VỊ VUA THỨ TƯ (có Youtube)

Và ba Vua từ phương Ðông đã mang tới vàng, hương và mộc dược.

Ở xứ Ðan Mạch, những người tín hữu hát như thế vào dịp Giáng Sinh trong các thánh đường.  Và nếu tiếng hát được cất lên trong một ngôi thánh đường cổ kính, đôi khi người ta có thể thấy một bức họa cổ có hình hài nhi Giêsu trong lòng mẹ và ba Vua đang quì trước Ngài.  Vị Vua đầu tiên là Gaspar, ông dâng vàng trong một cái khay.  Quì sau ông là Melchior, ông mặc bộ đồ nghi lễ nghiêm trọng, quì gối và đang xông hương trước trẻ thơ Giêsu.  Sau cùng là ông Balthazar người da đen.  Mặt trời nào đã cho ông làn da đen như thế?  Ông đến từ xứ Ấn Ðộ?  Hay từ xứ Saba?  Ông đã đi qua xa mạc xứ Ả Rập?

Gaspar, Melchior, Balthazar đã bao lần được vẽ trên tranh, từ loại thô sơ cho đến những bức huy hoàng lộng lẫy trong các giáo đường.  Nhưng có một giai thoại xưa kể rằng ba Vua từ xa tới Bethlehem, vào hang đá để dâng của lễ trước Trẻ Thơ và người Mẹ, nhưng Trẻ Thơ không muốn cười.  Còn Mẹ Maria thì sung sướng vì làn hương thơm bay như bà muốn đốt trong Ðền Jerusalem như khi bà còn trẻ, và rưng rưng nước mắt, bà để mộc dược trong lòng.  Nhưng trẻ thơ không giơ tay ra cầm vàng, khói hương làm cặp phổi nhỏ bị ho, trẻ thơ không để ý đến mộc dược mà lại chú ý đến cặp mắt long lanh ngấn lệ của người Mẹ.  Ba Vua đứng dậy cáo từ và có cảm tưởng mình không được tiếp đón đúng mức.  Nhưng khi bóng những con lạc đà của họ biến mất tận chân trời thì vị Vua thứ tư xuất hiện.

Quê hương ông là vùng Ba Tư.  Ông đã mang theo ba viên ngọc quí để dâng cho vị Vua mới sinh ở miền Tây mà ông đã thấy vì sao một buổi tối nọ.  Ông đã chỗi dậy và từ bỏ tất cả: kho rượu quí lâu đời, dòng nước mát bên nhà, người vợ hiền thân yêu.  Ông chỉ mang kho tàng quí nhất là ba hạt ngọc trắng lớn như trứng chim bồ câu, ông cài những hột ngọc này vào thắt lưng và quyết định ra đi tìm nơi vì sao đang chiếu tỏa.

Ông đã tìm ra nơi này.  Nhưng quá trễ.  Ba vị Vua khác đã đến và đã đi.  Ông tới quá trễ.  Tay không.  Ông không còn những viên ngọc quí nữa.  Ông từ từ mở cửa bước vào hang đá.  Trời đã xế chiều, trong nơi trú ẩn của Trẻ Thơ phảng phất mùi hương.  Thánh Giuse xắp xếp cỏ khô cho ban tối, Mẹ Maria bế Trẻ Thơ Giêsu trong lòng.  Mẹ khẽ hát ru con ngủ.  Vị Vua xứ Ba Tư hơi do dự, rồi ông tiến đến và quì xuống trước hai mẹ con và bắt đầu kể:

Thưa Ngài!  Tôi đến sau các vị Vua khác đã tới trước chúc tụng Ngài và dâng của lễ.  Tôi cũng có của lễ để dâng Ngài, đó là ba viên ngọc rất quí từ biển Ba Tư.  Nhưng bây giờ tôi không còn chúng nữa.  Tôi đi sau ba vị Vua vì tôi đã dừng chân trong một quán trọ một chiều kia.  Tôi đã lầm.  Rượu cám dỗ tôi, tiếng chim hót làm tôi nhớ nhà và nhớ người vợ yêu quí.  Và tôi quyết định nghỉ đêm ở quán trọ.  Khi tôi bước vào bên trong, tôi thấy một ông già đang lên cơn sốt nằm gần lò sưởi để tìm hơi nóng.  Không ai biết ông già là ai.  Ông không có một đồng xu nào để nhờ thầy thuốc cứu chữa.  Ngày hôm sau ông sẽ bị đuổi ra ngoài nếu ông không chết đêm nay.  Thưa Ngài, đó là một người rất già, râu tóc đã bạc trắng; ông ta làm tôi nhớ đến cha tôi.  Xin Ngài tha lỗi, vì tôi đã lấy ra một viên ngọc và đưa cho chủ quán, tôi dặn là hãy kêu thầy thuốc để săn sóc cho ông già này và nếu ông ta chết thì dùng viên ngọc để lo chôn cất chu đáo cho ông.

Ngày hôm sau, tôi tiếp tục lên đường.  Tôi thúc đẩy con lừa chở tôi đi hết cỡ nhanh để đuổi kịp ba vị Vua đi trước, vì những con lạc đà của họ chỉ đi chậm rãi và tôi có hy vọng đuổi kịp theo họ.  Con đường đi quanh co trong một thung lũng vắng.  Bỗng nhiên tôi nghe những tiếng kêu từ một bụi cây.  Tôi nhẩy xuống lừa và chạy tới thì thấy một đám lính đang vây quanh một người đàn bà trẻ với ý định xấu xa.  Họ rất đông nên tôi không thể nào chống lại họ.  Xin Ngài tha thứ cho tôi lần nữa, bởi vì tôi lại phải lấy ra một viên ngọc nữa để cho đám lính để họ tha cho người thiếu nữ.  Cô ta cám ơn tôi và biến mất ngay trong khu rừng.

Tôi tiếp tục lên đường, trong thắt lưng chỉ còn một viên ngọc, nhưng ít nhất tôi cũng mang đến cho Ngài.  Trời đã sau trưa và tôi sẽ tới Bethlehem chiều nay để chúc mừng Ngài.  Nhưng khi đi đến một ngôi làng nhỏ, tôi thấy lửa cháy khắp làng.  Bọn lính theo lệnh vua Herod đang tìm giết tất cả những bé trai chưa đầy hai tuổi.  Gần một căn nhà đang cháy, một người lính đang cầm chân một đứa bé giơ lên.  Ðứa bé giẫy khóc kinh hãi.  Người lính nói với bà mẹ đứa bé: Bây giờ tao thả đứa bé vào ngọn lửa cho nó thành như con heo quay.  Bà mẹ la hét kinh hãi.  Xin Ngài tha lỗi, bởi vì tôi lấy viên ngọc cuối cùng để cho thằng lính để nó trả đứa bé lại cho người mẹ.  Bà mẹ giật lấy đứa bé và chạy trốn ngay.  Ðó là những lý do tại sao tôi tới chúc mừng Ngài với hai bàn tay trắng.  Xin ngài thông cảm cho tôi.”

Hang đá chìm trong thinh lặng sau khi vị Vua kể hết chuyện của ông.  Thánh Giuse đã dọn cỏ xong và đang trầm ngâm suy nghĩ.  Mẹ Maria ngắm nhìn Trẻ Thơ.  Chúa Hài Ðồng đang ngủ chăng?  Không, Ngài nhìn vị Vua Ba Tư với khuôn mặt rạng rỡ và mỉm cười.

***********************

Lạy Chúa Hài Đồng, quà tặng mà Chúa yêu thích nhất chính là lòng quảng đại của chúng con dành cho tha nhân.  Xin Chúa dạy chúng con luôn mở rộng tâm hồn để cảm thông, mở rộng trái tim để yêu thương, và mở rộng đôi tay để ban phát.  Xin cho chúng con luôn ý thức rằng, nếu con càng quảng đại với anh em thì con càng trở nên giống Chúa nhiều hơn và làm cho khuôn mặt Chúa rạng rỡ tươi vui hơn. Amen!

Sưu tầm

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

CHÚA TỎ MÌNH RA CHO NHỮNG TÂM HỒN THIỆN CHÍ (có Youtube)

Bài Tin Mừng hôm nay đưa ra những chi tiết tương phản lạ thường.

Tương phản giữa Giêrusalem và Bêlem: Giêrusalem, thủ đô hoa lệ, trung tâm văn hoá chính trị của nước Do thái, nhưng đã khước từ, không đón tiếp Đấng Cứu thế.  Trong khi đó, Bêlem, một thị trấn bé nhỏ, nghèo nàn lại là nơi đón tiếp Đấng Cứu thế hạ sinh.

Tương phản giữa những người có đạo và những người ngoại đạo: Các bậc chức sắc thông thạo Kinh thánh, nhưng chỉ ngồi im tại kinh thành, không chịu lên đường, nên không gặp được Đấng Cứu thế.  Trái lại, ba nhà đạo sĩ mà ta quen gọi là Ba Vua, là những người ngoại đạo, không am tường Kinh thánh, nhưng đã biết tìm tòi học hỏi, dấn thân lên đường, nên đã gặp được Chúa.

Tương phản giữa Vua giả và Vua thật: Hêrôđê được gọi là Vua, nhưng lại cứ nơm nớp lo âu, sợ mất ngai vàng, nên tìm cách tiêu diệt người khác.  Trong khi đó, Đức Giêsu Kitô, Vua Trời lại thản nhiên bình an trong cảnh khó nghèo, mở rộng vòng tay đón tiếp mọi người xa gần.

Tất cả những tương phản ấy đáng cho ta suy nghĩ.  Đấng Cứu thế không đến theo cơ chế, nhưng rất bất ngờ.  Người không đến trong những cung điện sang trọng nhưng đến trong một chuồng bò tăm tối, hôi tanh.  Người không đến trong quyền lực nhưng trong sự yếu đuối, khiêm nhường.

Tất cả những tương phản ấy khiến ta phải lo sợ.  Không phải cứ có đạo là gặp đựơc Chúa.  Không phải cứ giỏi giáo lý là biết Chúa.  Muốn gặp được Chúa phải có thiện chí đi tìm.  Muốn biết Chúa, phải dấn thân lên đường.

Ba Vua là những người ngoại đạo đến từ rất xa, nhưng đã trở nên gương mẫu cho ta trong việc đi tìm và hiểu biết Chúa.  Các Ngài là những tâm hồn thiện chí.

Là những tâm hồn thiện chí, luôn luôn khao khát điều lành, nên các Ngài luôn để tâm tìm kiếm.  Đêm đêm ngước mắt lên trời cố dò tìm dấu vết thần linh.  Chắc chắn không phải chỉ trong phút chốc mà các Ngài phát giác ra ngôi sao lạ, nhưng phải trải qua nhiều năm tháng kiên trì chiêm ngắm bầu trời, cặn kẽ theo dõi đường chuyển dịch của các vì tinh tú, các Ngài mới có thể nhận biết ngôi sao lạ khi nó xuất hiện.

Việc đi theo ngôi sao lạ cũng không giản đơn.  Trước hết việc lên đường đòi phải ra khỏi nhà, giã từ những tiện nghi dễ chịu, từ bỏ những sinh hoạt quen thuộc, chấp nhận những thiếu thốn, những nguy hiểm, những bất tiện trên đường đi.  Thiện chí của các Ngài rất cao, nên khi ngôi sao biến mất, các Ngài vẫn không nản lòng bỏ cuộc, nhưng tìm mọi cách vượt qua khó khăn, tìm mọi cách để đến gặp được Chúa.  Chúa đã chúc lành cho thiện chí của các Ngài, nên đã cho các Ngài được gặp Chúa.

Đời sống chúng ta là một cuộc đi tìm Chúa.  Trong cuộc đi tìm, ta phải có thiện chí như Ba Vua, biết dấn thân lên đường, biết phấn đấu chấp nhận hy sinh gian khổ, biết kiên trì không nản lòng bỏ cuộc khi gặp thử thách.

Ba Vua không thể đến với Chúa nếu không có ngôi sao dẫn đường.  Hôm nay, Chúa muốn mỗi người chúng ta là một ngôi sao lạ, loan báo tình thương của Chúa, đưa dẫn những tâm hồn thiện chí đến với Chúa.  Hãy là ngôi sao sáng trong đời sống công bình.  Hãy chiếu sáng đức thương yêu của Chúa.  Hãy toả ánh sáng ấm áp tình người.  Qua những làn ánh sáng ấy, mọi người sẽ nhận biết và tìm về với Thiên chúa là ánh sáng chân thật.

Để kết thúc, tôi xin kể một câu chuyện có thật.  Một buổi chiều, một người lái xe đi trên con đường miền núi vắng vẻ.  Ở một khúc quanh, người ấy phát hiện một gia đình bị hỏng xe.  Đường vắng, trời tối, họ lo âu sợ hãi vì đó là đoạn đường thường xảy ra cướp bóc.  Biết sửa chữa xe, nên người ấy đỗ xe, xuống giúp sửa chữa.  Xe hỏng nặng.  Người ấy phải chui vào gầm xe, tháo ra từng bộ phận.  Tối mịt xe mới nổ máy.  Cả gia đình mừng rỡ, muốn trả công cho người ấy.  Nhưng người ấy không lấy công.  Cả gia đình cám ơn rối rít và xin địa chỉ hẹn ngày lên thăm.  Khi lên thăm, gia đình mới biết đó là một vị giám mục.  Gia đình đem lòng cảm phục và xin theo đạo cả nhà.  Vị Giám mục ấy chính là một Đức Cha ở cao nguyên Trung phần vào những năm 60.

Nhân dịp đầu năm mới, tôi xin cầu chúc tất cả anh chị em có một đời sống đạo trong sáng như ngôi sao sáng để đưa dẫn nhiều tâm hồn về với Chúa.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

ÁNH SÁNG RẠNG NGỜI

Vào một đêm kia, nhà văn Anh John Ruskin nhìn thấy những người thợ thắp đèn đường trong thành phố (lúc đó chưa có điện đường).  Họ phải cầm một ngọn đuốc làm đèn chiếu dọc theo các con đường.

Trong đêm tối, Ruskin không thấy được người thắp đèn, ông chỉ nhìn thấy bó đuốc của người ấy và một vệt dài ánh sáng người ấy để lại đàng sau mình.  Qua hình ảnh đó, cụ già Ruskin đưa ra một nhận định hết sức thâm thúy: “Đây là một minh họa tuyệt đẹp về người Kitô hữu.  Có thể người ta chẳng bao giờ nhận biết người ấy, cũng chẳng bao giờ gặp anh, nhưng họ đều biết anh ta đã đi qua thế giới của họ nhờ vào chuỗi ánh sáng anh để lại phía sau mình.”

********************************

Giáng sinh là một biến cố vô cùng trọng đại, một trang sử mới của nhân loại, đầy huyền nhiệm và linh thánh, nối kết giữa trời và đất, giao hòa giữa Thiên Chúa và loài người.  Vì Hài Nhi Giêsu chính là ánh sáng rạng ngời, đã chiếu soi trần gian trong đêm u tối, nguồn ánh sáng của tình yêu, chân lý, và sự sống.  Thánh Gioan đã viết: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1,9).

Ánh sáng tình yêu

Thiên Chúa là đấng quyền năng vô hạn, con người là phận hèn mọn.  Thiên Chúa là đấng sáng tạo muôn loài, con người là vật thụ tạo nhỏ nhoi.  Trớ trêu thay, loài hay chết lại liều mình xúc phạm đến Đấng cao cả, phận tôi đòi lại cả gan dám ngạo mạn.  Đấng Thánh vô cùng đã vượt lằn ranh vô biên, đích thân xuống với con người, để tha thứ, cứu chuộc và yêu thương họ còn hơn cả trước khi con người phạm tội.  Đứng trước đại hồng ân cao cả ấy, trí khôn con người chỉ còn biết bàng hoàng sửng sốt.  Vâng, chính tình yêu đã làm nên những điều kỳ diệu.  Thánh Gioan viết: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để những ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).  Hài Nhi Giêsu chính là ánh sáng tình yêu từ trời xuống, đã thắp sáng màn đêm tăm tối của trần gian bằng tình yêu cứu thế.  Đúng như lời ngôn sứ Isaia: “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Is 9,1).

Ánh sáng chân lý

Mang thân phận tội lỗi, con người chao đảo trong biển đời u mê lầm lạc, không biết đâu là bến bờ, nói chi đến hiểu biết về Thiên Chúa cao siêu thiện hảo.  Chỉ có Hài Nhi Giêsu, Ánh sáng rạng ngời chân lý, mới có thể chiếu tỏa ánh sáng thần linh của Người vào tâm trí con người để họ nhận biết Thiên Chúa là Cha đầy yêu thương.  Đó chính là mục đích hàng đầu của Đức Giêsu khi xuống trần gian.  Thánh Gioan quả quyết: “Không ai thấy Thiên Chúa bao giờ; nhưng Con Một là Thiên Chúa, và là đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1,18).

Ánh sáng ban nguồn sống

Từ nguyên thủy, Ngôi Lời đã sống trong tương quan độc nhất với con người.  Thật vậy, Người không chỉ là nguồn gốc của muôn loài, mà sự hiện diện của Người giữa chúng sinh còn tạo nên sự hiệp thông trong sự sống thần linh.

Ánh sáng của Hài Nhi Giêsu khi đem xuống trần gian không chỉ xóa tan bóng tối của trí khôn, mà còn chiếu tỏa vào linh hồn con người ánh sáng trọn hảo nhất là chính Thiên Chúa.  Người phán: “Tôi là ánh sáng thế gian, ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng ban sự sống” (Ga 8,12).

Mừng lễ Giáng Sinh chính là cảm tạ Hài Nhi Giêsu đã đem ánh sáng huy hoàng của Người đến trong trần gian, trong tâm hồn chúng ta, và trong lòng mọi người.

Mừng lễ Giáng Sinh chính là bắt chước Gioan, làm chứng cho Ánh Sáng: là chiếc đèn soi đường cho thế gian, là ngọn đuốc chỉ lối cho mọi người đến cùng Thiên Chúa.

Mừng lễ Giáng Sinh chính là thực thi những điều thiện hảo, vì “ai làm điều ác thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách” (Ga 3,20).

********************************

Lạy Hài Nhi Giêsu, Ánh sáng rạng ngời.  Xin cho chúng con luôn trở nên ngọn đèn rọi sáng giữa đêm đen.  Xin dậy chúng con biết tích cực lan tỏa ánh sáng đến các tâm hồn, để Ánh sáng rạng ngời của Chúa luôn luôn tỏa sáng.  Amen.

Thiên Phúc (Trích “Như Thầy Đã Yêu”)

 

SỰ KHIÊM NHƯỜNG CỦA THIÊN CHÚA

Vào đêm Chúa giáng sinh tại Belem, những mục đồng thức đêm canh giữ đàn vật được sứ thần đến báo tin.  Họ đã vội vã đến xem, như lời hướng dẫn của sứ thần.  Điều họ thấy, không phải là một vị vua quyền uy sang trọng, chẳng phải là một vị thần hiển linh huy hoàng, mà đơn giản chỉ là một trẻ thơ, bọc trong chiếc tã và nằm trong máng cỏ.  Những người chăn chiên đơn sơ chất phác này đã nhận ra Hài Nhi ấy là Đấng Cứu thế, và đã tôn vinh Thiên Chúa.

Mỗi mùa Giáng sinh, chúng ta lại đến chiêm ngưỡng hang đá máng cỏ, là biểu tượng nhắc nhớ chúng ta về sự kiện lịch sử này.  Cũng như những mục đồng thuở xưa, chúng ta không thấy nơi hang đá một vị vua  quyền uy sang trọng, cũng không thấy một vị thần hiển linh huy hoàng.  Điều chúng ta chiêm ngắm và suy niệm, đó vẫn là một hài nhi mới sinh nằm trong máng cỏ.  Hài Nhi Giêsu ngự nơi đây để dạy chúng ta  bài học về sự khiêm nhường của Thiên Chúa.

Trong bài Tin Mừng, Thánh Gioan đã dẫn chúng ta về cội nguồn của Ngôi Lời.  Người là Đấng vô thủy vô chung, là Đấng hiện hữu từ ban đầu, là Nguyên lý sáng tạo muôn loài muôn vật, và là Ánh Sáng chiếu soi trần thế.  Sau khi đã khẳng định những điều đó, tác giả nói với chúng ta: “Ngôi Lời đã làm người và ở với chúng ta”.  Vâng, Hài Nhi mới sinh nằm trong máng cỏ, chính là Con Thiên Chúa nhập thể.  Ngôi Lời đã hóa thành người như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi.  Thiên Chúa có thể cứu chuộc con người bằng nhiều thể nhiều cách, nhưng Ngài đã chọn con đường nhập thể để chứng tỏ tình thương của Ngài đối với nhân loại.  Chúa Giêsu đã khẳng định điều đó khi ngỏ lời với ông Nicôđêmô: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).

Trong suốt bề dày lịch sử nhân loại và lịch sử cứu độ, Thiên Chúa vẫn thể hiện sự khiêm nhường của Ngài.  Khi sáng tạo mọi sự từ hư vô, Thiên Chúa giống như nước thủy triều, tự thu mình lại để nhường chỗ đất khô cho con người có nơi ở.  Khi ký kết giao ước với con người (Abraham, Môisen), Thiên Chúa hạ mình, trở nên đối tác của con người. Qua những giao ước đã ký kết, Thiên Chúa tự ràng buộc mình phải tuân giữ những điều đã hứa.  Ngài luôn trung thành với giao ước, mặc dù có những lúc con người bất trung.

Tác giả thư Do Thái (Bài đọc II) đã khẳng định với chúng ta: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ.  Nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử”.  Với mầu nhiệm Giáng sinh, mối tương quan giữa Thiên Chúa với nhân loại đã sang một trang sử mới.  Tác giả gọi đây là “thời sau hết.”   Điều đó có nghĩa, thế gian không còn phải đợi chờ đấng cứu độ nào khác, ngoài Đức Giêsu, Đấng Thiên sai mà Chúa đã hứa từ ngàn xưa.

Sự khiêm nhường của Thiên Chúa còn được thể hiện trong suốt cuộc đời dương thế của Đức Giêsu.  Là Thiên Chúa cao cả, Người đã sống thân phận con người như chúng ta.  Người cũng mệt mỏi khi đi đường xa, buồn giận khi con người cứng lòng, thương xót rơi lệ trước nỗi thống khổ của con người.  Đức Giêsu trở nên giống chúng ta mọi đàng để cảm thông và chia sẻ những trăn trở âu lo trong cuộc sống của chúng ta.  Ngày hôm nay, Người vẫn đang hiện diện trong cuộc đời, để tiếp tục đồng hành, nâng đỡ và an ủi chúng ta trong chốn khách đày này.

Con Thiên Chúa làm người để dạy chúng ta bài học khiêm nhường.  Hài Nhi trong hang đá máng cỏ khẳng định với chúng ta: sống trên đời, trước khi làm ông nọ bà kia, hãy LÀM NGƯỜI.  Quả thật, có người đỗ đạt bằng cấp, học hành uyên thâm, nhiều chức tước bổng lộc và quyền hành, mà không khởi đi từ làm người.  Họ cậy quyền cậy của để sống gian dối, trụy lạc, ích kỷ.  Vì thế, họ giàu có mà không hạnh phúc, tiệc tùng suốt ngày mà không vui, bổng lộc nhiều mà không đủ lấp đầy khát vọng.  Làm người có nhân có nghĩa, biết sống trước sau trên dưới hài hòa, đó là nền tảng quan trọng để có thể tiến thân trong xã hội, nên hoàn thiện trước mặt Chúa và trước mặt tha nhân.

Tác giả Gioan cũng nói với chúng ta: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.  Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.”  Vâng, chúng ta hãy đón nhận Chúa đến trong đời, để Người soi dẫn chúng ta biết học bài học khiêm nhường, sống làm người đúng nghĩa nơi trần thế.  Đón nhận Đức Giêsu và tuân theo giáo huấn của Người, chúng ta không bao giờ phải thất vọng, nhưng sẽ tràn đầy niềm vui thiêng liêng và nghị lực để vượt lên những khó khăn của cuộc đời.

Mừng lễ Giáng sinh, vừa là thiện chí đón Chúa đến trong cuộc đời, vừa là nhiệt thành loan báo tình thương của Chúa cho những người xung quanh.  Chỉ khi nào thực sự đón Chúa đến trong tâm hồn, lời rao giảng của chúng ta mới “có hồn” và mang tính thuyết phục.  Cũng giống như các mục đồng, sau khi chiêm ngưỡng Hài Nhi Giêsu trong máng cỏ, chúng ta hãy tôn vinh Thiên Chúa.  Hãy lên đường để kể lại những gì đã suy tư cảm nghiệm bên hang đá.  Những bước chân loan báo Chúa Giêsu được diễn tả là những bước chân tuyệt đẹp, vì đó là những bước chân của tình Chúa, tình Người (Bài đọc I).

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

 

NOEL!  NGÀY LỄ HÒA BÌNH

Ở thế chiến thứ hai, trên một mặt trận giữa hai nước Pháp và Đức, quân của hai bên giành nhau từng chiến hào; gây cấn đến độ vô phúc cho người nào sơ ý ló đầu ra khỏi chỗ núp là nát đầu ngay.  Đó là tình hình vào những ngày 21, 22, 23 tháng12, 1943.  Các sĩ quan hữu trách của cả hai bên đều đề phòng cấm ngặt binh sĩ của họ không được lơ là bỏ vị trí chiến đấu kể cả ngày Noel.  Đến chiều 24 tháng 12, vẫn là bầu khí ngột ngạt của tử thần.  Không có hưu chiến.  Đó là lệnh cấp trên truyền xuống.

Đêm về, trong bầu khí yên lặng căng thẳng đó, bỗng một tiếng hát vọng lên từ một thông hào: “Đêm thanh bình, đêm ơn lành!” (Silent Night), rồi nhiều tiếng hát vọng theo, rồi người ta nghe cả hai phía Pháp Đức đều vang dậy tiếng hát Giáng Sinh; không ai bảo ai, bất chấp quân lệnh, binh sĩ của cả hai bên đều bật dậy, bỏ vị trí chạy lại bên nhau, ôm nhau cười nói, chúc lễ Giáng Sinh cho nhau.  Họ trao cho nhau đồ dùng, cùng ăn uống với nhau như thể là những người bạn thân lâu ngày hội ngộ.  Trước cảnh đó, các vị chỉ huy đều đồng ý hưu chiến đến hết ngày hôm sau.

Ngày 25-12 năm 1943 là một ngày đáng ghi nhớ cho những người ở trận tuyến đó.  Hai bên Đức, Pháp cách đó mấy giờ là tử thù của nhau, bây giờ họ cùng chụp hình, trao kỷ niệm, chơi bóng, ăn chung với nhau như những người anh em rất yêu quí.  Noel, ngày lễ Hoà bình.

******************

Giáng Sinh là lễ của Hòa Bình.  Hàng năm, cứ vào lễ Giáng Sinh, dù chiến trận có sôi sục đến đâu, người ta cũng thường dàn xếp để hai bên có được thời gian mừng lễ.  Đó gọi là ngày hưu chiến.  Sở dĩ có hưu chiến trong ngày lễ Giáng Sinh vì Ngôi Hai đã xuống thế làm người để giao hòa giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và loài người.  Giao ước cứu chuộc sẽ được ký kết bằng máu của Ngôi Hai là Thiên Chúa và cũng là người thật.  Đó là niềm vui vô cùng lớn lao của cả loài người được ơn cứu độ.  Từ nay, tội tổ tông đã được tẩy xoá nhờ máu thánh của Con Thiên Chúa.  Con người không còn vương vấn tội nhơ thì an bình sẽ ngự trị trong tâm hồn: “Bình an dưới thế cho người thiện tâm.”

******************

Lạy Chúa, tâm hồn bình an thì không còn hận thù, đố kỵ, ganh ghét, nhưng luôn tin yêu, hy vọng, vui sống. Xin ban cho con sự bình an của Chúa để con luôn là sứ giả của an bình.  Chúa đã hứa: “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con.”  Xin cho cầu nguyện cảm nếm được sự ngọt ngào của an bình trong tâm hồn và như thế là đủ cho con rồi.  Vì có Chúa là đời con bình an.  Amen!

Thiên Phúc

 

ĐÊM NOEL ĐẸP NHẤT TRONG ĐỜI

Cậu bé Antonie giật mình thức giấc.  Đêm nay là đêm Noel, bố mẹ đã đi dự lễ nửa đêm.  Cậu vừa qua một cơn bệnh ngặt nghèo, còn yếu nên phải ở nhà một mình.  Như lời kể của mẹ, cậu tin rằng lát nữa đây, khi bố mẹ trở về, các đôi giầy của cả nhà để trước lò sưởi sẽ đầy ắp quà của Chúa Giêsu Hài Đồng…..

Đang miên man suy nghĩ, Antonie chợt nghe có tiếng động rất khẽ, cậu tự nhủ: “Ồ đúng là bé Giêsu đang tới nhà mình rồi đó, ta phải bất ngờ hù cho Chúa giật mình mới được!”  Cậu rón rén ra khỏi giường, xuống thang gác, nhè nhẹ bước về gian bếp, nơi vừa phát ra tiếng động.  Cửa bếp chỉ hé mở, lọt ra ngoài một tia sáng yếu ớt.  Cậu bé dừng lại, hồi hộp suy nghĩ: “Chà, chắc bé Giêsu không tìm ra cái nút mở điện nên đành dùng nến đây”.

Và, cậu đã bất ngờ kéo mạnh tay nắm cửa, chút ánh sáng leo lét liền tắt ngúm và có tiếng lịch kịch đụng chạm vội vàng.  Antonie lại nghĩ: “Chắc Chúa Giêsu bị giật mình rồi đây, ta phải mau trấn an Chúa kẻo tội nghiệp!”  Cậu vội bấm nút mở đèn, ánh sáng như chói lòa gian bếp.  Ô kìa, chỉ có một người đàn ông đứng tuổi, ăn mặc khá nghèo nàn, đang lúng túng trước lò sưởi, một tay cầm một hộp kẹo chocolate khá to, một tay cầm lấy miệng một cái bao tải căng phồng, phía dưới là đôi giầy của Antonie.  Cậu bé nheo mắt nhìn người khách lạ: “Ủa, cháu cứ ngỡ là bé Giêsu cơ…”

Tên trộm hoàn toàn bị bất ngờ, giờ đây lại càng ngẩn ngơ trước vẻ hồn nhiên của em bé chủ nhà.  Đây là lần đầu tiên trong đời, một em nhỏ đã nói chuyện với hắn mà không có một chút gì là sợ hãi kinh khiếp.  Antonie lại chợt toét miệng cười reo lên: “A, cháu biết rồi, bác chính là thánh Giuse.  Chắc bé Giêsu lại cũng bị bịnh như cháu nên bác mới phải đi tặng quà thay, phải không bác?  Tội nghiệp bé Giêsu, mà cũng tội nghiệp cho bác phải vất vả nữa….  Ấy, cháu phải xin lỗi bác mới đúng, bác đang làm việc mà cháu lại đi tò mò xuống đây….  Nhưng mà, ô kìa, hộp kẹo đẹp quá, chắc bác vừa mới lấy ra và định đặt lên đôi giầy cháu phải không ạ?  Ôi, thích quá!”

Tên trộm càng lúc càng ngỡ ngàng, không kịp phản ứng gì sau một loạt câu nói huyên thuyên dễ thương của chú bé ngây thơ.  Antonie lại tíu tít hỏi: “Bác Giuse ơi, thế Chúa Giêsu Hài Đồng gởi cái gì cho bố mẹ cháu vậy?”  Người đàn ông mỉm cười tự diễu thầm trong bụng: “Ái chà, cái thằng ăn trộm chuyên nghiệp như mình mà lại là ông thánh Giuse cơ đấy!  Không thể tưởng tượng nổi!  Đành vậy, không thì lộ tẩy mất….”

Thế là ông ta có vẻ thích thú với vai kịch bất ngờ hi hữu này, bèn giả vờ tự nhiên đặt hộp kẹo lên trên đôi giầy của cậu bé, rồi cho tay vào lục trong chiếc bao tải chứa những món đồ mới vơ vét được, rút ra một chiếc ống điếu mới toanh và một chiếc khăn quàng bằng len thật đẹp.  Bé Antonie thấy thế thì reo lên: “A, cái này của bố, còn cái này thì dành cho mẹ!  Bác ơi, bác tốt bụng quá đi mất, mà sao bác lại biết đúng ý muốn của mọi người thế?  Mẹ cháu có kể với cháu là bố cháu rất mong có được cái ống điếu mới từ hôm lỡ tay làm rơi vỡ mất, mẹ cháu định mua tặng nhưng lại bảo chưa tiện dịp đi phố. Còn bố cháu thì đã định tặng mẹ cháu cái khăn từ khi trời mới chuyển lạnh nhưng lại chưa kịp lãnh lương.  Cháu biết rõ lắm, bởi vì chuyện gì bố mẹ cháu cũng đều tâm sự riêng với cháu cả.  Còn bác, làm sao mà bác lại có thể đoán trúng tất cả như vậy nhỉ?”

Tên trộm nghe đến đây thì dường như hơi chần chừ một chút, rồi liền quyết định rút ra khỏi bao tải thêm một gói xúc xích thật ngon.  Antonie há hốc miệng, em không thể nào tin rằng gia đình không mấy khá giả của em lại có thể hưởng được một niềm vui lớn như thế trong đêm Giáng Sinh năm nay.  Bé chạy ào đến, ôm chầm đôi tay gân guốc xạm đen của tên ăn trộm mà em vẫn ngỡ là bác Giuse hiền hậu.  Một cảm giác thật kỳ diệu!  Đôi lòng bàn tay nhỏ bé ấm áp làm cho ông ta chợt nhớ lại những chiếc còng bằng thép lạnh ngắt của cảnh sát đã từng hơn một lần xiết vào cổ tay ông.

Nhưng rồi, gương mặt ông ta chợt đanh lại khi quay về với thực tại: “Phải chuồn ngay thôi, bố mẹ thằng bé sắp về rồi!”  Thế là ông vùng mạnh khỏi đôi tay chú bé, vội vàng định bỏ đi.  Antonie ngẩn ngơ một thoáng, rôi chạy vội theo, níu lấy chiếc áo khoác cũ mèm của ông ta: “Bác ơi, cháu chưa kịp cám ơn bác cơ mà.  Cháu biết bác phải vội đi trao quà cho nhiều nhà khác nữa, nhưng bác nán lại một tí đã nào.  Thứ nhất, bác cho cháu gởi lời cám ơn Bé Giêsu, Chúa Hài Đồng của cháu nhé.  Thứ hai, lễ Noel sang năm, bác lại nhớ ghé thăm nhà cháu nữa này!  Và cuối cùng là, cháu…. cháu không để cho bác đi ngay bây giờ nếu như bác không chịu cho cháu hôn bác một cái.”

Tên trộm lại một lần nữa xúc động đến rưng rưng.  Ông ta rụt rè cúi xuống bồng em bé lên và đưa một bên má gầy còm hốc hác của mình cho bé.  Nụ hôn thơ ngây làm cho những giọt lệ chợt trào ra, lăn dài trên khuôn mặt hằn sâu những tủi nhục và đen tối.  Thật êm dịu, thật hạnh phúc xiết bao khi còn có được một chút thương yêu tin cậy trong cuộc đời.  Ông ta chỉ muốn khoảnh khắc này cứ kéo dài mãi mãi.

Bé Antonie chợt bật cười phá vỡ giây phút đang lắng đọng: “A, cháu bắt đền bác Giuse đấy, bác chả chịu cạo râu, râu bác cứng ơi là cứng, nó đâm cả vào mặt cháu đây này!”  Người đàn ông lúng túng vội dỗ dành em bé: “Bác xin lỗi cháu vậy.  Thôi khuya lắm rồi, chắc bố mẹ cháu cũng sắp về, bác phải đi ngay thôi cháu ạ!”

Ngoảnh nhìn lần cuối chiếc lò sưởi lại đầy ắp quà Noel như lúc mới tới, kẻ khốn khó vắt chiếc bao tải rỗng không lên một bên vai gầy còm, mỉm cười với chú bé hạnh phúc, rồi nhanh tay mở cửa sau, mất dạng vào trong đêm tối lạnh giá.

Xa xa, nơi ngôi nhà thờ nhỏ bé rực sáng, chuông đã reo vui báo hiệu Thánh Lễ Nửa Đêm Vọng Giáng Sinh vừa tan.  Chắc hẳn đêm Noel năm nay, có ít nhất một người sẽ phải nhịn đói, nhưng ông ta lại đã có được điều qúy giá vô ngần, đó là một niềm tin thơ ngây của trẻ nhỏ có sức cải hóa cả một cuộc đời tội lỗi vô vọng…

Sưu tầm

*************************

Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, xin dạy con biết rằng một niềm tin sắt son vào Thiên Chúa nhân lành, một niềm tin vô điều kiện không thành kiến vào tha nhân có thể cảm hóa những tâm hồn chai sạn.  Xin sử dụng con như một khí cụ bình an để chạm đến những tâm hồn bất hạnh trong mùa Giáng Sinh giá buốt này.  Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, ước chi tâm hồn con được trở nên như một em bé ngây thơ, hiền lành, phó thác, tin người, tin đời…. và tin vào Thiên Chúa. Amen.

 

MÙA VỌNG: MÙA TRONG VEO (có Youtube)

Trên chuyến xe xuôi miền lục tỉnh, người ta chuyển đến tôi một cuốn truyện cũ đã mất bìa để đọc cho quên đường dài.  Truyện kể lại mối tình giữa một chàng trai là con sĩ quan học tập và một cô gái là con cán bộ chức quyền.  Họ thương nhau và muốn kết hôn với nhau, nhưng khi công khai ý định ấy, họ đã gặp phải những lực cản từ hai phía gia đình.  Đã có nhiều nghi ngờ từ phía cha chàng trai và cũng có lắm nghi ngại từ phía cha cô gái.  Giải pháp phải chọn là chia xa đôi lứa.

Đành lòng làm thế, nhưng họ vẫn âm thầm chờ đợi nhau, cho đến khi cha chàng trai mãn hạn học tập về nhà và cha cô gái đã đến tuổi về hưu.  Hai người cha có dịp gần gũi cảm thông làm chất keo thân ái cho tình yêu đôi trẻ có điều kiện gắn hàn.  Kết truyện là đám cưới.

Truyện có hậu và có nét hấp dẫn riêng của thể loại, nhưng điều hấp dẫn hơn hết đối với tôi không phải là cốt truyện cho bằng chính tựa đề “Tình yêu trong veo”: trong veo giữa hai người cha biết xoá tan ngờ vực để thêm gần gũi; trong veo giữa hai bạn trẻ biết vượt qua thử thách để giữ vững tình yêu.  Xin mượn tựa đề “Tình yêu trong veo” ấy để gọi tên Mùa Vọng là mùa trong veo một tình yêu.

1) Bằng tình yêu trong veo, Thiên Chúa trao thân cho con người. 

Trong khi người Do Thái còn đang mải miết với một vì Chúa ở trên cao và dường như say sưa về một Đấng ở xa con người, đến nỗi trong quan hệ nguyện cầu, thay vì xin những biểu tỏ gần gũi để dễ dàng nắm bắt, họ lại chỉ dám xin một dấu lạ điềm thiêng mãi tận trời cao vượt quá tầm nhìn; và trong niềm mong chờ Đấng Cứu Thế, vốn là mạch sống hy vọng cho cả dân tộc, họ những tưởng nghĩ rằng Người sẽ đến, nhưng là đến trong cung cách của một vị Chúa oai phong lẫm liệt, cho muôn dân nếu không phải cúi đầu sợ hãi thì cũng phải bái phục tôn thờ.  Có ngờ đâu, khi Chúa đến, Người lại chọn cho mình một cách đến rất khác lạ.

Người đến thật gần: trong thân phận của một con người để làm người giữa muôn người trần thế.  Người đến thật thấp: thấp đến nỗi chọn cho mình cách sống của một người cùng khổ dưới đáy xã hội. Người yêu thương con người để sẵn sàng trao thân cho họ, chấp nhận phải điều đình, chấp nhận được cưu mang, chấp nhận được sinh hạ, chấp nhận được làm người: “Ngôi Lời đã làm người và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14).

Phải chăng khi trao thân cho con người như thế, Thiên Chúa sẽ được thêm vinh quang?  Phải chăng nếu không trao thân cho nhân loại, Thiên Chúa vẫn là Chúa, nhưng là một vị Chúa không được ai biết đến hay là một vị Chúa bị kết án phải cô đơn?  Thưa không phải thế.  Chính khi trao thân cho con người trong mầu nhiệm Nhập Thể, Thiên Chúa không còn úp mở như trong thời Cựu Ước nữa, Người đã dứt khoát cho thấy mình là Đấng giải cứu con người và sẵn sàng làm hết cách để thực hiện bằng được chương trình của Người mà không đợi chờ mảy may vinh quang nào ngoài lợi ích cứu độ cho người trần gian.  Để độ thế, Thiên Chúa đã nhập thể; để cứu người, Thiên Chúa đã làm người.

Chính hai Danh xưng được nêu lên trong phần Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay đã nói lên tất cả.  Danh xưng Emmanuel khẳng định “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, Danh xưng Giêsu bộc lộ “Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ” (Mt 1,23-25).  Nối kết hai Danh xưng ấy nơi Đấng Cứu Thế, ta sẽ thấy một tình yêu trong veo Thiên Chúa dành cho con người: Người là Thiên Chúa ở cùng ta để cho ta ơn cứu rỗi, và Người là Thiên Chúa cứu độ ta bằng cách ở cùng ta.

2) Bằng tình yêu trong veo, con người gửi phận cho Thiên Chúa.

Nếu bằng tình yêu trong veo cứu độ, Thiên Chúa trao thân cho con người, thì Chúa Nhật thứ tư Mùa Vọng cho thấy những nhân vật gần gũi với mầu nhiệm Giáng Sinh nhất là Đức Maria và thánh Giuse đã bằng tình yêu trong veo tự nhiên gửi phận mình cho Thiên Chúa.

Đối với Đức Maria, tình yêu trong veo đã rõ qua tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội, mà Phụng Vụ hữu ý mừng kính ở đầu Mùa Vọng.  Tình yêu ấy đã rõ trong việc Mẹ dâng mình vào Đền Thánh, nhưng tình yêu ấy còn rõ ràng hơn khi tiếp cận với mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa.  Ngày Truyền Tin, mới gặp sứ thần, Đức Maria đã bối rối, thứ bối rối của một tình yêu trong sạch buổi đầu gặp gỡ.  Rồi, lúc được đề xuất làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Maria đã băn khoăn, thứ băn khoăn của một tình yêu trong sáng muốn được giải thích đôi câu.  Và chính lúc thưa “Xin vâng” (Lc 1,38) là cả một tình yêu trong veo như chưa bao giờ trong đến thế, Đức Maria đã gửi trọn phận mình vào tay Thiên Chúa, bất chấp đó là một mạo hiểm chết người: trinh nữ mà lại mang thai, phải ăn nói ra sao với thánh Giuse? Mới đính hôn thôi mà sắp thành mẹ, phải dàn xếp thế nào cho hợp luật pháp?

Còn thánh Giuse, con người lặng thầm nhất của Mùa Vọng, đã được đặt vào một tình huống khó xử đến độ ray rứt, nhất là trong những ngày trước lúc Đấng Cứu Thế giáng sinh như Phúc Âm hôm nay mô tả.  Nhưng chính ở đây ông đã chứng minh bằng những nét đẹp kín đáo hào hùng về một tình yêu trong veo từ lâu đã dệt nên đời sống qua những lựa chọn xé lòng.  Là người công chính, dù ghi nhận ít nhiều dấu hiệu chuyển biến nơi Đức Maria, ông cũng chẳng dám nghi ngờ mà chỉ một thoáng băn khoăn, để rồi định chọn cho mình giải pháp âm thầm rút lui.  “Đào vi thượng sách” là giải pháp an toàn nhất.  Nhưng chính lúc ấy, được tỏ nguồn cơn, ông đã tiếp nhận ý Chúa và tiếp đón Đức Maria về nhà mình bằng một tình yêu trong veo, mà người trần mắt thịt dẫu có bản lĩnh cách mấy cũng khó mà dám xâm mình mạo hiểm (Mt 1,24).

Nhìn như thế, tình yêu trong veo đã liên kết Đức Maria và thánh Giuse, để mái nhà chung sống không chỉ là nơi che nắng trú mưa cho qua ngày đoạn tháng, mà đã trở thành một mái ấm của những tấm lòng biết mở ra cưu mang Con Thiên Chúa và sẵn sàng để sinh Người ra cho dương thế, cho dẫu tình yêu trong veo ấy trên đường cứu độ như một bản trường ca sẽ không thiếu những quãng nghịch, mà việc khó xử hôm nay trong Phúc Âm mới chỉ là những nốt nhạc mở đầu.

3) Cũng bằng tình yêu trong veo, ta đón mừng lễ Giáng Sinh.

Hiểu như trên, Chúa Nhật thứ tư Mùa Vọng rõ ràng là một tình yêu hai chiều trao gửi: Thiên Chúa trao thân cho con người để con người biết gửi phận mình cho Thiên Chúa.  Đồng thời cũng là Chúa Nhật trong veo của những tấm lòng biết gửi trao tấm lòng trong ơn cứu độ.

Trên nền tảng ấy, tình yêu trong veo đã trở nên tinh thần phải có để đón Chúa Giáng Sinh.  Trong những ngày này, đi ra phố xá, đã nghe vang lên những bài ca Giáng Sinh quen thuộc; ngang qua nhà thờ, đã thấy trưng bày những bộ Noel với hang đá, cây thông, đèn sao đẹp mắt; và đi tới chỗ nào cũng thấy thấp thoáng Giáng Sinh với muôn màu lấp lánh.  Nhưng có một màu được xem là không thể quên hay không bao giờ quên đối với mọi tín hữu mừng lễ Giáng Sinh, màu đó không ở trên áo quần giầy dép, môi mép tóc tai, hoa cài áo khoác, mà là ở trong tấm lòng kìa!  Đó là màu trong veo của những tâm hồn trinh trong biết cưu mang ý Chúa và biết sinh hoa kết trái trong cuộc sống công minh chính trực của mình.

Nếu ngày xưa trong khúc hát quan họ Sion, câu xướng “Ai được lên Núi Chúa?” đã nhận được lời đáp “Chỉ những người thật thà ngay chính tay sạch lòng thanh mới được bước tới Thánh Cung” (Tv 23,3-4), thì hôm nay cũng thế, trong bài ca cuộc sống ai cũng nôn nao xôn xao ồn ào huyên náo tiếp cận lễ Giáng Sinh cả, kẻ tiếp thị, người tiếp tân; nhưng chỉ có những tấm lòng trinh trong mới xứng đáng trở nên Hang đá tiếp đón Chúa sinh vào.  Chúa chỉ một lần đến sinh ra trên trần thế là đủ để cứu chuộc muôn người, nhưng giả như Người có đến sinh ra nhiều lần hơn nữa cũng vẫn thiếu, nếu lòng người chưa sẵn sàng một tình yêu trong veo mở ra đón nhận.  Liệu ta hôm nay đã sẵn có một tâm hồn như thế trước lễ Giáng Sinh?

Hơn nữa, tình yêu trong veo cũng là tiếng nói cuối cùng của Mùa Vọng thúc đẩy ta đến với những người xung quanh.  Không thể có Mùa Vọng đầy đủ nếu bỏ quên chiều kích tha nhân trong tình yêu của mình, và cũng chẳng tiếp đón Chúa cho đủ nếu từ chối tiếp nhận anh chị em gần gũi với mình trong những sinh hoạt hằng ngày.

Trong Phúc Âm, Giuse biết tiếp nhận ý Chúa “qua giấc mơ”, để rồi sau đó “tỉnh dậy” ông mau mắn đón Đức Maria nên bạn đường bạn đời của mình, cho dẫu hậu thế có kẻ điều ong tiếng ve xem ông như kẻ “vô tư”.  Nhưng đó lại là bước đột phá của một tình yêu trong veo biết nhận ra rằng: Thiên Chúa đã ân cần trao thân cho mình qua mầu nhiệm Nhập Thể, thì mình cũng tín thác gửi phận mình trong mầu nhiệm quan phòng của Thiên Chúa.  Đó là hai chiều gặp gỡ của tình yêu Giáng Sinh.

Tóm lại, tình yêu trong veo là động lực khiến Chúa đến với con người và là nguồn lực thúc đẩy con người tiếp đón Chúa, để trong cuộc sống cụ thể trở thành nỗ lực của mọi tín hữu đón lễ Giáng Sinh. Trong khi còn chuẩn bị và chưa thực sự được tiếp đón Chúa, hãy bắt đầu bằng cách thực tập tiếp đón những hình ảnh sống động của Chúa là những người ta gặp hoặc những người gặp ta bằng một tình yêu trong veo luôn thăng tiến.  “Nếu không gặp Ngài trong nghèo khổ, sẽ chẳng gặp Ngài giữa cao sang. Nếu không gặp Ngài ở dưới đất, sẽ chẳng gặp Ngài chốn Thiên Đàng” (thơ Xuân Ly Băng).

Đến đây, xin được khép lại những chia sẻ Mùa Vọng năm nay.  Xin cám ơn Mùa Vọng đã đem đến những ý nghĩ đẹp màu.  Xin cám ơn cộng đoàn đã vui lòng lắng nghe.  Hy vọng những tâm tình chia sẻ cũng cung cấp chút ý tưởng giúp mỗi người hình thành được Máng Cỏ tâm hồn.  Và cám ơn đứa cháu nhỏ đã tình cờ viết lộn chữ Mùa Vọng thành chữ “Màu Vọng” để có được bốn sắc màu chia sẻ nơi đây. Qua xanh đến tím gặp hồng, dìu ta đón Chúa với lòng trong veo.

ĐGM Vũ Duy Thống

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

GIAI THOẠI VỀ CÔ BÉ BÁN DIÊM

Truyện Cô Bé Bán Diêm của văn hào người Đan Mạch – Andersen được rất nhiều người biết đến.  Song ít người biết rằng cô bé ấy thật sự đã có mặt trên đời này và đã từng đi qua cuộc đời Andersen.

Vào một buổi tối mùa thu, tại một khu phố thuộc thành phố Copenhagne – Danmark

– Chú ơi, mua hộ cháu bao diêm!

Một tiếng nói khàn khàn, mệt mỏi chợt vọng đến tai Andersen.  Đằng kia, trước mặt chàng hơn mươi bước là một người đang ngồi co ro trên thềm của một ngôi nhà cao ráo.

Ánh sáng đèn từ trong nhà chiếu ra cho chàng thấy đó chỉ là một đứa bé con.

Hẳn nó đã phát ra những lời vừa rồi.

– Tối lắm rồi sao cháu còn chưa về nhà ngủ?

Andersen bước đến, ái ngại.  Đấy là một cô bé khoảng hơn 10 tuổi, run rẩy trong bộ quần áo vá víu bẩn thỉu.

Vai áo rách để lộ đôi vai gày còm.  Nhìn gương mặt hốc hác của nó, có thể đoán nó đang chịu cảnh thiếu ăn, thiếu uống từ lâu.

– Chú ơi, mua hộ cháu bao diêm!

– Tay cầm bao diêm, cô bé chỉ vào chiếc túi con căng phồng bên cạnh, khẩn nài – Cả ngày cháu chẳng bán được gì, cũng chẳng ai bố thí cho cháu đồng nào.

Cô bé rơm rớm nước mắt.  Thân hình tiều tụy ốm yếu của em run lên khi gió lạnh thổi qua.

– Thế sao?  Andersen động lòng.

Chàng khẽ vuốt mái tóc dài xoăn thành từng búp trên lưng cô bé.

– Gia đình cháu đâu cả rồi?  Không ai lo cho cháu sao?

Cô bé buồn bã lắc đầu.  Em bùi ngùi kể lại những năm xưa khi còn sống trong ngôi nhà xinh đẹp với những dây trường xuân leo quanh.

Từ khi bà em qua đời, gia sản lụn bại, gia đình em phải lìa bỏ mái nhà thân yêu đó để chui rúc trong một xó xỉnh lụp xụp, tối tăm.

– Không có tiền cháu đâu dám về nhà vì bố sẽ đánh chết thôi!

Cô bé nhìn Andersen, đôi mắt cầu khẩn.

Thực vậy, em có một người cha ác nghiệt.  Hơn nữa về nhà cũng chẳng hơn gì.

Hai cha con chen với nhau trên một gác xếp tồi tàn, gió rét vẫn lùa vào được dù đã bít kín những lỗ thủng trên vách.

Lúc này, đôi chân cô bé đã lạnh cóng, em mang đôi giầy vải mòn cũ do mẹ em để lại.

– Cháu đừng lo!

Andersen cho tay vào túi lấy ra một số tiền đặt vào bàn tay bé bỏng của em

– Còn bấy nhiêu chú cho cháu cả.  Cháu về nhà mau kẻo chết cóng mất.  Ôi, lạy Chúa!

Vẻ đầy mừng rỡ, cô bé hôn tíu tít lên tay chàng – Từ ngày bà cháu mất đi, chú là người thương cháu nhất trên đời này.  Với món tiền này, bố con cháu sẽ được nhiều bữa no.

Nhưng… cô bé bỗng đăm chiêu… Nếu chú cho cháu hết thì tiền đâu chú sống, hở chú?

– Sao cháu khéo lo thế?

Chàng mỉm cười, nụ cười đầy hiền dịu – Chú sẽ còn cho cháu nhiều thứ nữa.  Chú sắp đi xa, đầu năm tới mới trở lại nơi này, khi ấy chú sẽ tặng cháu một món quà đặc biệt.

Ồ, thích quá!  Còn cháu, cháu cũng sẽ tặng chú một món quà.  Mà chú tên gì nhỉ ?

– Chú là Andersen

– Chàng âu yếm nắm đôi vai gầy của cô bé – Có bao giờ cháu nghe đến tên ấy chưa?

– Tên chú nghe quen lắm – Cô bé nhìn đăm đăm gương mặt trầm tư có chiếc mũi khoằm của chàng

– Chú có phải là thợ mộc không?

– Không phải!  Andersen mỉm cười lắc đầu.

– Thợ may?

– Cũng không.

– Hay chú là bác sĩ?

– Ồ, không phải đâu.  Thế này này…

Chàng đưa ngón tay trỏ viết viêt vào không khí, vẻ hơi đùa cợt.

A!  Cô bé reo lên.

– Cháu hiểu rồi, chú làm nghề bán bút!

Andersen chỉ tủm tỉm cười.  Chàng thấy yêu cô bé quá.  Em khiến chàng, một nhà văn thề suốt đời gắn bó với tuổi thơ, nhớ đến thời thơ ấu của mình và thành phố Odense cổ kính, nơi tuổi thơ của chàng êm ả trôi qua.

Là con một trong gia đình nên dù cha chỉ là một bác thợ giày nghèo, cậu bé Andersen hầu như chẳng phải mó tay đến bất cứ một việc gì ngoài mỗi việc là mơ mộng liên miên.

Cậu bé lắm khi chỉ thích bầu bạn với chiếc cối xay già nua đứng run rẩy trên bờ sông hiền lành của thành phố quê hương. …

Sau đó Andersen đi du lịch đâu đó… và chàng đã quên luôn lời hứa với cô bé bán diêm.

Khi về thăm lại khu phố năm nào, chàng tự trách mình đã quá mải mê với chuyến viễn du đến nỗi quên khuấy đi lời hứa với cô bé bất hạnh mà giờ này hẳn đang lang thang đâu đó với chiếc túi đựng đầy diêm.

Phải mua ngay cho em một chiếc áo len, một chiếc áo lông cừu dày và thật ấm để em qua được cái lạnh khắc nghiệt của mùa đông…

Và Andersen sau những lần dò hỏi tin tức của em bé bán diêm, được ông chủ hiệu quần áo cho biết:

– Con bé chết rồi còn đâu.  Ngày đầu năm mới người ta nhìn thấy em bé chết cóng tự lúc nào ở một góc đường giữa hai ngôi nhà.

Cái chết cứng đờ của nó ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết nhẵn.

Có lẽ nó muốn sưởi cho ấm.  Có điều lạ là hai má nó vẫn hồng và miệng nó như đang mỉm cười.

– À này, ông ta tiếp tục trước khuôn mặt chết lặng của Andersen, khi mang xác nó đi người ta thấy trong túi nó rơi ra vật gì giống như một chiếc quản bút làm bằng những bao diêm.

Hẳn nó để dành tặng ai, vì trên chiếc quản bút có ghi dòng chữ: tặng chú Andersen.

Andersen quên khuấy món quà ông định tặng cho cô bé bán diêm.  Nhưng cô bé, cô bé vẫn nhớ tới lời hứa của mình với vị khách tốt bụng của buổi tối mùa thu.

Hơn nửa thế kỷ qua, hàng triệu con người trên trái đất đã nghe tim mình thổn thức mỗi khi đọc câu chuyện về cô bé đáng thương của văn hào Đan Mạch.

Phải chăng Andersen đã viết câu chuyện ấy như một món quà để tặng hương hồn cô bé bán diêm?

Hans Andersen

BẠN BIẾT GÌ VỀ CHÚA GIÁNG SINH?

  1. Không có phòng trọ? Đức Thánh Giuse và Đức Mẹ bị chủ nhà trọ nhẫn tâm từ chối vì thấy Đức Mẹ Maria sắp lâm bồn, thế nên Thánh Gia phải lặn lội ra chốn đồng hoang? Câu “hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ” (Lc 2:7) thường được hiểu theo nghĩa là Đức Thánh Giuse và Đức Mẹ Maria không thể tìm được khách sạn hoặc nhà nghỉ trong thành phố. Nhưng điều này rất khả nghi. Belem là một ngôi làng nhỏ không có những con đường lớn.  Do đó nhà nghỉ của du khách chắc là không có.
  1. Sinh nơi máng cỏ? Frank Viola và Leonard Sweet, đồng tác giả cuốn “Jesus: A Theography” (Chúa Giêsu: Sự Tôn Thờ Thần Thánh), cho biết: “Thánh Luca không dùng từ phổ thông dành cho lữ quán hoặc khách sạn nhỏ [hotel inn, pandeion] mà dùng bất cứ nơi nào. Thay vì vậy, ngài dùng từ có nghĩa là nhà khách [guest room, kataluma].  Ngài cũng dùng từ đó để diễn tả nơi Chúa Giêsu ăn Bữa Tiệc Ly. Rất có thể vì Belem là quê hương của Đức Thánh Giuse và có thân nhân ở đó.  Vì cuộc điều tra dân số xảy ra vào thời gian đó, không thân nhân nào của ngài có phòng cho khách.  Phòng khách chủ yếu ở trước nhà và chuồng súc vật ở sau nhà hoặc ở dưới nhà (như hang động).”
  1. Súc vật ở dưới thấp? Frank Viola và Leonard Sweet cho biết: “Trong gia đình, vào ban đêm, súc vật được nuôi và bảo vệ khỏi lạnh, kẻ trộm và thú dữ. Do đó, có thể Đức Thánh Giuse và Đức Mẹ ở khu dưới nhà hoặc sau nhà – nơi súc vật ở.  Rất có thể súc vật được di dời khi Thánh Gia ở đó. Kinh Thánh không nói tới súc vật khi Chúa giáng sinh.  Thánh Phanxicô được coi là người đầu tiên làm cảnh hang đá có những con vật.”
  1. Ba vua? Chúng ta nghe nói tới Ba Vua – với tên của họ là Melchoir, Balthazar và Gaspar. Trong bộ sách bán chạy là “Jesus Manifesto, From Eternity to Here, Revise Us Again, and Reimagining Church” (Tuyên ngôn của Chúa Giêsu, từ Muôn thuở tới Ngày nay, Xem xét lại và Tái mô tả Giáo hội), Frank Viola viết: “Không có vua nào trong câu chuyện Chúa giáng sinh”. Từ ngữ “magi” (đạo sĩ, pháp sư) KHÔNG xuất hiện trong Kinh Thánh, và cũng KHÔNG là tên gọi của các vị khách.  Hơn nữa, chúng ta không biết chắc có bao nhiêu người – chỉ là họ đem theo ba thứ: vàng, hương trầm (nhũ hương) và mộc dược.  Họ không là những ông vua như người ta tưởng.  Họ là các tư tế Đông phương chuyên về nghệ thuật bí truyền (esoteric arts), giải mộng, chiêm tinh, nhìn súc vật mà đoán tương lai, v.v…  Họ là các nhà tư vấn hoặc cố vấn cho hoàng gia.  Có thể do nghiên cứu Chúa Giêsu mà họ tới Giêrusalem.  Họ cần sự mặc khải đưa họ tới Belem.  Các “đạo sĩ” tới triều kiến Tân Vương Nhi có thể thấy ngạc nhiên khi họ phát hiện Ngài sinh ra ở nơi nhốt súc vật.  Chúng ta cũng không chắc có bao nhiêu “đạo sĩ” tới Belem để thờ lạy Chúa Giêsu, chỉ nói ở “số nhiều” (các, những, họ).  Bản văn chỉ nói rằng họ đem theo ba lễ vật.  Ngoài ra, Thánh sử Matthêu cho chúng ta biết rằng họ chỉ đến sau khi Chúa Giêsu giáng sinh.  Có thể họ đến và ở lại vì vua Hêrôđê “quan ngại” về các trẻ nam từ sơ sinh tới hai tuổi, nên ông ra lệnh giết hết.
  1. Kẻ giết các hài nhi? Frank Viola nói rằng khi vua Hêrôđê ra ác lệnh, hằng ngàn người mẹ Do Thái đã than khóc vì bị mất con. Nhưng cũng chưa chắc.  Vì Belem rất nhỏ bé, số trẻ em tới hai tuổi rất ít – có thể chỉ khoảng 10 trẻ.  Sau cuộc tổng điều tra, có thể Thánh Gia rời chỗ súc vật và ở trong phòng dành cho khách cùng với các thân nhân khi các “đạo sĩ” tới.  Thánh sử Matthêu cho biết: “Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người.  Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến” (Mt 2:11).
  1. Thiên thần đồng ca? Trình thuật Lc 2:13-14 cho biết: “Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.” Bản văn không nói các thiên thần hát vang.  Không chắc họ có hát như vậy hay không.  Thánh Luca nói rằng “thiên sứ hiện ra với các mục đồng.”  Có thể các thiên thần hiện ra trên cánh đồng với các mục đồng, rồi “bất ngờ thiên binh xuất hiện hợp với các thiên thần ca tụng Thiên Chúa…”  Có thể cả cánh đồng đầy các thiên thần vây quanh các mục đồng và hợp lời ca tụng Thiên Chúa.  Một cảnh thật ngoạn mục!

Rob Kerby
Trầm Thiên Thu (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

MỤC TỬ NHÂN LÀNH

Chúa là Mục Tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì,
Trong đồng cỏ xanh rì, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi đến dòng nước trong lành,
và bổ sức cho tôi.
Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính,
vì danh dự của Người.

Lạy Chúa! Dầu qua lũng âm u,
con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Người bảo vệ,
con vững dạ an tâm.
Lòng nhân hậu và tình thương của Chúa,
ấp ủ con suốt cả cuộc đời,
và con được ở bên Người,
những ngày tháng… những năm dài triền miên.

(Thánh Vịnh 23)

***

Bạn thân mến!  Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến người mục tử và đàn chiên.  Ðức Giêsu tự ví mình như người “Mục Tử Nhân Lành”.  Mục tử nhân lành khác với người chăn thuê, vì dám hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên, chứ không bỏ chiên mà chạy khi gặp sói dữ.

Nét khác biệt lớn nhất giữa Mục Tử Nhân Lành và người chăn thuê chính là tình yêu. Tình yêu đã tạo nên mối dây tương quan mật thiết, gắn bó giữa chủ chiên và từng con chiên: “Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi “ (Ga.10:14).  Ðây là cái biết sâu thẳm, cái biết hai chiều: Mục tử gọi tên từng con bằng giọng quen thuộc. Chiên nghe tiếng của mục tử và đi theo.  Như thế giữa mục tử và đoàn chiên có sự hiểu biết nhau sâu xa, nhận ra nhau dễ dàng, một sự trân trọng gắn bó và quý mến nhau đặc biệt.

Vì tình yêu mà Mục Tử Nhân Lành đã phải quan tâm săn sóc, đã không quản ngại khó khăn nguy hiểm, đã phải lặn lội vất vả để tìm kiếm những con chiên đi lạc và mang chúng về đàn: “Tôi còn có những chiên khác không thuộc đàn này. Tôi cũng phải đưa chúng về.” (Ga.10:16).

Và cũng chính vì tình yêu và sự gắn bó mật thiết bên nhau nên “…chỉ có một đàn chiên và một mục tử” (Ga.10:16).  Đó cũng là đức tin mà ta vẫn thường tuyên xưng trong kinh Tin Kính: “…Tôi tin có một hội thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền..

Bạn thân mến! Hạnh phúc cho ta vì được làm chiên của Người. Ta được an ủi vì Người hiểu ta.  Ta an tâm vì Người hằng quan tâm chăm sóc ta.  Ta sung sướng vì Người yêu thương ta đến nỗi hy sinh mạng sống của Người vì ta.

Người muốn ta chia sẻ hạnh phúc ấy cho người khác.  Người muốn ta lớn lên để chính ta cũng trở thành mục tử nhân lành theo gương của Người: Cha mẹ là mục tử của con cái. Thày cô giáo là mục tử của học sinh. Giám đốc là mục tử của công nhân. Y tá và bác sĩ là mục tử của bệnh nhân. Anh chị lớn là mục tử của các em nhỏ..v..v..

Nhưng đặc biệt hơn hết, Người muốn ta trở nên giống Người như một mục tử nhân lành,  để tiếp tục công việc của Người, để chăm sóc đời sống tâm linh cho đàn chiên mà Người sẽ trao phó.  Chính vì thế, Giáo Hội dành ngày hôm nay để cầu nguyện cho ơn gọi làm linh mục.

Hôm nay, Người mời gọi ta hãy lên đường bước đi theo Người, nối tiếp công việc của Người.  Người mời gọi ta hãy nhìn thấy đám đông bơ vơ không ai chăn dắt, nhìn thấy những người bệnh hoạn tật nguyền, những trẻ em đường phố, những người lầm lỡ sống vất vưởng bên lề xã hội… Hãy nhìn họ bằng trái tim yêu thương, để rồi đáp trả lời mời gọi yêu thương luôn vang vọng từ trời cao: ”Hãy theo ta”.

***

Lạy Chúa Giêsu Kitô, Ngài là Mục Tử Nhân Lành… Xin hãy ban cho chúng con nhiều mục tử tốt lành theo gương Chúa. Và cũng xin biến đổi chúng con thành những mục tử tốt lành trong gia đình, trong giáo xứ và trong môi trường và khu phố mà chúng con đang sống. Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas