó rất trong sáng, rất tinh tuyền, và rất mạnh mẽ. Ai dám sống với, cho, và vì sự thật thì sẽ cảm nghiệm thế nào là tự do và hạnh phúc đích thực.

Sự thật là điểm chuẩn trong gia đình, trong đoàn thể, và trong xã hội.  Quan tòa tìm sự thật để kết tội hay tha bỗng cho bị cáo.  Sự thật có thể dẫn người ta đến hòa khí, tha thứ nhưng khi không chấp nhận sự thật người ta có thể chia tay nhau.  Sự thật có thể giúp người ta tìm ra ánh sáng, hạnh phúc, nhưng khi không chấp nhận sự thật, người ta có thể vì xấu hổ, rút lui vào bóng tối của uẩn ức, hận thù.

zzGiá của sự thật phải được “mua” bằng sự thật!  Nếu không phải mua bằng sự thật thì điều gì có giá trị hơn sự thật để mà đổi chác?  Một tội nhận được ơn thứ tha chỉ khi anh ta thật lòng nhìn thấy sự thật là mình đã lầm lỗi.  Mối quan hệ rạn nứt chỉ có thể hàn gắn khi nhận ra sự thật rằng mình cũng có phần trách nhiệm trong sự việc này.  Lòng mình không bình an thì cần phải nhìn sự thật là có khi mình còn kiếm tìm và lo xây thành đắp lũy cho cái tôi của mình.

Thưa bạn, mời bạn trở lại thật với lòng mình, với thân phận mình để từng ngày tìm câu trả lời cho ba câu hỏi mà vị hiền triết nêu trong câu chuyện. (1) Bạn có sự thật trong người chưa?  (2) Bạn đã sống cho sự thật chưa? (3)  Bạn đã can đảm để bảo vệ sự thật chưa?

Brother Huynh Quang

NỤ CƯỜI TRONG CUNG LÒNG THIÊN CHÚA

Theo lời yêu cầu của các đệ tử, một vị linh sư Ấn Ðộ đã kể lại kinh nghiệm về các giai đoạn đời tu của ông như sau:

–  Giai đoạn đầu tiên của ta là được Thiên Chúa cầm tay dẫn đến xứ sở của hoạt động. Ta đã ở lại đây nhiều năm.

Tiếp đó Ngài đã trở lại và đưa ta đến xứ sở của niềm đau.  Tại đây trái tim của ta đã được thanh tẩy khỏi mọi dính bén với của cải trần thế.

Sau đấy Ngài dẫn ta đến miền đất của cô đơn.  Ở đấy mọi ti tiện nhỏ bé của bản thân ta đều bị thiêu hủy hết, và ta đã có thể đi vào xứ sở của thinh lặng.  Trước mắt ta, mầu nhiệm của sự sống và của sự chết đều được tỏ bày.

Nghe thế các môn đệ bèn hỏi:

–  Phải chăng thầy đã đạt tới giai đoạn cuối cùng trong cuộc tìm kiếm của thầy?

Vị linh sư bình thản trả lời:

–  Chưa đâu. Một ngày nọ Thiên Chúa đã nói với ta như sau: “Lần này Ta đưa con vào thăm cung của đền thánh để con được đi vào cung lòng của Ta”.

Thế là ta đã đến xứ sở của nụ cười.

*****************************************

zzNgười Tây Phương thường nói: “Một vị thánh buồn là một vị thánh đáng buồn”.

Niềm hoan lạc, sự vui tươi phải chăng không là nét cốt yếu trên khuôn mặt vị thánh?

Kinh Thánh đã nói: “Thiên Chúa là Đấng làm hoan lạc tuổi xuân con”.  Thiên Chúa làm cho con những hoan lạc bởi vì Ngài chính là niềm vui.  Ði vào cung lòng Thiên Chúa là tìm được nụ cười muôn thủa của niềm hân hoan đó.

Nụ cười không chỉ là biểu hiệu của niềm vui.  Nó còn là một thách thức trong một hoàn cảnh bi đát. Ðó là nụ cười của bà Sara, bật lên giữa cảnh già nua son sẻ.  Thực tế, khi Thiên Chúa cho bà biết sẽ thụ thai mặc dầu đã già lão, thì bà Sara đã bật cười.

Thiên Chúa thường khơi dậy những nụ cười như thế.  Tư tưởng của Ngài, hành động của Ngài đều là những nghịch lý đối với con người.

Là lời của Thiên Chúa, là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, Chúa Giêsu cũng là sự nghịch lý nhập thể. Cả cuộc sống, lời rao giảng, nhất là cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu là một chuỗi những nghịch lý trước con mắt của người đời.

Người đời chạy theo tiền của, danh vọng quyền bính, thì Chúa Giêsu lại tuyên bố: “Phúc cho những ai nghèo khó”.

Người đời thích gây bạo động và hận thù, Chúa Giêsu lại dậy: “Phúc cho những ai hiền lành và xây dựng hòa bình”.

Người đời cho rằng cái chết là một bất hạnh tột cùng, là tận điểm của cuộc sống, là kết liễu của tất cả. Chúa Giêsu lại dậy: đó là khởi đầu của hạnh phúc, là cửa ngõ đưa tới sự sống lâu dài.

Thánh Phaolô đã diễn tả cái nghịch lý cao vời ấy của Thiên Chúa bằng lời khẳng định sau đây:

“Ðiều mà thế gian cho là yếu hèn, thì đó lại chính là sức mạnh của Thiên Chúa… Những gì người đời cho là điên dại, thì đó chính là lẽ khôn ngoan của Thiên Chúa”.

Ðấy cũng phải là xác tín của chúng ta.  Với niềm xác tín ấy chúng ta sẽ vượt qua được con đường đầy nghịch lý giữa cuộc sống trần gian này để đạt tới cung lòng của Thiên Chúa, ở đó chúng ta sẽ gặp được nụ cười muôn thủa diễn tả niềm hạnh phúc vô biên của Ngài dành sẵn cho chúng ta.

Trích trong “Nụ Cười Trong Cung Lòng Thiên Chúa” – Radio Veritas Asia

CHÚA TIN TƯỞNG CHÚNG TA

Có một truyền thuyết xưa kia kể lại rằng: Khi Đức Giêsu hoàn thành sứ mạng dưới thế, Ngài trở về trời và được Thiên thần Gabriel đón tiếp.  Gặp Chúa, thiên thần lên tiếng hỏi ngay:

– Xin Chúa cho biết công trình của Chúa sẽ được tiếp tục như thế nào ở dưới thế?

Chúa Giêsu trả lời:

zz– Ta đã chọn 12 Tông đồ, một nhóm môn đệ và một vài phụ nữ.  Ta đã giao cho họ sứ mạng rao giảng Tin Mừng đến tận cùng trái đất.

Nghe Chúa trả lời như thế, thiên thần Gabriel hình như chưa hoàn toàn thỏa mãn nên hỏi tiếp:

– Nhưng số môn đệ ít ỏi đó thất bại thì Chúa có dự trù nào khác không?

– Chúa Giêsu mỉm cười và dường như muốn biểu đồng tình là thiên thần Gabriel đã có lý khi nghi ngờ, tuy nhiên Ngài vẫn quả quyết:

– Đó là kế hoạch duy nhất Ta chọn.  Ta không dự trù một kế hoạch nào khác cả.  Ta tin tưởng vào họ.

*****************************************

Vâng, thưa anh chị em, mãi đến 20 thế kỷ sau, Chúa Giêsu vẫn không thay đổi kế hoạch Ngài đã chọn.  Các Tông đồ đã không làm Ngài thất vọng và cả đám dân được họ rao giảng Tin Mừng cũng đã không phụ lòng Ngài.  Và hiện giờ Ngài đang tin tưởng vào chúng ta.

Thật vậy, trước khi từ giã các môn đệ ngài để trở về trời, Chúa Giêsu đã trao cho các ông trọng trách rao giảng Tin Mừng của Ngài và đã hứa ban cho các ông được lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên anh em.  Bấy giờ anh em sẽ làm chứng cho Thầy tại Giêrusalem, trong khắp miền Giuđê, Samaria và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

Vì thế, các môn đệ đã trở về, lòng tràn ngập hân hoan.  Đây chính là lúc phải bắt tay vào việc.  Chính nhờ vào niềm tin và nỗi vui mừng nầy, các môn đệ đã hăng hái ra đi rao giảng Tin Mừng sau khi được lãnh nhận Thánh Thần.  Các ông không còn sợ hãi của những ngày Chúa chịu chết, nhưng đầy sức mạnh để dám đương đầu với tất cả những khổ đau, những thương tích mà chính các ông không thể trốn tránh được.  Quả thật, các môn đệ của Chúa Giêsu đã không phụ lòng Ngài.

Cha Mark Link, S.J đã sánh ví ngày lễ Thăng Thiên như một cuộc chuyền cây gậy từ vận động viên nầy sang vận động viên khác trong một cuộc chạy tiếp sức.  Cách đây 2000 năm, vào ngày hôm nay, Chúa Giêsu đã chuyền cây gậy sứ mạng của Ngài cho Phêrô, Giacôbê và Gioan… đến lượt họ, họ đã chuyền cho những người tiếp theo sau, rồi những người nầy lại chuyền cây gậy ấy đến chúng ta.  Và giờ đây đến lượt chúng ta lại phải chuyền gậy cho những người kế tiếp.

Thực tế mà nói, điều nấy có nghĩa gì?  Sứ mạng ra đi rao giảng Tin Mừng về Chúa Giêsu như các Tông đồ đã làm mang ý nghĩa gì?  Đối với chúng ta, sứ mạng rao giảng về Chúa Giêsu mang một ý nghĩa căn bản trong cuộc sống Kitô hữu.  Đó chính là làm chứng cho Chúa Giêsu bằng đời sống Kitô hữu của mình.  Đó chính là sống Lời Chúa Giêsu truyền dạy trong chính cuộc sống riêng của mỗi người.  Để rao giảng Chúa Giêsu cho thế giới, chúng ta phải bắt đầu bằng cách tự rao giảng Ngài vào chính cuộc sống chúng ta trước, sau đó lời rao giảng về Ngài mới tỏa lan khắp thế giới.  Nếu có đủ số người Kitô hữu biết đưa Chúa Giêsu vào cuộc đời mình thì họ sẽ thay đổi được bộ mặt trái đất nầy thành tuyệt vời đến mức chúng ta chưa bao giờ dám mơ ước.

Anh chị em thân mến, Sứ điệp của ngày lễ Thăng Thiên hôm nay đưa ra cho chúng ta sự thách thức trước trước niềm tin tưởng mà Chúa Giêsu đã đặt nơi mỗi người chúng ta:

“Anh em là muối đất… anh em là anh sáng trần gian…” (Mt 5, 13 -16).  Là men, là muối, là ánh sáng cho đời, cuộc sống Kitô hữu phải tốt, phải ướp mặn chất Tin Mừng, phải phản chiếu khuôn mặt Chúa Giêsu.  Được như thế, chắc chắn chúng ta sẽ không làm cho Chúa Giêsu phải thất vọng.

Mừng lễ Chúa lên trời hôm nay, chúng ta không phải chỉ đăm đăm ngước mắt nhìn về trời để nuối tiếc, để tìm kiếm, nhưng là ra đi vào thế giới, vào môi trường mình đang sống, để làm chứng cho Chúa, để giới thiệu Chúa Kitô cho anh chị em chung quanh mình.  Chúa Kitô đặt hết niềm tin tưởng nơi chúng ta, để rồi một khi chu toàn bổn phận của mình nơi trần gian, chúng ta cũng sẽ trở về Trời với Chúa của mình.

Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’

*****************************************

Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã yêu trái đất này, và đã sống trọn phận người ở đó.
Chúa đã nếm biết nỗi khổ đau và hạnh phúc, sự bi đát và cao cả của phận người.
Xin dạy chúng con biết đường lên trời, nhờ sống yêu thương đến hiến mạng cho anh em.
Khi ngước nhìn lên quê hương vĩnh cửu, chúng con thấy mình được thêm sức mạnh
để xây dựng trái đất này, và chuẩn bị nó đón ngày Chúa trở lại.
Lạy Chúa Giê-su đang ngự bên hữu Thiên Chúa,
xin cho những vất vả của cuộc sống ở đời không làm chúng con quên trời cao;
và những vẻ đẹp của trần gian không ngăn bước chân chúng con tiến về bên Chúa.
Ước gì qua cuộc sống hằng ngày của chúng con,
mọi người thấy Nước Trời đang tỏ hiện.

(RABBOUNI)

SAU BỨC MÀN

Tôi quan sát thấy nhiều người homeless đứng xin tiền ở các góc đường hoặc ở một số tiệm ăn Việt Nam, vì họ biết người Việt có tấm lòng quảng đại, tôi thường thắc mắc họ ngủ nghỉ ở đâu.  Tôi cũng đã từng làm việc ở các trung tâm của chính phủ dành cho họ trú ngụ (Homeless Shelters) nhưng các trung tâm đó chẳng bao giờ có đủ chỗ cho tất cả mọi người.  Tôi dần dà dò hỏi được hai chỗ, một nhóm sống dưới gầm cầu, và một nhóm sống trong các bụi rậm cạnh con rạch, và tôi mày mò đến thăm họ.  Thật sự mà nói, những ngày đầu đến với họ, tôi cũng hơi e dè, sợ sệt, vì quá khứ “lẫy lừng” của họ; nhưng sau khi đến với các anh chị em vô gia cư này, tôi thấy họ khác với những gì xã hội nhìn họ và gán cho họ.  Vì những lầm lỡ trong quá khứ, một số người đã bị tù nhiều năm.  Xã hội con người thường có khuynh hướng xua đuổi và loại trừ họ ra khỏi guồng máy của xã hội, nên nhiều người khi được ra tù muốn làm lại cuộc đời thì không có lối để bước đi.  Tôi không thấy họ như xã hội nhìn họ; tôi thấy họ cũng là con cái của Chúa, họ có sự sống, có một tâm hồn khát khao tình thương như tôi.  Một zzđiều tôi xác tín là Thiên Chúa vẫn thương yêu họ như Chúa yêu thương tôi.

Tôi đến với họ bằng một tấm lòng thương mến, mà không có một chương trình, một ý tưởng nào khác cho họ.  Các anh chị này đã mở lòng đón nhận tâm tình này, và cho tôi “giấy phép” đi vào cuộc đời họ.  Những lần đầu tôi đến với những thùng mì gói, cà phê, bánh mì, thì họ đón nhận một cách e dè.  Cũng dễ hiểu thôi vì lâu lâu cũng có người đến cho quà, nhưng đồng thời cũng tìm cách lôi kéo họ theo đạo Kitô.  Nên khi tôi đến thăm, họ cũng nghĩ rằng tôi đến cho quà để “dụ dỗ rủ rê” họ theo đạo của tôi, và đặc biệt hơn nữa khi biết tôi là linh mục.  Sau vài lần đến thăm, họ cảm nhận rằng tôi đến với họ không có mục đích lôi kéo họ theo đạo Công Giáo của tôi, mà chỉ muốn đến nâng đỡ họ vì tình người với người.  Tôi thấy rất rõ những lần sau tôi đến, họ dỡ bỏ “mặt nạ” xuống vì cảm thấy an tâm không bị lên án.  Họ cảm thấy thoải mái và xem tôi như người trong nhà, không còn là vị khách lạ.  Lâu lâu lại có người ngồi tâm sự cuộc đời mình cho tôi nghe mà không sợ tôi chê bai, trách cứ, khinh thường hay lên án.  Tôi hiểu rằng đó là những giờ phút thánh thiêng nhất của một con người và tôi được phép đi vào tâm hồn họ, mà thường họ chẳng chia sẻ nỗi lòng u uất với bất cứ ai.

Tôi không nói một lời về Chúa về Mẹ, mà chỉ nói về tình người, để san sẻ, nâng đỡ, ủi an, cảm thông, đón nhận, … và đâu đó, nơi vùng đất “rừng thiêng nước độc” ngay giữa lòng thành phố San Jose, tôi nhận ra sự hiện diện của Thần Khí Thiên Chúa đang ngự trị ở một góc thầm kín nào đó nơi tâm hồn họ, và tên gọi của Thần Khí là tình yêu.  Chỉ có tình yêu mới thúc đẩy tôi đến với họ, và cũng chỉ có tình thương họ mới an tâm dám vén bức màn đời họ cho tôi được đồng cảm, chỉ có tình thương mới đưa con người đến với nhau.

Nếu chỉ nhìn bề ngoài của các anh chị vô gia cư này thì ai cũng cảm thấy hơi e dè để tiếp cận.  Thật sự mà nói, cuộc sống cũng cần phải có những giây phút mà bức màn cần được giăng lên để che lấp những ẩn khuất sau những bụi cây của chốn hoang dã âm u.  Tôi đã được diễm phúc vượt qua các lùm cây um tùm, được phép vén bức màn mang nhiều nét nhàu nát cuộc đời để đi vào chốn rừng thiêng này, là nơi thánh thiêng nhất của con người, mà ở đó không còn một cái gì ngăn cách cho hai trái tim nghe tiếng thổn thức của tình yêu đồng loại.  Giây phút đó, không còn những ngăn cách của giàu nghèo, tốt xấu, màu da, tôn giáo, trình độ, những bề ngoài hào nhoáng được để lại bên ngoài bức màn, để mọi người vén bức màn của chính mình lên đi vào cuộc tình sau bức màn ấy, ở đó không có sự lên án, mà nơi đó chỉ chan chứa tình thương, sự thật, sự sống, và đón nhận.

Hôm nay D., một trong số những người homeless, rủ tôi ăn cơm chung, hai anh em ngồi chồm hổm ăn cơm thô với thịt heo kho với nhau, rồi pha trà hàn huyên tâm sự thật dài và thật sâu, thật dài như bề dài con rạch bên cạnh túp lều, thật sâu như bề sâu của chốn rừng sâu hoang dã sau các lùm cây rậm rạp.  Tôi có cảm tưởng như cả triều thần thiên quốc cũng đang lắng tai nghe cùng với tôi.  Những giây phút thánh thiêng này không phải lúc nào cũng có, đó là lúc ân sủng và tình yêu Thiên Chúa đang tuôn đổ xuống trên tâm hồn đang rộng mở để được đón nhận ơn tái sinh bởi Thần Khí.

Bức màn được vén lên, và ánh sáng được dọi vào chốn thiêng liêng ẩn khuất nhất.  Sau bức màn đó, con người trở nên trần trụi, tỏ lộ một trái tim thịt mềm, một trái tim mang nhiều vết thương bầm tím cuộc đời, một trái tim đang rung động và thèm khát được yêu.

Lạy Chúa, con hay dùng nhiều lớp màn để che đậy lại cuộc đời của chính con, có bức màn này, còn cảm thấy an tâm vì không ai biết rõ để lên án con; con sợ hãi mỗi khi bỏ bức màn xuống vì lúc đó con quá dễ bị tổn thương, lúc chẳng còn gì để có thể chống đỡ ngay cả những cơn gió thoảng ngang qua cuộc đời, lúc con cảm thấy trần trụi nhất.  Xin giúp con cũng tập vén từng lớp một các bức màn lòng con, để cho Chúa nhìn ngắm con trần trụi sau bức màn của lòng con, mà sau bức màn đó, con gặp  Chúa và Chúa gặp con – và câu chuyện tình yêu có cơ hội được triển nở.

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.
May 27, 2011

YÊU THƯƠNG NHAU

Một người đàn ông đi đến cổng thiên đàng, tại đó, ông gặp thánh Phêrô và kẻ Biện Hộ cho ma quỉ.  Cả hai người đều xem xét bản báo cáo của ông ta.

Kẻ biện hộ cho ma quỉ nói “Ông ta không phải là một người nhiệt thành lắm.  Ông ta quá lơ đễnh và vô tư.  Ông ta có thể làm được nhiều điều tốt đẹp hơn cho bản thân”.

Thánh Phêrô nói “Ðúng vậy!  Ông ta có thể kiếm được nhiều tiền, nhưng ở đây, tôi nhận thấy rằng ông ta là một người hàng xóm tốt, luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác”.

Kẻ biện hộ cho ma quỉ nói “Nếu ngài hỏi tôi, tôi sẽ nói rằng ông ta quá hào phóng về tài sản riêng của ông ta.  Người ta nhìn vào ông ta như là một người quá dễ tiếp cận, thậm chí còn hơi điên rồ nữa”.

Thánh Phêrô nói “Có lẽ ông ta hơi hào phóng.  Và sự thật là đôi khi, người ta lợi dụng được ông ấy.  Nhưng đó không phải là một tội”.

Kẻ biện hộ cho ma quỉ vội vàng bổ sung “Ồ, ông ta cũng phạm tội nữa.  Ðôi khi, ông ta vẫn có thể dập tắt được cơn nóng giận của ông ta, và khi làm như vậy, ông ta vẫn có thể sử dụng một số ngôn ngữ chọn lựa chứ”.

Ðến đây, thánh Phêrô trả lời “Nhưng tôi nhận thấy ông ta không hề giữ lòng hận thù hoặc bất mãn.  Ông ta nhìn vào mối hận thù như là một thứ thuốc độc vậy.  Ðối với ông ta, bất cứ lối trả thù nào cũng đều đáng căm ghét cả”.

Kẻ biện hộ cho ma quỉ kháng cự lại “Nhưng ông ta không phải là một người đạo đức cho lắm. Không có dấu hiệu nào cho thấy ông ta được gọi là một con người thánh thiện.  Và chắc chắn rằng không một người nào có thể được vào thiên đàng, mà không sống thánh thiện”.

Thánh Phêrô phản đối “Ðúng vậy, nhưng sống thánh thiện có nghĩa là gì vậy?  Ðối với tôi, rõ ràng chúng ta đang giải quyết cho một người không có khả năng gây đau khổ cho người khác, một con người có lòng thương xót, hết sức trung thực trong tất cả mọi hành động, tôi sẽ để cho ông ta vào”.

Kẻ biện hộ cho ma quỉ kêu lên “Xin ngài chờ một phút!  Tôi chưa nói xong.  Ông ta còn một tội khác nữa, mà tôi sắp nói ra đây”

Thánh Phêrô nói cụt ngủn “Tôi không muốn nghe nói về bất cứ lỗi nào của ông ta nữa. Tôi chỉ thích một điểm duy nhất : Ông ta là một con người tử tế, một người biết yêu thương.  Ðó là một điều quan trọng.  Và thế là đủ rồi”.

Với câu nói đó, ngài để cho người đàn ông này đi vào thiên đàng.

*********************************

Thánh Gioan nói với chúng ta rằng Thiên Chúa là tình yêu. Chính Thiên Chúa yêu thương chúng ta trước. Thiên Chúa không yêu thương chúng ta bởi vì chúng ta tốt lành. Và bởi vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta, nên chúng ta phải yêu thương nhau.  Chúng ta bày tỏ tình yêu của mình đối với Thiên Chúa, bằng cách yêu thương nhau.

Thánh Phêrô nói “Tình yêu thương che lấp được rất nhiều tội lỗi…”.  Khi Phêrô chối Ðức Giêsu, Người đã không hề xua đuổi ông đi.  Người vẫn tiếp tục yêu thương ông.  Và Người đòi hỏi Phêrô phải đáp trả lại điều gì?  “Hãy chăm sóc đàn chiên của Thầy”.  Nói cách khác, Người đòi hỏi ông phải chứng tỏ lòng mến của ông, bằng cách chăm sóc những anh chị em trong cộng đoàn.

Cuộc sống của Kitô hữu không phải là sự theo đuổi các nhân đức đưa dẫn tới sự hoàn thiện của tình yêu, nhưng là một quá trình bắt đầu bằng tình yêu, và phát triển đến mức độ hoàn hảo, khởi sự từ điểm bắt đầu này.  “Căn bệnh lớn nhất của thế giới ngày nay, đó là sự thiếu vắng tình yêu” (Mẹ Têrêsa).  Tình yêu là tất cả mọi sự.  Tình yêu đòi hỏi điều tốt đẹp nhất nơi chúng ta, và mang lại cho chúng ta điều tốt đẹp nhất.

R. Veritas

*********************************

Xin cho chúng con biết kính mến Cha hơn
Và yêu thương anh em hơn.
Chúng con cư xử như người xa lạ
với biết bao anh em
Mà Cha xem là những kẻ rất gần gũi
Vì vậy chúng con đọc lại lời nguyện của Đức Giêsu:
“Lạy Cha, xin cho chúng nên một
Như Cha và Con nên một,
Cho Con ở trong chúng, và Cha ở trong Con”.

Robert Guelluy

HÃY VÌ CHÚA MÀ YÊU MẾN THA NHÂN

Người mẹ đang thoi thóp nhìn năm đứa con khóc thút thít quanh giường, mắt bà nhoà lệ.  Cha của chúng đã lìa thế từ lâu, để lại cho bà gánh nặng một mình tần tảo nuôi năm đứa con thơ.  Giờ đây lại đến lượt bà nối gót chồng ra đi, vĩnh viễn xa lìa đàn con nheo nhóc.  Bà không an tâm chút nào khi thấy lâu nay các con hay kình cãi, tranh chấp nhau từ chuyện nhỏ cho đến chuyện lớn, từ việc chia cá, chia cơm trong mỗi bữa ăn cho đến việc tranh nhau tấm áo manh quần.  Đứa nào cũng ích kỷ chỉ nghĩ đến mình mà quên tình anh em ruột thịt. Đứa nào cũng mong chiếm cho được phần hơn mà không màng gì đến quyền lợi các em. Mai đây bà ra đi, ai sẽ là nhịp cầu nối kết chúng lại với nhau trong tình huynh đệ? Ai sẽ là trọng tài phân xử những tranh chấp bất hoà thường xuyên nổ ra giữa chúng?

Tuy nhiên, điều an ủi lớn lao cho bà là mặc dù chúng không thương nhau, nhưng đứa nào cũng thương mẹ; tuy chúng không hề biết hy sinh cho nhau, nhưng nếu vì mẹ thì chúng sẵn sàng hy sinh và làm cho mẹ bất cứ chuyện gì.

