LỜI KÊU CẦU CỦA CON CHIÊN

zzMột con chiên nhỏ ham vui, lạc đàn.  Nó muốn quay về nhưng bí lối, quên đường.  Bản tính loài chiên Tạo Hóa cho hiền lành, nhưng chậm chạp, khù khờ.  Nó không có sự khôn ngoan của loài chó biết vẫy đuôi vui mừng khi chủ gọi, vỗ đầu.  Nó không biết để dấu trên đường đi nên khi lạc lối không nhớ nẻo về.  Bởi đó, chiên cần người chăn.

Giữa núi đồi bao la, con chiên nhỏ không biết làm gì khác hơn là lớn tiếng kêu vang, hy vọng người chăn chiên nghe thấy, rồi tìm đến, mang nó về đàn.  Nhưng đáp lại chỉ là sự im lặng của cỏ cây, đồi núi.  Nó mệt lả, ngất đi.  Bỗng nó nghe tiếng chó sủa, tiếng gậy roi đập vào các lùm bụi từ xa. Người chăn chiên đang tìm nó!  Nó vốn sợ chó, sợ đòn gậy.  Nó cũng không còn sức để lớân tiếng kêu cầu.  Nó khiếp sợ, thiếp đi.  Người chăn chiên đi qua, vô tình không hay biết.  Khi tỉnh lại, nó nghe tiếng chó và gậy roi đã đi xa.  Trước mặt nó là hố sâu, thung lũng.  Sau lưng là vách đá trơ trơ.  Ngày mai, người chăn chiên sẽ trở lại kiếm nó?  Hay nó đã được ghi là mất tích?  Ngày mai biết nó còn sống không?  Trời cao có thấu?  Tuyệt vọng… Phó mặc!  Nó lầm lũi bước đi… Về đâu?

Chó và gậy là hai vật không thể thiếu đối với người chăn chiên, hai dụng cụ hành nghề tất yếu, hai phụ tá đắc lực.  Đối với người mục tử nhân lành, gậy dùng để chỉ đường dẫn chiên đến những đồng cỏ xanh, suối nước mát; và khi cần, gậy trở thành khí cụ dùng để bảo vệ đàn chiên chống lại loài lang sói đang rình rập chờ vồ mồi.  Nhưng đối với người chăn thuê, gậy tượng trưng cho quyền hành chỉ huy, ra lịnh, chủ yếu là phương tiện trừng phạt những con chiên lạc đàn.  Chó giúp kiềm giữ chiên đi theo hàng ngũ.  Khi thấy con chiên nào muốn rời đàn đi riêng, chó sủa lên để báo hiệu cho người chăn và đồng thời cũng để làm chiên lạc hoảng sợ quay về, nhất là những con chiên thích chạy nhảy tung tăng, hoặc mải mê ngắm nhìn trời cao, hoặc đang khao khát muốn tìm một dòng nước mát trong lành hơn.

Thời xưa, đối với dân Do Thái, con chiên là một tài sản đáng kể, được chủ tận tình chăm sóc sớm hôm.  Khi một con chiên đi lạc, người chăn chiên không quản công khó nhọc đi tìm kiếm khắp nơi suốt ngày, tìm mãi cho đến khi gặp lại mới thôi.  Liên hệ giữa người và vật là liên hệ yêu thương gắn bó. “Ta biết con chiên Ta và con chiên Ta biết Ta” (Yn 10:14).  Người chăn chiên biết rõ đặc tính từng con một và chiên cũng dễ dàng nhận ra tiếng chủ chăn của mình.  Ngày nay, cuộc sống đã đổi thay, người chủ chăn có bao nhiêu việc phải lo liệu, tính toán, bao nhiêu thứ ưu tiên hàng đầu, ngổn ngang trăm mối… Con chiên lạc không còn là đối tượng đáng để ý quan tâm.  Liên hệ giữa người với người là liên hệ khế ước, hợp đồng, liên hệ kinh tế, tài chánh, liên hệ bổn phận và quyền lợi, nói khác đi, liên hệ theo lối tiền trao cháo múc!  Con chiên thường không còn nhận ra tiếng người chăn, và chủ chăn cũng không biết con chiên mình, trừ những con chiên béo mập, ngoan ngoãn, vâng lời, biết làm bùa làm phép…

********************************

Vậy,  “Lạy Chúa Yê-su, xin hãy đến, hãy tìm kiếm tôi tớ Chúa, tìm kiếm chiên lạc của Chúa.

Hỡi Mục Tử, xin tìm kiếm, như Yu-se đã tìm kiếm những con chiên của ông…

Chiên của Chúa còn lạc đường, bao lâu Chúa còn trì hoãn, còn dừng chân lại trên núi non.  Xin Chúa hãy để lại 99 con chiên và lên đường tìm một con đang lạc lối.

Xin hãy đến và đừng mang theo chó.  Hãy đến và đừng đem theo những người làm thuê thô lỗ.  Hãy đến, và đừng dẫn theo người chăn thuê không biết đi qua cửa chính.  Hãy đến, không mang theo người trợ giúp, không người trung gian, vì từ lâu con vẫn đang chờ đợi Chúa đến.

Con biết rằng Chúa sắp đến, nếu thực là con đã không quên giới lệnh của Ngài.  Hãy đến mà đừng mang gậy gộc, trái lại, với tình yêu thương và thái độ từ nhân khoan thứ.”

(Lời kinh của thánh Ambrôsiô, trích Chứng Nhân Hy Vọng, FX. Nguyễn Văn Thuận, Regina 2000, tr. 50).

Xin Chúa Thánh Thần xuống, không phải chỉ bây giờ và sau này, nhưng mãi mãi và luôn luôn, để canh tân Giáo Hội Chúa từng ngày, từng giờ, từng mỗi phút giây.

Xin Chúa Thánh Thần xuống để thêm sức mạnh cho các mục tử của Chúa sống trung thành với lời khấn hứa khó nghèo, thanh sạch, và thấu hiểu “điều răn mới” để đàn chiên luôn nhìn thấy hình ảnh của Chúa yêu thương nơi vị chủ chăn của mình.

Xin Chúa Thánh Thần xuống để hoán cải và đổi mới mỗi người chúng con, để chúng con luôn xứng đáng với tình yêu của Chúa Yê-su Cứu Thế.

Chúa ơi, xin hãy đến!  Bao nhiêu con chiên đang mong chờ Ngài!

