QUÀ TẶNG GIÁNG SINH

zz“Đức Giêsu là Quà Tặng quý giá nhất
Thiên Chúa trao gởi cho con người”
(x. Ga 3, 16)

Mùa Giáng sinh còn gọi là Mùa tặng quà.  Vì thế nào bạn cũng được tặng một món quà nào đó từ những người thân yêu, cha mẹ hoặc bạn bè.  Hay ít nhất bạn cũng nhận được một cánh thiệp Noel, một lời cầu chúc trên điện thoại, trong email hoặc trên các trang mạng xã hội.  Vậy tặng quà có ý nghĩa gì?  Nó mang lại cho bạn niềm vui nào?

Sự trao tặng nào cũng là một sự mất mát và tiêu hao: Mất mát thời giờ và công lao, tiêu hao tiền của và sức lực.  Sự mất mát và tiêu hao càng lớn thì quà tặng càng có giá trị.  Giá trị vật chất, giá trị tinh thần, nhưng nhất là giá trị của tình thương trao ban.

Người tặng quà khi gởi đi một món quà quý giá, thậm chí một món quà bé nhỏ nào đó, cũng đều gói ghém tất cả tình cảm mến thương; sự trân trọng, lòng biết ơn, có khi cả sự ngưỡng mộ của mình dành cho người đón nhận.  Một cách nào đó, khi tặng quà, chúng ta muốn trao ban chính bản thân mình, trao ban không tính toán, trao ban trọn vẹn.  Mẹ Têrêxa Calcutta đã nói: “Kitô hữu là người trao ban chính bản thân mình”.  Đó là tất cả ý nghĩa đích thực của sự tặng quà.

Nhưng có một nghịch lý hết sức thú vị, là càng trao ban, chúng ta càng được nhận lãnh; càng mất mát, chúng ta lại càng dư đầy.  Đó chính là niềm vui của trao ban, của dâng hiến.  Vì niềm vui của người chính là niềm vui của ta.  Léibnitz đã nói rằng: “Yêu là tìm chính hạnh phúc của mình trong hạnh phúc của kẻ khác”.  Thánh Phaolô cũng cảm nghiệm được niềm vui của trao ban khi ngài ghi lại lời Chúa Giêsu: “Cho thì có phúc hơn nhận lãnh” (Cv 20,35).

Nếu có một bài học nào đó có thể rút ra từ việc tặng quà chính là: “Khi trao ban cho người khác người ta lại tìm được chính bản thân và những gì cao quý nhất”.  Đó là sứ điệp chạy xuyên suốt trong Tin Mừng, đặc biệt trong Mầu Nhiệm Giáng Sinh: Đức Giêsu chính là quà tặng quý giá nhất Thiên Chúa trao ban cho con người (x. Ga 3,16).  Người không chỉ mặc khải cho chúng ta tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người, mà còn tỏ bày cho chúng ta chân lý về chính con người: Đó là con người chỉ tìm lại được chính bản thân, nghĩa là đạt được nhân cách sung mãn bằng sự trao ban vô vị lợi mà thôi.

*******************************************

Lạy Chúa, giá trị đích thực của con người hệ tại ở lòng quảng đại trao ban.  Xin cho con không đi tìm niềm vui nào khác ngoài niềm vui trao ban và tiêu hao cho anh em con mỗi ngày.  Như Chúa đã trao tặng Người Con Chí Ái của Chúa cho chúng con, xin cho con cũng biết trao tặng những gì quý giá nhất cho anh chị em con khi họ cần đến.  Amen!

Thiên Phúc

 

TRUYỀN TIN

Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền” (Lc.1:38)

Bạn thân mến ! Trên đây là lời nói “Xin Vâng” mà Đức Maria đã thân thưa lên cùng Thiên Chúa trong ngày xứ thần Gabrien truyền tin cho Đức Maria cách đây hơn hai ngàn năm về trước, ngày mà mầu nhiệm Thiên Chúa nhập thể trong cung lòng trinh nữ Maria đã thực sự bắt đầu.

Khi suy gẫm về Mầu Nhiệm Nhập Thể,  ta thường nghĩ ngay tới biến cố Chúa sinh ra ở Bêlem.  Thật ra mầu nhiệm Nhập Thể đã bắt đầu ngay từ giây phút Truyền Tin,  giây phút mà  Đức Maria nói lên hai tiếng xin vâng trước Thánh Ý Thiên Chúa.

Với tâm tình đầy tin tưởng, vâng phục và phó thác. Hai tiếng “Xin Vâng” của Đức Maria đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt thế giới, đã khai mở kỷ nguyên cứu rỗi, đã đem lại cho muôn dân muôn nước niềm hy vọng và bình an.

Với hai tiếng “Xin Vâng”, Ngôi Hai Thiên Chúa đã tự hủy thân phận mình là Thiên Chúa, là  đấng “tạo hoá” đầy quyền năng để trở thành một “tạo vật” với một hai tế bào nhỏ bé trong cung lòng Trinh Nữ Maria.  Với hai tiếng “Xin Vâng”, Ngôi Lời đã trở thành một thai nhi, lớn lên trong lòng Đức Mẹ như bao nhiêu con người bình thường khác.

Mẹ Maria đã nói lời xin vâng để làm theo Thánh Ý Thiên Chúa trong ngày truyền tin.  Mẹ Maria không chỉ nói lời xin vâng một lần với Thiên Chúa, không chỉ thốt lên một lần để thay cho tất cả, nhưng lời xin vâng đã đi theo suốt cuộc đời của Mẹ, đã liên lỉ gắn bó trong trọn một kiếp người.

Với hai tiếng xin vâng, Mẹ Maria đã đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, đã cộng tác với Thiên Chúa trong công trình cứu chuộc.  Từ tiếng “Xin vâng” đầy phó thác và tuân phục vào ngày Truyền Tin đến lời “Xin vâng” trọn vẹn tin yêu và chấp nhận dưới chân thập giá Đức Giêsu.  Mẹ đã chấp nhận đứng dưới chân Thập Giá để dâng hiến Người Con Duy Nhất của Mẹ lên cho Thiên Chúa Cha.

Không phải chỉ có Đức Maria được mời gọi, mà mỗi người chúng ta cũng đều được mời gọi cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Mỗi người chúng ta hôm nay cũng đều được Thiên Chúa viếng thăm và truyền tin trong từng ngày, từng biến cố của cuộc sống.  Ước chi ta có trái tim rộng mở của Đức Maria, có tâm hồn vâng phục trong khiêm nhường của người trinh nữ nơi thôn làng Nadarét để luôn biết “Xin Vâng” trước những lời mời gọi của Thiên Chúa.

Mùa vọng với biến cố Truyền Tin được nhắc đến trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, phải chăng đó lại là một “cơ hội thuận tiện” để tất cả chúng ta hăng hái lên đường đáp trả lời mời gọi của Tin Mừng : ăn năn sám hối, chay tịnh và chia sẻ.

Sống mầu nhiệm “Truyền Tin” phải chăng đó là biết can đảm  để “xin vâng” trước lời mời gọi của Tin Mừng, “xin vâng” trước mọi nghịch cảnh của cuộc đời, “xin vâng” trước bệnh tật đói nghèo mà vẫn bình an thanh thản, “xin vâng” trước những đòi hỏi phải hy sinh, chối từ để giữ tâm hồn trong sạch, lương tâm công chính, “xin vâng” trước những bổn phận và trách nhiệm đòi hỏi phải đầu tắt mặt tối, tất bật vất vả với nước mắt mồ hôi, “xin vâng” khi phải cúi xuống để rửa chân cho anh em, hay phải đứng lên để can đảm bênh vực cho công bằng và chân lý, cho hòa bình và bác ái, cho dù phải mất mát thiệt thòi hay ngục tù tử đạo. 

 ***

Lạy Mẹ Maria!  xin Mẹ giúp chúng con luôn biết noi gương bắt chước Mẹ nói lời “xin vâng” trong suốt cuộc lữ hành trần thế này.  Xin Mẹ cho con biết mở lòng và cộng tác với Ơn Chúa để hoàn thành sứ mạng mà Chúa đã giao phó cho mỗi người chúng con. Amen

Tổng hợp từ R. Veritas

TINH THẦN GIÁNG SINH

zzTôi tin, bởi dù tôi có thấy mình già hay bẳn tính đến đâu đi nữa, nhưng mỗi khi mùa Giáng sinh tới, tôi cảm thấy tinh thần của Giáng sinh bàng bạc trong không khí và trong trái tim tôi.  Nó là một cái gì hiển nhiên, không thể nào nhầm lẫn, và nó có ở nơi nơi…

Nó ở trong đôi mắt mở to của trẻ em khi chúng thổ lộ những mong ước thầm kín nhất của mình cho một ông già vui tính có bộ râu trắng dài thậm thượt, đội cái mũ kỳ khôi và mặc bộ đồ độn bông đỏ chói, người sẽ rong ruổi khắp thế gian trên cỗ xe khổng lồ thắng những con tuần lộc có cánh và sẽ làm cho ước mơ của chúng thành sự thật.

Nó ở trong tất cả những “trợ thủ của ông già Noel”, những người giữ cho điều kỳ diệu đó cùng niềm hy vọng mà nó khơi lên luôn sống mãi.

Nó ở trong những người chẳng có gì nhiều nhặn để cho nhưng vẫn cho đi những gì họ có, ở trong những người có nhiều và cho đi những gì mình có một cách hào phóng, để không ai phải lâm cảnh thiếu thốn.

Nó ở trong những lời “Chúc mừng Giáng sinh” nồng nhiệt gửi tới những người ta yêu thương cũng như những người xa lạ.

Nó ở trong những trò chơi và niềm vui khi người ta cùng tụ hội bên nhau, trong những món trang trí rực rỡ và ánh đèn lấp lánh, những cây thông và vòng hoa ngát hương, trong những món ăn ngon lành – tất cả là để đón mừng ngày lễ của sự chăm sóc và chia sẻ.

Nó ở trong những giọng cất cao để ngâm thơ và hát về tình yêu và truyền đi thông điệp về hòa bình và niềm vui cho thế gian.

Nó ở trong những tấm thiệp và bức thư mà dù có viết gì đi nữa vẫn nói cùng một điều: “Tôi nghĩ về bạn.  Tôi lo lắng cho bạn.  Tôi mong cho bạn điều tốt lành.”

Nó ở trong những cuộc đoàn tụ với gia đình, quây quần với người thân, bạn bè, mà ở đó việc trao nhau những món quà của tình yêu thương và tiếng cười, tình bạn và tình nghĩa gia đình, và những giờ phút sẻ chia cho nhau, cùng ở bên nhau, thật sự ở bên nhau, còn quý giá hơn bất cứ món quà nào mà tiền có thể mua.

Nó cũng ở trong mỗi món quà “hoàn mỹ” được chọn lựa đầy cẩn trọng hay được làm ra với biết bao công phu, được trao đi bằng tình yêu thương để đáp ứng một nhu cầu, lấp đầy một chỗ trống, hay để làm một trái tim tràn ngập niềm vui.

Tinh thần của Giáng sinh nằm ở mỗi niềm vui được sẻ chia và trong mỗi hành vi chu đáo trong khoảng thời gian tuyệt vời này của mỗi năm.  Thế nhưng, trong cái nhộn nhạo và tất bật của mùa Giáng sinh (mà mỗi năm dường như lại bắt đầu sớm hơn) và với tình trạng thương mại hóa ngày lễ thiêng liêng này (mà dường như mỗi năm một trắng trợn hơn), người ta thật dễ dàng đánh mất tinh thần của Giáng sinh.  Tôi biết rằng chính tôi thỉnh thoảng cũng hầu như đánh mất nó.  May sao, tôi có phúc có được một gia đình và những người bạn với tấm lòng nhiệt thành không suy suyển đối với Giáng sinh, chính họ luôn luôn nhắc tôi nhớ đến ý nghĩa đích thực của ngày lễ.

Một chiều Giáng sinh gần ba mươi năm trước, đứa con giữa của tôi leo lên lòng tôi để làm nũng mẹ.  Vốn là một đứa hết sức hiếu động, nhưng hôm đó nó bỗng trở nên trầm lặng và kín đáo khác thường, chỉ vì nó và con chị đã cười khúc khích, xì xầm với nhau và liên tục nhón chân nhìn qua cửa sổ phòng ngủ của chúng ở tầng trên cho mãi đến nửa đêm, những mong bắt gặp ông già Noel, để rồi sáng mai thức dậy mở những món đồ chơi mới ra mà chơi, sau đó thì chơi đùa, ăn uống, đuổi bắt và chơi thêm chút nữa với anh em họ, với cô dì chú bác, và lại, ôi trời ơi, và lại mở thêm quà, quà của cô dì chú bác của ông bà nội ngoại của cô giữ trẻ của bè của bạn.  Xì!  Nghĩ mà phát chán.

Trong khi tôi với con cuộn mình trong cái ghế bập bênh, vừa bập bênh lên xuống vừa ngắm cây thông, nó thở dài sườn sượt hỏi tôi: “Má biết không má?” (Nó đã chuẩn bị cái câu “má biết không” này suốt cả năm qua.)

“Sao hở con?”

“Con thích Giáng sinh.”

“Má cũng vậy mà, cưng.”

“Con ước gì mình luôn luôn có Giáng sinh.  Ngày nào cũng có.”

“Nếu ngày nào cũng có Giáng sinh thì đâu còn gì đặc biệt nữa,” tôi nói. “Với lại, con tham quá vậy, từng ấy quà thì con làm gì cho xuể?”

“Không phải chuyện quà!” nó ngước nhìn tôi nói, lông mày nhíu lại vì mệt mỏi và chân thành. “Mà là hạnh phúc.  Ngày nào cũng Giáng sinh thì ngày nào nhà ta cũng sẽ có nhiều hạnh phúc.”

Khỏi phải nói, tôi không thể hứa hẹn ngày nào cũng mang lại cái hạnh phúc Giáng sinh trong cách nghĩ của một cô bé lên bốn tuổi trong suốt cuộc đời nó.  Nhưng tôi đã cố gắng năm nào cũng giữ cho tinh thần Giáng sinh vẫn sống, cố gắng làm lan tỏa ánh sáng của niềm vui bất cứ lúc nào và cho bất cứ ai mà tôi có thể.

Cao Đăng

CÓ CHỨ, VIRGINIA, CÓ ÔNG GIÀ NOEL

“Thưa Ngài Chủ Bút.  Em là  bé gái 8 tuổi.  Vài người bạn của em cho rằng không có ông già Noel.  Ba nói với em rằng “Nếu con đọc thấy điều đó trên tờ The Sun thì nó đúng như vậy.”  Vậy làm ơn cho em biết sự thật CÓ ÔNG GIÀ NOEL HAY KHÔNG?”

Virginia O’ Hanlon

zzLá thư đã được gửi đi ngay trước Noel năm 1897.  Trả lời thư cho bé Virginia là một bài báo viết vội ngay vào lúc tờ báo chuẩn bị lên khuôn cho số Giáng Sinh dưới tựa đề  “CÓ CHỨ, VIRGINIA, CÓ ÔNG GIÀ NOEL”

Bài báo viết:

“Virginia, những bạn bè nhỏ của em đã nói sai rồi.  Các bạn ấy đã bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa hoài nghi của một năm hoài nghi.  Các bạn không tin trừ khi đã thấy.  Các bạn nghĩ rằng không gì có thể bởi đầu óc nhỏ bé của các bạn không thấu lĩnh được.  Tất cả mọi đầu óc, Virginia, dù là người lớn hay trẻ em đều nhỏ bé.  Trong vũ trụ rộng lớn này, trí óc con người chỉ là một côn trùng, một con kiến so với thế giới vô cùng bên ngoài nó, nhỏ bé như khả năng trí tuệ của con người trong nắm bắt toàn bộ sự thật và kiến thức.

CÓ CHỨ, CÓ ÔNG GIÀ NOEL.  Ông hiện diện cũng chắc chắn như Tình Yêu, Sự Rộng Lượng và Lòng Thành Tâm đang tồn tại, và em biết rằng chúng đầy rẫy sẽ mang cho đời sống của em cái đẹp và niềm vui cao quý nhất.  Chao ôi, thế giới này sẽ ảm đạm biết bao nhiêu nếu không có ông già Noel.  Nó cũng buồn như nếu không có những bé như Virginia.  Lúc đó sẽ không có niềm tin trẻ thơ, thơ ca và sự lãng mạn làm cho sự tồn tại này có thể chịu đựng được .

Không ai thấy ông già Noel ra sao.  Nhưng không có bằng chứng nào cho thấy không có ông già Noel cả.  Nhưng điều thật nhất trên thế giới này chính là những điều mà cả người lớn và trẻ em đều không thể thấy.  Có bao giờ em thấy những bà tiên nhảy múa trên thảm cỏ xanh chưa?  Dĩ nhiên chưa, nhưng đó không phải là bằng chứng rằng họ không có mặt nơi đó.  Không ai có thể nhận thức hoặc tưởng tượng ra được tất cả những điều kỳ diệu không thể thấy được trong thế giới này.

Em phá tung cái lúc lắc trẻ thơ để tìm cho ra cái gì làm nên tiếng động bên trong nó, nhưng có một tâm mạng che cái thế giới chúng ta không thấy được, mà không một người mạnh nhất hoặc thậm chí một sức mạnh liên kết của một nhóm người mạnh nhất từng sống, có thể đặt qua một bên bức màn đó để chiêm ngưỡng và vẽ nên cái đẹp và sự huy hoàng bên ngoài nó.  Liệu nó có thật hay không?  Ôi, Virginia, trong cả thế giới này không có gì khác thật sự và vĩnh cữu.  Không có ông già Noel.  Nhưng nhờ Trời, ông sống và sống mãi mãi.  Hàng nghìn năm tới nữa, không, Virginia, hàng chục lần của hàng chục nghìn năm sau nữa, ông vẫn sẽ tiếp tục là niềm vui của trái tim trẻ thơ ”

Tác giả của lá thư tòa soạn trả lời bé Virginia chỉ được công bố tên thật sự sau khi ông mất.  Đó là cây bút bình luận của tờ The Sun, Francis Pharcellus Church, lúc ấy 57 tuổi, và theo Bảo Tàng Báo Chí ở Arlington, bang Virginia, bài viết này của ông là bài bình luận được in lại nhiều nhất trong lịch sứ báo chí Mỹ.  Nhà báo này qua đời năm 1906 còn Virginia O’ Harlon Douglas cũng mất năm 1971 lúc bà 81 tuổi sau một cuộc đời cống hiến cho trẻ tật nguyền.  Hành trang cho sự nghiệp giáo dục của bà Virginia là lá thư phúc đáp của Church mà bà cho biết đã mang theo suốt cuộc đời mình.

Hơn 100 năm đã trôi qua kể từ lá thư hoài nghi của cô bé Virginia nhưng lý lẽ của Church vẫn tiếp tục sống.  Bởi nó không chỉ là bài trả lời về việc có hay không có Ông Già Noel, mà trên tất cả nó là thông điệp của lòng tin vào những giá trị nhân loại cao quý.

Sưu tầm

NGƯỜI LÀM CHỨNG

Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay nói về Gioan, người làm chứng. Lẽ sống của Gioan là làm chứng. Ông được sai đến để làm chứng (Ga.1:7-8).  Cả câu chuyện xảy ra ở Bêtania, bên kia sông Giođan, cũng là một lời chứng hùng hồn của ông (Ga.1:19).

Gioan không làm chứng cho mình hay về mình, bởi lẽ ông không phải là Ánh Sáng. Ông chỉ là ngọn đèn (Ga.5:35) giúp mọi người tin vào Ánh Sáng thật là Đức Kitô.

Sau khi nhiều người tuốn đến chịu phép rửa, tiếng tăm của Gioan trở nên lừng lẫy. Các nhà lãnh đạo tôn giáo cử một phái đoàn đến tìm hiểu con người ông.

Khi được hỏi lần thứ nhất: Ông là ai? Gioan đã đưa ra ba câu trả lời phủ định: “Tôi không phải là Đức Kitô” – “Không phải” – “Không”. Những tiếng “không” dứt khoát và trung thực.

Ông không nhận những danh hiệu mà người ta nghĩ về ông. Ông chẳng phải là một Êlia tái sinh hay một vị Ngôn Sứ phi thường như Môsê.  Gioan chỉ sợ người ta đánh giá quá cao về mình khiến Đấng ông giới thiệu bị che khuất.

Lần thứ hai được hỏi: Ông là ai? Gioan đã định nghĩa mình là một tiếng hô trong hoang địa, là lời mời gọi con người hãy mau mau sửa đường cho Đức Kitô.

Ông biết rõ mình là người đến trước nhưng người đến sau lại có trước ông và trổi vượt hơn ông muôn ngàn lần (Ga.1:30). “Tôi không đáng cởi quai dép cho Người.” Làm đầy tớ cho Đức Kitô, ông nhận mình không xứng đáng.

Gioan tự xóa mình trước Đức Kitô. Ông chẳng sợ mất uy tín trước bao người ngưỡng mộ. Ông nhìn nhận phép rửa của ông chỉ nhằm chuẩn bị cho một phép rửa lớn hơn trong Thánh Thần.

Gioan không ngại giới thiệu môn đệ của mình đi theo Đức Giêsu, và ông bình an khi người ta đổ xô đến với Ngài để chịu phép rửa (Ga.3:26).

Có ai siêu thoát như Gioan? Ông từ bỏ trong niềm vui hồn nhiên. Ông hạnh phúc vì mình đã hoàn thành sứ mạng. “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ bé đi” (Ga.3:30). Sự khiêm hạ làm cho lời chứng của Gioan đáng tin hơn. “Có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết.”

Hôm nay Đức Giêsu vẫn là Đấng xa lạ với nhiều người. Con người vẫn khắc khoải đi tìm những nẻo đường cứu độ, trong khi Đấng Cứu Độ đã đến từ hơn 2000 năm qua.

Ước gì ta được làm người chứng như Gioan, giới thiệu cho thân nhân bạn bè về Đấng mà họ đang tìm kiếm.

(Trích trong ‘Manna’)

****

Chỉ mong tôi chẳng còn gì, nhờ thế Người là tất cả của tôi.

Chỉ mong ý muốn trong tôi chẳng còn gì, nhờ thế tôi cảm thấy Người ở mọi nơi, đến với Người trong mọi sự, và dâng Người tình yêu trong mọi lúc.

Chỉ mong tôi chẳng còn gì, nhờ thế tôi không bao giờ muốn tránh gặp Người.

Chỉ mong mọi ràng buộc trong tôi chẳng còn gì, nhờ đó tôi gắn bó với ý muốn của Người và thực hiện ý Người trong suốt đời tôi.

R. Tagore

ƠN CỨU CHUỘC VÀ ĐẶC ÂN VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

Tín điều Đức Maria Vô nhiễm nguyên tội có quan hệ mật thiết với chương trình Ngôi Hai nhập thể. Tổng quát hơn, nhà thần học H. Urs von Balthasar nói rằng “Toàn bộ Thánh Mẫu học phải được giải thích theo Kitô học, và chính điều này làm nên sự cao cả của Đức Maria”.  Thiên Chúa đã chọn Đức Maria cùng hiệp thông cho chương trình cứu rỗi và ban cho Mẹ sự tinh tuyền ban đầu.  Trong sự khiêm hạ, Mẹ đã nhận với vai nữ tì trong chương trình hồng ân này.  Điều đó gợi ý cho chúng ta, những người đang chuẩn bị chào đón Chúa Hài Đồng giáng thế lần thứ 2011, cũng cần chuẩn bị một hang đá đơn sơ, trong sạch, như Ngài đã ban cho Đức Maria – hang đá ấy chính là tâm hồn của mỗi người.

zzNgày lễ mừng Vô Nhiễm Nguyên Tội (08 tháng 12) và lễ Sinh nhật của Đức Maria (08 tháng 9) có quan hệ về mặt thời gian và sự kiện.  Nghĩa là lễ mừng Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội tiến hành trước 09 tháng so với lễ Sinh Nhật Đức Maria.  Yếu tố thời gian và tính chặt chẽ của các sự kiện, còn liên quan đến một số thánh lễ khác của đạo Công giáo.  Lễ mừng sinh nhật thánh Gioan Tẩy giả – ngày 24 tháng 6, trước ngày lễ Giáng sinh sáu tháng, còn lễ Thiên thần Truyền Tin ngày 25 tháng 3 thì trước Giáng sinh tròn chín tháng.

Ngày 08 tháng 12, chính là thời điểm Đức Maria được thụ thai, theo một phương thức đặc biệt, vì đã được Thánh Thần nhào nặn trong cung lòng thánh nữ Anna.  Người được hình thành như là một tạo vật mới (Hiến chế tín lí Lumen Gentium).

Tín điều Vô Nhiễm nguyên Tội của Đức Maria được khẳng định trong giáo lý Công giáo.  Thiên Chúa đã gìn giữ Mẹ khỏi tì ố của tội nguyên tổ vào lúc Mẹ được thụ thai.  Mẹ đã được Thiên Chúa ban cho ân sủng tràn đầy, mà chúng ta tìm thấy trong đọan Tin Mừng về lời chào của Thiên thần Gabriel khi đối thoại với Mẹ Maria “Hãy vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng.  Chúa ở cùng Người” Lc (1, 28).

Một thời gian dài, ơn Vô nhiễm nguyên tội dành cho Đức Maria trở thành đề tài tranh luận và chúng ta xác tín sự cần thiết tuyệt đối ơn cứu chuộc nhờ cuộc tử nạn và phục sinh của Đức Kitô.  Chân phước Gioan Duns Scot đề xuất một giải pháp dung hòa về sự Vô nhiễm nguyên tội của Đức Maria và giáo lý về sự cứu chuộc của Đức Kitô bằng cách phân rõ 2 trường hợp của ơn cứu chuộc: ơn cứu chuộc bằng cách gìn giữ và ơn cứu chuộc bằng cách chữa trị.  Thiên Chúa đã dùng phương cách thứ nhất cho Đức Maria và cách thứ hai cho chúng ta.  Và như thế, nếu mọi người đều phạm tội trong Adam, thì Đức Maria lại được gìn giữ để trở thành một ngoại lệ.  Chính Mẹ đã nhận được ân sủng lớn lao này, khi Thiên Chúa lập trình cho chương trình cứu chuộc con người từ muôn đời.  Còn chúng ta chỉ được thụ hưởng ơn này sau ngày lãnh nhận bí tích rửa tội.

Một vấn đề được đặt ra, tại sao tước hiệu Vô nhiễm nguyên tội của Đức Maria được công bố muộn màng, năm 1854 do Giáo hoàng Piô IX mới long trọng tuyên bố?  Thật ra không phải chỉ có tước hiệu trên, mà các tước hiệu còn lại của Đức Maria cũng được công bố chậm.  Đặc ân Đức Mẹ hồn xác lên trời, đến năm 1950 mới được Giáo hoang Piô XII công bố.  Điều này chứng tỏ 2 ý sau:

  1. Thần học là môn khoa học, con đường tiếp cận chân lý của nó thông thường theo phương pháp tiệm tiến. Nghĩa là cần có thời gian và sự đóng góp đa dạng từ nhiều phía khác nhau của nhiều thần học gia.
  2. Chúng ta thừa nhận rằng, Tin Mừng ít đề cập đến Đức Maria, và tất nhiên việc đề cập đến yếu tố Vô nhiễm nguyên tội càng ít tường minh. Lí do chính yếu, vì Chúa Giêsu là nhân vật chính trong Tin Mừng – Thiên Chúa muốn con người tập trung chú ý vào Đức Kitô. Trong Tin Mừng, thì cuộc khổ nạn, sự chết và phục sinh của Ngài lại là trọng tâm. Chúng ta dễ thấy, nội dung Tin Mừng có bố cục tập trung vào quảng đời ba năm họat động của Ngài, dù Ngài trải qua 33 năm trên trần thế.

Khoảng năm 60 thuộc thế kỉ thứ nhất, Tin Mừng đầu tiên của thánh Mác-cô xuất hiện.  Mác-cô lại bắt đầu Tin Mừng của mình bằng việc Chúa Giêsu chịu phép rửa, nghĩa là xem nhẹ tuổi trẻ Chúa Giêsu và vai trò Đức Maria.  Tiếp theo về thời gian, là sự xuất hiện Tin Mừng thánh Mat-thêu, Lu-ca, Gio-an. Người ta chỉ bắt gặp sự xuất hiện của Đức Maria được diễn tả rõ ràng trong Lu-ca, sau đó là Gio-an.

Việc khám phá chậm các tín điều này của giáo hội Công giáo, vừa mang tính khoa học, vừa nằm trong sự quan phòng khôn ngoan của Thiên Chúa trong công trình cứu chuộc dành cho loài người.

Lạy Đức Maria, sau khi được sạch nhờ phép thanh tẩy, chúng con vẫn tiếp tục chọn đi trên con đường tội lỗi vì sự yếu đuối và đức tin yếu kém.  Xin hãy cầm tay dẫn dắt vì chúng con chỉ là những đứa trẻ muốn đi đúng đường và bình yên trên con đường ấy trong sự che chở của Mẹ, cho dù đó là đường Thập Giá.

G. Tuấn Anh

ÔNG GIÀ NOEL LÀ AI?

Thành Patara thơ mộng, một thành phố cổ thuộc miền Tiểu Á, ngày nay nằm ở vùng nam duyên hải Thổ Nhĩ Kỳ.  Trên ngọn đồi, Nicholas ngồi bên tảng đá, chàng hết ngắm nhìn biển xanh rồi lại quay nhìn ngôi nhà xinh xắn của chàng.  Rất nhiều lần chàng đã ngắm nhìn như thế, nhưng hôm nay chàng mới để ý nhà chàng đẹp và sang trọng nhất thành.  Chàng liên tưởng tới song thân đạo hạnh mới lần lượt vĩnh biệt chàng đi vào thế giới vô hình, để lại cho chàng một gia tài kích xù.  Chàng nhớ đến những chiếc rương nặng, đầy vàng bạc và châu báu đang khóa kỹ tại kho tàng nhà chàng…..

Nicholas chậm rãi hướng cặp mắt lên bầu trời muôn mầu sắc lúc hoàng hôn, chàng thầm thĩ cầu nguyện:

– Lạy Chúa, Ngài biết rằng con không cần đến mọi của cải đó. Con ước ao phụng sự Ngài.  Xin Ngài dậy con phải làm gì!

Nicholas hiểu rằng Chúa sẽ không trực tiếp trả lời chàng, nhưng chàng tin rằng Ngài sẽ đáp lại lời nguyện cầu của chàng bằng cách này hay cách khác.  Vì thế, chàng chờ đợi…

Một hôm, Nicholas cỡi ngựa qua một xóm nghèo.  Bọn trẻ quần áo xác xơ, cả lũ ngừng chơi nhìn chằm chặp vào chàng thanh niên đẹp trai cỡi trên lưng con ngựa quí.  Lập tức, Nicholas đọc được trong những đôi mắt và trên thân hình gầy gò của chúng sự nghèo túng, đói khát và đáng thương.  Đột nhiên chàng nhớ lại lời Chúa Kitô: “Các con làm điều gì cho một kẻ bé mọn nhất trong anh em Ta đây, chính là các con làm cho Ta”.  “Những kẻ bé Mọn! Các trẻ nhỏ!”  Nicholas tự nghĩ, “ Chúa muốn tôi giúp đỡ các trẻ nhỏ”.  Lập tức chàng quay ngựa đi thẳng đến phố chợ.  Tại đây, chàng mua sắm những quần áo sặc sỡ, những đôi giầy đủ mầu đủ cỡ, rồi chàng xin những người bán hàng chất các rổ, các thúng với mọi thứ thịt thà, bánh kẹo, hạt giẻ và trái cây.  Đồng thời chàng nhờ họ giữ thứ đó cho tới khi chàng trở lại.

zzĐêm ấy, khi thành phố đã yên giấc, bọn trẻ đã ngủ say, Nicholas bí mật đi từ nhà này sang nhà khác, qua những cửa sổ mở trống, chàng đặt trên sàn nhà từng chiếc rổ, chiếc thúng đầy ắp những bánh quà, thịt thà và quần áo.  Chàng không quên bốc những nắm kẹo và hạt giẻ bỏ vào những đôi giầy mới để gây ngạc nhiên cho bọn trẻ.

Cứ thế, từ hôm này qua hôm khác, ban ngày Nicholas đi tìm kiếm kẻ nghèo đói, đêm đến chàng rảo qua các nhà, bí mật bỏ lại những món quà.

Chẳng mấy chốc, người trong thành đã xôn xao bàn tán, họ hỏi nhau:

– Ai là người đã bí mật trao tặng chúng ta những món đồ cần thiết, mà chúng ta không hay biết?

Khi nghe được những lời bàn tán của dân chúng, Nicholas tạm ẩn mặt một thời gian.  Chàng chỉ muốn một mình Chúa biết việc chàng làm.  Chàng tự nghĩ: “Nếu mình nhận lời cám ơn về việc mình làm, thì ra như đã nhận công thưởng đời này rồi!”

Ngày kia, Nicholas nghe kể về một người bạn của cha chàng, ông ta cũng là người thành Patara, nhưng làm ăn suy xụp.  Do sự suy xụp này ông ta không đủ tiền để sắm sửa cho ba cô con gái đã đến tuổi thành hôn.  Ông ta dự tính sẽ gửi cả ba đứa con vào làm cho một tửu quán gần nhà, để chúng có thể kiếm tiền lập gia đình.  Khi nghe câu truyện, Nicholas tỏ ra rất bực tức, vì cũng như mọi người trong thành, chàng biết rằng người chủ quán là một kẻ tội lỗi.  Những nàng con gái làm trong tửu quán đó không khỏi đi theo đàng tội!

Ngay đêm đó, Nicholas bỏ đầy một túi nhỏ những đồng tiền vàng, đi thẳng tới nhà người bạn của cha chàng.  Qua cánh cửa sổ đang mở, chàng thẩy túi vàng trên bàn, nơi người con gái lớn đang ngồi.  Khi nghe tiếng la sửng sốt của cô con gái vì túi vàng bỗng dưng từ đâu bay tới, Nicholas lanh lẹ trốn mất!  Không lâu sau đó, chàng nghe kể cô ta đã lập gia đình trong hạnh phúc.  Nhưng hai cô em còn ở lại nhà vì chưa có tiền!

Rồi chẳng bao lâu, Nicholas lại lần mò đến, chàng thẩy một túi vàng khác vào chỗ cô gái kế, và cũng nhờ túi vàng này, người con gái lập được tổ ấm hạnh phúc.

Thời gian kén rể cho cô con gái út đã đến, đêm nào cũng thế, người cha cẩn thận rình mò gần cửa sổ.  Ông nói với cô con gái cưng:

– Ba cần phải biết ai đã giúp đỡ chúng ta, để chúng ta còn nói với người một lời cám ơn.

Đêm đó, Nicholas lại bí mật ném túi vàng thứ ba qua cửa sổ.  Nhưng bỗng nhiên tay chàng bị nắm lại.  Chàng bị bắt quả tang!

–  À thì ra anh Nicholas, chính anh là người đã cho chúng tôi những túi vàng!  Chúng tôi cần phải biết vị ân nhân của chúng tôi.  Xin mời anh vào trong nhà, để chúng tôi còn tỏ lòng biết ơn anh.

–  Không!  Không!  Tôi không muốn việc tôi làm bị bại lộ.  Cách tốt nhất ông tỏ lòng biết ơn tôi là xin hứa với tôi, sẽ không bao giờ nói cho ai biết việc tôi đã làm.

Sau đó, Nicholas chẳng những dâng hiến của cải và thời giờ cho Chúa, chàng còn dâng mình để trở thành một linh mục.  Rồi một thời gian sau, ngài được chọn làm Giám Mục thành Myra, không xa Patara là bao.  Lòng nhân ái và qủang đại đối với người nghèo của Ngài đồn ra khắp nơi.

Người ta kể rằng, một đêm bão tố khủng khiếp tại biển Aegean, Nicholas cứu nguy một chiếc tầu đã hầu chìm đắm nhờ kêu cầu sự trợ giúp của Thiên Chúa.  Do câu truyện này, các thủy thủ ở miền đó thường kêu tên Nicholas trước các chuyến hải hành.  Họ chúc nhau một cuộc hành trình tốt đẹp khi nói:

– Xin thánh Nicholas cầm lái!

Nhiều huyền thoại xoay quanh cuộc đời Đức Giám Mục Nicholas, Đấng sau này đã được phong thánh.  Cùng với thánh Anrê Tông Đồ, Ngài là Quan Thầy nước Nga.  Tại Đức, Thụy Sĩ và Hòa Lan người ta tỏ lòng tôn kính thánh Nicholas bằng nhiều tục lệ tốt đẹp.  Dần dà, Ngài được coi như một vị thánh của trẻ nhỏ.

Trong đêm vọng lễ kính Ngài, ngày 6 tháng 12, trẻ em thuộc nhiều quốc gia đặt giầy của chúng ra ngoài nhà để cho thánh Nicholas bỏ đầy kẹo bánh và đồ chơi.  Nếu chúng vẫn tỏ ra ngoan ngoãn, chúng có quyền hy vọng như vậy.

Người Hòa Lan đã đem những tục lệ này vào Mỹ.  Thánh Nicholas hay “Saint Klaus” của người Hòa Lan từ đó được biết như “ông già Noel” (Santa Claus).  Rồi thay vì đặt giầy ra ngoài nhà vào đêm vọng lễ thánh Nicholas, các trẻ em Mỹ treo những đôi vớ của chúng vào đêm Sinh Nhật để được “ông già Noel” bỏ đầy kẹo bánh và đồ chơi.

Thánh Nicholas qua đời tại Myra vào thế kỷ thứ 4.  Nhiều nhà thờ tại Á Châu và Âu Châu được xây dựng để kính nhớ Ngài.  Thế kỷ 17, khi quân Thổ Nhĩ Kỳ tấn công Myra, nước Ý.  Người ta đã di hài cốt Ngài về táng tại Pari, nước Ý và tại đó hài cốt Ngài vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

Raymond Thư, Lm, CMC

*******************************************

Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, cuộc đời cha thánh Nicolas đã thắp sáng lên một ngọn đuốc tình yêu trong thế gian, đặc biệt là trong những tháng ngày đêm đông lạnh lẽo này. Xin cho con biết bắt chước cha thánh Nicolas, khi không thể làm một ngọn đuốc sáng rực thì xin là một đốm lửa nhỏ trong ánh tối mập mờ của thế gian. Khi không thể dâng hiến trọn vẹn một gia tài cho Chúa và tha nhân thì cũng xin dạy con biết cho đi những món quà bé nhỏ, đơn sơ nhưng gói trọn niềm yêu mến. Những món quà trong ngày kỷ niệm sinh nhật Chúa không chỉ đến với những người thân thương trong gia đình mà trải dài tới những anh em nghèo đói hơn đang sống quanh mình.

Chúa biết tình yêu con nhỏ bé, tâm hồn đầy những tính toán, khả năng vật chất hạn hẹp, khi không thể làm và sống như cha thánh Nicolas được, thì xin cho mỗi người chúng con là một “Little Santa Claus”, một ông già Noel nho nhỏ. Baby Giêsu ơi, Ngài sinh ra mang niềm vui cho cả nhân loại, cuộc đời cha thánh Nicolas mang niềm vui cho bao người, đặc biệt là trẻ em, xin cho con mang niềm vui đến cho một người xa lạ, vâng chỉ một người thôi, trong mùa Giáng Sinh này, để lễ kỷ niệm ngày Sinh nhật Chúa năm nay có một ý nghĩa đặc biệt hơn trong cuộc sống con.  Amen!

LTCT

DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA

Trong một trận lũ lụt kia, nhiều du khách trên tuyến đường Bắc – Nam bị kẹt ở miền Trung. Lý do là đèo Hải Vân bị sạt lở, xe cộ không đi lại được. Nhiều đoạn đường sắt bị nước lũ cuốn đi, nên tàu Bắc – Nam cũng đành ủ rũ nằm chờ. Nhiều làng bị nước ngập, dân làng muốn thoát ra nhưng không đi được vì đường sá không còn. Nhiều đoàn cứu trợ muốn đến những làng xa xôi, nhưng không có đường đi, nên đành chịu bó tay.

Những con đường thật là quan trọng. Đường đi giúp cho người bị nạn có thể thoát ra. Đường đi giúp cho người bị nạn đón nhận được sự cứu trợ. Đường đi nối liên lạc giữa người với người. Đường sá hư hỏng làm giao thông ngừng trệ, chậm trễ việc cứu trợ, ngăn cách người với người. Muốn cho giao thông mau lẹ, muốn việc cứu trợ có kết quả, muốn cho con người gần gũi nhau, phải sửa chữa đường đi cho thật tốt.

Con đường vật lý đã cần. Nhưng con đường tâm lý còn cần hơn. Nếu con đường tâm lý bị hư hỏng thì dù có ở sát cạnh nhau, người ta cũng vẫn cứ xa nhau.

Tương tự như thế, ta cần có con đường thiêng liêng thật tốt để đón Chúa đến. Thật ra Chúa đã đến từ lâu, nhưng ta chưa đón nhận được vì con đường thiêng liêng trong tâm hồn ta đã bị hư hỏng.

Tâm hồn ta có những đỉnh đồi kiêu ngạo luôn muốn nâng mình lên, luôn khoe khoang, không bao giờ chịu thua kém người khác. Tâm hồn ta có những ngọn núi tự ái cao ngất trời xanh, không bao giờ chịu nhận lỗi, không bao giờ chịu tha thứ.

Tâm hồn ta có những hố sâu tham lam muốn chiếm đoạt tất cả, muốn thu vén tất cả vào túi riêng. Tâm hồn ta có những hố sâu chia rẽ, luôn gây ra bất hoà, luôn giận hờn, luôn ganh ghét, luôn nghi kỵ. Tâm hồn ta có những hố sâu đam mê, miệt mài đuổi theo danh, lợi, thú. Tâm hồn ta có những hố sâu dục vọng nặng nề thú tính.

Tâm hồn ta có những khúc quanh co của sự dối trá, không thành thật với Chúa, không thành thật với người khác và không thành thật với chính mình. Tâm hồn ta có những khúc quanh co của sự trốn tránh bổn phận, của sự giả hình, của sự thiếu duyệt xét lương tâm.

Tâm hồn ta có những lượn sóng gồ ghề của những lời nói độc ác, tàn nhẫn. Tâm hồn ta gồ ghề vì thói lười biếng không chịu cố gắng thăng tiến bản thân. Tâm hồn ta gồ ghề vì những phê bình chỉ trích thiếu tính cách xây dựng.

Tất cả những ngọn đồi, những vực sâu, những khúc quanh co, những lượn sóng gồ ghề ấy ngăn chặn Chúa đến với ta. Nên hôm nay, Thánh Gioan Tẩy Giả mời gọi ta hãy sửa chữa con đường thiêng liêng cho tốt đẹp để đón Chúa Giêsu đến.

Hãy bạt đi thói kiêu căng tự mãn. Hãy bạt đi tính tự ái ngang ngạnh. Hãy lấp đi những hố sâu tham lam, chia rẽ, bất hoà. Hãy lấp đi những hố sâu đam mê, dục vọng. Hãy uốn thẳng lại những quanh co dối trá. Hãy uốn thẳng lại những khúc quanh giả hình. Hãy san phẳng những lượn sóng gồ ghề độc ác. Hãy san phẳng những lượn sóng gồ ghề nói hành nói xấu.

Đổi mới một con đường thì dễ, nhưng đổi mới tâm hồn không dễ chút nào. Ngoài những cố gắng bản thân, còn cần đến những phương thế. Đời sống của Thánh Gioan Baotixita đề nghị cho ta 3 phương thế rất tốt.

Phương thế thứ nhất là vào sa mạc. Sa mạc là nơi hoang vu vắng vẻ giúp ta sống cô tịch. Trong cô tịch, ta dễ chìm sâu xuống đáy lòng mình để gặp gỡ Chúa. Một mình ta diện đối diện với Chúa. Trong thân mật, Chúa sẽ dạy ta biết Thánh Ý để ta thi hành. Đức Giêsu, trước khi đi rao giảng cũng đã vào sa mạc 40 ngày để tìm Thánh Ý Chúa Cha. Sa mạc đây được hiểu là những giờ cầu nguyện riêng tư thân mật một mình ta với Chúa.

Phương thế thứ hai là mặc áo da thú. Mặc áo da thú có nghĩa là ăn mặc đơn sơ, không chải chuốt. Một tâm hồn mặc áo da thú là một tâm hồn biết sống thực với chính mình, biết nhìn nhận những yếu đuối lỗi lầm và xin Chúa tha thứ. Thái độ đơn sơ khiêm nhường như thế chính là khởi điểm để tiến lên trên con đường thánh đức.

Phương thế thứ ba là ăn châu chấu và mật ong rừng. Đây có ý nói về một đời sống khổ chế. Hãm dẹp những tính mê tật xấu, hạn chế những đòi hỏi của thân xác để bắt nó quy phục linh hồn. Giảm bớt những nhu cầu không cần thiết để bồi dưỡng đời sống tâm linh.

Thánh Gioan Baotixita đã sống theo chương trình 3 điểm này, nên Ngài đã trở thành người mở đường cho Đấng Cứu Thế. Nếu chúng ta biết áp dụng 3 phương thế ấy trong Mùa Vọng này, ta sẽ biến tâm hồn ta thành một con đường thẳng tắp cho Chúa Giáng Sinh ngự đến.

Lạy Chúa, xin cứu con khỏi mọi tội lỗi để con xứng đáng đón rước Chúa. Amen.

TGM. Ngô quang Kiệt

TỈNH ĐỂ CANH THỨC

zzVòng chu kỳ của thời gian với bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông rồi tiếp tục trở lại Xuân Hạ … nhân gian gọi đó là chu kỳ một năm.  Đối với Phụng Vụ Công Giáo cũng thế cứ khoảng tuần cuối tháng mười một lại một năm Phụng Vụ mới được khai mở khởi sự từ Chúa nhật thứ nhất mùa Vọng.  Sống theo tinh thần và ý nghĩa trong Mùa Vọng đó là mùa chuẩn bị tâm hồn để đón mừng ngày Đại lễ mừng ngày Giáng Sinh của Chúa Giêsu; và cũng để nhắc nhở người tín hữu tỉnh để canh thức chuẩn bị tâm hồn, canh tân lại đời sống, để đón chờ ngày Chúa đến gọi mỗi người kẻ trước người sau về trình diện với Chúa.

Giáo lý Công Giáo hỏi: Người ta sống ở đời này để làm gì? Thưa: Người ta sống ở đời này để tìm hạnh phúc, và hạnh phúc đích thực chỉ có ở trong Thiên Chúa là cùng đích của mọi loài.  Câu trả lời đã khẳng định mục đích chính của con người khi sống trên trái đất này để làm gì?  Hạnh phúc đích thực đó ông bà nguyên tổ Ađam và Evà đã được tận hưởng từ chính tình yêu Thiên Chúa chúc phúc và ban cho ông bà, trước khi ông bà sa vào bẫy cám dỗ của ma quỷ.  Sau khi ông bà nghe theo lời ngon ngọt của ma quỷ, từ ngày đó Thiên Chúa đã thu hồi lại niềm hạnh phúc ấy nơi con người.  Nhưng không vì thế Thiên Chúa bỏ rơi ông bà, Người đã hứa ban Đấng Cứu Thế đến để chuộc lại lỗi lầm do hai ông bà đã trót lỗi phạm, để con người tìm lại được nguồn hạnh phúc đích thực của thuở ban đầu.

Vậy vì sao nguyên tổ lại đánh mất niềm hạnh phúc đó?   Vì con người tự bản chất là thân phận mọn hèn, yếu đuối và mỏng dòn, nên đã sa ngã vào con đường mà chính Satan là nguồn gốc muốn lôi kéo con người đi vào con đường tội lỗi giống như chúng.  Thế nhưng Satan thực sự đã không hạ gục được con người, bởi vì con người vẫn còn nhận được lòng bao dung từ tình thương của Thiên Chúa.  Thế nên, Thiên Chúa vẫn để cho con người sống để duy trì nòi giống, sống để chống trả lại mưu mô quyền lực của ma quỷ, và Thiên Chúa đã ban cho nhân loại Ơn Cứu Độ của Con Thiên Chúa là Đức Giêsu. Thiên Chúa vẫn để con người tiếp tục được hưởng quyền tự do, Người không tước đoạt và cũng không ràng buộc con người trong khuôn khổ.  Chính vì vậy quyền tự do của con người chính là sự thử thách của Thiên Chúa muốn tôi luyện con người vững vàng hơn để về được bến bờ của niềm hạnh phúc đích thực, như ngày trước ông bà nguyên tổ toàn quyền tự do quyết định chọn lựa.

Con người ngày nay tuy đã được biết và được hưởng ơn Cứu Độ của Thiên Chúa, nhưng vẫn không làm chủ được cuộc sống mình, và tiếp tục rơi vào tình trạng như ông bà nguyên tổ ngày trước, vẫn tiếp tục đi vào con đường quanh co, lồi lõm, gồ ghề và khúc khuỷu.  Con người vẫn thỏa thuê tự mãn trong hưởng thụ thú vui trần thế; vẫn cố tình sa đọa rơi vào những hố sâu, cạm bẫy.

Tin Mừng khởi sự Chúa nhật I Mùa Vọng (B) câu đầu tiên (c. 33) Chúa nhắc nhở và khuyên nhủ phải biết tỉnh thức, và các câu còn lại (c. 34-37) là để canh thức.

Bài học ngày trước Chúa đã dạy các môn đệ.  Tỉnh để canh thức là bài học Chúa đã căn dặn rất ký càng, nhưng rồi trước giờ Người chịu khổ hình, Người đã đưa các Tông đồ vào trong vườn Giệtximani để cầu nguyện, nhưng các ông đã quên đi bài học Thầy mình đã dạy, mê mải trong giấc ngủ, đến nỗi Người đã phải trở lại ba lần để đánh thức các ông dậy, nhưng đôi mắt các ông lim dim nặng nề, Người vẫn kiên trì nhắc nhở lại bài học đã dạy khi trước: “anh em hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (x. Mc 14,33-41).  Lời Chúa dạy các môn đệ ngày trước đó, cũng chính như hôm nay Chúa đang dạy tôi.

Trong tâm tình của ngày khởi sự năm Phụng Vụ mới, việc làm thiết thực là hồi tâm kiểm điểm lại cách sống trong năm vừa qua, đồng thời phác thảo cho bản thân hướng sống trong năm Phụng Vụ mới.

– Nhìn lại bổn phận mỗi ngày của chính bản thân đối với Thiên Chúa. Một ngày 24 tiếng, tôi nhớ đến Đấng tôi tôn thờ được bao nhiêu giờ?  Bao nhiêu phút hoặc bao nhiêu giây?  Hay tôi chỉ dành tất cả thời gian đó cho công việc, cho cơm, áo, gạo, tiền … ?

– Bổn phận đã được Chúa trao phó qua các Đấng Bề Trên, tôi có chú tâm vào công việc đó cách thực sự không? Hay chỉ làm chiếu lệ cho xong… ?

– Chung quanh tôi biết bao nhiêu mảnh đời bất hạnh cần sự quan tâm giúp đỡ, tôi có tận tình an ủi giúp đỡ họ, hay cũng giống như thầy tư tế hay thầy Lêvi trong dụ ngôn người Samaritanô? (Lc 10:25-37)

– Mỗi khi gặp thử thách tôi thường trách cứ, đổ lỗi cho ông bà nguyên tổ đã làm cho con cháu phải đau khổ, mà chưa bao giờ nhìn ra cách sống của chính bản thân; đôi khi lỗi lầm của mình còn lớn hơn lỗi lầm của nguyên tổ gấp bội?

– Mỗi ngày tôi làm được bao nhiêu điều tốt lành để làm gương sáng cho con cái, cho cộng đoàn, cho những người sống quanh ta?

Lạy Chúa, đã biết bao mùa Vọng đi qua cuộc đời con, nhưng con đã làm được gì để canh tân với chính cách sống của con.  Xin Chúa giúp con biết mạnh dạn đổi mới lại, sửa sai những thói quen xấu thành những thói quen tốt trong cuộc sống.  Cho con luôn biết tỉnh táo để canh thức, vì nếu bản thân không tỉnh táo thì chẳng bao giờ canh thức được.  Xin đừng để con mê mải với cuộc sống trần gian mà quên đi Chúa là Đấng con đã nhận để tôn thờ; cho con biết nhìn ra Chúa đang hiện thân trong tha nhân, trong những người khốn khổ, để con biết hành động trong yêu thương.  Đó chính là nguồn hạnh phúc đích thực mà con đang kiếm tìm.  Amen!

Pet. PBH

TẠ ƠN

zzTôi tạ ơn Chúa vì chồng tôi cứ phàn nàn khi bữa cơm chưa dọn kịp,
bởi lẽ chàng đang ở ngay bên cạnh tôi, chứ không phải bên ai khác.

Tôi tạ ơn Chúa vì con tôi cứ càu nhàu khi phải phụ rửa chén đĩa cho tôi,
bởi lẽ thằng bé đang ở nhà chứ không phải lêu lổng ngoài đường.

Tôi tạ ơn Chúa vì số thuế thu nhập mà tôi phải trả quá cao,
bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang có một công việc tốt để làm.

Tôi tạ ơn Chúa vì có nhiều thứ phải dọp dẹp sau bữa tiệc nhỏ,
bởi lẽ như thế nghĩa là tôi luôn được bạn bè quý mến đến chơi.

Tôi tạ ơn Chúa vì quần áo tôi bỗng trở lên hơi chật,
bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang có đủ ăn,

Tôi tạ ơn Chúa vì cái bóng của tôi cứ nhìn tôi làm việc,
bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang sống tự do ngoài nắng.

Tôi tạ ơn Chúa vì sàn phòng cần quét, cửa sổ cần lau, màng xối cần sửa,
bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang có một mái nhà để cư ngụ.

Tôi tạ ơn Chúa vì tất cả những lời than phiền về chính phủ,
bởi lẽ như thế nghĩa là chúng ta đang được tự do ngôn luận.

Tôi tạ ơn Chúa vì hóa đơn đóng tiền cho hệ thống sưởi thật cao,
bổi lẽ như thế nghĩa là tôi đang được ấm áp.

Tôi tạ ơn Chúa vì người phụ nữ ngồi phía sau tôi trong nhà thờ hát sai.
bởi lẽ như thế nghĩa tai tôi còn nghe được rất tinh tế.

Tôi tạ ơn Chúa vì đống đồ phải giặt ủi,
bởi lẽ như thế nghĩa là tôi có đầy đủ quần áo để ăn mặc tử tế.

Tôi tạ ơn Chúa vì các cơ bắp của mình thấy mỏi mệt vào cuối ngày,
bởi lẽ như thế nghĩa là tôi có sức để làm việc nhiều.

Tôi tạ ơn Chúa vì tiếng đồng hồ reo to thật sớm ban mai,
bởi lẽ như thế nghĩa là tôi còn đi lại, hít thở và cười nói,
bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang còn sống.
và cuối cùng… tôi tạ ơn Chúa vì nhận quá nhiều thư từ gửi về,
bởi lẽ như thế nghĩa là tôi vẫn còn có nhiều bạn bè đang nhớ đến tôi…

Tôi gửi bài này để các bạn hiểu rằng :”Thiên Chúa luôn đến với con người bằng một quả tim yêu thương cho dù chúng ta đang ở trong bất cứ tình trạng nào!”

Trần Duy Nhiên dịch