Thế nên, cậy dựa vào tình thương chúng dành cho mình, bà lấy chút hơi tàn thều thào mấy lời trăn trối: “Các con yêu của mẹ, mẹ rất buồn, rất khổ tâm khi thấy các con bất hoà bất thuận với nhau. Chốc lát nữa, mẹ sẽ vĩnh viễn xa lìa các con.  Nếu mỗi người trong các con còn thương mẹ thì hãy vì mẹ mà thương yêu các anh em mình!”

Nói xong, bà ra hiệu cho từng đứa cúi xuống cho bà hôn lên trán rồi lịm vào giấc ngủ ngàn thu.

*****************************

Chính Chúa Giêsu cũng có cùng tâm trạng đó.  Ngài đến thế gian để nhen lửa yêu thương trên mặt đất và Ngài mong mỏi ngày đêm cho lửa ấy cháy lên.  Ngài đã truyền cho các môn đệ điều răn mới là hãy yêu thương nhau như Ngài đã hết lòng yêu mến họ.  Nhưng ngọn lửa yêu thương Ngài đã nhọc công nhem lên lại hắt hiu như đèn trước gió, dễ dàng bị lòng tham lam ích kỷ hận thù dập tắt đi.

zzThế nên, khi sắp lìa bỏ thế gian và các môn đệ là đoàn con thân tín để về cùng Chúa Cha, Ngài nhắn nhủ họ những lời tâm huyết: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở lại với anh em một ít lâu nữa thôi…. Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.  Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm nầy: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Gioan 13, 33-35).

Biết rằng xây dựng, vun đắp tình thương giữa người với người là điều rất khó; anh em ruột thịt trong nhà chưa dễ thương nhau, huống là yêu thương người ngoài hay thù địch.  May ra vì lòng yêu mến Thiên Chúa là Đấng đã tạo dựng, yêu thương và hiến mình chết thay cho họ, họ mới có thể đền đáp tình thương cao vời của Chúa bằng cách vâng lời Chúa và vì Chúa mà yêu mến tha nhân.  Cần phải nại đến lòng yêu mến Thiên Chúa của con người để khuyến dụ con người vì Chúa mà yêu thương nhau.

Trong tâm tình đó, Ngài tiếp: Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ điều răn Thầy truyền… là hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em.

Kế đó, sợ các môn đệ chưa chú tâm đến những lời tâm huyết của mình, Chúa Giêsu lặp lại nội dung trên theo hình thức đảo ngữ: “Ai giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy.”

Qua những lời trên, Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh với chúng ta rằng nếu chúng ta thực tình yêu mến Chúa thì hãy giữ điều Chúa truyền dạy là yêu mến tha nhân; chỉ những ai giữ luật yêu thương tha nhân mới thực sự là kẻ yêu mến Ngài.  Cho dù chúng ta không thể yêu mến người khác vì họ khó thương, thì chúng ta cũng hãy vì lòng yêu thương Chúa mà đón nhận tha nhân như lệnh Chúa truyền.

*****************************

Đó cũng là tâm tình mà chúng ta thường bày tỏ với Thiên Chúa qua kinh kính mến, xin hãy cùng khấn nguyện với nhau: “Lạy Chúa, con kính mến Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự, vì Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng; lại vì Chúa thì con thương yêu người ta như mình con vậy.  Amen!”

Lm. Trần Ngà

TÂM TÌNH CỦA MỘT EM BÉ BỐN THÁNG TUỔI

(trong gia đình Phật Giáo)   

Chiều hôm nay ngày thứ bảy (9.04.2011) tại nhà thờ Đa Minh – Ba Chuông, con vẫn đi lễ hàng ngày như thường lệ, con lại được tham dự một Thánh Lễ Thanh Tẩy cho các anh chị em dự tòng.  Giây phút đó con cảm thấy nôn nao hồi hộp như cách đây 4 tháng.  Bốn tháng trước con cũng vừa hân hoan hồi hộp dự lễ Thanh Tẩy mà Chúa tặng cho cuộc đời con.

Trong Thánh Lễ, con lại được nghe Cha giảng về việc được sinh ra trong ân sủng Chúa, về việc phải chết đi con người cũ để sống lại cùng Chúa trong vinh quang và về Thập Giá.  Khi nghe giảng Thập Giá thì trong con bỗng muốn thổ lộ tâm tình của mình.

Hôm nay là đúng bốn tháng con được chính thức làm con của Chúa.  Con tự nhận mình là một đứa trẻ còn “bú bình” vì thật sự con chỉ mới được sinh ra bốn tháng.  Con cảm thấy con đã được Chúa trao ban cho quá nhiều ân sủng và đặc ân.  Vậy mà con vẫn chưa làm được điều gì xứng đáng với đặc quyền làm con Chúa.

Nhưng Chúa ơi, cho dù con chưa xứng đáng nhưng con biết Chúa vẫn ở bên con, để con luôn biết thân phận thấp hèn của con, mà con không dám làm theo những thói quen không đẹp lòng Chúa.  Hằng ngày con vẫn vinh hạnh được rước Chúa vào lòng.  Mỗi lần rước Chúa vào lòng, con luôn xin Chúa Thánh Thần soi sáng vào tâm trí con để con biết điều nào sai, điều nào đúng, xin dạy con luôn biết nói lời an hòa, biết mở lòng ra đem tình bác ái của Chúa đến với mọi người.  Sau một thời gian cầu xin, Chúa đã nhận lời con.  Con vui và hạnh phúc lắm tuy con chưa thực hành trọn vẹn Lời Chúa dạy.

