NGHE, HIỂU VÀ SỐNG

zzDụ ngôn “Người Gieo Giống” trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay đầy tính lạc quan, hy vọng.

Hạt giống Lời Chúa được gieo rắc khắp nơi.  Có hạt bị chim trời ăn mất, khi chưa kịp nảy mầm. Có hạt bị khô cháy khi chưa bám rễ. Có hạt đã nảy sinh thành cây, nhưng bị gai làm chết ngạt. Thực tế đau buồn ấy làm nản lòng nhiều người. May thay có những hạt rơi vào đất tốt, và đem lại nhiều hoa trái gấp bội.

Nhìn vào khuôn mặt của Giáo Hội hôm nay, nhiều người thất vọng trước những khó khăn, khủng hoảng. Đức Giêsu khuyên ta hãy vững lòng.  Lời Chúa vẫn còn gặp được mảnh đất tốt, phì nhiêu.

Dụ ngôn “Người Gieo Giống” đòi buộc mỗi người chúng ta phải xét mình: Có bao nhiêu hạt giống Lời Chúa được gieo vào lòng tôi? Hạt giống Lời Chúa đó bây giờ ra sao? Có sinh sôi nảy nở ra hạt nào mới không? Hay đã khô héo tàn lụi đi ?

Có hạt rơi vào lòng tôi như rơi trên mặt đường. Tôi nghe mà không hiểu. Không hiểu vì không muốn hiểu, vì cố tình né tránh, bởi lẽ Lời Chúa đòi hỏi tôi phải thay đổi, phải hoán cải và từ bỏ chính mình. Thế là Lời Chúa không sinh hoa kết trái nơi tôi. Lời Chúa đã bị trượt đi như nước đổ lá khoai.

Có hạt rơi vào lòng tôi như rơi trên đất đá. Tôi vội vã, hớn hở đón lấy ngay, nhưng chỉ dừng lại ở bề mặt hời hợt. Lời Chúa không đâm rễ sâu trong mảnh đất đời tôi. Khi thử thách của cuộc sống ập đến, tôi té nhào và bỏ cuộc, chẳng dám sống Lời Ngài.

Có hạt rơi vào lòng tôi như rơi trong bụi gai. Bụi gai là nỗi lo âu chuyện đời, là đam mê của cải. Bụi gai bóp nghẹt, làm cây Lời Chúa không sinh hoa kết trái.

Có hạt rơi vào lòng tôi như rơi vào đất tốt. Tôi nghe và hiểu. Tôi hiểu được là nhờ dám sống Lời Chúa trong đời. Chỉ ai nghe, hiểu và sống Lời Chúa mới đem lại mùa gặt bội thu.

Dụ ngôn “Người Gieo Giống” đòi buộc tôi xét lại thái độ nghe, hiểu và sống Lời Chúa.  Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay đòi buộc tôi phải cải tạo lại mảnh đất của lòng mình.

Có biết bao gai góc, sỏi đá trong mảnh đất đời tôi. Có bao hạt giống bị mất mát vì tôi đã từ khước không nghe Lời Ngài. Nếu tôi dám để cho một câu Lời Chúa tự do lớn lên trong tôi, thì đời tôi sẽ hoàn toàn thay đổi.

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng mời gọi tôi đi gieo hạt giống Lời Chúa. Nhưng trước hết tôi cần có Lời Chúa sống trong tôi, Tôi cần nghe, hiểu và sống Lời Ngài; để Lời Ngài là kim chỉ nam hướng dẫn đời tôi, để Lời Ngài biến đổi đời tôi, giúp tôi tìm ra những lối gieo mới, để Lời Ngài đơm hoa kết trái nhiều hơn trong thế giới hôm nay.

***

Lạy Chúa Giêsu! Con đường dài nhất là con đường đi từ tai và miệng đến tay và chân; con đường từ nghe và nói đi đến hành động .

Con thường xây nhà trên cát, vì chỉ thích nghe Lời Chúa dạy, nhưng lại không dám đem ra thực hành. Chính vì thế Lời Chúa chẳng sinh hoa kết trái nơi con.

Xin cho con đừng hời hợt khi nghe Lời Chúa, đừng để con phải “thương đời hơn thương Chúa”, đừng để nỗi đam mê làm Lời Chúa trở nên xa lạ trong cuộc sống của con.

Xin giúp con dọn dẹp mảnh đất đời mình, để hạt giống Lời Chúa được sinh hoa kết trái trong con mỗi ngày mỗi hơn, để Lời Ngài mang lại lợi ích cho con hôm nay và ngàn đời trong cuộc sống mai sau . Amen

Trích trong “Manna”
(BĐ1: Is 55, 10-11 * BĐ2: Rm 8, 18-23 * PÂ: Mt 13, 1-9)

CON ĐƯỜNG HẸP

Một lần kia Thiên Chúa cảnh cáo con người về một trận động đất khủng khiếp có thể xảy ra, nó sẽ làm mất hết tất cả lượng nước trên mặt đất.  Mạch nước khác chảy ra từ lòng đất sẽ làm điên loạn những người uống.

Chỉ có vị tiên tri là thực lòng tin vào lời cảnh cáo của Thiên Chúa.  Ông gánh nước lên núi và trữ trong hang động một số lượng đủ dùng cho suốt cả đời ông.

Đúng như lời cảnh cáo, trận động đất khủng khiếp đã xảy ra làm tiêu tan hết nước.  Thay vào đó một dòng nước mới tràn vào các khe suối, ao hồ và sông ngòi.

Vài tháng sau, vị tiên tri xuống núi để xem xét những gì xảy ra.  Quả thật dân chúng bị điên hết.  Họ đánh đập chống lại ông và không muốn sự giúp đỡ của ông.  Họ nghĩ rằng chính ông mới là người điên.

Vị tiên tri trở về lại cái hang động của mình lòng mừng vô hạn vì lượng nước tích trữ. Nhưng với thời gian, ông ta không thể chịu đựng nổi sự cô độc, ông thèm được sống chung với đồng loại.  Do đó ông quyết định xuống núi.  Và như lần trước, ông bị dân chúng hất hủi vì ông hoàn toàn khác họ.

Và rồi vị tiên tri quyết định đổ hết nước tích trữ trong hang động đi, uống dòng nước mới như những kẻ khác và ông cũng trở thành điên dại như dân chúng của ông.

Anthony De Mello. SJ

********************************

Ngay từ khởi thuỷ Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người có nam có nữ, mục đích là để con người tiếp tục duy trì cái tác phẩm tuyệt hảo nhất mà Thiên Chúa đã tạo dựng.  Tiếp tục khám phá ra những điều đang tiềm ẩn từ đời đời, mà ngày nay người ta gọi là phát minh trong khoa học. Rồi con người cùng các loài thụ tạo khác đã tiếp tục duy trì nòi giống của mình; cho đến ngày nay, theo luật sinh tồn đối với một số loài động vật đã không duy trì được nòi giống của mình, theo nghiên cứu của các nhà động vật học một số động vật khác nữa sẽ có thể bị tuyệt chủng, nếu con người không biết gìn giữ để duy trì chúng.

Vì sao họ lại đặt vấn đề ấy nơi con người?  Thưa vì chính con người là một thụ tạo cao đẳng có lý trí, biết suy nghĩ và thực hiện việc đúng việc sai.  Chính vì thế, nếu con người cứ tiếp tục săn bắt những con vật quý hiếm đó, thì con người cũng là một trong những nguyên do của việc làm tuyệt chủng chúng, chẳng khác gì những con vật hung dữ khoẻ mạnh, sống theo bản năng luôn rình rập để bắt giết những con vật yếu hơn nó.

Thế giới này người ta chia ra năm Châu lục, mỗi châu có một màu da khác nhau, tiếng nói khác nhau.  Ngày nay con người từ châu lục này có thể sang chung sống bên châu lục khác.  Nhưng đối với luật đồng cảm, những người cùng một quốc gia, cùng tiếng nói mầu da họ thường qui tụ lại một nơi gần nhau để sinh sống, vì từ nơi đó họ có thể hòa mình và tìm được một cuộc sống ý nghĩa hơn.  Chẳng thế đối với những người sống xa quê hương họ thường có một quan niệm chung: sống giữa cảnh xứ lạ quê người, họ cảm thấy trống vắng, lẻ loi; nếu tình cờ gặp được một người cùng dòng máu tiếng nói mầu da, tuy trước kia họ chưa từng quen biết nhau, nhưng lúc này họ dễ có thiện cảm và làm quen với nhau rất nhạy cảm.

Một người nếu chỉ biết sống cho mình, thì chẳng sớm thì muộn cũng sẽ cảm thấy lạc lõng, cô đơn.  Người đó không bao giờ tìm gặp được niềm hạnh phúc nơi cuộc sống cá biệt của họ.  Vị Tiên tri trong câu chuyện trên, ông ta đã làm một việc đúng, đó là biết dự trữ nguồn nước vì ông tin rằng lời cảnh cáo của Chúa sẽ xảy ra.  Nhưng nếu ông ta biết dùng sự khôn ngoan của mình, để cùng điều động dân chúng cũng biết dự trữ như ông thì tốt đẹp biết bao, nhưng ông lại không làm như vậy, ông ta tự mình làm công việc gánh nước lên núi để dự trữ cho riêng cá nhân ông.  Để rồi, khi sự việc động đất xảy ra đúng như lời tiên báo.  Mấy tháng ung dung sống một mình trên núi, rồi bỗng nhiên ông đã cảm thấy cô đơn, trống vắng trong cảnh không một bóng người qua lại.  Để tìm lại đôi chút những hình ảnh cộng đoàn trước kia ông đã từng gặp, ông lần mò xuống núi và nhìn thấy cảnh tượng cả một làng người điên.  Và chính ông muốn thoát sự cô đơn để tìm lại tình đồng loại, ông cũng phải chấp nhận uống nước đó để trở thành người điên để được cùng chung sống cộng đoàn; cho dù là cộng đoàn đó toàn là người điên.

