ÐÔI BÀN TAY TRỐNG RỖNG

Check Liseger là một phi công trong thế giới chiến tranh thứ hai.  Check tham dự cuộc hành quân có tên là “Mãnh Hổ” vừa để trả đũa vụ Tân Châu Cảng vừa để tấn công các lực lượng của Nhật trên Thái Bình Dương.

Mặc dù giữ bí mật cao độ, cuộc hành quân này cũng không được thực hiện như dự tính. Chiếc tàu sân bay bị Nhật khám phá ra trước khi vào hải phận cho phi công cất cánh máy bay đi đánh phá.  Check và các bạn được lệnh bay đi ném bom ngay, dù lúc ấy họ chưa đủ nhiên liệu để bay trở về căn cứ.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ thì trời tối mịt, máy bay hết xăng, Check phải bỏ máy bay nhảy dù xuống một vùng đất lạ bên dưới.  Anh ta rơi trên lục địa Trung Hoa, ở vùng Nhật kiểm soát.

Ba năm tiếp theo sau đó, Check bị biệt giam trong một trại giam của Nhật.  Trong trại giam đó, Check xin một quyển Thánh Kinh để đọc, vì không có việc gì làm cả, cũng không hy vọng gì được cứu thoát hay trốn khỏi trại tù.  Check đọc thư Roma chương 10 và anh biết rằng mình có thể được cứu vào sự sống vĩnh hằng, nếu tin nhận Chúa Giêsu là Ðấng đã được Thượng Ðế cho từ cõi chết sống lại. Check tin như vậy, và cuộc đời anh đã thay đổi hẳn.  Mặc dù phải sống trong trại tù nhơ bẩn đầy chuột bọ.  Trước khi được phóng thích, thân hình Check đầy cả ghẻ chốc mụn nhọt, vì điều kiện sống nhơ bẩn.

zzAnh kể lại: “Một hôm tôi giơ hai tay tôi lên và thưa với Chúa rằng: “Lạy Chúa, con sẵn sàng đi với Chúa.  Con muốn được lên nơi phước lộc vĩnh hằng không còn mụn nhọt ghẻ lở nữa.”

Nhưng lúc ấy Check cảm thấy Chúa nhìn vào bàn tay mình, anh nói: “Ðôi bàn tay tôi giơ lên. Chúa nhìn vào đó và thấy rõ hai bàn tay không có gì cả.  Tôi tự hỏi: Sao hai bàn tay tôi không có gì cả?  Tại sao Chúa nhìn vào đôi bàn tay ấy? Ý nghĩ này làm tôi bừng tỉnh.  Tôi đã 33 tuổi mà chưa bao giờ nói cho bất cứ người nào về Chúa Giêsu cả.”

Việc nhận ra đôi bàn tay trống rỗng đã thôi thúc Check trở lại Nhật làm một giáo sĩ.

Sau khi học xong trường dạy Kinh Thánh, ông đã dành ra 30 năm đem phúc âm đến cho người Nhật, là những người ông từng thả bom giết hại. Ông giúp thành lập hơn 20 ngôi giáo đường và nói cho hàng ngàn người nghe về Chúa Giêsu.  Khi Check làm xong nhiệm vụ, hai bàn tay ông không trống rỗng nữa, và Chúa đã thấy rõ như vậy.

Còn bạn thì sao? Với hai bàn tay Chúa ban, bạn đã làm được những gì cho Ngài?

R. Veritas

**************************************

Lạy Cha,
Cha muốn cho mọi người được cứu độ
và nhận biết chân lý,
chân lý mà Cha đã bày tỏ nơi Ðức Giêsu, Con Cha.

Xin Cha nhìn đến hàng tỉ người
chưa nhận biết Ðức Giêsu,
họ cũng là những người đã được cứu chuộc.

Xin Cha thôi thúc nơi chúng con
khát vọng truyền giáo,
khát vọng muốn chia sẻ niềm tin và hạnh phúc,
niềm vui và bình an của mình cho tha nhân,
và khát vọng muốn giới thiệu Ðức Giêsu cho thế giới.

Chúng con thấy mình nhỏ bé và bất lực
trước sứ mạng đi đến tận cùng trái đất
để loan báo Tin Mừng.
Chúng con chỉ xin đến
với những người bạn gần bên,
giúp họ quen biết Ðức Giêsu và tin vào Ngài,
qua đời sống yêu thương cụ thể của chúng con.

Chúng con cũng cầu nguyện
cho tất cả những ai đang xả thân lo việc truyền giáo.

Xin Cha cho những cố gắng của chúng con
sinh nhiều hoa trái. Amen.

Rabbouni

LẠY CHÚA, CON ÐÃ TIN RỒI!

Tạp chí Âm Vang Lộ-đức (Écho de Lourdes) thuật lại một câu chuyện có thật như sau:

Có một người vô thần có đứa con gái yêu quý bị bệnh bại liệt mà các bác sĩ đều đã chịu bó tay, không tài nào cứu chữa được nữa.  Ông nghe những người quen biết đồn rằng Ðức Mẹ ở Lourdes nước Pháp, có thể chữa lành cho cô bé.

Cuối cùng thì ông cũng đã chấp nhận đưa con gái đến Lourdes, nhưng không quên tuyên bố với những người bạn cả Công Giáo lẫn vô thần rằng:

zz– Nếu tôi thấy con gái tôi được chữa khỏi, nếu tôi thấy tỏ tường nó chỗi dậy và đi lại được, tôi sẽ tin rằng Thiên Chúa hiện hữu!

Khi đến Lourdes, ông đưa con gái lại gần, chen giữa đám đông những bệnh nhân đang vây quanh chiếc giếng mà Ðức Mẹ thường làm phép lạ.  Khi gặp được cha Bailly, một Linh Mục thường trực phụ trách tại địa điểm hành hương này, ông đã nói tất cả về nỗi niềm còn bán tín bán nghi của mình vào phép lạ.

Và đúng lúc em bé được đưa xuống chiếc giếng cạn để nhúng ướt hoàn toàn trong nước, cha Bailly đã lớn tiếng nói với mọi người đang có mặt:

– Có ai trong các vị hiện diện ở đây bằng lòng tận hiến chính mình làm hy tế cho Thiên Chúa Nhân Lành để cầu nguyện cho một người vô thần không? Có ai không?  Chỉ một người thôi, bằng lòng cam chịu cơn bệnh nan y cho tới chết để cho cô bé này được lành, và để cho người cha vô thần này được trở lại đạo không?

Mọi người yên lặng… Mấy phút trôi qua… Chợt có một nữ bệnh nhân trung niên chống nạng hai bên nách khó nhọc bước ra khỏi đám đông và nói nhỏ nhẹ thật khiêm tốn:

– Vâng, có tôi, tôi xin tự nguyện!

Ngay lúc ấy, bé gái liền được khỏi bệnh và tự mình bước ra khỏi miệng giếng.  Người cha vô thần vội quỳ xụp xuống, thổn thức:

– Lạy Chúa, xin Chúa tha tội cho con, con tin rồi!

Lm Tiến Lộc

 ******************************

Lạy Cha, chúng con cảm tạ Cha, Ðấng tạo thành trời đất,
Ðã tỏ hiện cho những kẻ khiêm nhu bé mọn.
Chúng con cảm tạ Cha đã muốn giao ước với loài người.
Cha đã yêu thương chúng con trước một cách nhưng-không,
Khi đoái đến một dân tộc mà Cha gọi là “dân nhỏ bé nhất trong muôn dân”.
Tại một thôn xóm vô danh nhất trên miền Ðất Hứa,
Trong số những thiếu nữ vô danh nhất của Ít-ra-en,
Cha đã chọn một cô gái làm Mẹ Chúa Giê-su,
Một cô gái được chúc phúc hơn mọi cô gái,
Một thiếu nữ đã đáp ứng được mọi ân sủng của Cha.
Ðối với muôn thế hệ,
Ðức Ma-ri-a đã trở nên gương sáng phục vụ và khó nghèo cho Hội Thánh.

Vâng, lạy Cha, chúng con cảm tạ Cha,
Ðã gầy dựng nên Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a trong số những kẻ bé mọn.
Cha muốn rằng bởi Mẹ mà Chúa Con trở thành người trong nhân loại,
Kết hiệp chúng con với Cha trong Chúa Thánh Thần.

ROBERT GUELLUY (Trích Lời Kinh Từ Cuộc Sống)

ĐỜI THÔI HẾT LẬN ĐẬN

Trong tập thơ Mảnh Trăng Non, có lần thi hào Tagore đặt trên môi một người mẹ lời yêu cầu ngỏ với con mình:

“Nầy con, họ la lối, tranh giành, hoài nghi và tuyệt vọng,
họ cãi cọ không bao giờ thôi.
Hãy để đời con đến với họ như ngọn đuốc sáng,
bền vững tinh khôi, khiến họ say mê đến im lời.
Con ơi, hãy bước tới giữa những tấm lòng quạu cọ,
đoái nhìn họ với đôi mắt hiền từ,
như cái an bình bao dung của buổi chiều phủ trên một ngày tranh chấp.
Hỡi con, hãy để họ thấy mặt con như thấy ý nghĩa của muôn loài,
hãy để họ yêu con, và như thế, họ sẽ thương yêu nhau”.

***

Quý Anh Chị cùng các bạn trẻ thân mến,

Đọc lại những vần thơ trên, chúng ta liên tưởng đến những lời tương tự của một bà mẹ khác ngỏ với con mình qua trình thuật Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay. Đó là lời của Đức Maria ngỏ với Giêsu, khi cả hai cùng là khách mời của một tiệc cưới tại làng Cana. Hai người khách này hẳn đã chứng kiến cảnh rối bời của cô dâu chú rể cũng như đã cảm thông cái thấp thỏm lắng lo của nhà trai lẫn nhà gái khi họ biết rằng, tiệc chưa tàn – rượu đã hết.

Hết rượu là một bất trắc, bất trắc có thể đưa đến bất đồng.
Bất đồng dễ đưa đến bất hòa, bất hòa hẳn đưa đến bất hạnh.

Sợ rằng nhà tiệc có thể bất hạnh, Đức Maria đã tinh tế nhỏ to cùng con, “Họ hết rượu rồi”; và với những người ở đó, “Ngài bảo gì thì hãy làm theo!”. May thay, Đức Giêsu có đó; may hơn nữa, họ đã làm theo. Phép lạ xảy ra. Sự hiện diện của Đức Giêsu hôm ấy không chỉ tăng thêm niềm vui nhưng còn để giải cứu, một sự hiện diện cấp thiết và đúng lúc.

Với Đức Giêsu, phép lạ đã xảy ra, nước hoá thành rượu, nỗi buồn tan bay, toàn nhà tiệc hỷ hoan.

Qua Con Thiên Chúa, mầu nhiệm được thực hiện, rượu hoá thành máu, bánh biến nên thịt, niềm vui dâng cao, cả nhân loại no đầy.

Quý Anh Chị và các bạn,

Ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về sự bất trắc đưa đến bất đồng, gây nên bất hòa và dẫn đến bất hạnh. Nhưng liệu mỗi người chúng ta có khó chịu khi được ví như những nhân vật bài thơ muốn ám chỉ, nghĩa là những con người có lẽ cũng đang lận đận, cãi cọ, la lối, tranh giành, hoài nghi và tuyệt vọng? Phải chăng chúng ta cũng là những con người vốn đang cần sự hiện diện của Đức Giêsu hơn bao giờ hết nhất là trong những ngày cuối năm khi bên ngoài thì lao xao, bên trong lại rạo rực… khi ngồi ngẫm nghĩ lại từng biến cố, từng sự việc một năm qua… bao hồng ân, bao tiếc xót; khi ngẫm nghĩ đến cái tương quan của mỗi người với Chúa, tương quan với gia đình, với anh chị em hay ngay cả với chính bản thân mình?

Giữa trăm bề thiếu thốn bất trắc, không chỉ thiếu rượu, chúng ta còn thiếu cả tình. Không chỉ thiếu tình chúng ta còn thiếu cả tâm. Không chỉ thiếu tâm chúng ta còn thiếu cả hồn… và bao nhiêu thiếu hụt khác, thiếu hiếu biết, thiếu cảm thông, thiếu tha thứ, thiếu quảng đại…

Chúng ta cũng cãi cọ chẳng bao giờ thôi và dường như không ít lần đối xử với nhau mà tâm hồn thật quạu cọ. Vì nhà chật, đường chật, túi chật mà lòng cũng chật; nếu quả như thế, chúng ta là những con người bất hạnh đáng thương hơn cả việc hết rượu mà hai họ nhà tiệc Cana phải trải qua.

Vậy thì hơn ai hết, hơn bao giờ hết, chúng ta cũng cần có sự hiện diện của Đức Maria và con của ngài thường xuyên hơn. Giêsu đó cũng đang bước tới nhìn chúng ta với đôi mắt hiền từ để đời mỗi người thôi hết lận đận, vì chỉ có Ngài “như ngọn đuốc sáng” và Lời của Ngài “bền vững tinh khôi” mới có thể khiến chúng ta “say mê đến im lời”. Im lời có nghĩa là tịnh khẩu. Nhưng tịnh khẩu không có nghĩa là im ắng, chịu đựng… nhưng để đắm chìm trong yêu thương và tha thứ, trong hối hận và ăn năn; tịnh khẩu để ngợi khen và cảm tạ, để nhịn nhục và ôn hòa.

“Hỡi con, hãy để họ thấy mặt con như thấy ý nghĩa của muôn loài,

Hãy để họ yêu con, và như thế họ sẽ thương yêu nhau”.

Vâng, có thấy được Giêsu, con người mới thấy được ý nghĩa cuộc sống, ý nghĩa ơn gọi cao cả của mỗi người.

Có biết được Giêsu, con người mới biết được chính mình, biết được tha nhân với tất cả những gì là đẹp đẽ nhất của hình ảnh Thiên Chúa.

Có được sự hiện diện của Giêsu, con người mới ngộ ra cái phù du tạm bợ của kiếp nhân sinh; ngộ ra cái quê hương thật của mình không ở tại chốn này.

Có gần gũi với Giêsu, con người mới tỉnh giấc trước cái bèo bọt chóng qua của nhan sắc, của tiền tài, của danh vọng; tỉnh giấc trước cái giới hạn èo uột của sức riêng mình.

Có yêu được Giêsu, con người mới có khả năng yêu thương tha nhân, có khả năng vượt qua mọi thiếu thốn, đứng trên mọi tranh chấp, tranh chấp từng danh hiệu, tranh chấp từng lời nói, tranh chấp từng tất đất, tranh chấp từng gang trời.

Tình yêu Ngài như ngọn lửa hồng làm sống lại cái bếp lò lạnh lẽo, vì tất cả cây cối trong rừng sẽ nên vô dụng cho một bếp lò nếu không có một ngọn lửa. Tình yêu Ngài như vò rượu ngon làm say ngất lòng người, niềm vui trọn vẹn; hơn thế nữa, vô tửu bất thành lễ.

Giêsu đó đủ sức giúp chúng ta về lại trong tình yêu. Vì chỉ có tình yêu mới có nội lực giải phóng, coi thường cái tạm thời, gạt bỏ mọi chướng ngại và xô đẩy cái tầm thường.

Chính Đức Giêsu, ngọn lửa yêu thương, Đấng sẽ khơi lên đóm than hồng trong những lúc hết củi, lửa tắt, lạnh lò… đời lận đận. Chính Đức Giêsu, rượu nồng hoan hỷ, Đấng sẽ đem lại niềm vui những khi hết rượu, tiệc tàn, cụt hứng… đời quạu cọ.

Dâng Thánh Lễ hôm nay, để đời thôi hết lận đận, chúng ta cùng cầu nguyện cho nhau hầu mỗi người biết mời cho được hai vị khách quý ấy vào tâm hồn, vào gia đình, vào cộng đoàn mình. Nhờ đó, năm mới sẽ là một năm hy vọng và tin yêu, một năm dư đầy rượu nồng và lửa ấm… nhưng xin đừng quên lời dặn của người mẹ, “Ngài bảo gì thì hãy làm theo!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Gp. Huế)

BẠN CÓ BẬN RỘN LẮM KHÔNG?

Satan mở một hội nghị thế giới.  Nó khai mạc bằng cách ngỏ lời với đám ác thần.  Nó bảo: “Chúng ta không thể ngăn cản Kitô hữu đi nhà thờ.  Chúng ta không thể ngăn cản họ đọc Kinh Thánh và biết được chân lý.  Chúng ta cũng không thể ngăn cản họ tạo ra một mối tương quan thân mật với Đức Kitô.  Nếu họ liên lạc được với Giêsu, quyền lực của chúng ta đối với họ sẽ tiêu tan.  Vì vậy, hãy cứ để cho họ đi nhà thờ, để cho họ giữ nếp sống của họ, nhưng hãy cướp lấy thì giờ của họ, hầu họ không có được tương quan thân mật với Giêsu Kitô.  Đấy là điều tôi muốn các người làm, hỡi các ác thần.  Hãy làm cho họ xao lãng việc tiếp xúc với Đấng Cứu Độ họ và giữ mối liên lạc ấy suốt cả ngày!”  Đám ác thần kêu lên: “Chúng tôi phải hành động thế nào để làm được như thế?”  Satan trả lời: “Hãy làm cho họ bận rộn với những điều không thiết yếu trong cuộc đời và tạo ra thật nhiều chương trình để cho đầu óc họ không rảnh rỗi.  Hãy xúi giục họ tiêu xài, tiêu xài, tiêu xài rồi kiếm tiền, kiếm tiền, kiếm tiền.  Hãy thuyết phục các bà vợ đi làm nhiều giờ và các ông chồng đi làm 6-7 ngày mỗi tuần, 10-12 giờ mỗi ngày, để họ có thể thoải mái sống cái cuộc sống trống rỗng của họ.  Hãy ngăn cản họ dành thì giờ cho con cái.  Khi vợ chồng con cái ly tán thì chẳng bao lâu gia đình sẽ bị công việc làm áp lực!  Hãy kích thích tối đa tâm trí họ để họ không thể nghe ra tiếng nói êm dịu, nhỏ nhẹ kia.

zz“Hãy khuyến khích họ mở máy thu thanh hay máy ghi âm khi họ lái xe đi làm.  Hãy để cho truyền hình, đĩa hình, đĩa nhạc và máy vi tính chạy suốt cả ngày trong nhà.  Và làm sao cho các cửa tiệm và nhà hàng liên tục trổi lên những bản nhạc xa rời Kinh Thánh.  Điều này sẽ làm cho đầu óc họ bận rộn và cắt được mối liên lạc với Đức Kitô.

“Hãy đặt trên bàn ăn sáng các tạp chí và nhật báo.  Hãy chất đầy đầu họ với tin tức 24 giờ một ngày.   Hãy làm ngập những giờ phút lái xe của họ với các bản quảng cáo.  Hãy đổ tràn vào hộp thư họ những bức thư tào lao, những giấy đặt hàng, bản cá cược, và mọi loại thư khuyến mãi trình bày các sản phẩm và các dịch vụ miễn phí, cùng với những niềm hy vọng hão.  Hãy đặt các người mẫu mảnh mai và xinh đẹp trên bìa những tạp chí để cho các ông chồng tin rằng sắc đẹp ngoại hình là điều quan trọng, và họ sẽ chán vợ mình.  Ha! Điều này sẽ làm cho các gia đình tan vỡ thật nhanh.

“Ngay cả trong các cuộc giải trí của họ, hãy biến chúng thành quá đà.  Hãy làm cho họ đi nghỉ về mà mệt nhừ, bất an, và không sẵn sàng bắt đầu tuần làm việc.  Đừng để họ đến với thiên nhiên để nhìn ngắm các kỳ quan của Chúa.  Hãy đưa họ đến các công viên giải trí, các hoạt động thể thao, các nơi hòa nhạc và chiếu phim.  Hãy làm cho họ bận rộn, bận rộn thật bận rộn!  Và khi họ gặp nhau để chia sẻ tâm linh, hãy chuyền vào những lời nói xấu và tiếng to tiếng nhỏ để họ ra về với lương tâm bất ổn và tình cảm bất an.

“Tiến lên đi, hãy để cho họ dấn thân vào việc cứu vớt các linh hồn.  Nhưng hãy đổ vào cuộc đời họ thật nhiều thiện ý đến độ họ không còn thì giờ tìm kiếm sức mạnh nơi Đức Kitô.  Chẳng bao lâu, họ sẽ hoạt động bằng sức lực của chính mình, và rồi họ hy sinh sức khỏe và gia đình để phục vu mục đích ấy.  Biện pháp này hiệu quả đấy, hiệu quả lắm!”

Đấy chỉ là một cuộc hội nghị.  Và các ác thần hăng say đi về với nhiệm vụ và làm cho Kitô hữu khắp nơi bận rộn, bận rộn thật bận rộn, và họ phải chạy từ nơi này đến nơi khác.  Tôi đoán là bạn sẽ đặt câu hỏi:  liệu ma quỉ có thành công trong chương trình ấy không?   Bạn hãy tự xét lấy!

Maranatha dịch

**********************************************

Lạy Chúa Giêsu,
con thường thấy mình không có thì giờ,
nhưng đồng thời cũng thấy mình
lãng phí bao thời gian quý báu.
Nhiều khi con tự hỏi
mình thực sự làm việc bao nhiêu giờ mỗi ngày.

Xin cho con biết quý trọng từng giây phút
đang trôi qua mà con không sao giữ lại được.
Chúa đã trao cho con nén bạc thời gian,
để con sinh lợi tối đa theo ý Chúa.
Xin cho con luôn làm việc như Chúa :
hăng say, tận tụy và vui tươi,
vâng phục, có phương pháp và đầy sáng tạo.

Vì quá khứ thì đã qua,
và tương lai thì chưa đến,
nên xin dạy con biết trân trọng giây phút hiện tại.

Xin cho con thấy Chúa
lúc này đang ở đây bên con,
và đang mời gọi con đáp lại tiếng của Ngài
bằng những hành động cụ thể.

Con xin hiến dâng Chúa giây phút này
như một hy lễ,
với tất cả những bất ngờ, đớn đau, thách đố.

Ước gì con dám sống hết mình giây phút hiện tại
để hiện tại đưa con vào vĩnh cửu của Chúa.  Amen!

Rabbouni

 

BÓNG MÁT

zzBóng mát:  Một thành phố, đi giữa trưa hè, những cơn gió nóng khắc nghiệt, khí trời oi ả mà không có được một bóng cây để dừng chân thì cho dù thành phố ấy có nhiều dáng vẻ của kiến trúc tân kỳ tài tình thế nào chăng nữa, chúng cũng chẳng có gì để hấp dẫn con người.  Những bề dầy bờ tường, những mảng xi măng vôi trắng toát lên kia làm sao mà có thể đụng chạm đến chiều sâu lòng con người được. Chỉ có những bóng mát bởi những hàng cây xanh, chiều nghiêng bóng ngả, những lá me rơi đậu vương trên tóc ai để có sợi thương sợi nhớ… và hoa Soan, hoa Sữa, hoa Phượng… đã gợi lên biết bao hình ảnh kỷ niệm thương cảm; những con đường dài dưới bóng cây cao ghi dấu chân son đã trở thành tuyệt tác của những nhà thi sĩ, những nhạc sĩ, những nhà văn với biết bao nhiêu cảm hứng cảm xúc thành những bài thơ những khúc nhạc, với bao nhiêu câu chuyện tình….

Bóng mát cuộc đời : Mỗi người, mỗi cộng đoàn trở thành bóng mát cho người khác.  Cuộc đời con người không thể tránh được những cơn thử thách, những sóng gió, những chao đảo, tội lỗi, khổ đau, nghèo nàn, bệnh tật, cô đơn, vũng lầy… nên rất cần đến bóng mát tâm hồn.  Vì thế mà mỗi người mỗi cộng đoàn cần trở thành một bóng mát cho người khác, là “nơi” điểm dừng thư dãn cho khách bộ hành sau những ngày dài căng thẳng; là “nơi” đôi chân được ngơi nghỉ để dịu cơn đau nhức mỏi, để mồ hôi ngừng chảy chờ cơn gió mát se da, lấy lại sức đã kiệt; là “nơi” dừng được uống ly nước mát trong lành, để nhìn lại quãng đường đã qua, hướng tương lai sắp tới.

****************************

Bóng mát vô tận.  Đức Giêsu, Thiên Chúa đi tìm bóng mát nơi con người để rồi chính Người cho họ một bóng mát vô tận.

Đang khi Thầy trò đi đường, Ngài đã ghé vào nhà Mácta và Maria….

Trời nóng bức mệt mỏi Ngài ghé đến bờ giếng gặp người phụ nữ Samari….

Câu chuyện người con hoang đàng.  Người em ra đi tìm bóng mát trần gian nhưng chẳng có nơi đâu là bóng mát thật.  Cuối cùng mới nhận ra và quay trở về bóng mát dưới mái nhà Cha.  Thằng anh cả ở ngay dưới bóng mát, thế mà anh ta có nhận ra không?  Thưa ông Phêrô, ông không cần phải dựng ba cái lều cho ai cả, bởi vì ông không biết mình đang nói gì.  Đám mây bao phủ lấy các ông… thế đấy.

Trong Cựu Ước, Dân Chúa đi về Đất Hứa 40 năm, mây che ban ngày, cột lửa soi ban đêm…

Thiên Chúa cho mọc lên cây Thầu Dầu bên cạnh Yona, để rợp bóng che đầu ông….

Mẹ Têrêsa đã trở thành bóng mát cho biết bao nhiêu người khốn khổ.  Mẹ là bóng mát êm ái cho người thở hơi cuối cùng.

Người môn đệ của Đức Kitô không chỉ là bóng mát cho người khác mà còn biết giới thiệu bóng mát tuyệt vời vô cùng, đó chính là Tình Cha.  Chỉ có trị liệu bằng Tình Cha mới có thể băng bó được những vết thương lâu ngày không khép miệng, hoặc có thể tẩy xoá hoặc ủi đi những vết nhăn hằn năm tháng.

Người môn đệ của Đức kitô, chất chứa trong tim mình tình yêu của Đức Kitô để trên môi miệng luôn nở nụ cười, nụ cười thân ái cảm thông chia sẻ.  Nụ cười như bóng mát chở che bao dung, dịu dàng cho khách bộ hành thân quen thiện cảm

Cộng đoàn của Đức Kitô là cộng đoàn bóng mát để cho bất cứ người bộ hành nào muốn dừng chân.  “Hãy đến mà xem”, rồi “ở lại” lâu hay mau tuỳ ý; bóng mát muôn đời chỉ là bóng mát, không khua khoắng ồn ào náo động; rất tầm thường nhỏ bé, âm thầm và lặng lẽ; bằng lòng với cả những người khách như vô tình dửng dưng hững hờ; không phân biệt người giầu người nghèo, xấu đẹp, sang hèn….

Cộng đoàn của Đức Kitô là bóng mát mà người khác thấy được ở nơi đó có niềm tin, có sức sống, sự bình an, bầu khí cầu nguyện, tình huynh đệ, và là dấu chỉ của nước Trời mai sau.  Khi rời bóng mát, người bộ hành còn mang trong hồn khung trời kỷ niệm thương nhớ, như đã gặp được Ai – Đó để cùng đồng hành trên những chặng đường cần phải tiếp tục bước đi.  Và do đó sự bình an, sức mạnh, lòng can đảm cần phải có nơi bóng mát để có thể tiếp sức cho người bộ hành đủ nghị lực tiến bước.

Bóng mát luôn cám ơn khách bộ hành ghé qua dù chỉ chốc lát.  Bóng mát cám ơn vì khách đã cho phép bóng mát được đón tiếp, được làm nhiệm vụ của mình.  Bóng mát chẳng có gì để mà tự phụ cả, bởi tất cả chỉ nhận từ nhưng không, có trở thành cây cao cổ thụ tán rộng cũng là ơn Trên ban cho. Apôlô trồng, Phaolô tưới, còn Chúa cho mọc lên.

****************************

Lời Tâm Sự

Tôi vẫn là người khách vô tình dửng dưng khi dừng chân ghé vào bóng mát.  Coi như đương nhiên phải có cho tôi.  Chưa một lần thầm cám ơn bóng mát.  Bóng mát chỉ là khao khát cho tôi khi những bước chân lữ hành của tôi trên trần gian sa mạc nắng cháy này và mỗi lần được dừng lại trong bóng mát rồi thì tôi chẳng cần biết bóng mát là ai, tên tuổi là gì.  Vâng, những người chung quanh tôi ơi!  Cha mẹ tôi ơi!  Anh em bạn bè tôi ơi!  Và những người tôi gặp trong cuộc hành trình đời người tôi ơi: Tôi Là Thế Đó!!!

****************************

Lạy Chúa, Chúa là bóng mát của cuộc đời con.  Lòng con luôn là những ngọn lửa hừng hực sôi sục; là sa mạc cát nóng bỏng đôi chân… con luôn cần Chúa là bóng mát chở che đời con để con được dịu đi những cơn si cơn mê cuồng dại, ảo ảnh phù hoa; để con nhìn cuộc đời nhìn mọi người bao dung  tích cực hơn.

Mong Manh

PHÉP RỬA KHIÊM NHƯỜNG

Sông Gio-đăng, tiếng Do Thái là “yarad” có nghĩa là đi xuống. Sông Gio-đăng phát nguồn từ ngọn núi Héc-mon ở độ cao 520m. Suốt 220km đường dài dòng sông không ngừng đi xuống. Thoạt tiên sông chảy vào hồ Hu-lê chỉ còn 68m trên mực nước biển. Kế đó sông chảy vào biển hồ Galilê, nơi Chúa Giêsu thường qua lại, và các tông đồ thường chài lưới. Ở đây lòng hồ sâu 212m dưới mực nước biển. Sông tiếp tục chảy xuống miền Nam, đổ vào Biển Chết. Ở đây độ sâu là 394m dưới mức nước biển. Có thể nói đây là điểm thấp nhất của địa cầu.

zzKhi Chúa Giêsu bước xuống sông Gio-đăng để chịu phép rửa, Người đã xuống chỗ thấp nhất không chỉ về chiều sâu theo không gian địa lý mà còn về chiều sâu tâm lý xã hội. Bước xuống để Gioan Baotixita làm phép rửa tội, Chúa Giêsu đã hòa mình vào dòng thác người tội lỗi, cần thống hối ăn năn. Tuy đến để cứu độ người tội lỗi, nhưng Chúa Giêsu không cho mình quyền đứng trên kẻ tội lỗi. Người đã hạ mình xuống ngang hàng với họ, liên đới với họ và trở nên anh em của họ. Không ai nhận ra Người. Mọi người đều cho rằng Người là một trong những kẻ tội lỗi.

Trong đêm Giáng Sinh, ta được chứng kiến một Thiên Chúa hạ mình xuống làm người. Làm một người bé nhỏ nghèo hèn như chưa đủ đối với tình yêu thương vô biên của Thiên Chúa, nên hôm nay Người lại hạ mình xuống thêm một bậc nữa, xuống tận đáy xã hội nhân loại khi nhận mình tội lỗi.

Hôm nay, bắt đầu cuộc đời công khai của Chúa Giêsu. Người bắt đầu xuất hiện để rao giảng Tin Mừng. Trước khi tiến ra gặp gỡ quần chúng, Chúa Giêsu đã tới gìm mình trong dòng sông Gio-đăng. Để chuẩn bị ra gặp loài người, Chúa Giêsu cảm thấy cần phải thanh tẩy. Mặc lấy xác phàm, Chúa Giêsu chưa cảm thấy mình gần với nhân loại cho đủ. Người còn hạ mình xuống làm một người tội lỗi. Người gìm mình xuống lòng sông Gio-đăng, dường như muốn mượn làn nước trong xanh tẩy sạch đi tất cả dáng vẻ cao quý của Thiên Chúa còn vương vấn nơi thân xác nhân loại của Người. Tẩy sạch đi tất cả những gì ngăn cách, để Người được thực sự là một người anh em của mọi người.

Dòng nước sông Gio-đăng có trong xanh đến mấy cũng đâu đủ sức rửa Thiên Chúa làm người. Thực ra chính Người tự rửa mình bằng sự khiêm nhường thẳm sâu. Khiêm nhướng là một phép rửa. Vì khiêm nhường là sự quên mình, là chết đi một chút. Gìm mình vào dòng sông là chấp nhận đau khổ và chết đi. Cái chết chính là phép rửa như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Thầy còn phải chịu một phép rửa, và Thầy những bồn chồn chờ đến lúc hoàn tất” (Lc 12,50). Người còn hỏi hai ông Gioan và Giacôbê khi hai ông này đến xin được ngồi bên tả, bên hữu trong nước Người: “Các ngươi có thể uống chén Ta uống và chịu thanh tẩy thứ thanh tẩy Ta phải chịu không?” (Mc 10,38). Khi nói thế Chúa Giêsu có ý nói đến cái chết Người sẽ phải chịu.

Một câu châm ngôn nói; Không ai thấy được tình yêu. Người ta chỉ thấy được những bằng chứng của tình yêu. Bằng chứng tình yêu của Chúa Giêsu đối với ta đó là sự hạ sinh làm một em bé nghèo hèn yếu ớt. Đó là sự khiêm nhường hoà mình vào đoàn lũ những tội nhân tới gìm mình trong dòng sông Gio-đăng. Tình yêu đã thúc đẩy Người đi những bước táo bạo, bất ngờ. Mượn dòng nước sám hối xoá đi mọi khoảng cách còn lại giữa Thiên Chúa và con người.

Cử chỉ khiêm nhường của Người là một lời mời gọi ta. Nếu ta cảm thấy mình còn xa cách Chúa. Nếu ta cảm thấy mình cần được thanh tẩy. Đừng ngần ngại thay đổi đời sống. Hãy mạnh dạn tiến đến lãnh nhận phép rửa của Chúa Giêsu để trở nên gần gũi với Người. Nếu ta chưa thể lãnh nhận phép rửa trong cái chết tủi nhục như Chúa Giêsu, ta vẫn có thể được thanh tẩy trong phép rửa khiêm nhường. Hãy rửa mình trong dòng lệ sám hối. Hãy tắm mình trong dòng nước khiêm cung. Như lời vua Đavit nói: “Lễ dâng Chúa là tâm hồn sám hối. Một tấm lòng tan nát giày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê” (Tv 50)

Khiêm nhường sám hối là bước khởi đầu để ta đón nhận Phúc Âm. Khiêm nhường sám hối là quay trở về nhà Cha, sống trọn tâm tình của người con thảo hiếu. Khi khiêm nhường trở về, ta sẽ gặp được người Cha nhân hậu đang đứng chờ ta. Người sẽ nói về ta như nói về Chúa Giêsu: “Đây là con Ta yêu dấu, Ta hài lòng về con”.

***

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con biết đến với Chúa và đến với anh em bằng sự khiêm nhường sám hối. Amen.

TGM. Ngô Quang Kiệt
(BĐ1:Is-42:1-4,6-7, BĐ2:Cv34-38, PÂ:Lc 3:15-16,21-22)

BẢNG CHỮ CÁI

zzA i cũng biết cuộc đời không hoàn hảo
B ởi nơi đâu cũng thấy lắm buồn phiền
C ho dù thế bạn vẫn mãi ngợi khen
D ù đang sống qua những ngày khốn khổ.
Đ ừng hờn căm hoặc mở lời than thở
E ngại gì khi Chúa ở cùng ta?
zzG ió có to, cùng bão táp phong ba…
H ãy trông cậy Đấng Toàn Năng Bất Diệt.
I m lặng tin vào những điều mình biết
K hông Tình Người cuộc sống sẽ ra sao?
L ấy đâu ra niềm vui lẫn tự hào?
M ãi cảm tạ vì những ơn quí giá
N gười luôn ban, với tình yêu cao cả
Ôi! hãy ra cho khỏi “chốn thương đau”
P hải biết rằng khi tha thiết nguyện cầu
Q uyền năng Người sẽ đem về chiến thắng,
R ạng ngời lên trong bóng đêm cay đắng.
S ao cứ chờ cứ đợi ở tương lai
T hay vì nhìn hiện tại mỗi ban mai?

Ư ớc mong bạn sống tâm tình cảm tạ
V ào những ngày sung túc hoặc tả tơi.
X ưng danh Người ở mọi lúc mọi nơi
Y êu mến Chúa… Bạn không còn buồn bã.

Trần Duy Nhiên dịch – http://www.moytura.com/reflections/alphabet.html

***********************************************

Lạy Cha là Chúa tể trời đất, 365 ngày cũ với những dang dở thiếu sót đã sang trang, nhường chỗ cho 365 ngày mới tốt đẹp hơn, thánh thiện hơn! Xin cho con nhận ra sự hiện diện của Chúa từ chữ A đến chữ Z mỗi khi con dùng ngôn ngữ để diễn tả tâm tình của mình. Xin cho con luôn nhớ đến Chúa mỗi khi con khóc hay cười, buồn hay vui; mỗi khi con thất bại hay thành công; trong những lúc con giận giữ hay tuyệt vọng; trong mỗi cảm xúc con người của mình đều có Chúa đang ở cùng con. 365 ngày trước mắt sẽ là một đoạn đường ngập đầy hoa và tiếng chim hót nếu con tung tăng đi bên Chúa mỗi ngày. Lạy Chúa, xin ở cùng con mỗi ngày trong suốt 365 ngày mới này. Amen!
LTCT

***********************************************

ALPHABET
A lthough things are not perfect
B ecause of trial or pain
C ontinue in thanksgiving
D o not begin to blame
ven when the times are hard
F ierce winds are bound to blow
G od is forever able
H old on to what you know
I magine life without His love
J oy would cease to be
K eep thanking Him for all the things
L ove imparts to thee
M ove out of “Camp Complaining”
N o weapon that is known
O n earth can yield the power
P raise can do alone
Q uit looking at the future
R edeem the time at hand
S tart every day with worship
T o “thank” is a command
U ntil we see Him coming
V ictorious in the sky
W e’ll run the race with gratitude
X alting God most high
Y es, there’ll be good times and yes some will be bad, but…
Z ion waits in glory…where none are ever sad !

NHỮNG MÓN QUÀ CỦA BA ĐẠO SĨ

zzTrích Maranatha

Giáng sinh lại về.  Thời gian này, người ta nghĩ đến việc mua quà tặng nhau.  Quà Giáng Sinh đã trở thành một thứ không thể thiếu để bày tỏ  tình cảm của những người thương mến nhau, dù họ có đặt niềm tin vào Thiên Chúa Giáng Trần hay không.  Thế nhưng, người ta quên mất rằng những món quà đầu tiên ngày Giáng Sinh là của ba đạo sĩ dâng lên Hài Nhi Giêsu.  Và kể từ đó, những đạo sĩ khác tiếp tục dâng lên Hài Nhi Giêsu những món quà nho nhỏ… Không phải dâng lên Hài Nhi nhập thể ở chuồng bò Bêlem, mà nhập thể lại từng ngày trong những con người quanh ta, đặc biệt là những người nghèo nàn, thiếu thốn, cô đơn.  Nếu ta tinh ý một tí, ta sẽ gặp lại nhiều đạo sĩ ấy.  Và sau đây là ba trong số bao nhiêu đạo sĩ của ngày nay đang dâng những món quà Giáng Sinh đầy ý nghĩa.  Độc giả sẽ thấy rằng trang phục của họ không giống các vị đạo sĩ xưa kia, nhưng tấm lòng của họ thì vẫn như thế.  Maranatha sưu tầm và chuyển ngữ để trao lại độc giả như món quà Giáng Sinh năm nay, với lòng mong ước rằng người đọc những mầu chuyện này sẽ tự biến mình thành đạo sĩ thứ tư.

NGƯỜI ĐẠO SĨ THỨ I

Một buổi tối trong mùa Giáng Sinh, một cậu bé độ sáu bảy tuổi đứng trước một cửa hàng. Cậu bé không mang giày và quần áo thì tơi tả. Một phụ nữ trẻ đi ngang qua, nhìn thấy em và đọc được ước mơ trong đôi mắt của em. Cô nắm tay em đưa vào cửa hàng. Cô mua cho em một đôi giày và một bộ đồ mới.

Khi ra lại ngoài đường, người phụ nữ nói với em: “Bây giờ cháu có thể về nhà và sống những ngày Lễ Giáng Sinh thật vui nhé!”

Em bé nhìn lên hỏi cô: “Cô ơi! Cô có phải là Chúa không?”

Người phụ nữ mỉm cười nói: “Không em à. Cô chỉ là một trong những người con của Chúa thôi!”

Cậu bé thốt lên: “Em biết ngay mà! Em biết là cô có họ hàng với Chúa mà!”

Dan Clark (Are you God?)

NGƯỜI ĐẠO SĨ THỨ II

Một cậu bé từng mong gặp được Chúa.  Cậu nghĩ rằng đường đến gặp Chúa hẳn là xa, nên cậu bỏ vào ba-lô nhiều hộp bánh, vài lon nước ngọt và bắt đầu lên đường.

Khi cậu đi được vài ô nhà, cậu thấy một bà lão.  Bà ngồi trên ghế đá công viên nhìn những con chim bồ câu đang vui đùa.  Cậu bé đến ngồi cạnh bà và mở ba-lô ra.  Cậu định lấy một lon nước ngọt để uống, nhưng khi thấy bà lão có vẻ đói, cậu tặng bà vài chiếc bánh.  Bà nhận lấy và mỉm cười với cậu.

Nụ cười bà thật tươi nên cậu muốn nhìn thấy một lần nữa, vì thế cậu tặng thêm bà lon nước ngọt.  Bà lại mỉm cười và cậu bé cảm thấy sung sướng.

Họ ngồi cạnh nhau suốt buổi chiều mà chẳng nói với nhau một lời.

Khi hoàng hôn xuống, cậu bé thấm mệt nên muốn về nhà.  Cậu đứng đậy bước đi vài bước, rồi bỗng quay mặt chạy lại cạnh bà lão, ôm hôn bà.  Bà mỉm cười với cậu với khuôn mặt rạng rỡ hơn bao giờ hết.

Về đến nhà, mẹ cậu ngạc nhiên vì thấy cậu thật vui.  Bà hỏi: “Cái gì hôm nay làm con vui như thế?” Cậu đáp: “Con đã ăn trưa với Chúa.”  Mẹ cậu chưa kịp phản ứng thì cậu đã nói thêm: “Mẹ biết không? Chúa có một nụ cười dễ thương nhất trên đời!”

Trong khi đó bà lão cũng về đến nhà, gương mặt rạng rỡ niềm vui. Con của bà ngạc nhiên nhìn gương mặt tươi rói của bà.  Cô hỏi: “Mẹ ơi, điều gì hôm nay làm mẹ vui như thế?” Bà đáp: “Mẹ đã ăn bánh với Chúa ngoài công viên!” Người con chưa kịp phản ứng gì thì bà nói tiếp: “Con biết không? Chúa trẻ hơn là mẹ nghĩ nhiều!”

Julie A. Manhan (An Afternoon in the Park)

NGƯỜI ĐẠO SĨ THỨ III

Thoạt nhìn, bà ta cũng giống như bất cứ một bà lão nào khác.  Bước đi chậm chạp trên tuyết, một mình, xơ xác, đầu cúi gục.  Những người qua lại trên hè phố đông người ngoảnh mặt đi, ít ra là bà cũng nhắc họ rằng đau khổ không hề tạm dừng trong mùa Giáng Sinh

Một đôi vợ chồng trẻ, cười cười nói nói, tay ôm đầy quà Giáng Sinh, không để ý đến bà lão kia.

Một người mẹ hối hả đưa hai đứa con về thăm bà ngoại.  Họ cũng không để ý đến bà.

Một mục sư chững chạc bước đi, tay phải cầm chặt quyển Kinh Thánh, như một chiến sĩ cầm vũ khí.  Nhưng đầu óc ông đang nghĩ đến những sự trên trời, nên ông cũng không màng lưu ý đến bà.

Nếu những người ấy lưu ý, hẳn họ thấy rằng bà lão không mang giày.  Bà đi chân không trên tuyết và nước đá.

Hai bàn tay bà nắm chặt vào cổ áo đứt nút để che cho khỏi gió.  Bà đừng lại và đứng lom khom ở trạm xe buýt.  Đầu bà quấn một chiếc khăn màu đỏ xanh.  Bà đứng chờ xe buýt để đi vào trung tâm thành phố.

Một người đàn ông lịch lãm, tay cầm chiếc cặp da, đứng cạnh bà, nhưng không quá gần.  Biết đâu bà chẳng mang một bệnh truyền nhiễm.

Một em thiếu nhi cũng chờ xe buýt.  Em nhìn đi nhìn lại chân của bà lão, nhưng không nói tiếng nào.

Xe buýt đến và bà lão chậm chạp, khó khăn bước lên.  Bà ngồi trên ghế ngang cạnh người lái xe.  Người đàn ông và cậu bé đi vội xuống phía dưới.  Người đàn ông ngồi cùng ghế với bà lắc lư khó chịu và xoay mấy ngón tay.  “Cái bà già!” ông nghĩ thế!

Người lái xe nhìn thấy chân không của bà, bèn nghĩ: “dân vùng này càng ngày càng nghèo thêm. Tôi ghét nhìn cảnh này, tôi sẽ thích hơn ngày nào họ cho tôi lái tuyến đường Đại Học.”

Một cậu bé chỉ vào bà lão. ”Mẹ ơi! Nhìn kìa, bà già kia đi chân không”

Người mẹ bối rồi nắm tay con kéo xuống: “Andrew!  Đừng chỉ tay về người khác.  Như vậy là không lịch sự.”  Rồi bà nhìn ra cửa sổ.

“Bà này hẳn có con lớn chứ!” một phụ nữ mặc áo lông cừu thốt lên.  “Con bà chắc phải xấu hổ vì bà!”  Phụ nữ này cảm thấy hãnh diện vì cô chăm sóc mẹ mình đàng hoàng.

Một cô giáo ngồi ở giữa xe siết chặt gói quà trên đùi mình.  Cô nói với người bạn ngồi bên cạnh: “Chẳng phải là mình đã trả đủ thuế để lo cho những trường hợp này sao?”

Cô bạn trả lời “Đấy là sai lầm quản trị của phe Cộng Hòa; họ ăn cắp của người nghèo để cung cấp cho người giàu”.  Một ông tóc muối tiêu can thiệp: “Không phải đâu!  Đấy là do phe Dân Chủ.  Các chương trình an sinh xã hội của phe Dân Chủ biến người ta thành kẻ lười biếng và cầm tù người ta trong cái nghèo!”

Một cậu sinh viên ăn mặc bảnh bao lên tiếng: “Người ta phải học cách tiết kiệm!  Nếu bà già này biết tiết kiệm từ hồi còn trẻ, thì bây giờ bà đâu khổ đến thế.  Lỗi là do bà ta thôi!”