Từ ngày được làm con cái Chúa, con nhận được quá nhiều.  Được nhiều thì con cũng gặp nhiều khó khăn trở ngại.  Bao nhiêu lời dạy dỗ khuyên bảo mà con được nghe trước đây, khi con chuẩn bị đón nhận Chúa làm Cha bỗng hiện ra.  Mọi người đều nói với con rằng, làm con Chúa thì phải cùng Chúa mang Thập Giá.  Thập Giá của Chúa (theo lời mọi người) thì không làm mình hài lòng đâu, nhưng nếu để xứng đáng làm con cái Chúa và được cùng Chúa hưởng phúc vinh quang thì hằng ngày phải mang Thập giá cùng Chúa.  Khi chọn Chúa làm Chúa, làm gia nghiệp cho cuộc đời thì mình phải chịu từ bỏ con người trước kia.  Phải đi con đường hẹp, con đường thử thách mà theo những người đi trước là rất thú vị nhưng không kém phần gian nan.

Ngày đó khi nghe những câu nói như vậy thì con rất tò mò, thấy hứng thú và muốn biết Thập Giá Chúa ra làm sao, nặng bao nhiêu.

Con xin kể quý vị nghe một chuyện xin quý vị đừng cười con.  Ngày con được nhận Bí Tích Rửa Tội thì người thân thương nhất của con, có ý muốn tặng con một món trang sức là sợi dây chuyền có Thánh Giá Chúa.  Khi nghe gợi ý đó, sau một lúc suy nghĩ con từ chối, vì con nhớ những lời nói của mọi người là con sẽ được vác Thánh Giá Chúa rất vui và hấp dẫn.  Con đã tuyệt đối tin vào Chúa là Người Cha thân yêu nhất, là Gia nghiệp, là Tình yêu vĩ đại nhất, là Người bạn thân thương nhất của con, mà con phó thác hoàn toàn.  Chúa biết sức chịu đựng, biết khả năng của con, mà Chúa sẽ mang lại điều gì hạnh phúc nhất, tốt đẹp nhất để tặng Thập Giá thuộc cấp bậc nào cho con.  Nên con quyết định không tự mình chọn lựa Thánh Giá cho cuộc đời mình, vì con sợ nếu làm như thế thì con sẽ không làm đẹp lòng Chúa của con.

Cho tới giờ phút này đây, con đã bắt đầu được sờ chạm một góc Thập Giá Chúa trao.  Nhưng nếu so với những gì Chúa ban tặng thì con thấy con có thể xin mang cùng Chúa của con.

Theo con nghĩ, (con vốn là một tân tòng còn rất non trẻ nên có thể suy nghĩ của con còn thiển cận, nhưng mong mọi người thử một giây phút nào đó mở lòng với con về suy nghĩ này) Thập Giá Chúa có nặng nề hay không là do con người mình nghĩ.

Như lời của một đàn anh đã bị thử thách thật ly kỳ, cho đến bây giờ gần hết một đời người mà có lần con được nghe, con nhận thấy rằng: “Có vác Thập Giá Chúa, thì con người mới biết khả năng thật sự của mình.  Có mang Thập Giá thì con người mới có dịp để sám hối những tội lỗi mình đã vô tình hay cố ý gây ra trong những lúc yếu đuối sa ngã.  Và chính nhờ Thập Giá Chúa thì nhân loại mới có dịp để hoàn thiện con người mình.  Mỗi con người cần phải có một Thập Giá để có dịp lập công và chuộc tội với Chúa.  Điều quan trọng hơn là có vác Thập Giá thì mỗi người Kitô hữu mới khẳng định được đức tin vào tình yêu Chúa… chứ đừng mong mình vác Thập Giá để làm gì đó cho Chúa, để rồi ngồi trách cứ Chúa đủ điều”.

Thập Giá mà Chúa ban cho, như trường hợp của con đây cũng vui vui.  Khi con quyết định chọn Chúa làm Cha và chọn Công Giáo là Tôn Giáo cho riêng mình.  Con biết rất rõ những trở ngại mà con sẽ đương đầu.  Gần gũi và thường xuyên nhất là với gia đình có một truyền thống Phật Giáo rất  “cổ thụ” của con.  Nhiều lúc con phải đấu tranh tư tưởng rất mạnh, nếu ra mặt để bênh vực và chỉ ra những điều hay và hợp lý về đạo Công Giáo, thì con với má con sẽ phải tranh chấp gay gắt, vì má con đưa ra những suy nghĩ và lời nói của nhà Phật mà theo con thấy rất vô lý.  Như thế con sợ sẽ không làm cho má hài lòng, giận dỗi rồi vô tình con phạm phải điều răn thứ tư của Chúa là không giữ trọn đạo hiếu.

Con yêu Chúa, chọn Chúa là Chúa cho cuộc đời con nhưng con vẫn còn lệ thuộc vào ba má con rất nhiều.  Vì ba má con chỉ có một mình con là con gái.  Nhiều lúc con thấy nản lòng, muốn buông xuôi.  Nhưng ngay những lúc đó, con vội vàng cầu nguyện với Chúa.  Nhớ tới những ân sủng Chúa ban thì lòng con nhẹ nhàng, và tìm thấy những câu đối đáp thật rõ ràng không gây mất hòa khí gia đình.  Trong cuộc sống con cũng va vấp nhưng con đều có Chúa nâng đỡ.  Và cũng từ đây, con càng xác tín Lời Chúa hứa với nhân loại không sai chút nào. “ …Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học ở tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.  Tâm hồn anh  em sẽ được nghỉ ngơi vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng…” (Mt 12,29- 30).

Con nhận thấy Thập Giá Chúa rất hay và tràn đầy ý nghĩa.  Là con người, cho dù không phải là một người Công Giáo thì ai cũng nên sống làm sao cho đúng nghĩa một con người mà Thượng Đế đã tạo ra.  Phải sống có tình người bác ái, phải sống nhân hậu, phải sống có lề luật… Nếu sống mà không có lề luật thì xã hội sẽ ra sao?  Nếu sống trong tình trạng lúc nào cũng thủ đoạn, gian dối, thì khi được những thứ mà nhờ gian dối có được liệu trong lòng có bình an không?  Sống mà không biết thương cảm, chia sẻ thì cuộc sống có ý nghĩa nữa không?

Riêng những ai đã được vinh hạnh làm con cái Chúa, thì cái được sẽ rất nhiều so với cái phải mất đi.  Chúa tặng ta Thập Giá để con người của ta trọn vẹn hơn, xã hội hoàn thiện hơn …. Và để sống xứng đáng làm con cái Chúa, chúng ta biết điều gì xấu mà quyết tâm từ bỏ (sợ Chúa buồn thì mình phải đoạn tuyệt).  Nhất là khi mình yếu đuối sa ngã, Chúa luôn dang rộng đôi tay yêu thương để đón mình về để tha thứ tất cả.  Chẳng những thứ tha mà Chúa còn cho ta cơ hội để ăn năn sám hối.

Làm con Chúa thì được nhiều lắm, nên con rất mong mọi người nhận ra mà chạy đến bên Chúa (nếu chưa phải là người Công Giáo), và những người Kitô hữu hãy quay về với Chúa, để sống xứng đáng hơn với tình yêu, mà Chúa đã ban tặng cho quý vị qua Bí Tích Thánh Tẩy.  Để cùng chúng con hưởng những hồng phúc mà Thiên Chúa ban tặng cho nhân loại không phân biệt tầng lớp nào trong xã hội, không giới hạn tuổi tác…

Làm con Chúa thì được bình an, được hoán cải đời sống tội lỗi trước đây (hôn nhân rối, tình yêu không có lời chúc phúc của Chúa, từ bỏ được những đam mê tội lỗi như nghiện ngập, bói toán, bùa ngải….)

Làm con Chúa thì được cầu nguyện với Chúa mọi nơi, mọi lúc.  Lúc nào cũng có thể hò hẹn với Chúa để tâm tình.  Khi nào cảm thấy không vui thì mời Chúa cùng ca hát, những lần bất mãn việc gì hay ai đó làm cho mình phiền muộn và gặp trắc trở, khó khăn trong cuộc sống, thì lại được trút cả cho Người vì “ … Mọi âu lo, hãy trút cả cho Người, vì Người chăm sóc anh  em… ” (1 Pr 5,7).

Chọn Chúa và đến với Chúa, thì hàng ngày mình được đến với Chúa qua Thánh Lễ.  Dự Thánh Lễ thì chúng ta được dâng tặng Chúa những ưu tư, lo lắng, những bệnh tật, những hoàn cảnh trái ngang mà con người chúng ta gặp phải.  Con đã dùng phương pháp này để được gần gũi với Chúa hơn ngay từ những ngày con chưa được làm con cái chính thức của Chúa.  Và con đã được Chúa nhận lời.

Đây là con gợi ý dành tặng cho những ai chưa là con Chúa.  Quý vị cứ vô tư đến với Chúa đi, vô tư cầu nguyện cùng Chúa với một tấm lòng chân thành, đơn sơ, yêu mến và xác tín thì quý vị sẽ thấy điều kỳ diệu Chúa trao tặng cho quý vị.  Con dám khẳng định với quý vị như vậy, vì ngày trước con đã được tất cả những gì con cần khi con trải lòng cùng Chúa.

Nói tóm lại, làm con cái Chúa là một đặc sủng mà Chúa ban tặng cho nhân loại.  Con rất mong ước những ai chưa nhận ra Tình Yêu Bao La, Gia Nghiệp, Vị Đại Thiên Y vĩ đại, Đấng Cứu Độ và Đấng Giải Thoát tuyệt vời nhất của nhân loại là Thiên Chúa, thì giờ đây hãy chạy đến, hãy quay về để vui hưởng một cách trọn vẹn nhất.

Con xin chân thành cám ơn, quý vị đã dành thời gian quý báu để đọc bài chia sẻ của con.  Và cũng nhân đây con cũng xin quý vị cầu nguyện cho con một lời, để con vững đức tin hơn và sống đạo tốt hơn, cho xứng đáng làm con gái yêu của Chúa.

Túc Lynh – duongtuclynh@yahoo.com
Sàigòn, ngày 09 tháng 4 năm 2011