Đức Kitô xuống thế để Cứu Độ cả nhân loại, chứ chẳng để dành cho riêng ai.  Nguồn ân sủng cần phải được ban phát rộng rãi cho khắp mọi người.  Chúa ban ân phúc cho cá nhân tôi, tôi phải biết chia sẻ những ân phúc đó cho mọi người sống quanh tôi.  Bởi lẽ con người cần phải sống trong một thế giới hoà đồng, thông cảm và hiểu nhau trong cuộc sống.  Một người nếu sống khác với mọi người thì lẽ đương nhiên mình sẽ bị mọi người xa lánh.  Từ chỗ mọi người không chấp nhận đối với một người sống khác người đó, người đó sẽ cảm thấy lẻ loi, cô đơn.

********************************

Lạy Chúa, xin giúp con biết trau luyện trái tim con: để con biết tin yêu mọi người, biết sống hòa đồng cùng với anh em đang sống quanh con, biết chia sẻ những niềm vui với tha nhân, biết an ủi chia sẻ mỗi khi người khác gặp nỗi buồn sầu khổ.

Xin giúp con biết loại bỏ tính ích kỉ ở nơi con, vì ngày nào nó còn ở trong con là ngày đó tâm hồn con còn cô đơn và trống vắng.

Xin cho con biết vươn mình lên sống trong tình yêu quảng đại của trái tim. Amen!

Pet. PBH

ĐẤT SÉT

 (Gr 18:1-6)

Tôi là cục Đất Sét bị bỏ xó nằm buồn thiu bên cạnh những cái bình vỡ ở góc nhà của ông chủ lò gốm.  Cuộc đời tôi lưu lạc từ người thợ gốm trước của ông chủ.  Anh ta là một người thợ bất tài, không có lương tâm.  Đang lúc anh nặn tôi thành hình một chiếc bình, đôi tay vụng về đã làm hỏng chiếc bình trên tay anh.  Chuyện này cũng có lúc xảy ra khi thợ gốm nặn đất sét (Gr 18:4).  Thay vì làm lại một chiếc khác đúng như anh thấy cần phải làm, thì anh đã vo tròn miếng đất sét lại và thẳng tay ném tôi vào góc nhà cách không thương tiếc.  Đầu tôi bị đập mạnh vô vách tường u lên một cục, thân tôi bị bầm dập, nứt nẻ đầy mình.  “Thế là xong đời!” tôi nhủ thầm và tủi thân khóc thương cho số phận hẩm hiu của Đất Sét trong tay người thợ gốm bất tài ác tâm.  Trong bóng tối của góc nhà giăng đầy màng nhện, tôi đã chẳng khóc một mình.  Xung quanh tôi, những đứa bạn cùng chung số phận, đứa thì sứt tai, gãy càng, rách mặt, u đầu… ngồi ôm nhau khóc thút thít mà chẳng biết kêu cùng ai.

Không may cho người thợ gốm vô lương tâm kia!  Khi ông chủ biết chuyện, ông đuổi hết những người thợ gốm gian ác đi.  Trong lò làm gốm giờ chẳng còn ai.  Chúng tôi hồi hộp lo sợ, không biết ông chủ tính làm gì với những mảnh Đất Sét tàn phế vô dụng đây.  Ông sẽ mướn những người thợ gốm khác để làm lại ư?  Hay ông sẽ bán cơ ngơi lại cho người khác?  Cũng có thể ông sẽ giục hết đống Đất Sét vụn đi?  Không có câu trả lời!  Ông chủ nổi tiếng giàu có nhất vùng, lò gốm chỉ là một dấu phảy trong cơ ngơi ngút ngàn của ông.  Chẳng ai có thể đếm được khối tài sản của ông.  Bởi ông càng giàu nên chúng tôi càng lo sợ.  Cái thứ phế liệu như chúng tôi có là gì  để ông chủ phải bận tâm chứ?  Chúng tôi chỉ còn chờ ngày người ta quẳng vô thùng rác đầu làng.

Không như chúng tôi dự đoán!  Ngày ngày ông chủ đi ra cái lò gốm bề bộn của đám thợ bất nhân để lại, ông cần mẫn dọn dẹp từng thứ cho gọn gàng ngăn nắp.  Ông làm việc ngày đêm, mang những sản phẩm hoàn chỉnh để riêng sang một bên, quét sạch những góc nhà tối tăm, lôi đám Đất Sét tàn phế ra ánh sáng để xem xét và quyết định số phận.  Rồi ông xách xô nước lạnh đến và nhẹ  nhàng nhặt từng đứa một bỏ vào xô nước ngâm cho nhão ra.  Chúng tôi vui suớng ngập mình trong dòng nước mát rượi, và từ từ thân thể chúng tôi biến dạng dãn ra, nhão nhét và mềm mại.

zzNgày hôm sau, khi trời vẫn còn tờ mờ sáng, ông chủ đã có mặt ở lò gốm.  Ông dừng lại bên chiếc bàn xoay có hai bánh, từ từ kéo chiếc ghế ra và ngồi xuống trước bàn.  Chúng tôi nhìn nhau kinh ngạc.  Hả! một ông chủ giàu có của lò gốm mà bây giờ tính ngồi vào chiếc ghế của người thợ gốm sao?  Tại ông tiếc tiền không muốn mướn thợ?  Vô lý, tiền bạc của ông đếm không xiết thì có xá gì một hai đồng để trả lương cho thợ.  Hay ông không tin vào cách làm ăn cẩu thả của đám thợ vô lương tâm?   Cũng không hợp lý nốt, thợ thì có người này người kia, tìm hoài thế nào mà chẳng có những người thợ làm ăn đàng hoàng chân chính.  Thật không hiểu được!

Ông chẳng thèm đoái hoài gì đến những thắc mắc của chúng tôi. Ông cho tay vô xô nước và lôi tôi lên, miếng Đất sét nhão nhét chảy dài và nằm gọn lỏn trong lòng bàn tay người thợ gốm.  Ông vo vo miếng Đất sét trong tay rồi nheo mắt suy nghĩ nên nặn tôi ra hình thù gì cho thích hợp đây.  Toàn thân tôi run rẩy trong lòng tay người thợ gốm mới.  Chẳng lẽ ông chủ giàu có lại tính tái chế miếng Đất Sét đã bị phế thải ư?  Dù có nghề thợ gốm cha truyền con nối, nhưng bỏ lâu không làm, biết ông có đủ tài để nặn lại tôi thành một đồ vật hữu ích không?  Rồi ông có đủ đức kiên nhẫn của người thợ gốm để nặn, để gò, để uốn, để nhồi, để nắn không, hay lại… nửa chừng thì quăng tôi ra góc nhà?  Nếu thế thì thật bất hạnh cho thân tôi quá!  Nhưng một cục Đất Sét trong tay người thợ gốm thì có quyền gì mà hạch hỏi người thợ chứ?  Ông làm chủ số phận tôi mà!

Đang mải miên suy nghĩ, bỗng….. reeeẹc…, Úi cha, đau quá!  Tôi rùng mình thét lên.  Thoáng cái đôi tay người thợ gốm đã đưa thân mình tôi xẹt qua xẹt lại giữa bàn xoay hai bánh.  Thân hình tôi từ từ biến dạng theo độ xoay của chiếc máy.  Đau đớn cộng với nỗi sợ hãi quá đáng, tôi co người lách ra ngoài vòng xoay của chiếc máy và những kẽ hở của đôi tay người thợ.  Tay ông mất đà cà xát mạnh vào bánh xoay.  Bàn xoay đã không phân biệt được đâu là đôi tay mềm mại của ông chủ giàu có và đâu là miếng Đất Sét lì lợm, đã gọt dũa luôn bàn tay chủ tôi.  Máu văng đầy khắp bàn xoay chảy lênh láng, những mảnh thịt vụn li ti văng tung toé lên mình tôi.  Ông nhăn mặt đau đớn, vội bỏ tôi xuống và ôm bàn tay đầy máu đi vào trong.  Tôi sợ hãi hối hận oà lên khóc nức nở.  Vì không tin vào khả năng của chủ mình, vì nghi ngờ vào sự kiên nhẫn của ông mà tôi đã vô tình làm ông bị thương.  Tôi thật đáng bị nguyền rủa và bị quăng vào thùng rác, tôi không xứng đáng để ông chủ nâng niu nặn hình nữa.  Ông chủ ơi!  Xin lỗi ông!

Hôm nay ông chủ không quay trở lại lò gốm.  Tôi nằm chơ vơ trên bàn máy, lòng buồn ngổn ngang trăm mối.  Tôi có thể làm gì để chuộc lại lỗi lầm của mình đây?

Lại thêm một ngày nữa trôi qua trong lo lắng khổ sở, tôi vò đầu bức tóc.  Mặt trời mọc rồi lặn nhường chỗ cho chị Hằng đến, vẫn không thấy bóng chủ tôi đâu!  Mặt trời ơi, mặt trăng ơi, bàn tay chủ tôi ra sao rồi?  Trong dằn vặt nhung nhớ, tôi không còn thấy người thợ gốm như ông chủ mình nữa.  Tôi thấy ông như một phần thân thể của mình, vì thịt và máu của ông vẫn còn dính đầy trên người tôi đây.  Và ngược lại tôi cũng thấy mình như một phần chi thể không thể thiếu của ông.  Chẳng phải bàn tay ông dính đầy zzĐất Sét hay sao?  Lòng tôi bâng khuâng lo lắng!  Nếu ông không trở lại thì số phận tôi sẽ ra sao nhỉ?  Lại trở về với thân phận bụi đất vô dụng?  Tôi gục đầu buồn bã ăn năn!

Sáng tinh sương ngày thứ ba, tôi giật mình mở mắt khi có bàn tay ấm áp đặt lên mình.  Tôi mừng rỡ reo lên:  “A, ông chủ!”  Ông mỉm cười âu yếm nhìn tôi.  Lạ thay bàn tay ông đã lành, chỉ còn lại vết thẹo to chạy dài theo lòng bàn tay.  Ông ngồi xuống và nâng tôi lên.  Ông nhẹ tay lau khô những mảnh máu khô và những vết dơ trên thân thể tôi.  Rồi không một lời trách mắng, không một hành động thô bạo với miếng Đất Sét lì lợm khó ưa, ông bắt đầu lại cuộc hành trình mới với tôi.  Tôi nhắm mắt thả lỏng thân mình trong lòng bàn tay với vết thẹo mới của ông.  Tiếng máy chạy xè xè… thân tôi bắt đầu bị gọt dũa… cắt tỉa… tôi quằn quại đau đớn nhưng ráng cố gắng chịu đựng.  Mỗi khi thân tôi chạy xẹt qua máy, tim tôi thắt lại, đau xé ruột gan.  Trong không gian im ắng, thỉnh thoảng tôi nghe tiếng từng giọt nước thánh thót chảy trên thân mình.  Hé mắt ra nhìn, đó là những giọt mồ hôi nhễ nhãi trên khuôn mặt ông chủ đang nhiễu nhão chảy dài lên sản phẩm trên đôi tay.  À, ra thế!  Cuộc hành trình từ một cục Đất Sét phế thải đến một sản phẩm hoàn mỹ, không chỉ có mình tôi chịu đựng sự gian truân khốn khổ mà còn là những giọt mồ hôi công lao khó nhọc của người thợ gốm nữa.  Lặng người đi vì cảm động, tôi không dám nhúc nhích, cố gắng nằm im… phó thác, tin tưởng!

Thời gian như ngừng trôi, sau những khoảng khắc lặng im không nghe tiếng máy chạy nữa, tôi mở mắt ra.  Đã xong giai đoạn đầu và người thợ gốm đứng lên chuẩn bị đưa tôi vào giai đoạn cuối để hoàn tất sản phẩm của mình.  Đó là giai đoạn mà tôi sợ nhất khi thân tôi sẽ bị đặt vào lò nung với nhiệt độ thật cao trong một thời gian dài.  Nóng khủng khiếp!  Đau đớn đến tận ngõ ngách của xương tủy!  Nhức nhối xuyên suốt con tim khối óc!  Đó là lúc mà Đất Sét tôi sẽ chết đi để hoá thân trở thành một sản phẩm mới.  Tôi phân vân!  Dù chỉ là Đất Sét, nhưng tôi vẫn có sự chọn lựa của mình.  Tôi có thể nằm ì ra hay lăn xuống đất để chống lại đôi tay người thợ gốm đang từ từ đưa tôi vào lò nung.  Hoặc tôi có thể hợp tác với chủ mình bằng cách ngoan ngoãn nằm im chấp nhận giai đoạn nung nóng này.  Tôi muốn gì?  Trở thành một bình bông tuyệt đẹp hay mãi mãi chỉ là cục Đất Sét vô dụng?

Nhìn lên đôi tay vẫn còn dấu ấn của vết thương ngày nào, lòng tôi xao xuyến bồi hồi!  Làm sao tôi có thể chống lại đôi tay đã từng vì tôi mà mang thương tích?  Nhìn xuống phận mình, tôi chỉ là một miếng Đất Sét tàn phế bị quẳng đi ở góc nhà.  Lại ngước lên nhìn người thợ gốm, tôi bắt gặp đôi mắt long lanh đang say sưa nhìn sản phẩm trên tay với ánh mắt trìu mến tràn đầy tình yêu thương.  Ánh mắt khích lệ như bảo tôi đừng sợ, có ông ở bên cạnh mà!  Ông sẽ chẳng để lửa thử thách, khốn khó gian truân quá sức chịu đựng của tôi đâu.  Tôi cần phải bước qua ngưỡng cửa của lò nung thì mới hoá thân trở thành một sản phẩm mới được.  Đó là quy luật!  Không có sự chọn lựa nào khác cả.

Tôi nhắm mắt buông xuôi hai tay nằm im chấp nhận sự thanh tẩy cuối cùng.

Tôi đau đớn lịm đi trong lò nung chẳng biết là bao lâu.  Làm sao tôi có thể đo được thời gian khi đang ở trong đau khổ?  Thế mà thời gian rồi cũng qua đi, cánh cửa lò xịch mở!  Tôi được mang ra ngoài khi toàn thân tê tái nằm im không cử động được.  Trong mơ màng, tôi cảm nhận một nụ hôn nhẹ đặt lên thân mình.  Tôi tê dại khẽ mở mắt ra nhìn.  Ông chủ!  Bốn mắt nhìn nhau long lanh ngấn lệ, yêu thương dâng tràn!  Tôi từ từ đưa mắt nhìn xuống thân mình.  Ồ, cái gì thế này?  Ngạc nhiên quá đến quên cả đau đớn, tôi ngồi phắt dậy tròn xoe đôi mắt ra nhìn.  Trên tay ông chủ là một bình bông rực rỡ tuyệt đẹp.  Là tôi đấy ư?  Tôi mà đẹp đến thế sao?  Tôi ngạc nhiên hết nhìn mình rồi lại nhìn ông chủ với ánh mắt ngạc nhiên thán phục.  Ông hãnh diện vuốt ve chiếc bình trên tay nở nụ cười mãn nguyện.

Giờ đây tôi không còn là một cục Đất Sét xấu xí bị bỏ xó ở góc nhà nữa.  Nếu bạn có dịp vào nhà ông chủ lò gốm chơi, bạn sẽ thấy một bình bông tuyệt đẹp đặt trên chiếc bàn salon giữa nhà.  Điểm thêm vào đấy là mấy cánh hoa sặc sỡ đầy sắc màu của vùng nhiệt đới quê tôi, càng làm tăng thêm vẻ kiêu sa lộng lẫy của chiếc bình hoa.  Là tôi đó!  Khách đến nhà chơi, ai cũng phải dừng chân để chiêm ngắm vẻ đẹp thanh tao đài các của tôi.  Họ xuýt xoa trầm trồ khen ngợi tài năng người thợ gốm.  Họ chúc mừng ông đã làm ra một sản phẩm tuyệt mỹ.  Họ đâu biết quãng đường gian khổ mà ông và tôi đã trải qua!  Vâng, hành trình từ một miếng Đất Sét vô dụng đến một sản phẩm hữu ích xinh đẹp không phải là chuyện đơn giản dễ dàng.  Nó đòi hỏi tình yêu của người thợ với sản phẩm, những giọt máu văng tung toé trên bàn xoay của người thợ tận tâm nhân ái, bàn tay với vết sẹo dài vẫn tiếp tục làm việc, những giọt mồ hôi thánh thót chảy xuống trong những trưa hè nóng bỏng, sự kiên nhẫn làm việc qua tháng ngày, bao công lao khó nhọc đã đổ ra… Tài năng, công đức trộn với tình yêu của người thợ gốm mới ra tôi hôm nay.  À, đừng quên nói đến sự hợp tác nhỏ bé của tôi nữa chứ!  Nếu ngày đó, tôi không ngoan ngoãn để người thợ gọt dũa cắt tỉa, hoặc tôi nhảy xuống đất khi bị mang vào lò nung… thì đâu có ngày hôm nay bạn nhỉ?

Tôi muốn gởi đến bạn bè tôi, những mảnh Đất Sét cùng chung số phận hẩm hiu ngồi ôm nhau khóc tỉ tê ở góc nhà năm xưa.  Hãy cố gắng chịu đựng gian khổ khi bị gọt dũa cắt tỉa, bạn nhé!  Hãy tin tưởng vào tình yêu và tài năng của người thợ gốm khi bị mang vào lò nung.  Đó là cánh cửa mà tất cả phận Đất Sét chúng ta phải bước qua.  Ông chủ sẽ chẳng để cho lửa thiêu đốt bạn đến chết đâu.  Rồi chúng ta sẽ gặp lại nhau, nơi trưng bày những sản phẩm tuyệt mỹ của người thợ gốm tài đức.  Lúc đó chúng ta sẽ cùng nhau ca hát nhảy múa.  Hẹn gặp lại tất cả!

Lang Thang Chiều Tím

KHIÊM NHƯỜNG

Chúng ta thường tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, phép tắc vô cùng. Khi tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, ta thường nghĩ đến một Thiên Chúa oai nghi bệ vệ, cao sang quyền thế, xa cách. Ta không nghĩ hay không dám nghĩ rằng Thiên Chúa thật rất khiêm nhường. Thực sự Thiên Chúa rất khiêm nhường.

Vì khiêm nhường nên Thiên Chúa ẩn mình trong vô hình. Ở đời, một người quyền thế chiếm rất nhiều không gian của người khác. Người quyền thế ở nhà lớn, ngồi ghế rộng. Sự hiện diện của họ khiến mọi người khép nép, nói năng mất tự nhiên, đi đứng phải nhìn trước nhìn sau. Nếu bây giờ Thiên Chúa hiện hình đứng giữa chúng ta. Chắc hẳn chúng ta chẳng thể ngồi thoải mái như bây giờ. Trái lại chúng ta sẽ quì sụp xuống, gục đầu, đấm ngực ăn năn. Nhưng Thiên Chúa đã che giấu dung nhan. Người ẩn mình trong vô hình để cho ta được tự do. Người nhường không gian cho con người. Người tự trở nên một Đấng nghèo hèn, bé nhỏ đến độ bị người đời quên lãng.

Vì khiêm nhường nên Thiên Chúa im lặng. Trong xã hội, người uy quyền thường nói nhiều. Người nhỏ phải nghe người lớn, người nhỏ có muốn nói cũng bị tiếng người lớn át đi. Thiên Chúa đã tự trở nên bé nhỏ. Người im lặng nhường lời cho con người. Người lắng nghe con người cả khi họ chỉ trích, chống đối, lên án Người. Người trở nên một Đấng bé nhỏ nghèo hèn, khép nép, im lặng trong thế giới ồn ào của loài người.

Vì khiêm nhường nên Thiên Chúa đã cúi xuống thân phận con người. Con người chẳng là gì mà Chúa vẫn thương. Người còn cúi xuống sâu hơn nữa trước những kẻ tội lỗi để nâng họ lên. Khi người ta cúi xuống trước một kẻ cao trọng, sự khiêm nhường ấy đáng nghi ngờ. Nhưng khi người ta cúi xuống trước một thân phận tội lỗi, nghèo hèn, sự khiêm nhường ấy rất chân thực.

Chính sự khiêm nhường thẳm sâu làm chứng quyền năng vô biên của Thiên Chúa. Thông thường ở đời, quyền năng là để chiến thắng, để chế ngự, để đè bẹp. Ai chống lại quyền lực, quyền lực sẽ nghiền nát người ấy. Trái lại, nơi Thiên Chúa, quyền năng là để chịu thua, để yêu thương, để tha thứ. Sức mạnh không ở nơi quyền lực. Quyền lực bộc phát là quyền lực không tự kiềm chế được. Trái lại, khiêm nhường là chế ngự được sức mạnh của mình. Đó mới chính là quyền năng thực sự mạnh mẽ.

Thiên Chúa vô hình. Có lẽ ta sẽ khó mà hiểu biết sự khiêm nhường của Thiên Chúa, nếu ta không nhìn thấy sự khiêm nhường của Chúa Giêsu.

Cuộc đời Chúa Giêsu là một cuộc đời khiêm nhường. Vì khiêm nhường nên Ngài không ngừng đi xuống. Từ trời cao Người đã hạ mình xuống thế. Từ thân phận là Thiên Chúa Người đã hạ mình xuống làm một người bình thường. Là Thiên Chúa cao sang, Người đã tự nguyện xuống làm một người dân dã nghèo hèn. Là thánh thiện vô cùng, Người đã tự nhận lấy thân phận tội đồ. Là Đấng hằng sống, Người đã tự nguyện chết đi. Suốt cuộc đời, Người đã không ngừng cúi xuống những thân phận tăm tối, nghèo hèn, tội lỗi, bị loại trừ. Và một cử chỉ không thể nào quên là trong bữa tiệc ly, Người đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Người đã hạ mình xuống tận cùng, không còn có thể xuống hơn được nữa.

Vì Thiên Chúa khiêm nhường luôn tìm đường đi xuống, nên những ai kiêu căng tìm đường  nâng mình lên sẽ chẳng bao giờ gặp được Người. Thiên Chúa khiêm nhường nên chỉ ai khiêm nhường nhỏ bé mới gặp được Người.

Hôm nay Chúa Giêsu tha thiết mời gọi: “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. Hãy ghi danh vào học trường Chúa Giêsu. Hãy học bài học khiêm nhường. Hãy học bài học Giêsu. Hãy học với Thầy Giêsu. Hãy bước theo Thầy Giêsu xuống những bậc thang khiêm nhường thẳm sâu. Ở bậc thang cuối cùng, Thiên Chúa đang chờ đợi ta, ta sẽ gặp được Người. Ta sẽ kết hiệp với Người. Ta sẽ rũ sạch mọi vất vả lo âu. Ta sẽ được bình an.

Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Xin uốn nắn lòng con trở nên giống như trái tim Chúa. Amen.

TGM. Ngô Quang Kiệt.
(BĐ1: Dcr 9, 9-10 * BĐ2: Rm 8, 9. 11-13 * PÂ: Mt 11, 25-30)

RỬA BẰNG MÁU (có Youtube)

Vào mùa hè, Vua Duy Tân thường ra nghỉ mát ở Cửa Tùng, một cửa biển đẹp ở Quảng Bình.

Một hôm nhà vua từ bãi tắm lên, hai tay dính đầy cát, viên thị vệ bưng lại một thau nước ngọt mời vua rửa tay.  Nhà vua vừa rửa tay vừa hỏi đùa:

–    Tay bẩn thì lấy nước mà rửa, còn “nước” bẩn lấy gì mà rửa?

Viên thị vệ lúng túng chưa biết trả lời sao thì Vua hỏi tiếp:

–     Nước bẩn thì làm thế nào cho sạch?

Người thị vệ vẫn không trả lời được.  Vua Duy Tân bèn nói:

–      Nước bẩn thì lấy máu mà rửa!

Viên thị vệ đâu có ngờ nhà vua chơi chữ, chuyển từ nước rửa tay sang một thứ nước khác ngàn lần đáng quý trọng là đất nước, là quê hương.

Khi đất nước bị dơ bẩn bởi sự chà đạp của ngoại bang thì không thể rửa sạch bằng nước mà phải rửa bằng máu.  Về sau, vua Duy Tân đã đứng lên hô hào toàn dân khởi nghĩa, lấy máu đào rửa cho sạch cái nhục vong quốc.

***************************

Tuy nước có khả năng rửa sạch nhiều thứ, nhưng có một số chất bẩn nước không thể rửa được nên người ta phải dùng những chất tẩy khác, chẳng hạn phải dùng dầu hôi để rửa sạch những vết sơn dính trên nền nhà hoặc phải dùng xăng để rửa sạch dầu mỡ dính tay.

Theo giáo huấn Hội Thánh, tội lỗi cũng là một vết nhơ trầm trọng không có thứ nước nào tẩy rửa được ngoại trừ máu Chúa Ki-tô! 

Máu chiên bò

Trong thời cựu ước, người có tội cần đến máu bò, máu chiên hay cừu để làm lễ xoá tội cho mình.  Sách Lê vi chép: “Nếu một người đã phạm tội, làm điều Đức Chúa cấm… thì nó sẽ đưa đến một con bò, dê hoặc chiên làm lễ tiến.  Nó sẽ đặt tay trên đầu lễ vật tạ tội và sát tế lễ vật tạ tội… Tư tế sẽ dùng ngón tay lấy máu con vật và bôi lên các góc cong của bàn thờ dâng lễ toàn thiêu, rồi đổ tất cả máu còn lại xuống chân bàn thờ…. Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội như thế cho người ấy, và người ấy sẽ được tha. (Lê-vi 4, 27-32) 

Máu Con Thiên Chúa

Nhưng máu bò, máu dê cừu không thể trừ khử được tội lỗi nên Ngôi Hai Thiên Chúa chấp nhận đầu thai xuống thế làm người, trở nên như một Con Chiên mới, Chiên của Thiên Chúa, đổ máu châu báu của mình ra để tẩy rửa tội lỗi thế gian.

“Thật thế, máu các con bò, con dê không thể nào xoá được tội lỗi.  Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Ki-tô nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể.  Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội.  Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về con.  (Dt 10, 4-7)

Ngay từ đầu, ông Gioan Tẩy giả đã nhận ra vai trò làm Chiên đền tội của Chúa Giê-su nên “khi thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, liền nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian.” (Gioan 1, 29-30)

Thế là Chúa Giê-su cam phận làm Chiên Mới để hiến thân chịu chết và đổ máu mình xoá bỏ tội lỗi thế gian, vì chỉ có máu châu báu của Thiên Chúa mới có thể rửa sạch tội lỗi loài người.

Hôm nay, tội lỗi của chúng ta cũng như của nhân loại còn đang chất ngất.  Thế nên, Chúa Giê-su vẫn tiếp tục hiến tế thân mình để xoá tội trần gian.  Hiến tế thập giá trên đồi Can-vê năm xưa, nay được hiện tại hoá, tức đang diễn ra cách mầu nhiệm mỗi lần thánh lễ được cử hành.  Thế nên, sau khi truyền phép, linh mục chủ tế nâng cao Mình thánh Chúa Giê-su cho tín hữu tôn thờ và dùng lại lời của Gioan tẩy giả để giới thiệu Chúa Giê-su là Chiên Mới đang tiếp tục dâng mình, hiến máu để cứu độ thế gian: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian”.

***************************

Nhờ bí tích Thánh Tẩy, mỗi người chúng ta được trở thành chi thể Chúa Giê-su và được thông dự vào vai trò Tư Tế của Người nên chúng ta đều được mời gọi làm chiên đền tội với Chúa Giê-su, để cùng với Người, chúng ta dâng hiến cuộc đời mình làm hy lễ cứu độ thế gian.

Vì thế, chúng ta hãy hiệp thông với Chúa Giê-su trong từng phút sống, cùng vác thập giá với Chúa bằng cách làm tốt các việc bổn phận hằng ngày, cùng dâng trọn vẹn cuộc sống của chúng ta làm hiến lễ cho Thiên Chúa Cha, để cầu xin Cha ban ơn cứu độ cho bao người tội lỗi.

Nhờ đó, đời sống hằng ngày của chúng ta trở thành một hiến lễ cao đẹp vô cùng.

LM Inhaxiô Trần Ngà

Xin vào đường link sau để nghe đọc bài “Rửa Bằng Máu”

MÌNH THÁNH CHÚA VÀ MỘT NGƯỜI LÍNH LIÊN SÔ TRẺ VÔ ĐẠO!

Khí hậu âm u, bầu trời ảm đạm buồn tẻ.  Sự vắng lặng của đêm Giáng Sinh, mà không có gì có thể so sánh được, đang từ từ phủ xuống trên miền đất hoang vu, không có lối cho xe chạy qua được. Những đống tuyết đã tan chảy trong mấy ngày qua làm cho con đường mòn trở nên sũng ướt lầy lội. Khu rừng rậm rạp, đen tối đang đứng chắn trước mặt, che khuất cả tầm mắt chúng tôi như một đống mây đang ùn ùn kéo nhanh tới ập lên chúng tôi tựa một bức tường đang chực sập đổ xuống.  Chúng tôi vội vàng đếm bước giữa mưa phùn, làm thấm ướt lạnh tới xương tuỷ.

Cha An-xen-mô (Anselm) kéo chiếc mũ áo choàng ngắn cũ kỹ của ngài thật sát vào đầu.  Ngài bước đi với đôi mắt lim dim và không hé môi nói lấy một lời.  Sự suy niệm thầm lặng của cha làm tôi đâm ra bực bội.  Bây giờ khu rừng đầy đe dọa đang gần kề.  Cái lều thợ săn chỉ còn cách xa vài ba ki-lô-mét nữa thôi.  Tất cả các con đường mòn cũng như những lối đi vòng quanh ở vùng này tôi đều quen thuộc… Khó mà lạc đường được! Tôi cảm thấy rùng mình lo sợ: Liệu chúng tôi có đến kịp giờ không?

Khu rừng rậm rạp đã bao trùm lấy chúng tôi và đồng thời như bảo vệ lấy chúng tôi.  Vẻ dễ chịu của các chồi cây bao bọc lấy chúng tôi như mùi hương thơm.  Ở chỗ quặt cuối cùng, cha An-xen-mô đã đứng im lặng và nhìn quan sát trong đêm đang từ từ trở nên tối dần.

“Còn xa nữa không?”

“Còn độ mười lăm phút nữa”, tôi trả lời, “nhưng mỗi phút là rất quan trọng!  Cha cứ tưởng tượng: tối đa, anh ta chỉ còn 24 giờ để sống thôi!  Không có bác sĩ, lại bị các viên đạn bắn vào người… Con đã tự hỏi là làm sao anh ta có thể sống được như thế.  May là bà vợ ông kiểm lâm hiểu được tiếng Nga.  Một may mắn là cậu Hannes của bà ta đã tìm gặp được cha vào đêm vọng Lễ Giáng Sinh! “

“Ðiều may mắn đó chính là sự quan phòng của Chúa!  Chị hãy xem, chúng ta chỉ cần tin tưởng phó thác nơi Chúa việc làm và ngày giờ của mình, và rồi các phép lạ sẽ tươi nở trên mọi nẻo đường chúng ta đi.  Nếu như tôi đã không cột kỹ dây đôi giày gỗ của tôi, nếu như Hannes đã không đến được… liệu chúng ta đã có thể đến kịp thời được không? “

Một ánh sáng yếu ớt nhấp nháy ở phía trái giữa bụi cây.  Chỉ còn vài ba bước nữa!  Và chúng tôi đã gõ vào cánh cửa được gài lại bằng một then gỗ to, được bào qua loa.  Hình như bà vợ ông kiểm lâm đang chờ đợi chúng tôi sẵn, nên đã ra mở cửa lập tức.

“Lạy cha, thật cám ơn Chúa! Anh ta vẫn còn sống… ! “

Chúng tôi bước vào nhà và đồng thời là căn phòng duy nhất, được trưng bày những cái gạc nai và những súng săn.  Phía trái, ở cuối phòng, một người đàn ông đầu bó băng đang nằm trên chiếc giường xếp.  Nét da căng và râu còn lún phún sơ sài, cho thấy đó là một chàng thanh niên đang tuổi sung sức.  Anh ta mở mắt khi nghe cánh cửa cọt kẹt mở và mỉm cười.  Những vết máu to, đã khô đọng trên vành môi anh ta.

“Lạy Ðức Mẹ, Mẹ đã không dối con”, anh ta nói bằng tiếng Nga: “Vị Linh mục đã đến!  Mẹ thật nhân hậu!”

Cha An-xen-mô cởi chiếc áo choàng ướt đẵm nước mưa, để xuống đất và đi lại phía người hấp hối:

“Hỡi con, Ðức Mẹ luôn luôn trung tín.  Bây giờ cha đến để giúp con.  Vậy, cha có thể làm gì được cho con? “

Anh ta nói tiếng Nga rất đúng giọng :

“Thưa cha, con tên là Andruscha.  Con không muốn chết như một con chó!”

“Không ai chết như một con chó cả.  Linh hồn của con thì bất tử;  Chúa Cứu Thế đã trả cho nó bằng một giá rất đắt!”

“Vâng, thưa cha, con muốn được như những người có đức tin, như một Kitô hữu thực sự.”

“Con đã chịu phép rửa tội chưa? “ zz

“Thưa, không ạ!”

“Con có biết đức tin là gì không?”

“Thưa, không ạ!”

“Con có biết cầu nguyện không?”

Người thanh niên bổng mĩm cười và khuôn mặt anh ta rực sáng lên

“Dạ, có ạ!  Con cầu nguyện luôn luôn! “

Bà vợ người kiểm lâm cầm tay tôi và kéo ngồi gần bên bà trên một cái bao tải to đựng lộn xộn đầy khoai tây.  Tôi đâm tò mò và hỏi bà:

“Bà đã gặp được người thanh niên này ở đâu vậy?  “Quân đội Liên Sô tiếp tục các cuộc chiến đấu; các trận đánh vừa rồi xảy ra trong vùng này.  Bà ta đặt ngón tay lên môi và nói nhỏ: “ Chờ chút nữa lại nói!  “Tôi liếc mắt quan sát bà ta, kiểu nói trang trọng đặc biệt của bà ta làm tôi không khỏi ngạc nhiên.  Ðó không phải là một người đàn bà nhanh nhẹn và nói nhiều, mà tôi quen được từ bé tới giờ.  Tự nhiên tôi có cảm giác là cái lều này tựa như một ngôi nhà thờ vậy, đầy những Ðấng vô hình.  Cái cảm giác đó thật rõ ràng và sống động!  Trong khi đó cuộc trao đổi giữa cha An-xen-mô và người thanh niên đang hấp hối vẫn tiếp tục.  Nhưng sự thể có thực sự nguy hiểm cho anh ta không?  Giọng anh ta từng yếu ớt và không nói ra lời, đã trở nên mạnh mẽ, làm vang cả căn phòng rất rõ ràng.  Tất cả mọi chuyện quanh tôi như hoàn toàn biến đổi hết.  Tôi đã thoát ra khỏi thời gian, hoàn toàn đang cận kề một bờ bến khác, mà tất cả chúng ta đều phải vươn tới.

“ Andruscha, nếu con biết cầu nguyện, con đã có đức tin rồi đó.  Con biết gì về Thiên Chúa?”

“Con chỉ biết Người ở trong con.  Con cảm nhận được Người.  Vì thế con đã trả lời Người!”

Phải chăng đây là ảo giác của một kẻ sắp chết?  Người thanh niên mở rộng mắt và nhìn vị Linh mục với tất cả sự cảm động.  Anh ta xem có vẻ đắn đo từng tiếng và chấm dứt sự im lặng trước một hố sâu bất khả vượt qua; theo cách anh ta diễn tả thì đó là một điều không mấy tốt đẹp.  Anh ta tỏ ra không quen với cách nói các chuyện đạo đức.

Cha An-xen-mô trừng mắt dò xét anh ta.  Bỗng chốc ngài quì xuống bên cạnh người hấp hối.

“Con đừng quá lo lắng.  Cha rất hiểu con!”

Ðó không phải là xưng tội, nên tôi cảm thấy không cần phải bịt tai như trước kia với các người hấp hối khác.  Tôi có bổn phận phải đi với cha An-xen-mô.  Ngài không sinh ra ở miền này, còn tôi với tư cách là một nữ cựu hướng đạo sinh, tôi quen thuộc các lối đi, các ngõ đi tắt và các lối rẽ giữa khu rừng rộng mênh mông.

Andruscha nằm nhắm mắt, không động đậy.  Nếu anh ta không thở ra mỗi lần mỗi mạnh thêm, thì tôi cho là anh ta đã chết.  Người vợ viên kiểm lâm quì xuống và tôi cũng quì theo bà.

Bấy giờ Andruscha liền mở to đôi mắt sáng quắc.  Hầu như trọn linh hồn anh ta được biểu lộ qua ánh nhìn của anh ta vào cha An-xen-mô với một lời thỉnh cầu âm thầm nào đó.  Anh ta bắt đầu đem hết chút sức lực còn lại, cố gắng nói với từng tiếng đứt quãng:

“Con có một điều đang mang trên ngực đây.  Con đã từng mang nó theo như một kho báu.  Con đã không ngừng cầu xin Ðức Mẹ cho con có dịp để trao nó lại cho một vị Linh mục.  Và Ðức mẹ đã nhậm lời con!”

Tôi nghĩ rằng anh ta đã đãng trí, nhưng cha An-xen-mô lại không nghĩ thế.  Ðang khi đang nói những lời đó, Andruscha trở mình và nhẹ nhàng lật chiếc chăn đang đắp trên mình anh ta, mở chiếc sơ mi dính đầy máu của anh ta và lấy tay tháo ra khỏi cổ sợi dây có buộc một chiếc túi nhỏ mà anh từng mang theo trên mình.

“Ðó là cái gì vậy?”, anh ta hỏi nhỏ, “Vâng, đó điều con muốn trao lại cho cha!  Lạy Ðức Mẹ, con tạ ơn Mẹ.”

Với cái dao xếp bỏ túi, cha An-xen-mô đã cắt sợi dây, cầm lấy cái túi nhỏ, đi lại phía chiếc bàn, mở mấy chiếc kim găm gài bốn mặt chiếc túi nhỏ lại và tự nhiên quì sụp xuống.  Và tôi cũng lập tức quì gối xuống.  Kìa, trong chiếc túi nhỏ đựng toàn Mình Thánh Chúa dính đầy máu.

Andruscha đưa mắt chăm chú quan sát chúng tôi.  Chúng tôi hết sức ngạc nhiên khi nghe anh ta hỏi:

“Ðó là cái gì vậy?”

“Các bà hãy ở lại đây và cầu nguyện!”  Cha An-xen-mô nói như ra lệnh.  Bà vợ viên kiểm lâm hơi lùi lại một chút và quì gối xuống, hai tay chấp lại và nước mắt chảy dài trên má.  Còn tôi không thể rời mắt khỏi tấm khăn nhỏ đầy máu, một chiếc khăn bất xứng đã thay thế cho chiếc khăn thánh Corporale.

“Ðó là cái gì vậy?”, người thanh niên đang hấp hối lại hỏi tiếp.

Cha An-xen-mô không trả lời anh ta.  Sự im lặng của ngài làmn tôi hơi bực mình.  Ngài vẫn quì gối thờ lạy Mình Thánh Chúa bị đẫm máu.

Bổng chốc tôi hoài nghi tự hỏi:  Số Mình Thánh này từ đâu tới?  Có thực sự là Mình Thánh đã được truyền phép rồi hay chưa?  Còn Andruscha không hề biết điều gì anh đã từng mang theo trên mình bấy lâu nay.

“Hỡi con, con hãy nói cho cha biết, ai đã trao cho con thứ này?”

“Một vị Linh mục, ngài trao cho con để con trao lại cho một vị Linh mục khác.  Con hằng lo sợ là sẽ không thực hiện được điều đó!”

Anh ta thở ra dồn dập và từng hạt mồ hội to chảy dài trên trán.

Anh ta tiếp tục nói sau nhiều lần cắt quãng:

“Ðó chính là ở Lviv, chúng con đóng quân ở Lviv.  Một buổi sáng nọ, con thả bộ đi dạo loanh quanh trong vùng.  Chúng con không được phép đi xa khỏi trại đóng quân, nhưng ở gần đó có những cây cối và những khu rừng thưa thớt.  Trên một con đường dẫn lên một triền dốc có một ngôi nhà thờ. Vì do những bóng cây chung quanh che phủ, nên ngôi nhà thờ hơi tối.  Ðứng trước bàn thờ là một vị Linh mục mặc áo trắng.  Ngài làm các cử chỉ và đọc lầm rầm gì đó; con chẳng hiểu gì cả.  Nhưng điều đó làm con rất thích, lòng con cảm thấy đầy vui mừng.  Con quì gối xuống trong một góc và lặp đi lặp lại kinh của Chúa Giêsu: “Gaspadi pomyluy: Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con!”  Bà nội con đã dạy cho con kinh đó.  Ðó là tất cả con biết được, bởi vì bà con chết lúc con còn bé xíu.

Trong nhà thờ không có ai khác ngoài con và vị Linh mục ra.  Sau lễ phụng vụ, vị Linh mục đến chỗ con và hỏi con làm gì ở đây.  Con trả lời là con đọc kinh của Chúa Giêsu và con cảm thấy sung sướng khi cầu nguyện như thế.  Ngài cũng hỏi con là con có phải là một Kitô hữu không, và con trả lời là không, con không được chịu phép rửa tội, bởi vì cha mẹ con thuộc Komsomol và những người bezbojniki, những người vô đạo.  Bấy giờ vị Linh mục nói với con: “Nếu con muốn, cha sẽ rửa tội cho con!  Nhưng trước hết con phải học biết Chúa Giêsu, Ðấng đã cứu rỗi tất cả mọi người nhờ cái chết của Người trên thập giá và nhờ sự sống lại của Người từ cõi chết!”

Từ đó, mỗi ngày con đi đến ngôi nhà thờ để gặp vị Linh mục, trước hết tại bàn thờ và tiếp đến là sau ngôi nhà thờ, nơi con hằng quì gối.  Vị Linh mục nói với con, ngôi nhà thờ này có tên là “heilige Sophia”, sự khôn ngoan của Thiên Chúa.

Con không hiểu được rõ lắm, bởi vì ngài nói tiếng Nga không được thạo lắm, nhưng điều chính yếu mà vị Linh mục nói thì con hiểu.  Và lòng con cháy lên vì yêu mến Ðức Giêsu, Ðấng đã yêu con trước.

Trong trại lính ai cũng cười ầm lên khi nghe con kể cho các bạn con nghe điều con đã cảm nhận được.  Lúc bấy giờ thường có bom dội luôn; nhưng chúng con ẩn khuất dưới các lùm cây.

Một buổi sáng, vị Linh mục không còn mặc áo lễ và không đi lên bàn thờ nữa; ngài đi thẳng đến chỗ con và nói. “Andruscha, người ta đã phản bội cha, cha sẽ bị bắt.  Vì thế, cha xin con một điều, con hãy đưa tin cho các Sơ ở công trường Thánh Yura biết.  Cha sẽ giao cho con một kho tàng quý báu để đưa lại cho các Sơ, bởi vì các Sơ không còn Linh mục nữa.  Con phải cắt nghĩa cho các Sơ là con đến từ thánh địa Sophia và cha Stanislas đã sai con đi với sứ vụ đó.  Trường hợp con không thể đến được nơi các Sơ ở, con hãy trao lại kho tàng này cho một vị Linh mục.  Con có hiểu không?  Không trao cho ai khác ngoài một vị Linh mục.  Với kho báu này, con mang Chúa Giêsu trên mình.”

Con hỏi ngài điều đó có nghĩa gì, nhưng ngài không còn thời giờ nữa để cắt nghĩa cho con, ngài chỉ đủ thời giờ để mở cái hộp trên bàn thờ và lấy trong đó ra cái túi nhỏ được đan bằng chỉ.  Ngài đưa cho con và bảo: “Con hãy chạy đi, thật nhanh!”  Người ta nghe nhiều bước chân đi.  Con chạy nấp vào một cái bụi cây và nhìn thấy:  Vị Linh mục ra khỏi nhà thờ, một đám người đàn ông mặc thường phục bao vây lấy cha.  Từ ngày đó, con không bao giờ nhìn thấy cha nữa.  Vào buổi chiều, con đi vào trong phòng vệ sinh, một nơi không còn ai nhìn thấy con được nữa, con mở cái túi vị Linh mục trao cho để xem và con chỉ thấy những chiếc bánh nhỏ cắt trỏn được đựng đầy trong đó.  Con đã muốn tìm các Sơ để trao lại như ngài đã dặn, nhưng chúng con không được phép rời trại lính và những ngày sau đó chúng con phải chuyển quân đi nơi khác.  Con nhớ là vị Linh mục đã dặn. “Nếu con không thể trao lại cho các Sơ, thì con phải trao lại cho một vị Linh mục”.  Nhưng con không gặp được vị Linh mục nào cả, và vì thế con đã xin với Ðức Mẹ cho con gặp được một vị Linh mục… Cha xem, Ðức Mẹ đã nhậm lời con, bởi vì cha là một vị Linh mục!”

“Andruscha, con đã làm gì với cái túi đựng đầy Minh Thánh, mà con vừa trao lại cho cha?”

“Con đã từng quẳng nó đi, vì khi đi tắm, mấy thằng bạn con hay tò mò muốn biết đó là cái gì, vì con thường mang nó trên ngực.  Bấy giờ con đã lấy chiếc khăn mùi-soa của con và đặt những chiếc bánh nhỏ đó vào đó, dùng mấy chiếc kim găm gài chặt lại tứ phía, để không một chiếc bánh nào bị mất.  Tại mỗi lần dừng chân con luôn đi tìm một vị Linh mục, nhưng con chẳng tìm gặp được vị nào cả, và con cũng không được phép rời toán quân của con.  Bấy giờ con đã cầu nguyện cùng Ðức Mẹ, đừng để con chết trước khi làm tròn được sứ mệnh mà cha Stanislas ủy thác cho con.

Giọng của Andruscha từ từ lạc đi và rất khó lòng có thể hiểu được nữa.  Tôi nghĩ rằng là một trách nhiệm lương tâm đòi hỏi khi tôi khẳng định là tôi phải ghi lại từng lời, điều anh ta đã kể lại. Bây giờ anh im lặng, nhắm mắt lại, rồi lại mở mắt to ra và hỏi lần thứ ba:

“Ðó là cái gì vậy?”

Cha An-xen-mô tóm tắt lại như thể ngài vừa tỉnh lại từ một giấc ngủ say.  Thay vì trả lời câu hỏi của Andruscha, ngài lại nêu lên một câu hỏi khác.  Tôi cảm thấy hầu như tức giận ngài luôn.

“Andruscha, tại sao người ta không đưa con vào bệnh viện sau khi bị thương như thế?”

“Bởi vì con không muốn.  Bởi vì con sợ người ta sẽ lấy mất cái túi nhỏ và con sẽ không bao giờ gặp được vị Linh mục nào nữa.  Máy bay đã bay rất thấp để tấn công chúng con dữ dội; quả thật người ta phải vất vả vì đủ thứ việc phải làm, như khiêng các người bị thương lại một chỗ.”

“Và đã xảy ra cho con ra sao?”

“Con không cử động được nữa.  Ai cũng tưởng con đã chết!”

“Và sau đó?”

“Sau đó họ kéo đi hết, và con lòng đầy vui mừng được bỏ lại một mình, ôi thật vui mừng!  Vì điều đó muốn nói rằng thế là con sẽ có dịp gặp được một vị Linh mục.  Con rất đau đớn, nhưng lòng con tràn đầy vui mừng… Cha xem, thân xác con thuộc về tổ quốc, còn linh hồn con lại thuộc về Thiên Chúa!  Vào buổi chiều người ta đã nhặt con và khiêng vào túp lều này!”

Ðầy giọng cương quyết, cha An-xen-mô nói: “Andruscha, con hãy nghe đây, suốt thời gian qua con đã mang Chúa Giêsu trên người con. Người đã thương con, đến nỗi Người đã trở nên bánh để làm của nuôi chúng ta. Người ẩn mình dưới những tấm bánh này. Con có tin vậy không?”

Một cái mỉm cười lạ lùng làm rạng rỡ của khuôn mặt người lính trẻ.

“Vâng, con tin điều đó!  Con đã cảm thấy con mang trên mình một kho báu.  Ngày đêm rồi lại ngày đêm, con đã cảm thấy phải lặp đi lặp lại lời kinh của Chúa Giêsu.  Và lời kinh đã làm cho lòng con ấm áp vô cùng.  Con chắc chắn rằng Ðức Mẹ đã thương nhậm lời con xin!”

“Andruscha, con có muốn được rửa tội không?”

“Dạ, dạ, con muốn lắm!…”

Không được phép để một phút nào qua đi vô ích!  Mũi anh ta đã thu nhỏ lại, nét mặt đã tái nhợt, hơi thở hổn hến như muốn xé lồng ngực anh ra, tất cả đều báo trước cái chết đang tới, chỉ còn đôi mắt sáng rực lạ lùng của anh ta là dấu chỉ của sự sống đang thu về trong thẳm sâu của linh hồn anh.

“Vâng, con muốn lắm!” anh ta nhắc lại cách thành khẩn.

Cha An-xen-mô quay lại phía người vợ viên kiểm lâm đang đưa cho ngài bát nước.

“Andreas, cha rửa con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần!”

Tiếp đến, ngài nhấn mạnh từng lời:

“Con yêu quý, giờ đây cha trao cho con Ðấng con đã mang trên mình bao ngày tháng qua, Bánh Hằng Sống.  Ðây là Ðấng mà chẳng bao lâu nữa sẽ đón nhận con.  Con có tin rằng Người hiện diện trong những tấm Bánh này không?”

Bấy giờ đã xảy một điều hoàn toàn không ai ngờ trước được. Andruscha ngồi dậy, chấp hai tay và kêu:

“Vâng, con xin tin, con rất tin điều ấy!  Xin cha hãy mau ban cho con Bánh Hằng Sống!”

Cha An-xen-mô cầm Mình Thánh.  Từ chỗ tôi đang quì, tôi nhìn thấy rõ đó là Mình Thánh Chúa có một vết đỏ!  Cha An-xen-mô tiến lại gần người hấp hối, hai mắt anh ta rực sáng lên như hai ngôi sao, và ngài đã cho anh ta rước lễ…

Andruscha nằm ngã xuống nặng nề trên chiếc giường xếp của anh ta và khép nghiền hai mắt lại.  Anh ta không còn mở nó ra bao giờ nữa.  Chúng tôi đều quì xuống trên nền nhà và không còn dám thở nữa.  Cái cảm tưởng mà tôi có được khi mới bước chân vào cái lều này, đã trở nên mạnh mẽ trong tôi.  Thế giới vô hình bao trùm lấy chúng tôi với sự hiện diện thực sự của nó, một sự hiện diện tác động một cách toàn diện hơn cả những chiều kích cụ thể của chúng ta.

Sau một vài giây lát, cha An-xen-mô bắt vào mạch của Andruscha.  Ngài yên lặng đứng dậy và làm dấu Thánh Giá.

“Chúng ta hãy cầu nguyện! Anh ta sẽ phù hộ cho chúng ta.”

Quì gối và hết sức cẩn thận, cha đã đặt lại Mình Thánh vào chiếc khăn mùi-soa, xếp lại và để vào túi áo khoác của ngài.

“Tôi không được phép ở lại đây lâu hơn nữa”, cha An-xen-mô nói thế và quay lại phía bà vợ người kiểm lâm: “Xin bà lo cho anh ta một lễ nghi an táng theo đúng phép đạo!”

Người đàn bà ngước mặt giàn giụa nước mắt về phía chúng tôi, bà lẩm bẩm: “Thật phúc đức biết mấy cho ngôi nhà này!”

Chúng tôi bắt buộc phải có mặt ở nhà trước khi luật giới nghiêm bắt đầu; chúng tôi không được phép làm mất thời giờ.  Cha An-xen-mô kéo cái mũ trùm đầu sát vào đầu, bởi vì trời đang mưa phùn.

Trong khi sắp tới nhà, ngài đã quay về phía tôi và nghiêm giọng nói:

“Thế mà vẫn có những kẻ điên khùng còn hồ nghi rằng tự bản chất, linh hồn con người thuộc về Kitô giáo, và rằng trong chúng ta được đóng ấn một hình ảnh không thể phá bỏ được, hình ảnh của Ðức Giêsu, Ðấng là “hình ảnh thật sự của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15).

“Vâng, thưa cha!”

Tôi không còn nói được nữa, vì cổ tôi nghẹn lại rồi.

(Trích trong: Maria Winowska, “Blut an den Händen”, Paulusverlag Freiburg Schweiz, 1975, trang 75-85)

LM Nguyễn Hữu Thy

TẤM BÁNH TÌNH YÊU

Mỗi khi chiêm ngắm Thánh Thể Chúa, tôi không ngừng ngỡ ngàng trước tình yêu của Người. Tình yêu ấy vô cùng cao cả nhưng lại rất đỗi đơn sơ. Đơn sơ như hình ảnh tấm bánh.

Tấm bánh, tình yêu gần gũi.

Sao Chúa không hoá thân làm viên kim cương quý giá mà lại làm một tấm bánh? Tấm bánh bình thường, quen thuộc quá. Từ khi kinh tế phát triển, bánh càng ngày càng xuống giá, bớt được quý trọng.

Tuy bình thường, nhưng bánh vẫn là lương thực cần thiết cho con người. Cũng như khí trời, như nước, bánh đi vào sinh hoạt hằng ngày của con người. Bình thường lắm nhưng không có không được.

Chúa trở thành tấm bánh để gần gũi với loài người, để đi vào sinh hoạt đời thường của con người. Con người có thể đến với Chúa dễ dàng, không e ngại, sợ sệt. Chỉ là một tấm bánh vừa tầm tay mọi người. Chỉ là một tấm bánh sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của con người. Thật khiêm nhường mà đầy ý nhị.

Thật đơn sơ nhưng cũng thật sâu xa vì tấm bánh nói lên tình yêu tự hiến.

Tấm bánh, tình yêu tự hiến.

Bánh sẽ chẳng còn ý nghĩa nếu chỉ để trưng bày cho người ta chiêm ngắm. Bánh chỉ có ý nghĩa khi được sử dụng. Được sử dụng là bị bẻ ra, bị nghiền nát, bị tan biến, bị tiêu hoá. Vì thế, trở thành tấm bánh là chấp nhận chịu đau đớn, chịu huỷ hoại. Đây không phải là một chấp nhận bất đắc dĩ, vì tấm bánh bao giờ cũng mời mọc tiêu thụ.

Khi xưng mình là bánh bởi trời, Chúa Giêsu bày tỏ một tình yêu tha thiết, sẵn sàng chịu nghiền nát, tan biến, chịu chết cho nhân loại. Chúa chịu chết cho ta được sống. Chúa chịu huỷ hoại cho ta được lành lặn các thương tích. Chúa bé nhỏ đi cho ta được lớn mạnh.

Tấm bánh bị tiêu hoá để thực hiện một tình yêu hiệp thông.

Tấm bánh, tình yêu hiệp thông.

Chúa Giêsu tha thiết với sự hiệp thông. Người không ngừng mời gọi con người đến sống thân mật với Người. Người tự nhận mình là cây nho và mời gọi mọi người hãy trở thành cành nho gắn kết với cây nho.

Hôm nay, Người còn chủ động trở thành tấm bánh để hoà vào từng giòng máu, từng thớ thịt của con người trong một kết hiệp sâu xa. Người tự tiêu huỷ mình để trở thành thịt máu của con người. Không còn sự kết hợp nào sâu xa khăng khít hơn nữa.

Tấm bánh gợi lên một bàn tiệc tại đó anh em quây quần trong tình thương, chia sẻ lương thực và chia sẻ tâm tình. Không còn gì đẹp hơn. Chính Chúa Kitô tự hiến mình để quy tụ chúng ta. Chính Chúa Kitô bị bẻ ra để cho tình huynh đệ nhân loại được mặn mà thắm thiết.

zzVới những gợi ý như thế, Chúa hướng dẫn tôi trong tình yêu mến, trong cử hành và trong cách sống Bí tích Thánh Thể.

 Yêu mến Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là trở nên hiền lành khiêm nhường, sống gần gũi với những người nhỏ bé nghèo hèn?

Cử hành Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là chấp nhận hao mòn, quên mình, thiệt thòi vì Chúa và vì anh em?

Sống Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là xây dựng tình đoàn kết, tình huynh đệ với những người sống quanh ta, trong mọi môi trường cuộc sống?

***

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, con cảm tạ tình yêu vô biên của Chúa. Con chúc tụng ngợi khen Chúa muôn đời. Amen.

TGM. Ngô Quang Kiệt
(BĐ1: Đnl 8, 2-3. 14b-16a ** BĐ2: 1 Cr 10, 16-17 ** PÂ: Ga 6, 51-59)

PHỤC VỤ

zzNói về những người tự cho mình là quan trọng chỉ biết sống ích kỷ mà không biết phục vụ, quan tâm đến người khác, một nhà giáo dục đã kể câu truyện như sau:

Một tối mất điện, ngọn nến được đem ra đặt giữa phòng, người ta châm lửa cho ngọn nến và ngọn nến lung linh cháy sáng.  Nến hân hoan nhận ra rằng ngọn lửa nhỏ nhoi của nó đã mang lại ánh sáng cho căn phòng.  Mọi người đều trầm trồ: “Ồ! Nến sáng quá, thật may nếu không chúng ta sẽ chẳng thấy gì cả”.  Nghe thấy vậy, nến vui sướng dùng hết sức mình đẩy lui bóng tối xung quanh.  Thế nhưng, những dòng sáp nóng bắt đầu chảy ra trải dài theo thân nến, nến thấy mình càng lúc càng ngắn lại đến khi chỉ còn một nửa nến mới giật mình: “Chết mất, ta mà cứ cháy mãi như thế này thì chẳng bao lâu sẽ tàn mất thôi.  Tại sao ta lại phải chịu thiệt thòi như vậy”.  Nghĩ rồi, nến nương theo một cơn gió thoảng để tắt vụt đi chỉ còn sợi khói mỏng manh bay lên.  Mọi người trong phòng nhốn nháo bảo nhau: “Ồ! Nến tắt mất rồi, tối quá, làm sao bây giờ?”  Ngọn nến mỉm cười tự mãn và hãnh diện về tầm quan trọng của mình.  Nhưng bỗng một người đề nghị: “Nến dễ bị gió thổi tắt lắm, để tôi đi tìm cái đèn dầu”.  Đèn dầu được thắp lên còn ngọn nến cháy dở thì bị bỏ vào ngăn kéo tủ.  Ngọn nến buồn thiu.  Thế là từ nay nó sẽ mãi mãi nằm trong ngăn kéo, khó có dịp cháy sáng nữa.  Nến chợt hiểu rằng hạnh phúc của nó là được cháy sáng, được tiêu hao và tan chảy vì mọi người, bởi vì nó là ngọn nến.

*******************************

Được phục vụ người khác là một vinh dự, là ơn gọi của người Kitô hữu.  Vì thế, ai không phục vụ là đã đánh mất ơn gọi bản chất của mình.  Không ở đâu chúng ta tìm được gương mẫu phục vụ như Đức Giêsu.  Ngài đã khẳng định: “Ta đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20, 28).

Khi cúi xuống rửa chân cho các môn đệ, khi đồng bàn với nguời tội lỗi, hay khi an ủi, nâng đỡ, chữa lành người đau bệnh…tất cả Chúa Giêsu đều làm gương cho chúng ta về thái độ phục vụ khiêm tốn.  Là con Thiên Chúa, nhưng Đức Giêsu đã tự hạ sống vâng phục, mang lấy thân phận con người để chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, những vất vả gian lao của kiếp người như chúng ta.  Thiên Chúa còn phục vụ như thế huống chi chúng ta là con người.  Nói như thánh Phao lô: Chúng ta có được tài năng gì cũng là do Thiên Chúa ban để phục vụ người khác.  Nếu chúng ta chỉ biết chôn giấu những nén bạc, cũng giống như đốt đèn mà đặt dưới gầm giường thì bạc đó, đèn đó có giá trị gì đâu.  Càng phục vụ người khác chúng ta càng lớn lên triển nở viên mãn.  Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu bảo rằng một cánh hoa dù nhỏ bé đến đâu nó cũng sống trọn kiếp hoa của nó khi tỏa ra hương thơm ngát; một con ong, chú kiến sống trọn kiếp của nó khi chăm chỉ làm việc là hút mật là tha mồi; một nghệ sĩ dương cầm tấu lên những bản nhạc du dương cũng là để phục vụ người khác; một họa sĩ vẽ lên bức tranh là để thể hiện và ca ngợi cái đẹp của cuộc sống.

Mỗi người dù làm công việc gì hết mình, tận tình cũng là để phục vụ người khác và xây dựng xã hội; người lười biếng ích kỷ thì không biết chia sẻ hay phục vụ người khác.  Một con người chỉ thật sự là người khi sống cùng, sống với người khác, biết phục vụ chia sẻ với người khác, bởi không ai là một hòn đảo tách biệt.  Ngay cả đất đá vô tri nói như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thì: Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau.  Khi tạo dựng, Thiên Chúa không để Adam phải cô độc một mình, nhưng Người đã đặt ông vào vườn địa đàng xinh đẹp với đầy đủ các loại hoa thơm trái ngọt, đồng thời Thiên Chúa còn tạo Eva như người bạn đồng hành để đỡ nâng và an ủi ông trong cuộc sống.

Chính khi phục vụ và sống chan hòa với người khác chúng ta càng được sung mãn về nhân cách, phong phú về tâm hồn, tăng thêm niềm vui.  Phục vụ là cho đi, là làm cho người khác được hạnh phúc. Hạnh phúc được chia sẻ thì hạnh phúc được nhân lên, và chúng ta chỉ thật sự có hạnh phúc khi biết làm cho người khác hạnh phúc.

Trong xã hội mọi người đều bình đẳng, nếu bạn có chức vị cao cũng là để phục vụ người khác.  Trong gia đình, cha mẹ là người quan trọng nhất.  Thế nhưng cha mẹ lại là người vất vả phục vụ và hy sinh cho con cái nhiều nhất.  Càng làm lớn lại càng phải phục vụ nhiều hơn. Vì như Chúa Giêsu đã nói: “Trong anh em người làm lớn hơn cả phải là người phục vụ anh em” (Mt 20, 26); “ Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 14, 11).

Mỗi người chúng ta là một ngọn nến nhỏ trong vũ trụ bao la, được tác tạo trong yêu thương, Thiên Chúa muốn chúng ta được lớn lên, triển nở và đạt được hạnh phúc.  Ngài đã đặt xung quanh chúng ta những mối quan hệ gần gũi, thiết thân đó là gia đình, hàng xóm, bạn bè, xã hội để chúng ta cùng cộng tác giúp nhau sống tốt.  Thế nhưng như ngọn nến nhỏ trong câu truyện trên, đã có lúc chúng không chịu cháy sáng, không sống với hết bản chất riêng của mình.  Ngọn nến đã vụt tắt, ích kỷ giữ lại cho riêng mình mãi cho đến lúc bị vất đi, bị lãng quên như một vật bị phế thải, nó mới hiểu được ý nghĩa của sự tiêu hao, hiểu được niềm vui của hành động phục vụ.

*******************************

Lạy Chúa, một con én không làm thành mùa xuân, nhưng nó biết làm cho đời ấm lại.  Một ngọn nến nhỏ chẳng đáng là gì, nhưng nó cũng đủ xua tan bóng tối.  Xin cho chúng con biết góp chung những ngọn nến nhỏ lại để tạo nên một vầng sáng lớn.  Xin cho chúng con biết tiêu hao đi vì tha nhân, được tan chảy trong tình yêu để đời chúng con không lụi tàn mà cháy mãi sáng mãi trong tình yêu của Chúa.

R. Veritas

THIÊN CHÚA YÊU THẾ GIAN

Có một điều thường khiến các bạn trẻ băn khoăn, đó là làm sao nhận ra một tình yêu chân thực, làm sao không bị chóa mắt bởi những ảo ảnh, không bị lừa dối bởi những ngọt ngào, để rồi vỡ mộng.

Bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay gợi cho ta một số tiêu chuẩn, khi mời gọi ta nhìn vào tình yêu của Thiên Chúa. Tình yêu chân thực là tình yêu hiến trao: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã trao ban Con Một của Người…“.  Không phải chỉ là trao một quà tặng, hay một cái gì ở ngoài mình, nhưng là trao đi một điều thiết thân và quý báu.

Điều quý báu nhất của Thiên Chúa Cha là người Con Một của Ngài, đó là Đức Giêsu Kitô. Khi trao cho chúng ta Đấng bị treo trên thập giá, Thiên Chúa đã trao cho ta chính bản thân của Ngài. Ngài chấp nhận Con Ngài phải chết để cho ta được sống.

Tình yêu chân thực chẳng hề biết giữ lại cho mình. Tình yêu chân thực là tình yêu chia sẻ, tình yêu mong hạnh phúc đến với  người mình yêu: “… để bất cứ ai tin vào Người Con ấy thì không phải chết, nhưng được sống muôn đời.

Sự sống muôn đời đã bắt đầu từ đời này. Được sống là được đưa vào thế giới thần linh, được chia sẻ hạnh phúc của Ba Ngôi Thiên Chúa. Thiên Chúa không muốn cho ai phải trầm luân. Nếu có ai hư mất hay bị luận phạt thì không phải là vì Thiên Chúa độc ác, nhưng chỉ vì Ngài tôn trọng tự do của con người. Con người có thể tin hay từ chối, mở ra hay khép lại trước sự sống được trao ban.

Thánh Gioan đã dám định nghĩa “Thiên Chúa là Tình Yêu”. Một Tình Yêu chia sẻ chan hòa giữa Ba Ngôi: Cha trao tất cả cho Con, Con dâng tất cả cho Cha. Thánh Thần là sự thông hiệp giữa Cha và Con.  Một Tình Yêu tràn ngập cả vũ trụ: Thiên Chúa là Tình Yêu sáng tạo khi Ngài dựng nên con người theo hình ảnh Ngài; Ngài là Tình Yêu cứu độ khi Ngài muốn thứ tha cho ta qua Đức Giêsu; Ngài là Tình Yêu thánh hóa khi Ngài muốn ban cho ta sức sống mới trong Thánh Thần.

Ta sẽ mãi mãi xa lạ với Thiên Chúa nếu ta xa lạ với tình yêu. “Ai không yêu thì không biết Thiên Chúa” (1Ga.4:8). Và “Ai không ở lại trong tình yêu thì cũng không ở lại trong Thiên Chúa “. (1Ga.4:16).  Ước gì đời ta được tưới gội bởi Tình yêu, để mọi việc ta làm đều bắt nguồn từ Tình yêu và quy hướng về Tình yêu. Ước gì ta biết làm chứng cho Thiên Chúa Tình yêu bằng một đời sống hiến trao và chia sẻ.

***

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi ! Ngài là mẫu mực của tình yêu tinh ròng. Xin cho con có trái tim biết yêu thương.  Xin dạy con biết yêu như Ngài, biết sống cho tha nhân, biết quảng đại cho đi và khiêm nhường nhận lãnh. Amen

Trích trong “Manna”
(BĐ1: Xh.34:4b-6. 8-9 ** BĐ2: 2Cr.13:11-13 ** PÂ: Ga.3:16-18 )

THƯ CHA GIÀ GỞI CON

zzCon thương yêu,

Một ngày nào đó con sẽ thấy ba già đi, thân thể cũng dần dần héo mòn, thì xin con nhẫn nại chút xíu, thử tìm hiểu ba chút xíu…

Nếu ba ăn uống dơ dáy không sạch sẽ, nếu ba không biết mặc áo… thì có chút nhẫn nại nghe con.

Con có nhớ không, có khi ba bỏ ra rất nhiều thời gian để dạy con làm một vài việc?

Nếu, khi ba cứ nói đi nói lại một chuyện gì đó… thì đừng ngắt lời của ba, nghe ba nói…

Khi con còn nhỏ, ba đọc truyện cho con nghe, lật trang này qua trang khác đọc cho đến khi con nhắm mắt ngủ mới thôi.

Khi ba không muốn tắm rửa thì không nên hổ nhục ba, cũng đừng chửi mắng ba…

Con nhớ không, khi con còn nhỏ, ba đã nghĩ ra biết bao nhiêu là lý do để dỗ dành con đi tắm…. cho nên, xin con cũng dỗ dành ba chút xíu, được không con ?

Khi con nhìn thấy ba không biết gì về khoa học tiên tiến, thì cho ba một chút thời gian, không nên cúp máy rồi nhìn ba mà cười nhạo…

Ba đã dạy con bao nhiêu là chuyện nhỉ?  Nào là phải ăn uống như thế nào, phải mặc như thế nào, phải đối mặt với cuộc sống của con như ra sao…?

Nếu trong lúc trò chuyện mà đột nhiên ba không nhớ gì cả, mất ý thức, thì hãy cho ba một thời gian để nhớ lại…

Nếu ba vẫn cứ bất lực, xin con đừng căng thẳng…

Đối với ba mà nói, thì cái quan trọng không phải là đối thoại, mà là có thể ở chung với con, và lắng nghe con…

Khi ba không muốn ăn thứ gì thì đừng nên gò ép ba, vì ba biết rất rõ lúc nào thì có thể ăn…

Khi chân của ba nó không nghe… thì phụ giúp ba một tay…

Giống như ba đã giúp con, dẫn con bước thứ nhất đi trên cuộc đời của con…

Khi một ngày nào đó ba nói với con là ba không còn muốn sống nữa…

Xin con đừng giận dữ…

Có một ngày con sẽ hiểu…

Thử tìm hiểu ba, sắp nằm gần kề miệng lỗ, những ngày sắp tới có thể đếm…

Có một ngày con sẽ phát hiện, mặc dù ba có nhiều cái sai, nhưng ba vẫn cứ muốn cho con cái tốt nhất…

Khi ba gần bên con thì đừng cảm thấy buồn rầu, bất đắc dĩ hoặc né tránh…

Con phải kề sát bên ba, như ba hồi trước giúp con triển khai nhân sinh, hiểu ba, giúp ba…

Xin để ba dựa vào con một chút, con hãy lấy yêu thương và lòng nhẫn nại giúp ba đi hết con đường nhân sinh…

Ba sẽ dùng nụ cười, sự không thay đổi của ba và tình yêu không bờ không bến, để báo đáp con…

Ba yêu con.

Ba của con.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. Dịch từ tiếng Hoa (From VietCatholic)