Nguyễn Bửu Đồng

CHIÊN TA THÌ NGHE TIẾNG TA

(Ga.10:27)

Chúa là Mục Tử chăn dắt tôi
Tôi chẳng thiếu thốn chi
Trong đồng cỏ xanh rì
Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành
Và bổ sức cho tôi
Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính
Vì danh dự của Người.
Lạy Chúa,
Dầu qua thung lũng âm u
Con sợ gì nguy khốn
Vì có Chúa ở cùng
Côn trượng Người bảo vệ
Con vững dạ an tâm.
Lòng nhân hậu và tình thương Chúa
Ấp ủ con suốt cả cuộc đời
Và con được ở đền Người
Những ngày tháng, những năm dài triền miên…

(Tv.23)

***

Chúa ơi!  Con nào có hay “Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ con suốt cả cuộc đời”. Con đâu biết rằng “ Con được ở trong nhà của Chúa, những ngày tháng, những năm dài triền miên”. Với “côn trượng Ngài bảo vệ”, Ngài đưa con đi qua thung lũng âm u của cuộc đời. Những ngày tháng đi hoang, những năm tháng lạc lối của niềm tin… Ngài dẫn đưa con về đường ngay nẻo chính. Ngài mang con tới dòng nước trong lành, và bổ sức cho con…

zzChúa ơi! Lời Chúa hôm nay nhắc nhở con: “Chiên ta thì nghe tiếng ta” (Ga.10:27) . Nhưng con nào có nghe được tiếng Chúa. Tiếng Chúa qúa nhẹ nhàng, nhẹ nhàng như lời thì thầm của gió, sâu thẳm như tiếng nói của đáy đại dương. Tiếng Chúa bị che lấp bởi muôn ngàn tiếng ồn ào khác luôn vang vọng bên tai con: Tiếng của vật chất tiền bạc; tiếng của địa vị danh vọng; tiếng của đam mê dục vọng…Con không nghe được tiếng Chúa vì con không ở trong đàn chiên của Chúa?  Hay vì con vẫn ở trong đàn chiên của Chúa nhưng không hề “biết” Chúa? Cái “biết” thâm sâu và gần gũi mà con không có để nhận ra tiếng kêu mời của Người Mục Tử Nhân Lành.

Ta biết chúng và chúng biết ta” (Ga.10:27).  Cái “biết” thâm sâu đó không phát xuất từ kiến thức của cái đầu, nhưng phải đến từ lòng tin yêu cảm mến của con tim. Cái “biết” thâm sâu đó làm con quyến luyến, gắn bó và ràng buộc đời mình với Chúa, giúp con từ bỏ chính mình để đi theo Chúa. Cái “biết” thâm sâu đó sẽ làm con vững dạ an tâm, sẽ giúp con không sợ gì nguy khốn, sẽ mang con đến cuộc sống sung mãn và hạnh phúc trong đàn chiên của Ngài.

Chúa ơi! Lời Chúa hôm nay mời gọi con “trở nên một với Chúa” giống như “Ta với Cha là một” (Ga.10:30). Con băn khoăn với lời mời gọi của Ngài, vì không biết làm sao để con được “trở nên một” với Chúa? Làm thế nào để con được “đồng hình đồng dạng” với Ngài?  Và làm thế nào để con được trở nên “giống” Ngài mỗi ngày mỗi hơn? Lòng con cũng luôn nghi ngại với những câu hỏi: – Con sẽ được gì khi con trở nên một với Chúa? – Con sẽ ra sao khi con được đồng hình đồng dạng với Ngài?  Lời Chúa hôm nay đã cho con câu trả lời thỏa đáng: “Ta ban cho chúng sự sống đời đời. Chúng không bao giờ phải diệt vong” (Ga.10.28)

Chúa ơi! Lời Chúa hôm nay hé mở cho con: “Ta chính là Mục Tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” (Ga 10:11).  Không ai cướp được đoàn chiên khỏi tay Người, vì Người dùng chính mạng sống mình mà bảo vệ. Người ràng buộc đời mình vào sinh mạng của đoàn chiên.

Chúa ơi! Chúa là là Mục Tử chăn giữ đời con, xin cho con biết lắng nghe tiếng Chúa và bước đi theo Ngài.  Xin cho con biết noi gương bắt chước Chúa để trở nên mục tử nhân lành trong gia đình con, trong xóm làng mà con đang sinh sống, và trong cho cộng đoàn giáo xứ con đang sinh hoạt. Amen.

Linh Xuân Thôn
(BĐ1:Cv.13, 14. 43-52 – BĐ2:Kh.7, 9.14b-17– PÂ: Ga.10:27-30)

ÔNG QUAN TÒA

zzÔng LaGuardia là thị trưởng của thành phố New York vào những năm xảy ra nạn đói tại nước Mỹ.  Vào một hôm lạnh giá tháng giêng năm 1935, ông đã bãi nhiệm một vị chánh án và ngồi vào ghế chủ tọa để xét xử một phiên tòa có một không hai.

Bị cáo là một bà già nghèo nàn, nhem nhuốc.  Bà bị tố cáo là đã lấy trộm một ổ bánh mì. Bà thú nhận rằng, bà ăn cắp ổ bánh mì cho con gái của bà đang bị bệnh và cháu của bà không có gì ăn.  Người tố cáo bà là chủ tiệm bánh mì; ông đề nghị quan tòa phạt bà 10 dollars vì bà ta là một người xấu và đồng thời dùng hình phạt này để răn dạy những kẻ xấu khác.

Ông LaGudrida thở dài và nói, “Tôi phải phạt bà 10 dollars hoặc 10 ngày trong nhà tù, vì luật pháp không miễn trừ cho một ai cả.”  Sau khi tuyên án, ông rút trong túi áo mình 10 dollars và nói tiếp. “Đây là 10 dollars tôi tặng bà để đóng tiền phạt; nhưng quan trọng hơn, tôi sẽ phạt mọi người trong phòng xử án này mỗi người 50 cents vì đang sống chung trong một khu phố với một người mà đã để người ấy lấy cắp bánh mì để nuôi cháu của mình mà mình không hay biết.”  Hôm sau, hành động xử án lạ kỳ của ông Thị trưởng đã làm cho nhiều người tự nguyện đóng 50 cents “tiền phạt.”  Số “tiền phạt” lên hơn 70 dollars và đã được trao cho người phụ nữ đáng thương này.[1]

*******************************

Bạn thân mến, câu chuyện trên đây như đưa chúng ta một nhận định rằng: Hoàn cảnh xã hội có thể đẩy chúng ta vào những việc làm trái với luật pháp và đạo lý làm người.  Nhưng thật may mắn thay, chính lòng đại lượng và cách nhìn hiểu đời một cách thấu đáo của những người như ông LaGuardia đã không những thể hiện lòng bao dung tha thứ cho người phạm tội nhưng họ còn khơi gợi những người khác về trách nhiệm phải tha thứ và giúp đỡ những người đã có lỗi với mình.

Khi bàn đến tha thứ hay không tha thứ cho một ai đó, chúng ta thường hay nghĩ đến về vấn đề công bằng theo khái niệm của luật pháp.  Khi ai đó xúc phạm hay nói xấu chúng ta… chúng ta dễ dàng trở thành một vị “quan tòa” xét xử người khác theo những khái niệm “qua lại, bù trừ, hơn thua.” Nếu càng để lâu những mối bất hòa trong lòng mình, thì những khái niệm của luật pháp càng dần dần lộ ra rõ hơn và mạnh hơn trong tâm trí của mình.  Đáng buồn thay, những khái niệm này dần dần lớn lên theo tính chủ quan của mình – tức là xét xử người khác theo hướng có lợi cho mình. Mình là người vô tội.  Bà ấy, ông ấy là người có tội.  Bà ấy, ông ấy phải là người xin lỗi mình vì họ đã xúc phạm đến mình thế này, thế này, và thế này,…  Bà ấy, ông ấy đáng bị như vậy.  Bà ấy, ông ấy phải trả giá cho hành động như vậy.

