THANH TẨY TÂM HỒN

Đọc sách Tin Mừng, rất ít khi ta thấy Ðức Giêsu nổi giận.  Ngài bình thản đón lấy nụ hôn phản bội của Giuđa.  Ngài lặng lẽ trước những lời cáo gian buộc tội.  Chính Ngài đã mời ta học nơi Ngài bài học hiền lành và khiêm nhượng. Vậy mà trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay ta lại thấy Ðức Giêsu đùng đùng nổi giận:  Ngài dùng roi xua đuổi những người buôn bán bồ câu, chiên bò ra khỏi đền thờ.  Ngài còn lật nhào bàn ghế của những người trao đổi tiền bạc! (Ga.2:15)

Khi người ta thắc mắc hỏi Ngài lấy quyền gì mà làm như thế, Ngài cho biết “Cứ phá đền thờ này đi, trong vòng 3 ngày tôi sẽ xây lại” (Ga.2:19).  Qua câu trả lời đó, Ðức Giêsu cho biết chính thân xác Ngài là Ðền thờ.

Khi cho ta biết thân xác Người là đền thờ, Ðức Giêsu cũng cho ta biết rằng : Thiên chúa muốn ngự trong tâm hồn con người hơn là trong những nhà thờ bằng đá bằng gạch, dù là rất sang trọng đẹp đẽ.  Chúa yêu thương con người.  Niềm vui của Chúa là được ở giữa loài người. Tâm hồn con người chính là một cung thánh ấm áp cho Chúa ngự. Chúa đâu muốn ở trong những ngôi nhà thờ to lớn, đồ sộ, sang trọng, lộng lẫy, nhưng lại lạnh lẽo, chẳng có tiếng đọc kinh cầu nguyện, chẳng có lòng sốt mến. Chúa yêu thương và Chúa muốn được đáp lại bằng tình yêu.  Chúa muốn ở trong đền thờ tâm hồn con người. Tâm hồn con người chính là đền thờ, là cung thánh đẹp đẽ nhất mà Chúa yêu thích ngự đến.  Và như thế, Ðức Giêsu là một nhà thờ đẹp đẽ nhất, cao quí nhất, là mẹ của các nhà thờ.

Khi xua đuổi súc vật ra khỏi đền thờ, Chúa cho ta biết rằng : Lễ vật quí giá không phải do giá trị vật chất nhưng do tấm lòng.  Cách cho quí hơn của cho. Khi xua đuổi súc vật ra khỏi đền thờ, Ðức Giêsu cho biết của lễ Chúa vui nhận không phải là thịt bò, thịt dê, nhưng là chính con người của ta, là tâm hồn của ta như lời thánh vịnh : “Máu chiên bò, Chúa không ưng, của lễ toàn thiêu Chúa không nhận, thì này con đến để làm theo ý Cha“.  Hiểu điều đó, nên Ðức Giêsu dâng mình làm của lễ toàn thiêu thay cho của lễ cũ là chiên bò.  Trên thập giá, người trở thành của lễ cao quí, đẹp lòng Ðức Chúa Cha để chuộc tội cho con người.

Khi xua đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ, Ðức Giêsu cho ta biết : Tâm hồn ta là đền thờ của Chúa, là cung thánh cho Chúa ngự.  Tâm hồn ta là của lễ dâng lên Chúa.  Nhưng để đền thờ xứng đáng cho Chúa ngự.  Ðể của lễ xứng đáng được Chúa chấp nhận, ta phải thanh tẩy tâm hồn ta:  Thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi tính toán mưu mô.  Thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi đam mê dục vọng.  Thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi giận hờn ghen ghét.  Thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi kiêu căng tự mãn.  Thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi gian dối lọc lừa.  Thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi ích kỷ hẹp hòi. Thanh tẩy tâm hồn khỏi thói tôn thờ tiền bạc, coi trọng tiền bạc hơn Chúa.  Thanh tẩy tâm hồn khỏi thói gian tham, bất công.

Hãy kính trọng thân xác của mình và của người khác vì đó cũng là Ðền Thờ của Chúa . Hãy tu bổ những Ðền Thờ thân xác đã xuống cấp, suy tàn, bị xúc phạm, bị bán rẻ.  Hãy sửa chữa những Ðền Thờ thân xác đang bị bào mòn vì bệnh tật, vì đói khát, vì thương tích.

TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

***

Lạy Chúa!  Xin ban ơn giúp sức cho con để con luôn biết cố gắng  nỗ lực thanh tẩy tâm hồn để xứng đáng là Ðền Thờ cho Chúa ngự, xứng đáng trở thành của lễ dâng lên Thiên Chúa. Amen

HÃY TRẢ LỜI CHO CHÍNH BẠN…

Cuộc đối chất giữa một giáo dân thế kỷ 21 và nhân vật lịch sử Philatô

zzThanh nữ: Này ông Philatô! Theo tôi, chính hành động trốn trách nhiệm của ông đã giết chết Chúa chúng tôi.

Philatô: Tôi không hề thấy mình trốn trách nhiệm. Sở dĩ tôi rửa tay là vì không muốn liên can đến những vấn đề mà tôi cho là chuyện nội bộ Do Thái giáo.

Thanh nữ:  Ông biết rõ ràng là Đức Giêsu vô tội.  Chính ông đã tuyên bố với mọi người là ông không thấy Người ấy có tội.  Thế mà ông vẫn tuyên án tử hình.

Philatô:  Tôi đã làm đủ mọi cách để trả tự do cho Giêsu.  Tôi cho đánh đập thê thảm để kêu gọi lòng từ tâm của dân chúng.  Nhưng họ không buông tha.  Tôi lợi dụng thông lệ Vượt Qua để họ chọn lựa trả tự do hoặc cho Giêsu hoặc cho Barabas, tên tử tội ghê gớm nhất tôi đang cầm giữ và họ đã chọn Barabas.  Chị còn đòi hỏi tôi làm gì nữa?

Thanh nữ:  Tất cả những việc đó chỉ là mánh khóe.  Điều tôi mong là ông áp dụng luật pháp cho đúng đắn, nghĩa là trả tự do cho một người vô tội mà không cần một điều kiện gì.

Philatô:  Tôi không có quyền đó.

Thanh nữ:  Thế ông không phải là người đại diện La mã để duy trì luật pháp sao?

Philatô:  Chính vì tôi là người đại diện La mã mà tôi không có quyền tha bổng Giêsu.

Thanh nữ:  Tôi không hiểu ông muốn nói gì.

Philatô:  Chị hiểu rõ câu nói của tôi.  Điều chị không hiểu là nhiệm vụ của tôi.  Tôi là một nhà chính trị chứ không phải là một nhà luân lý.  Bổn phận của tôi là duy trì an ninh trật tự một nước thuộc địa của Mẫu quốc La mã.  Chúng tôi để cho người Do Thái thờ Giavê và tiếp tục lễ nghi của họ trong khi chúng tôi thờ thần Jupiter.  Chị tưởng chúng tôi làm thế là vì tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của người Do Thái à?  Nghĩ như thế là lầm.  Chúng tôi làm như thế vì lợi ích của chúng tôi, những người La mã.  Nếu cấm đoán, họ có thể nổi dậy làm loạn…

Thanh nữ:  Ông nói những điều đó để đi đến đâu?

Philatô:  Để chị hiểu vì sao tôi không có quyền tha Giêsu.

Thanh nữ:  Nhưng ông biết rằng Đức Giêsu không hề xúi dân làm loạn.  Và trong giờ phút đau đớn đó Ngài không có lấy một người lính, thậm chí một người bạn cũng không cơ mà.

Philatô:  Chính vì thế mà tôi không có quyền chọn lựa.  Nếu dân chúng ủng hộ Giêsu, và cái chết của Giêsu có thể đem đến một sự nổi loạn, thì tôi phải suy nghĩ.  Đàng này mọi người đã bỏ rơi Giêsu. Trong khi đó nhóm biệt phái xúi dục dân chúng lên án Giêsu vì những chuyện riêng tư của tôn giáo họ.  Nếu tôi buông tha Giêsu, họ sẽ bất bình và có thể làm loạn.

Thanh nữ:  Vì thế mà ông đã tuyên án Chúa chúng tôi à?

Philatô:  Tôi đã nói rằng tôi không tuyên án kết án ai cả.  Tôi trao Giêsu lại cho người Do Thái để họ làm gì mặc họ.

Thanh nữ:  Ông là một người vô liêm sỉ.

Philatô:  Đấy chỉ là vấn đề quan điểm.

Thanh nữ:  Quan điểm gì nữa? Ông đã không dùng quyền hạn mình để bảo vệ một người mà ông biết là vô tội.  Không quan điểm nào cho phép một bất công như thế.

Philatô:  Với tư cách cá nhân, tôi thấy rằng người ấy vô tội, nhưng với tư cách là Tổng trấn La mã, tôi không có quyền để những tình cảm cá nhân len vào.  Tôi chỉ có quyền làm những gì có lợi nhất cho Hoàng Đế của tôi mà thôi.

Thanh nữ:  Tôi không cần biết ông nhân danh gì mà hành động. Tôi chỉ biết rằng nếu Chúa Giêsu vô tội thì ông là kẻ có tội.

Philatô:  Sao chị lại buộc tội tôi?  Tôi chỉ là một người bên ngoài giáo hội Do Thái, làm việc theo lập trường của mình.  Những người có tội là những người nhân danh Thiên Chúa của họ để giết Giêsu.  Chính những hạng người như chị đã đặt tôi vào tình trạng không thể buông tha Giêsu.

Thanh nữ:  Ông là một người thủ đoạn. Ông muốn bịt miệng tôi bằng cách buộc tội tôi, dù ông biết rằng ông không có cơ sở.

Philatô:  Có chứ!… Ngày Giêsu vào Giêrusalem thì một số người hăng hái tiếp đón Giêsu, hô to khẩu hiệu. Và một tuần sau thì cũng chính những người đó hét to hơn ai hết: “Hãy thả Barabas. Hãy đóng đinh Giêsu vào thập giá.”  Tôi thấy lợm giọng, chị à!  Hôm nay cũng vậy, giữa những thân hữu của chị, chị cũng ra vẻ bênh vực Giêsu và mạt sát tôi…  Tôi thấy sợ!  Tôi thấy mình trở lại cái ngày hôm ấy.  Ngày xử án Giêsu, khi tôi lên tiếng hỏi, không có một nhân chứng nào bênh vực cho Giêsu! Ngày hôm đó, tôi chỉ thấy những kẻ chứng gian, những người phẫn nộ, những bọn tò mò, còn những người có cảm tình với Giêsu thì trốn biệt tăm tích.  Ngày hôm đó, chỉ có một mình tôi, chị nhớ cho, tôi, Phongxiô Philatô, người mà chị vừa gọi là vô liêm sỉ đấy, chỉ có một mình tôingười duy nhất nói rằng Giêsu vô tội.  Nếu hôm đó chị có mặt, chị sẽ là ai?  Chị sẽ là một người trốn biệt hay một người la hét?  Chị đừng nói rằng chị sẽ bênh vực, vì không có ai bênh vực Giêsu, ngoài tôi.  Nếu chị gọi tôi là vô liêm sỉ thì chị sẽ là gì?  Chị tự xét lấy, đừng trả lời tôi, hãy trả lời cho chính chị!

Trần Duy Nhiên

 

ÔNG BẠN TRỘM LÀNH

Chúa Giêsu bị đóng đinh giữa hai người trộm cướp.  Hai người này cũng bị đóng đinh.  Người bên hữu Chúa Giêsu thường được gọi là kẻ trộm lành.  Bởi vì ông đã trở lại, và Chúa Giêsu đã hứa ban phúc thiên đàng cho ông ngày hôm đó.

Tất nhiên, hiện nay ông đang hưởng hạnh phúc trường sinh trong Nước Chúa.  Tôi nghĩ là ông có nhiều kinh nghiệm về sự ông gặp được Chúa Cứu thế.  Nên tôi hay cầu nguyện và tâm sự với ông. Trong tình nghĩa, tôi gọi ông là ông bạn trộm lành.

Tâm sự giữa tôi và ông bạn trộm lành bao giờ cũng diễn ra một cách âm thầm thanh thản, bên cạnh Chúa Giêsu.

Ông bạn cho biết: Những gì đã xảy ra cho ông trên thánh giá và đã đưa ông về với Chúa đều làm chứng cho Tin Mừng.  Sau này ông mới biết những điều đó đã được Chúa Giêsu giảng dạy trước đây cho công chúng.

Tin Mừng theo ông trộm lành được tóm tắt ở những điểm sau đây:

Cảm nghiệm kết quả lạ lùng của ba việc đạo đức.

Ông bạn trộm lành cho tôi biết là: Trên thánh giá, ông đã thực hiện ba việc đạo đức đơn sơ: Chay tịnh, bố thí và cầu nguyện.

zzViệc chay tịnh của ông là việc ông phấn đấu dẹp tính kiêu căng, hận thù lúc đó đang bừng bừng nổi dậy trong ông.  Để rồi ông đã chọn thái độ khiêm nhường, nhận mình là kẻ phạm pháp, phải chịu phạt là đáng tội.

Việc bố thí của ông là việc ông đã cảm thương lên tiếng bênh vực người bị đóng đinh bên cạnh ông, mà sau này ông đã được biết, Ngài là Đấng Thánh và là Đấng cứu thế.

Việc cầu nguyện của ông là việc ông xin Chúa Giêsu nhớ đến ông, khi Chúa đã về trời.

Tất cả ba việc trên đây đã được ông thực hiện một cách chân thành, kín đáo, khiêm nhường.

Kết quả thực lạ lùng, Cha trên trời đã thấy, đã đón nhận và đã trọng thưởng.  Sau này, ông bạn mới biết là tất cả những sự đó đều đã được Chúa Giêsu nói trước trong các bài giảng của Người. “Khi làm việc lành phúc đức, anh em hãy coi chừng, chớ có phô trương.  Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng” (Mt 6,1).

Vì thế, khi chay tịnh thì đừng phô trương, nhưng hãy làm kín đáo “Cha của anh em, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh em” (Mt 6,16-16),

Khi bố thí, thì đừng phô trương, nhưng hãy làm kín đáo “Cha của anh em, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh em” (Mt 6,4).

Khi cầu nguyện, thì cũng đừng phô trương, nhưng hãy làm kín đáo “Cha của anh em, Đấng hiện diện nơi kín đáo, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh em” (Mt 6,6).

Thực sự, Cha trên trời đã thưởng cho ông.  Phần thưởng đó là cho ông gặp được Đấng cứu thế.

Cảm nghiệm sự gặp gỡ Đức Kitô là một hồng ân quí giá.

Ông bạn trộm lành tâm sự với tôi là: Khi được ơn nhận ra người bị đóng đinh bên cạnh mình là một Đấng rất thánh, thì dần dần tất cả gánh nặng đang đè nặng trên ông đều nhẹ dần.

Gánh nặng là biết bao tội lỗi.  Gánh năng là những mặc cảm, nhục nhã.  Gánh nặng là những thất vọng, những bế tắc.  Gánh nặng là những khổ đau thân xác, những buồn bực trong lòng.  Tất cả đều hết sức nặng nề.  Nhưng tất cả bỗng nhẹ dần, khi gặp được Đức Kitô.  Thay vào những gánh nặng là những hạnh phúc.  Tâm hồn được bình an, được tràn đầy hy vọng, được chan chứa tình thương.  Ông như được bước vào cuộc sống mới, dẫn tới phục sinh.

Sau này, ông bạn mới thấy là những gì ông cảm nghiệm lúc đó đã ứng nghiệm lời Chúa Giêsu đã hứa trước với dân chúng “Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Thầy, Thầy sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.  Anh em hãy mang lấy ách của Thầy và hãy học với Thầy, vì Thầy có lòng nhân hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách của Thầy thì êm ái, và gánh của Thầy thì nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30).

Cảm nghiệm được Đức Kitô là Mục tử rất tốt lành.

Ông bạn trộm lành cũng cho tôi thấy là ông đã được Chúa đưa về đàng lành một cách nhẹ nhàng. Từ bất ngờ này đến bất ngờ khác.

Ông tưởng là ông bị Chúa từ bỏ, kết án.  Nhưng Chúa lại đã rất thương ông.  Thương nhất là ở chỗ chính Chúa chọn đi con đường khổ đau nhất, để cùng chịu đóng đinh như ông, nhờ vậy mà ông đã gặp được Chúa.

Ông tưởng là có thể Chúa sẽ tha tội cho ông, với điều kiện là ông sẽ bị trách mắng, hạch hỏi.  Thế nhưng, ông đã không hề bị như thế. Chúa không có một lời nào nhắc tới những tội lỗi xưa ông đã phạm.

Ông tưởng là may ra Chúa sẽ cho ông được lên thiên đàng, nhưng phải đợi sau một thời gian đền tội.  Thế nhưng, ông được Chúa hứa là sẽ hưởng phúc thiên đàng với Chúa ngay hôm đó.

Cảm nghiệm những hạnh phúc bất ngờ này đã làm chứng rằng: Đức Kitô là mục tử rất nhân lành.  Sau này, ông mới biết những gì Đức Kitô đã nói về mình Ngài là Mục tử nhân lành đều đã được ứng nghiệm. “Thầy chính là Mục tử nhân lành. … Thầy hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên.  Thầy còn có những chiên khác không thuộc đàn này.  Thầy cũng phải đưa chúng về”

********************************

Tâm sự giữa ông bạn trộm lành và tôi thường xoay quanh mấy chia sẻ trên đây.  Nhờ những tâm sự đơn sơ này, tôi cảm thấy mình được an ủi.  Bởi vì tôi coi mình cũng là một thứ tội nhân.  Có thể còn tệ hơn ông bạn trộm lành.

Nhưng qua chia sẻ của ông bạn, tôi nhận ra tình thương xót Chúa là vô cùng lớn lao.  Tôi tin là Chúa thương tôi, và đi tìm tôi, vì tôi yếu đuối, hèn mọn.

Tin Mừng mà ông bạn trộm lành chia sẻ cho tôi, cũng là Tin Mừng gởi tới tất cả những người tội lỗi, yếu đuối như tôi.

Xin hết lòng tạ ơn Chúa đã gởi đến cho tôi một chứng nhân của Tin Mừng đang rất cần cho tôi. Xin ông bạn trộm lành thân thiết của tôi đừng quên cầu nguyện cho tôi mỗi ngày và mọi ngày.

ĐGM. G.B Bùi Tuần

 

 

BIẾN HÌNH

Một nhà giáo dục nổi tiếng người Pháp đã tâm sự về cuộc đời của ông như sau:

Khi còn trẻ, tôi có tinh thần cách mạng và mỗi khi cầu nguyện, tôi luôn cầu xin Chúa một điều là: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi thế giới này

Khi đã lớn tuổi và nhận thấy gần quá nửa đời người trôi qua mà tôi không thay đổi được một người nào hết, nên tôi đã thay đổi lời cầu nguyện của tôi như sau: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi những người trong gia đình của con.”

Giờ đây tôi đã già nua và những ngày còn lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay, nên lời cầu nguyện của tôi lại được thay đổi một lần nữa như sau: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi chính mình con.”

Và ông kết luận :” Nếu tôi biết cầu nguyện như thế này từ ngày còn trẻ thì tôi đã không uổng phí cả cuộc đời .“

(Anthony de Mello, Trích trong “The Song of the Bird”)

***

zzBạn thân mến! Tin mừng Chúa Nhật hôm nay cũng thuật lại một cuộc biến đổi hình dạng.  Đó là cuộc biến hình của Đức Giêsu trên núi Taboo.  Trong ngày hôm đó, Ðức Giêsu đã mang theo các môn đệ thân tín của mình là các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan.  Ngài đưa các ông đi riêng ra một chỗ, chỉ mình các ông thôi, tới một ngọn núi cao. Rồi Ngài biến đổi hình dạng trước mắt các ông (Mc.9:2).  Trong cuộc biến hình đổi dạng đó, Ngài đã cởi bỏ thân phận con người để mặc lấy Thiên Tính của Thiên Chúa.  Ngài cho các ông được nhìn thấy vinh quang của Con Một Thiên Chúa, để thêm lòng tin cho các ông.

Hơn hai ngàn năm trước, Đức Giêsu đã biến hình trên núi Taboo. Cuộc biến hình của Ngài vẫn còn tiếp tục diễn ra hằng ngày cho đến ngày nay.  Ngài vẫn biến hình trên bàn tay của Linh mục trong các Thánh lễ, Ngài biến hình từ tấm bánh nhỏ bé để trở thành xương thịt của Ngài.  Ngài biến hình từ những giọt rượu nho để trở thành những giọt máu đào đã đổ ra trên đồi Golgotha năm nào để cứu chuộc con người.

Ngày nay Đức Giêsu cũng mang tôi và bạn đi riêng ra một chỗ.  Ngài không mang tôi và bạn lên núi Taboo như mang Phêrô, Giacôbê và Gioan xưa kia, nhưng Ngài mang tôi và bạn đến trong các Thánh lễ, đến trong các giờ chầu Thánh Thể, đến trong các bí tích mà ta lãnh nhận… nơi đó Ngài dành cho ta những giây phút thinh lặng thánh thiêng mà chỉ có một mình ta với Ngài, nơi đó Ngài cũng biến đổi hình dạng để thêm lòng tin cho ta, và cũng nơi đó, Ngài ban cho ta lòng mến, sự tin yêu cậy trông phó thác và nhất là sức mạnh để ta bước đi theo Ngài trên bước đường lữ thứ trần gian này .

Hôm nay, Đức Giêsu mời gọi bạn và tôi cùng “biến hình” với Ngài.  Biến hình không phải là trở thành cái gì xa lạ khác thường, nhưng biến hình là để trở lại với cái tôi sâu thẳm của chính mình: “tôi là con yêu dấu của Thiên Chúa” (Mc.9:7).  Đó là ơn được làm con cái Thiên Chúa, là ơn Thánh Sủng, là ơn cao trọng nhất của người Kitô.

Biến hình với Đức Giêsu là thay đổi cuộc sống của ta, là biến đổi tâm hồn ta, là mang vào lòng ta một trái tim mới, trái tim của yêu thương, của tin tưởng và cậy trông phó thác.

Biến hình với Đức Giêsu là vất bỏ ý riêng của ta, là chấp nhận và vâng phục Thánh Ý Thiên Chúa, là lên đường bước đi với Chúa trong tình yêu và ân sủng Ngài ban.

Biến hình với Đức Giêsu là từ giã con người tội lỗi yếu hèn của mình, là trở nên giống Ngài mỗi ngày mỗi hơn.

 ***

Lạy Chúa Giêsu!  Xin ban ơn giúp sức cho con để con cũng được “biến hình” với Chúa trong Mùa Chay thánh này, để con được trở nên giống Chúa mỗi ngày mỗi hơn, và để con cũng được Chúa Cha nói với con rằng:  “Đây là con ta yêu dấu, Ta hài lòng về con…” (Mc.9:7). Amen

Linh Xuân Thôn

TRỞ VỀ

Nói trở về là nói tới mình đang ở xa.  Xa nhà, nay tôi trở về.  Cái khoảng cách không gian cho ta cảm tưởng rõ ràng một sự cách biệt.

Khi định nghĩa trở về trong ý nghĩa thiêng liêng, ta thấy khó hơn.  Thí dụ, nói tôi trở về với Chúa.  Cái khoảng cách giữa tôi và Chúa không biết ngắn hay dài.  Lấy gì để mà đo.  Nếu xét rằng tôi không phạm tội nặng, tôi vẫn đi lễ thì dường như tôi không xa Chúa. Tôi không cần đặt vấn đề trở về.

Ðọc dụ ngôn con chiên lạc, ta thấy ngay là con chiên đó xa đàn.  Hình ảnh Chúa đi tìm làm ta thấy con chiên này cần trở về.  So sánh mình với người khác, ta thấy có người bỏ nhà thờ, có người có đời sống tội lỗi công khai.  Như thế, họ cần trở về hơn mình.  Tuy nhiên, đọc kỹ đoạn Tin Mừng, ta thấy sự trở về có thể là cần thiết cho chính những con chiên không bỏ đàn đi, không bỏ nhà thờ, vẫn ở trong nhà thờ.

zzBản văn không nói rõ lý do nào làm con chiên đã lạc đàn. Dụ ngôn chỉ nói “Ai trong các ông, giả sử có trăm con chiên và lạc mất một con” (Lc. 15: 4).  Nguyên do nào làm nó lạc?  Ta thấy có hai nguyên nhân.  Một là nó bỏ đàn đi vì lầm lỡ đồi cỏ dại là hạnh phúc.  Có thể nó bỏ đàn đi vì theo chủ thì dài và vắng vẻ, nó thích tiếng ca của bầy chồn hơn.  Có thể trên những quãng đời nắng khát hạnh phúc nó đã bị giọng nói tinh vi của Satan lừa gạt.  Lý do thứ nhất này nó sa ngã vì những cám dỗ.

Giữa những nguyên nhân lạc xa đàn, có khi nào nó bỏ đàn vì những con chiên khác trong đàn?  Nghĩa là vì sự kết án, chia rẽ, phe nhóm ngay trong xứ đạo.  Từ những nguyên nhân này làm con chiên tách xa đàn, rồi mới đi tới lạc đàn.  Lý do thứ hai này là điều ta thử tìm hiểu.

Nhìn vào lịch sử, vết thương buồn vẫn còn là dấu chứng:  Ðã bao lần chúng ta kết án nhau! Trong tiến trình ý thức về tội, Adam bảo tại Evà mà ông ta phạm tội.  Evà bảo tại con rắn mà bà sa ngã (Stk. 3: 12-13).  Không ai có nước mắt ăn năn.  Không ai nhận rằng tôi phải trở về.  Chỉ có kẻ khác phải trở về.

Hôm nay, trong đời sống thiêng liêng, có những linh hồn cũng đã phải xa xứ đạo của mình vì sự mất bình an giữa cộng đoàn tín hữu của họ.  Nơi đây không phải là nhà.  Nơi đây chẳng có lý tưởng. Có người phải sống mặc cảm dưới cái nhìn rẻ rúng của những kẻ chung quanh.  Những tiếng xầm xì về một lỗi lầm của quá khứ.  Những nghi kỵ về một xét đoán mù mờ, những thêu dệt về một sự thật không đúng sự thật.  Có những góp ý xây dựng những đổ vỡ, nhưng lại đề cập đến khuyết điểm của kẻ khác để vì cái khuyết điểm ấy mà mình được nổi hơn.  Có những cạnh tranh vì tháp nhà thờ mình phải cao hơn tháp nhà thờ bên cạnh.  Có nhiều cuộc phải lên đường trở về vì có nhiều thứ xa Chúa.  Mà xa Chúa nhất là xa Chúa ở trong đền thờ.

*****************************

Câu chuyện người đàn bà ngoại tình trong Phúc Âm (Yn. 8:1-11) cũng là câu chuyện của bao nhiêu cánh cửa tâm hồn khắc nghiệt với nhau hôm nay.  Lạc lối buồn bã nhất là ảo tưởng tiên tri thấy mình phải chỉ lối cho người lạc lối.  Vì phải đi tìm chiên lạc nên không thấy mình lạc.  Ðó là thái độ của các Biệt Phái.  Chúa rộng lượng thứ tha.  Ngài nâng lên cây sậy bị dập.  Ngài che đậy ngọn đèn sắp tắt.  Nhưng con người đối với nhau lại khắc nghiệt.  Người thiếu nữ ngoại tình ấy đi tìm một miền đất để sống.  Chẳng còn vùng trời nào khác ngoài sự đau khổ.  Vì gian truân nên muốn đến với Chúa, cửa nhà thờ mở ngõ nhưng cửa tâm hồn người coi nhà thờ khắc nghiệt.

Có những tâm hồn vì yếu đuối đã sa ngã, Chúa thương băng bó vết thương, nhưng người chung quanh không để cho lành.  Người phụ nữ ấy bơ vơ, muốn đến giáo đường tìm Chúa mà phải đến lén sợ người trong Giáo Hội trông thấy.  Câu chuyện của Tin Mừng năm xưa cũng chưa phải là phai nhòa trong đời sống chúng ta hôm nay.

Có cha mẹ hắt hủi con mình, người trong gia tộc miệt thị nhau, giai cấp trong đạo lên án chỉ vì cây sậy đã bị dập, ngọn đèn đã leo lét.  Ra đi tìm một miền đất sống, nhưng im lặng của các tâm hồn đó đã dọn đường trở về với Chúa rồi.  Những đau khổ họ phải chịu vì người anh em mình đã nặng hơn lỗi lầm họ phạm. Vì thế, khi họ phải bỏ xứ đạo ra đi, trốn khỏi gia đình, quãng đường xa ấy biết đâu lại rất gần Chúa.

Vào một giã từ không tiếng nói.  Thất vọng vì bị kết án.  Chán nản trong một họ đạo đố kỵ. Lặng lẽ, một tín hữu nào đó bỏ nhà thờ.  Trong đêm mờ tối ấy, đời họ chìm sâu hơn trong tội lỗi có khi chỉ vì muốn tránh những nhánh gai trong vườn gia đình, xứ đạo mình quá sắc.

Có những lỗi chung thủy đến từ người mà mình đã rất thuỷ chung.  Có những đau khổ mình phải chịu đến từ người mà mình đã chịu khổ đau cho.  Có những hố thẳm mà người cùng một lý tưởng tông đồ đào cho nhau. Có những vực sâu trước nhà thờ.

Khi Ðức Kitô hỏi các Ký Lục và Biệt Phái ai là người trong họ vô tội mà đòi ném đá người phụ nữ. T ất cả họ từ từ rút lui (Yn. 8:7-9).  Kẻ cần phải trở về là chính người không đi xa, đang ở ngay trong đền thờ.

*****************************

Lạy Chúa, nếu con không phải là con chiên lạc, là kẻ trong đàn nhưng đã là nguyên cớ làm cho tâm hồn khác xa đàn, thì, lạy Chúa, sự có mặt của con trong đàn có khi còn nguy hiểm hơn là vắng mặt.  Vì sự có mặt ấy mà bao nhiêu người phải vắng mặt.  Nếu vậy, lạc lối trong hồn con còn xa xôi hơn nữa.  Con cần phải trở về biết bao.  Con đã xa cách Giáo Hội khi con ở trong đền thờ.

Khi con bỏ đền thờ thì con biết mình xa nơi thánh.  Khi con ở trong đền thờ mà làm cho người khác phải ra đi thì khó mà nhận ra là sự thánh thiện đã xa mình.

Khi phạm tội thì có thể con biết mình xa Chúa, nhưng khi làm cho người khác xa Chúa thì khó mà biết mình phạm tội.

Lm Nguyễn Tầm Thường, SJ trích trong sách “Con Biết Con Cần Chúa”

LÙN THẤP BÉ NHƯNG…

zzĐọc câu chuyện ông Gia kêu có lẽ ai cũng phải nực cười xen lẫn cảm động.  Cái nực cười thứ nhất là Gia kêu thấp bé, vóc người không giống ai.  Cái nực cười thứ hai, ông Gia kêu làm trưởng ban thu thuế thời Chúa Giêsu.  Gia kêu lúc nào xem ra cũng rổn rẻng với tiền bạc, với việc làm giầu v.v…  Con người bề ngoài khác thường về vóc dáng, nhưng thực tế lại là một con người đầy lòng nhân từ, biết sám hối, biết hối cải.  Chúa Nhật 31 thường niên cho chúng ta một cái nhìn rất thực tế, đầy an ủi về lòng nhân từ bao la của Chúa: “Lạy Chúa, Chúa sẽ dạy con đường về cõi sống: Trước Thanh Nhan, ôi vui sướng tràn trề” (Tv 15, 11).

Gia kêu nếu xét theo một nghĩa nào đó thực là một người đáng ghét, đáng khinh vì ông làm việc cho đế quốc Roma, làm nghề thuế vụ, làm trưởng ban thuế, làm cái nghề tiếp tay với ngoại bang bóc lột dân chúng.  Gia kêu giầu có, có quyền lực vì ông làm việc cho đế quốc Roma.  Dân Do Thái không ưa ông, ghét ông, xếp ông vào hàng tội lỗi và đặt ông ngang hàng với bọn điếm đàng.  Đối với dân Do Thái, ông không thể ăn năn, không thể hối cải.  Ông đáng sa vào hỏa ngục lửa thiêu.  Thế nhưng, Chúa Giêsu lại chọn nhà ông Gia kêu để ghé thăm nhà ông.  Gia kêu chỉ muốn nhìn Chúa Giêsu đi ngang chứ làm sao dám mời Chúa Giêsu ghé thăm nhà ông được.  Chúa Giêsu đã làm một việc không ai ngờ được.  Chúa đã chọn nhà ông Gia kêu.  Chúa Giêsu đã chứng tỏ Người được Thánh Thần hướng dẫn khi thấy ông Gia kêu giữa đám đông.  Chúa Giêsu minh chứng Người đã tới Giê-ri-khô để cứu một người giầu có.  Tuy nhiên, người Do Thái vẫn dị nghị, vẫn hiểu lầm Chúa và hiểu lầm cả ông Gia kêu.  Họ cho rằng “Chúa lại vào ở nhà người tội lỗi.”  Nhưng thực ra Chúa Giêsu hiểu mọi người và hiểu ông Gia kêu.  Chúa đến nhà của Gia kêu không phải vì miếng ăn, vì bữa tiệc, vì chén rượu, chén trà, nhưng vì ơn cứu rỗi của ông và của gia quyến ông.  Dịp này, ông Gia kêu và cả gia đình ông đã công khai thú tội trước mặt Chúa Giêsu và trước mặt mọi người dự tiệc, và hứa “xin bán đi nửa gia tài, phân chia cho kẻ nghèo khó, và đền trả một gấp bốn cho những ai ông gây thiệt hại” (Lc 19, 8).  Chúa Giêsu đã nói về ông: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham” (Lc 19, 9).

Tự sức con người, con người không thể làm lành, nhưng Thiên Chúa có thể làm được tất cả.  Chúng ta hãy đọc các đoạn Tin Mừng như: “Con chiên lạc.  Đồng bạc đánh mất.  Người con hoang đàng.  Người phụ nữ ngọai tình v.v…” để thấy lòng nhân từ của Thiên Chúa như thế nào.  Con người phản nghịch, con người tội lỗi nhưng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người.  Thiên Chúa yêu con người và không muốn để bất cứ ai bị hư mất.  Ông Gia kêu dư biết thiên hạ ganh ghét ông và thèm được như ông.  Gia kêu đâu có phải là người xấu bụng dù rằng ông đã nhúng tay vào việc thật xấu xa, nhưng trong cõi lòng sâu kín của ông vẫn còn chứa chất điều thiện, ông thầm tin tưởng và cám ơn Chúa Giêsu mà ông coi như một vị ngôn sứ lớn.  Ông tha thiết muốn gặp gỡ Chúa Giêsu, do đó ông và cả gia đình ông đã được ơn cứu độ.  Chúa đã giải thoát cho ông và gia đình ông khỏi tội lỗi, khỏi hư đi.  Ân huệ cao vời Chúa ban cho ông khiến ông đã bộc lộ tất cả những gì là tốt lành, là nhân ái, còn chứa trong nỗi lòng sâu kín nhất của ông.  Gia kêu đã trở nên mẫu gương cho những ai biết đón nhận ơn tha thứ bằng việc thật tâm hối cải, quay trở về với Chúa.  Đúng thật, Chúa tới để tìm kiếm những gì đã hư mất.

Bí Tích Giải Tội là Bí Tích do Chúa Giêsu thiết lập và là một hồng ân cao vời Chúa ban cho nhân lọai.  Đây là phương thế giúp chúng ta làm hòa với Chúa, với Giáo Hội và với anh chị em, là phương thế Chúa ban lại sự an bình tâm hồn cho con người và thêm sức mạnh cho tương lai, trả lại tình trạng trong sáng đã bị tội lỗi làm lu mờ.  Bí Tích Giải Tội nối những gì tội lỗi đã làm con người xa lìa Thiên Chúa.  Do đó, chúng ta phải yêu mến Bí Tích Giải Tội và luôn siêng năng lãnh nhận Bí Tích Giao Hòa để được gần gũi Thiên Chúa, gần gũi Giáo Hội và gần gũi anh chị em.

Lạy Chúa xin cho chúng con có tấm lòng như Chúa, có đôi mắt của Chúa để chúng con luôn biết cảm thông với những yếu hèn của người khác.  Amen.

LM Giuse Nguyễn Hưng Lợi

 

THAY ĐỔI TÂM HỒN

 

Có một người kia đến gặp một vị linh mục và nói: “Thưa cha, hôm nay con đến xin cha giúp con.  Con bê bối lắm: Mười điều răn Đức Chúa Trời, Sáu điều răn Hội Thánh, Bảy mối tội đầu, điều nào con cũng phạm hết.  Con xưng tội rồi, lại cứ phạm hoài.  Con muốn thay đổi nhưng con không biết bắt đầu từ đâu cả.  Con nản quá, muốn buông xuôi cho rồi.  Đằng nào cũng phạm tội thì phạm thêm tí nữa có sao đâu!  Nói thì nói vậy nhưng con vẫn thấy nó làm sao sao ấy.”

Vị linh mục cười và nói: “Cha kể cho con một câu chuyện nhé: Một người kia đi làm trên thành phố.  Sau Tết anh bị thất nghiệp, trở về quê buồn bã.  Nguời cha an ủi: Thôi con ạ, nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông thì nhì sĩ.  Con trở lại với miếng ruộng của gia đình mình đi.  Sáng mai con hãy ra làm cỏ năm sào ruộng để tháng tới chúng ta sẽ gieo mạ xạ lúa. Người con nghe lời, sớm mai vác cuốc ra đồng.  Nhưng khi nhìn thấy đám ruộng mênh mông chỉ toàn cỏ với cỏ, anh ngán ngẩm, tìm một gốc cây nằm ngủ.

Người cha biết chuyện, không la rầy, ôn tồn nói với con: “Mỗi ngày con làm cho cha một ít, 20 mét vuông thôi, con làm được không ?”  “Dạ, ít vậy thì được.”  Và cứ như thế, chẳng bao lâu đám ruộng đã sạch cỏ.

Vị linh mục tiếp lời: “Tâm hồn con bây giờ cũng như đám ruộng kia, đầy cỏ dại, nhưng con hãy bắt đầu đi rồi con sẽ thấy kết quả.  Rồi đây con sẽ còn sa ngã, nhưng điều quan trọng là luôn biết bắt đầu lại.  Tội con Chúa đã tha rồi, Chúa chỉ đòi hỏi con cố gắng mà thôi.”

Nhiều năm sau đó, vị linh mục nhận được một thiệp mời đi dự lễ khấn trọn đời của một tu sĩ ngài không hề quen biết.  Trong thiệp có ghi một hàng chữ sau: “Cám ơn cha đã chỉ cho con cách làm cỏ 15 năm trước đây.”

************************************

Bạn thân mến,

Thế là Mùa Chay lại về.  Một mầu tím bao trùm cả không gian cung thánh.  Mầu tím của thống hối.  Mầu tím của hy sinh.  Bước vào Mùa Chay, bước vào cuộc hành trình 40 ngày trong sa mạc với Đức Kitô, chúng ta được mời gọi để duyệt lại cuộc sống của mình.

“Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1:15).  Lời Chúa trong nghi thức xức tro hôm Thứ Tư Lễ Tro vừa qua cũng là chủ đề chính của bài Tin Mừng Chủ Nhật tuần này.

Câu chuyện trên đây cho thấy sám hối là một tiến trình dài hạn.  Nhưng sám hối là gì?  Sám hối như thế nào và tại sao phải cần sám hối?

SÁM HỐI

zzSám hối, nói theo kiểu văn chương hoa mỹ là “cải tà quy chánh” hay nói theo kiểu đạo đức bình dân là “ăn năn trở về”.  Sám hối là làm một bước ngoặc trong cuộc sống, là “thay đổi tâm hồn” – theo đúng nghĩa của danh từ “metanôia” được dùng trong Tân Ước.  Lời rao giảng đầu tiên của Đức Giêsu theo Tin Mừng Marcô là lời mời gọi con người làm một vòng xoay, làm một cuộc cách mạng trong tâm hồn.  Giờ đã điểm.  Nước Trời đang gần đến.  Hãy quay lưng với tội lỗi.  Hãy quay về với Thiên Chúa Yêu Thương.

Lúc khởi đầu sứ vụ rao giảng của Ngài, Đức Giêsu đã vào hoang địa 40 đêm ngày để ăn chay cầu nguyện và tìm hiểu thánh ý Chúa Cha.  Bốn mươi đêm ngày trong hoang địa nhắc nhớ 40 năm dân Israel chịu thử thách trước khi được vào Đất Hứa.  Bốn mươi đêm ngày trong hoang địa, Đức Giêsu đi vào hành trình tâm linh của dân tộc Ngài.  Hành trình của thử thách và cạm bẫy, nhưng đồng thời cũng là lúc rèn luyện tâm linh.

Trong Mùa Chay chúng ta sống lại kinh nghiệm này của Đức Giêsu để liên kết thâm sâu hơn với Ngài và với Chúa Cha.  Tôi đi vào sa mạc của tâm hồn để thấy rõ hơn những nhu cầu tâm linh mà bấy lâu nay tôi đã để thế giới vật chất làm lu mờ.  Nếu những cỗ máy, những chiếc xe cần được bảo trì hằng năm hầu có thể chạy tốt hơn, thì tâm hồn chúng ta cũng cần được bảo dưỡng như thế.  Mùa Chay là dịp để đổi mới tâm hồn.  Hàng năm, chúng ta có cơ hội để chùi rửa, lau sạch những vẩn đục trong tâm hồn qua việc cầu nguyện, ăn chay, bố thí.  Đó là những phương cách để từ bỏ tội lỗi và trở về với Người Cha nhân lành đang chờ đợi ta.

Đối với một số người, việc hãm mình mùa Chay có nghĩa là kiêng cữ một điều gì đó.  Cụ thể là nhịn rượu, thịt, thuốc lá, hay một thứ gì đó mình ưa thích.  Người khác thì xem mùa Chay là dịp để thực thi bác ái, để đến nhà thờ dự tĩnh tâm.  Dù dùng phương thế nào để tu sửa tâm hồn, điều quan trọng không phải là hình thức, nhưng là động cơ.  Nếu tôi kiêng ăn để thân hình được thon thả gọn gàng hơn, hoặc nếu tôi rộng rãi bố thí để được khen là người hào phóng, nếu tôi dự tĩnh tâm để tỏ ra là mình đạo đức, thì tất cả đều vô nghĩa.  Tôi được tiếng khen của người đời nhưng sẽ được công trạng gì trước mặt Thiên Chúa?

Trọng tâm của Mùa Chay không phải là việc đánh tội hành xác.  Việc hãm mình khổ chế chỉ là phương tiện để gạn lọc những vẩn đục của tâm hồn, ngõ hầu con người có thể chú tâm đến những thực tại cao siêu hơn.  Cũng như thửa ruộng cần phải được cầy xới tưới nước, làm cỏ bón phân, trước khi gieo hạt để đạt được năng xuất cao, tâm hồn chúng ta cần được thanh tẩy để hạt giống tin mừng có thể sinh hoa kết quả.

TIN VÀO TIN MỪNG

“Sám hối” chỉ là vế đầu của lời Đức Giêsu kêu gọi, còn vế sau là “tin vào Tin Mừng.”  Trong Tân Ước, động từ “tin” (pisteuein) không chỉ là gật đầu đồng ý, nhưng tin còn có nghĩa là chấp nhận thay đổi với một sự tín thác và dấn thân.  Vì thế, tin vào Tin Mừng không chỉ đơn thuần là đón nhận chân lý của Tin Mừng, nhưng còn là đặt trọn cuộc đời sống theo những giá trị của Tin Mừng.  Những giá trị này là tinh thần nghèo khó, hiền lành khiêm nhường, khát khao sự công chính, từ bi thương xót, tâm hồn trong sạch, xây dựng hoà bình, không giận ghét xét đoán, chung thuỷ trong hôn nhân, tha thứ không báo oán, yêu thương kẻ thù, và những giá trị khác được nhắc đến trong các huấn từ của Đức Giêsu.

Tin vào Tin Mừng là ký thác đời mình vào tình yêu bất diệt của Thiên Chúa, Đấng đã sai Con Một của Ngài xuống thế làm người vì chúng ta.  Khi tin vào Tin Mừng, chúng ta chấp nhận một lối sống như Con Thiên Chúa đã sống.  Chấp nhận yêu thương mà không đòi hỏi.  Chấp nhận cho đi mà không tính toán.  Chấp nhận quên mình vì người khác.  Khi tin vào Tin Mừng, chúng ta chấp nhận đoạn tuyệt với tội lỗi, đoạn tuyệt với nếp sống chạy theo những gì mà thế gian mời mọc quyến rũ.

************************************

Nói thì dễ làm thì khó.  Sám hối không chỉ xảy ra một lần là xong.  Ăn năn trở về là một tiến trình kéo dài từ ngày này qua ngày khác, có khi cả đời.  Tuy khó khăn và trắc trở, chúng ta vẫn không được bỏ cuộc.  Như chí sĩ Nguyễn Bá Học đã từng nói: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi.  Nhưng khó vì lòng người ngại núi e sông.”  Trên đường đi đến Golgotha, Đức Giêsu đã té ngã ba lần.  Ngài biết những yếu đuối của xác phàm.  Ngài biết chúng ta dễ vấp ngã.  Nhưng điều quan trọng là ngã xuống rồi, có thể đứng lên được không?  Nói cách khác, hôm nay chúng ta có thể bắt đầu lại được không?

Mùa Chay, mùa của ân sủng, mùa mời gọi canh tân đời sống.  Chúng ta có thể thử bắt đầu lại với việc cầu nguyện, ăn chay, bố thí.  Trong 40 ngày của Mùa Chay, chúng ta có thể cầu nguyện nhiều hơn và sốt sắng hơn một tí xíu.  Có thể hãm mình, khổ chế hơn một tí.  Và có thể sống bác ái, quảng đại, tha thứ hơn một tí.  Mỗi ngày chỉ hơn một tí thôi là con đường thanh tẩy nội tâm, sống triệt để theo Tin Mừng chẳng còn bao xa.

Xin cầu chúc bạn một Mùa Chay thánh thiện, được canh tân trong ân sủng của Chúa.

Antôn-Phaolô

CHAY TỊNH VÀ SÁM HỐI

Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng. (MC.1:15)

***

Bạn thân mến! Trên đây là lời mời gọi của Chúa Giêsu gởi đến mỗi người chúng ta trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay. Mỗi khi bắt đầu mùa Chay, Giáo Hội mời gọi ta cùng đi vào hoang địa với Ðức Giêsu, cùng chay tịnh và cầu nguyện với Ngài.  Ngay sau khi Ngài chịu phép rửa bởi tay của Gioan và nhận được Thánh Thần để lên đường.  Chính Thánh Thần đã dẫn đưa Ngài vào hoang địa.  Bốn mươi ngày sống trong cô tịch và cầu nguyện.  Bốn mươi ngày liên kết thân mật với Thiên Chúa Cha, để làm cuộc tĩnh tâm trước khi bắt đầu sứ vụ rao giảng Nước Trời

Mùa Chay là thời gian trở về với Chúa, là thời gian đi vào mầu nhiệm của sự chết và phục sinh của Chúa Giêsu .  Mùa chay là mùa Thiên Chúa ban hồng ân cách đặc biệt, nhưng đồng thời mùa chay cũng mời gọi chúng ta sám hối, cải thiện đời sống, đổi mới tâm hồn, thay đổi lối sống cho tốt hơn, cởi bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới của Đức Kitô.

Mùa Chay là thời gian quay trở về, là thời gian hồi tâm để nhìn vào Chúa và nhìn vào chính mình.  Nhìn vào Chúa để thấy tình Chúa yêu ta, để thấy ta còn quá khiếm khuyết nên phải cố gắng vươn lên, phải trông nhờ cậy dựa vào sức mạnh và quyền năng của Ngài để biến đổi.  Nhìn vào chính mình để nhận ra những yếu hèn sơ sót của thân phận con người .

Mùa Chay cũng là thời gian của tỉnh thức và cầu nguyện: Tỉnh thức để tránh xa những cám dỗ mời gọi, những “tham xân si” đang níu kéo và những cạm bẫy thử thách đang bủa vây .  Cầu nguyện để liên kết với Thiên Chúa, để có sức của Chúa hầu chống trả với ba thù.

Con người hôm nay không yếu đuối hơn ngày xưa.  Nhưng có lẽ bị cám dỗ nhiều hơn xưa, cám dỗ nào cũng khiến con người khép kín, chỉ nghĩ đến mình và sống cho mình.  Cám dỗ im lặng vì sợ liên lụy.  Cám dỗ giả mù trước sự thật rành rành.  Cám dỗ thỏa hiệp với sự dữ để được yên thân. Cám dỗ sống một đời sống tầm thường và buông thả.  Cái cao cả của con người là chiến đấu và chiến thắng.  Thắng được những đòi hỏi vô độ của thân xác cần có một sự tự chủ lớn lao. Thắng được những đam mê mù quáng của con tim cần có một thái độ anh hùng từ bỏ. Thắng được sự cứng cỏi, cố chấp của trí tuệ cần có một lòng khiêm tốn mở ra trước chân lý.

Nói cho cùng, đời người là một cuộc chiến đấu liên lỉ, có Chúa  bên cạnh ta sẽ an tâm đứng vững.  Ước gì ta có bản lãnh của Ðức Giêsu để chiến thắng sự nặng nề, nhỏ mọn của chính mình.  Nhưng trước hết, ta cần  ăn chay và cầu nguyện, cần ”sám hối và tin vào Tin Mừng” như lời Chúa mời gọi hôm nay:

 ***

Lạy Chúa Giêsu!  Chúa đã chiến thắng ma quỷ, chiến thắng những cơn cám dỗ của Satan.   Xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con luôn tin vào Chúa nhờ đó, chúng cũng vượt thắng những cơn cám dỗ đang bủa vây chúng con ở trần gian này. Amen.

Trích từ R. Veritas

MỘT MAI SẼ KHÔNG LÀM CÁT BỤI

Tin tưởng, khắc khoải và hy vọng về một cuộc sống mai sau phải chăng đó là “câu chuyện chung muôn thuở của loài người”.

Trước hết, các tôn giáo đều dạy các tín hữu của mình niềm tin về sự sống mai sau. Cõi “Niết bàn” của Phật giáo hay “Thiên đàng” của Do thái giáo, Hồi giáo, Kitô giáo đều là những chân lý khẳng định niềm tin vào cuộc sống vĩnh hằng bên kia ngưỡng cửa sự chết.

Cho dẫu có những người không theo một tôn giáo chính thức nào thì vẫn cho rằng : chết là đi về với ông bà, là đi xuống suối vàng. Chính vì thế, trong nghi thức tiển đưa người quá cố, người ta thường “đơm xôi, cúng quả, đốt giấy vàng bạc…để mong người chết còn có đường tồn sinh, còn có phương an dưỡng.

Thậm chí đến những người vô thần và thấm nhuần triết lý duy vật của Marx – Engel như ông Hồ, thì trước khi lìa đời vẫn tuyên bố nghiêm chỉnh rằng : “Tôi đi gặp các ông Marx, Lênin…”

Trong khi đó, ngôn ngữ đời thường trong giới bình dân hay văn chương đài các của các danh gia bác học, âm hưởng về một cuộc sống mai sau gần như thời nào cũng có, lúc nào cũng vang vọng với thời gian.

zzNếu không mông lung, hư ảo như Nguyễn Công Trứ:
“Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”

hoặc bấp bênh vô định Trịnh Công Sơn :
“Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi.  Ôi cát bụi mệt nhoài…

hay một thoáng khinh bạc, hững hờ như Lê Dinh :
Sống trên đời này người giàu sang cũng như người nghèo khó. Trời đã ban cho ta cám ơn trời dù sống thương đau.  Mai kia chết rồi trở về cát bụi giàu khó như nhau.  Nào ai biết trước số phận ngày sau ông trời sẽ trao… “

thì cũng thấp thoáng ưu tư phiền muộn như kiểu nàng Kiều xót thương Đạm Tiên của Nguyễn Du :
Đã không kẻ đoái người hoài
Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương,
Gọi là gặp gỡ giữa đường,
Họa là người dưới suối vàng biết cho.

****************************************

Sứ điệp phung vụ hôm nay cũng mang âm hưởng về cõi vĩnh hằng, về một ngày mai bên kia cái chết nhưng hoàn toàn khác hẳn.  Đúng hơn, không phải là âm hưởng mà là một lời gọi mời hướng tầm nhìn đức tin về cõi vĩnh hằng, hướng cuộc sống về một chân trời hy vọng của ngày mai, hướng tâm tư đến một niềm trông cậy vững vàng vào cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu Thiên Chúa sẽ ân ban.

Chính vì thế, chúng ta không lấy làm lạ khi các bài đọc Lời Chúa hôm nay gần như xoay quanh nội dung nầy.  Trước hết,

Bài đọc 1 : Trích sách Ma-ca-bê-ô quyển II : Kể lại lòng dũng cảm của 7 anh em người Do Thái đối diện với cuộc tra tấn dữ tợn trong cuộc bách hại thời vua An-ti-ô-khô, cùng với lòng trông cậy vững vàng của họ vào cuộc sống vĩnh hằng mai hậu dành cho những ai trung tín với lề luật của Thiên Chúa, như lời tuyên xưng dõng dạc của người con thứ tư:

“Thà chết vì tay người đời đang khi dựa vào Lời Thiên Chúa hứa mà hy vọng sẽ được Người cho sống lại. Còn vua, vua sẽ không được sống lại để hưởng sự sống đâu” (BĐ 1)

Phải chăng đây là điểm mới mẻ sau cùng của mặc khải cựu ước để hướng đến chân lý về sự phục sinh mà Đức Ki-tô sẽ công bố trong thời Giao ước mới.  Thật vậy, cho dù chưa được hồng phúc đón nhận mạc khải về sự sống lại, sự phục sinh vinh quang trong Vương quốc của Thiên Chúa do Đức Kitô mang đến, các tín hữu Do Thái, nhờ ánh sáng Lời Chúa, vẫn tin tưởng mãnh liệt vào cuộc sống mai sau, một cuộc sống có lành có dữ, có thưởng có phạt.  Sứ điệp của sách Macabêô cho đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị sư phạm trong trường dạy đức tin.  Thật vậy, trong cuộc hành trình tiến về vĩnh cửu, có ai trong chúng ta lại không đối diện với những thử thách đau thương, với những bách hại cách nầy hay cách khác.  Sợ rằng, với những cuộc bách hại tinh vi của thời đại hôm nay, không phải là “dầu sôi lửa bỏng, là gươm giáo ngục tù”, mà là danh vọng tiền tài, sắc dục, đam mê, thành công hưởng thụ… liệu chúng ta có còn đủ can đảm và trung thành để nói lên một lời xác tín như lời của Thánh vịnh 16 trong đáp vịnh ca hôm nay :

“Về phần con sống công minh chính trực,
con sẽ được trông thấy mặt Ngài,
khi thức giấc, được thỏa tình chiêm ngưỡng Thánh Nhan”

Thế nhưng, đích điểm của niềm trông cậy vĩnh hằng của chúng ta, hạnh phúc vĩnh cửu mai hậu mà chúng ta đang tiến về, quê hương Nước Trời mà chúng ta đang nỗ lực dựng xây lại không bao giờ là một cõi vu vơ, hão huyền một lời ca dao của người xứ Huế :

“Trăm năm trước thì ta chưa có.
Trăm năm sau có cũng như không
Cuộc đời sắc sắc không không
Trăm năm còn lại tấm lòng từ bi”

Hay lãng đãng mơ màng như “Một cõi đi về “của Trịnh Công Sơn :

“Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ.  Chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà…”

Trái lại, ở cuối chân trời hy vọng, ở đích điểm vĩnh hằng, ở cội nguồn hạnh phúc của chúng ta lại là một CON NGƯỜI, MỘT NGÔI VỊ:  Một Thiên Chúa tình yêu, Một Mục Tử tốt lành dẫn chiên về bên suối mát, một Người Cha thương yêu đang ngóng đợi con về, một bạn đồng hành đang thân thương sánh bước Emmau, một “Thầy đây đừng sợ” đang dẹp tan cuồng phong bão táp để đưa thuyền về bến đỗ bình yên…  Vâng Thiên Chúa của chúng ta, Đức Kitô của chúng ta không phải chỉ đứng đợi mà là đang đi tới, đang trở về, đang tuôn tràn ân sủng như tư tưởng của thư thứ 2 Thánh Phao lô gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca :

“Xin chính Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, và xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, Đấng yêu thương chúng ta và đã dùng ân sủng mà ban cho chúng ta niềm an ủi bất diệt và niềm cậy trông tốt đẹp” (BĐ 2)

Lời động viên của Thánh Phao-lô dành tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca hãy vững lòng trông cậy đợi chờ ngày Chúa đến vẫn còn nguyên giá trị đối với mỗi người chúng ta hôm nay, những kẻ đang đánh cuộc đời mình trong niềm tin vào Đức Kitô phục sinh..

Tuy nhiên, sống chiều kích vĩnh cửu trong giữa đời thường ô trọc hôm nay không phải lúc nào cũng dễ dàng, cũng êm trôi.  Bởi vì, khi đối diện với những vấn nạn mang chiều kích vĩnh cửu của phận người như: có không thiên đàng, hỏa ngục, có không hạnh phúc vĩnh hằng, có không thế giới bên kia… và những thực tại đó nó như thế nào?  Thì đã có không ít người hoặc đã quay lưng chạy trốn hoặc bực bội khước từ.  Quả thực, đối với nhiều người: cuộc sống đời thường là trên hết, hưởng thụ là cần thiết nhất, thành công phương tiện là ưu tiên số một.  Mọi thứ khác chẳng đáng quan tâm.  Ngay vào thời Chúa Giêsu cũng đã có cả một phong trào, một cộng đoàn Do Thái chủ trương như thế.  Họ chính là nhóm Sa-đu-kê-ô mà hôm nay trong trích đoạn Tin mừng Lu-ca bày đặt ra câu chuyện “một vợ bảy chồng” để bắt bí Chúa Giêsu về niềm tin sống lại. Và Ngài đã đập tan những luận điệu xuyên tạc sự sống lại ở đời sau của họ.  Ngài khẳng định chân lý về cuộc sống vĩnh hằng, một cuộc sống được thăng hoa, biến đổi để trở nên “con cái của Thiên Chúa”, con cái của sự sống lại.

Quả thật nếu không có sự sống lại thì thế giới nầy quả là vô nghĩa, cuộc sống nầy chẳng có chút giá trị gì.  Bởi vì nếu  không có đời sau, không có vĩnh hằng, không có thưởng phạt thì “thiện ác đáo đầu cũng như nhau” chứ làm gì có chuyện “chung hữu báo”, bậc công chính hiền nhân hay tên tàn ác giết hại sinh linh cũng chỉ là hai chiếc đầu lâu mục nát.  Và như thế, người ta có thể nói với nhau “ta ăn đi, ta uống đi, vì ngày mai ta sẽ chết” (Is 22,13).   Hay như lời Thánh Phaolô: nếu không có sự sống lại “thì lời rao giảng của chúng tôi thật hư không… và việc anh em tin cũng thật hảo huyền” (1 Cr 15,12-17).  Hư ảo hão huyền như “vết mực xóa bỏ không hay”

“Ôi cát bụi phận nầy, vết mực nào xóa bỏ không hay” (Cát bụi của TCS).

Không, người kitô hữu chúng ta “một mai sẽ không làm cát bụi” mà sẽ sống lại vinh quang. Chúng ta tin “xác loài người ngày sau sẽ sống lại”.

Tóm lại, vào những ngày gần kết thúc năm phụng vụ, sứ điệp Lời Chúa mời gọi chúng ta sống đức “Trông cậy” một cách vững vàng, sống niềm hy vọng sẽ được hưởng hạnh phúc bất diệt trong vương quốc của Thiên Chúa, vương quốc của sự phục sinh.  Đó chính là tiêu đích cho cuộc sống hôm nay: sống là để chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa đời đời.  Sống chính là cuộc hành hương đi về vĩnh cửu.  Sứ điệp nầy lại được vang lên trong những ngày của tháng “Các đẳng linh hồn” sẽ là một nhắc nhớ mỗi người chúng ta đừng quên số phận của những anh chị em đang được thanh luyện trong luyện ngục, và sốt sắng cầu nguyện cho họ để họ sớm được hưởng phúc thiên đàng.  Và chúng ta cũng đừng quên, chút nữa đây, Tấm bánh là Thân mình Đức Kitô được bẻ ra để trao ban cho chúng ta như quà tặng tuyệt vời nhất, như lương thực trường sinh cao quí nhất để dẫn chúng ta tiến bước về quê hương bất diệt.  Vì chính Ngài đã dạy : “Ai ăn và uống máu tôi, sẽ được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6, 54).

LM. Giuse Trương Đình Hiền

ƠN GỌI NÊN THÁNH

Một bà thánh không làm gì cả?

Sáng ngày 21-04-1962, cô bé Jeanne Emmanuelle Molla ra đời, và bảy ngày sau, ngày 28-04-1962, mẹ của cô đã qua đời. Bảy tháng trước đó, người mẹ của cô đã bị u xơ tử cung, nhưng với tư cách là một bác sĩ, bà yêu cầu giữ con mình lại. Trước ngày sinh nở, bà biết rằng sinh mạng mình có thể bị đe dọa nếu tập trung vào mạng sống đứa con. Bà nói với các bác sĩ: «Nếu quí vị phải lựa chọn giữa con tôi và tôi, thì hãy chọn con tôi, tôi đòi hỏi như thế. Hãy cứu lấy nó». Người phụ nữ ấy chết năm 39 tuổi. Bà không làm gì cả ngoại trừ chết đi để bảo vệ mạng sống của con ruột mình. Ngày 15-05-2004, bà đã được phong thánh: thánh Gioanna Baretta Molla. Trong giờ kinh Truyền Tin ngày 23-12-1973, Đức Phaolô VI đã nói như sau: «Một người mẹ còn trẻ thuộc giáo phận Milan, vì muốn cứu mạng sống con gái mình, đã hy sinh mạng sống mình trong một cuộc hiến tế có tính toán trước». Thế đấy, chỉ cần là một người mẹ trọn vẹn ý nghĩa cũng đủ được phong thánh.  Thậm chí, một tay sát nhân cũng có thể làm thánh.

Một ông thánh sát nhân?

Ngày 25-02-1954, Jacques Fesch cầm súng bước vào một chi nhánh ngân hàng để cướp hơn hai triệu franc Pháp.  Vụ cuớp bất thành. Một cảnh sát rượt đuổi anh, anh bắn chết viên cảnh sát ấy. Anh bị bắt giam vào nhà tù Santé ở Paris, và ở đấy trong ba năm trước khi bị kết án tử hình.  Ngày 01- 10- 1957 anh bước lên ghế điện để đền tội khi mới được 27 tuổi.

zzThế nhưng thời gian ngồi tù đã giúp anh hoán cải.  Ngày 01-05-1955, anh viết vào nhật ký trong tù của mình : « Tôi đã nghe một tiếng nói không xuất phát từ mặt đất nói với tôi rằng : Jacques, con nhận được ân sủng để chết. »  Đấy là biến cố đã giúp anh hoán cải, và kể từ đấy anh sống một đời sống thiêng liêng kết hiệp với Thiên Chúa.  Sau này, anh công bố : « Tôi được ban đầy dẫy ơn lành. Người ta đã cứu thoát tôi ngoài ý muốn của mình, người ta đưa tôi thoát khỏi cái thế gian chực làm cho tôi hư mất ». Sau khi qua đời, anh đã để lại 4 tác phẩm phản ảnh đức tin sống động của mình : Journal spirituel (Nhật ký thiêng liêng), Lumière sur l’échafaud (Ánh sáng trên đoạn đầu đài), Cellule 18 (Xà lim 18), Dans cinq heures je verrai Jésus (Năm giờ nữa tôi sẽ gặp Chúa Giêsu).  Các tác phẩm này đã khiến cho Giáo hội tiến hành một cuộc điều tra sơ khởi nhằm phong thánh cho anh, một người mà Đức Hồng Y Lustiger hy vọng rằng một ngày nào đó sẽ được Kitô hữu tôn kính như một «điển hình cho sự thánh thiện».  Ta có nên giam cầm mãi một tên tội phạm trong tội ác của mình, dù cho sau đó người ấy có làm gì đi nữa, hay ngược lại, ta phải khẳng định rằng một người đã phạm tội ác có thể trở được biến đổi sau khi ý thức việc mình làm và hoán cải thâm sâu ?

Con đường nên thánh

Hẳn là điều nghịch lý khi suy nghĩ về con đường nên thánh mà lại minh họa bằng một kẻ sát nhân.  Dù cho người ta đang tiến hành hồ sơ phong thánh cho anh, thì hàng loạt vấn đề đã được đặt ra. Các công đoàn của giới cảnh sát chống lại đề nghị của đức Hồng Y Lustiger, vì họ muốn bảo vệ danh dự và vinh quang cho người đồng nghiệp đã bị Jacques Fesch giết… Phải tin tưởng vào ơn tha thứ, nhất là khi hiểu rằng sự tha thứ chỉ thực sự trọn vẹn khi phải tha thứ những gì không thể nào tha thứ được. Và khi chúng ta nêu lên một ví dụ đi ngược lại với mọi lôgíc con người như thế, thì mới thấy được lòng thương xót của Thiên Chúa và hiểu được sự thánh thiện mà Chúa đã dành cho mỗi một con người, dù cho người ấy được xem như là anh «trộm lành» trong thời đại hôm nay. Và điều này có thể cũng giải thích được phần nào một khía cạnh cũng không kém phần nghịch lý của Giáo Hội, ấy là Giáo Hội được mời gọi nên thánh, dù cho Giáo Hội bao gồm những chi thể tội lỗi.

Đấy là điều mà Đức Gioan Phaolô II đã muốn nói lên trong tông thư «Đầu thiên niên kỷ mới»: «Đừng hiểu lầm về lý tưởng trọn lành này như thể đời sống thánh thiên đòi hỏi phải có một cuộc sống phi thường mà chỉ vài người xuất chúng mới đạt được. Đường nên thánh thì có nhiều và thích hợp với ơn gọi của từng người. Tiến trình nên thánh là một tiến trình cá nhân, đã đòi hỏi phải có một sư phạm đúng đắn về sự thánh thiện, để có thể thích nghi với nhịp sống của từng người».

Đức Giáo Hoàng cũng nhấn mạnh rằng tất cả mọi người đều được mời gọi nên thánh dù ở bất cứ giai đoạn nào trong cuộc đời: vào mùa xuân của tuổi thanh niên, mùa hè của tuổi trưởng thành, mùa thu và mùa đông của tuổi già yếu, vào giờ chết và cuối cùng, sau cái chết nữa. Ngài tuyên bố: «Ơn gọi của Kitô hữu là nên thánh. Ơn gọi ấy bắt nguồn từ Phép Rửa và được canh tân nhờ các bí tích khác, đặc biệt là bí tích Thánh Thể».

Trần Duy Nhiên