TỈNH THỨC

Mấy năm trước đây,trên hệ thống truyên hình CNN của Hoa Kỳ có nói về một người tài xế xe buýt đã đạt kỷ lục xuất sắc: “Trong 23 năm làm tài xế, anh lái trên 1.500.000 cây số mà không gây ra một tai nạn nào”.  Khi được hỏi, làm sao anh đạt được kỷ lục ấy, anh trả lời rất đơn giản: “Phải tỉnh thức”.

***

Bạn thân mến! Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng mang đến cho ta một lời khuyên: “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến” (Mc.13:33). Tỉnh thức là nhận ra những điềm báo trước để ta có thái độ thích hợp với tình thế mới. Cầu nguyện giúp ta liên kết mật thiết với Đấng Tối Cao, để Ngài ban ơn giúp sức cho ta, để ta tiếp tục bước đi trên đường lữ hành trần gian này

Phụng vụ trong Mùa Vọng luôn luôn là một nhắc nhở ta về “Tỉnh thức và Cầu nguyện”.  Mùa vọng nhắc ta lần đầu tiên Ngôi Hai Thiên Chúa đã đến trong trần gian cách đây hơn hai ngàn năm về trước.  Mùa vọng cũng là một nhắc nhở cho ta để chuẩn bị cho lần đến cuối cùng của Ngài để xét xử ta và xét xử muôn dân. Ta phải chuẩn bị cho ngày đó ra sao?

Ngày Chúa đến gặp riêng mỗi một người chúng ta, ngày ấy thật bất ngờ, không ai biết trước được.  Đó là ngày kinh hoàng cho những ai đang mê ngủ trong đam mê tội lỗi, nhưng đó cũng là ngày cứu độ cho những ai luôn tỉnh thức và cầu nguyện để được chuẩn bị sẵn sàng.

Tỉnh thức là không quá mê mẩn trong những đam mê hưởng thụ đời này. Tỉnh thức là biết chuẩn bị cho đời sau bằng cách vươn tâm hồn lên những chân trời cao thượng.  Tỉnh thức là tuy còn sống ở đời này nhưng tâm hồn đã hướng về những giá trị tinh thần vĩnh cửu ở đời sau.

Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới cảm nếm được nỗi niềm khao khát mong chờ ngày Chúa đến.  Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới gặp được Chúa trong ngày lễ Chúa Giáng Sinh.  Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới được vào thế giới mới với Chúa.  Có tỉnh thức cầu nguyện, khi Chúa đến ta mới đứng dậy và ngẩng cao đầu lên.  Có tỉnh thức cầu nguyện, ta mới gặp được Chúa trong ngày hôm nay, và nhất là trong ngày cuối cùng của đời ta.

***

Lạy Chúa! Con thường thấy mình không có giờ cầu nguyện, không có giờ đi vào sa mạc để ở bên Chúa và trò chuyện với Ngài.  Nhưng thật ra sa mạc ở sát bên con. Chỉ cần một chút cố gắng trong tình yêu là con có thể vào sa mạc với Chúa, có thể trò truyện tâm tình với Ngài.

Mỗi ngày có biết bao giây phút có thể gặp Chúa mà con đã bỏ mất: khi chờ một người bạn, chờ đèn xanh đèn đỏ ở ngã tư, chờ món hàng đang được gói; Khi lên cầu thang, khi đến nơi làm việc, khi kẹt xe, khi cúp điện bất ngờ..v..v… Thay vì bực bội hay nóng ruột, xin cho con được an bình vì có Chúa hiện diện ngay bên.

Lạy Chúa!  Những sa mạc ngắn ngủi hằng ngày giúp con tỉnh thức để nhạy cảm hơn với Chúa. Xin cho con yêu mến Chúa “mỗi ngày mỗi hơn” để tim con cùng rung một nhịp đập với Chúa trong sa mạc hằng ngày của đời con. Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas
(CN 01 MV-B, BĐ1: Is.63:16b-17; 64:1. 3b-8, BĐ2: 1Cr.1:3-9, PÂ: Mc.13:33-37)

SỰ VÔ ƠN

 Không có câu chuyện nào trong Phúc Âm trình bày sự vô ơn một cách thấm thía cho bằng câu chuyện nầy.  Muời người phong hủi đến cùng Chúa Giêsu với một sự mong đợi có phần nào tuyệt vọng.  Vào thời kỳ đó, bệnh phong hủi có nhiều điểm tương đồng như bệnh AIDS (liệt kháng) đối với chúng ta ngày nay.  Và bệnh phong hủi rất dễ lây lan cũng như bất trị.

zzNhững người phong hủi bị khai trừ, sống biệt lập và ngay cả bị khước từ những quyền căn bản nhất của con người.  Chỉ có phép lạ mới chữa được bênh phong hủi.  Và Chúa Giêsu đã chữa lành cả mười người, nhưng chỉ có một người trở lại cám ơn Ngài đã chữa lành, thay đổi toàn vẹn cuộc sống của họ.

Tôi tin chắc mỗi người trong nhóm của họ vô cùng biết ơn Ngài, nhưng có chín người không bao giờ nói lên tiếng cám ơn.  Chỉ hai tiếng “cám ơn” đơn giản thôi đã làm nên điều khác biệt.  Hai tiếng đó được nhìn nhận là những tiếng có thanh sắc nhất trong ngữ vựng chúng ta.  Nhưng khi người ta nghĩ tới sự biết ơn hiếm khi xảy ra, cho dù xem ra như thế, thật khó khăn khi phải nói lên hai tiếng “cám ơn”!

Điều hiếm hoi thì quí hóa 

Thật rất thường tình, người phối ngẫu, anh em, chị em, bạn bè, bạn đồng nghiệp, người lối xóm… làm cho chúng ta đôi việc tốt, nhưng chúng ta không thể đáp trả lại được.  Bi kịch cuộc sống là ngay cả chúng ta cũng không cố gắng đáp trả lại trong hoàn cảnh nầy, như mấy vần thơ sau đây:

“Cứ thổi, thổi đi, hỡi ngọn đông phong,
Ngươi không đến nỗi tàn nhẫn
Như sự vô ơn của con người.”

Thánh Lu-ca không nói cho chúng ta biết là người phong hủi trở lại cám ơn có được Chúa chúc phúc thêm hay không.  Thánh sử cũng không nói điều gì đã xảy ra cho chín người kia, không trở lại cám ơn Chúa Giêsu đã chữa lành bệnh.  Cũng không chút gợi ý gì, chẳng hạn họ bị phong hủi trở lại hoặc bị phát ra một hình thức bệnh trạng gì khác.

Chúa không hờn dỗi.  Tặng phẩm của Chúa không bao giờ có điều ràng buộc theo sau.  Khi Chúa ban cho, Ngài cho vô điều kiện, không hối tiếc, chỉ vì niềm vui trọn vẹn được chia sẻ thần tính dư dật của Ngài.

Trao đi và nhận lại cách độ lượng

Khi người ta ý thức rằng có ai đó biệt đãi mình thì người ta muốn làm điều gì để đáp lại.  Người ta không nhận quà sinh nhật mà xây lưng đi, không nói lời gì.  Nếu người ta xử sự như thế thì sẽ bị người đời xem là kỳ dị, nhẫn tâm, vô nhân đạo.

Không, điều người ta làm là chấp nhận quà tặng và nói “cám ơn”, không phải vì người ta bắt buộc phải làm như thế, nhưng vì người ta muốn làm như thế.  Đúng thế, khi người ta ý thức là có người biệt đãi mình, người ta muốn làm điều gì tích cực để đáp lại.

Giờ đây, đối với Chúa cũng thế, không khác biệt.  Người ta muốn làm điều đó không phải vì bắt buộc, nhưng vì người ta muốn thế.  Đó là tất cả những gì tôn giáo đề cập tới.  Tôn giáo nói về “Thiên Chúa” và tôn giáo không nói về “cái tôi”.  Tôn giáo đáp lại lòng tốt và sự quảng đại vô biên của Thiên Chúa.

Người ta cảm tạ Thiên Chúa vì Ngài là Thiên Chúa.  Người ta thờ lạy Thiên Chúa vì Ngài đáng được thờ lạy.  Người ta yêu mến Thiên Chúa vì Ngài đáng yêu mến.  Người ta ca tụng Thiên Chúa vì Ngài đáng ca tụng nên người ta thường cầu xin: “Lạy Chúa! Con cần đến Chúa.”  Quả thật, ngày mà người ta trở về với Chúa và thưa: “Lạy Chúa! Con cần đến Chúa” thì đó là ngày người ta bắt đầu trở thành một con người trọn vẹn.

Xin nhớ đến tôi

Oscar Wilde đã viết điều mà ông mô tả như truyện ngắn hay nhất trên đời.  Câu chuyện xảy ra như thế nầy: Lần kia Chúa Giêsu đi dọc theo con đường chính băng qua một tỉnh nhỏ.  Ngài đi ngang qua một người say rượu nằm bơ vơ, ngớ ngẩn, bên vệ đường.  Ngài nói: “Anh ơi, sao anh đã phung phí cuộc đời trong rượu chè?” Người đàn ông nhìn Chúa Giêsu, nhận ra Ngài và thưa: “Chúa ôi, Chúa không nhớ con sao? Con là người phong hủi và Chúa đã chữa con lành?

Khi đi xa hơn một đoạn đường nữa, Chúa Giêsu gặp một người đàn ông khác đang đi theo một cô gái giang hồ.  Ngài nói: “Anh ơi, sao anh phung phí cuộc đời trong những tham muốn nhục dục?”  Người đàn ông nhìn Chúa Giêsu, nhận ra Ngài và thưa: “Chúa ơi, Chúa không nhớ con sao? Con là người mù và Chúa đã làm cho con sáng mắt.

Đi thêm một đoạn đường nữa, Chúa Giêsu gặp một người đàn ông thứ ba.  Ông ta già cả và dựa vào tường kêu khóc thảm thiết.  Chúa nói: “Bác ơi, sao bác phung phí cuộc sống, đêm ngày than thân khóc phận?”  Cụ già nhìn quanh, thấy Chúa Giêsu, nhận ra Ngài và thưa: “Chúa ôi, Chúa không nhận ra con sao? Con đã chết và Chúa làm cho con sống lại.

Oscar kết thúc câu chuyện cùng một luận điệu như thế.  Nhưng tôi thiết tưởng còn thiếu sót nếu chúng ta dừng lại nơi đây.  Theo tôi tưởng, chúng ta hoàn toàn tự do thêm vào phần phụ lục của riêng chúng ta.

Giả thiết Chúa chặn một người trong chúng ta lại, có thể Ngài sẽ nói: “Tại sao con phung phí đời con?”  Và nếu Ngài nói cùng làm như thế, chúng ta nên trả lời: “Chúa ôi, Chúa không nhớ con sao?  Con là hư vô và Chúa đã dựng nên con.  Chúa đã dựng nên con giống hình ảnh Ngài.  Chúa nâng con lên phẩm giá con cái Thiên Chúa.  Chúa là lý do tại sao con được làm người, tại sao con được thấy, nghe, đi đứng, nghĩ tưởng, yêu thương, chọn lựa và mơ ước?”  Có thể Chúa sẽ nói: “Vậy thì tại sao con đã quên Cha?  Tại sao con đã không cám ơn Cha?

Phần còn lại 

Một người không có của cải gì hết và Thiên Chúa đã cho anh ta mười quả táo.  Ba quả dùng để ăn nên anh đã ăn ba quả táo đầu tiên.  Ba quả tiếp theo để làm chỗ trú ẩn, che mưa che nắng.  Anh ta đã bán đi để mua chỗ ở.  Chúa cho anh ba quả nữa để sắm áo quần che thân và anh đã bán đi để mua sắm quần áo.  Chúa cho anh quả táo thứ mười để anh ta có gì dâng lại cho Chúa, hầu tỏ lòng biết ơn đối với chín quả táo kia.

Người đàn ông đó cầm quả táo thứ mười lên và ngắm nghía cẩn thận.  Quả táo đó xem ra đỏ hồng và có nhiều nước hơn tất cả những quả táo khác.  Tự trong thâm tâm, anh ta biết rằng đó là quả táo mà Chúa mong chờ anh ta sử dụng như tặng phẩm để biết ơn Ngài đối với chín quả táo kia.

Nhưng quả táo thứ mười ngon lành hơn tất cả những quả táo khác.  Người đó lý luận rằng Chúa có tất cả những quả táo khác trên trần thế nên anh đã ăn quả táo thứ mười và dâng lại cho Chúa cái hột mà thôi.

Vô ơn là một trong những tội gớm ghiếc nhất.  Vô ơn làm cho người ta cảm thấy được quyền sử dụng mọi sự, cho mọi việc xảy tới đều là tự nhiên, tự cảm thấy mình vô dụng và hạ thấp cảm quan tự trọng của mình. Không biết ơn Chúa, không biết ơn người thì cuộc đời trở nên trống rỗng, hời hợt và vô vị.  Không biết cám ơn thì chính cuộc sống trở thành bạc bẽo, chán chường.  Trái lại, biết ơn là một trong những sự việc đẹp nhất trên đời.

Linh Mục Vincent Travers, OP
Hương Vĩnh chuyển ngữ

KHÔNG THUỘC VỀ THẾ GIAN

zz“Tâu bệ hạ, đã 30 năm phục vụ dưới ba triều vua, lúc nào hạ thần cũng là người hết lòng yêu nước. Nay hạ thần cam chịu mọi cực hình để nên giống Đức Kitô.”  Đó là câu trả lời của ông Micae Hồ Đình Hy khi vua Tự Đức mời ông giả vờ bước qua thánh giá.

Ông là người thanh liêm, được nhà vua hết sức tín cẩn, cho phụ trách ngành dệt trong cả nước. Nhưng ông cũng là một Kitô hữu xông xáo làm việc tông đồ. Ông không thấy có gì xung khắc giữa việc phục vụ đất nước với việc phục vụ Giáo Hội.

Khi quân Pháp bắn phá cảng Đà Nẵng thì ông bị bắt, bị kết án là khinh luật nước, chống lại triều đình. Ông Hy đã chấp nhận cái chết một cách bình thản. Trước khi chịu chém, ông còn xin hút một điếu thuốc, hương vị cuối cùng của trần gian mà ông muốn nếm trước khi nếm hương vị của thiên đàng vĩnh cửu.

Cuộc sống và cái chết của thánh Micae Hy soi sáng cho đoạn Lời Chúa hôm nay.  Người Kitô hữu có hai đầu dây cần phải giữ. “Như Cha đã sai Con đến trong thế gian, Con cũng sai họ đến trong thế gian” (Ga 17,18).

Thế gian là nơi thánh Hy đã sống cho đến chết.  Thế gian là đất nước, là vua quan, là thứ dân… Ngài đã yêu mến và sống tận tình cho thế gian đó.  Thế gian đã trở nên như máu thịt của người Kitô hữu vì đó là nơi họ được Chúa sai đến để phục vụ, và là nơi họ trở thành người Kitô hữu trọn vẹn. “Họ không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian” (Ga 17,16).  Ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian, nghĩa là không hoàn toàn nghĩ và sống như thế gian.

Người Kitô hữu không coi thường mọi giá trị của xã hội, nhưng họ có một thang giá trị riêng.  Họ biết đâu là những giá trị mà họ phải tôn trọng.  Nếu hy sinh những giá trị đó, họ sẽ đánh mất chính mình và chẳng đóng góp được gì cho bộ mặt thế giới.  Họ là nhúm men vùi trong đống bột.  Men không được tách khỏi bột, và men cũng không được biến chất thành bột.  Trong cả hai trường hợp, men đều trở nên vô ích.

Chúng ta vẫn bị cám dỗ buông một trong hai đầu dây. Bỏ một trong hai đều làm mất căn tính của người Kitô hữu.  Ơn gọi Kitô hữu đặt ta vào một thế đứng chênh vênh, thế đứng dễ ghét, thế đứng đòi phải trả giá.  Tử Đạo là cách làm chứng tuyệt vời trong thời bách hại.  Trong thời kinh tế thị trường, cần có những cách làm chứng khác.  Người Kitô hữu vẫn bị cám dỗ bước qua lương tâm mình để mua lấy chút địa vị, lợi nhuận, an toàn, thoải mái…

Thế gian không ở ngoài ta, thế gian ở ngay trong lòng ta.  Ước gì chúng ta dám chấp nhận thiệt thòi, phiền hà, mất mát, khi can đảm làm chứng cho lòng tin và tình yêu.

********************************************

Lạy Chúa Giêsu, vị tử đạo tuyệt vời,

Chúa đưa chúng con vào thế giằng co liên tục.  Chúa vừa chọn chúng con ra khỏi thế gian, lại vừa sai chúng con vào trong thế gian đó.

Thế gian này vàng thau lẫn lộn.  Có khi vàng chỉ là lớp mạ bên ngoài.

Xin cho chúng con giữ được bản lãnh của mình, giữ được vị mặn của muối, và sức tác động của men, để đem đến cho thế gian một linh hồn, một sức sống.

Chúng con chẳng sợ mình bỏ đạo, chỉ sợ mình bỏ sống đạo vì bị quyến rũ bởi bao thú vui trần thế.

Xin cho chúng con đừng bao giờ quên rằng chúng con mang dòng máu của các vị tử đạo, những người đã đặt Chúa lên trên mạng sống.

Lạy Chúa Giêsu, nếu thế gian ghét chúng con, thì xin cho chúng con cảm thấy niềm vui của người được diễm phúc nên giống Chúa.  Amen!

Sưu tầm

VÌ XƯA TA ĐÓI

“Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, Hãy đến lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi… Vì xưa Ta đói, các ngươi cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu các ngươi đã viếng thăm; Ta bị tù đày, các ngươi đã đến với Ta”.

Bạn thân mến! Mẹ Têrêxa Calcutta là người say mê và sống đoạn Tin Mừng này. Bà bị cuốn hút bởi những người đau khổ.  Dưới mắt bà, đó không chỉ là những người đáng thương, mà còn là hiện thân của chính Chúa Giêsu đau khổ.

Tình yêu con người và tình yêu Chúa Giêsu quyện vào nhau. Vì yêu mến Ngài, nên bà yêu con người mãnh liệt hơn.

Hãy “Tập nhìn ra chính Chúa Giêsu trong mỗi con người, dù họ có vẻ đáng kinh tởm đến đâu đi nữa.”

Đoạn Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay mô tả Chúa Giêsu được như một vị Vua, có thiên sứ theo hầu, ngồi trên ngai vinh hiển. Ngài là Thẩm phán xét xử muôn dân, tách biệt kẻ lành người dữ, thưởng phạt công minh.  Nhưng phán quyết của Ngài làm ai nấy kinh ngạc.

Người ta được chúc phúc hay bị nguyền rủa dựa trên những việc họ đã làm hay không làm cho Ngài, mà họ không hề hay biết.

Vua Giêsu chẳng ở đâu xa, chẳng ở cung vàng điện ngọc. Ngài ở trong những người cùng khốn. Vua Giêsu đồng hoá mình với những người đói khát, khách lạ, trần trụi, đau yếu hay ở tù mà chúng ta vẫn gặp mỗi ngày. Ngài ẩn mình qua con người, qua những người hèn kém đáng thương nhất. Thiên Chúa vinh quang cao cả không ngại nhận họ là anh em.

Ngài không khoác tấm áo lộng lẫy kiêu sa để dễ gần gũi với nỗi đau của con người, nỗi bần cùng của người nghèo đói. Ta không phải tìm Chúa ở nơi xa xôi. Ngài không chỉ ở trong nhà thờ, trong bí tích. Ngài còn ở gần bên ta. Trong những người khốn cùng, nghèo đói, bệnh tật. Nơi đó ta có thể thực sự gặp gỡ Đức Giêsu.

Có những lần Chúa đi ngang qua đời ta như vị vua giả trang làm người hành khất.  Ngày phán xét, ta không được giả vờ ngạc nhiên khi nghe biết mình đã để Ngài đi qua tay trắng. Ngày phát xét ta sẽ bị xét xử dựa trên tình yêu.

Hôm nay Vua Giêsu vẫn ngửa tay xin ta giúp các anh em bé mọn nhất của Ngài. Những người mù chữ, những trẻ em đường phố, những người bị suy sụp tinh thần, cần được yêu thương, những người không tìm được cho đời mình một chỗ trọ, những người tự nhốt mình trong tù ngục đam mê, những người trần trụi vì phải sống nhờ thân xác.

Phải làm một việc gì đó cụ thể để Nước Chúa lớn lên trong thế giới này. Phải xây dựng một điều tốt đẹp nào đó để Vua Giêsu thật sự là Vua Vũ Trụ, vũ trụ bên ngoài và vũ trụ trong lòng con người.

***

Lạy Chúa Giêsu Vua vũ trụ, con thường cố ý thu hẹp vũ trụ của Chúa, giữ chặt Chúa ở trong nhà thờ, nên nhiều nơi vẫn vắng bóng Chúa, dù Chúa đã đến trái đất này từ hơn 2000 năm.

Lạy Chúa Giêsu Vua Tình Yêu, xin cho con biết thực hành yêu thương, để được nhận vào Nước Chúa. Amen.

(Trích trong ‘Manna’)

 

BẢN HOÀ ÂM SINH TỬ

Cô bạn gái của tôi mới qua đời, cô còn khá trẻ, trên cáo phó ở cạnh tuổi cô, có viết hai chữ “hưởng dương”.   Gia đình mới hoả táng cô sáng nay.  Tôi ở xa cô mấy chục ngàn dặm bay, không đến dự, tôi ngồi ở nhà nhìn ra ngoài cửa sổ, nhìn cây cỏ co ro đang từ từ chết trong mùa đông, nghĩ đến cô, nhớ nụ cười, tiếng nói, liên tưởng đến tro than.  Đầu óc tôi trôi bềnh bồng giữa đôi bờ sinh tử, bỗng tôi nhớ đến những lời của đức Đạt Lai Lạt Ma:

“Chết là một phần tự nhiên của sự sống, mà tất cả chúng ta chắc chắn sẽ phải đương đầu không sớm thì muộn.  Theo tôi thì có hai cách để xử với cái chết trong khi ta còn sống.  Hoặc là ta tảng lờ nó, hoặc là ta chạm trán với viễn ảnh cái chết của chính mình, và bằng cách tư duy sáng suốt về nó, ta cố giảm thiểu những khổ đau mà cái chết có thể mang lại.  Tuy nhiên, trong cả hai cách, không cách nào chúng ta có thể thực thụ chinh phục được sự chết.”

zz“Tảng lờ với cái chết,” nghe thật lạ lùng.  Một người đang khoẻ mạnh, yêu đời, gia đình êm ấm, công danh thành đạt, bỗng một ngày đi khám sức khoẻ tổng quát, bác sĩ phát hiện ra một căn bệnh hiểm nghèo.  Thế là đất trời bỗng mù sương; mặt trời hình như không sáng nữa, ngày tháng không còn phân biệt thu, đông.  Những âu yếm nghe như gượng gạo, nụ hôn cho người thân nhuốm chút ngậm ngùi.  Đi chụp hình, siêu âm, thử máu, trị liệu, thậm chí nghỉ hẳn công việc đang làm, các giao tế từ từ thưa thớt rồi ngưng hẳn; các chuyến du lịch, đi trong hồi hộp với một vali đầy thuốc rồi cũng phải chấm dứt.  Bây giờ ra khỏi nhà chỉ còn có nghĩa là đi đến phòng mạch hoặc vào bệnh viện.  Liệu ta có “tảng lờ với cái chết” được không?

Cái chết của con sóc nhỏ.  Tôi đi lang thang trên một con đường mòn, đi tản mạn trong buổi sáng, để hít thở trời đất thơm tho vào lồng ngực, hai mắt ngước nhìn những bụi dâu dại bên đường mòn, chân tôi xém chút nữa giẫm phải một con sóc nhỏ nằm giữa lối đi.  Tôi cúi xuống nhìn nó, nó chưa chết, hai con mắt nhỏ trong veo nhìn lại tôi.  Tôi thấy nó có mấy vết thương nhỏ trên lưng, nhưng một vết thương to trước bụng, và cái chân sau của nó hình như đang muốn rời hẳn ra cái thân bé bỏng.  Nó đang hấp hối.  Chắc nó bị một con raccoon (mèo rừng) nào đó tấn công, chạy thoát được ra đến đây thì kiệt sức.  Con đường mòn buổi sáng chưa đông người “bộ hành” lắm.  Tôi ngồi hẳn xuống với nó, tôi muốn cứu nó mà biết không làm gì được.  Tôi cứ nhìn vào hai mắt nó, và nó nhìn tôi.

Chắc nó biết là mình đang chết, chắc nó hy vọng tôi sẽ cứu nó.  Tôi hoàn toàn bất lực.  Tôi ngồi với nó không lâu lắm và chứng kiến nó thở hơi cuối.  Tôi đặt tay lên đôi mắt đã nhắm của nó, giống như ai đó vừa vuốt mắt một người thân, nó có cảm thấy cái chạm tay của một người đang thở không nhỉ?  Tôi tìm được một cái lá to nhất tôi có thể tìm thấy trong những bụi cây, rồi thu hết can đảm kéo được một phần nào cái thân bé bỏng của nó vào chiếc lá, đầu và chân nó vẫn thò ra. Tôi kéo nó thật sát vào gốc một bụi hoa hồng dại, tìm một cành cây, xới một lũm đất nhỏ, đặt nó xuống, lấy lá khô đắp lên cho nó thành một nấm mồ.  Bây giờ đang cuối đông, mưa lạnh, tôi hy vọng thân xác tí teo này sẽ mau chóng tan vào đất . Kiếp sau (nếu có kiếp sau) nó còn còn muốn được làm con sóc bé bỏng nữa hay không? (Tôi tin các con vật đều biết nghĩ).

Cái chết của một dòng sông.  Tôi nhớ lại trong một lần về Việt nam, tôi có qua bên kia sông Bạch Đằng (Sài Gòn), Thủ Thiêm.  Tôi về để tìm lại những kỷ niệm thân yêu thời còn trung học, những lần qua phà sang nhà người bạn gái.  Bạn tôi không biết thất tung phương nào.  Những hàng quán, dấu vết cỏ cây để tìm vào con ngõ nhà bạn ngày trước đã bị xoá sạch, như có ai kéo xuống cả một ngôi làng cũ thân yêu, rồi dựng lên đó một con phố mới, không cây, không cỏ, chỉ với những bức tường gạch, vữa, nhô ra, thụt vào, mầu vàng, mầu đỏ.  Tôi đi lang thang nguyên một ngày, hỏi han tung tích của bạn mình, hỏi tên con hẻm cũ.  Tôi nhận được những cái lắc đầu lạnh nhạt, hoặc có ai đó nói vu vơ rằng cô đó cũng bỏ đi rồi, cô đó hình như chết rồi.  Tôi thẫn thờ tìm đường ra lại bờ sông.  Con sông sao nước bỗng đổi mầu, đen đến thế!  Nó chở trên cái thân mềm yếu, những chuyến tàu máy thả khói nặng nề, những đám rác bốn phương chụm lại, thỉnh thoảng xác xơ, lạc lõng, ngơ ngác một vài cọng lục bình, trôi theo những vật phế thải.

Chao ôi, cô bạn của tôi, cô còn sống hay cô đã chết!  Tôi hy vọng được gặp lại cô, ở đâu đó dù cả hai chúng tôi còn sống hay đã chết.

Chao ôi, con sông Bặch Đằng thân yêu của tôi!  Nó đang sống hay đang đi dần vào cõi chết.  Tôi tin con sông của tôi có linh hồn; nó sống ở đó bao nhiêu năm rồi.  Nó chứng kiến sự sống, sự chết của lịch sử, của cả một quốc gia hưng vong, nó chở qua sông biết bao nhiêu kỷ niệm thanh xuân, bao mảnh đời cơ cực, bao nhiêu lần một chiếc áo quan có phủ quốc kỳ; và con người thay nhau thả xuống lòng nó bao nhiêu dị biệt.  Con sông sống lâu quá!  Thượng Đế cho nó có một đời sống dài quá!  Kiếp sau nó còn muốn làm con sông Bặch Đằng nữa, hay không?

Cái chết của một cây thông.  Tôi ngắt một bông hoa dại bên đường, đặt lên nấm mộ mới.  Ngồi xuống chiếc băng gỗ nghỉ chân, xoa hai bàn tay lạnh vào nhau, một lúc sau, hai bàn tay ấm lại, tôi nhìn xuống gan lòng bàn tay, thấy có mầu hồng hồng, à thì ra máu đã luân lưu vào đó nhiều hơn khi được chà xát. tôi đang sống!  Tôi đang ngồi trên một cái băng gỗ, những thanh gỗ tôi đang ngồi với nó được lấy ra từ một thân cây thông tràn đầy nhựa sống.  Nó đang véo von  ca hát trong rừng mỗi bình minh, hay ngâm bài thơ ngũ ngôn mỗi khi chiều xuống.  Một hôm người ta muốn nó chết, nó chết ngay từ phát rìu đầu tiên chém xuống, nó không tự định đoạt đời sống mình.  Loài người là thượng đế của nó.  Tôi đang ngồi với một đời cây.  Giữa tôi và nó là một bản hoà âm sinh tử.

Tôi đang sống hay tôi đang chết?  Chắc phải nói tôi đang chết thì chính xác hơn.  Mỗi ngày tôi thức dậy, đặt chân xuống đất chào đón một ngày, tức là tôi đã từ giã ngày hôm qua.  Tôi cộng thêm một ngày vào tuổi, tôi đi dần về phía bên kia sợi dây đời sống.  Khi tôi sinh ra, tôi bắt đầu hao đi từ ngày thứ nhất của sợi dây đời sống, khúc dây đó mỗi ngày tôi lấn một khúc nhỏ.  Tôi không biết sợi dây trời cho dài ngắn bao nhiêu, nhưng biết chắc chắn tôi làm nó ngắn đi từng ngày, vì tôi không đi ngược lại ngày đã qua.  Tôi đi về phía trước như thế, có nghĩa là tôi đi gần đến một chỗ tôi chưa hề biết (ai đó gọi là thiên đàng hay niết bàn).  Tôi không biết tôi sẽ gặp điều gì, gặp ai, ở thành phố nào, quốc gia nào hay chỉ là một cõi mù sương phía trước, nếu tôi không có một tín ngưỡng để tin vào.  Nhưng tôi, giả dụ có là một người vô thần thì tôi cũng biết rất rõ những gì tôi bỏ lại.  Tôi bỏ lại những người ruột thịt của tôi: chồng, con, cha mẹ, anh em, bạn thân, người quen biết, cái nhà đang ở, cái xe đang đi, mảnh vườn nhỏ tôi chăm bón bốn mùa, con chim thỉnh thoảng đậu ở trước hiên nhà, những hàng cây hai bên đường, thay lá từng mùa; người hàng xóm khó tính bên tay phải, người hàng xóm dễ thương bên tay trái.  Tôi bỏ lại những cuốn truyện trên kệ sách, những tác giả tôi thích nhất, những cuốn sách cần thiết như những vị thầy, bỏ lại bài thơ vừa mới viết xong, bài văn đang viết nửa chừng, bỏ dòng nước lững lờ trôi trước cửa, dẫy núi trải dài trên cao, bầu trời nhiều mưa hơn nắng.  Tôi bỏ lại tất cả, bỏ dần, bỏ dần từng ngày, thế mà tôi đâu có lúc nào để ý đến việc mình đang từ bỏ.  Cho đến một hôm “cái chết đến như kẻ trộm.”  Chắc lúc đó tôi mới nhận thấy và hoảng hốt hay điềm tĩnh đối diện.

Bây giờ, người bạn trẻ của tôi, hôm nay đã hoá thành một nắm tro, nằm thinh lặng trong một chiếc bình.  Chị đã đi đến cuối sợi dây đời sống trời trao cho chị từ lúc mới sinh ra, sợi dây không dài lắm. Chị đi như thế nào nhỉ?  Và tôi nữa, tôi tự hỏi: “chúng ta đi trên sợi dây đời sống như thế nào nhỉ?”  Từ lúc sinh ra được cha mẹ thương yêu, nuôi lớn khôn, ăn học, đi làm việc, lập gia đình cho tới khi từ bỏ cuộc đời, chúng ta quay đều như một hạt cát bám vào bánh xe.  Bánh xe đời sống quay đến đâu, chúng ta quay theo đến đó, hình như không có lúc nào nghĩ ra rằng, ta có nên bảo nó ngưng lại cho ta nghỉ trong chốc lát hay không?  Take a break (nghỉ một lát).  Tôi rất thích chữ break (nghỉ) này.  Bẻ thời gian ra thành nhiều mảnh, nhặt lấy một mảnh nhỏ, ngồi xuống thở, chơi.

Tôi chỉ sống có một đời.  Dài hay ngắn đều do cách tôi suy nghĩ, nhưng tôi sống với điều tôi tin là tốt đẹp, dù đôi khi tôi phải trả cái giá tốt đẹp này bằng những giọt lệ.  Một đời như thế, chắc cũng sống đủ lắm rồi.

Có người đã nói:  “Nhìn cái chết là đoạn cuối của cuộc đời, chẳng khác nào bạn nhìn đường chân trời bảo đấy là điểm cuối của đại dương”.

Hôm nay, tôi thở, tôi sống, tôi làm thơ, cùng với người bạn, con sóc, dòng sông, cây thông đã qua đời. Một bản hoà âm sinh tử.

Ngày mai thuộc về ngày mai.

Trần Mộng Tú

TÀI NĂNG CHÚA BAN

– Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi năm nén, tôi đã gây lời được năm nén khác đây.

– Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi hai nén, tôi cũng đã gây lời được hai nén khác đây.

“Khá lắm! hỡi người đầy tớ tài giỏi và trung thành! Trong việc nhỏ mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ đặt anh trông coi việc lớn. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!” (Mt.25:20-23).

***

zzBạn thân mến! Trên đây là lời đối đáp và khen tặng của ông chủ dành cho những người đầy tớ tài giỏi và trung thành được nhắc đến trong dụ ngôn “Các nén bạc” của bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay. Lời đối đáp và khen tặng trên đây cũng nói lên nguyên tắc kinh tế căn bản đã không bao giờ thay đổi theo thời gian. Thời nào thì hoạt động kinh tế cũng nhằm dùng vốn để sinh ra lời. Vốn đầu tư càng nhiều thì lợi càng lớn. Đầu tư càng dài hạn thì lợi càng nhiều.

Trong dụ ngôn “Các nén bạc”, Chúa Giêsu cũng mượn các qui luật kinh tế để nói về cách sử dụng và khai thác vốn đầu tư trong cuộc đời chúng ta. Cũng như người chủ mời gọi người đầy tớ dùng vốn là những nén bạc đã được trao phó để sinh lời thêm, Thiên Chúa cũng mời gọi ta dùng vốn là “ơn ban” mà Ngài đã trao tặng cho ta trong cuộc sống, là của cải và tài năng mà ta đã lãnh nhận …Ngài mời gọi ta làm lời ra nhiều thêm, để làm vinh danh Chúa hơn, để giúp ích cho anh chị em chung quanh mình nhiều hơn.

Vốn Chúa trao cho ta là những điều gì ? Trước hết là chính sự sống của ta, là chính cuộc đời của ta. Đó là số vốn đầu tiên, là vốn căn bản.

Ơn làm con Chúa, ơn tái sinh, ơn cứu độ… Đó là vốn qúy giá nhất, lớn lao nhất mà Chúa đã trao ban cho ta qua Đức Giêsu. Cuộc đời này có còn ý nghĩa gì nếu ta đánh mất Ơn Cứu Độ. Ơn Cứu Độ chính là sự thành tựu chung cuộc, là cùng đích mà ta phải nhắm tới trong cuộc đời này.

Mỗi ngày, mỗi việc, mỗi bổn phận, mỗi khó khăn, mỗi cố gắng và ngay cả trong mỗi lo lắng và khổ đau …Tất cả đều có ơn Chúa ban kèm theo. Đây cũng là vốn đầu tư mà Chúa đã liên tục trao ban cho ta trong cuộc sống này để ta mưu cầu hạnh phúc đời đời trong cuộc sống mai sau.

Dụ ngôn “Các nén bạc” đã cho ta một hình ảnh vui buồn lẫn lộn. Vui vì những người đầy tớ tài giỏi và trung thành đã làm sinh lời gấp đôi, và được chủ thưởng công bội hậu. Nhưng lại buồn vì một người đầy tớ lười biếng nhưng có tài ăn nói, biết đối đáp, lý luận, rất nhiều triển vọng thành công trên thương trường, thì lại không làm nên tích sự gì cả. Dù chỉ cần làm lợi thêm một chút thôi, nhưng anh đã không làm, mà đem nén bạc chủ giao đi chôn giấu dưới đất và sau khi chủ về, anh trao lại cũng một nén bạc đó cho chủ mình. Khi chôn nén bạc xuống đất, một cách nào đó anh cũng đã chôn một phần bản thân mình, cuộc sống của anh đã khựng lại với những suy nghĩ rất khắt khe, tiêu cực và sai trái:” …tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi. Vì thế, tôi đâm sợ, mới đem chôn giấu nén bạc của ông dưới đất. Của ông đây, ông cầm lấy” (Mt.25:25). Hậu qủa mà anh phải lãnh nhận là sự nguyền rủa đời đời, anh bị coi là đồ vô dụng và bị ông chủ quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài (Mt.25:30). Đó cũng là hình ảnh chung cuộc của mỗi người chúng ta trong ngày giã từ cuộc đời này để ra trước toà Chúa, ngày Chúa phán xét công trạng hay tội lỗi của ta, ngày ta được Ngài khen thưởng hay nguyền rủa đời đời.

Dụ ngôn “Các nén bạc” cũng mời gọi bạn và tôi, chúng ta hãy cùng nhau tự hỏi lòng mình: Chúa đã đầu tư nơi tôi nén bạc nào, tài năng nào, lợi điểm nào? Tôi đã dùng của cải tài năng và ân huệ Chúa ban như thế nào? Tôi có tích cực phát triển “vốn đầu tư” mà Chúa đã trao cho tôi không? Tôi có biết tạ ơn Chúa vì những tài năng và ân sủng Chúa trao ban cho tôi không? Và tôi đã làm gì để tạ ơn Ngài?

***

Lạy Chúa! Chúa đã trao cho con những nén bạc ơn phúc tự nhiên và siêu nhiên. Xin cho con biết cố gắng nỗ lực để phát triển và sinh lợi những ơn phúc đó vì vinh quang của Chúa và niềm hạnh phúc của bản thân con và của anh chị em con. Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1:Cn.31:10-13 * BĐ2:1Tx.5:1-6 * PÂ: Mt.25:14-30)

LỜI THẦM

zz1- Cái chết là một thất bại đối với những người đã chọn trần thế làm quê hương, nhưng là một chiến thắng đối với những người đã chọn quê trời làm quê hương.

2- Người ta sinh ra để chết ở đời này. Và chết ở đời này để sinh vào đời sau.

3- Ta thường nhìn cái chết như là tận cùng của cuộc đời này mà quên rằng sự chết cũng là khởi điểm của cuộc đời sau, nên sinh ra buồn rầu chán nản.

4- Sự sống vĩ đại, nhưng sự chết còn vĩ đại hơn, vì nó đưa ta đến sự sống.

5- Chết là đi vào “mùa Đông hy vọng” để đón chờ một “mùa Xuân phục sinh”.

6- Nhiều người tin rằng:  Chết là hết. Tin Mừng Phục sinh là câu trả lời của Chúa cho riêng họ: Không, chết chưa phải là hết, đúng hơn mới thực sự bắt đầu. Chúa Kitô sống lại trước, ta sẽ sống lại sau.

7- Người Kitô hữu có hai quê hương: quê hương đời này và quê hương đời sau. Họ có thể tạm chấp nhận sống vô quê hương đời này, nhưng không thể chết vô quê hương đời sau.

8- Chết không phải là kết thúc đời này, nhưng là hoàn tất đời này.

9-Ai không chuẩn bị chết, thì cái chết của họ, dù lúc nào đi nữa, cũng vẫn là cái chết “bất đắc kỳ tử”.

10- Tập chết mỗi ngày cũng là một cách sống tốt.

LM. Vũ Xuân Huyên

****************************************

Lạy Chúa,

Đứng trước cái chết, con cũng run sợ như ai
Vì con chưa thấy sẵn sàng để gặp Chúa.
Cả cuộc đời con, con đã lo toan rất nhiều,
Nhưng điều quan trọng nhất là chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ ấy
Thì con lại chưa làm gì cả.
Con thật dại khờ khi nghĩ rằng con sẽ có đủ thời gian,
Con sẽ làm được điều đó bất cứ lúc nào con muốn.
Nhưng sự thật là con chưa bao giờ tự làm chủ được sự sống của mình
Làm sao con lại dám cho mình cái quyền làm chủ được sự chết?
Ngày nào đó con đến trước mặt Chúa
Không biết Chúa có nhận ra con hay không,
Hay là Chúa bảo “đi cho khuất mắt Ta, hỡi phường gian ác”

Lạy Chúa là Chúa Tạo Vật,
Con xin Chúa sự khôn ngoan
Để sống trọn vẹn giây phút hiện tại
Trong ân nghĩa của Chúa
Để rồi ngày nào đó con đi gặp Chúa,
Sẽ không như hai người xa lạ
Nhưng là hai người rất thân quen.
Lúc đó, Chúa sẽ gọi con bằng tên rất trìu mến
Và giang đôi tay đón con vào lòng.  Amen!

SỰ SỐNG TRONG CĂN NHÀ CHỜ CHẾT

zzAi muốn làm thiện nguyện chỉ việc gặp sơ phụ trách, sơ viết mấy chữ chứng nhận vào miếng giấy. Không có văn phòng, không thủ tục rườm rà gì cả.  Rồi, đi làm.  Đã hỏi đường, nhưng tôi cũng hồi hộp, xe buýt trong thành phố lèn đầy người.  Chạy nửa tiếng mới tới chỗ tôi xuống, phải chú ý lắm theo dõi nơi ngã ba nào có cái chợ như thế, cây xăng như vậy mà định chỗ xuống xe.  Đây là ngày thứ nhất tôi đi làm.  Mọi người đều phải tự do lấy phương tiện di chuyển.

Từ cuối xe, tôi thấy một cô người Nhật đứng phía trên, cầm chiếc túi ni lon thấy rõ bên trong mấy hộp thuốc. Trong xe không có người ngoại quốc nào. Tôi đoán chừng phải là một trong các cô thiện nguyện của nhà Mẹ Têrêsa. Qủa thế, lúc cô xuống xe cũng là nơi tôi thấy ngã ba, có khu chợ như đã được dặn trước. Vội theo chân cô để khỏi phải tìm nhà. Cô rất vui kho biết tôi cũng là thiện nguyện viên đi làm. Cô không nói được tiếng Anh nhiều, chỉ lõm bõm, thế mà dám đi.

Trong những ngày tháng gần đây, tôi hay suy niệm về sự chết.  Có khi bất chợt trong lúc đi đường, có khi trong giờ cầu nguyện, có khi kéo dài trong những dịp tĩnh tâm. Tư tưởng sống chết, ý niệm đời sau của thế giới bên kia cứ như chờn vờn. Tôi không bỏ qua được. Nó như một hố sâu nhìn thấy đáy. Tìm đâu câu trả lời? Không ai có kinh nghiệm sự chết. Không ai chết rồi hiện về nói cho biết sự chết. Người nào chết rồi cũng mất tích trong thế giới siêu hình. Giáo Hội dạy về sự chết nhưng không có kinh nghiệm sự chết. Tất cả là niềm tin vô hình thôi. Tôi xin Chúa cho tôi cảm nghiệm chứ không phải cứ dục lòng tin những điều không thể chứng minh. Tôi tìm đến nơi đây cũng là vậy.

Trong thành phố Calcutta có nhiều nhà của các sơ. Nhà cho người già bệnh, nhà cho các em bị tâm thần, nghễng ngãng, nhà cho trẻ mồ côi. Tôi chọn nơi “khủng khiếp” nhất. Nhà cho những người chờ chết. Tôi đã nghe nói về căn nhà này, ai không thân nhân sắp chết ngoài đường, các sơ đem về săn sóc cho chết bình an, chết xứng đáng phẩm giá con người. Tôi cứ tưởng tượng nơi ấy đầy bi thương thống khổ. Máu me, dơ dáy.

Qua chiếc cổng có bảng đề không chấp nhận khách tham quan, chụp hình, tôi vào trong nhà. Hai dẫy giường dài trước mặt tôi. Điều trái ý nghĩ của tôi là không máu me, không tiếng kêu la, không dơ dáy, không “khủng khiếp” như tôi nghĩ. Êm đềm, các bệnh nhân nằm im. Sạch chưa từng thấy. Sau này tôi được biết, chính phủ Ấn phải thừa nhận các nhà săn sóc người bệnh của Mẹ Têrêsa sạch hơn tất cả các bệnh viện ở Ấn. Lý do đơn giản là có biết bao thiện nguyện đến làm, họ làm việc với con tim, làm hết mình chứ không vì đồng lương nền nhà cửa gìn giữ rất sạch sẽ.

– Đây là công việc anh sẽ làm.

Một người làm thiện nguyện ở đó lâu rồi phân công các việc cần làm. Anh gọi và phân công cho tôi. Chưa rõ tôi hỏi lại anh:

– Tôi sẽ làm gì?

– Anh lựa những chiếc quần áo, khăn giường “dơ” để riêng ra.

Tôi nghĩ bụng, cái nào mà không dơ. Hỏi lại:

– Tôi phải làm gì?

Bằng một ngôn ngữ hơi ngại, nhưng anh ta phải nói rõ:

– Những quần áo, khăn giường nào dính phân người!

Bấy giờ tôi hiểu.  Ghê quá.  Nhiều người nằm liệt giường, họ đi tiêu bừa bãi ra quần áo.  Công việc của tôi là lựa riêng ra những thứ ấy.  Tôi thấy lợm giọng vì chưa bao giờ làm công việc này.  Họ là những người đủ thứ bệnh, biết đâu có cả HIV, Sida. Nghĩ tới đó tôi thấy hỏng rồi, sao mình lại chui đầu vào đây.

Trong đám thiện nguyện đang giặt quần áo, anh người Nhật là toát mồ hôi. Tôi thấy anh ta làm hùng hục. Anh ở đấy tám tháng rồi. Tôi hỏi thăm mấy người chung quanh nên biết vậy. Anh ta ít nói. Mới gặp nhau rất khó nói chuyện riêng tư, như vì sao anh tới đây làm công việc này? Cảm nghiệm anh ra sao trước những cái chết đơn côi không người thân? Những tâm tư ấy không biết được. Chỉ vui với nhau và làm việc thôi. Tất cả đều giặt bằng tay. Không máy móc. Đồ giặt to thì bỏ vào bể ximăng, lấy chân đạp như ta đạp nhồi đất sét làm gạch. Sau một ngày tay ngâm nước lâu, vắt quá nhiều vải thô cứng, da tay tôi mềm ra và đau.

Thánh Inhaxiô ngày xưa cùng với nhóm mới thành lập dòng của ngài đều đi bộ hành hương.  Họ xin ăn dọc đường để cảm nghiệm sự cơ cực của con người.  Họ chỉ tín thác vào Chúa.  Có lần săn sóc chân máu mủ một bịnh nhân, ngài rất ngại lây bệnh.  Để chiến thắng, ngài đút bàn tay dính máu sau khi săn sóc bệnh nhân của ngài vào miệng.  Hôm nay không ai làm thế, nhưng thế nào là tin tưởng vào Chúa, thế nào là có khi nguỵ biện cho sự lười biếng của mình?

Trong nhà, bên này bức tường chúng tôi giặt đồ.  Bên kia là giường bệnh.  Anh thanh niên người Đức đang săn sóc một người đàn ông không thể đoán được tuổi.  Có lẽ là ông già.  Người đàn ông nằm lồi hai mắt.  Người chỉ còn da bọc xương.  Lồi lên hai hàm răng.  Gò má như cánh gà xương xẩu.  Tôi hình dung có thể ông bị nhiễm HIV, bệnh Aids chăng. Ông sắp chết. Đầu gối, cánh tay chỉ còn xương. Hai tròng mắt lồi cao như hai quả cau. Tôi biết chắc ông sẽ chết nay mai.

Các thiện nguyện chia nhau, một bên sắc sóc nữ, một bên nam. Lây đồ ăn rồi cho bệnh nhân ăn. Tắm cho họ. Cho họ uống thuốc. Lau nhà. Giờ nghỉ trưa ngồi uống trà lại cười giỡn. Tay thanh niên Canada lúc nào cũng thích hát. Lâu lắm tôi mới lại nghe những bài ca tiếng Pháp. Lõm bõm mấy câu: L’amour. L’amour. Tình yêu. Ôi! Tình Yêu. À thì ra anh ta đang hát một bài chuyện tình.

Cô bé người Nhật thấy tôi mới đến ngày đầu, tới gợi chuyện:

– Ông là người Việt Nam hả?
– Đúng vậy, tôi người Việt Nam.
– Ở đây cũng có một cô Việt Nam.
– Vậy à?  Cô ta đâu?

Nghe vậy, tôi rất ngạc nhiên, không ngờ cũng có người trẻ Việt Nam lần mò đến đây.  Sau này tôi gặp hai cô bé, Tuyết Anh và Lan.  Cả hai cùng đạo, đang học trường thuốc, mới hai mươi hai tuổi.  Tuyết Anh và Lan sống ở Na Uy.

Ý định ban đầu của tôi đến đây là để suy niệm về sự chết.  Tôi muốn nhìn khi người ta chết sẽ ra sao. Tôi đang trăn trở về sự chết và mầu nhiệm thế giới bên kia.  Chết là đề tài bận tâm trí tôi.  Mục đích thứ hai là quan sát, như người đi tìm tài liệu viết bài.  Mới sau một ngày, tôi thấy mình thay đổi.  Tôi không thể là người quan sát được.

Làm việc với các bạn trẻ, bên những tâm hồn giàu quảng đại tươi vui.  Tôi thấy họ tràn đầy sức sống. Nhìn anh thanh niên người Đức săn sóc ông già, tôi thấy mình phải viết về sự sống chứ không thể tập trung về sự chết.  Sự sống quá đẹp.  Hãy nói về những người đang sống, những người đang săn sóc sự sống.  Tôi thấy những người nằm chết không là đề tài gợi sự đau khổ cho tôi viết, mà là sự sống của những trái tim quảng đại kia.

Điều thứ hai tôi thấy mình thay đổi là không thể chỉ đứng ngoài làm người quan sát. Tôi không thể xem họ chết rồi viết bài.  Như vậy tôi sẽ lạc lỏng ở đây.  Chỉ khi nào tôi hoà vào cuộc sống nơi này, với kẻ chết, với niềm vui của các thiện nguyện kia tôi mới thực sự hiểu điều tôi “quan sát”.

Ngày thứ nhất trong ngôi nhà cho người chờ chết đã làm thay đổi hai thái độ của tôi, một là nhìn vào sự sống thay vì sự chết, hai là tôi phải sống thật chứ không thể chỉ quan sát.  Với hai thái độ trên, tôi lưu lại Calcutta một tuần.

Lạy chúa, sống chết là thân phận con người.  Trong cái mỏng dòn của thân phận ấy, nhiều lần tâm trí con hoang mang khắc khoải.  Con dùng trí tuệ con tìm biết về Chúa và con đã khắc khoải vô cùng.  Chỉ khi nào con xin lòng thương xót Chúa con mới được an bình thôi.

Trước cái chết, con không thể dùng trí tuệ phân tách được.  Con đi về đâu trong cõi vô hình kia?  Chắc chắn rồi con sẽ chết.  Sự hiểu biết nào đỡ nâng con?  Ai là người cho con can đảm, bình an, niềm vui? Chỉ có Chúa mà thôi.  Con cần Chúa hôm nay để con hiểu mầu nhiệm chết là tập sống trọn vẹn.  Xin giúp con sống và sống fully alive, sống từng biến cố buồn vui, khó khăn, sống trọn vẹn trong Chúa để thấy đời luôn luôn đẹp.  Amen!

LM Nguyễn Tầm Thường S.J – trích “Những trang Nhật ký của một Linh mục”

 

TRINH NỮ KHÔN NGOAN

Đám cưới là một sinh hoạt bình thường của con người. Chúa đã dùng một sinh hoạt bình thường của xã hội để nói về Nước Trời cho mọi người dễ hiểu. Qua dụ ngôn này, Chúa sánh ví Nước Trời giống như một đám cưới. Chúa chính là chàng rể. Linh hồn là trinh nữ.  Giờ Chúa đến là giờ ta từ giã cuộc đời này. Tiệc cưới là hạnh phúc Nước Trời. Bóng đêm là những thử thách ta gặp trên đường về Nước Trời. Chàng rể đến muộn nói lên tính cách bất ngờ của giờ chết. Qua dụ ngôn này, Chúa hé mở cho ta mấy chân lý về Nước Trời.

Hạnh phúc Nước Trời là được sống với Chúa. Hình ảnh con người sống với Thiên Chúa được diễn tả thật sinh động qua hình ảnh đám cưới. Cưới ai là cho người ấy được ngang hàng, được chung hưởng địa vị, chia sẻ quyền lợi. Chúa đến cưới lấy con người. Cho con người được vào sống trong nhà Chúa, được chia sẻ hạnh phúc với Chúa. Chúa là nguồn mạch hạnh phúc.  Được sống với Chúa và được Chúa yêu thương, linh hồn sẽ không còn mơ ước điều gì hơn nữa.

Con người được Chúa trân trọng. Hình ảnh chàng rể đến giữa đêm khuya thật gợi ý. Chúa đến tận nơi tìm ta. Chúa không triệu ta đến như ông vua ra lệnh cho thần dân. Nhưng Chúa trân trọng đến đón rước linh hồn. Và để đến tìm ta, Chúa phải vượt suối băng ngàn, đi trong đêm hôm khuya khoắt. Chúa yêu thương ta biết bao.

Mọi người được mời gọi. Chúa mong ước mọi người được ơn cứu độ. Chúa mong ước cho ta được hạnh phúc. Dựng nên con người, Chúa muốn mọi người được chia sẻ hạnh phúc với Chúa. Nên cả mười cô trinh nữ đều được tuyển chọn để đi đón chàng rể. Cả mười cô được dự kiến sẽ vào dự tiệc vui với chú rể. Chàng rể đến mong cả mười cô đều tham dự vào đám rước dâu và vào dự tiệc cưới.

Nhưng ai có đủ điều kiện mới được vào. Điều kiện được diễn tả như ngọn đèn cháy sáng. Đi rước dâu đòi phải cầm đèn. Đèn ai sáng mới được dự vào đám rước. Đèn tắt bị loại ra ngoài. Những người cầm đèn sáng là những người tha thiết yêu mến Chúa nên chăm lo thực hành lời Chúa, biểu lộ lòng yêu mến Chúa bằng những việc làm cụ thể. Còn những người đèn tắt là những người tuy cũng muốn vào dự tiệc cưới nhưng không chịu chuẩn bị. Họ là những người tin theo phong trào, giữ đạo theo dư luận, có tên trong sổ rửa tội, nhưng đời sống hoàn toàn như người không có đức tin. Có đèn mà không có dầu. Có đèn mà đèn để tắt. Có đạo mà không giữ đạo. Biết luật Chúa nhưng không chịu thực hành.

Có đèn. Không đủ! Đèn cần phải sáng, sáng lúc Chúa đến bất ngờ. Như thế cũng có nghĩa là phải luôn luôn sáng.

Mang danh là Kitô hữu. Không đủ! Tham gia vào một số sinh hoạt tôn giáo. Không đủ! Cần phải sống hết mình những đòi hỏi của Chúa. Đòi hỏi lớn nhất là yêu thương.

Ngày nay, vẫn có những cô khôn và cô dại, có những người đèn đã hết dầu từ lâu mà không biết chăm chút cho ngọn đèn đời mình. Cần đổ thêm dầu mỗi ngày. Cần nuôi dưỡng ngọn đèn bằng thứ dầu của tình yêu bao dung, của niềm hy vọng vững vàng, và của niềm tin sắt đá.

Hãy tỉnh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào. Tỉnh thức không phải là không ngủ… Tỉnh thức không phải là suốt ngày đọc Lời Chúa, nhưng là để Lời Chúa chi phối mình suốt ngày.

Chẳng ai biết lúc nào tận thế. Chẳng ai biết giờ chết của mình. Chẳng ai biết hôm nay Chúa hẹn mình ở đâu, trong biến cố nào, nơi con người nào. Chính vì thế phải tỉnh thức luôn mãi.

***

Lạy Chúa Giêsu, nếu ngày mai Chúa đến, chắc hẳn con sẽ vô cùng lúng túng vì chưa chuẩn bị được gì… Xin Chúa giúp con biết tỉnh thức, luôn chuẩn bị và sẵn sàng cho ngày Chúa lại đến. Amen .

TGM. Ngô Quang Kiệt
(BĐ1: Kn 6, 13-17 * BĐ2: 1 Tx 4, 13-14 * PÂ: Mt 25, 1-13)

THEO BƯỚC CHÂN CÁC NGÀI

Khoảng 60 năm sau khi Chúa Giêsu ra đời, một cơn hoả hoạn khổng lồ đã xảy ra ở thành Rôma.  Đám cháy kéo dài hơn một tuần lễ.  Người ta đồn rằng Hoàng đế Neron đã ra lệnh phóng hoả. Ông ta muốn tiêu huỷ thành phố Roma cổ xưa, xây dựng lại một thành mới và đặt bằng tên của chính ông ta.

Neron đã cố gắng hết sức để ngăn chận tiếng đồn ấy, nhưng nào có được.  Cuối cùng trong cơn thất vọng, ông ta vội tìm một đối tượng để trút lên đó mọi lời nguyền rủa của dân chúng.  Ông ta liền vu khống cho cộng đoàn Kitô hữu ở Roma là đã gây ra cơn hoả hoạn.  Lời tố cáo của Neron khai mào cho cuộc bắt bớ tôn giáo kéo dài gần 300 năm.  Một sử gia Rôma đã mô tả cuộc bắt bớ dưới thời Neron như sau:  “Các Kitô hữu bị đối xử tàn bạo khác thường.  Nhiều người phải khoác lên mình một tấm da thú để rồi bị đàn chó dữ cắn xé ra từng mảnh.  Nhiều người khác bị treo lên thập tự giá và ban đêm bị dùng làm bó đuốc đốt sáng soi cho bóng đêm”.

Để tự vệ và duy trì đời sống tôn giáo của mình, nhiều Kitô hữu đã thực sự chui xuống sinh hoạt dưới lòng đất.  Họ đào được hệ thống đường hầm tỉ mỉ trong lòng đất ở vùng có núi lửa tại Roma.  Một số trong những đường hầm nổi tiếng này dài đến nhiều dặm và được thiết kế như những mê lộ để gây khó khăn cho các nhà cầm quyền đương thời.

Hiện nay, một số những hang động này (được gọi là hang toại đạo), là những trung tâm du lịch nổi tiếng, hấp dẫn du khách đi đến Rôma.  Chính trong những đường hầm này, các Kitô hữu đã từng tổ chức Thánh lễ, rửa tội các cháu bé và chôn cất những người chết.  Trong các tác phẩm của mình, thánh Jerôme cho biết: Khi còn là một chú bé, ngài và các bạn thường hay chơi trong các hang toại đạo.  Sau thánh Jerôme nhiều thế kỷ, các chú bé Roma cũng vẫn thường vui chơi trong các hang toại đạo.  Một ngày nọ, một nhóm các cậu bé đang đi lang thang qua các mê lộ, dưới đường hầm, đột nhiên chiếc đèn pin duy nhất của chúng bị hỏng.  Các chú hoàn toàn lâm vào bóng tối, không biết lối ra, đang khi cả đám bị kinh hoàng cực độ, thì một chú bé cảm thấy như có một đường rãnh bằng phẳng nơi nền đá của đường hầm; đường này dẫn ra một lối đi đã được bào phẳng nhờ bước chân của hàng ngàn Kitô hữu trong thời kỳ bị bắt bớ ở Roma.  Thế là các chú bé lần theo những dấu chân các vị thánh xưa và tìm được lối thoát khỏi hang sâu tối tăm và bình yên đến vùng có ánh mặt trời.

*******************************

Chúng ta có hai lý do để suy nghĩ về câu chuyện trên:

Thứ nhất, nó cho ta thấy cái giá khủng khiếp mà tổ tiên những Kitô hữu chúng ta phải trả giá cho đức tin của họ.  Nếu các ngài đã không trả giá đắt như thế, có lẽ nhiều người trong chúng ta sẽ không được làm Kitô hữu như ngày hôm nay.

Thứ hai, câu chuyện các cậu bé trong hang toại đạo giống như một loại dụ ngôn cho ta thấy các vị thánh ngày xưa vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong cuộc đời chúng ta như thế nào.  Nhiều người trong chúng ta giống những chú bé trong các hang toại đạo: Chúng ta bị lạc lối, hoang mang vì những ý kiến xung đột nhau, chúng ta chả biết điều gì đúng điều gì sai, giống như chúng ta đang bị lâm vào bóng tối, không biết rõ đường đi nước bước.  Câu chuyện các chú bé trong hầm mộ quả là một dụ ngôn cho chúng ta.

Các chú bé đã tìm ra con đường trên nền hầm được bước chân các vị thánh bào phẳng hằng bao thế kỷ trước.  Nhờ đi thoát khỏi bóng tối trong hang để tới được ánh sáng ban ngày.  Một cách tương tự, chúng ta cũng có thể bước theo các vị thánh để tìm ra con đường dẫn chúng ta khỏi vùng tối tăm và hỗn độn của thời đại chúng ta hầu đến được ánh sáng ban ngày.

zzVà như thế, là mừng CÁC THÁNH đem lại hai mục đích cho chúng ta:

Trước hết, lễ này nhắc nhở chúng ta công ơn rất lớn lao của các thánh thời xưa là những người đã bảo tồn đức tin Công giáo cho chúng ta.

Thứ đến lễ này nhắc chúng ta nhớ nếu chúng ta biết bắt chước các thánh và noi theo gương các ngài chúng ta cũng sẽ tìm ra lối đi dẫn chúng ta từ vùng tăm tối của trần thế bước vào ánh sáng huy hoàng của Chúa.

Các thánh chẳng phải là những người khác thường gì, các ngài cũng bình thường như chúng ta, nhưng đã sống cuộc đời bình thường của các ngài một cách phi thường.  Chúng ta hãy dùng đoạn thơ nhan đề The Way (Con đường) của John Oxenham để kết thúc; đoạn này tóm tắt lời mời gọi và sự thách đố mà ngày lễ các Thánh hôm nay đặt ra cho mỗi người chúng ta:

“Ở đó, có hai con đường mở ra trước mặt mỗi người; Một con đường cao và một con đường thấp.  Những linh hồn cao thượng thích leo lên con đường cao mà đi, còn những linh hồn thấp kém lần mò theo con đường thấp mà đi.  Giữa hai con đường ấy là những linh hồn còn lại trôi vật vờ trên những vùng sương mờ vô định.  Nhưng mỗi người phải quyết định xem trong hai con đường ấy linh hồn mình sẽ đi con đường nào”.

Lễ Các Thánh mời gọi chúng ta hãy can đảm bắt chước các thánh chọn con đường cao để một ngày kia chúng ta cũng sẽ được xum họp với các ngài trên trời để chung hưởng hạnh phúc vĩnh cửu muôn đời.

Lm Mark Link, S.J.