Thưa bạn, thật buồn và đáng thương cho vị trí “quan tòa” chủ quan ấy, vì thực ra, những lời kết án mà mình dành cho người xúc phạm mình đó, chính là những lời kết án cho chính mình. Những khái niệm chủ quan do mình đưa ra với lý do “công bằng, pháp luật, hợp lý” thực ra là những khái niệm bên ngoài; còn thực chất chính là mình đang che đậy vị trí “quan tòa” mà mình vẫn thường cho mình là đúng, còn người khác là sai.  Mình mất ngủ, mình không bình an, mình không thấy hòa khí trong gia đình, mình không thấy cộng đoàn mình có bầu khí chan hòa, chia sẻ, mình khó nở nụ cười,.. cũng là do nguyên nhân của “ông quan tòa” chủ quan trong con người mình tưởng tượng nên.

Thưa bạn, tôi cũng như bạn đều mang lấy thân phận con người vốn nhiều tính xấu và ích kỷ.  Hiểu như thế để chúng ta cảm thông cho chính mình và cũng cảm thương cho nhau.  Vì thân phận con người này, mà chúng ta gặp nhiều khó khăn trong việc tìm sự bình an cho chính mình.  Vì sự yếu đuối của chính mỗi người như chúng ta, mà chúng ta cảm thấy bất lực trước những ý nghĩ tiêu cực về người khác và cũng như về chính mình.  Nếu không nhận ra điều đó, một cách vô tình chúng ta trở thành nạn nhân của chính mình.  Ông “quan tòa” do mình dựng nên đó có thể là kẻ nguy hiểm nhất để hãm hại chúng ta chứ không ai khác.

Chúng ta thường nói với nhau, “Nhân vô thập toàn.”  Hôm nay tôi mời bạn hãy áp dụng lời nhận định ấy vào chính đương sự mà mình đang gặp khó khăn trong việc hòa giải tha thứ.  Anh ấy, cô ấy cũng là “nhân,” vậy tôi còn ngần ngại gì nữa mà không tha thứ cho họ?!!!

Lạy Chúa, nếu Chúa xét xử con, liệu con sẽ ra sao?

Br. Huynhquảng

[1] William J. Bausch, A World of Stories (The Blackrock: Colomba Press, 1998) 233.

GIỌT NƯỚC MẮT NGÀY ĐẦU TUẦN

Chỉ ngày hôm nay thôi, chị đã phải khóc đến ba lần.

Suốt đêm hôm qua, chị hầu như không thể nào ngủ được.  Mọi hình ảnh cứ dồn về.  Hình ảnh người ấy cứ lởn vởn trong tâm não chị.  Chị phải gọi người ấy như thế nào bây giờ nhỉ?  Là cha, là thầy, là anh, là bạn, thậm chí là em…  Chị không biết nữa.  Quả là người ấy đối với chị từng ấy cùng một lúc.  Chưa ai ban cho chị nhiều cho bằng người ấy, hơn bất cứ một người cha nào.  Chưa ai dạy dỗ chị nhiều cho bằng người ấy, hơn bất cứ một người thầy nào.  Chưa ai bênh vực chị nhiều cho bằng người ấy, hơn bất cứ một người anh nào.  Chưa ai thân thiết với chị cho bằng người ấy, hơn bất cứ một người bạn nào.  Chưa ai tin tưởng vào chị nhiều bằng người ấy, hơn bất cứ một người em nào.  Và nhất là chưa ai yêu thương chị như người ấy, hơn bất cứ người cha, người thầy, người bạn, người anh nào. Biết bao lần chị đã từng nghe người ta nói với chị: “em là tất cả đối với với anh”, và chị thấy câu nói ấy rỗng tuếch đến nhói đau.  Thế mà những ngày qua chị thấy bằng kinh nghiệm những đêm thức trắng rằng người ấy là tất cả đối với chị.  Trọn cuộc đời chị chưa biết một người cha, một người thầy, một người anh, một người em.  Chị tìm thấy tất cả nơi Người ấy, để rồi chưa kịp mừng chị đã phải mang một cái tang: Người ấy chết rồi… Chết rồi?  Tự thâm sâu chị vẫn không thể nào tin được rằng người ấy đã chết.  Không thể nào chết được.  Một người có một con tim như thế thì không thể nào chết được.  Thế mà người ấy chết thật rồi.  Chính chị đã nhìn thấy tận mắt ở trên đồi khi người ấy chết, đã chứng kiến người ta tẩm liệm người, đã tiễn đưa người đến phần mộ, đã nhìn chằm chặp khi người ta lăn đá lấp cửa mồ, rồi ngồi quay mặt vào mồ cho đến tối mới chịu về…  Người chết thật rồi.  Không còn ai muốn nhớ đến người…  Không, còn chị chứ.  Dù mọi người quên thì chị không thể quên được người ấy.

zzTrời đã hừng sáng.  Chị có thể ra ngoài rồi.  Việc đầu tiên là đến thăm mộ người.  Chị sẽ là người đầu tiên đến đấy, có thể là người duy nhất, nhưng có sao đâu: chị đâu còn tim óc nào để nghĩ đến ai khác?  Chị đến mộ và khởi đầu ngày của mình với những giọt lệ: chị khóc.  Ai đã đánh mất xác người rồi.  Sao người ta lại ác thế nhỉ?  Hành hạ người đến như thế chưa đủ sao?  Bây giờ chỉ còn là cái xác mà họ cũng không để cho người yên.  Mắt đẫm lệ, chị tìm quanh.  Một ông làm vườn đang ở đấy.  Chị chẳng buồn tìm hiểu sao ở đây lại có một người làm vườn vào sáng tinh sương thế này.  Chị chẳng cần biết rằng một người làm vườn thì không ăn nhằm gì đến một thi hài.  Nhưng chị vẫn bám vào ông như người chết đuối bám vào thanh gỗ mục.

– Bác ơi, nếu bác có dấu thi hài của Thầy tôi thì cho tôi biết.  Tôi van bác.

Người làm vườn mỉm cười: “Maria!”  Tiếng nói này!  Giọng nói này!  Thôi đúng rồi!  Ơ kìa, không phải là người làm vườn, Thầy đấy.  Chị dụi mắt.  Chị không hiểu gì cả.  Vô lý, nhưng quả thật là Thầy.  Đúng là Thầy rồi. “Ôi Rabbi”.  Chị sà vào lòng Thầy.  Thầy ngăn lại: “Maria, đừng giữ lấy Thầy. Hãy đi gặp anh em Thầy và báo cho họ.”

Maria chạy vù xuống Nhà Tiệc Ly.  Chị chạy như đôi chân mọc cánh.  Nỗi vui mừng chưa lau kịp những giọt lệ còn đọng trên mi.  Có thể nào… Có thể nào?  Nhưng sự thật hiển nhiên rồi mà.  Chị chạy báo tin cho các tông đồ.  Chị vào phòng tiệc ly.

– Này các anh ơi, Chúa đã sống lại rồi! Tôi đã gặp Ngài…

Các tông đồ nhìn chị với ánh mắt thương hại và không có một phản ứng nào.  Rồi họ im lặng gục mặt trở về gặm nhắm nỗi thất vọng của mình.

– Thực sự Chúa đã sống lại rồi mà.  Tôi ra mộ thì thấy ngôi mộ trống không.  Sau đó tôi vào vườn tìm kiếm xác Ngài, và đã gặp Ngài.  Chính Ngài sai tôi đi báo tin cho các anh đây…

Đáp lại lời reo vui của chị là những tiếng thở dài:

– Anh Gioan, anh cũng không tin tôi sao?

Gioan trả lời chị với giọng nói thật dịu dàng:

– Chị Madalena à, chị cần phải xem chừng và giữ gìn sức khỏe đấy.  Từ ngày thứ sáu đến nay chị chẳng lo ăn uống ngủ nghỉ gì cả.  Chị phải cố gắng lên, cố gắng mà vượt qua.

Maria bật khóc. “Anh Phêrô, có phải cả anh cũng nghĩ như Gioan không?”

Phêrô nhìn chị với cái nhìn ái ngại, rồi cúi mặt để khỏi khóc theo chị.  Maria thét lên:

– Tôi hiểu rồi, tại vì tôi là con người tội lỗi, chẳng ra làm sao cả, nên các anh không chịu tin tôi. Phải chi tôi là người có thế giá và có đời sống đàng hoàng hơn để các anh tin…  Trời ơi, chẳng lẽ các anh lại không chịu tin rằng Chúa có quyền đến và Ngài đã đến với một con người hèn hạ như tôi sao?

Philip nãy giờ đứng im, tiến lại gần chị an ủi:

– Chị Madalena à, vấn đề không phải là ở chỗ đó.  Có bao giờ chúng tôi đặt vấn đề thế giá hay nhân đức với ai đâu.  Có lẽ là chị yêu thương Chúa quá đến độ chị hoa cả mắt, gặp ai cũng tưởng tượng là Chúa cả.  Chúng tôi thông cảm với chị lắm.  Chị biết đó, đám tang của Thầy cũng làm cho chúng tôi đau đớn lắm chứ…”

Maria gào lên:

– Không phải thế đâu anh Philip à.  Tôi có thể tưởng tượng được mọi chuyện, nhưng tôi không thể nào tưởng tượng nổi là Thầy sống lại.  Chính Thầy đã gặp và nói với tôi mà…

Bây giờ Phêrô mới chịu lên tiếng:

– Chị Madalena à, có lẽ chị cần đi nghỉ đấy thôi…

– Đi nghỉ, đi nghỉ…. Không, đã đến lúc không thể nghỉ ngơi nữa rồi.  Chính các anh là những người đầu tiên tôi loan báo Tin Mừng mà các anh không chịu nghe.  Lời khuyên duy nhất của các anh, những người Thầy đã chọn, những người Thầy đã trao tất cả mọi bí mật của Thầy, lời khuyên duy nhất của các anh là bảo tôi đi nghỉ… Chao ôi, thế mà lời đầu tiên của Thầy lại cũng là một lời nhắn nhủ gởi đến các anh.  Thầy bảo các anh đi về Galilê để gặp Thầy nữa đấy.  Thôi! các anh có nghe không thì tùy ý…  Tôi đi đây.

Chị ra khỏi phòng tiệc ly, chị tức tưởi khóc.  Lần thứ hai trong ngày chị lại khóc.  Chị ra cổng thành.  Chị không còn muốn ở lại trong cái thành mà các tông đồ ngồi nhớ lại những lời hứa vinh quang, và giờ đây đang sợ hãi nuối tiếc. Chị ra cổng thành, nơi mà người ta đã muốn ném đá chị.  Nơi mà lần đầu tiên chị đã bắt gặp ánh mắt thứ tha cùng với tình yêu đã thay đổi cuộc đời mình, một tình yêu vượt qua cái chết…  Chị đã thấy Tình Yêu phục sinh, nhưng chị vẫn đau quặn thắt vì những người tin cẩn nhất của Thầy lại không chịu tin.  Họ còn ngồi toan tính phải tiếp tục sống với một xác chết! Chị gục mặt khóc, gục mặt sâu hơn ngày bị người ta chửi bới, lên án, dày vò…

– Maria!

Chị nhìn lên Thầy với đôi mắt đẫm lệ.  Phải nói với Thầy làm sao đây?  Chắc Thầy buồn lắm.  Mà quả thật gương mặt Thầy thật buồn

– Thầy biết rồi!  Con đừng buồn nữa.  Hãy đi cùng Thầy đến thăm họ.

Nụ cười chợt nở lên môi. Maria chạy theo Thầy trở về phòng tiệc ly.  Các môn đệ vẫn còn ngồi đấy… Thầy vào: “Bình an cho anh em!”

Mọi người ngơ ngác.  Họ vẫn chưa tin.  Họ hoa mắt hết như Maria Madalêna rồi chăng?  Thầy phải bảo họ mang lại một cái gì đó cho Thầy ăn.  Bây giờ họ mới biết rằng Thầy đã sống lại…

– Thầy đã nói với anh em nhiều lần là Thầy sẽ sống lại, anh em quên rồi sao?

Gioan đáp thay cho mọi người: Thưa Thầy, con tin mà! Con tin từ khi thấy lưỡi đòng đâm qua lồng ngực Thầy, con tin từ khi con và Phêrô nhìn thấy ngôi mộ trống.

Sự ngạc nhiên chẳng mấy chốc biến thành một niềm vui ồn ào, và các tông đồ lên tiếng hỏi: “Thưa Thầy, có phải giờ này là lúc Thầy khôi phục vương quyền cho Israel không?”  Giọng Chúa buồn hẳn xuống: “Anh em không cần biết giờ ấy, nhưng anh em hãy đi làm chứng cho khắp thế gian rằng Thầy đã sống lại, thế thôi”

Nói xong, Chúa cúi mặt ra đi, mà không dừng lại nhìn Maria.

Maria bật khóc, nước mắt chị cứ trào mà chị không làm sao giữ lại được.  Chị nhớ lại ánh mắt yêu thương của Thầy, một tình yêu đưa Ngài lên Thập giá.  Chị nhớ lại tiếng kêu thảm thiết trước khi trút linh hồn: Ta Khát!  Chị hiểu rằng Thầy còn phải khát lâu lắm.  Thầy chỉ là Tình Yêu, Thầy có chút quyền bính nào để trao cho ai đâu, vậy mà môn sinh của Thầy chỉ biết có thế, họ mong ngồi bên hữu bên tả Ngài không phải để yêu thương mà là để hưởng phần quyền bính.  Chị không thể nói thành lời, nhưng chị đau lòng quá khi thấy rằng những người Ngài tuyển chọn đã không chịu nhìn nhận sự Phục Sinh của Tình Yêu mà chỉ hướng vào sự phục sinh của uy quyền.

Chúa Giêsu bỏ đi mà không nói lời nào với Maria, dù Ngài thừa biết rằng đây là lần thứ ba chị khóc trong ngày hôm nay, một ngày mà đáng ra chị phải vui mừng nhảy múa.  Hai lần trước, Ngài đã yên ủi chị, nhưng lần này thì không.  Ngài vội vã ra khỏi phòng tiệc ly.  Ngài cúi mặt bước nhanh. Hình như Ngài cũng khóc

Trần Duy Nhiên

 

LỜI TÂM TÌNH

Lời tâm tình là lời nói trên môi miệng, nhưng phát xuất từ con tim. Là lời nói của một người thân dành cho một người thân.  Là tâm huyết của một người bạn dành cho một người bạn…Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay nói về người bạn ấy: Người bạn chài bên bờ hồ Tibêria của miền đất Do Thái – Palestine năm nào.

***

Thầy ơi! Thầy có biết không cái ngày Thầy chết treo trên thập giá, và thân xác Thầy đã vùi sâu trong mộ đá.  Ngày đó cũng là ngày con đánh mất niềm tin, đánh mất phương hướng cuộc đời. Con sợ hãi và trốn chạy, con trở về với cuộc sống bình thường của người dân chài bên biển hồ. Cũng tại biển hồ này năm xưa, Thầy đã đến bên con, mời gọi con bước đi theo Thầy. Những ngày sống bên thầy, bước đi theo Thầy, lòng con rộn rã những niềm vui… Nay không còn nữa.

Hôm nay con theo Phêrô và các bạn chài đi đánh cá. Vất vả cả đêm, công sức bỏ ra thì nhiều nhưng không bắt được gì. Chán nản và mệt mỏi đè nặng lòng con. Con thu lưới chuẩn bị ra về vì trời đã gần sáng. Con hoang mang lo lắng vì không bắt được gì, rồi gia đình con sẽ lấy gì mà ăn? Sẽ sinh sống ra sao?  Nhưng có tiếng ai đó trên bờ vang vọng ra xa: “ Hãy thả lưới bên phải mạn thuyền, sẽ bắt được cá”. Con làm theo và bắt được rất nhiều cá, cá đầy lưới không sao kéo lên nổi. Lạ lùng quá! Không sao hiểu được mẻ cá lạ đầy thuyền này.

Trong lúc tay con đang nhặt cá, thì tay của Gioan chỉ lên bờ và nói nho nhỏ “Chúa đó”.  Con nhìn theo hướng tay của Gioan chỉ, nhưng chỉ thấy một bóng hình mờ mờ, con vui mừng khi có ai đó nhắc đến tên Thầy, nhưng lòng con đầy hoang mang nghi ngờ: “Thầy đã chết rồi mà. Thân xác Thầy đã vùi sâu trong mộ đá, thì làm sao Thầy có mặt ở đây được ? Hình bóng đó đâu phải là hình bóng của Thầy”.  Phêrô ngồi bên cạnh con nhặt cá, nhưng khi nghe tiếng Gioan nói “Chúa đó”, ông đã đứng dậy bỏ lại con một mình bên mẻ cá lạ, mặc áo vào, nhẩy xuống nước, ông bơi vào bờ để đến bên Thầy.

Con ngồi một mình bên mẻ cá lạ mà lòng tự hỏi lòng: – Tại sao con không có sự nhậy bén của Gioan để nhận ra hình bóng của Thầy? Phải chăng con không “yêu nhiều” như Gioan, nên đã không nhận ra Thầy.  – Tại sao con không có sự hăng say nóng bỏng của Phêrô để chạy ngay đến bên Thầy? Phải chăng lòng con còn đầy tự ti mặc cảm vì  những lỗi phạm và đam mê yêu đuối của con người?  Phải chăng con còn nghi ngờ, không tin tưởng vào lòng yêu thương tha thứ của Thầy?

zzRồi con cũng lên bờ và đến bên Thầy. Như một người mẹ, Thầy chuẩn bị bữa ăn sáng cho con.  Bên bếp lửa hồng, có cá có bánh,Thầy bổ sức cho con. Bên Thầy, con được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Bên Thầy con được ăn ngon và ấm lòng nhưng sao con vẫn ngại ngùng, ngại vì con sợ Thầy nhắc đến những lỗi lầm yếu đuối của con: – Con ở đâu khi Thầy bị bắt và bị xét xử như một tên tội phạm?- Với thân tàn lực kiệt,Thầy vác thập giá lê bước trên đường ra Núi Sọ, lúc đó con ở đâu? – Con ở nơi nào khi Thầy giang tay hấp hối trên thập tự? – Con ở đâu khi người ta mai táng Thầy trong huyệt mộ?…  Nhưng Thầy đã không hề nhắc đến lỗi lầm phản bội của con. Thầy giơ tay vẫy gọi con đến bên Thầy, Thầy trao vào tay con nào là cá nướng, nào là bánh thơm. Thầy nói nhỏ vào tai con:  “Ăn đi! Ăn đi cho no thỏa!”.  Con không còn nghi ngờ thắc mắc nữa, vì con biết rõ: Đó là Thầy.

Trong bữa ăn sáng bên bờ hồ hôm đó, Thầy trao cho Phêrô một công việc, Thầy mời gọi Phêrô cùng cộng tác với Thầy: ” Hãy chăn dắt chiên mẹ, chiên con của Thầy”. Đó là lời Thầy nói với Phêrô, nhưng con nghe như Thầy nói cả với con nữa. Thầy cũng mời gọi con cộng tác với Thầy để chăn dắt chiên mẹ chiên con của Thầy.  Nhưng đâu là chiên mẹ, đâu là chiên con mà Thầy trao cho con chăn dắt hôm nay?

Ngồi bên Thầy, vừa ăn con vừa nghe Thầy hỏi Phêrô: “ – Phêrô! Anh có yêu mến Thầy không ?”  Thầy hỏi Phêrô mà con nghe như Thầy hỏi chính lòng con. ”- Anh có yêu mến Thầy không ?”  Phêrô có câu trả lời của ông, nhưng còn con, con trả lời ra sao đây, hả Thầy ? Yêu Thầy sao con không giữ giới răn của Thầy?  Mến Thầy sao con vẫn phạm tội, vẫn phản bội Thầy? Con trả lời Thầy ra sao đây?

Và Thầy ơi! Thầy biết tất cả. Thầy biết rõ mọi sự. Thầy biết con yêu mến thầy…

Linh Xuân Thôn
(BĐ1: Acts 5:27-32,40-41 – BĐ2: Rev 5:11-14 –  PÂ: Gioan 21:1-19)

ÐỒNG HÀNH VỚI CHÚA

Một cậu con trai vừa tròn mười ba tuổi đã quyết định đến gặp một võ sĩ để xin thầy luyện cho cậu một môn võ Judo, nhưng điều đáng tiếc đã xảy ra, trong một tai nạn, cậu đã bị cụt mất cánh tay bên trái, vậy mà một võ sĩ Nhật nọ vẫn đồng ý nhận anh làm đệ tử.  Cậu con trai rất đỗi vui mừng và ra sức luyện tập, tuân thủ nghiêm nhặt những điều thầy chỉ dạy và anh ta thực hành rất nhuần nhuyễn những bài học thầy mình đã truyền.

Thời gian trôi qua, cậu theo thầy đã lâu nhưng cậu thắc mắc tại sao thầy chỉ dạy cho cậu một thế võ, một đường quyền duy nhất và ngày nào cậu cũng chỉ luyện tập có thế thôi, cậu bèn xin thầy truyền thêm cho cậu một vài thế võ nữa, vài những đường quyền khác mà cậu thấy những người khác đã biểu diễn rất đẹp mắt.  Võ sư trả lời:

– Con chỉ cần biết đường quyền ấy mà thôi và đó là đường quyền duy nhất cần thiết cho con, nên con phải học biết và tập luyện cho nhuần nhuyễn.

