CHẾT

zzCổ nhân ta nói: “Sinh kí tử quy”, sống là tạm gửi, chết mới là về.  Ðó là một nhân sinh quan, và cái nhân sinh quan ấy chi phối đời sống người ta, đến độ có nhiều người nói rằng “sống là chuẩn bị cho cái chết.”

Từ quan niệm ấy, người Việt Nam hình như không sợ hãi khi đối diện với cái chết.  Những cụ già xây sẵn phần mộ, mua sắm sẵn cỗ áo quan, ra vào vuốt ve ngắm nghía nó như ngắm một vật thân quí, đôi khi vào nằm thử một cách bình tĩnh.  Các cụ còn định sẵn cả chương trình cho đám tang của mình, phải tổ chức ra sao, nghi thức thế nào.  Thật đúng là sự chuẩn bị cho một cuộc trở về.

Ðó mới chỉ là những cái bên ngoài biểu lộ quan niệm “sinh kí tử quy”.  Một cách sâu xa hơn, người ta chuẩn bị cho chuyến trở về bằng cả một cuộc sống của mình.  Ðể cho cuộc trở về tốt đẹp, người ta sống tốt đẹp, cư xử tử tế với mọi người, tạo phúc đức để lại cho con cháu, trả sạch nợ nần để không phải vướng mắc với ai, không tạo ra những ác nghiệp v.v…  Thực hiện được những điều đó, người ta thanh thản trở về thế giới bên kia.

“Sinh kí tử quy.” Sống là tạm gửi, chết mới là về.  Nhưng về đâu?  Ðó là vấn đề.  Có phải là về với lòng đất?  Có phải là về với hư không?  Có phải là về với tổ tiên?  Hay là về chốn bồng lai tiên cảnh?…  Ðiều đó tùy thuộc quan niệm và niềm tin của từng người.  Người Công giáo chúng ta tin rằng con người có linh hồn bất tử, và khi chết, linh hồn của mình sẽ về cùng Thiên Chúa, đấng tạo dựng nên mình.  Thiên Chúa là nguồn cội.  Từ Thiên Chúa, có muôn loài muôn vật, có chính mình.  Bởi thế, chết là một cuộc “lá rụng về cội” lớn lao nhất, quan trọng nhất.

“Lá rụng về cội”.  Ðó có thể coi như một nguyên tắc, một lẽ đương nhiên?  Thật ra không hẳn thế.  Quan sát sự kiện thực tế ngoài đời, ta sẽ biết ngay: có chiếc lá khi rụng, chao đi vài vòng, rồi nhẹ nhàng đặt mình dưới gốc cây.  Nhưng cũng có những chiếc lá vừa lìa khỏi cành đã bị trận bão loạn gió cuồng cuốn bay đi xa lắc.  Lá rụng, nhưng lá không về cội.

Ðời người ta cũng như những chiếc lá.  Như lá được sinh ra và nuôi dưỡng từ chất nhựa từ cội là gốc rễ đưa lên thế nào, con người cũng được sinh ra, lớn lên, sinh hoạt trong dòng đời, từ chính cội nguồn của sự sống là Thiên Chúa như thế.  Cái chết của con người cũng giống như chiếc lá lìa cành.  Về với Thiên Chúa cũng như “lá rụng về cội”.  Nhưng lá rụng chưa chắc đã về cội thì con người khi chết cũng chưa hẳn sẽ được về cùng Thiên Chúa.  Về được với Chúa hay không, cái đó tùy ở cách sống của mình, tùy ở chính mình.

Có người ví cuộc hành trình về với Chúa, hay nói khác đi là về Thiên Ðàng, là một chuyến đường.  Người đi phải tập làm quen với con đường, hay nói khác đi là phải đi lại nhiều lần trước khi ra đi để về thật.  Nếu không quen đường thuộc lối, rất có thể người ta sẽ đi lạc, và như thế chẳng về được nhà.

Con đường về với Chúa là con đường gì?  Ðó là đường Tình Yêu, bởi vì Thiên Chúa chính là Tình Yêu.  Và Thiên Ðàng là nơi gồm toàn những người biết yêu Chúa và yêu nhau.  Như thế, làm quen với con đường về Thiên Ðàng cũng có nghĩa là tập sống yêu thương.  Yêu Chúa và yêu người.

Yêu Chúa thì dễ, vì Chúa là Ðấng trọn hảo và rất đáng kính yêu.  Chúa không làm cho mình khổ, Chúa không gây ra những rắc rối cho đời mình.  Chúa lại yêu mình hết mực.  Tuy nhiên, yêu Chúa “khơi khơi” thì dễ, chứ yêu đến nơi đến chốn, yêu với tất cả linh hồn và trí khôn, yêu đến độ sẵn sàng sống chết vì Chúa…  điều ấy chưa chắc đã dễ.

Yêu người khó hơn nhiều lắm.  Vì đã là người thì có khuyết điểm.  Người ta dễ làm cho mình đau khổ, cũng gây cho mình rất nhiều điều rắc rối.  Rất nhiều khi người ta không yêu mình, trái lại còn ghen ghét, thù hận mình nữa.  Người ta như vậy đó, thế mà mình phải yêu, để làm quen được với cái đường đi về Thiên Ðàng kia.

Nói cho cùng, cuộc sống làm nên ý nghĩa của sự chết.  Cuộc sống quyết định cho đích điểm của một chuyến đi.  Chuyến đi xa nhất, quan trọng nhất của đời người.  Ðây cũng là chuyến đi cô đơn nhất, vì không có ai đồng hành với ta.

Sống Yêu Thương, yêu Chúa và yêu người thật lòng, ta sẽ về được với Ðấng chính là Tình Yêu.  Sống không yêu thương, đường đi của ta sẽ ngược chiều, và ta khó lòng gặp được Thiên Chúa Tình Yêu.  Ðó là nỗi bất hạnh lớn lao nhất, nỗi cơ cực kinh khủng nhất.  Bởi vì hạnh phúc thật của con người, nói cho cùng, là về được, hòa nhập được với chính cội nguồn nơi mình đã xuất phát: Thiên Chúa.  Hòa nhập được với Thiên Chúa, Ðông phương gọi là hòa hợp cùng Ðại Ngã, còn chúng ta gọi là được về nước Thiên Ðàng hưởng hạnh phúc vĩnh cửu.

Còn nỗi cô đơn.  Ai mà chẳng sợ cô đơn.  Muốn tránh cô đơn, chỉ còn cách kết bạn và mời bạn làm kẻ đồng hành.  Nhưng bạn nào đồng hành được với ta trên đường về, mà khởi đầu là cái chết phần thân xác?  Chỉ có một “người” thôi, đó chính là Thiên Chúa.  Hạnh phúc cho ai, trên đường về có chính Thiên Chúa làm bạn đồng hành.  Trong tình bạn, cần có thời gian.  Bạn thân để có thể đồng hành lại càng cần thời gian dài hơn nữa.  Như thế, trong cuộc sống trần gian, nếu ta đã không từng quen với Chúa, thân với Chúa, chia sẻ với Chúa, thì khi ta chết, làm sao ta có được Chúa làm người bạn đồng hành trên đường về?

“Sinh kí tử quy”, “Lá rụng về cội.”  Ðó thật là những tư tưởng đẹp và thâm sâu.  Ðể hiểu được vẻ đẹp và sự thâm sâu đó, không phải một sớm một chiều.  Giá ta phải trả để hiểu được nó và áp dụng nó là cả một cuộc đời, với nỗ lực và với yêu thương.

Quyên Di

GIỮ LINH HỒN

zz“Các con cứ bền đỗ, các con sẽ giữ được linh hồn các con.”

Vào khoảng năm 538 trước Công nguyên, sau khi được Hoàng đế Ba tư là Kyrô ban sắc chỉ ân xá, con cái Israen rời đất lưu đày Balylon, tiến về thánh điện, khởi công tái thiết quê hương xứ sở giữa muôn vàn gian nan khốn khó.

Đứng trước cảnh đổ nát hoang tàn của đền thờ, đất đai bị ngoại bang lấn chiếm, tinh thần của dân Do thái hồi hương không khỏi lao đao.  May nhờ có sự hổ trợ của Ezra và Nêhêmia là hai người giàu có, thế lực dưới triều vua Artaxerxes, dân Israen đã xây lại được một phần nhỏ đền thờ Giêrusalem và thánh hiến nó vào khoảng năm 516 trước Công nguyên (BC).

Thế nhưng, chưa hưởng trọn niềm vui tự trị và tự do, người Do thái lại bị các quốc gia hùng mạnh như Ai cập và Hy lạp quấy phá.  Đến năm 169 BC, người Xyria do vua Anticô II dẫn đầu, đã tiến vào đánh chiếm cướp phá đền thờ.  Một lần nữa đền thánh Giêrusalem lại rơi vào cảnh hoang tàn đổ nát.

Mãi đến năm 63 trước Công nguyên, sau khi người Rôma chiếm đóng Palestine và đặt Hêrôđê làm quan tổng trấn cai trị vùng đất Giuđê, đền thờ mới được tái thiết nguy nga và được thánh hiến vào năm 19 BC.

Biết bao cẩm thạch, vàng bạc, gỗ quí, và công sức được đổ ra cho việc xây cất một đền thờ lộng lẫy, làm nên niềm tự hào và sức sống của cả dân tộc Israen.  Trong cuốn sách “Những Cuộc Chiến của Người Do Thái”, sử gia Josephus đã mô tả về “niềm tự hào” đó như sau: “Mặt tiền của Đền thờ đủ làm choáng ngợp tâm trí và đôi mắt người ta.  Nó được bọc bằng những miếng vàng lớn.  Khi ánh thiều dương vừa tỏa sáng ở chân trời, thì cả đền thờ rực lên bởi những tia sáng phản chiếu, khiến những ai muốn nhìn thẳng vào đó cũng bị lóa mắt, đến nỗi họ phải quay đi.  Đối với khách lạ, thì từ đàng xa, Đền thờ nổi bật lên như một núi tuyết trắng xóa.  Không có phần nào mà không được chạm trổ hay bọc vàng.”

Đứng trên núi Cây Dầu nhìn xuống đền thờ rực rỡ trong ánh nắng huy hoàng, các môn đệ không khỏi buông lời trầm trồ khen ngợi.  Nhưng, thay vì hòa điệu với những rung cảm trước vẻ hoa lệ của Đền thờ, Đức Giêsu lại tiên báo về một sự sụp đổ không tránh khỏi.  Những gì thế gian cho là vững chắc và xinh đẹp chỉ là những thứ mỏng dòn và tạm bợ.  Tất cả sẽ bị tàn phá.  Ngay như công trình và “niềm tự hào” của Israen đây cũng sẽ bị sụp đổ, “không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào” (Lc 21:6).  Đức Giêsu đã tiên báo như thế.

Và sự gì đã xảy ra?

Năm 70 sau khi Chúa Giêsu sinh ra, tướng Titô đem đại quân Rôma đến vây hãm thành Giêrusalem.  Dân chúng bị đói khát đến nỗi phải ăn thịt lẫn nhau.  Kẻ nào tìm cách trốn khỏi vòng vây đều bị giết chết.  Tính ra số người bỏ mạng lên đến 1.100.000, và số người bị bắt sau khi thành thất thủ là 97.000.  Đền thờ bị lính Rôma phóng hỏa tan tành.  Tướng Titô chỉ cho chừa lại một mảng tường thành để sau này con cháu Israen đến đó mà than khóc.  Như thế, lời tiên báo của Chúa Giêsu đã ứng nghiệm.

Nhưng sự sụp đổ của thànnh Giêrusalem chỉ là hình bóng của ngày thế tận.  Rồi đây, sẽ chẳng còn thứ gì tồn tại.  Thời gian sẽ hủy diệt tất cả.  Sự sống, sắc đẹp, sức lực, sung sướng…  của cuộc đời này đều mỏng dòn và ngắn ngủi.  Mọi sự đều tiến về cái chết, dù nhanh hay chậm.

Vì thế, thánh Anphong từng nhắc đi nhắc lại: “Chỉ có một việc ta phải lo là việc rỗi linh hồn, vì mỗi người chỉ có một linh hồn mà thôi.” Thánh Phanxicô Saviê cũng nói: “Mỗi người chỉ có một linh hồn.  Nếu được rỗi thì được hưởng thiên đàng, nếu bị mất thì phải sa hỏa ngục.”  Xưa Vua Đavít suy về điều này mà thốt lên lời nguyện cầu: “Tôi chỉ ước trông một điều, đêm ngày tôi khấn xin, là cho tôi được vui sống trong nhà Chúa trọn đời” (Tv 26:4)

Nhưng để được ở trong nhà Chúa, tức là để chiếm được Nước Trời, người ta phải nỗ lực chiến đấu.  Chính Đức Giêsu đã nói: “Nước Trời ở dưới sức cường bạo, và những kẻ cường bạo chiếm đoạt lấy” (Mt 11:12).  Không gắng công chống trả ba thù, thiếu quyết tâm đi vào cửa hẹp, làm sao có thể tìm được thiên đàng đích thực.

Lạy Chúa, xin trợ lực chúng con chống trả ba thù, kiên vững niềm tin, hầu mai kia được hưởng niềm vui trường sinh trong Nước Chúa.  Amen.

Lm.  Bùi quang Tuấn

 

LATÊRANÔ VÀ NHỮNG NGÔI ĐỀN THỜ

Kể từ sau khi Chúa Giêsu về trời, với việc các thánh tông đồ nói riêng, các Kitô hữu đầu tiên nói chung, ra đi truyền bá Tin Mừng, Hội Thánh bắt đầu hiện diện giữa lòng thế giới.  Thay vì đón nhận sự hiện diện ấy, chính quyền đế quốc Rôma bắt đầu nghi kỵ và ác cảm.  Gần 300 năm (từ những năm cuối  thập niên 50 trải dài đến những năm 310), cuộc bắt đạo lần lượt qua mười triều đại hoàng đế (khởi đi từ Nero đến Diokletian).  Thế nhưng, suốt 300 năm ròng rã phải sống chui nhủi trong những hang toại đạo, những hốc đá, rừng rậm… như một thứ “Hội Thánh hầm trú”, vậy mà không một sức mạnh của bạo quyền nào có thể đè bẹp đức tin, tưởng chừng quá non nớt, quá mới mẻ của các Kitô hữu tiên khởi.

zzĐức tin có sức mạnh riêng, có lý lẽ riêng, có sự sống riêng của nó.  Sức mạnh, lý lẽ, cũng như sự sống riêng ấy là một khối tinh thần.  Khối tinh thần ấy không thuộc về lý trí, hay trí tuệ, nhưng thuộc về huyền nhiệm thánh thiêng, một huyền nhiệm của trời cao (chứ không phải của con người).  Đã là sức mạnh của cả một khối tinh thần thuộc về huyền nhiệm thánh thiêng, làm gì có bất cứ một sức mạnh nào khác có thể vượt qua!

Ngay từ khởi đầu của Hội Thánh, một đức tin xem ra chẳng đáng kể gì về bề dày thời gian, đã có thể lướt thắng mọi trở ngại.  Bởi thế, mãi cho đến hôm nay, đức tin ấy, một khối tinh thần thuộc về huyền nhiệm thánh thiêng ấy, đã được tinh luyện hàng ngàn năm, chắc chắn không dễ gì lay chuyển.  Lịch sử vẫn còn đó, như dấu tích, như bằng chứng, hơn nữa như bài học xác đáng cho con người thời đại…

Sau một thời gian quá dài, không sao đổi dời lòng tin của các Kitô hữu, đến năm 313, hoàng đế Constantin ký sắc lệnh Milan công nhận Kitô giáo là một tôn giáo hợp pháp trên đế quốc Lamã.  Sau thời gian đó, hoàng đế tiếp tục thực hiện một nghĩa cử đáng trân trọng: Ông trao tặng Đức Thánh Cha Miltiad một cung điện lộng lẫy nằm trên đồi Coelius: cung điện Latêranô ngày nay.  Một thời gian không lâu sau đó, Đức Thánh Cha đã cho xây bên cạnh cung điện này một Đại Thánh đường, đó là Đại Thánh đường Latêranô.  Và ngày 9.1.324, Đức Sylvester đã long trọng cung hiến Đại Thánh đường này.

Ngay từ đầu, Thánh Đường Latêranô được dâng kính Đấng Cứu Thế, với tước hiệu Vương Cung Thánh đường Chúa Cứu Thế.  Thế kỷ XII, nó cũng được dâng kính thánh Gioan Baotixita và thánh Gioan tông đồ.  Đại thánh đường Latêranô được xem là “Mẹ và là Đầu của mọi nhà thờ trên thế giới”.  Sở dĩ nhà thờ này có một chỗ đứng quan trọng trong Giáo Hội như thế là vì bốn lý do:

  • Đây là ngôi thánh đường đầu tiên được công nhận trong đế quốc.
  • Đây là nhà thờ đầu tiên trước mọi nhà thờ trong Giáo Hội. Một ngôi nhà thờ mang nhiều ý nghĩa lịch sử: Trong thời gian bị bắt đạo, Hội Thánh không thể xây một ngôi thánh đường nào.  Các thánh lễ và các buổi tụ tập cầu nguyện đều lén lút tổ chức trong các nhà tư, trong các hang toại đạo, trên mộ các thánh Tử Đạo.  Sau khi được chính quyền công nhận, các tín hữu, từ chỗ lén lút bước vào xã hội công khai, Đại Thánh đường đầu tiên này là nơi duy nhất và sang trọng nhất, để họ dâng kính Thiên Chúa việc thờ tự của mình.
  • Đây là Vương Cung Thánh đường của giáo phận Rôma, có ngai tòa của Giáo hoàng.
  • Hội Thánh chính là đền thờ của Thiên Chúa, mỗi Kitô hữu như những viên gạch sống động đắp xây ngôi Đền Thờ Hội Thánh. Vì ý nghĩa lịch sử lớn lao và có cả một bề dày hiện diện giữa lòng Hội Thánh, Đại Vương Cung Thánh đường Latêranô là ngôi Đền Thờ được Hội Thánh chấp nhận như một biểu trưng cho một ngôi Đền Thờ to lớn là chính Hội Thánh, nơi mà Thiên Chúa trao tặng hết tình yêu của Người và ưa thích ngự vào.

Ngoài chính bản thân ngôi Đền thờ Latêranô là Đại Thánh đường cổ xưa nhất, nơi đây còn có giếng rửa tội lâu đời nhất của Rôma.  Tại giếng rửa tội này, hàng ngàn tân tòng đã đến đây lãnh phép rửa tội, nhất là trong các đêm vọng Phục Sinh.  Cung điện Latêranô còn là nơi hội họp của 250 Công Đồng, trong đó có bốn Công Đồng chung.  Các Đức Giáo hoàng đã cư ngụ tại đây trong hơn 1.000 năm, mãi cho đến thế kỷ XIV, Đức Nicôlas V mới dời Giáo Đô về Vatican, cạnh đền thờ thánh Phêrô.

Qua các trận hỏa hoạn, động đất và càn quét của man dân, của Đức, của Pháp… Đền thờ Latêranô phải tái thiết lại nhiều lần.  Ngày 28.4.1726, sau một công trình tái thiết lớn, Đức Thánh Cha Bênêditô XIII đã thánh hiến lại và công nhận ngày 9.11 hàng năm làm ngày lễ tưởng niệm cung hiến Đại Thánh đường Latêranô.

Nhưng trong thánh lễ kỷ niệm cung hiến Đền Thờ Latêranô hôm nay, Hội Thánh không dừng lại ở việc tưởng niệm một lịch sử đã qua đi từ lâu.  Nhưng qua việc tưởng niệm này, Hội Thánh muốn chúng ta hướng tới sự tôn thờ một Ngôi Đền Thờ sang trọng, lớn lao, chất chứa mọi ngôi đền thờ, và vượt trên mọi ngôi đền thờ, và mọi ngôi đền thờ dù theo nghĩa hiện thực hoặc tinh thần, đều chỉ tìm thấy ý nghĩa của mình nơi Ngôi Đền Thờ ấy.  Đó chính là Ngôi Đền Thờ mang tên Giêsu Kitô.  Vì chỉ có Chúa Kitô mới là Đền Thờ đích thực như chính Người đã ám chỉ về mình trong bài Tin Mừng của lễ Cung Hiến Đền Thờ Latêranô: “Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi.  Nội trong ba ngày, Ta sẽ xây dựng lại.”  Và lời này được thánh Gioan Tông đồ giải thích ở cuối bài Tin Mừng: “Đền Thờ Chúa Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Người.”

Mừng lễ cung hiến Đền Thờ Mẹ của mọi ngôi nhà thờ vật chất, ta hướng về Ngôi Đền Thờ Rất Thánh là Chúa Kitô, để nhận ra Người cũng chính là Ngôi Đền Thờ Mẹ của mọi ngôi đền thờ khác là chúng ta.  Ngôi Đền Thờ Mẹ rất Thánh ấy đã chấp nhận “hủy mình ra không.”  Và chấp nhận được “phá hủy” như thế, để nên nguồn lợi lớn lao cho mỗi ngôi đền thờ con của Ngôi Đền Thờ Mẹ, là chính chúng ta: Người mang ơn cứu độ, mang lại sự sống trường cửu cho ta.

Hiểu được ý nghĩa của bài học về sự tự hiến nơi Chúa Giêsu như thế, đến lượt mình, bạn và tôi cũng hãy là những người biết dùng tất cả tài năng, sức lực, sự khôn ngoan để chung tay xây dựng cuộc đời, xây dựng Hội Thánh.  Nếu một ngôi đền thờ vật chất bị phá hủy, nó chỉ trơ lại một đống đổ nát.  Nhưng nếu một ngôi đền thờ là chính mỗi con người biết “phá hủy” và chấp nhận để cuộc đời “phá hủy” mình, nghĩa là biết chấp nhận tự hiến, ngôi đền thờ ấy sẽ sinh ra không biết bao nhiêu lợi ích cho chính mình và cho muôn người.

Lạy Chúa, Chúa đã chọn chúng con như những ngôi đền thờ sống động, để cùng nhau xây nên một ngôi đền thánh vinh hiển là Hội Thánh của Chúa.  Xin cho chúng con biết cho đi chính bản thân để phụng sự Chúa và phục vụ con người.  Chỉ có cho đi trong tinh thần tự hủy, chúng con mới có thể làm rạng danh Chúa và xứng đáng là những ngôi đền thờ có Chúa ngự.  Hay nói cho đúng, chỉ khi nào có Chúa ngự, con người chúng con mới xứng đáng gọi là đền thờ.

LM Vũ Xuân Hạnh

SỰ THÔNG CÔNG GIỮA CÁC THÁNH, CÁC LINH HỒN, VÀ LOÀI NGƯỜI Ở TRẦN GIAN (có Youtube)

Sự hiệp thông giữa các thánh gồm có tất cả những ai sống trên trái đất, các thánh trên Thiên Đàng và các linh hồn dưới luyện ngục.  Ba Hội Thánh Chiến Đấu, Khải Hoàn, và Đau Khổ kết hợp thành một gia đình lớn, và hiệp thông với nhau một cách đặc biệt.  Vì thế, sự thống khổ và niềm vui của một người cũng là của tất cả mọi người.  Sự khải hoàn của các thánh, sự đau khổ của các linh hồn và sự thử thách của các người còn sống trên thế gian là điều kinh nghiệm của mọi người.  Khi chúng ta ở thế gian vui mừng khi nghĩ về các thánh, và buồn cho các linh hồn ở luyện ngục, thì các ngài, dù ở trên Trời hay còn ở luyện tội, cũng đều lo lắng cho số phận của chúng ta trên trần thế.  Các ngài thấy và biết rõ các nguy hiểm mà chúng ta đang sống.

Các linh hồn ở Luyện ngục tham dự vào niềm vui huynh đệ với các thánh trên Thiên Đàng, và họ cảm ơn các việc lành thánh mà chúng ta làm để dâng hiến cho họ được sớm giải thoát.  Họ xem chúng ta là những ân nhân của họ.  Khi từ lửa luyện ngục, họ nhìn lên Thiên Đàng và thấy các thánh đang hạnh phúc, thì họ nghĩ rằng một ngày nào đó, họ cũng sẽ được hạnh phúc như thế.  Các linh hồn ở Luyện ngục cũng biết rằng họ có các bạn hữu trên Thiên Đàng đang cầu bầu cho họ trước Ngai Tòa của Chúa.  Do đó, sự liên hệ đặc biệt giữa các linh hồn ở Luyện ngục, với nhân loại trên trần gian, và với các thánh nơi Thiên Đàng, không bị quên lãng.

zzChúng ta đừng quên các Thiên Thần, vì dĩ nhiên, các ngài rất chăm sóc cho các linh hồn ở Luyện ngục.  Nhiều linh hồn phú thác cho các Thiên Thần của Chúa.  Các Thiên Thần cho rằng sứ mệnh của họ chưa chấm dứt cho đến khi nào họ đem được các linh hồn lên Thiên Đàng.  Toàn thể các Thiên Thần luôn chú ý đến những linh hồn khi còn sống mà biết tôn kính các ngài.

Nghi lễ cho ngày lễ kính Thánh Micae cho ta biết rằng ngài đã được Chúa chỉ định cho việc nhận các linh hồn vào Thiên Đàng, khi họ rời Luyện ngục.  Do đó, Thánh Micae như là một vị Hoàng tử của vương quốc thống khổ.  Ngài có lòng trắc ẩn với các linh hồn này, và Ngài tiếp tục cầu bầu cho các linh hồn ấy.

Thánh Frances thành Roma rất vui thích khi nói đến các Thiên Thần chăm lo cho mọi người trong suốt đời sống của họ.  Bà nói rằng: “Khi một người chết, tùy theo mức độ công trạng của họ, vị Thiên thần Bản mệnh dẫn đưa người ấy tới phần sâu của Luyện ngục, và ở lại bên phía tay phải của người ấy, trong khi ma quỷ ở phía tay trái người ấy.  Thiên Thần dâng lên Chúa Giêsu các lời cầu nguyện để cầu bầu cho linh hồn ấy được giảm bớt sự đau đớn.  Trong khi ấy, ma quỷ thì chịu sự điều khiển của Lucifer, nên bị hành hạ một cách đặc biệt vì không thể dụ dỗ linh hồn ấy vào Hỏa ngục.  Khi giờ đền tội của một linh hồn đã hoàn tất, người ấy được chuyển qua một nơi chốn cao hơn, và ma quỷ rời linh hồn ấy để trở về với đồng bọn của hắn, những tên ma quỷ khác sẽ chỉ trích hắn vì hắn đã thất bại trong việc dụ dỗ linh hồn ấy.

Như vậy, các Thiên Thần Bản Mệnh thăm viếng các linh hồn nơi Luyện ngục và cầu bầu cho họ trước Tòa Chúa.

Trong chuyến thăm viếng Luyện nguc dài 2 tiếng đồng hồ của Thánh Nữ Mary Magdalen Dei Pazzi, bà thánh đến thăm một nhà tù mà người ta phạm tội vì sự ngu dốt hay yếu kém, và bà thấy các Thiên Thần Bản Mệnh của các linh hồn ấy ở ngay bên cạnh họ để an ủi.

Thánh Nữ Margaret Mary Alacoque cũng vậy, trong khi bà bị bịnh, Thiên Thần Bản Mệnh của bà mời bà đến thăm Luyện ngục với Ngài.  Ngài đưa bà đến một nơi rộng lớn đầy những lửa và than đá.  Tại đó, Ngài cho bà thánh thấy rất nhiều linh hồn trong hình dáng con người, đang giơ tay ra để cầu xin lòng thương xót, và bên cạnh họ là các Thiên Thần Bản Mệnh đang an ủi họ với những lời yêu thương.

Các mặc khải trên đây đúng theo lời giảng dạy về Thần Học và hợp với đại đa số các Tiến sĩ Hội Thánh.  Các ngài nói rằng các Thiên Thần Bản Mệnh đưa các linh hồn vào Luyện ngục, và để cho họ liên lạc với chúng ta, linh hứng để ta cầu nguyện cho các linh hồn ấy, và rồi báo tin cho các linh hồn xem ai là người cầu bầu cho họ.  Khi thời kỳ đền tội đã hoàn tất, các Thiên thần đưa họ lên Thiên Đàng và đến với chúng ta để báo cho ta biết về sự giải phóng của họ.  Chúng ta đoan chắc rằng các Thiên Thần hành động như người trung gian giữa Luyện ngục và Trần gian.

Ngoài ra, các Thiên Thần còn là người trung gian giữa Luyện ngục và Thiên Đàng.  Chúng ta đã nhắc đến việc họ dâng lên Chúa các lời nguyện và sự hy sinh mà chúng ta dâng lên để cầu cho các linh hồn ở Luyện ngục, và các ngài đem những an ủi mà Chúa ban đến cho các linh hồn.

Mỗi khi Chúa hay Đức Mẹ Maria ngự xuống Luyện ngục thì đều có các Thiên thần bao quanh, sự huy hoàng và sáng láng của các Ngài đem lại nhiều an ủi và niềm vui cho các linh hồn ấy.  Nếu các Thiên Thần đã chăm sóc cho các linh hồn ấy khi ở trần gian, tại sao lại không chăm lo cho họ trong thời gian họ ở trong Luyện ngục chứ?

Để kết luận, và để hiểu rõ sự lưu tâm của các Thiên thần ở trong Luyện ngục, chúng tôi kể một câu chuyện do nhà văn Rossignoli kể trong tác phẩm của ông:

“Trong tu viện của Thánh Catherine ở vùng Naples, các tu sĩ có thói quen đạo đức là đọc kinh chiều cho các linh hồn vào mỗi buổi tối, trước khi đi ngủ.  Như vậy, trước khi nghỉ ngơi, người tu sĩ có thể đem lại chút ủi an cho các linh hồn.  Một tối kia, các nữ tu vì quá mỏi mệt vì lao động mệt nhoài, nên họ không đọc kinh chiều cầu cho các linh hồn.  Do đó, một ca đoàn Thiên Thần từ Thiên Đàng đi xuống và bắt đầu đọc kinh chiều cho các linh hồn trong cung ca đoàn của tu viện.  Nhờ vậy, các linh hồn không lo buồn vì sự thiếu kinh nguyện.  Như vậy chúng ta có cần thêm chứng từ nữa không?”

Vậy chúng ta hãy luôn nhớ rằng niềm vui và hạnh phúc của các thánh, sự đau đớn và thống khổ của các linh hồn ở Luyện ngục và các thử thách và phiền muộn của các người đang sống ở thế gian đều hợp thông với nhau.  Các thánh ở trên Thiên Đàng rất cảm động khi nhìn thấy sự nguy hiểm mà loài người trên trần gian phải đi qua, và các ngài nhìn xuống Luyện ngục với lòng thương xót và trắc ẩn.  Họ cầu bầu cho các anh chị em của họ sớm hưởng hạnh phúc trên Thiên Đàng.  Còn các linh hồn thì cảm ơn các ân nhân ở trần gian, và ngước mắt lên trời để chiêm ngắm các thánh đang hưởng hạnh phúc vĩnh cửu.  Họ vui mừng và đầy hy vọng khi biết rằng lời cầu bầu của các anh chị em trên trời cũng như trên thế gian sẽ giúp rút ngắn thời gian thống khổ.  Thật là một tương quan đẹp đẽ và thân thiện giữa Luyện ngục, Thiên Đàng và Trần gian, và đó chính là di sản quý báu và đẹp đẽ của Giáo hội Công giáo.

Trích trong tác phẩm The Holy Souls, của Lm Alessio Parente
Kim Hà dịch thuật

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

SỐNG LẠI

zzTrong chương trình Những điều bạn có thể chưa biết của đài VTV3 có tường thuật một trường hợp lạ lùng: Một phụ nữ bị nhồi máu cơ tim.  Chị tắt thở.  Chị đã chết.  Nhưng nhiều giờ sau, chị tỉnh lại.  Các bác sĩ hỏi chị đã thấy gì trong thời gian ấy.  Chị trả lời: chị thấy mình như bay bổng lên cao, và từ trên cao chị nhìn xuống thấy các bác sĩ, các y tá đang chăm sóc cho mình, nhìn thấy thân xác mình nằm bất động, nhìn thấy thuốc men, dụng cụ y tế.  Chị cũng nhìn thấy một chiếc giày tennis cũ màu xanh da trời, đế giày bị mòn ở mép trong bàn chân, giây giày màu trắng, đầu một sợi dây thòng xuống dưới đáy giày.  Nghe lời tả rất chi tiết của chị, vị bác sĩ chuyên điều tra băn khoăn để ý tìm kiếm.  Một hôm vị bác sĩ đi qua tòa nhà đối diện nhìn sang bệnh viện, bà giật mình kinh hãi vì thấy ở tầng ba của tòa nhà, trên một gờ xi măng rất cheo leo, có một chiếc giày tennis cũ ai đã đặt ở đó tự hồi nào.  Vị bác sĩ quan sát kỹ lưỡng và thấy chiếc giày giống từng chi tiết với chiếc giày mà người chết kể lại: chiếc giày vải cũ màu xanh, đế giày mòn ở mép trong, dây giày màu trắng, đầu một dây thòng xuống nằm ở dưới đáy giày.

Đó là một trong 1370 trường hợp trở về từ cõi chết mà các bác sĩ Đức và Mỹ đã điều tra.  Theo những người có kinh nghiệm về cái chết này thuật lại thì: Cuộc sống ở “cõi bên kia” hạnh phúc hơn cuộc sống ở đời này.  Và sau khi “chết đi sống lại”, không ai còn sợ chết nữa, không ai muốn kiếm tiền bạc, danh vọng, lạc thú gì nữa.  Điều duy nhất mà họ quan tâm là sống yêu thương, quảng đại, phục vụ mọi người.  Tất nhiên đây chưa phải là bằng chứng chắc chắn về việc người chết sống lại.  Nhưng nó rất gần với mặc khải của Lời Chúa hôm nay.  Và kinh nghiệm hiếm có của họ rất có thể hữu ích cho ta.  Kinh nghiệm của họ nói với ta hai điều:

1) Có cuộc sống khác ở bên kia cái chết.  Kinh nghiệm của họ phù hợp với niềm tin dân gian, nhất là của người Việt Nam vẫn tin rằng: thác là phế thách, còn là tinh anh.  Vì tin có sự sống ở bên kia cái chết mà chúng ta mới thờ kính tổ tiên, cúng quảy, giỗ chạp.

Niềm tin ấy phù hợp với giáo lý của Chúa.  Khi Môsê thấy Chúa hiện ra trong bụi gai cháy đỏ.  Ông hỏi Chúa là ai.  Chúa trả lời: “Ta là Thiên Chúa của Abraham, Isaác, Giacóp”.  Vào thời của Môsê, Abraham đã qua đời được 5, 6 trăm năm.  Vậy mà Chúa vẫn tự giới thiệu là Thiên Chúa Abraham, tức là Abraham vẫn sống, đang sống bên Chúa.  Vì Thiên Chúa là Thiên Chúa của người sống chứ không phải Thiên Chúa của kẻ chết.

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu nhiều lần nhắc đến cuộc sống sau cái chết như dụ ngôn người giàu có và Lagiarô, trong dụ ngôn về ngày phán xét, dụ ngôn lúa đồng và cỏ dại.

Theo thánh Phaolô, cuộc sống đời sau mới là đích điểm mà mọi tạo vật nhắm tới.  Trong thư Rôma, Ngài viết: “Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng chờ ngày Thiên Chúa mạc khải vinh quang của con cái Người.  Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt phải chịu vậy.  Thật vậy, chúng ta biết rằng: cho đến nay, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở” (Rm 8,19-23).

Chúng ta rên siết vì cuộc sống hiện tại đầy khổ ải.  Chúng ta mong chờ cuộc sống đích thực ở mai sau.  Đời sống này là thời kỳ thai nghén.  Ta phải chịu đau đớn để sinh vào đời sau.

2) Cuộc sống ở bên kia rất khác với cuộc sống hiện tại.  Khi Chúa Giêsu trả lời người Sadducêô, Chúa Giêsu đã mặc khải ba chân lý.

Chân lý thứ nhất: Chỉ những ai được tuyển chọn mới được vào Nước Chúa.  Sự sống đời sau có đó.  Nhưng không phải ai cũng vào được.  Chỉ có những người được xét là xứng đáng mới được vào.  Trong Phúc Âm, nhiều lần Chúa đã nói tới việc tuyển chọn này.  Chúa sẽ loại chiên ra khỏi dê, lúa tốt ra khỏi cỏ dại, cá tốt ra khỏi cá xấu.  Tiêu chuẩn để chọn lựa là Tám mối phúc, nhất là giới răn bác ái yêu thương.

Chân lý thứ hai: Người ta sẽ giống như thiên thần.  Đời sống trên trời sẽ không có gì giống với đời sống dưới đất.  Sẽ không còn đói khát nên sẽ không cần ăn uống.  Sẽ chẳng có lấy vợ lấy chồng, sẽ chẳng cần sinh con để nối dõi vì người ta không bao giờ chết nữa.  Nếu vậy, trên trời ta có còn là ta nữa không hay ta trở thành một người khác, một kiếp khác?  Thưa, tuy có khác nhưng ta vẫn là ta.  Đứa bé bụ bẫm hôm nay chẳng có gì giống với cái bào thai ngọ nguậy trong bụng mẹ hôm qua.  Nhưng cả hai chỉ là một.  Bà cụ 90 tuổi hôm nay chẳng còn gì giống với cô thiếu nữ mà bà đã là cách nay 70 năm.  Nhưng cả hai vẫn là một.  Chú bướm xinh đẹp nhởn nhơ bay lượn trên khóm hoa hôm nay chẳng có gì giống với gã sâu xấu xí lê la trên đất hôm qua.  Nhưng cả hai vẫn chỉ là một.

Trên trời, ta sống một cuộc sống khác, không ăn uống, không lấy vợ lấy chồng.  Nhưng ta vẫn là ta.  Có khác biệt nhưng vẫn có liên tục.

Chân lý thứ ba: Ta sẽ trở thành con Thiên Chúa.  Sống lại rồi, ta như đứa con bấy lâu phiêu bạt xa quê nay được trở lại nhà cha mẹ.  Tâm hồn luôn bị dằn vặt vì niềm khao khát vô biên, nay mới được no thỏa: Thiên Chúa chính là hạnh phúc lấp đầy được vực thẳm khao khát vô biên của ta.  Thánh Augustinô đã nói: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa, nên lòng con mãi khắc khoải băn khoăn cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa”.  Là con Thiên Chúa, hạnh phúc lớn nhất của ta là được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi.  Sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi là cội nguồn hạnh phúc, nên thánh Phaolô đã nói: “Những đau khổ ta chịu bây giờ không thấm gì so với hạnh phúc sau này ta sẽ được.  Và mọi tạo vật mong tới ngày được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, để được cùng con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm 8,22).  Vì hạnh phúc ấy mà tám mẹ con trong bài đọc thứ nhất đã cam chịu mọi khổ hình.

Lời Chúa hôm nay đem lại cho ta bao niềm hy vọng.  Chúa cho ta biết, đời ta sẽ không đi trong bất định, lạc vào hư vô, nhưng đời ta có một cùng đích, đó là trở về với Thiên Chúa là cội nguồn của ta.  Đời ta sẽ không chìm đắm trong đau khổ, nhưng sẽ vươn lên hạnh phúc, hạnh phúc làm con Thiên Chúa, hạnh phúc chia sẻ sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi.  Đời ta như vậy sẽ không đi vào mạt kiếp lụi tàn, nhưng sẽ triển nở trong vinh quang tự do.  Đúng như lời thánh Phaolô nói: “Gieo xuống thì hư nát, mà chỗi dậy thì bất diệt; gieo xuống thì hèn hạ, mà chỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà chỗi dậy thì mạnh mẽ; gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà chỗi dậy là thân thể có thần khí” (1Cr 15,43-44)

Lạy Chúa, xin cho con biết sống ở đời này theo đúng Lời Chúa dạy, để mai sau con xứng đáng được trở nên con của Chúa.  Amen.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Một trong những trường hợp trở về từ cõi chết, đó là trường hợp của mục sư Don Piper, tác giả cuốn sách “Khi Đức Tin Chiến Thắng: Câu Chuyện Có Thật Về Sự Sống Và Cái Chết”, New Yor Times Best Seller, kể về trải nghiệm của mình về những khoảnh khắc của “cuộc sống sau cái chết”.  Mời bạn đón đọc tại đường link:

KHI ĐỨC TIN CHIẾN THẮNG

HƯỚNG DẪN CÁCH MỞ SÁCH

cach-huong-dan-doc-sach-online-1Trên góc tay phải phía trên màn hình có hình mũi tên nhỏ nằm trong 1 ô vuông.  Khi đưa chuột vô ô vuông đó sẽ hiện lên chữ “Pop-out” (hình 1).  Bạn nhấn chuột vô ô vuông đó thì máy sẽ mở ra một trang mới với màn hình rộng hơn.

Ở trang mới này, nếu muốn đọc chữ lớn hơn, có 2 cách.

Cách 1: Bạn đưa chuột và nhấp vào hình kính lúp (magnifier) (hình 2) nằm ở phía dưới trang sách, chữ sẽ lớn hơn, vừa khít màn hình là maximum.  Muốn nhỏ lại thì nhấp chuột vào hình kính lúp.

Cách 2:  Bạn nhấp chuột vào dấu cộng ở kế bên hình kính lúp, trang sách sẽ lớn lên từ từ cho tới khi vừa ý thì bạn ngưng lại.  Maximum của chữ lớn hơn nhiều so với cách 1.  Nếu muốn chữ nhỏ lại, bạn nhấp chuột vào dấu trừ ở kế bên hình kính lúp, trang sách sẽ nhỏ lại từ từ.

cach-huong-dan-doc-sach-online-2Bạn có thể đọc sách online tại đây.  Hoặc bạn có thể download để lưu e-book này trong máy tính, iPhone, hay Android của bạn để đọc offline bằng cách nhấp chuột vào mũi tên chỉ lên hàng kẻ ở góc ngoài cùng phía trên, bên tay phải (open original) (hình 3).  Máy sẽ mở ra trang sách mới.

Muốn download, xin xem phần “Hướng dẫn cách download sách dạng PDF” ở cuối trang “Sách Thiêng Liêng”.

Chúc bạn thành công!

HƯỚNG DẪN CÁCH DOWNLOAD SÁCH DẠNG PDF

  1. Trước tiên, máy bạn cần phải có phần mềm đọc file PDF. Thông thường máy nào cũng cài sẵn.  Nếu chưa có bạn có thể tải phần mềm đọc file PDF miễn phí Adobe Reader tại đường link sau:
  1. Nhấn chuột vào đường link “Sách dạng pdf, xin nhấn vào đây để tải về máy.
  1. cach-huong-dan-download-hinh-1aMáy sẽ mở ra trang sách mới.  Phía trên cùng bên tay phải màn hình, kế bên hình printer, bạn sẽ thấy một mũi tên chỉ xuống hàng kẻ, khi bạn đưa chuột vào mũi tên này, sẽ xuất hiện chữ “download” (tải xuống) (hình 1). Nhấn vào mũi tên chỉ xuống này.
  1. cach-huong-dan-download-hinh-2aMột khung hình nhỏ sẽ hiện lên (hình 2).
  • Chọn nơi để lưu lại file này trong máy bạn.
  • Phần cuối khung hình có chữ “Save”, xin bấm vào chữ “Save”, file sẽ download xuống máy của bạn.

Thế là bạn đã lưu lại sách dạng e-book trong máy tính.  Bạn có thể copy e-book này vô iPhone, hay Android của bạn để đọc offline bất cứ lúc nào mà không cần phải vô internet.

Chúc bạn thành công

CÁC THÁNH NAM NỮ: HỌ LÀ AI VẬY?

zzCó một số người, đặc biệt là những anh chị em Kitô hữu thuộc các giáo phái trong giáo hội Tin Lành (Protestant Church), thường hay thắc mắc: “Các thánh nam nữ, họ là ai?” và “Trong lịch Phụng Vụ của GH Công Giáo, hầu như trong thánh lễ Misa nào cũng có mừng kính thánh này, thánh kia, có ngày có tới 5, 6 thánh, vậy tại sao mà người Công Giáo lại còn có thêm một ngày lễ gọi là lễ Các Thánh và lại mừng kính một cách trọng thể như vậy?”

Các thánh nam nữ, họ là ai?  Kinh Thánh đưa ra cho chúng ta những lời giải thích rất rõ ràng:

  1. Các thánh là một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ (Kh 7:9), các ngài đang được diện kiến Thánh Nhan Thiên Chúa và đang được cùng với Đức Maria và với các thiên thần hát khen, ngợi ca và tận hưởng vinh phúc trên Thiên Đàng.
  2. Các thánh là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao.  Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên (Kh 7:14).  Các ngài là những người đã từng có những kinh nghiệm của yếu đuối, sa ngã, và tội lỗi… nhưng họ đã ăn năn, quyết tâm hối cải, tin tưởng vào sự tha thứ và lòng thương xót của Thiên Chúa, đã đứng lên và trung thành đi theo Chúa cho đến cùng.
  3. Các thánh là những người đã cố gắng sống và tuân giữ bản HIẾN CHƯƠNG NƯỚC TRỜI mà Chúa Giêsu đã đưa ra trên núi khi xưa (Mt 5:1-12).
  • Các ngài là những người có tâm hồn nghèo khó, hiền lành, đã từng trải qua những nỗi sầu khổ và đã khát khao nên người công chính: Thánh Anthony Viện Phụ, Benedict, Cecilia, Maria Goretti, Martin De Porret, Monica, Gioan Thánh Giá, Têrêsa Avila…
  • Các ngài là những người đã biết xót thương người khác, có tâm hồn trong sạch và là những người nỗ lực kiến tạo và xây dựng hoà bìnhThánh Martin De Tour, Damien Cùi, Ignatius, John Vienanay, Dominic Savior, Maria Magareta, Faustina…
  • Các ngài là những người bị bách hại vì sống công chính, đã bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa, bị sỉ nhục và chịu chết vì danh Chúa Giêsu Kitô:  Các thánh Tông Đồ, Cosma, Damiano, các thánh Tử Đạo Việt Nam, Đại Hàn, Trung Hoa, Philippine …

Tại sao Giáo Hội Công Giáo lại có thêm ngày lễ mừng Kính Các Thánh Nam Nữ?  Theo thiển ý của tôi, sở dĩ có ngày lễ mừng kính Các Thánh Nam Nữ là bởi vì:

  • Mẹ Giáo Hội muốn nhắc nhở cho con cái biết rằng có một sự hiệp thông rất mật thiết giữa ba thành phần trong Giáo Hội: Giáo Hội Lữ Hành, Giáo Hội Đền Bù & Giáo Hội Chiến Thắng.   Nói cách khác, có một mối liên hệ thiêng liêng hỗ tương giữa những người còn đang sống ở trên dương thế này với những linh hồn đang chịu thanh luyện trong Luyện Tội và với các thánh đang hưởng vinh phúc trên Thiên Đàng (GLTYGHCG # 195 & Lumen Gentium # 49)
  • Trong danh sách những vị được Giáo Hội phong hiển thánh con số đã lên tới hơn mười ngàn vị, mà mỗi một năm chỉ có 365 ngày, cho nên không thể nào mừng kính tất cả các thánh từng ngày trong suốt năm được.
  • Và còn có rất nhiều các vị thánh tử đạo ở khắp mọi nơi trên thế giới, bên Trung Quốc, Việt Nam, Đại Hàn, Nhật Bản, Hàn Quốc… chưa được Giáo Hội ghi tên vào sổ bộ các Thánh, cho nên mừng tất cả các thánh vào ngày 1/11 là trọn nghĩa trọn tình nhất.

Bạn thân mến, mừng kính lễ Các Thánh Nam Nữ, chúng mình cần phải làm gì để cho ngày lễ này mang lại nhiều ý nghĩa đây?  Tôi nghĩ, trước tiên tôi và bạn phải có niềm ao ước mãnh liệt rằng, sau này tôi cũng sẽ được cùng với các thánh nam nữ chung hưởng hạnh phúc trên Thiên Quốc.  Và kế đến, tôi xin bạn hãy chú ý đến những vấn đề sau đây:

Thứ nhất là bạn và tôi phải cẩn trọng trong việc cầu nguyện, và trong những việc sùng kính Đức Mẹ và các thánh.  Tại sao phải cẩn trọng?  Là bởi vì đã có nhiều người hiểu lầm là người Công Giáo tôn thờ Đức Mẹ và các thánh

  • Khi cầu nguyện, bạn và tôi phải nhớ là chúng mình phải cầu nguyện VỚI CHÚA, chứ không phải là cầu với Đức Mẹ hay với các thánh.   Bất cứ khi nào cầu nguyện với Chúa, dù là nơi công cộng hay riêng tư, thì bạn hãy mở đầu, hoặc là kết thúc lời cầu nguyện của bạn, đại khái như thế này: “… nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria, (hoặc của thánh quan thầy, Giuse, Đaminh, Phanxicô….) xin Chúa ban cho chúng con ơn bình an, khoẻ mạnh, thánh thiện, khiêm nhường…”
  • Trên bàn thờ của gia đình, bạn hãy đặt tượng chịu nạn, hoặc ảnh của Chúa Giêsu ở trên nơi cao nhất, rồi ở dưới mới là ảnh của Đức Mẹ hay của các thánh.   Đức Mẹ và các thánh không có buồn khi được xếp bên dưới ảnh tượng của Chúa Giêsu đâu!  Đừng có lo!

Thứ hai, hãy mua cho con cái và cho chính bạn những cuốn phim DVD, hoặc những cuốn truyện nói cuộc đời của các thánh, nhất là vị thánh quan thầy của mình, và những vị quan thầy của con cái.   Qua những cuốn phim, qua những cuốn sách kể về cuộc đời các ngài, bạn và tôi mới biết được những khó khăn, thử thách, cám dỗ và gian khổ mà các ngài đã phải chịu đựng và đã phải chiến đấu để vượt qua… nhờ đó bản thân mình, và con cái mình mới cố gắng noi gương, học hỏi đức hy sinh, chịu đựng, và mới cảm thấy gần gũi để xin các ngài nguyện giúp cầu thay cho chúng mình.

Thứ ba, là vấn đề chọn tên thánh cho con cháu.  Người Công Giáo có thói quen chọn một vị thánh quan thầy trong ngày lãnh nhận bí tích Rửa Tội và bí tích Thêm Sức.  Vì thế cho nên trước khi chọn tên một vị thánh cho con cháu, bạn hãy chịu khó đọc và tìm hiểu cho kỹ về tiểu sử, về cuộc đời cũng như về sự nghiệp của vị thánh ấy.  Và bạn phải nhớ cho thật kỹ!  Marilyn Monroe, Jenifer Lopez, Michael Jackson, Tom Cruise, Catherine Zeta-Jones… không ai trong số họ là THÁNH cả!  Đừng có lấy những tên này để đặt cho con cho cháu, sau này khi lớn lên, chúng nó bắt chước lối sống và kiểu cách của những nhân vật này thì… phiền lắm đấy!

Ước chi mỗi người trong chúng ta luôn luôn sống như các thánh nam nữ, biết chỗi dậy khi bị sa ngã và biết quyết tâm, cậy dựa vào ơn của Chúa cũng như vào sự trợ lực của các bí tích, đặc biệt là bí tích Giải Tội và bí tích Thánh Thể, để nhờ vậy chúng mình mới có đủ sức để chống trả lại những thế lực và những cám dỗ của ma quỷ, thế gian và xác thịt.

Nếu tôi và bạn noi gương các thánh nam nữ, can đảm đứng lên sau khi sa ngã, cậy trông và tin tưởng vào lòng thương xót vô bờ bến của Thiên Chúa, và trung thành với Ngài cho đến cùng, thì chắc chắn là trong ngày sau hết, chúng mình sẽ được tận hưởng thánh nhan của Thiên Chúa, và sẽ được cùng với các ngài chung hưởng phúc, vui vẻ đời đời chẳng cùng.  Amen!

Lm Ansgar Phạm Tĩnh, SDD

13 CẢNH BÁO CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ VỀ MA QUỶ

zz“Ma quỷ đang ở quanh ta … trong thế kỷ 21 này!” – ĐGH Phanxicô

Luận điệu gian xảo nhất của Satan là đang thuyết phục con người tin rằng hắn không còn tồn tại trong thế kỷ này?

ĐGH Phanxicô không ngạc nhiên trước luận điệu đó.

Bắt đầu từ bài giảng đầu tiên sau khi nhậm chức Giám mục Roma, ĐGH Phanxicô luôn nhắc nhở các tín hữu rằng ma quỷ là thực hữu và chúng ta luôn phải cảnh giác với chúng, và niềm hy vọng duy nhất cho chúng ta có thể chống lại ma quỷ là Đức Giê-su Ki-tô.

Dưới đây là 13 câu trích dẫn từ những bài giảng của ĐGH về vấn đề này.

1) “Khi một người không tuyên xưng Đức Ki-tô, người đó sẽ tuyên xưng sự trần tục của ma quỷ.”

Bài giảng đầu tiên, 14/03/2013

2) “Ông Hoàng của thế giới ngày nay là Satan rất ghét sự thánh thiêng, hắn không muốn con người bước theo Đức Ki-tô.  Có thể có người sẽ nói: “Nhưng thưa Cha, cách Cha nói về ma quỷ đã quá lỗi thời trong thế kỷ 21 này!” Nhưng các bạn hãy cảnh giác vì ma quỷ vẫn đang hiện hữu!  Ma quỷ đang ở trong thế giới này… ngay trong thế kỷ 21 này!  Và chúng ta đừng thờ ơ nữa.  Hãy học trong Thánh Kinh cách chiến đấu chống lại với Satan.”

Bài giảng ngày 10/04/2014

3) “[Ma quỷ] đang tấn công dữ dội vào các gia đình, là nơi ma quỷ không muốn tình yêu được thể hiện và chúng đang tìm cách để phá hủy tình yêu.  […] Nguyện xin Thiên Chúa ban phúc lành cho mọi gia đình.  Xin Người ban sức mạnh cho các gia đình trong cơn khủng hoảng này, cơn khủng hoảng mà ma quỷ đã tạo ra để phá hủy nền tảng gia đình.”

Bài giảng ngày 01/06/2014

4) “Đã quá đủ khi báo chí đầy dẫy những tin tức tội ác và chúng ta thấy được sự hiện hữu của tội lỗi, của ma quỷ vây quanh ta.  Chúng đang hoạt động tích cực.  Nhưng Ta muốn cất cao giọng tuyên tín rằng “Thiên Chúa là sức mạnh vô song.” Vậy các bạn có tin điều đó không, rằng Thiên Chúa có quyền uy trên tất cả?”

Triều yết chung, 12/06/2013

5) “Chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa đoái thương đến chúng ta trong những cơn sóng gió này.  Người đã đến thế gian để chiến đấu cứu rỗi chúng ta.  Người đã chiến thắng bóng tối ma quỷ!  Xin hãy đừng tiếp tay cho ma quỷ!  Người đang tìm những con chiên lạc, Người bảo vệ che chở chúng ta … Đừng thờ ơ nữa, hãy luôn cảnh giác!  Và hãy luôn ở trong Đức Ki-tô!”

Bài giảng ngày 08/11/2013

6) “Ma quỷ đã xuất hiện ngay từ trang đầu tiên của Thánh Kinh, và Kinh Thánh cũng kết thúc có sự hiện hữu của ma quỷ cùng với chiến thắng vinh quang của Thiên Chúa.”

Bài giảng ngày 08/11/2013

7) “Chúa Giê-su đã nói “Hoặc ngươi theo ta, hoặc chống lại ta” … [Đức Giê-su đã đến] để giàng lại cho chúng ta quyền tự do … [khỏi] tình trạng nô lệ mà bóng tối ma quỷ đang bao trùm trên chúng ta … Như vậy không thể có sự lập lờ về thái độ.  Cuộc chiến luôn diễn ra ở nơi đâu có ơn cứu độ, ơn cứu độ đời đời.  Chúng ta phải luôn đề phòng và cảnh giác chống lại những mưu chước của ma quỷ, chống lại những cám dỗ của chúng.”

Bài giảng ngày 11/10/2013

8) “Ma quỷ gieo rắc mầm mống tội lỗi vào những nơi tốt lành, chúng cố gắng chia rẽ con người, phá tan các gia đình và dân tộc.  Nhưng Thiên Chúa thấu suốt tâm hồn mỗi người và kiên nhẫn chờ đợi với tình thương bao la: Người nhìn thấy những yếu đuối và tội lỗi của chúng ta, nhưng Người lại nhìn đến và kiên nhẫn tìm kiếm và chờ đợi những hạt giống tốt lành trong mỗi chúng ta nảy mầm.”

Bài giảng ngày 20/07/2014

9) “Ma quỷ không bao giờ chịu đứng im nhìn sự thánh thiêng và tốt lành của Giáo hội hay của mỗi chúng ta mà không cố tìm cách phá hủy sự tốt lành đó.”

Bài giảng ngày 07/05/2014

10) “Hãy xem cách Đức Giê-su đáp trả lại [những cám dỗ]: Người không đôi co với Satan, như Eva trong vườn Địa đàng.  Đức Giê-su biết rất rõ rằng con người không thể dùng miệng lưỡi đôi co lại với Satan vì hắn rất xảo quyệt.  Vì vậy, thay vì tranh luận với hắn như Eva xưa, Chúa Giê-su đã chọn cách vững chắc là dùng Lời Chúa để đáp lại ma quỷ với uy quyền của Lời Người.  Chúng ta hãy ý thức điều này mỗi khi chúng ta bị cám dỗ…:  Đừng đối thoại với Satan, nhưng hãy dùng Lời của Chúa để bảo vệ chúng ta.  Và Lời Người sẽ cứu thoát chúng ta.”

Bài giảng Chúa Nhật 09/03/2014

11) “Chúng ta cũng phải bảo vệ đức tin của mình, bảo vệ đức tin tránh xa những bóng tối.  Vì rằng rất nhiều khi bóng tối nằm ẩn nấp đâu đó dưới vỏ bọc ánh sáng.  Như Thánh Phao-lô cảnh báo rằng ma quỷ có những lúc chúng cải trang thành thiên thần.”

Bài giảng ngày 06/01/2014

12) “Ẩn sau những lời đồn thổi là sự đố kị và ganh ghét.  Những câu chuyện ngồi lê đôi mách này chia rẽ cộng đoàn, phá hủy cộng đoàn.  Buôn chuyện là một vũ khí rất hiệu quả của ma quỷ.”

Bài giảng ngày 23/01/2014

13) “Chúng ta hãy luôn ý thức rằng kẻ thù của Ánh sáng luôn tìm cách ngăn cản chúng ta đến với Chúa và chúng cấy vào trong tâm hồn chúng ta sự thất vọng chán nản mỗi khi công việc tông đồ phục vụ của ta không được tưởng thưởng kịp thời.  Hàng ngày ma quỷ gieo những hạt giống bi quan và cay đắng trong tâm hồn chúng ta…  Xin cho chúng ta luôn mở rộng cõi lòng đón nhận sinh khí của Chúa Thánh Thần, Người không bao giờ ngừng gieo những hạt giống hy vọng và tin cậy.”

Diễn văn ngày 18/06/2013

Tri Khoan

Nguồn: ChurchPOP

**************************

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã chịu đau khổ và bị cám dỗ.  Chúa là Đấng quyền năng đã đến để cứu giúp những người đang bị xiềng xích bởi ma qủy, vì Chúa luôn nâng đỡ những kẻ đi theo Ngài.

Lạy Chúa, xin gìn giữ những kẻ tin vào danh thánh Chúa trong cánh tay Ngài.  Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, mà ban niềm hoan lạc bất diệt.  Amen!

St. Gregory of Khandzta (759-861)

**************************


Có ma, có quỷ thật không?
Quỷ ám, quỷ nhập như thế nào?
Những chuyện bùa ngải, thư ếm là thực hay hư?
Tại sao Thiên Chúa để cho ma quỷ quấy nhiễu, hành hạ con người?
Tất cả những thắc mắc trên đây đều được giải đáp, không phải bằng lý lẽ, nhưng bằng những câu truyện ly kỳ, kinh dị và khủng khiếp mà Đức Cha Cristiani sẽ thuật lại trong tác phẩm “
Ma Quỷ Trong Thế Giới Ngay Nay
Đây là một cuốn sách đã được tiếp đón nồng nhiệt sau những tháng ngày đằng đẵng trông mong.
Một cuốn sách gây ấn tượng mạnh, hấp dẫn lạ thường, đồng thời sinh nhiều lợi ích cho bất cứ độc giả nào đã một lần đọc qua.

Xin mời đọc sách “Ma Quỷ Trong Thế Giới Ngay Naytại đường link sau:

https://suyniemhangngay.net/2016/09/17/ma-quy-trong-the-gioi-ngay-nay/

TẠI SAO TÔI ĂN CHAY?

Bạn đã từng nghe những câu bình phẩm sau đây bao giờ chưa?

• Chay tịnh gì tếu vậy?  Buổi sáng chạp một tí, buổi trưa ăn một tị, rồi buổi tối chờ đến đúng 12 giờ 1 phút là đánh tì tì cho căng bụng.  Ăn chay như người Công Giáo các anh thì tếu thật!
• Các anh chỉ kiêng ăn thịt còn những thứ khác như tôm hùm, cá biển, trứng gà, sữa, nước juice, café, thuốc lá … được dùng xả láng như vậy thì ai mà không giữ chay được?  Dễ dàng quá mà!
• Xem những tín hữu Hồi Giáo kìa, họ ăn chay cả tháng Ramada, từ lúc mặt trời mọc cho đến khi mặt trời lặn không những nhịn ăn mà còn nhịn uống nữa kìa, ăn chay như mấy anh một năm có hai lần thôi mà mặt cứ nhăn như khỉ, miệng cứ lải nhải than đói, than khổ như vậy thì còn có ích lợi gì nữa chứ?

Bạn thấy những lời phê bình trên có đúng không?  Đúng quá đi chứ!

Bạn có biết tại sao có nhiều người, trong đó có cả tôi nữa, ăn chay hay đến độ người ngoại giáo phải lên tiếng chê bai và bình phẩm như vậy không?  Tại vì tôi không hiểu mục đích của việc giữ chay.  Tôi sợ tội, tôi sợ phạm luật lệ cho nên tôi ăn chay theo đúng như luật dạy theo từng chấm từng phẩy.  Kết quả là miệng tôi ăn chay nhưng trong lòng cảm thấy nặng nề, bực bội và lòng buồn như chấu cắn.

****************************

Bạn thân mến, ông bà ta nói vô tri bất mộ, không biết thì không thể yêu được.  Nếu tôi và bạn muốn có một thái độ đúng đắn trong việc giữ chay thì trưóc tiên, chúng mình phải hiểu, phải biết ăn chay để làm gì cái đã!

Có nhiều mục đích trong việc giữ chay, nhưng tôi nghĩ rằng tất cả đều quy về ba mục đích sau:

Thứ nhất là để nài xin Thiên Chúa dủ tình thương xót mà thứ tha những lỗi lầm mà chúng ta đã xúc phạm đến Ngài cũng như xúc phạm đến tha nhân.  Bạn mở Kinh Thánh ra mà xem thử!

zz• Khi vua David ăn chay, rắc tro trên đầu, măc ắo vải gai, nài nỉ, khóc lóc thì trái tim của Thiên Chúa đã mềm ra, và Ngài đã “hối tiếc về tai hoạ đó, và Người phán bảo thiên sứ đang tàn phá: “Đủ rồi! Bây giờ rút tay lại! ” (1 Chron 21:15-17)
• Khi tất cả mọi người và súc vật trong thành Nineveh ăn chay, hãm mình, khóc lóc ăn năn sám hối kêu cầu Thiên Chúa.…. bỏ đường gian ác và những hành vi bạo lực thì trái tim của Thiên Chúa đã mềm nhũn ra, Người hối tiếc về tai họa Người đã tuyên bố sẽ giáng trên họ, [và] Người đã không giáng xuống nữa (Jonah 3:7-10).
• Khi vua Ahab, ông Maccabees, tiên tri Daniel… ăn chay, đánh tội, mặc áo nhặm, năn nỉ, ỉ ôi, khóc lóc cầu xin thì trái tim của Thiên Chúa đã mềm ra và Ngài đã tha thứ tất cả tội lỗi và tha cho dân của Ngài những hình phạt mà họ đáng phải chịu (1 King 21:27-29; 2 Macc 10:24-26; Dan 9:1-19).

Thứ hai là để củng cố niềm tin, khấn xin Thiên Chúa nâng đỡ, trợ lực và ban thêm sức mạnh chống lại sự đàn áp và ác tâm của quân thù.  Bạn mở Kinh Thánh ra đọc tiếp đi!
• Khi nghe tin quân địch chuẩn bị tàn sát dân tộc của mình, bà Judith đã ăn chay, mặc áo nhặm, rắc tro trên đầu và cầu xin với Chúa rằng: “Xin cho môi miệng con biết dùng xảo ngôn hoa ngữ … Xin Ngài dùng bàn tay nhi nữ mà bẻ gãy thói kiêu căng của chúng… xin lắng nghe lời con khẩn cầu.  Xin làm cho lời con nói và mưu chước của con gây thương tích và sát hại những kẻ mưu toan làm tội ác chống lại giao ước của Ngài” (Judih 9:1-13).
• Khi cùng đường bí lối, khi không biết phải làm gì trước nguy cơ bị diệt chủng thì hoàng hậu Ét-te “cởi bỏ y phục lộng lẫy, mặc áo tang vào.… bà lấy bụi tro dơ bẩn rắc lên đầu; bà hãm mình phạt xác nhiệm nhặt…và cầu xin cùng Chúa, Thiên Chúa Ít-ra-en: “Lạy Chúa của con, lạy Vua chúng con, Ngài là Thiên Chúa duy nhất. Này con đang liều mạng, xin đến cứu giúp con.  Con cô đơn, chẳng còn ai cứu giúp, ngoại trừ Ngài…” (Esther 4:17 k,l).

Thứ ba là để tìm hiểu thánh ý của Thiên Chúa và thực thi thánh ý của Ngài.
• Đa-ni-en, đừng sợ, bởi vì ngay từ hôm đầu, khi ngươi đem hết lòng tìm hiểu và ăn chay hãm mình trước nhan Thiên Chúa của ngươi, thì Thiên Chúa đã nghe những lời ngươi nói, và chính vì những lời ấy mà ta đến (Dan 10:12).
• Chúa Giêsu đã ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày trước khi bắt đầu sứ vụ công khai đi rao giảng của Ngài tại Galilee (Mt 4:2).

*******************************

Bạn thân mến, nếu hiểu thấu đáo về ba mục đích của việc chay tịnh như trên thì tôi tin chắc rằng những việc ăn chay, hy sinh và bố thí của tôi và của bạn trong mùa chay này sẽ khác xưa lắm.  Chúng mình sẽ giữ chay với tất cả niềm tin, sự thống hối và trông cậy nơi bàn tay quan phòng của Chúa chứ không như trước nữa đâu!

• Tôi sẽ ăn chay, hy sinh hãm mình, cầu nguyện và bố thí cho người nghèo với tất cả tự do và tin tưởng bởi vì tôi muốn bày tỏ lòng sám hối, ăn năn và trông mong Chúa sẽ thương xót và tha thứ cho những tội lỗi mà tôi đã phạm tới Ngài và tới tha nhân.
• Tôi sẽ ăn chay, hy sinh, cầu nguyện và giúp đỡ cho người nghèo khó với tất cả niềm tin, lòng trông cậy nơi Chúa vì tôi biết chắc rằng Ngài luôn nâng đỡ tôi, Ngài sẽ cứu tôi ra khỏi những cạm bẫy của ma quỷ, kéo tôi ra khỏi những đam mê của rượu chè, cờ bạc, trai gái, phim ảnh dâm ô…
• Và tôi sẽ ăn chay, hy sinh hãm mình trong niềm tin yêu, vui tươi, phấn khởi và xác tín rằng Chúa sẽ soi sáng để tôi biết đi theo con đường mà Chúa muốn, thực thi thánh ý của Ngài.

Để cho việc chay tịnh của chúng mình được đẹp lòng Thiên Chúa và mang lại những lợi ích thiêng liêng cho phần linh hồn, chúng mình hãy làm việc bố thí (almsgiving)—cầu nguyện (prayer)—và ăn chay (fasting) (Giáo Lý Công Giáo #1969) với tất cả niềm vui, sự cậy trông và hy vọng. Chúng mình hãy:
• Giữ chay với thái độ khiêm tốn và vui vẻ, hãy rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo (Mt 6:17-18).
• Mở miệng nói lên một lời xin lỗi, một lời hỏi thăm, nở một nụ cười, mua một món quà, đến thăm hỏi cha mẹ, anh chị em, bạn bè, vợ chồng, con cái …Chính lúc đó bạn và tôi đang mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức [đấy!] (Isa 58:6).
• Làm một hành động rất cụ thể:  ký một hay vài cái checks gửi tặng cho các cơ quan thiện nguyện để nhờ họ chuyển tình yêu của bạn đến cho những người nghèo, các em cô nhi, tàn tật, những người cùi, những trẻ em khiếm thị… Làm như vậy là bạn đang thực thi thánh ý của Thiên Chúa mà Ngài đã phán qua môi miệng ngôn sứ Isaiah: “Chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục” (Isa 58:7).

**********************************

Bạn thân mến, Thiên Chúa là Đấng rất từ bi và nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương (Joe 2:13). Ngài rất giàu lòng thương xót đối với tất cả những ai thực lòng ăn năn sám hối và quyết tâm quay trở về với Ngài.

Chỉ cần bạn và tôi bắt chước Moses, David, dân thành Nineveh, vua Ahab, bà Judih, hoàng hậu Esther, Daniel … hết lòng trở về với [Thiên Chúa, bằng cách] ăn chay, khóc lóc, và thống thiết than van thì bảo đảm với bạn, Ngài sẽ tha thứ cho tất cả mọi tội lỗi, kể cả những tội tày trời nhất của chúng mình! Chính Ngài đã khẳng định rằng dù tội của [chúng mình] có đỏ như son, cũng sẽ hóa ra trắng như tuyết; có thẫm tựa vải điều đi chăng nữa, [Ngài cũng tẩy xoá cho tâm hồn chúng mình] nên trắng như bông (Isa 1:8).

Chúng mình hãy cầu nguyện cho nhau để tôi và bạn mỗi ngày mỗi hiểu rõ hơn ý nghĩa của việc chay tịnh để nhờ đó chúng mình sẽ có được những khuôn mặt vui tươi, phấn khởi và có một niềm tin mãnh liệt vào lòng thương xót của Thiên Chúa và qua đó chúng ta sẽ thực thi thánh ý của Ngài một cách trọn vẹn nhất.

Cầu chúc bạn một mùa chay thật thánh thiện, tràn đầy ơn Chúa để nhờ vậy bốn mươi ngày của mùa chay năm này sẽ là một mùa hồng ân và cứu độ.

phamtinh@yahoo.co

LM. Ansgar Phạm Tĩnh