HAI NGƯỜI MẸ

zzKhi nói về tình mẹ, ông Joseph Rosumbol đã tâm sự như sau:

“Mẹ luôn có mặt mỗi khi bạn cần đến.  Mẹ luôn giúp đỡ, bảo vệ, lắng nghe, khuyên bảo, động viên, khích lệ và nuôi dưỡng cả tinh thần lẫn thể xác bạn.  Mẹ luôn cố gắng làm cho gia đình luôn đầy ắp tình thương yêu.  Ðó là những gì tôi có thể tóm tắt về hình ảnh hay đúng hơn là kỷ niệm của tôi về mẹ. Bởi trong những năm tháng ngắn ngủi mà tôi có mẹ ở bên cạnh, tôi luôn cảm thấy may mắn là mình có mẹ, nhưng tôi biết rằng chẳng có lời nào có thể diễn tả hết tình thương của mẹ với những hy sinh mà mẹ dành cho tôi.  Tất cả những hy sinh đó chẳng có hy sinh nào là nhỏ cả.  Tất cả đều vĩ đại.  Bởi nó diễn tả tình thương trọn đầy của mẹ đối với tôi, một đứa con trai bé bỏng của mẹ.  Khi ấy, tôi vừa tròn mười chín tuổi và đang trên đường dẫn tới cái chết.  Thình lình, mẹ tôi chen vào và đổi chỗ cho tôi đi ra.  Mặc dầu đã năm mươi năm trôi qua nhưng tôi không bao giờ có thể quên nổi những lời cuối cùng trước khi mẹ giả từ tôi để tiếp tục bước đường dẫn tới cái chết.  Tôi cũng không bao giờ quên được ánh mắt tràn ngập yêu thương và hy vọng quyện lẫn những nỗi xót xa phải chia tay.  Lúc đó, mẹ tôi đã nói: “Mẹ đã sống đủ rồi, con còn trẻ nên con cần phải sống”.  Tôi nghĩ, phần lớn các đứa trẻ được sinh ra có một lần, nhưng tôi, tôi đã được sinh ra đến hai lần với cùng một người mẹ”.

******************************

Mỗi tín hữu kitô chúng ta cũng có thể nói được rằng chúng ta cũng đã được sinh ra hai lần nhưng với hai người mẹ: người mẹ thứ nhất là người đã sinh ra chúng ta để chúng được hiện diện trên cõi đời; và chúng ta cũng được sinh ra trong đức tin với người mẹ thứ hai là Giáo Hội.

Thật thú vị khi dùng hình ảnh người mẹ để chỉ về Giáo Hội.  Với những bản tính của một người mẹ, Giáo Hội như muốn ôm trọn lấy mọi người, chăm sóc và lo lắng cho từng người bằng Lời Chúa và qua các bí tích.  Và khi chúng ta nhận biết những cố gắng của người mẹ, đồng thời chúng ta phải có bổn phận để tiếp nối vai trò của người mẹ cũng như đón nhận những khác biệt của người mẹ trong tình thương mến.

Ðứng trước những thử thách mà Giáo Hội đang gặp phải hiện nay, mỗi chúng ta có cảm thấy được thúc đẩy phải đưa vai để gánh đỡ Giáo Hội không hay chúng ta cũng lại hùa theo những trào lưu chống đối Giáo Hội, và nhẹ nhàng hơn là chúng ta dửng dưng với những băn khoăn thao thức và những thách đố mà Giáo Hội đang gặp phải?  Cả hai thái độ đó đều không phải là thái độ của người sống tâm tình của những người con đối với Giáo Hội.

Nhìn lại vai trò của mỗi tín hữu kitô chúng ta trong cương vị là những người con của Giáo Hội, khởi đi từ tâm tình của một người con như đã được nhắc lại trên đây.  Mỗi người con nhận được sự sống từ mẹ, sẵn sàng hy sinh cho mình, chúng ta trước hết thấy hãnh diện vì có được một Giáo Hội mẹ như vậy. Và từ đó mà yêu mến Mẹ Giáo Hội của mình nhiều hơn nữa.

Song song với những gì là cao đẹp, có thể chúng ta cũng khám phá ra những vết nhăn, những vẻ xấu xí in hằn trên gương mặt đó, nhưng không vì thế mà chúng ta giảm bớt tình thương.  Trái lại, càng phải biết thương nhiều hơn.  Hơn nữa, chúng ta cũng phải biết nhớ đến những người đã đổ máu đào hy sinh mạng sống để bảo vệ cho người mẹ đó, để lúc nào chúng ta cũng được sống trong sự ấp ủ của người mẹ nhờ những dòng sữa ân sủng của Chúa được ban cho chúng ta qua người mẹ Giáo Hội; chúng ta cũng có bổn phận để tiếp nối cuộc sống của những người đã hy sinh nằm xuống cho chúng ta, để hạt giống đức tin được triển nở và sinh hoa kết trái trong đại gia đình của Thiên Chúa; đồng thời chúng ta cũng cần làm sao để có thêm những người con mới trong đại gia đình Giáo Hội, Mẹ chúng ta, nhờ qua dấn thân thực hành những việc làm tốt, thu hút anh chị em đến với Chúa.

R. Veritas

******************************************

Lạy Mẹ Maria, xin cho chúng con luôn yêu mến và tin tưởng vào Giáo Hội Chúa đang gặp nhiều thử thách nơi trần gian.

Lạy Mẹ La Vang, xin cho chúng con, những người con trong Giáo Hội Việt Nam đang trong cảnh đố kỵ, chia rẽ, hoang mang, mất niềm tin… biết yêu mến Giáo Hội Việt Nam và biết sống trong tình yêu thương hợp nhất của những đứa con cùng một Mẹ.  Amen!

TẶNG VẬT CHO CUỘC ÐI TÌM

zzCó người Biệt phái kia mời Ngài tới dùng bữa với mình.  Ngài vào nhà người Biệt phái và lên giường ăn.  Và này: Một phụ nữ, một người tội lỗi trong châu thành.  Biết Ngài dùng bữa tại nhà người Biệt phái, người phụ nữ ấy xách theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm.  Ðứng phía đằng sau chân Ngài, khóc nức nở, sa nước mắt đẫm ướt chân Ngài.  Xõa tóc trên đầu, cố lau sạch.  Và tha thiết hôn chân Ngài và xức dầu thơm (Lc. 7: 36-38).

Mai Ðệ Liên đã tìm gặp Chúa.  Tìm là giai đoạn sôi bỏng nhất của tình yêu.  Gặp mặt nhau nhưng chưa chắc biết tên nhau.  Biết là một chuyện nhưng có để ý nhau không lại là một chuyện khác.  Cho dù có để ý nhau nhưng chưa chắc đã tìm nhau.  Bởi đó, những chuyện tình đi tìm nhau bao giờ cũng là những chuyện tình không quên.  Tìm nhau là giai đoạn đồng cảm nhất trong tiến trình của yêu thương.  Nói đến phải đi tìm là nói đến vất vả, nên những chuyện tình tìm nhau thường là những chuyện tình gian nan.

Tặng vật là niềm tin

Ðến với Ðức Kitô, người đàn bà này đã mang theo ba tặng vật:  Niềm tin, mái tóc và bình dầu quý.  Tìm là xác định một điều có trong khi chưa có.  Tin là có để rồi miệt mài theo đuổi điều chưa có là một thứ gian nan không dễ.  Niềm xác định có càng nhiều thì mới càng có nỗ lực.  Những đêm bâng khuâng gọi hồn, tiếng con tim ngập ngừng đếm từng khoảnh khắc.  Và bữa tiệc chiều nay, đôi khi nghe cõi lòng chùng xuống khi hình dung ra những cái nhìn soi mói, nhưng người đàn bà này vẫn chuẩn bị cho một cuộc đi tìm rất nhiệm mầu trong linh hồn.  Bà cần gặp Ðức Kitô.

Xét theo khung cảnh thì đây không phải là bữa ăn thường mà là bữa tiệc.  Tôi không nghĩ rằng người phụ nữ này được mời, vì Biệt phái kết án “gái điếm và thu thuế”.  Người phụ nữ này đã nổi tiếng tội lỗi trong châu thành vì ai cũng biết.  Nếu vậy, càng không thể là khách mời của Biệt phái.  Khách được mời sẽ được lấy nước rửa chân, xức dầu và hôn chào.  Vậy làm sao người phụ nữ tội lỗi này lọt được vào?  Ðối với một kẻ tội lỗi bị xã hội kết án thì đi tới đâu cũng phải đương đầu với những con mắt tò mò.  Có thể người phụ nữ này phải giả dạng để vào được phòng khách.  Có thể cô ta lẩn đi vào ngõ sau.  Có thể cô ta bất chấp mọi ngịch cảnh xông đại vào.  Trong bao nhiêu giả thuyết, ta không biết cách nào là đúng.  Hoặc cho dù có được vào tự do, thì điều ta biết chắc là người phụ nữ này đã phải chấp nhận những lời kết án cho một lần gặp gỡ.

Chợt đọc qua đoạn Tin Mừng, tôi thấy hình ảnh người phụ nữ ngồi khóc bên chân Chúa là một hình ảnh êm đềm.  Thoáng qua, tôi thấy người phụ nữ có thể gặp Chúa một cách nhẹ nhàng.  Nhưng nhìn kỹ lại, tôi thấy gặp gỡ với Chúa, cô ta phải lên đường vô cùng quyết liệt.  Mình không phải là khách. Người ta dòm ngó xầm xì.  Bao nhiêu người chỉ trỏ.  Có khi phải bẽ mặt vì bị đuổi đi.

Trong quá khứ, không biết có khi nào tôi liều thân đi gặp Chúa như thế chưa.  Những kỷ niệm tìm nhau trong gian nan là những kỷ niệm khó quên.  Nếu tôi không nhớ có khi nào tôi vất vả đi tìm Chúa như thế chưa, điều đó có nghĩa là tôi chưa có những “chuyện tình gian nan”, dù có đôi ba lần liều thân tìm gặp Chúa, sự liều thân ấy cũng chắc là nhạt nhẽo lắm.

Dầu thơm của khổ đau

Cho cuộc đi tìm này người phụ nữ đã mua một bình bạch ngọc, tìm loại dầu thơm quý.  Tặng nhau một cành hồng, gởi nhau một lọ nước hoa là chuyện thường.  Nhưng dầu thơm ở đây là hương thơm có thể bay ngược chiều gió.  Bởi, nó là hương thơm của trắc ẩn, là đóa hoa lòng.  Chắc hẳn tiền mua bình bạch ngọc đến từ những đêm nhục nhằn câm nín, từ nước mắt dàn dụa trên những đồng bạc bất hạnh nằm rơi vãi trên giường.  Ðời là hoang vu.  Cúi mặt đi trong phố vắng khi đèn chiều cứ ảm đạm.  Người khách ra về, cánh cửa sập lại, cúi nhặt những đồng bạc trong cơn mệt mỏi chán chường. Người gái điếm ấy gom số tiền đã chắt chiu từ những tháng ngày cùng cực.  Xuống phố, không tiếc lòng, mua một bình ngọc quý, một cân dầu thơm.  Rồi, từ từ, đổ hết cho phí đi cân dầu hảo hạng, cho phí đi những đồng tiền khổ đau.

Trọn vẹn mái tóc xám hối

Tặng vật thứ ba là mái tóc của cô ta.  Người con gái nào không thương mái tóc.  Ở Mai Ðệ Liên chắc hẳn cũng có những ngày mới lớn như những nàng thiếu nữ Jêrusalem.  Cô cũng cũng có những áng mây hồng của tuổi bâng khuâng, có cánh bướm nhỏ trong giấc mơ về đậu trên bờ tóc. Tóc mai cũng đã thương những sợi vắn sợi dài. Hôm nay, thương yêu có thể là muộn màng.  Thương nhớ có khi đã mất mát.  Bây giờ, thương đau là gương soi. Những sợi tóc ấy, giờ đây thả xuống cho xuôi dòng. Những sợi tóc đó nếu có một thủa mây bay tà đạo, thì hôm nay ngoan ngoãn theo lời xin xám hối.  Cài vào những sợi tóc ấy là niềm tin để chải xuống một dòng đời lỗi lầm.

***********************************

Lạy Chúa, người phụ nữ ấy đã lấy tất cả thương đau đời mình để mua cân dầu rồi đổ đi, đổ cho cạn đến giọt sau cùng.  Con chỉ nhìn vào hình ảnh Chúa tha thứ tội lỗi một cách nhẹ nhàng, mà ít nhìn vào thái độ ao ước tận cùng của niềm tin, của sự quyết liệt trọn vẹn trong trái tim người phụ nữ.

Ở trong con, nhiều lần cũng tìm gặp Chúa, nhưng không bao giờ đổ tất cả cho một cuộc gặp gỡ.  Bởi đó, gặp gỡ nào giữa con với Chúa cũng cứ là những gặp gỡ dang dở.

LM Nguyễn Tầm Thường, S.J trích trong “Con biết con cần Chúa”

NIỀM HY VỌNG NƯỚC TRỜI

Có nhiều người nghĩ thế giới chỉ bó gọn trong trái đất và con người chỉ thuộc về mặt đất. Nhưng không phải thế.  Hôm nay, Chúa Giêsu lên trời là một bằng chứng cho niềm hy vọng của ta.

zzViệc Chúa Giêsu lên trời bảo cho ta biết rằng ngoài trái đất còn có trời. Ngoài cõi nhân sinh nhỏ hẹp còn có cõi thần linh bao la.  Ngoài cuộc sống trần gian mau qua còn có cuộc sống thiên đàng vĩnh cửu.

Chúa Giêsu về trời là niềm hy vọng cho ta. Mai sau ta cũng sẽ được về trời với Người. Vì chính Người đã hứa: “Thầy đi để dọn chỗ cho anh em, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó với Thầy”.

Chúa Giêsu đã liên kết ta thành một thân thể với Người. Người là đầu. Chúng ta là chi thể. Đầu tiến đến đâu thì chi thể cũng sẽ tiến đến đấy.

Chúa Giêsu dạy ta biết rằng ta là con của Thiên Chúa Cha, Đấng ngự trên trời. Con sẽ được ở trong nhà cha mẹ. Chúng ta sẽ được ở nhà Cha trên trời là tự nhiên.

Tuy nhiên Chúa Giêsu chỉ về trời sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ Chúa Cha trao phó cho Người ở trần gian. Nhiệm vụ đó là loan báo cho mọi người biết Thiên Chúa là Cha yêu thương mọi người. Nhiệm vụ đó là làm chứng về tình yêu thương của Thiên Chúa Cha đối với mọi người.

Hôm nay, trước khi về trời, Chúa Giêsu uỷ thác nhiệm vụ đó lại cho ta. Ta phải tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu loan báo Tin Mừng yêu thương cho mọi người. Đem niềm hy vọng đến cho kiếp người.

Với niềm hy vọng đó, người Kitô chân đạp đất nhưng lòng vẫn hướng về trời cao. Niềm hy vọng đó giải thoát ta khỏi nô lệ vào mặt đất nhờ đã biết rõ vật chất chỉ là phương tiện sẽ mau chóng qua đi.  Niềm hy vọng đó nâng cuộc sống con người lên vì từ nay ta hiểu rằng định mệnh loài người không phải như loài súc vật, nhưng ngang hàng với thần linh.

Niềm hy vọng đó làm cho cuộc sống của ta có ý nghĩa, vì Chúa tạo dựng nên con người không phải để con người tàn lụi đi theo quy luật của vật chất,  mà để con người phát triển, tồn tại đến vô biên, không phải bị kết án vào những đau khổ vất vả trần gian, nhưng đã được tiền định hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng.

Niềm hy vọng đó cho ta thêm động lực phục vụ tha nhân tận tâm hơn, vì đó chính là sứ mang Chúa trao phó.  Niềm hy vọng đó khuyến khích ta tích cực xây dựng xã hội tốt đẹp hơn, vì đó chính là điều kiện cho ta được vào Nước Trời.

***

Lạy Chúa, xin giúp con chu toàn nhiệm vụ ở trần gian này để mai sau con cũng được về trời với Chúa. Amen.

TGM. Ngô Quang Kiệt
(BĐ1: Acts 7:55-60 – BĐ2: Rev 22:12-14,16-17,20 – PÂ: Gioan 17:20-26)

NHỮNG CÁCH GIẢNG ĐẠO

Ngày xưa, một đạo sĩ gọi 6 người đệ tử của mình lại và bảo họ hãy đi khắp nơi chiêu mộ môn đệ.  Một thời gian sau, tất cả đều trở về.

Người thứ nhất trở về với 500 môn đệ.  Khi được hỏi bằng cách nào anh chiêu mộ được số môn đệ đông như thế, anh trả lời: “Con rảo khắp mọi nơi nghèo nàn và hứa sẽ chu cấp mọi nhu cầu cần thiết cho ai theo đạo của chúng ta”.

Người thứ hai đem về 400 môn đệ.  Anh nói : “Con hứa ai theo đạo thì sẽ được phúc thiên đàng”.

Người thứ ba đem về 300 môn đệ.  Anh nói : “Con đe dọa rằng nếu ai không theo đạo thì sẽ bị phạt trong hỏa ngục.  Thế nhưng người ta không tin lắm.  Cho đến một hôm con đã nguyền rủa một con chó điên khiến nó chết liền tại chỗ.  Thấy thế những người này đã theo con”.

Người thứ tư đem về 200 môn đệ.  Anh nói : “Con tìm đến những người đơn sơ ít học và dùng nhiều lý luận khiến họ say mê và đi theo”.

Người thứ năm đem về 100 môn đệ.  Anh nói : “Đây là những người trẻ.  Họ đang chờ một người lãnh đạo họ.  Con đã thuyết phục họ đi theo con và họ đã theo.  Con nghĩ rằng nếu mình không chiêu mộ họ thì cũng có những messia giả đến chiêu dụ họ mà thôi”.

zzNgười thứ sáu chỉ đem về 12 môn đệ.  Anh giải thích : “Con không thể gieo những hạt giống ngay mà phải chờ, vì đang là mùa đông, phải đợi đến lúc tuyết tan thì đất mới mềm và mới gieo được. Thế là con chờ.  Đang lúc chờ như thế, con kết bạn với một số người.  Con cố gắng sống cho họ thấy cách sống của đạo chúng ta.  Và con cũng chia xẻ cuộc sống của họ.  Đang khi chia xẻ cuộc sống như thế, con khám phá rằng họ rất coi trọng tự do đến nỗi nếu tước mất tự do của họ thì cũng là tước đi phẩm giá của họ.  Con cũng học được nơi họ những điều tốt, chẳng hạn họ rất quảng đại và không sợ hy sinh.  Con thành thật nói cho họ biết cái giá phải trả nếu muốn theo đạo chúng ta, nhưng con nhấn mạnh rằng nếu họ theo đạo chúng ta thì họ có thể làm được nhiều điếu tốt cho tha nhân và cho Thiên Chúa.  Xem ra những điều con nói đã làm họ cảm động.  Tuy nhiên khi đến lúc phải quyết định thì chỉ có 12 người này chịu theo con”.

Vị đạo sĩ khen người thứ sáu này.

Năm người trước đã giảng đạo bằng cách khai thác sự yếu đuối và sợ hãi của người ta.  Những cách đó thật quá dễ, nhưng lại xâm phạm đến tự do nên người ta có theo đạo cũng vì miễn cưỡng.  Còn người thứ sáu thì biết kêu gọi thiện chí bằng cách kết bạn với người ta và thuyết phục họ bằng chính gương sống của mình.  Cách này tuy chậm và khó nhưng kết quả sẽ vững chắc và lâu bền.

***************************************

Chúng ta là dụng cụ Chúa dùng

“Hãy đi rao giảng Tin Mừng cho mọi dân tộc”, đó là mệnh lệnh của Chúa khi Ngài từ biệt chúng ta.

Bây giờ Ngài không còn có ai trên thế gian ngoài chúng ta.

Ngài không còn tay để nâng người sa ngã ngoài tay của chúng ta.

Ngài không còn chân để đi tìm kẻ hư mất ngoài chân của chúng ta.

Ngài không còn mắt để nhìn những giọt lệ khổ đau âm thầm ngoài mắt của chúng ta.

Ngài không còn lưỡi để an ủi kẻ buồn sầu ngoài lưỡi của chúng ta.

Ngài không còn trái tim để yêu thương những người không được yêu thương ngoài trái tim của chúng ta.

***************************************

Lạy Chúa xin thương xót chúng con là những môn đệ nhút nhát và sợ sệt của Chúa.  Xin ban cho chúng con lòng can đảm để làm chứng cho Chúa giữa thế gian, hầu Tin Mừng được rao giảng và người ta tìm được đường vào Nước của Chúa.

Flor McCarthy

TÌNH MẸ

zz“Cánh cửa không bao giờ khóa”, đó là tựa đề của câu chuyện có thật mà văn sĩ Robert Stain đã kể lại.

Câu chuyện xảy ra tại nước Scotland về Cristout một cô gái quê trẻ. Cô ta cảm thấy chán chường trong cuộc sống gia đình nề nếp.  Cô đến thưa với cha mẹ:

– Con không muốn tin ông trời của cha mẹ.  Con quyết định ra đi khỏi nhà.

Thế là cô bỏ nhà ra đi.  Tuy nhiên, chẳng bao lâu cô bị người ta chê cười và ruồng bỏ vì không tìm được việc làm, cô đã phải làm nghề đứng lề đường bán thân nuôi miệng.  Thời gian trôi qua, cha cô đã qua đời trong sự buồn chán và xấu hổ vì đứa con gái hư đốn của mình.  Mẹ cô ngày một già nua.  Còn cô thì mỗi ngày một sa đọa trong lối sống hư đốn của mình.

Sau đó bà mẹ cũng bặt tin con.  Rồi tin đồn về cuộc sống xấu xa của con gái.  Bà đã đi tìm con khắp thành phố.  Bà đến từng nhóm cứu trợ với lời thỉnh cầu:

– Làm ơn cho tôi treo tấm hình này.

Ðó là tấm hình của bà đang mỉm cười kèm theo dòng chữ: “Mẹ vẫn mãi yêu con.  Mẹ mãi chờ con. Về nhà với mẹ đi con, con gái của mẹ”.

Vài tháng sau đó, một ngày nọ cô gái đến chỗ một toán cứu trợ nhận bữa ăn tối.  Cô chẳng màng chi đến những lời khuyên răn của những người hữu trách.  Lơ đễnh nhìn tờ thông báo cô chợt nhận ra tấm hình của mẹ cô với hàng chữ đầy thương mến như nài van cô hãy trở về với bà, cô vội đứng lên xem rõ bức ảnh và cô bật khóc.

Khi trời đã nhá nhem tối, cô quyết định trở về nhà nơi cô đã ra đi từ lâu.  Về tới nhà thì trời cũng vừa hửng sáng.  Cô sợ hãi khép mình bên cánh cửa và băn khoăn không biết phải nói lời nào với mẹ. Nhưng rồi cô quyết định khẽ gõ cửa, cô nhận ra cánh cửa chỉ khép lại chứ chưa khóa.  Cô nghĩ chắc có trộm vào nhà.  Lo lắng, cô chạy vội tới giường ngủ của mẹ và thấy bà vẫn đang ngủ yên.  Cô đánh thức mẹ và thưa:

– Mẹ ơi, con đã về.

Bà vùng chỗi dậy như không tin ở mắt mình.  Nước mắt lăn dài trên gò má đã hom hem của bà, bà vội ôm chầm lấy cô con gái như sợ cô sẽ vuột mất.  Cô gái cố bình tĩnh nói với mẹ:

– Mẹ ơi, con lo quá, cánh cửa không khóa, nên con tưởng ăn trộm đã mở cửa để lẻn vào nhà mình.

Bà mẹ dịu dàng nói:

– Không phải vậy đâu con. Từ ngày con đi thì cánh cửa nhà mình chẳng bao giờ khóa cả.

************************************

Thế giới có biết bao những bài hát, lời thơ, những câu ca dao, câu hò câu ví, những câu chuyện nói về tình mẹ.  Và đối với người Việt Nam chúng ta thì tình mẹ càng thể hiện cách đậm đà và khắng khít hơn, bởi tình mẹ bao giờ cũng tinh tuyền, vô vị lợi, diễn tả gần hết tình yêu tinh ròng của Thiên Chúa.  Nhận ra tình thương của người mẹ đã sinh ra chúng ta, chúng ta cũng được mời gọi để sống quảng đại và yêu thương hơn.  Có nghĩa là tâm hồn chúng ta luôn rộng mở để đón nhận người khác như cánh cửa phòng sẽ không bao gờ đóng để đón chờ người con hoang trở về.

Một trong những yếu tố nổi bật của tình yêu và cũng là con đường dẫn chúng ta đến tình yêu đích thực là biết tha thứ và chấp nhận những khác biệt của tha nhân.  Những khác biệt đó có thể bao gồm cả những ưu điểm lẫn khuyết điểm, nhưng những ưu khuyết điểm này không thể nào trở thành những hố sâu ngăn cách con người, nếu con người tự do đón nhận những khác biệt của người khác.  Biết rằng đây là điều căn bản để tiến vào thế giới của yêu thương, nhưng cũng là đoạn đường cam go nhất mà chúng ta phải bước qua.  Nhưng chúng ta tin rằng Chúa đã đi qua đoạn đường này rồi và Ngài tiếp tục đi bước trước để dẫn chúng ta đi sau, để chúng ta giảm bớt thái độ dè dặt và mạnh dạn bước đi, để chúng ta nhìn về phía trước, bám chặt vào Chúa Giêsu và phó thác nơi Ngài, với sức mạnh của Thánh Thần Chúa, chắc chắn chúng ta sẽ đạt đến bến bờ của tình yêu chân chính và hoa trái đích thực của nó là lòng quảng đại vị tha.

Lạy Chúa,

Xin dẫn chúng con bước theo đường lối Chúa.

R. Veritas

ĐẾN VÀ Ở LẠI

Khi được hỏi Đức Giêsu hiện diện ở đâu? Ta thường nghĩ ngay tới nhà thờ, nhà nguyện, nhà tạm ..v..v.. Tiếc thay nhiều khi ta dừng lại ở đó và ít khi nghĩ đến một cách hiện diện khác. Đức Giêsu không phải chỉ là ở với, ở bên, ở trước mặt, mà còn là ở trong con người yếu đuối của ta.  Ta ít khi nghĩ như vậy, vì ta không dám tin vào hồng ân quá đỗi tuyệt vời này.

***

Bạn thân mến!  Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay thuật lại rằng: Chính vào lúc sắp chia tay các môn đệ để về với Chúa Cha, Đức Giêsu đã nhắn nhủ các môn đệ rằng: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy, Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại trong người ấy” (Ga.14:23)

Vì yêu mến Đức Giêsu, tôi sẽ được vinh hạnh  đón nhận Ngài. Ngài “đến” và “ở lại” trong tôi. Vì yêu mến tôi, Đức Giêsu đã đến thăm tôi và cư ngụ trong lòng tôi. Trong tình yêu hai chiều này, thiên đàng chớm nở. Thiên đàng thật gần, không ở đâu xa xôi, thiên đàng ở ngay trong lòng tôi.

Trong cuộc sống bận rộn hằng ngày, tôi rất cần những giây phút sống trong thinh lặng để suy tư kiểm điểm, để hồi tâm tưởng nhớ, và để tự hỏi chính lòng mình: “Thiên Chúa ở nơi đâu? Ngài có hiện diện trong lòng tôi không? Tôi có cảm nghiệm được sự hiện diện của Ngài không? Có bao giờ tôi thờ lạy một Thiên Chúa đang hiện diện trong lòng tôi không? “

Kitô hữu không chỉ là bạn hữu của Đức Kitô, mà còn là người có Đức Kitô nơi cung lòng của mình. Thân xác của người Kitô phải là đền thờ, là cung thánh, là nhà tạm cho Ngài ngự trị, và nhất là phải “trở nên một” với Ngài trong tình yêu.

Vì thế, điều quan trọng không phải là ở trong hay ở ngoài nhà thờ, nhưng là ở trong hay ở ngoài tình yêu.  Ai ở ngoài nhà thờ mà ở trong Tình Yêu thì người ấy đã ở trong Nước Chúa, và là người yêu mến Thiên Chúa. Trái lại, những ai ở trong nhà thờ mà không có Tình Yêu, thì người ấy vẫn còn ở ngoài Nước Chúa, và không hề yêu mến Thiên Chúa.

Có Chúa hiện diện trong lòng ta, ta không còn lo lắng sợ hãi nữa. Có Chúa ở cùng, ta an tâm vững chí. Trên con đường đời, ta không lẻ loi một mình, vì có Chúa ở cùng, vì hồng ân của Ngài như mưa rào luôn tuôn đổ xuống trên ta, vì sức mạnh của Ngài luôn gìn giữ và che chở ta.  Mỗi nẻo đường đời ta đi, ta ôm trong lòng tình yêu của Chúa: Tình yêu của người dám hy sinh mạng sống của mình cho người mình yêu.

***

Lạy Chúa!

Ngài đã đến và cư ngụ trong lòng con. Xin cho con chỉ biết quy hướng vào Ngài.

Ngài đã đến và ở lại trong lòng con. Xin cho con biết chìm sâu trong Ngài.

Khi con đã gặp Ngài, không còn là con và Ngài nữa.

Vì con chẳng là gì, và vì Ngài là tất cả của đời con. Amen

Tổng Hợp Từ R. Veritas
(BĐ1:Acts 15:1-2,22-29- BĐ2:Rev.21:10-14,22-23 – PÂ:Ga.14:23-29)

ÐI TÌM CHÉN THÁNH

zzTheo một câu chuyện cổ nước Anh, thì chén thánh mà Chúa Giêsu dùng trong bữa tiệc ly đã được đem về thành Cas-tân-bơ-ry.  Nhưng vì lòng dạ độc ác của dân thành cho nên chén thánh này đã được đưa về trời, và chỉ những ai có tâm hồn trong sạch, quảng đại mới được nhìn thấy chén thánh.

Một người quí tộc trong thành phố này ước ao được nhìn thấy chén thánh một lần trong đời mình.  Ông lên đường tiến về lâu đài trước kia đã cất giữ chén thánh.

Trong cuộc hành trình, ông gặp một người phong cùi ngồi ăn xin bên vệ đường.  Ông ném cho kẻ khốn khổ một đồng tiền mà không thèm ngó đến anh ta. Và dĩ nhiên ông đã không bao giờ nhìn thấy được chén thánh.

Mấy chục năm sau, người quí tộc giờ đây đã trở thành một cụ già cũng quyết chí trở lại lâu đài một lần nữa.  Lần này ông gặp lại người phong cùi cũng ở chỗ cũ, bên vệ đường.

Vừa thấy kẻ khốn cùng, nhà quí tộc liền mở hành trang.  Ông rút ra một ổ bánh mì thơm ngon và một chiếc cúp bạc sang trọng.  Ông chia cho người phong cùi nửa ổ bánh và ăn phần còn lại.  Rồi ông dùng chiếc cúp bạc múc nước nơi dòng suối bên cạnh.  Ông đưa cho người phong cùi uống trước rồi uống phần còn lại.

Vừa lúc ấy mắt ông bỗng thấy người phong cùi biến dạng.  Rồi ông nghe có tiếng nói như sau:

“Chính Ta đây.  Ngươi đã cho Ta ăn và uống.  Bởi vì ai trao ban là trao ban cho ba người: cho bản thân mình, cho kẻ đói khát và cho chính Ta”.

R. Veritas

*************************************

Cho đi là trước hết cho chính mình.

Một tấm lòng càng rộng mở càng có khả năng lãnh nhận nhiều. Một tác giả đã nói: “Con tim làm giàu bằng cách cho đi”.

Nhưng cho người khác không phải chỉ là cho người khác.  Người khác ấy chính là hình ảnh của Thiên Chúa.  Người khác ấy chính là hiện thân của Chúa Kitô.  Người khác ấy là “Chính Ta đây”.

Cho tha nhân là trước hết cho chính mình.  Cho tha nhân là tự trở nên giàu có.  Nhưng cho Chúa Kitô nơi tha nhân chúng ta sẽ chắc chắn có được kho tàng vĩnh cửu, vượt xa muôn ngàn lần những giàu sang, những giá trị của đời này.

Hơn ai hết, Kitô hữu chúng ta đã quá hiểu chân lý cơ bản này.  Nhưng từ hiểu biết đến thực hành nhiều khi là cả một thách đố lớn lao.

Không có can đảm vượt qua thách đố ấy làm sao chúng ta sẽ là môn đệ chân chính của Chúa Kitô được?

“Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy, là chúng con yêu thương nhau”.

Tha nhân khốn khổ nghèo hèn là chén thánh chứa đựng Chúa Kitô.  Tìm đến đó vơí tấm lòng quảng đại và bàn tay rộng mở chúng ta sẽ chắc chắn gặp được Ngài.

*************************************

Lạy Chúa,

Ước gì con có thể yêu Chúa
Bằng một trái tim sốt mến,
Dứt khoát hiến dâng!
Ước gì con biết yêu Chúa vì Chúa
Và ở lại trong tình yêu Chúa
Như những nhà thần bí lớn đã biết yêu Chúa…

Chớ gì con có thể đồng thời yêu anh em
Bằng một trái tim nhân từ, niềm nở thủy chung,
Vì Chúa, vì anh em,
Mà vẫn đơn sơ, chân thành,
Ân cần săn sóc, hoà mình với họ,
Luôn sẵn sàng yêu mỗi người,
Yêu mọi người, xem tất cả là Dân Chúa.

Chớ gì con biết yêu anh em
Như Chúa yêu họ, như Chúa yêu con….
Song lạy Chúa, đâu có dễ như vậy
Đối với trái tim phàm hèn con,
Bao giờ cũng chứa đầy tự ái,
Có lúc lạnh lùng như sắt đá,
Có lúc quá trớn bồng bột…..

Jean Dozolme

SỨC MẠNH CỦA THA THỨ

Sống Sao Cho Đẹp hôm nay xin mượn nhân vật Jean Valjean (Giăng văn Giăng) trong tác phẩm nổi tiếng Những Người Khốn Khổ của Vitor Hugo để bàn về chủ đề tha thứ-hòa giải. Qua nhân vật này, chúng ta sẽ học được giá trị và sức mạnh của sự tha thứ khi chúng ta tha thứ cho người khác.

Câu chuyện xảy ra tại nước Pháp vào thế kỷ 19.  Jean Valjean (Giăng văn Giăng) là một phạm nhân khổ sai vừa ra khỏi tù sau gần 20 năm thụ án vị tội ăn cắp một ổ bánh mì.  Sau khi được tự do, Jean Valjean vẫn thực hiện việc ăn cắp vì xã hội ruồng bỏ ông ta.  Lần này, anh ta đã ăn cắp những chén đĩa bạc của vị ân nhân đã đãi anh ta một bữa ăn tối và cho ngủ qua đêm.  Vị ân nhân ấy là Giám mục Myriel. Hôm sau, Jean Valjean bị bắt với bằng chứng trước mắt.  Nhưng ngay tức thì, Giám mục Myriel đã nhanh nhẹn nói với cảnh sát rằng: những chén đĩa bằng bặc kia là quà tặng mà ngài tặng Jean Valjean.  Xúc động trước lòng đại lượng và cao thượng của Giám mục Myriel, Jean Valjean đã trở nên con người mới; ông đã thành công cả về mặt tinh thần lẫn vật chất.

Sau 20 năm bị giam giữ, nhà tù đã không thể làm cho con người Jean Valjean tốt hơn, nhưng chỉ bằng một hành động tha thứ cao thượng của Gám mục Myriel, Jean Valjean đã thay đổi thành một con người hoàn toàn mới và hữu ích cho xã hội.  Ông trở thành thị trưởng của một thành phố và đã tiếp tục dành trọn cuộc đời của mình để giúp người nghèo và không ngừng tha thứ cho kẻ hại mình.

***********************************

zzQuí bạn thân mến, ai ai trong chúng ta cũng được mời gọi không chỉ sống đúng theo pháp luật, nhưng còn là sống đẹp và biết tôn trọng phẩm giá người khác.  Hành động của Giám mục Myriel đã làm cho Jean Valjean thay đổi không phải vì giá trị của những chiếc đĩa bạc đã giúp cho Jean Valjean một số vốn làm ăn, nhưng quan trọng hơn là Giám mục Myriel đã giúp cho Jean Valjean mở mắt ra để thực sự thấy lòng tốt nơi những người xung quanh mình.  Chính khả năng nhận ra được lòng tốt nơi những người khác đã giúp cho Jean Valjean có niềm hy vọng và tin vào cuộc đời.  Chính niềm hy vọng này đã giúp cho Jean Valjean thành công và trở nên con người tốt.

Thưa bạn, sức  mạnh của tha thứ là nằm ở chỗ đó.  Khi bạn tha thứ cho một ai thì hành động tha thứ này nó không chỉ là hành động giữa bạn và người ấy, nhưng nó có ảnh hưởng và tác dụng rộng lớn trong mối quan hệ xã hội.  Biết đâu, nhờ thái độ hòa giải tha thứ với một ai đó mà bạn có thể góp phần vào hạnh phúc cho gia đình của đương sự ấy thì sao?  Biết đâu, lời nói xin lỗi của bạn hôm nay sẽ giúp cho ai đó có một giấc ngủ ngon và một bầu khí chan hòa trong bữa cơm chiều với gia đình họ thì sao?  Như thế, việc tha thứ cho người khác không chỉ ảnh hưởng giữa bạn và người ấy, nhưng nó còn như là hành động trao tặng một món quà.  Lời xin lỗi và thái độ hòa giải của bạn với người ấy có thể sẽ tạo một sức sống mới cho họ; bạn cho họ một niềm hy vọng và niềm tin vào cuộc đời; bạn cho họ biết rằng lòng tốt và người tốt vẫn hiện diện trong một thế giới mà xem chừng như nhiều hận thù và ghen ghét.

Bạn thân mến, khi bạn tha thứ và hòa giải, bạn không mất gì cả, nhưng là một hành động cao thượng để giúp người.  Bạn hãy giúp cho những người mà theo bạn là không thể tha thứ ấy cơ hội để họ có niềm tin vào lòng tốt con người qua hành động của bạn.

***********************************

Lạy Chúa, con sẽ tha thứ cho anh em con, vì con muốn họ hạnh phúc hơn.  Con muốn trao tặng họ niềm tin và hy vọng vào cuộc đời bằng chính hành động của con.

Br. Huynhquảng

 

 

YÊU NHƯ CHÚA YÊU

Tình yêu là một đề tài muôn thuở, nhất là vào thời buổi kim tiền hôm nay. Tình yêu là một mặt hàng đắt khách. Tình yêu xuất hiện ở mọi nơi, mọi ngõ ngách của cuộc sống. Tình yêu xuất hiện trên báo chí và sách vở, trên phim ảnh và mọi ngành nghệ thuật. Những bài tình ca; những cuốn phim nói về tình yêu, những cuốn sách; những vần thơ được viết ra để ca ngợi tình yêu… Tất cả đã thu hút con người về với tình yêu.  Có vẻ như tình yêu hiện diện ở khắp mọi nơi và chi phối đời sống của mọi con người.

***

Bạn thân mến! Lời Chúa trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến tình yêu : “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em (Ga.13:34)

Yêu thương nhau” không những là một lời khuyên mà còn là một lệnh truyền của Chúa Giêsu, là đặc điểm của những người theo Chúa, là sứ mệnh của mỗi người Kitô.

Yêu thương nhau” đó là giới răn của Chúa. Nhưng không phải yêu thương theo kiểu phàm trần. Người đời thường chỉ yêu những ai yêu mình, yêu những người xem ra có lợi cho mình, yêu theo bản tính ích kỷ của mình. Chúa Giêsu muốn các môn đệ của Người phải yêu nhau như Chúa đã yêu.

Yêu như Chúa yêu” là phải hy sinh quên mình, phải khiêm nhường phục vụ anh em. Yêu như Chúa yêu là phải yêu cả những người bé nhỏ nghèo hèn, yêu cả những người ghét mình, những người làm hại mình, những người khó thương khó ưa.

Yêu như Chúa yêu” là phải không ngừng tha thứ, không ngừng làm hoà với nhau.

Yêu như Chúa yêu” là sự sống của Giáo Hội, là nét cao đẹp của người Kitô. Nét cao đẹp ấy phản ánh dung nhan Thiên Chúa. Nét cao đẹp ấy có sức hấp dẫn mọi người đến với Chúa.

Không còn nhầm lẫn nào nữa. Muốn làm môn đệ Chúa Giêsu, ta phải yêu như Chúa yêu.  Tình yêu của Đức Giêsu không phải tự Ngài nghĩ ra, không phải phát xuất từ chính Ngài, nhưng bắt nguồn từ Chúa Cha: “Như Cha đã yêu mến Thày thế nào, Thày cũng yêu mến anh em như thế”. (Ga.15:9).

***

Lạy Chúa, xin dạy con biết yêu mến anh em như Chúa đã yêu thương con. Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1: Acts 14:21-27 –  BĐ2: Rev 21:1-5a  –  PÂ: Ga.13:31-33a, 34-35)

KHI NGƯỜI KHÔNG ÐÁP TRẢ

Ai trong các con có bạn hữu nửa đêm đến nhà mình nói: Bạn ơi, cho tôi mượn mấy tấm bánh, vì bằng hữu ở xa tới mà tôi hết đồ ăn rồi.  Người kia ở trong trả lời: Ðừng quấy rầy người ta, cửa đóng rồi, trẻ nhỏ ngủ hết, ai dậy mà lấy cho ông được.  Nhưng nếu họ cứ gõ hoài.  Ta bảo thật, người ấy không dậy mà cho vì tình bạn bè thì ít ra vì họ quấy rầy nên cũng ráng dậy mà lấy cho họ.  Nên Ta bảo cho các con rõ: Vì hễ ai xin, sẽ được, ai tìm sẽ thấy, ai gõ sẽ mở cho (Lc. 11: 5-10).

Chúa bảo tôi đến gõ cửa, ở đấy có chờ đợi.  Ðó là lời xác định của Chúa.  Như vậy, chắc chắn tôi sẽ bắt gặp nếu tôi kiếm tìm, tôi sẽ tìm thấy nếu tôi van xin.

*************************************

Nhưng trong đời, tôi đã kinh nghiệm một nỗi bận tâm khó hiểu.  Tôi gọi mà Chúa không đáp trả.  Tôi xin mà Chúa không cho.  Có những vực sâu của tâm hồn, có những đêm dài bất an, tôi hướng về Chúa nhưng tôi không gặp.  Tôi không ước mơ những ước mơ lớn.  Tôi chẳng xin sang giàu.  Tôi chỉ xin cho tôi nhẹ bớt khổ đau tâm hồn.  Tôi chỉ xin cho đỡ kéo dài bệnh tật của thân xác.  Tôi chỉ xin Chúa soi cho tôi một ánh đèn khi tôi phải quyết định những vấn đề quan trọng.  Tôi chỉ xin Chúa giữ tôi lại trước đêm đen mịt mùng cám dỗ.  Nhưng tiếng tôi từ vực sâu lại vọng về với tôi trong nỗi vắng.  Những lúc tôi cần Chúa nhất thì Ngài lại bỏ tôi đi xa.  Vì sao Người im tiếng?

*************************************

Ngài im tiếng.  Hay có phải Ngài đang nói mà tôi không nghe?  Ngài chối từ.  Hay có phải cánh cửa đã mở mà tôi không vào vì có vũ tiệc của mùa xuân trần thế ở chung quanh?  Ngài im lặng.  Hay có phải Ngài bảo tôi: Hãy vào sa mạc, hãy ra bờ đá lặng thinh, hãy khép lại bớt cửa lòng rồi con sẽ nghe thấy tiếng Cha.  Nhưng tôi chán những bờ đá vắng vẻ, và tôi đã yêu những vũ tiệc của mùa xuân trần thế ở chung quanh.  Làm sao tim tôi nghe được tiếng con họa mi đang hót khi mà bầy ve sầu đam mê đang kêu inh ỏi trong hồn?

Ngài thờ ơ.  Hay có phải Ngài không đáp trả vì tôi bất xứng với ân sủng của Ngài.  Chẳng ai có thể trách vì sao không có mặt trời nếu họ cứ sống dưới hầm tối, vực sâu.  Chẳng ai có thể trách vì sao không có bình an nở giữa khu vườn tham lam.  Người cha tốt là người cha đóng cửa nhà mình để đứa con khỏi ngày ngày về lấy gia tài đi hoang đàng, phung phí.

Vì sao Chúa không cho tôi điều tôi xin?  Ðã bao lần Chúa bắt tôi đi.  Gian nan. Mỏi.  Tôi muốn ghé tạm xuống đường ngồi nghỉ.  Nhưng Chúa biết để tôi ngồi nghỉ, dần dà tôi sẽ nghe theo tiếng nói của đất thấp, tôi sẽ lười biếng đối với tiếng gọi của trời cao.  Tôi trách vì sao Người không cho tôi lập nghiệp trên những ước mơ của tôi, xin làm quê hương trên những ý nghĩ riêng tư của tôi.  Ngài chẳng đáp trả, vì Ngài biết đường dễ dãi sẽ dẫn đến hư đi.  Trong những đêm đen như mù mịt, tôi gõ nhưng cánh cửa chẳng mở.  Phải chăng chỉ có Ngài, Ngài mới biết những gì là tốt nhất cho phần rỗi của tôi. Như vậy, không đáp trả có là dấu chỉ của tình thương?

*************************************

Khi không đáp trả, đấy cũng là một cách trả lời.  Trả lời bằng lặng im nhiều khi lại là câu trả lời thâm sâu và hàm chứa nhiều ý nghĩa.

Tôi không đến với ai mà tôi biết chắc rằng tôi không thể tin cậy.  Khi đến xin Chúa trợ giúp là tôi đặt niềm tin nơi Ngài.  Nếu đã đặt niềm tin thì sao lại có thể phân vân.  Khi Ngài im lặng như không đáp trả, tôi lo âu, thì đấy là dấu hiệu niềm tin đó không vững vàng.

Niềm tin là lời cầu nguyện để xin được biến đổi.  Như thỏi đất sét tin mình nằm trong tay người thợ lành nghề.  Người thợ gốm biết loại đất sét nào có sức chịu đựng để đúc gạch lót đường, loại nào có thể tạc tượng.  Niềm tin vững vàng là phó thác trong tay người thợ gốm vì tin rằng mình được yêu thương và săn sóc.  Tin vững vàng hệ tại phó thác rằng Chúa là người thợ gốm khôn ngoan và không lầm lẫn trong công trình sáng tạo.  Chứ tin vững vàng không có nghĩa là tin mình sẽ biến đổi được ý định của Chúa để đạt được điều mình xin.  Có những lời xin chẳng bao giờ được đáp trả nhưng lại là một ân sủng thật lớn lao.

*************************************

Ngày còn bé tôi không biết cầu nguyện thế nào.  Những ngày bom nổ nhiều là những ngày mẹ tôi càng lo.  Mỗi tối, mẹ tôi bảo tôi ngồi lần hạt cầu nguyện cho cha ngoài trận tuyến.  Trong trí óc non dại, tôi cầu nguyện cho cha tôi được bình yên.  Một lằn đạn hiểm nghèo.  Một trái mìn kín đáo.  Ðời sống bếp bênh như treo bằng sợi chỉ.  Chỉ một giấy báo tin thôi, tôi sẽ là đứa mồ côi.  Mẹ tôi sẽ là góa phụ.  Tôi đã thấy nhiều lá cờ trải lên mộ đất.  Tôi đã thấy nhiều chuyến xe nhà binh chở đơn độc một quan tài, người thiếu phụ đội nón trắng ngồi lặng lẽ không còn nước mắt để khóc.

Rồi chuyện một đêm đã đến.  Chiến tranh đổ xuống trên mảnh đất quê tôi.  Tôi còn bé, nhưng tôi hiểu những nghẹn ngào của người có thân nhân vừa mới vĩnh biệt.  Mưa ướt lẹp xẹp, tôi nghển cổ nhìn qua cửa sổ đông chật người.  Một chiều mưa ảm đạm, lạnh lẽo làm sao.  Mái lá thấp đổ những dòng mưa thảm não.  Tôi vẫn còn nhớ cái buổi chiều xám nặng nề ấy cho tới hôm nay.  Ðôi chân của cậu X. chết nằm sóng sượt trên cái phản gỗ.  Bùn dính lem luốc.  Mợ X. khóc thảm thiết bên xác chồng mới chết trận.  Ai đã bắn chết cậu?  Có phải kẻ mà cậu chưa kịp bắn?

zzTò mò, tôi theo những đứa trẻ khác ra ven rừng xem xác chết.  Những hố bom cày tung đất còn mới nguyên.  Vải băng trắng còn lẫn với xác người chưa kịp thu.  Giữa những xác người ấy, tôi thấy một người nằm chết cong queo, cụt chân vì bom nổ, máu bầm khô bết vào áo đầm đìa.  Mặt cháy đen.  Nhìn kỹ trên khuôn mặt ấy, tôi không quên được là chuỗi tràng hạt vẫn quàng vòng quanh cổ.  Kẻ chết là một bộ đội miền Bắc.  Ðiều làm tôi ngỡ ngàng là bộ đội cộng sản cũng tin vào Chúa như tôi sao?

Từ ngày đó, mỗi lần giúp lễ, nhìn lên thánh giá mà hồn tôi bâng khuâng.  Tôi thấy Chúa buồn.  Quỳ đây, tôi cầu nguyện xin Chúa chở che cha tôi ngoài chiến trận.  Nhưng người cán binh bộ độ ấy, có thể cũng có một đứa con trai bằng tuổi tôi ở ngoài miền Bắc.  Nó cũng là cậu bé giúp lễ.  Cứ mỗi sáng, mẹ nó cũng đánh thức nó dậy thật sớm để giúp lễ, cầu nguyện cho cha đang ở mãi trong miền Nam heo hút.  Năm tháng bặt tin, chắc chiều chiều, tối tối, mẹ nó cũng rối bời lòng trí, thẫn thờ nhìn về phương Nam, dục nó đọc kinh.  Chúa nghe lời tôi để cha tôi giết họ?  Chúa nghe lời cậu bé kia để cha cậu giết cha tôi?  Cả hai cậu bé đều cầu nguyện, Chúa biết nghe lời ai?

Tôi không tin là Chúa có câu trả lời.  Tôi chỉ cảm thấy rằng Chúa khó xử ghê gớm lắm.  Chúa trên thập giá như càng thêm đau đớn.  Mỗi lời cầu của tôi là một vết thương cho Ngài.  Mỗi nỗi lo âu của cậu bé ngoài miền Bắc kia làm Ngài thêm khổ tâm.

Tôi hình dung Chúa như một người cha.  Ðứa con thứ nhất chạy đến: Cha ơi, đưa con dao cho con để con chém nó.  Ðứa con kia chạy lại, sợ hãi: Cha ơi, đừng đưa!  Cha có biết rằng con cũng là con của cha sao?  Và người cha chỉ còn biết đớn đau mà thôi, vì cả hai con đều là con của mình.

Từ đó, mỗi buổi sáng giúp lễ, tôi thấy Chúa trên thập giá như ngậm ngùi.  Tay giang rộng cứ thêm mãi khổ thương.  Từ ngày đó, trong cái trí óc non nhỏ của tôi, tôi hiểu mơ màng rằng bất cứ hành động nào gây thương tích cho nhau cũng là làm khổ cho Cha trên trời.

*************************************

Lạy Chúa,

Mỗi khi con cầu nguyện thì cho con biết xin được biến đổi, chứ đừng biến đổi Chúa.  Làm sao con có thể biến đổi sự khôn ngoan của Chúa thành sự vụng về của con.  Khi con nài Chúa làm theo ý con là con muốn đem sự hoàn hảo của Chúa thành những bất toàn giống như của con.

Con ngỡ tiếng sói sủa là vui tai.  Con ngỡ lời mời của Satan là tha thiết. Con ngỡ trái táo hồng có hương thơm, nào ngờ đâu con có biết sâu độc làm tổ ở bên trong.  Những lời con xin nhiều khi rất đẹp, nhưng chỉ là đẹp theo cái nhìn của con mà thôi.

Lạy Chúa,

Xin cho con hiểu rằng có những lời xin mà Chúa chẳng thể đáp trả được.  Và chính lúc Chúa im lặng lại là lúc Chúa đang nói với con bằng ngôn ngữ nhiệm mầu nhất.

Lm Nguyễn Tầm Thường, SJ trích trong “Con Biết Con Cần Chúa”