Mặc dù không thích thú gì với lời giải thích của thầy nhưng cậu tin tưởng vào thầy và tiếp tục luyện tập mỗi ngày một trở nên điêu luyện hơn.  Vài tháng sau đó, võ sĩ cho cậu tham gia một trận đấu võ.  Cậu cảm thấy rất ngạc nhiên vì mình đã thắng hai trận đấu đầu tiên cách dễ dàng.  Trận đấu thứ ba chắc chắn sẽ khó khăn hơn và thử thách cậu nhiều hơn, nhưng rồi cậu cũng đã nhanh chóng khống chế được đối thủ thứ ba của mình.  Trọng tài đã thổi còi chấm dứt trận đấu trước sự ngạc nhiên của biết bao nhiêu người, bởi cậu đã thắng được những đối thủ của mình là những võ sĩ có thân hình cường tráng và mạnh khỏe hơn, giàu kinh nghiệm hơn trong trường thi đấu.  Cậu đã đoạt giải vô địch trong trận đấu.

Trên đường trở về nhà, cậu hỏi võ sư của mình:

– Thưa thầy, tại sao con thắng một cách dễ dàng như vậy với chỉ bằng một đường quyền duy nhất.

Võ sư trả lời:

–  Con đã thắng được nhờ hai lý do: thứ nhất là vì con đã thành thạo và nhuần nhuyễn đường quyền khó nhất trong võ đạo Judo, thứ hai là vì đường quyền đó làm cho đối thủ của con phải bối rối vì không bao giờ chụp được cánh tay trái của con.

****************************************

zzCậu con trai đã thành công mỹ mãn bởi anh đã trung thành với người thầy dày dạn kinh nghiệm và hoàn toàn tin tưởng vào lời thầy dạy, cho dù có những lúc anh cảm thấy nhàm chán với việc tập luyện một đường quyền duy nhất.  Thầy của anh cũng giúp anh gặt hái thành công mỹ mãn là vì ông đã hiểu được ưu khuyết điểm của thế võ cũng như của chính người học trò thân tín của mình.  Sống trong cuộc đời, ai trong chúng ta cũng có những vị thầy để hướng dẫn chúng ta gặt được những hoa trái của thành công và ngay cả những thầy dạy cho chúng ta biết thế nào là thất bại.

Mỗi tín hữu Kitô chúng ta cũng có một vị thầy cao cả và muôn thuở là Chúa Giêsu Kitô, Người đã chiến thắng và sẽ giúp chúng ta đạt tới sự toàn thắng.  Có thể nói mùa phục sinh là thời gian chúng ta sống trong niềm vui chiến thắng.  Chiến thắng cao cả nhất là chiến thắng sự chết.  Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết, vượt qua cái chết để bước vào vinh quang phục sinh.  Con đường đó Ngài cũng mời gọi chúng ta hãy tiếp bước để gặt hái được những hoa thơm trái ngọt của sự sống vĩnh hằng.  Nhưng để được như thế, trước hết mỗi chúng ta phải biết làm theo những gì Người đã dạy chúng ta, vì chúng ta tin rằng Người thấu hiểu tất cả chúng ta và từng người chúng ta nhiều hơn cả những gì chúng ta biết về mình.  Người biết con đường nào sẽ đưa chúng ta đến thành công và hạnh phúc viên mãn.

Với niềm tin tưởng đó chúng ta sẽ dễ dàng vượt qua những gì là gian nan, thử thách của cuộc sống cũng những gì là nhàm chán của cuộc đời với ý thức rằng chỉ có Chúa tồn tại muôn đời và muôn đời toàn thắng.  Hãy cùng đồng hành với Người để đi qua các giai đoạn của cuộc sống.  Như thế chắc chắn chúng ta sẽ luôn cảm nhận được bình an, hạnh phúc với niềm vui nội tâm sâu xa.

Cầu chúc quí vị và các bạn luôn cảm nghiệm được niềm vui thánh này không chỉ trong mùa phục sinh, mà trong suốt cuộc đời của bạn dọc trên cuộc lữ hành trần thế.

R. Veritas

CHIA SẺ NIỀM VUI

Thời gian đã thấm thoát trôi qua mau thật, từ ngày nào tôi còn là người Phật tử, nhưng giờ đây, tôi không những được trở về trong vòng tay tình thương của Chúa và Mẹ Maria, mà tôi còn được làm con của Chúa và Mẹ nữa, tôi thật vui sướng biết bao.  Đây là Hồng Ân cũng là món quà Chúa đã ban tặng cho tôi.

zzTôi không nghĩ rằng, tôi sẽ trở thành người con của Chúa và Mẹ, vì bao nhiêu sự cản trở của gia đình tôi, bao nhiêu đau buồn, bao nhiêu khó khăn trong cuộc sống đã hiện ra trước mắt tôi.  Tôi cũng nhận thấy việc tôi trở lại Đạo đã làm xáo trộn gia đình của tôi, và tôi thấy mình bất lực, không thể làm gì cho gia đình hiểu được.  Tôi phải đối diện với những biến động trong cuộc sống, buộc tôi phải chọn một trong hai: Thiên Chúa hay gia đình.  Thật là cuộc lựa chọn cam go, tôi chẳng biết phải làm sao.  Nếu chọn lựa Chúa thì gia đình nói tôi là một người sống ích kỷ, sống chỉ biết bản thân mình.  Còn như tôi chọn gia đình thì linh hồn tôi sẽ ra sao?  Gia đình tôi nói Đạo gì không bằng Đạo gia đình, miễn sao mình sống tốt là được, thật là một sự chọn lựa khó khăn.

Mọi người trong gia đình tôi không hiểu được cuộc sống này.  Nó có tồn tại mãi mãi hay không?  Không lẽ mình sống hoài không chết?  Nếu như chết mình phải về đâu?  Mình có thể tự lấy cứu mình được không?  Bao nhiêu vấn đề phức tạp này, buộc tôi phải chọn lựa Thiên Chúa mà thôi.  Vì vậy, tôi không thể nào từ chối lời mời gọi của Chúa.  Tôi muốn trở về được sống trong tình thương, trong vòng tay của Chúa và Mẹ, để được nhận lãnh ơn tha thứ.  Mỗi lần tôi muốn gục ngã, tôi cảm nhận được Chúa và Mẹ nâng đỡ, dìu dắt tôi.  Chưa bao giờ tôi có được những cảm xúc chân thành như tôi đang có với Thiên Chúa và Mẹ Maria.  Tôi biết, lúc nào Chúa và Mẹ cũng ghé mắt quan phòng từng hành động, từng suy nghĩ của tôi, để tha thứ, để ngăn cản, để giúp tôi vượt qua sự mỏng dòn, yếu đuối nhất của mình để không bị mất linh hồn.  Cuộc sống của tôi bây giờ, hay con người của tôi sau khi chết, hoàn toàn thuộc về Ngài.

Vì vậy, tôi muốn nhân cơ hội Phục Sinh này, xin Chúa là ngọn lửa thiêng soi sáng tất cả mọi người trong gia đình tôi, và cả những người chưa biết Chúa, những người nguội lạnh thờ ơ với Chúa, được ơn trở về với Người Con Một chí ái, và Mẹ Maria.  Thiên Chúa nhân lành đang dang rộng vòng tay chờ đón những người con tội lỗi trở về để che chở, để nâng đỡ, để tha thứ mọi lỗi lầm, để thanh tẩy chúng ta trở thành con người mới.

Lạy Chúa Phục Sinh, con cầu xin Chúa luôn là ánh sáng, là ngọn đèn soi sáng dìu dắt cho chúng con bước theo chân lý của Ngài, để chúng con biết đặt niềm tin vào Ngài, để được cùng chết và cùng trỗi dậy như Ngài đã Phục Sinh.  Amen!

Maria Đỗ Thị Hòa

NHỮNG VẾT SẸO

Thân xác chúng ta thường mang những vết sẹo, hậu quả của những lần bị trầy trụa, té ngã… Có những vết sẹo gợi lại cả một khung trời thời kỷ niệm, nhắc nhở cả một thời mến yêu.  Dù vui hay buồn thì cũng là chuyện đã qua. Hôm nay vết sẹo làm thân thể ta kém đẹp, nhưng không làm ta đau như xưa kia.

***

Bạn thân mến! Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay thuật lại rằng: Khi Đức Giêsu phục sinh hiện ra thăm các môn đệ, Ngài giúp họ nhận ra Ngài nhờ những vết sẹo. Ngài cho họ xem những vết sẹo ở tay và cạnh sườn. Những vết sẹo nói lên một điều quan trọng: “Thầy chính là Đấng đã bị đóng đinh và đâm thâu; Thầy đã chết nhưng Thầy đã thắng được cái chết. “

zzChúng ta ngỡ ngàng khi thấy Chúa phục sinh có sẹo, dù điều đó chẳng đẹp gì. Ngài không ngượng mà cho các môn đệ xem. Những cái sẹo sẽ ở mãi với Ngài trên thiên quốc. Những vết sẹo gợi lên những kỷ niệm và dấu tích trên thân xác của con người, của thất bại đớn đau. Nhưng nếu không có những vết sẹo thì cũng chẳng có sự chết và sự phục sinh.

Sống ở đời sao tránh khỏi những dập gẫy, thương tích. Tin Mừng phục sinh là Tin Mừng về các vết thương đã lành. Có những vết thương tưởng chẳng thể nào thành sẹo. Chúng ta có dám cho người khác thấy sẹo của mình không?

Cuộc khổ nạn của Thầy đã làm các môn đệ bị thương. Các vết sẹo của Thầy sẽ chữa lành những vết thương đó. Chắc hẳn Tôma đã nhìn thật lâu vào những vết sẹo của Thầy. Chính lúc đó ông khám phá ra tình yêu sâu thẳm của Thầy.

Ông đâu dám mong Thầy sẽ đích thân hiện đến để thoả mãn những đòi hỏi quá quắt của mình. Lòng ông tràn ngập niềm cảm mến tri ân.  Ông ra khỏi được sự cứng cỏi, khép kín, tự cô lập, để bước vào thế giới của lòng tin. Tôma đã tin vượt quá điều ông thấy. Ông chỉ thấy và chạm đến các vết sẹo của Thầy, nhưng ông tin Thầy là Chúa, là Thiên Chúa của ông. Tin bao giờ cũng đòi một bước nhảy vọt khỏi cái thấy.

Chúng ta không được phúc thấy Chúa theo kiểu Tôma, nhưng chúng ta vẫn được thấy Chúa theo những kiểu khác. Cần tập thấy Chúa để rồi tin. Có khi phải tập nhìn lại những vết sẹo của mình, của Hội Thánh, của cả thế giới, để rồi tin rằng Chúa phục sinh vẫn đang có mặt giữa những trăn trở và vấp váp, thất bại và khổ đau. “Phúc cho những ai không thấy mà tin”, và phúc cho những ai biết thấy nên tin.

***

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh !  Như Tôma xưa kia, có nhiều lúc con cũng nghi ngờ, kém tin tưởng vào Chúa .  Xin củng cố niềm tin cho con. Xin ban cho con niềm tin tưởng tuyệt đối vào Chúa, vì chúa là đường, là chân lý và là cùng đích của cuộc đời con. Amen

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1: Acts 5:12-16  – BĐII: Rev1:9-13,17-19 – PÂ: Gioan 20:19-31)

QUẢ TRỨNG RỖNG

Jeremy sinh ra với một thân hình co quắp, chậm phát triển trí tuệ kèm với một căn bệnh mãn tính đang giết dần giết mòn sự sống non trẻ của em.  Tuy thế, cha mẹ em cũng cố gắng tạo cho em một cuộc sống thật bình thường bằng cách gởi em đến học trường tiểu học St. Theresa.

Tuy đã 12 tuổi, Jeremy vẫn còn học ở lớp hai, và có vẻ không có khả năng học tập.  Cô giáo Doris Miller thường căng thẳng vì em.  Em loay hoay trên ghế ngồi, mũi dãi chảy ra và lầm bầm không rõ tiếng.  Thỉnh thoảng em nói lên được một câu rõ ràng minh bạch, cứ như là một tia sáng bỗng rọi vào bóng tối của đầu óc em…  Cô giáo cố hết sức để không quan tâm đến tiếng ồn và cái nhìn ngây dại của Jeremy.  Nhưng một hôm em khập khiễng lê chân đi lên bàn cô.  Em nói đủ lớn tiếng cho cả lớp nghe: “Thưa cô Miller, em thương cô.”  Những em khác cười khúc khích, còn cô Doris thì ngượng đỏ mặt.  Cô lắp bắp: “Ờ… Ờ… Tốt lắm Jeremy.  Bây giờ em về chỗ nhé!”

zzMùa xuân đến, và các em học sinh phấn khởi nói về lễ Phục Sinh.  Cô Doris kể cho các em nghe chuyện Chúa Giê-su, và để nhấn mạnh đến cuộc sống mới đang nảy sinh, cô đưa cho mỗi em một quả trứng lớn bằng nhựa.  Cô bảo: “Này, cô muốn các em đem về và ngày mai đem trở lại sau khi đã đặt vào đó một cái gì nói lên sự sống mới.  Các em hiểu không?” “Thưa cô, hiểu!” Tất cả mọi em đều hăng hái trả lời như thế, ngoại trừ Jeremy.  Em chỉ trầm ngâm lắng nghe; mắt em không hề rời khuôn mặt cô.  Thậm chí em cũng không lầm bầm như mọi khi. Không biết em có hiểu những điều cô nói về Chúa Giê-su không?  Không biết em có hiểu lời cô dặn dò không ?

Sáng hôm sau, 19 em học sinh đến trường, cười cười nói nói khi đặt trứng vào một giỏ mây trên bàn cô Miller.  Sau môn toán là đến lúc mở các quả trứng.  Trong quả thứ nhất, cô Doris thấy một đóa hoa.  Cô bảo: “Vâng phải rồi, hoa là dấu hiệu của sự sống mới.  Khi cây đâm chồi ra khỏi đất thì ta biết rằng mùa xuân đã đến.”  Một bé gái ở hàng đầu đưa tay lên nói to: “Trứng của em đấy, thưa cô!”  Quả kế tiếp chứa đựng một con bướm bằng nhựa, giống như thật.  Cô Doris đưa lên. “Tất cả chúng ta biết rằng sâu biến thành một con bướm đẹp.  Vâng, đây cũng là một sự sống mới.”  Cậu bé Judy hãnh diện mỉm cười và nói: “Thưa cô, trứng đó là của em!”

