SỰ TÍCH CON CỌP

zzNgày xưa khi mà loài người đang sống gần với muông thú trong rừng.

Một con cọp từ trong rừng đi ra, thấy một anh nông dân cùng một con trâu đang cày dưới ruộng. Trâu cặm cụi đi từng bước, lâu lâu lại bị quất một roi vào mông. Cọp lấy làm ngạc nhiên. Đến trưa, mở cày, Cọp liền đi lại gần Trâu hỏi:

– Này, trông anh khỏe thế, sao anh lại để cho người đánh đập khổ sở như vậy?

Trâu trả lời khẽ vào tai Cọp:

– Người tuy nhỏ, nhưng người có trí khôn, anh ạ!

Cọp không hiểu, tò mò hỏi:

– Trí khôn là cái gì? Nó như thế nào?

Trâu không biết giải thích ra sao, đành trả lời qua quýt:

– Trí khôn là trí khôn, chứ còn là cái gì nữa? Muốn biết rõ thì hỏi người ấy!

Cọp thong thả bước lại chỗ anh nông dân và hỏi:

– Trí khôn của anh đâu, cho tôi xem một tí có được không?

Anh nông dân suy nghĩ một lát rồi nói:

– Trí khôn tôi để ở nhà. Để tôi về lấy cho anh xem. Anh có cần, tôi sẽ cho anh một ít.

Cọp nghe nói, mừng lắm.  Anh nông dân toan đi, lại làm như sực nhớ ra điều gì bèn nói:

– Nhưng mà tôi đi khỏi, lỡ anh ăn mất trâu của tôi thì sao?

Cọp đang băn khoăn chưa biết trả lời thế nào thì anh nông dân đã nói tiếp:

– Hay là anh chịu khó để tôi buộc tạm vào gốc cây này cho tôi được yên tâm.

Cọp ưng thuận, anh nông dân bèn lấy dây thừng trói cọp thật chặt vào một gốc cây.  Xong anh lấy rơm chất chung quanh Cọp, châm lửa đốt và quát:

– Trí khôn của ta đây! Trí khôn của ta đây!

Trâu thấy vậy thích quá, bò lăn ra mà cười, không may hàm trên va vào đá, răng gãy không còn chiếc nào.  Mãi sau dây thừng cháy đứt, Cọp mới vùng dậy ba chân bốn cẳng chạy thẳng vào rừng không dám ngoái nhìn lại.

Từ đó, cọp sinh ra con nào trên mình cũng có những vằn đen dài, vốn là dấu tích những vết cháy, còn trâu thì chẳng con nào có răng ở hàm trên cả.

*****************************************

Quả thực, trong muôn loài tạo vật thì con người là thụ tạo cao cả nhất, vượt xa muôn loài, muôn thú.  Vì con người được Thiên Chúa ưu ái tạo dựng giống hình ảnh Ngài.  Có lý trí, ý chí và tự do.  Con người còn được Thiên Chúa ban quyền thống trị muôn loài, làm chủ vạn vật.  Cho dù là những sinh vật bé nhỏ hay những loài vật mãnh thú hổ, báo, sư tử cũng đều phải quy phục con người. Cho dù là những loài tinh khôn cũng chỉ là bắt chước con người chứ không thể sánh bằng con người.

Vì thế nhân ngày đầu năm là dịp thuận lợi để chúng ta tạ ơn Chúa đã tạo dựng chúng ta vượt xa muôn loài muôn vật và còn cho chúng ta được nên giống hình ảnh Ngài.  Tạ ơn Chúa đã yêu thương chúng ta vô bờ bến, cho dù phận người còn nhiều yếu đuối, bất toàn, nhưng tình yêu Chúa mãi rộng lớn có thể “phủ lấp muôn vàn tội lỗi chúng ta”.

Tạ ơn Chúa về một năm đã qua luôn được bình an trong tay Chúa.  Cho dù cuộc sống còn có những khó khăn, nhưng chính Thiên Chúa đã dìu chúng ta đi qua những thăng trầm của giòng đời.  Cho dù giòng đời đâu mấy khi bình yên nhưng Chúa vẫn nâng đỡ chúng ta bằng những ơn lành hồn xác.

Tạ ơn Chúa còn là dịp để chúng ta biết sống sao cho xứng với hồng ân ban tặng.  Thiên Chúa cho chúng ta nên giống hình ảnh Ngài, thì chúng ta hãy sống tự chủ bản thân, đừng buông mình theo những đam mê tội lỗi, đừng phá hủy nét đẹp của tâm hồn bởi những thói hư tật xấu.  Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta cho dù chúng ta còn nhiều bất xứng thì chúng ta hãy sống tình yêu đó với tha nhân.  Hãy có lòng nhân từ như Thiên Chúa là Đấng nhân từ.  Hãy sống quảng đại vì Thiên Chúa luôn quảng đại với chúng ta.  Hãy trao tặng cho nhau niềm vui và hạnh phúc vì chính Thiên Chúa luôn ban xuống đời ta biết bao ơn lành hồn xác.

Xin Chúa gìn giữ chúng ta luôn thánh thiện xứng đáng là hình ảnh của Chúa.  Xin Chúa chúc lành cho những ngày xuân chúng ta tràn ngập niềm vui và hạnh phúc.  Nguyện xin Chúa xuân ban đến cho mọi nhà và mọi người một năm mới an bình và hạnh phúc.  Amen!

Lm Tạ Duy Tuyền

HẠNH PHÚC ĐÍCH THẬT

Tai nạn giao thông ở ngoại ô thành phố Paris năm nào đã cướp đi mạng sống của công nương Diana. Cái chết của bà làm hàng triệu người xúc động.  Người ta thương bà vì bà xinh đẹp, bà nhân từ và vì bà phải mất đi cuộc sống này khi tuổi đời còn qúa trẻ, chưa được hưởng trọn vẹn niềm vui hạnh phúc.  Hạnh phúc là niềm khát khao của mọi người.  Con người sinh ra là để được sống hạnh phúc. Cả đời người là cuộc hành trình kiếm tìm hạnh phúc. Vậy hạnh phúc ở đâu ? Hạnh phúc là gì ?

***

Bạn thân mến! Thiên Chúa cũng bận tâm đến hạnh phúc của con người. Những gì Ngài làm cho ta như tạo dựng, nhập thể, cứu chuộc, thánh hóa..v..v.. Tất cả đều nhằm đem lại hạnh phúc cho ta trong cuộc đời này và cả cuộc đời mai sau nữa. Hạnh phúc của Thiên Chúa như gắn liền với hạnh phúc của con người. Thiên Chúa vui khi thấy con người hạnh phúc.

Định nghĩa hạnh phúc là điều không dễ làm, vì mỗi người có một quan niệm khác nhau về hạnh phúc, và nơi mỗi người, quan niệm này cũng biến đổi theo thời gian. Thường ta hay chạy theo những cái bóng của hạnh phúc, để rồi vỡ mộng, nhưng nhờ đó ta dần dần hiểu hơn thế nào là “hạnh phúc đích thật”: Hạnh phúc đích thật không nằm nơi của cải; kiến thức hay quyền uy. Hạnh phúc đích thật không do chiếm đoạt những gì mình muốn, nhưng do trao hiến những điều quý nhất của mình. Hạnh phúc đích thật là mãn nguyện với những gì mình được ban tặng; là niềm vui nhẹ nhàng, là bình an sâu lắng.  Hạnh phúc đích thật là sự an bình ổn thỏa giữa tôi với Chúa, giữa tôi với anh em, và giữa tôi với chính tôi…

Sống ở đời, con người thấy mình không hạnh phúc trọn vẹn.  Hạnh phúc bao giờ cũng được pha trộn với mồ hôi và nước mắt. Nhưng có hạnh phúc thật nào lại không mua bằng khổ đau?  Chỉ ai biết yêu thực sự, mới cảm thấy hạnh phúc thực sự.

Chúng ta cần nhiều thời gian để suy đi nghĩ lại, và nhất là cần nhiều ơn ban từ trời cao giúp ta thấu hiểu được các mối phúc.  Cũng như trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay,  những điều người đời coi là bất hạnh, Ðức Giêsu bảo đó là hạnh phúc đích thật:  nghèo, đói, khóc than, bị oán ghét, bị khai trừ, bị sỉ vả..v..v.. những điều đó tự chúng chẳng có giá trị gì.  Nhưng nếu ta nghèo vì thanh liêm, đói vì ngay thẳng, khóc vì đại nghĩa, bị ghét bỏ vì nói lên dự thật, bị sỉ vả vì Chúa ..v..v..thì ta thật là người có phúc.  Hạnh phúc đó xảy ra ngay trong hiện tại, nơi một lương tâm thanh thản.  Ta thấy mình giàu lên trong cảnh nghèo khó, no thỏa khi đói khát, vui tươi khi rơi lệ, và nhảy mừng khi bị bách hại.

Trải qua bao nhiêu thế hệ, có biết bao Kitô hữu đã sống các mối phúc thật trong đời mình.  Họ cảm nghiệm được cái nghịch lý dễ thương; cái thâm sâu cao cả của Lời Chúa đã khắc ghi trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay.

Không phải chỉ có bốn hay tám mối phúc trong Tin Mừng. Phúc cho ai nghe và giữ Lời Chúa, phúc cho ai không thấy mà tin… Ðức Giêsu có thể kéo dài các mối phúc đến vô tận, để các mối phúc đi vào mọi ngõ ngách của đời thường. Ước gì mỗi người trong chúng ta biết noi gương bắt chước Đức Giêsu, biết viết lên những mối phúc mới, cậy dựa vào những niềm vui và ơn ban Chúa dành cho ta trong cuộc sống hàng ngày.

***

Lạy Chúa Giêsu, các sách Tin Mừng chẳng khi nào nói Chúa cười, nhưng con tin Chúa vẫn cười khi thấy các trẻ em quấn quýt bên Chúa.  Chúa vẫn cười khi hồn nhiên ăn uống với các tội nhân.  Chúa đã cố giấu nụ cười trước hai môn đệ trên đường Emmau khi Chúa giả vờ muốn đi xa hơn nữa. Nụ cười của Chúa luôn ẩn hiện trong Tin Mừng.  Nụ cười ấy hòa lẫn với niềm vui trào dâng của người được lành bệnh; của người chết sống lại và của người đàn bà tội lỗi được ơn tha thứ …

Lạy Chúa, có những niềm vui Chúa muốn trao cho con hôm nay, có sự bình an sâu lắng Chúa muốn để lại trong con. Xin dạy con biết tươi cười, cả khi cuộc đời chẳng mỉm cười với con.  Xin cho con biết mến yêu cuộc sống, dù không phải tất cả đều là màu hồng.  Con hay lo âu và chản nản, nhưng xin đừng để nụ cười tắt trên môi của con.  Xin cho con luôn cảm thấy hạnh phúc, vì biết mình được Chúa yêu thương, và được sai đi để thông truyền tình thương ấy cho anh chị em của con. Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1:Jer.17:5-8 – BĐ2:1Cor.15:12,16-20 – PÂ:Lc.6:17,20-26)

VẠN SỰ NHƯ Ý… CHÚA

zzDịp tết tôi có nhận được lá thư của người thân ở nước ngoài, cầu chúc cho tôi “vạn sự như ý” được nhắc đi nhắc lại gần ba lần.

Tôi hiểu người thân của tôi rất thương mến tôi, quan tâm nhiều tới tôi, mong ước cho tôi được may mắn điều này điều kia, không muốn tôi phải khổ, không muốn tôi gặp những khó khăn… Vạn sự đây chắc không phải chỉ có mười ngàn lần mà là mọi việc xẩy ra đều tốt đẹp như ý muốn, và đó là hạnh phúc nhất của con người, rất là tự nhiên thôi.  Thử hỏi trên đời này có ai lại “mát” đến cỡ muốn đau khổ, muốn phiền toái, muốn thất bại, mọi việc xẩy ra đều ngoài ý muốn bao giờ đâu.  Các tôn giáo này các giáo phái kia đều muốn giúp con người cách này cách khác thoát khỏi khổ, vì không được như ý muốn là khổ, muốn giầu mà cứ nghèo mãi chẳng khổ là gì?  Muốn bình yên mà cứ gặp tai nạn hoài chẳng khổ là gì?

Xưa nay người ta vẫn hiểu công khai hoặc hiểu ngầm là Ý Chúa thì luôn ngược với ý người ta nên người ta phải khổ.  Khi phải khổ thì người ta chẳng còn tha thiết gì với Đấng ấy, càng xa càng tốt, càng dửng dưng càng khỏe, càng tránh được bao nhiêu càng đỡ phiền toái bấy nhiêu…  Bởi vì đấng ấy có nhiều quyền hành muốn sao nên vậy, mọi vật đều phải tuân thủ.  Khi nổi cơn ngông lên thì giáng họa, đánh phạt, răn đe đủ điều, có khi dùng tạo vật làm những trò tiêu khiển; Ngài như con muỗi sốt rét lâu lâu chích cho ta một phát chơi đỡ buồn.  Gặp đường cùng con người quay lại chống đối, giơ nắm đấm, vênh mặt lên nghênh hoặc con người không tìm được lối thoát thì đành phải ngậm bồ hòn chịu vậy.  Có người gắng công gồng mình tập chịu vậy, rồi cho đó là một nhân đức, lập công; khi chịu vậy đã quen thì cho đó là đỉnh cao của đời sống đức tin, và đi đến đâu cũng khuyên bảo người khác một cách rất sốt sắng là “Ý Chúa đấy, hãy… chịu vậy”.  Gặp người chịu vậy thì họ lại chịu vậy, gặp người không chịu vậy thì họ dù không tỏ thái độ ra bên ngoài nhưng bên trong cũng giận điên lên!!!

Có điều con người muốn nhận diện rõ ràng đâu là ý Chúa, đâu là ý người ta, đâu là ý Bề trên?  Hay bị lẫn lộn.  Ý Chúa thì ráng cúi đầu chịu vậy, chứ còn ý người ta thì….. không thể chịu được, ăn thua đủ, sòng phẳng.  Ông muốn gà bà muốn vịt, ông muốn không bà muốn có, muốn có điện lại bị cúp điện, muốn làm hòa mà nó lại chẳng cần… như thế có phải ý Chúa không?

************************************

Đức Kitô, hoàn toàn vâng theo Ý Cha.

– “Các hi sinh cùng lễ vật, các lễ toàn thiêu cùng tạ tội, Người đã không màng không đoái, bấy giờ Ngài đã nói: Này con đến để thi hành ý muốn của Người” (Do thái 10, 8-9)

– “Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, nhưng đã mở tai con; lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa không đòi, con liền thưa : “Này con xin đến! Trong sách đã có lời chép về con rằng: con thích làm theo thánh ý, và ấp ủ luật Chúa trong lòng, lạy Thiên Chúa của con”. (Tv 39,7-8)

– “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người. (Ga 4,34)

Đây cũng là vấn đề dễ gây hiểu lầm.  Nhiều phong trào Công giáo tự nhận là công trình của Ngài và tự hào là mình đang cố gắng làm thật tốt công trình của Ngài – như cố Hồng y Thuận đã ghi lại kinh nghiệm khi đặc trách huấn luyện linh mục – chủng sinh và phụ trách Công Giáo Tiến Hành toàn miền Nam – quan trọng lắm chứ, vĩ đại lắm chứ!!  Cần phải có trình độ kiến thức và tổ chức mới chu toàn trọng trách đó.  Nhưng mãi tới khi vào trong tù, ngài mới nhận ra rằng Tôi đã chọn công trình của Chúa nhưng không chọn Chúa.  Một kinh nghiệm xương máu mà rất nhiều cộng đoàn đang vô tình hăng hái lăn theo vết xe sa lầy tự hào, tự tôn trước những cộng đoàn bình thường khác…

Đức Giêsu đã để lại cho chúng ta một tiêu chuẩn rõ ràng.  Muốn thực hành theo ý Cha thì điều căn bản là yêu mến Cha.  Nói theo kiểu cố Hồng y Thuận đó là phải chọn Chúa, yêu Chúa, sống kết hợp với Chúa làm nền tảng cho việc thực hiện công trình của Chúa:

“Nhưng chuyện đó xẩy ra, là để cho thế gian biết rằng, Thầy yêu mến Chúa Cha, và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy”  (Ga 14,31).

Thế nhưng cũng đâu phải là chuyện dễ dàng.  Tội lỗi con người đã đè lên vai gánh nặng và Ngài biết trước được cái chết sắp đến nên mặc dù trong vườn Cây Dầu ban đêm lạnh giá mà Ngài cũng mướt mồ hôi, chẳng những mồ hôi và còn cả máu nữa.  Bản tính tự nhiên con người là sợ hãi, là muốn bỏ cuộc, là muốn tháo chạy.  Ngài đã sấp mặt xuống mà nguyện rằng: “Lạy Cha, xin Cha cất chén đắng này cho Con, nhưng xin đừng theo ý Con, mà theo ý Cha”.

Vâng, “vâng theo ý Cha” hay thuận theo ý người ta, sức con người chẳng ai muốn, bởi vì con người tự nhiên vẫn khẳng định mình, vẫn muốn độc lập, vẫn muốn được theo ý riêng mình, ý mình là nhất, là trên hết…

Chỉ có Tình Yêu mới lý giải nổi chuyện này, bởi vì có Tình yêu mới “đi ra khỏi mình”, hướng về kẻ khác, không hề có chút ngưng nghỉ nơi chính mình; chỉ có Tình Yêu mới dậy cho tôi biết phải ứng xử làm sao; chỉ có Tình yêu mới giúp tôi có những bước tiến khi gặp khó khăn; chỉ có tình yêu mới dẫn đưa tôi đến tế nhị, tỉ mỉ; chỉ có tình yêu mới cho tôi có sức mạnh, có can đảm, dám đối diện với thực tại… để tất cả những điều xẩy ra không như lòng mình mong muốn thì vẫn nhận thấy là Tình Yêu Thương âu yếm còn lớn hơn thế, bởi vì yêu thương là có hy sinh, cho đi là đón nhận sự mất mát, nên lúc này tôi cần chỉnh đốn lại câu chúc:

Không phải “Vạn sự như ý… tôi”
            mà là “Vạn sự như ý… Chúa”
            “Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” (Mc 3, 35)

Ý muốn của Chúa là Ngài muốn điều tốt cho tôi, bởi vì người là Cha của tôi, các bạn có tin không?  Chẳng có người cha nào “khùng” đến cỡ mong hoặc làm điều dữ cho con mình (Lc 11,11-13).

Năm mới đến, xin chúc các bạn:  “được vạn sự như ý… Chúa”.

Mong Manh

CÂU CHUYỆN CỦA CASSIE BERNALL

Ngày 20-4-1999, Eric Harris, 18 tuổi, và Dylan Klebold, 17 tuổi, xông vào trường trung học Columbine, tiểu bang Colorado, Hoa Kỳ, tay cầm bom và súng.  Chúng giết 12 học sinh và một cô giáo, gây thương vong cho 23 người khác, rồi tự sát.  Một trong các học sinh bị chúng giết tại thư viện là cô Cassie Bernall.

zzKhi Cassie vào lớp 9, mẹ cô là Misty linh cảm có điều gì bất ổn. “Tôi không hiểu rõ là gì, nhưng tôi biết rằng có cái gì đó không ổn. Tôi có cảm giác rằng tôi và chồng tôi không còn ‘bắt được làn sóng’ với cháu nữa”.

Ưu tư mãi, Misty bắt đầu tìm câu trả lời bằng cách thường xuyên kiểm tra phòng của Cassie, và một lần kia bà bàng hoàng phát hiện dấu vết rằng con gái bà yêu thích ma thuật, từng sử dụng ma túy và rượu.  Đối diện với thực tế của đứa con gái vị thành niên, cha mẹ Cassie quyết định  áp dụng một vài biện pháp dứt khoát.

Đầu tiên, họ chuyển Cassie đến một nhà trường mới: Trường Trung Học Columbine, ngoại ô Littleton, Colorado. Tiếp theo, họ canh chừng theo dõi bạn bè, thái độ, và thói quen học tập của con mình. Mặt khác, họ nói rõ: “Cassie, con phải bỏ các thứ ấy.  Con phải nhận lấy trách nhiệm cho cuộc đời mình.”

Cassie bắt đầu đáp ứng một cách tích cực: bạn bè mới, thái độ mới.  Một trong các bạn mới là Dave McPherson, một thanh niên thuộc West Bowles Community Church. Khi mới gặp Cassie, McPherson tự nhủ “Cô gái này không có niềm hy vọng.  Niềm hy vọng mà mình đang có.”  Vẻ mặt của cô thiếu niềm vui, lời nói của cô chỉ là nhát gừng: tất cả những thứ ấy cho thấy rằng Cassie hình như ‘đã đi quá xa.’

Thế nhưng vào một kỳ nghỉ cuối tuần, McPherson cũng kêu gọi Cassie cùng đi tĩnh tâm với nhóm bạn trẻ của mình, và cô đồng ý sau khi được cha mẹ vui vẻ cho phép.  Những ngày tĩnh tâm này đã thay đổi cuộc đời của Cassie.  Cha của cô là ông Bradly nói: “Khi cháu ra đi thì đó là một con bé buồn rầu, gục mặt, lặng thinh.  Khi cháu trở về thì mắt sáng long lanh và cháu hứng khởi vì những gì đã xảy ra cho mình, hứng khởi đến độ kể mọi sự cho chúng tôi nghe.  Cứ như là cháu ở trong một phòng tối, rồi ai đó bật đèn lên và cháu thấy được bao điều xinh đẹp chung quanh mình.”  Mẹ cô nói: “Cháu nhìn vào mắt tôi và nói: Má à, con đã thay đổi.  Hoàn toàn thay đổi rồi.  Con biết là má không tin đâu, nhưng con sẽ chứng minh cho má thấy.”

‘Ánh đèn’ được bật lên năm Cassie 17 tuổi, đó là ánh sáng của Chúa Giêsu Kitô: trong kỳ tĩnh tâm ấy, cô đã tin rằng rằng Ngài là Đấng Cứu Độ cho chính cô.  Chúa Giêsu đã thay đổi Cassie từ trong ra ngoài.  Một loại thay đổi 180 độ như thánh Phaolô từng nói đến trong thư Rôma (12,2) khi ngài khuyên ‘hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần.’  Cassie dẹp bỏ mọi hình thức ma thuật. Thay vào đó, cô tham gia vào nhóm thiện nguyện phục vụ bữa ăn cho những những cô gái mại dâm và người nghiện ma túy.  Cô Kayleen của Cassie còn nói rằng: “Cháu dự định cắt mái tóc chảy dài xuống giữa lưng để làm bộ tóc giả mà tặng những em rụng tóc vì hóa trị.”

Một đêm kia, Cassie nói với mẹ về niềm hy vọng mà mình mới tìm thấy.  Cô bảo: “Mẹ à, nếu con chết đi thì cũng tốt thôi.  Con sẽ ở một nơi tốt hơn, và mẹ biết con sẽ ở đâu.”  Hai năm về trước, chính cô gái này sống ở một thời điểm nguy hiểm, có nguy cơ rơi vào tuyệt vọng.  Chúa Giêsu đã thay đổi cô hoàn toàn.  Cô sẵn sàng hy sinh mạng sống vì danh Chúa Kitô, cô sẵn sàng chết đi như một người con của Chúa.

Tối Chúa Nhật 18-4-1999, Cassie chia sẻ chứng từ của mình với các bạn trẻ.  Cô nói: “Bạn không thể thực sự sống nếu thiếu vắng Chúa Kitô.  Và bạn cũng không thể nào có được đời sống đích thực nếu thiếu vắng Ngài.”  Cassie đã sẵn sàng.  Sẵn sàng làm chứng bằng cuộc sống – và bằng cái chết, nếu cần.

Hai ngày sau, Cassie đang ngồi trong thư viện trường Trung Học Columbine, bỗng Eric Harris và Dylan Klebold xông vào, tay ôm bom tự chế và súng săn.  Họ biết rõ Cassie, vì cô chưa bao giờ dấu diếm đức tin của mình.

Eric hỏi: “Mày có tin Chúa không?”  Sau này, bạn của cô là Keven Koeniger kể lại rằng Cassie im lặng một lúc.  Cậu nói: “Tôi nghĩ rằng cô biết rằng mình sắp bị giết.”  Cuối cùng cô đáp: “Có, tôi tin Chúa.”  Tiếng súng nổ lên chát chúa.  Cassie gục ngã!

Bạn cho rằng câu hỏi “Bạn có sẵn sàng chết cho Chúa Giêsu không?” không phải là một câu hỏi cấp bách ư?  Bạn hãy hỏi Cassie Bernall xem.  Hãy hỏi cha mẹ cô ấy.  Song thân cô nói: “Chúng tôi nhìn nhau và tự hỏi mình có trả lời được như thế không?  Tôi thì hẳn đã xin cậu ta tha mạng cho mình. Còn cháu thì không!”

Em của Cassie Bernall là Chris đã tìm thấy bài thơ này trên bàn của chị.  Đây là bài cuối cùng Cassie viết trước khi chết.

“Giờ đây tôi đã từ bỏ mọi sự.
Tôi đã tìm ra con đường chân chính
để thực sự biết được Chúa Kitô
và cảm nghiệm sức mạnh vô song nơi Ngài;
Một sức mạnh đã đem Ngài trở về với sự sống.
Và tôi khám phá được ý nghĩa
của việc chết đi và sống lại với Ngài.
Thế nên dù cho chuyện gì xảy ra,
tôi cũng vẫn sẽ là một người
sống trong thân xác mình sự sống mới
của những người từ cõi chết phục sinh.”

Xin gửi đến bạn một câu hỏi: Chúa Giêsu của bạn có chết đi vô ích không?

Tiffany Fate

*****************************************

Lạy Chúa,

Đứng trước cái chết, con cũng run sợ như ai
Vì con chưa thấy sẵn sàng để gặp Chúa.
Cả cuộc đời con, con đã lo toan rất nhiều,
Nhưng điều quan trọng nhất là chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ ấy
Thì con lại chưa làm gì cả.
Con thật dại khờ khi nghĩ rằng con sẽ có đủ thời gian,
Con sẽ làm được điều đó bất cứ lúc nào con muốn.
Nhưng sự thật là con chưa bao giờ tự làm chủ được sự sống của mình
Làm sao con lại dám cho mình cái quyền làm chủ được sự chết?
Ngày nào đó con đến trước mặt Chúa
Không biết Chúa có nhận ra con hay không,
Hay là Chúa bảo “đi cho khuất mắt Ta, hỡi phường gian ác”

Lạy Chúa là Chúa Tạo Vật,
Con xin Chúa sự khôn ngoan
Để sống trọn vẹn giây phút hiện tại
Trong ân nghĩa của Chúa
Để rồi ngày nào đó con đi gặp Chúa,
Sẽ không như hai người xa lạ
Nhưng là hai người rất thân quen.
Lúc đó, Chúa sẽ gọi con bằng tên rất trìu mến
Và giang đôi tay đón con vào lòng.  Amen!

 

NIỀM TIN TUYỆT VỜI

Vào ngày 01-10-1977, trên một sân vận động tại NewYork, trước 80 ngàn khán giả hâm mộ bóng đá, cầu thủ lừng danh Pélé đã ghi cho mình bàn thắng thứ 1,278. Sau đó anh đã tuyên bố giã từ đời cầu thủ chuyên nghiệp. Sau khi cởi áo gởi tặng giao lưu với khán giả, một phóng viên đã hỏi anh: “Pélé, anh đang là thần tượng của hàng triệu bạn trẻ, vậy trong cuộc đời của anh, anh có thần tượng nào không ?” Pélé chỉ vào cây thánh giá đang đeo trước ngực và trả lời: “Có chứ thần tượng của tôi là chính Đức Giêsu Kitô”.

***

Bạn thân mến! Câu nói trên đây diễn tả niềm tin tuyệt vời của Pelé vào Chúa Giêsu. Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nói lên niềm tin tuyệt vời của Simon và các bạn chài của ông.  Tin Mừng thuật lại rằng: Quang cảnh buổi sáng hôm đó thật rạng rỡ.  Nhưng cơn thất vọng chán nản đêm qua vẫn đè nặng tâm hồn Simon và các bạn chài  bên bờ hồ Ghen-nê-xa-rét.  Vất vả đánh bắt cả đêm nhưng không được một con cá lọt lưới. Trong nỗi thất vọng đó, Đức Giêsu đến với họ.  Ngài nói với  Simon:“Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá.” (Lc.5:4). Nước sâu là chỗ nguy hiểm. Nước sâu là chỗ Phêrô gặp thất bại. Chúa Giêsu muốn Phêrô trở lại chỗ nước sâu để nhận thức rõ sự vô tài bất lực của bản thân. Chúa Giêsu muốn Phêrô nhìn rõ những thất bại để ông biết khiêm nhường.  Khiêm nhường là bài học đầu tiên Chúa Giêsu muốn gửi đến các môn đệ của Người.  Xuất thân là người thợ mộc, làm sao Đức Giêsu có kinh nghiệm trong nghề đánh cá bằng Simon?  Bởi vậy, Simon mới lên tiếng phản ứng: “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả.”(Lc.5:5).

Trên bình diện tự nhiên, Simon không thể nghe lời một người không chuyên môn như thế.  Nhưng niềm tin tưởng vâng phục đã tạo nên sức mạnh khiến ông có thể vượt lên trên bình diện tự nhiên. Ông mạnh dạn lên tiếng:“Vâng lời Thầy, tôi đi thả lưới” (Lc.5:5).  Sự vâng phục của Simon đã được đáp trả :“họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.” (Lc.5:7).

Từ mẻ cá lạ lùng đó, Simon đã nhận thức được một khoảng cách vô cùng giữa siêu nhiên và tự nhiên, giữa Thiên Chúa và con người. Ông thưa với Chúa:“Lạy Thầy, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi !” (Lc.5:8). Tội lỗi khiến ông nhìn nhận mình chỉ là hư vô trước Đấng Tạo Hóa. Đứng trước  mẻ cá lạ, tất cả “đều kinh ngạc” (Lc 5:9,10). Kinh ngạc khi nhận thấy sự khác biệt thật rõ rệt nơi hai thực tại kề cận bên nhau:  Một bên là Thiên Chúa chí thánh còn bên kia là con người tội lỗi. Và một bên là hiện hữu vô cùng sung mãn còn bên kia là vô cùng hữu hạn và hư vô.

Trước sự kinh ngạc đó, Đức Giêsu trấn an Simon Phêrô: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.” (Lc.5:10).  Đừng sợ, vì khoảng cách vô cùng đó sẽ được lấp đầy bằng tình yêu vô biên của Thiên Chúa.  Đừng sợ, mặc dù tội lỗi và yếu đuối tràn đầy, nhưng Thiên Chúa vẫn cương quyết trao cho Phêrô sứ mệnh cao cả nhất.

Cảm phục trước quyền năng của Chúa,  Phêrô và các bạn chài đã can đảm “bỏ hết mọi sự mà theo Người”. Thật là một quyết định dứt khoát, một tấm gương sáng ngời cho ta noi theo .

***

Lạy Chúa! Khi xưa Ngài đã gọi ông Simon và các bạn chài của ông từ bỏ nghề đánh cá để trở thành những người “lưới người như lưới cá”.  Xin cho chúng con hôm nay biết lắng nghe tiếng Chúa mời gọi, biết noi gương Phêrô và các bạn chài xưa kia, biết can đảm bỏ hết mọi sự để lên đường bước đi theo Chúa. Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ 1: Is 6, 1-2a, 3-8, BĐ2: 1 Cr 15, 1-11, PÂ: Lc 5, 1-11)

ÐÔI MẮT NGƯỜI NGHÈO, ÐÔI MẮT NGƯỜI YÊU

Chắc nhiều lần bạn đã qua gần những bãi rác, bạn đã thấy những người đàn ông, đàn bà, trẻ em ăn mặc rách rưới, mặt mũi chân tay lem luốc, tay xách cái bao bố, tay cầm cây sắt, vừa đi vừa bới, đôi mắt chăm chú tìm những thứ gì còn có thể bán được cho tiệm ve chai: nào sắt vụn, dép cũ, ve chai… và họ sống nhờ những thứ tìm ở các đống rác.

Tôi thì hằng ngày thấy những người đồng cảnh ngộ đi tìm rau dại để nấu canh, vì không có tiền mua rau muống…  Có nhiều thứ mình cứ tưởng chỉ là cỏ dại, thế nhưng lại là những thứ rau “trời cho” người nghèo để ăn.  Bạn có thể tưởng tượng loại cây cảnh thường trồng quanh bồn bông giống như rau dền (nên người ta gọi là rau dền cảnh), lại có thể ăn sống hoặc nấu canh.  Khi ở trong hoàn cảnh có tiền mà không thể mua được rau ăn, được mấy người bạn làm vườn thẩy cho một nắm rau này, ăn thấy ngon hơn xà-lách Ðà-Lạt bạn ạ.

Nói thế không phải để làm bạn mủi lòng đâu, nhưng để chỉ cho bạn thấy đôi mắt người nghèo, vì tôi nghĩ rằng trong mọi lãnh vực của cuộc sống, chúng mình cần có cái nhìn của đôi mắt người nghèo để khám phá ra những của cải vật chất, tinh thần và thiêng liêng trong những cái tầm thường nhỏ bé nhất, nhờ đó chúng ta trở nên phong phú hơn.

zzBạn biết không, Chúa Giêsu cũng đã có đôi mắt của người nghèo.  Ngài đã phát hiện vẻ đẹp và ý nghĩa của những sinh hoạt bình thường nhất như:  thắp đèn, làm bánh, cất nhà… những đồ vật nhỏ bé nhất: đồng xu, hạt cải, chim sẻ, cáo… cho tới những sinh hoạt đặc biệt như: chiến tranh, xây tháp…  Ngài đã dùng những đồ vật, những hình ảnh nhỏ bé, tầm thường nhất, để nói lên những điều cao siêu nhất. Ngài đã nhìn thấy vẻ đẹp, sự cao quý ở trong những con người mà người đương thời coi rẻ, miệt thị, đồng thời Ngài thấu suốt những cái xấu xa được che giấu đàng sau những cung cách, lời nói kiểu điệu, những bộ áo giàu sang, đạo mạo. Ngài đã biết vá áo, biết vận dụng cái mới cái cũ trong những đống gỗ, những đồ dùng, đồ nghề, những chiếc áo… nên Ngài mới ví người nghiên cứu sách thánh (scribes) của Nước Trời, như người biết vận dụng cả cái mới cái cũ trong kho tàng của mình.

Bạn ơi, có nhiều khi chúng ta học thói nhà giàu xài sang, không quan tâm tới những cái nhỏ bé trong cuộc sống hằng ngày.  Ðụng cái gì không vừa ý một chút là bỏ.  Người giàu cầm quả táo có vết sâu ăn liền vứt bỏ nguyên trái, người nghèo thì bình tĩnh cắt bỏ chỗ sâu, hoặc cắn quanh mà ăn, chừa chỗ bị sâu lại mà vứt đi.

Bạn có thể nghĩ đến mọi lãnh vực khác: thời giờ, bạn bè, công việc, học hành, đào tạo…  Rất nhiều khi chúng ta phải bằng lòng với những con người, những dụng cụ… những phương tiện rất hạn hẹp theo kiểu nhà nghèo: “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”.

Thì giờ chẳng hạn.  Có khi do nghề nghiệp, do hoàn cảnh, thì giờ của bạn bị xé vụn.  Nhiều khi bạn có thể bực mình vì bị quấy rầy, bị lỡ xe, bị mất điện…  Nếu những lúc ấy bạn bực mình, bạn sẽ đánh mất chút thì giờ còn lại.  Còn nếu bạn biết quý từng giây phút thì bạn đừng uổng phí nó cho nỗi bực mình, cho lời than van.  Bạn hãy bình tĩnh đón nhận những giây phút không bị quấy rầy và tận dụng, giống như lúc làm bài thi càng về cuối càng phải bình tĩnh để đừng viết sai, mất thì giờ sửa…  Những lúc chờ xe, chờ đèn xanh, kẹt xe chẳng hạn, nếu bạn bực bội bạn sẽ mất những giây phút đó và những giây phút sau với bao nghị lực lãng phí.  Bạn có thể sử dụng những giây phút ấy nhiều cách, cầu nguyện chẳng hạn…

Trong công việc, học tập, đào tạo, bạn cũng cần đôi mắt người nghèo để biết quí những dụng cụ, những phương tiện, những người bạn, người thầy bạn đang có, dù không hoàn hảo như bạn muốn, nhưng nếu bạn biết đón nhận và sử dụng thì vẫn tốt hơn là bạn chờ cho tới khi có phương tiện, có người như ý bạn muốn.

Cuối cùng, trong đời sống kết hiệp với Chúa, nếu bạn có đôi mắt người nghèo, bạn sẽ khám phá ra nhiều cái, nhiều dịp có thể giúp bạn gặp gỡ, cảm nhận tình yêu của Chúa.  Bạn có thể học với Chúa Giêsu để phát hiện Tình Yêu của Cha, hình ảnh của Cha trong những vật, những người, những tình huống tầm thường nhất.

Ðôi mắt người nghèo có cái gì giống đôi mắt người yêu ở chỗ rất nhạy bén, rất tinh.  Ðôi mắt người yêu rất tinh để nhận ra hình dáng, dấu vết của người yêu, và nhất là để nhận ra những nét đáng yêu của người yêu.

Bạn ạ, trong ơn gọi của bạn, bạn rất cần có đôi mắt người đang yêu đối với Thiên Chúa, đối với mọi người và mọi sự, yêu mọi người, mọi sự trong Chúa.  Với đôi mắt người yêu, bạn sẽ nhận ra Chúa ở trong mọi người mọi sự, và nhận ra vẻ đáng yêu của mọi người mọi sự giống như Chúa nhìn, như vậy bạn mới có thể yêu Chúa trong tất cả và yêu tất cả trong Chúa, và yêu như Chúa yêu.

Nhiều thánh vịnh có thể giúp bạn tập nhìn đời bằng đôi mắt người yêu, như thánh vịnh 104 về những vẻ huy hoàng của vạn vật, và các thánh vịnh Job 38-39.

L.M. Nguyễn Công Ðoan, S.J

ÐƯỜNG ÐỜI

Tôi sống trong cuộc đời nhưng tôi có riêng đường đời của tôi.  Mới hôm nào bố mẹ nhìn bầy con chung quanh mâm cơm chiều.  Chỗ nào cũng là gần gũi yêu thương, từ nhà ra sân, từ ngõ đi vào.

Dòng sông lớn lên âm thầm rẽ nhánh.  Tôi đi theo tiếng gọi của đời tôi.  Lũ em lần lượt bước vào ngõ quanh của mỗi đứa.  Bây giờ đã là xa cách.  Trong cuộc đời, nhưng mỗi đứa có riêng đường đời của mình.

Kinh Thánh kể, sau khi dâng lễ ở Jerusalem về, Mẹ Maria lạc mất Chúa.  Mẹ hối hả đi tìm: “Cha con và mẹ phải đau khổ đi tìm con”.  Chúa thưa lại: “Mẹ tìm con làm chi, vì con phải ở nơi nhà Cha con” (Lc 2,48-49).  Trong cuộc đời, Chúa có đường Chúa phải đi.  Mẹ Maria có lối của Mẹ.

Mỗi người có một cuộc sống riêng nên không đường của ai giống đường của ai.  Tuy vậy, chỉ có một người gọi, đó là Chúa.  Và cũng chỉ có một tiếng gọi, đó là tiếng gọi về Nhà Cha.  Chỉ có một thứ tiếng gọi và do một người gọi, thì đường đi có khác, vẫn ở trong toàn thể.  Ở trong toàn thể thì có liên hệ và ảnh hưởng.  Với ý nghĩa đó, cuộc sống đức tin của người này liên quan đến cuộc sống của ngươì kia.  Lối về Nhà Cha phải đi riêng đường của mình.  Ðiều ấy có nghĩa là đi một mình.  Ði một mình trong hàm ý là tự mình đi chứ không phải là đi lẻ loi.

Chúa Yêsu lên đường về Jerusalem để chịu tử nạn.  Theo tiếng gọi, Phêrô cũng lên đường với Ngài. Nhưng trên đường đi, Phêrô gợi ý cho Chúa bỏ cuộc (Mc 8,31-33).  Làm gì có Phục Sinh nếu Chúa Yêsu nghe lời Phêrô chối từ Thập Giá.  Từ bỏ con đường của mình phải đi là đánh mất bản tính của mình.  Nếu Chúa cũng chỉ là Chúa khi Chúa đi con đường của Chúa thì đấy phải là định luật không thể thay thế cho tôi.  Tôi sẽ chẳng còn là tôi nếu chối từ con đường của mình.

*******************************************

zzMỗi người có một con đường, vì sao họ lại không đi được đường của họ?

Trên đường đời, cả hai: đau khổ và hạnh phúc, đều là những tiếng gọi dỗ dành làm tôi lạc lối.

Ðau khổ dẫn tới lẩn tránh đường đi.

Phêrô đã âm thầm cảm nghiệm được một khúc đời khốn khó nếu để Chúa về Jerusalem tử nạn.  Ðau đớn thường dẫn đến chạy trốn.  Trên đường đi, có những quãng đời rộn rã tiếng cười như ngày Chúa long trọng vào thánh thánh: “Dân chúng rất đông đảo, trải áo choàng trên đường, nhóm khác chặt cây mà lót lối đi.  Kẻ trước, người theo sau tung hô rằng: Hosanna, con vua David.  Vạn tuế Ðấng nhân danh Chúa mà đến.  Hosanna trên chốn trời cao” (Mt 21,8-9).  Tưng bừng là thế đó, nhưng lại không hiểu những ngày hắt hiu: “Hồn Ta buồn quá đỗi, muốn chết được. Các ngươi hãy ở lại mà thức với Ta”.  Ðã chẳng ai thức với Chúa trong giờ phút lẻ loi nhất ấy: “Simon, ngươi ngủ sao? Ngươi không thể thức với Ta được một giờ ư?” (Mc 14,34-37).  Có những ngã tư đông đúc, cũng có những ngõ vắng dẫn vào cô tịch đìu hiu.  Ngõ vắng ấy là ngại ngùng.  Cô tịch đìu hiu kia là đau khổ. “Ai bỏ tất cả mà theo Ta sẽ được gấp trăm” (Mc 10,28-30).  “Ai muốn theo Ta hãy vác thập giá mà theo Ta” (Mc 8,34). Lời ban đầu là quãng đường đẹp hứa hẹn đầy mộng ước.  Lời kế tiếp là khúc vắng dẫn vào đìu hiu, cô tịch.

Chúa không về Jerusalem để chết vĩnh viễn trên thập giá, mà là để đón nhận phục sinh vì hoàn tất thánh ý của Chúa Cha.  Bởi đó, đường về Nhà Cha thì Nhà Cha mới là cùng đích.  Nhưng cô tịch đìu hiu, những ngõ vắng nếu có trên đường đi, tôi phải chấp nhận. Chối từ phương tiện là chối từ cùng đích.  Ðường của Yoan Tẩy Giả là “mọi thác ghềnh sẽ được lấp đầy, đồi cao sẽ hạ thấp, nơi cong queo nên ngay thẳng” (Lc 3,4-6), để dọn đường cho Ðấng Cứu Thế đến.  Chấp nhận đường của mình.  Yoan đã phải đi những quãng đường rất vắng vẻ, rất đìu hiu trong ngục tối vì dám làm chứng cho sự thật. (Mc 6,17-28).

Trời sa mạc rộng quá.  Yoan cất tiếng kêu.  Tiếng kêu trong sa mạc thì thấm vào đâu.  Nhưng lối đi của Yoan là thế.  Sứ mạng của sứ ngôn là lên tiếng.  Không thể để cái hoang vu của sa mạc làm nản lòng.  Dù không có ai nghe, người sứ ngôn vẫn phải cất tiếng.  Chối từ lên tiếng là đánh mất bản tính làm sứ ngôn của mình.  Bản tính đó hệ tại là người sứ ngôn có lên tiếng hay không chứ không hệ tại người nghe chối từ hay chấp nhận.

Gian nan làm người ta muốn chối từ con đường của mình thế nào thì hạnh phúc giả cũng làm người ta lạc lối như thế.

Ảo ảnh hạnh phúc dễ đưa lầm đường.

Vì đường đời đi trong cuộc đời, nên có lúc người khác đi cùng với tôi.  Ði cùng không có nghĩa là đi con đường của nhau.  Ðường tôi đi vẫn là của riêng tôi, nên dù không ai đi cùng, tôi vẫn phải đi.  Những lúc trên đường vắng ấy, một quán hạnh phúc bên ngã rẽ dễ mời tôi tắt lối quẹo ngang.  Sau những ngày ăn chay trong sa mạc, Chúa đói.  Ma quỷ đã đến cám dỗ Ngài: “Nếu ngươi là con Thiên Chúa, thì hãy truyền cho viên đá này thành bánh” (Mc 4,3).  Luôn luôn có lời ngọt ngào bảo tôi chối bỏ con đường của tôi.

Trong hôn nhân, biết bao đổ vỡ đã đến từ những bóng mát hạnh phúc ở bên cạnh.  Trong đời tu, biết bao trống trải đã ủ xuống hồn vì những lời gọi không chính đáng.  Mỗi người có một lối đi.  Vì cùng đi trong cuộc đời, nên sẽ thấy có người bước tới, có người quay về, có người tắt ngang.  Ðiều ấy dễ gây xôn xao.  Có người lấy bóng hạnh phúc của kẻ khác làm của mình, vì thế họ chẳng bao giờ tìm được hạnh phúc thật.  Có người lại lôi kéo kẻ khác vào con đường của họ.  Làm như thế, ngỡ là yêu thương, nhưng thật ra, họ đã tàn tật hóa con đường của nhau phải đi.  Nâng đỡ nhau trên đường đi không bao giờ có nghĩa là đi con đường của kẻ khác.  Yêu thương là để kẻ khác đi trên con đường của họ.

Nguy hiểm trên đường đi là sự lừa dối lương tâm của chính mình.  Khi người ta gian lận nhiều lần, thì dần dà sẽ thành thói quen, nhưng thành thói quen không có nghĩa là được phép.

Cứ đi lại nhiều lần trên bãi hoang, thì tự nhiên sẽ thành đường đi, nhưng thành đường đi không có nghĩa đấy là chính lộ.

*******************************************

Lạy Chúa, hôm nay con muốn nói với Chúa về nỗi lòng của con đã thấy gì trên đường con đi.  Trên đường đi, con thấy có nhiều quán trọ.  Có quán cho con bóng mát.  Có quán bảo con đừng đi.  Mệt nhọc làm con muốn dừng nghỉ.  Chống đối, hiểu lầm, ghen tỵ, kết án làm con muốn bỏ cuộc.  Và dường như, nếu con càng dừng nghỉ thì con càng ngại đi.  Nếu con càng làm quen với lười biếng thì con càng ngại ngùng trở về con đường Chúa muốn con sống.  Rồi, đường đi cứ thế mà chậm thêm.  Và, cũng trên đường đi, sao có nhiều quãng đường thật xấu, gồ ghề như quãng đường Chúa đi xưa. Hình ảnh đồi sọ làm con tính toán lưỡng lự.  Có những quãng đường sao mà tối tăm làm con hồ nghi không biết có phải là đường thật không.  Ðây là lúc con phân vân không biết thánh ý Chúa ở đâu.  Và cũng là những lúc con bị cám dỗ nghi ngờ ơn gọi Chúa đã ban.  Ði trọn tiếng gọi của mình theo Phúc Âm không dễ vì có nhiều hình ảnh đánh lừa con.  Có phải vì thế mà Chúa đã dặn: “Ðường dễ dãi sẽ dẫn đến hư đi” (Mt 7,13-14).

Hôm nay, có điều con cũng muốn thưa với Chúa là dù được an ủi hay chịu đựng âm u của những ngày nặng nề, con vẫn nghe thấy tiếng Chúa khuyến khích con đi con đường của riêng con.  Tuy có khó khăn nhưng con vẫn tin ở trước mặt là một bình minh rất đẹp.  Ðiều ấy làm con vững tâm.

*******************************************

Trong lịch sử lầm đường, chối bỏ lối đi của mình bao giờ cũng có mặt của Satan.  Khi Phêrô ngăn cản Chúa đừng chịu chết.  Chúa mắng: “Satan hãy cút khỏi sau Ta vì đây không phải là đường lối của Thiên Chúa” (Mt 8,31-33).

Phúc Âm thánh Luca nói về Yuđa như sau: “Satan nhập vào hắn, và y đi thương lượng với các thượng tế để làm sao nộp Ngài cho họ” (Lc 22,3-4).

Trong sa mạc, kẻ cám dỗ Chúa đừng đi con đường của Chúa cũng là Satan (Mt 4,1-11).

Ngày xưa trong vườn địa đàng, Adong, Evà đã không đi được con đường của mình cũng vì lời ma quỷ lừa gạt.  Lịch sử lầm đường là lịch sử có mặt của Satan.  Ðiều ấy cho tôi tin chắc rằng khi tôi không muốn đi con đường của mình, tôi phải cẩn thận vì tiếng nói của thần dữ rất tinh vi.

Nói về hành động Yuđa đi lạc lối, Phúc Âm thánh Yoan kết luận: “Lập tức hắn đi ra và trời đã tối” (Yn 13,30).  Khi nói trời đã tối, Yoan không có ý viết một bài văn chương tả cảnh hoàng hôn.  Bằng ngôn ngữ thần học, rất sâu sắc, Yoan muốn nói khi con người chối bỏ ơn gọi của mình để Satan đổi hướng đời mình phải đi, đấy là lúc “người ta yêu mến bóng tối hơn sự sáng” (Yn 3,19).

Không đi đường mình phải đi, chìm vào bóng tối thì tôi tìm thấy gì trong vùng đất ấy?

Trời đã tối, tiếng than ngắn ngủi mà thăm thăm như nỗi tuyệt vọng mịt mù, buông xuống che kín một đời người. Lời thánh Yoan nhắn nhủ nghe buồn như tiếng thở dài, nhẹ mà rất sâu: “Ai đi trong tối tăm thì chẳng biết mình đi đâu” (Yn 12,35).

*******************************************

Lạy Chúa, con đường đời của riêng con.  Chối bỏ con đường của mình là lừa dối chính mình và tránh mặt Chúa, kẻ đang đợi chờ con ở đầu đường bên kia.

L.M. Nguyễn Tầm Thường, S.J. – Trích “Nước Mắt và Hạnh Phúc”

NGÔN SỨ

Tôi bảo thật các ông: “không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình”(Lc.4:24)….họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi.

***

Bạn thân mến!  Trên đây là một đoạn văn ngắn ngủi trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay.  Đó là những gì đã xảy ra khi Chúa Giêsu thuyết giảng nơi quê hương của Ngài. Dân làng đã ngỡ ngàng thán phục trước lời Ngài nói. Hãnh diện biết mấy khi một thành viên trong làng, nay được tiếng tăm lẫy lừng khắp miền Galilê!   Nhưng khi Chúa Giêsu nói với đồng bào đồng hương của Ngài rằng: “Thần Khí Chúa ngự xuống trên Tôi và chính Tôi đã làm ứng nghiệm lời Thánh Kinh” thì lập tức dân làng cảm thấy khó chịu ngay. Cả hội đường đều nghi ngờ và họ đã xầm xì bàn tán với nhau:

–  “Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?” (Lc.4:22). Ký ức của họ vẫn còn giữ nguyên những hình ảnh của Đức Giêsu sống tại đây hơn ba mươi năm qua. Một cuộc sống quá đỗi bình thường!  Một ông thợ mộc, con một ông thợ mộc khác. Gốc gác, họ hàng của Đức Giêsu, họ đều nắm rõ. Tiếc là họ đã không thể đi xa hơn.  Cái hiểu biết trước đây khiến họ mãn nguyện, tự hào, và tưởng mình chẳng còn gì để biết thêm về Giêsu.

–  “Những gì ông đã làm ở Caphácnaum, hãy làm ở đây xem.” (Lc.4:23).  Người làng Naziarét không tin Đức Giêsu là ngôn sứ. Họ muốn Ngài chứng minh bằng phép lạ.  Họ muốn thấy tận mắt, chứ không chỉ nghe nói thôi. Nhưng Đức Giêsu không làm phép lạ để ép người ta tin.

Lời xầm xì càng lúc càng lớn và chẳng bao lâu dân chúng bắt đầu la lên. Rồi tình hình trở nên náo động, không thể kiềm chế được nữa. Tin Mừng thuật lại rằng: “Dân chúng đứng dậy kéo Chúa Giêsu ra khỏi thành và dẫn Ngài lên đỉnh đồi, dự tính xô Ngài lộn đầu xuống dưới. Nhưng Ngài đã bước qua giữa họ và bỏ đi nơi khác”. (Lc.4:29)

Bạn thân mến! Chúa Giêsu là gương mẫu cho các sứ giả Tin Mừng hôm nay. Ngày nay sứ vụ rao giảng Tin Mừng vẫn được Giáo Hội tiếp tục thi hành trên khắp thế giới.  Biết bao người đã được ơn gọi lãnh nhận sứ vụ làm “Sứ giả Tin Mừng”, đã hân hoan thi hành sứ vụ của mình một cách can đảm, nhiệt thành và kiên trì rất đáng kính phục.  Họ cũng gặp đủ mọi thử thách, chống đối, ghen ghét, hãm hại bởi những người không muốn đón nhận Tin Mừng. Họ đã sẵn sàng chịu đủ thứ cực hình khổ nạn và ngay cả cái chết nữa vì sứ vụ rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu Kitô.

Và cả chúng ta nữa, chúng ta cũng được tham dự vào sứ vụ ngôn sứ của Đức Giêsu Kitô khi chúng ta được xức dầu trong Bí tích Rửa Tội; vì thế chẳng những chúng ta chỉ nghe và sống Lời Chúa cho chính mình, nhưng còn phải quyết tâm đem Lời Chúa đến cho những người chung quanh chúng ta nữa.

***

Lạy Chúa Giêsu, dân làng Naziarét đã không tin Chúa vì Chúa chỉ là con của bác thợ mộc.  Các môn đệ đã không tin Chúa khi thấy Chúa chịu treo trên thập tự. Nhiều người đã không tin Chúa là Thiên Chúa chỉ vì Chúa sống như một con người rất bình thường.

Cũng có lúc con không tin Chúa hiện diện nơi tấm bánh nhỏ bé mong manh, hiện diện nơi một linh mục yếu đuối, và nhất là hiện diện trong một Hội Thánh còn nhiều bất toàn.

Dường như Chúa thích ẩn mình nơi những gì rất bình thường mà thế gian chê bỏ. Chúa muốn thế để con được nhận ra Ngài bằng con mắt đức tin.  Xin thêm lòng tin yêu cho con để con nhìn thấy Ngài luôn hiện diện bên con, hôm nay và mãi mãi. Amen

Tổng Hợp từ R. Veritas
(BĐ1: Jer 1:4-5,17-19 BĐ2: 1Cor 12:31-13:13, PÂ Lc.4:21-30)

CÁI BONG BÓNG KỲ DIỆU

zzBước vào phòng sinh hoạt, tôi thấy Amy đang chơi thẩy bong bóng với các cụ.  Cái bong bóng màu tím nhạt thổi không được căng nên đầu túm, đầu tròn.  Vì móp méo, nên lúc tung lên nó bay xiên xẹo.  Mỗi lần bong bóng rơi xuống đất, Amy lại lượm nó lên.  Vừa thấy tôi, Amy mừng rỡ nhờ tôi thay cô để cô chuẩn bị sữa và bánh ngọt cho giờ giải lao.

Sau giờ ăn, các cụ được đưa vào phòng nầy để đọc báo, xem T.V., đánh cờ, tán gẫu, hay chỉ ngồi nhìn nhau cho đời đỡ hiu quạnh, tẻ nhạt…  Những ngày cuối tuần, hay các dịp lễ, thường có các hội đoàn, nhóm sinh viên, đôi khi các nghệ sĩ đến thăm viếng, chuyện trò, hát, tặng qùa các cụ.  Thỉnh thoảng có người đến đọc và giảng Kinh Thánh bằng tiếng Việt, tiếng Anh.  Hôm nay là ngày thường không có ai đến thăm, nên Amy bày trò bong bóng cho các cụ chơi.

Khi tôi thẩy bong bóng ở dẫy bàn này, các cụ ngồi ở dẫy bên kia ngóng, mong tôi sang.  Một cụ bà ngước cao cổ, giơ tay vẫy tôi như thầm bảo: “Sao không qua đây chơi với chúng tôi?”  Thế là mỗi lần mười phút, tôi sang dẫy bàn bên kia.  Hết ngước lên, cuối xuống nhặt bong bóng, rồi quay trái, sang phải một hồi tôi thấy đầu quay mòng mòng, thở hơi lên.  Đôi lần tôi muốn nghỉ mệt, nhưng cũng không nghỉ được khi thấy những khuôn mặt buồn hiu, tiu nghỉu vì chưa chạm được cái bong bóng.  Trông thật tội nghiệp!

Vào đây làm hơn hai tháng, lần đầu tiên tôi được thấy những nụ cười rạng rỡ trên mặt các cụ.  Những cánh tay ốm trơ xương dưới lớp da nhão, mỏng, nhăn nheo in hằn các sợi gân xanh, thường ngày để thòng trên ghế không buồn động đậy; tưởng rằng đã bị liệt nay hồi sinh, đang vươn lên, dang xa, cố gắng chạm cho được cái bong bóng, đẩy nó lăn đi.  Người này chuyền sang người kia, không ai giữ nó cho riêng mình.

Cái bong bóng màu tím nhạt tầm thường không giá trị kia, nếu vứt đi có lẽ chẳng có ai thèm lượm, lại là niềm vui lớn cho các cụ.  Khuôn mặt rạng rỡ, ánh mắt  tươi vui, các cụ tràn đầy sức sống không phải vì cái bong bóng, nhưng vì tình người được thổi qua nó và được chuyền tay nhau.

Cái bong bóng trở nên kỳ diệu khi được căng đầy tình yêu.

Lữ Khách
San Jose, Thu 2006

***********************************************

Lạy Chúa, xin cứ dùng con theo ý Chúa,
làm chân tay cho những người què cụt,
làm đôi mắt cho ai phải đui mù,
làm lỗ tai cho những người bị điếc,
làm miệng lưỡi cho người không nói được,
làm tiếng kêu cho người chịu bất công.

Lạy Chúa, xin cứ gởi con ra đồng lúa,
để đem cơm cho người đói đang chờ,
và đem nước cho người họng đang khô,
đem thuốc thang cho người đang đau ốm,
đem áo quần cho người đang trần trụi,
đem mền đắp cho người rét đang run.

Lạy Chúa, xin cứ gởi con ra đường vắng,
thắp đèn soi cho ai bước trong đêm,
đốt lửa ấm cho những ai giá lạnh,
truyền cảm thông cho lữ khách đơn côi,
nâng phẩm giá cho kẻ đời chà đạp,
đem tự do cho những kiếp đọa đày.

Lạy Chúa, xin cứ gởi con vào thôn xóm,
đem an hòa cho những ai bất thuận,
đem thanh bình cho kẻ sống âu lo,
đem ủi an cho người đang sầu khổ,
đem niềm vui cho những ai bất hạnh,
đem vận may cho người gặp rủi ro.

Lạy Chúa, xin cứ đặt con như một sự tình cờ,
đem may mắn cho những ai gặp được,
giữa đường đời khi lỡ bước bơ vơ,
cứ cho con đừng bao giờ khiếp sợ :
giữa biển đời mang con tim núi lửa
với đôi tay êm ái của mẹ hiền.

Lạy Chúa, xin cứ dùng con làm tất cả
cho mọi người được hạnh phúc yên vui ;
còn phần con xin gởi hết nơi Ngài
là Thiên Chúa, Tình Yêu và Lẽ Sống.
Ngài cho con tất cả niềm hy vọng
để tin yêu và vui sống trọn đời.

Rabbouni

NĂM HỒNG ÂN

Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4:18-19).

***

Bạn thân mến! Trên đây là lời nói của Đức Giêsu vang vọng trong hội đường Do Thái tại Nadarét, khi Ngài trở về thăm lại quê hương của Ngài.  Làm sao Ngài quên được mảnh đất làng quê đã ấp ủ mình, nơi có bà con họ hàng, láng giềng, bè bạn.  Hơn nữa Ngài cũng không cắt đứt với tôn giáo của cha ông.  Ngài vẫn là một người Do Thái ngoan đạo, quen lui tới hội đường cùng với dân làng vào ngày sa-bát, để thờ phượng Thiên Chúa mà Ngài âu yếm gọi là Cha.

Sau khi đọc xong sách Thánh, Ngài ngồi xuống và giải thích Lời Chúa cho mọi người.  Cử chỉ của Ngài thật trang trọng, đĩnh đạc, khi nhận sách, mở sách, cũng như khi cuộn sách để trả lại. Có một bầu khí cầu nguyện sâu lắng ở hội đường.  Mọi người đều chăm chú nghe lời Ngài giảng.

Ðoạn sách Ngài đọc hôm ấy là của ngôn sứ Isaia. Isaia đã nói lên ơn gọi và sứ mạng của mình. Ông được xức dầu để trở thành ngôn sứ cho những người Do Thái mới thoát khỏi cảnh lưu đày.  Ông được sai đi để loan báo thời cùng khốn đã chấm dứt và công bố khai mở một thời kỳ đầy ân sủng và tự do. Ðức Giêsu đã bị đánh động bởi đoạn sách này.  Ngài thấy đoạn sách phản ánh chính ơn gọi và sứ mạng của mình. Ðây là một hướng đi mà Ngài phải theo đuổi, một chương trình hành động mà Ngài muốn hoàn thành.  Suốt đời Ngài sẽ thực hành chương trình này. Vì thế đoạn sách Isaia ứng nghiệm vừa do thánh ý Chúa Cha vừa do ý chí của Chúa Giêsu quyết tâm thực hành thánh ý Chúa Cha.

Ðức Giêsu là người đầy tràn Thánh Thần cách đặc biệt. Thánh Thần chi phối toàn bộ lời nói, việc làm của Ngài. Ngài được sai đi đem Tin Mừng cho người nghèo, nghèo tiền bạc, nghèo sức khỏe, nghèo tiếng nói. Ngài được sai đến với những kẻ bị giam cầm bởi nỗi lo sợ, bởi thành kiến, bởi ích kỷ tham lam. Ngài cho người mù được sáng mắt và thấy trong niềm tin.  Ngài trả lại tự do cho cả người bị áp bức lẫn người gây áp bức bóc lột.  Ngài mời gọi cả hai sống thanh thoát như Ngài, sống như con của Cha và như là anh em của nhau. Ngài khai mạc một Năm Thánh, Năm Hồng Ân cứu độ.

***

Lạy Chúa Thánh Thần!  Xin cho con nhận ra sự hiện diện của Ngài giữa lòng thế giới và trong lòng mọi người xung quanh con. Xin cho  con luôn tìm đến với anh chị em của con hơn là tìm an nhàn cho chính bản thân mình, để nhờ biết quan tâm cho người chung quanh, con cũng sẽ được vui hưởng niềm vui Ơn Cứu Độ và lãnh nhận hồng phúc của năm Hồng Ân mà Thiên Chúa đã hứa ban. Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1: Nêhêmya 8,1-4a.5-6.8-10; BĐ2:1Côrintô 12,12-30; PÂ: Luca 1,1-4; 4,14)