Tất cả những người ấy cảm thấy tự hào vì mình đã phân tích tình huống thật sắc sảo.

Tuy nhiên, một thương gia có lòng cảm thấy xúc phạm vì sự thờ ơ của các người cùng xe với mình.  Ông mở ví rút ra một tờ 20 đô-la nhăn nheo.  Ông khẳng khái bước lên và đặt tờ giấy bạc trong bàn tay run run của bà lão.  “Bà ơi, tặng bà để mua giày nè.”

Bà lão gật đầu cám ơn.  Người thương gia lui về ghế ngồi, hài lòng vì thấy rằng mình là một người biết biến lòng trắc ẩn thành hành động.

Một nữ Kitô hữu nhìn thấy mọi sự.  Cô bắt cầu cầu nguyện thinh lặng.  “Lạy Chúa, con không có tiền.  Con không thể nào giúp được bà ấy.  Nhưng lạy Chúa, con có thể dâng lên Chúa những nhu cầu của con người.  Con biết Chúa đầy lòng yêu thương.  Chúa làm được những điều bất khả.  Xin Chúa hãy tỏ hiện vinh quang Người trên bà lão này.  Xin cho đôi giày rơi xuống từ trời như man-na xưa, để cho bà lão này có được đôi giày mừng Giáng Sinh.”  Và người phụ nữ cảm thấy mình biết sống đời cầu nguyện.

Đến trạm tiếp theo, một cậu thanh niên lên xe.  Cậu mặc một chiếc áo gió màu xanh, thắt một khăn choàng màu nâu quanh cổ, đầu đội chiếc mũ xám che phủ đôi tai.  Một sợi dây nghe nhạc chạy luồn dưới nón vào tai nối liền với một máy nghe walkman.  Cậu lắc lư thân mình theo điệu nhạc mà chỉ một mình cậu nghe.  Cậu trả tiền vé rồi buông người xuống đối diện với bà lão.

Nhìn thấy đôi chân không của bà, cậu ngưng lắc lư.  Cậu thẳng người bất động.  Cậu đưa mắt nhìn chân bà rồi nhìn chân mình.  Cậu mang một đôi giày hiệu, đắt giá, mới toanh.  Hẳn cậu đã phải đề dành khá lâu với đồng lương ít ỏi để mua đôi giày ấy.  Bạn bè trong nhóm chắc sẽ cho rắng cậu rất ‘bảnh’ khi mang đôi giày này.

Cậu cúi mình xuống, tháo dây giày.  Cậu cởi đôi giày mới, cởi đôi vớ đang mang rồi quỳ xuống dưới chân bà lão.  “Má ơi!  Con thấy má không có giày.  Còn con thì có đây!”  Dịu dàng, anh nhè nhẹ nâng đôi chân khẳng khiu của bà lão lên.  Anh mang vớ và giày của anh vào chân bà.  Bà lão gật đầu cám ơn.

Xe buýt dừng lại ở một trạm kế tiếp.  Cậu thanh niên xuống xe.  Hành khách trên xe chồm theo nhìn cậu ta bước đi chân không trên tuyết.

Một người hỏi: “Anh ta là ai vậy hả?”

Một người khác đáp: “Chắc là một ngôn sứ!”

Người khác lên tiếng: “Hẳn là một ông thánh”

Có người hô to lên: “Xem kìa! Có ánh hào quang trên đầu anh ta”

Người nữ Kitô hữu bảo: “Anh ta chắc là Con Chúa.”

Nhưng cậu bé từng chỉ tay vào bà lão lại nói: “Không phải đâu mẹ ơi! Con nhìn kỹ anh ấy rồi… Anh ấy chỉ là một người thôi!”

Earnest Thompson (Only A Man)

 

NGÔI LỜI LÀ ÁNH SÁNG

zzMáng cỏ luôn làm cho chúng ta rúng động, vì đứng trước máng cỏ là đối diện với một Tình Yêu, một Tình Yêu mở ra bao la bát ngát. Cha đã mở ra bằng cách sai Con xuống thế làm người. Con đã mở ra bằng cách vâng phục ý Cha. Thánh Thần đã mở ra bằng cách tác động nơi lòng Đức Trinh Nữ.

Máng cỏ giúp ta gặp được Tình Yêu của Ba Ngôi, Tình Yêu không lùi bước trước sự khép kín của nhân loại.

Đến Bêlem, chúng ta bắt gặp một Tình Yêu khiêm tốn. Thiên Chúa đã cúi xuống để trao tặng cho con người. Con Thiên Chúa làm người sinh nơi hang súc vật, không một chút hào quang: Ngài sinh ra trong đêm tối; không một chút quyền lực: Ngài là trẻ thơ khóc oe oe. Đấng siêu việt nay chịu giới hạn bởi thời gian. Đấng Tuyệt Đối lại mang một thân xác hữu hạn.

Tình Yêu khiêm tốn không làm chúng ta bị choáng ngợp. không ban bố một cách cha chú, nhưng biết gõ cửa và chờ đợi.

Thiên Chúa giàu sang đã trở nên nghèo để chúng ta được trở nên giàu có (2Cr 8,9).

Hơn hai ngàn năm đã trôi qua kể từ khi Ngôi Lời đặt chân trên trái đất. Ngài đã thắp lên ánh sáng trong bóng đêm. Ngài chính là Ánh Sáng chiếu soi mọi người (Ga 1,9). Tiếc thay nhiều người đã chọn bóng tối, vì bóng tối dễ chịu hơn, đồng lõa hơn (Ga 3,19). Bóng tối ở ngoài tôi và bóng tối ở trong tôi.

Ngôi Lời đã đến nhà của Ngài, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận (Ga 1,11).

Đức Giêsu còn phải nhập thể cho đến tận thế.

Truyền giáo là làm cho Ngài được sinh ra ở đây, hôm nay, trong dòng văn hoá truyền thống của dân tộc, trong những biến chuyển của đất nước thời mở cửa, trong thế giới đã bước qua thế kỷ 21.

Sống mầu nhiệm Nhập Thể là trở nên một Maria khác, đón nhận Đức Giêsu vào đời mình, cưu mang Ngài, và sinh ra Ngài cho thế giới.

Cuộc sinh hạ nào cũng bắt trắc và đau đớn. Xin thắp lên một ngọn nến từ Ánh Sáng của Ngôi Lời. Xin gom lại trăm triệu ngọn nến để đẩy lui bóng tối trên mặt đất.

***

Giữa giá rét của mùa đông, xin cho con gặp Chúa.

Giữa những long đong và bấp bênh của phận người, xin cho con gần Chúa.

Giữa cảnh nghèo khó và trơ trụi, xin cho con thấy Chúa luôn đi bên con.

Lạy Chúa Giêsu bé thơ nằm trong máng cỏ, xin cho con cảm nếm được sự bình an của Chúa, ngay giữa những âu lo hàng ngày, và giữa bao điều không như ý.

Và xin cho con dám sống như Chúa vì Chúa đã dám sống như con.

(Trích trong ‘Manna’)

HÊRÔĐÊ

zzNhững ngày qua, các bạn đã nghe những lời êm ái, tôi sợ rằng các bạn ngủ quên đi mất.  Tôi muốn đánh thức các bạn.  Ít ra là những ai đồng quan điểm với tôi.  Các bạn đã nghe nhiều người kể lại về những điều họ đón nhận được nơi Giêsu.  Chưa nghe ai nói đến những điều phiền toái mà Giêsu đã mang đến.  Một trong những người bị rắc rối từ khi Giêsu sinh ra, đó là tôi: Hêrôđê.

Người đạo sĩ lúc nãy nói rằng người ta dễ thức tỉnh vì quyền lợi hơn là vì niềm tin, ông tưởng rằng đó là một khám phá độc đáo.  Thực ra, điều đó chẳng có gì lạ, rất bình thường nữa là khác.  Tôi đã thức tỉnh vì quyền lợi, đúng như vậy, và tôi cũng chẳng cần phải giấu giếm chuyện đó.

Tôi là vua, nhưng không phải là một ông vua cha truyền con nối, mà nhờ sự phấn đấu của chính bản thân tôi.  Các bạn còn nhớ chứ?  Chính tôi là người đã cho trùng tu đền thờ Giêrusalem: Đấy! tôi là một nhân vật có uy tín trong giáo quyền, cũng như trong chính quyền.

Tóm lại, tôi thuộc loại người thực tế, biết mình muốn gì, biết mình cần đi đến đâu, và đủ thông minh để gạt bỏ mọi trở ngại trên đường mình đi.

Bây giờ tôi nói đến chuyện Giêsu sinh ra.

Có mấy đạo sĩ đến nói cho tôi biết rằng họ đã nhận ra dấu hiệu của vua dân Do thái mới sinh ra.  Vị vua này là đấng Mêssia mà các tiên tri đã từng loan báo.  Thú thật, tôi không tin nổi chuyện này. Vì lời loan báo của tiên tri Isaia đã có cách đây 700 năm rồi.  Biết bao nhiêu thế hệ chờ đợi, mà có thấy gì đâu.  Vậy thì không có lý gì ngày hôm nay đấng Messia lại xuất hiện.

Vả lại, thời buổi này đang là lúc ổn định.  Chúng tôi bị người La Mã đô hộ thật đấy, nhưng thời gian khó khăn lúc đầu đã qua rồi, bây giờ thì người ta đã quen.  Ngoài món thuế phải nộp thường xuyên cho Rôma, nói chung, đời sống dân chúng cũng thoải mái, mọi sinh hoạt đều bình thường.  Trừ một vài nhóm Zélote ngông cuồng quá khích, còn lại số đông dân chúng chỉ muốn yên thân làm ăn sinh sống.  Chẳng ai hoài công trông chờ một Đấng Giải Phóng làm chi nữa.  Hiện trạng của xã hội thời tôi là thế đó.  Với cương vị là vua, là người lãnh đạo, tôi muốn duy trì tình trạng ổn định đó.  Vậy mà mấy ông đạo sĩ ở đâu đến đã làm rối beng hết mọi sự.  Dân chúng bắt đầu phao tin đồn nhảm.  Cuộc sống yên hàn ở Giêrusalem bắt đầu rục rịch xáo trộn.  Nhiều người đã ngồi mơ tưởng đến những chuyện viễn vông, và tệ hơn nữa, có người đã dám nhỏ to về ngôi vua của tôi.

Trước tình hình đó, tôi phải làm một cái gì để dập tắt những mầm mống phản loạn.  Các bạn còn nhớ chứ?  Tôi đã ra lệnh giết các đứa bé từ hai tuổi trở xuống trong phạm vi Bêlem.  Với cái chết của chúng, dư luận bất lợi cũng tiêu tan.  Có thể sẽ có người cho tôi là tàn ác, khát máu, khi ra lệnh giết các trẻ em vô tội.  Câu trả lời của tôi là thế này: “thà rằng một số đứa con nít hy sinh còn hơn là để sống sót những mầm móng sẽ gây rối loạn cho cả xã hội Do Thái sau này.”  Đạo đức và những tình cảm nhỏ nhặt đôi khi phải nhường bước cho sự tính toán khôn ngoan, nhất là trong cái nhìn của một người có trách nhiệm lãnh đạo như tôi.

Các bạn là những người bị Giêsu lôi cuốn, nên có thể sẽ cho rằng tôi sai lầm khi không đón nhận Giêsu, tôi mù quáng vì đã không chịu đến gặp Giêsu để được đổi mới cuộc đời…

Coi chừng các bạn đang nói chuyện lý thuyết đấy: Thử đặt vào địa vị của tôi, các bạn sẽ thấy. Đến với Giêsu, có nghĩa là rời bỏ cung điện của mình.  Đi theo mấy tên đạo sĩ kia, có nghĩa là phải chấp nhận Giêsu là vua dân Do Thái, thế ngai vàng của tôi hiện giờ thì sao?

Rõ ràng là việc Giêsu sinh ra đã gây cho tôi nhiều rắc rối.  Cũng như bao nhiêu lần gặp khó khăn khác, tôi phải suy nghĩ và chọn lựa: Một là Giêsu, hai là chính mình.  Tôi đã quyết định dứt khoát: tôi đã chọn chính mình.

Các bạn thấy rằng cuối cùng tôi đã gạt câu chuyện giáng sinh sang một bên.  Và nếu cần, tiếp tục thực hiện một vài biện pháp mạnh để dập tan những rắc rối có thể có.  Các bạn hãy tin tôi đi.  Đừng bị lệ thuộc vào những tình cảm vụn vặt, hãy biết suy tính khôn ngoan trong cuộc sống, và các bạn sẽ thành công.  Tôi đã sống như thế và tôi đã thành công.

LỜI ĐÚC KẾT

Hêrôđê đã sống như vậy và ông đã thành công.  Quả thật ông đã ngồi vững trên ngai vàng cho đến chết.  Nếu chúng ta hiểu sự thành công theo quan điểm của ông, thì Đức Giêsu đã thất bại, thất bại một cách chua cay: Ngài đã được gì?  Tiền tài?  Không!  Danh vọng?  Không!  Chức tước?  Không!  Ngai vàng của Ngài là thập giá.

Vấn đề của Hêrôđê cũng là vấn đề của chúng ta: Chọn lựa chính mình làm vua hay chọn Đức Giêsu làm vua.  Ngài vẫn còn đó và gọi mời, nhưng lời kêu mời của Ngài cũng nhè nhẹ như tiếng hát của thiên thần đêm Noel, mơ hồ như ánh sao của đạo sĩ lúc ẩn lúc hiện: một lời kêu mời vừa đủ rõ để chúng ta đón nhận nhưng không trói buộc chúng ta nên chúng ta có thể gạt qua một bên, như Hêrôđê.

Dù sao, những câu chuyện được nghe đều mang âm hưởng của cuộc sống hôm nay.  Ngày hôm nay, vẫn còn những con gái của chủ quán, ý thức rằng mình đang thiếu thốn một cái gì chưa thể đặt tên, rồi thức giấc trong đêm hướng lòng về hài Nhi để nhận lấy ánh sáng và nụ cười.  Ngày hôm nay, vẫn còn những “con lừa” đến bên cạnh Hài Nhi để phục vụ, rồi dần dà thông cảm yêu thương anh em mình, những người “có sừng” nhưng tốt bụng.  Ngày hôm nay, vẫn còn những đạo sĩ thứ nhất, những người tin tưởng vào Đức kitô, bước về với Ngài qua những tháng ngày đen tối, qua những tâm trạng trống rỗng và nguôị lạnh, nhưng chắc chắn rằng Ngài sẽ trung thành chờ đón ở cuối đường.  Và ngày hôm nay cũng vẫn còn không ít Hêrôdê, những người đã gạt câu chuyện Giáng Sinh của Giêsu qua một bên, và nếu cần, thực hiện một vài biện pháp mạnh để đập tan những tiến rên la nho nhỏ trong lòng, để tránh những phiền toái của cuộc đời.

Trong mùa Giáng-Sinh này, chúng ta sẽ là ai?  Là con gái chủ quán?  Là con lừa bên máng cỏ?  Là người đạo sĩ thứ nhất hay chúng ta là Hêrôđê?  Và tùy thuộc ở câu trả lời của một người mà niềm vui Giáng Sinh có đến với chúng ta hay không.

Đúng là niềm vui Giáng Sinh đã được ban cho, nhưng chúng ta cần phải đến với cõi lòng trống rỗng như người đạo sĩ thứ tư thì mới còn chỗ để cho niềm vui Giáng Sinh lấp đầy.  Có như thế thì lời loan báo cho mục đồng mới trở nên lời loan báo cho chúng ta: “Này, ta đem đến cho các ngươi một niềm vui to tát: hôm nay Đức kitô đã sinh ra cho các ngươi.” (Lc 2, 10).

Vâng, cho chúng ta! Cho mỗi một người trong chúng ta!

Trần Duy Nhiên