Cô Doris lại mở quả trứng thứ ba.  Cô chưng hửng.  Quả trứng rỗng tuếch!  Chắc chắn là trứng của Jeremy – cô nghĩ thế – dĩ nhiên rồi, vì nó không hiểu lời dặn dò của cô. Bởi không muốn làm cho em lúng túng nên cô bình thản để quả trứng qua một bên và cầm lên một quả khác.  Bỗng dưng Jeremy nói rõ: “Thưa cô, cô không nói gì về cái trứng của em sao?”  Cô bối rối trả lời: “Nhưng Jeremy này, trứng của em trống rỗng mà!”  Nó nhìn sâu vào mắt cô và khẽ nói: “Vâng, nhưng mộ Chúa Giê-su cũng rỗng mà!”

Thời gian như dừng lại.  Khi có thể mở miệng lại được, cô Doris hỏi em: “Em biết vì sao mộ lại trống không?”  Jeremy hô lên: “Thưa cô biết!  Chúa Giê-su bị giết và được đặt vào đó.  Rồi Cha của Chúa cho Chúa sống lại!”  Chuông ra chơi chợt reo vang.  Khi các em bé ùa chạy ra sân, thì cô Doris khóc.  Sự lạnh nhạt trong lòng cô đã hoàn toàn tan biến mất rồi.

Ba tháng sau, Jeremy qua đời.  Những người đến nhà xác viếng thăm em đều ngạc nhiên khi nhìn thấy có 19 quả trứng đặt trên chiếc mũ của em… và tất cả các trứng ấy đều rỗng!

Maranatha sưu tầm và dịch

*******************************

Lạy Thiên Chúa là Cha toàn năng, Ngài đã làm cho Con Một Ngài sống lại từ cõi chết, xin cho chúng con cũng được sống lại cùng với Đức Giêsu Kitô trong ngày sau hết.  Amen!

THINH LẶNG – THỨ BẢY THÁNH

zzChúng ta được mời thinh lặng chiêm ngưỡng mộ Chúa.  Sự im lặng nội tâm và cả bên ngoài rất cần thiết để nhìn ngắm và chiêm ngắm mộ Chúa Giêsu.  Ngày thứ sáu thánh, nhân loại đã chưa hết bàng hoàng về bản án và Chúa Giêsu bị đóng đinh giữa hai bên trộm cướp.  Sự hoảng hốt, âu lo vì những người có quyền thế đã đóng đinh Chúa vẫn làm cho con người chưa khỏi lo âu, ê chề, sợ sệt.  Hội Thánh mời gọi con người trong những giờ phút này hãy thinh lặng để nghe tiếng Chúa, để đi vào mầu nhiệm Vượt Qua của Ngài.

Thinh lặng cầu nguyện.  Thinh lặng sám hối.  Thinh lặng để xin Chúa thương tha thứ tội lỗi.  Đó là những điều con người phải làm.  Mẹ Maria là mẫu gương dạy mọi người cầu nguyện và thinh lặng.  Mẹ vốn là con người thinh lặng để nghe tiếng Chúa.  Mẹ vốn là người thinh lặng trong Tin Mừng.  Vì chỉ có thinh lặng, cầu nguyện, chiêm niệm, Mẹ Maria mới nhận ra được ý Thiên Chúa.  Trong biến cố truyền tin Mẹ đâu có nói nhiều, Mẹ đâu có thắc mắc nhiều.  Nhưng hai tiếng xin vâng đã gói trọn cả cuộc đời của Mẹ.  Mẹ cũng như mọi người được sinh ra là để chu toàn thánh ý Thiên Chúa.  Mẹ khác với người khác, khác với một xã hội luôn sống trong náo động, ồn ào để tìm danh vọng, lợi nhuận và thú vui.  Nhìn vào lịch sử để thấy thế giới luôn luôn ồn ào, luôn luôn hỗn độn đi tìm tiền của và hạnh phúc riêng cho mình.  Họ đã khước từ sự kết hiệp với Thiên Chúa.

Mẹ Maria đã hiểu rõ rằng con người sở dĩ chưa tới với nhau vì thiếu sự thinh lặng và tha thứ.  Tha thứ chính là tuyệt đỉnh của yêu thương bởi vì tha thứ là yêu thương chính cả kẻ thù của mình nữa.  Chúa Giêsu trên Thập Giá đã biến ý riêng của mình thành của lễ hy sinh dâng lên Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha thứ cho chúng, vì chúng lầm không biết việc chúng làm.”

Mẹ Maria đã sống lời xin vâng, nghĩa là sống theo ý Chúa, biến sự riêng tư, hạnh phúc cá nhân của mình thành sự yêu thương tha thứ.  Mẹ đã trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu khi Mẹ sống hoàn toàn tha thứ và sống theo ý Chúa.  Mẹ không hờn oán, không trả thù, không nguyền rủa những kẻ đã giết con Mẹ.  Mẹ đã giống con của Mẹ là sống tha thứ và tha thứ không ngừng.

Mẹ đã có mặt trong giờ linh thiêng nhất là giờ chết của con Mẹ.  Mẹ đã thưa xin vâng bằng sự có mặt của Mẹ.  Mẹ đứng dưới chân thập giá để chiêm ngắm cuộc tử nạn của con Mẹ.  Mẹ đứng đó như đã từng lê bước trên mọi nẻo đường truyền giáo của con Mẹ.  Mẹ đứng đó vì ý thức sâu xa mầu nhiệm cứu chuộc đã được hoàn tất theo ý Chúa.  Mẹ đứng đó trong cõi lòng tan nát nhưng tất cả đều chỉ vì vinh quang cho Thiên Chúa.

Nhìn vào gương của Mẹ Maria, con người chúng ta cũng được mời gọi sống thinh lặng để nhận ra ý nhiệm mầu của Thiên Chúa.  Chúa yêu chúng ta, yêu từng người và muốn hạnh phúc của chúng ta là sống cho Ngài, sống vì Ngài.

Tội lỗi chúng ta thật nhiều, nhưng chúng ta tin tưởng Chúa cứu độ chúng ta và Chúa không bỏ rơi ta như đã không bỏ Phêrô khi Phêrô chối Chúa ba lần.  Chúa chỉ bỏ chúng ta khi chúng ta có thái độ như Giuđa Iscariốt.

Thứ bảy thánh, chúng ta được mời gọi nhìn vào ngôi mộ của Chúa để nghe âm thầm tiếng Chúa nói với ta: “Hạt giống rơi xuống đất có thối đi mới trổ sinh được nhiều bông hạt.”

Ngôi mộ của Chúa vẫn nằm đó, xin cho chúng ta mỗi Kitô hữu biết chôn vùi tội lỗi của ta để cùng Chúa chúng ta được phục sinh vinh hiển với Ngài.  Xin cho ánh sáng phục sinh bừng cháy lên để ngôi mộ chỉ còn là mộ trống vì Chúa sẽ sống lại khải hoàn vào ngày Chúa nhật đầu tuần.  Amen!

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT