NƯỚC MẮT

Nói về nước mắt cũng khó như nói về tình yêu.  Nói về nước mắt cũng khó như nói về đau khổ.

Tình yêu và đau khổ là những ngôn ngữ phải hiểu bằng con tim hơn bằng lời.  Và nước mắt cũng thế.

Làm sao có thể tả được nỗi khổ của người vợ trẻ nghe tin chồng tử trận từ miền xa.  Làm sao có thể nói được nỗi đau của cuộc tình phản bội.  Làm thế nào để diễn tả được nỗi đắng của người con gái gặp trầm luân trên biển cả.  Ðó là nước mắt và đau khổ.  Không có ngôn ngữ nào nói về những dòng nước mắt đó cho đủ.

Nước mắt của đau khổ tự nó là một ngôn ngữ.  Một thứ ngôn ngữ không có văn phạm.  Vì nước mắt là ngôn ngữ không có văn phạm nên ai cũng có thể đọc được.  Người giàu khóc.  Kẻ nghèo cũng thế.  Người trí thức, kẻ quê mùa, ai cũng có lúc khóc.  Nước mắt và đau khổ là ngôn ngữ chung.  Người từ phương đông cũng có thể gặp kẻ từ phương tây, trong ngôn ngữ ấy.  Mình có nước mắt và thấy người khác có nước mắt.

Nước mắt là ngôn ngữ chung.  Nhưng đọc được không có nghĩa là hiểu được.  Từ đọc được đến hiểu được vẫn còn là chặng đường dài.  Dòng nước mắt này không có văn phạm để đọc, nhưng lại có văn phạm để hiểu.  Văn phạm để hiểu những dòng nước mắt của đau khổ là con tim.  Nhìn một người khóc, tôi biết đó là nước mắt.  Tôi đã đọc được.  Nhưng tôi có hiểu dòng nước mắt đó không lại là một chuyện khác.  Ðã bao lần tôi thấy người khóc, nhưng tôi vẫn bình thản.  Ðã bao lần tôi thấy nước mắt chảy, nhưng chẳng có nghĩa gì đối với tôi.  Cũng có những lần tôi không muốn nhìn nước mắt.  Nước mắt đau khổ là ngôn ngữ chẳng cần học cũng nhìn thấy, nhưng chẳng bao giờ hiểu được nếu không học.  Ðể hiểu dòng nước mắt đó phải học bằng con tim của yêu thương và tâm hồn của chia sẻ.

Nỗi đau đã nói bằng nước mắt, thì để hiểu cũng cần trả lời bằng nước mắt.  Nhưng người ta chẳng trả lời được bằng nước mắt nếu người ta không học yêu thương và chia sẻ.  Ðây là bài học khó nhất trong đời.  Nhận ra nước mắt đau thương ở chung quanh mình đã là điều khó.  Học để chấp nhận dòng nước mắt ấy và để dòng nước mắt ấy hòa vào cuộc sống của mình lại càng khó hơn.  “Nơi điều này mà ta biết được lòng mến: là Ðấng ấy đã thí mạng mình vì ta.  Và ta, ta cũng phải thí mạng mình vì anh em” (1Yn 3,16).  Khi Thiên Chúa yêu, Ngài yêu đến cùng.  Bởi đó, yêu thương là bài học không có ngày ra trường, nó giai giẳng cả đời.  Bài học này không có chứng chỉ xác nhận, vì có ai chỉ yêu thương một lần là xong?

Một người khóc với nỗi đau của tôi, tôi thấy bớt khổ hơn khi họ chỉ nói về nỗi đau của tôi.  Họ chẳng nói gì, chỉ im lặng thôi, nhưng nhìn trong đôi mắt cảm thông của họ, tôi có can đảm.  Họ không cho tôi gì cả, nhưng tôi thấy mình lãnh nhận.  Dòng nước mắt của tôi là yếu đuối thì dòng nước mắt của họ lại là sức mạnh cho tôi.  Ðó là sự nhiệm mầu của nước mắt, và ở chỗ đó, nước mắt là ơn thánh. Trong thơ gởi tín hữu Roma, Thánh Phaolô viết:  “Vui với ai mừng vui, khóc với ai đang khổ sầu” (Rom 12,15).  Lời nói thì dễ, quà tặng cũng có thể mua.  Khóc thì thật khó, vì nước mắt là mức độ rung cảm sâu xa nhất của con tim, và cũng chính vì chỗ đó, nước mắt là hồng ân.  Ðể hiểu được nước mắt của người khác và nói với họ bằng nước mắt của mình là một con đường tử nạn Jerusalem.  Người đứng xem thì nhiều, nhưng kẻ khóc thì chẳng có bao nhiêu.

Nước mắt ở đâu?

Trong trại tị nạn, tôi thấy có những tâm hồn lạc lõng, không người thân, không tiền bạc.  Biển chiều là những nỗi vắng khôn nguôi.  Họ ngồi một mình, im lặng, nhìn về biển mà khóc.  Trong khi đó, có người mang theo được vàng bạc, có thân nhân, họ bình thản bên quán cà phê, mơ ngày đi sắm đồ ở Hong Kong, Bangkok.  Họ chẳng thể hiểu được những dòng nước mắt kia.  Vì muốn hiểu, họ phải mời dòng nước mắt đó một ly cà phê, một tấm áo mặc.  “Kẻ nào có của đời này và thấy anh em nó lâm phải túng thiếu, lại khóa lòng dạ lại đối với anh em nó thì làm sao lòng mến của Thiên Chúa lưu lại được trong nó? (1Yn 3,17).  Hai ngàn năm trước, họ đã chẳng hiểu mồ hôi và nước mắt Chúa Kitô trên đường tử nạn vì họ là kẻ đứng bên lề để xem.

Nước mắt ở đâu?

Ở trong những tâm hồn tan nát.  Có những vết thương đau đớn của một đời người.  Những người thiếu nữ gặp trầm luân trên biển cả.  Họ đau khổ.  Trong khi đó, có người đem những chuyện đó để mua vui.  Họ chẳng thể hiểu được dòng nước mắt kia.  Vì hai ngàn năm trước họ cũng đã lột trần Ðức Kitô và cười với nhau.  “Khi chế diễu Ngài rồi, thì họ cởi chiếc nhung y đi, cho Ngài mặc lại áo của Ngài, rồi họ điệu Ngài đi mà đóng đinh trên thập giá” (Mt 27,31).  Ðóng đinh kẻ khác cũng là thú vui của một số người.

Nước mắt ở đâu?

Có những tâm hồn lầm lỡ, chỉ vì yếu đuối mà chua xót.  Họ muốn quên đi cái quá khứ bất hạnh ấy. Nhưng có kẻ biết chuyện lại đem nói cho người khác hay để tỏ ra sự hiểu biết của mình.  Họ chẳng thể hiểu được nỗi đắng cay kia.  Vì, hai ngàn năm trước họ đã muốn ném đá người đàn bà ngoại tình (Yn 8,5).  Ðối với một số người, nói những khuyết điểm của kẻ khác là hình thức để nói mình trong sạch. Họ chỉ thua cuộc khi bị phơi trần trước mặt Ðức Kitô.

Hai ngàn năm trước là thế, hôm nay cũng vậy, tôi thấy nhiều người khóc, nhưng tâm hồn tôi chẳng rung cảm.  Làm sao có thể rung cảm, làm sao có thể hiểu được khi tôi chỉ đứng xem người vác thập giá chứ tôi không vác thập giá.

*******

Trong tình yêu cũng có nước mắt.  Mai Ðệ Liên đã khóc: “Ðứng đàng sau phía chân Ngài, bà khóc nức nở” (Lc 7,38).  Phêrô đã khóc vì chối Thầy: “Và Phêrô nhớ lại lời Ðức Kitô đã báo: Trước khi gà gáy, ngươi đã chối Ta ba lần.  Và ra ngoài ông khóc lóc thảm thiết” (Mt 26,75).  Phêrô không nói gì với Chúa khi Chúa nhìn, nhưng chỉ khóc.  Mai Ðệ Liên cũng vậy.  Họ chẳng nói nhưng nước mắt đã nói tất cả.  Ðó là những giọt nước mắt sám hối.  Những giọt nước mắt khi biết mình lỗi lầm bao giờ cũng có giá trị cứu rỗi.

Eva đã lỗi phạm.  Khi Chúa hỏi thì Eva đổ lỗi cho con rắn.  Bà đã không khóc.

Adong đã lỗi phạm, Khi Chúa hỏi thì Adong đổ tội cho Eva.  Ông đã không khóc.

Tội kế đến xẩy ra trong gia đình đầu tiên của nhân loại là Cain giết em mình.  Khi Chúa hỏi em mình đâu, Cain trả lời: “Tôi không biết! Tôi là người giữ nó à?” (Kn 4,9).  Chàng đã không khóc.

Ôi! Những dòng nước mắt đã hiếm hoi làm sao.  Vì thuở ban đầu đã thiếu nước mắt ăn năn, nên bây giờ nước mắt gian truân ở khắp chốn.

Nước mắt đã làm động lòng Thiên Chúa.  Nước mắt xóa nhòa quá khứ.  Nước mắt mở cửa tương lai.  Nước mắt làm hạnh phúc phục sinh.

Có những dòng nước mắt hiếm hoi bao nhiêu, thì dường như, cũng có những dòng nước mắt dư thừa bấy nhiêu.  Có người khóc vì mất một số của cải, nhưng lại chẳng khóc khi mất Chúa.  Có người khóc vì bị ngăn cản một ước mơ không chính đáng, nhưng lại chẳng khóc khi bỏ lỡ một giấc mơ chính đáng đã đi qua mà không thực hiện.

Lạy Chúa, để hiểu dòng nước mắt đau khổ, con phải học thứ văn phạm của ngôn ngữ đó, đó là một trái tim yêu thương, một cõi lòng có Chúa ngự, một tâm hồn không đứng xem Chúa vác thập giá mà xuống đường vác thập giá với Chúa.

Nước mắt có cần không?

Khóc là một ân huệ.  Những trái tim bằng gỗ không thể khóc.  Những tâm hồn lạnh lùng cũng chẳng thể rung cảm.  Xin hãy dạy con biết khóc như Phêrô, đừng chai đá như Cain.  Nước mắt có thể tha thứ mọi lỗi lầm của con.  Và, Nước Trời đã mở cửa cho con cả hai lối.  Con có thể vào một cách anh hùng như các thánh tử đạo, con cũng có thể vào bằng tiếng khóc như Mai Ðệ Liên.

L.M. Nguyễn Tầm Thường, S.J – trích trong “Nước mắt và hạnh phúc”

 

 

HỌC BẠ CỦA GIÊSU

Cậu Giêsu, học sinh trường Nazaret, đem học bạ về nhà. Thật tình mà nói, kết quả không mấy tốt. Mẹ cậu biết thế nhưng không nói gì, bà chỉ ghi nhớ mọi sự trong lòng mà suy đi nghĩ lại. Nhưng điều gay do nhất bây giờ là phải trình học bạ này cho ông Giu-se.

Người gửi: Trường Simêôn tại Nazaret
Ngưòi nhận: Ông Bà Giuse và Maria David
Nội dung: Học bạ của Giêsu

Toán học: Hầu như chẳng làm được bài toán nào, ngoại trừ nhân bánh và cá lên nhiều lần.  Không biết làm toán cộng: cậu khẳng định rằng mình cộng với Cha thành một.

Tập Viết: Không bao giờ mang tập vở bút viết đến lớp, đành phải viết trên cát.

Địa Lý: Không có khái niệm về phương hướng.  Cậu khẳng định rằng chỉ có mỗi một con đường để về nhà Cha thôi.

Hóa Học: Không chịu làm các bài tập thí nghiệm gì cả, nhưng có lần Cậu đã làm cho nước hóa ra rượu nho khiến người ta cự nự nhau trong đám cưới.

Thể Dục:  Thay vì học bơi như mọi người, lại ngang nhiên biểu diễn đi trên nước.

Văn Học:  Khó có thể nói năng rõ ràng, nói gì cũng bằng dụ ngôn.

Vấn Đáp:  Mới 12 tuổi mà Cậu đã đối đáp với các luật sĩ và kinh sư trong đền thờ khiến họ hết sức ngạc nhiên.

Kỷ Luật:  Đã đánh mất mọi thứ đồ đạc, rồi tuyên bố xoành xoạch rằng mình chẳng có được một viên đá gối đầu!

Hạnh Kiểm:  Có khuynh hướng thích giao du trò chuyện với kẻ lạ, bọn nghèo, hạ cấp và cánh phụ nữ trắc nết.

Vệ Sinh:  Nhổ xuống đất hòa thành bùn rồi bôi lên mắt người ta tức thì họ được sáng mắt.

Sinh Vật:  Dám quả quyết người ta sống không nguyên bởi bánh nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.

Thiên Văn:  Là người duy nhất đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống.

Kinh Doanh: Những người được mướn từ sáng sớm cậu trả cho họ một quan tiền, và những người cậu mướn vào xế chiều cậu cũng trả một quan tiền.  Chưa hết, bà góa bỏ một xu vào nhà thờ, cậu nói bà ta bỏ nhiều nhất.

Tâm Lý:  Cậu nói đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn.  Đúng hơn, hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục.

Lịch Sử:  Cậu sẽ xây Hội Thánh của Cậu, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi vì Cậu đã thắng thế gian.

Đọc xong học bạ, ông Giu-se tự nhủ rằng tình trạng này không được kéo dài thêm, mà cần phải có biện pháp cứng rắn: “Này, Giêsu, đã như vậy thì kỳ Phục Sinh này con đành phải vác thánh giá thôi!” 

*****

Vậy Ngài đã bảo gì với Cha mình ?

Ối trời, Cha Giuse ơi, ngày xưa, con học hành khá hơn nhiều đó chứ! Thế mà giờ lũ trẻ cứ phiên phiến ra như thế!  Con chỉ còn một viên đá gối đầu thật, nhưng đâu phải là con vứt đi các vật dụng, mà là con cho nhà hàng xóm đó chứ.

Khi Mẹ Maria may cho con áo mới mặc vào mùa xuân.  Con thích lắm, nhưng sáng nay, con đi dạo chơi quanh làng, thấy cậu bé ở cuối xóm, mặc bộ quần áo rách bươm, con nghĩ đồ đạc của con còn nhiều, tốt hơn của bạn ấy, thế nên, về nhà, con gói ghém và tặng bạn ấy.  Lần trước, đôi dép mới Cha cho con cũng thế.  Cha thường dạy, chia sẻ như thế là rất tốt phải không Cha?

Con không bao giờ phân biệt kẻ nghèo, người giàu.  Con thích giao tiếp với những người bị khinh bỉ, bỏ rơi.

Nhiều người nghĩ con là người điên, nhưng cha biết con rất tỉnh táo, phải không cha?  Và cha vui vì điều đó.  Cha luôn dạy con phải biết yêu thương mà.

Bây giờ con buồn ngủ rồi, chúc Cha ngủ ngon.  Ngày mai, con sẽ nói tiếp cho các bạn ấy hiểu, con đã học hành như thế nào, cha nhỉ!

Mong rằng học bạ của mỗi người chúng ta, có những phần như vậy.

Sưu tầm

VINH QUANG CỦA ĐỨC MẸ

Đức Maria là người phàm duy nhất được lên trời cả hồn và xác.  Chẳng những thế, Người còn được tôn làm Nữ vương trời đất.  Bởi đâu mà Đức Mẹ được hưởng vinh quang cao cả như vậy?  Câu chuyện sau đây sẽ giúp chúng ta hiểu được lý do.

*****

Ở một vùng đất xa xôi hẻo lánh kia có một bộ lạc sinh sống.  Năm đó trời hạn hán không mưa nên mùa màng thất bát, cuộc sống khổ cực.  Dân bộ lạc tổ chức một buổi lễ cầu mưa.  Họ cầu nguyện rằng: “Lạy thần linh, xin chỉ cho chúng con biết chúng con đã phạm tội gì để đáng bị trừng phạt như vậy.  Và xin dạy chúng con biết phải làm gì để có mưa”. Họ cầu nguyện như thế suốt 3 ngày nhưng trời vẫn không mưa xuống.

Khi đó những người lớn tuổi rủ nhau lên đồi, vì họ nghĩ rằng lên đó họ sẽ nghe được tiếng trả lời của thần linh trong các luồng gió thổi tới.  Và quả thực họ đã được nghe câu trả lời: Lý do khiến họ bị hạn hán là vì họ quá ích kỷ: bấy lâu nay họ chỉ biết khai thác đất đai mà không ban lại cho đất cái gì để nuôi dưỡng đất.  Vậy, để khỏi bị trừng phạt thì họ phải lấy những thứ quý giá nhất trong nhà đem đốt đi thành tro rồi rải xuống đất.  Mọi người cảm tạ thần linh đã chỉ bảo và hứa sẽ làm theo.  Nhưng khi trở về nhà, nhìn những đồ vật quý giá thì họ lấy làm tiếc.  Vì thế, thay vì những món đồ quý, họ chỉ lấy những thứ xoàng xĩnh mà đốt.  Dĩ nhiên trời vẫn không mưa.

Trong bộ lạc có một cô bé tên là Miriam.  Cô có một con búp bê xinh xắn mà cô quý nhất trên đời.  Cô bé hiểu được lý do khiến trời không mưa là vì người ta đã tiếc không dám dâng hiến cho thần linh những thứ quý giá nhất.  Thế là cô mang con búp bê lên đồi, đốt nó đi, vừa đốt vừa khóc.  Đốt xong, cô lấy tro rải lên mặt đất, rồi ngủ thiếp đi.  Khi cô tỉnh dậy thì cả ngọn đồi đều mọc đầy hoa, những cành hoa mọc lên từ đám tro của con búp bê mà cô bé đã đốt.  Việc làm của cô bé đã khiến dân làng hiểu ý thần linh: họ xấu hổ vì đã không dám hy sinh nghe lời thần linh như cô bé Miriam.  Thế là ai nấy về nhà lấy tất cả những thứ quý giá nhất đem đốt.  Ngay sau đó thì trời đổ mưa.  Mọi người tung hô cô bé Miriam như một vị anh hùng đã cứu sống cả bộ lạc.

*****

Câu chuyện trên chỉ là truyền thuyết và có thể là hư cấu.  Nhưng nó giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.  Cô bé trong câu chuyện tên là Miriam, cũng giống tên Đức Mẹ Maria; Cô bé Miriam được thần linh tôn vinh bằng cách cho bông hoa trổ đầy trên ngọn đồi nơi cô bé ngủ, cô cũng được dân làng tôn vinh như vị cứu tinh của bộ lạc là vì cô đã dám hy sinh món đồ chơi mà cô quý nhất trên đời.  Đức Maria cũng thế, Người được tôn vinh làm Nữ vương trời đất và được lên trời cả hồn và xác là vì Mẹ đã hy sinh tất cả cho Chúa:  Chúa muốn gì Mẹ cũng vâng theo: (1) Mẹ muốn sống cuộc đời đồng trinh, nhưng khi Thiên Chúa muốn Mẹ thụ thai sinh hạ Chúa Giêsu, Mẹ đã thưa “Xin Vâng”; (2) Chúa Giêsu là người con duy nhất của Mẹ, là nguồn hạnh phúc của Mẹ trong gia đình và là nơi nương tựa của Mẹ trong tuổi già, nhưng vì Thiên Chúa muốn nên Mẹ cũng sẵn sàng hy sinh để Chúa Giêsu ra đi rao giảng Tin Mừng và chịu nạn chịu chết trên Thánh giá để chuộc tội cho nhân loại.  Đúng như lời bà Êlisabét nói, Đức Mẹ có phúc hơn tất cả mọi người vì Đức Mẹ luôn làm theo ý Chúa, luôn “xin vâng” với Chúa.

Gương Đức mẹ dạy chúng ta 2 điều: (1) Chúng ta thường nghĩ rằng hạnh phúc là do “được”, có được những gì mình mong muốn.  Đúng vậy.  Nhưng hạnh phúc cũng còn do hy sinh, do dám cho đi, cho đi những gì mình tha thiết nhất.  Có khi hạnh phúc bởi cho đi còn sâu đậm và cao cả hơn hạnh phúc do nhận được; (2) Đặc biệt trong tương quan giữa chúng ta với Chúa, chúng ta thường chỉ xin Chúa ban cho chúng ta, khi thì xin điều này khi thì xin điều khác, chỉ xin và xin, chỉ nhận và nhận.  Ít khi chúng ta cho Chúa, hy sinh vì Chúa.  Thực ra Chúa không cần chúng ta cho Ngài điều gì cả.  Những thứ mà chúng ta cho Chúa cũng chẳng đáng gì cả.  Nhưng những thứ nhỏ bé mà chúng ta cho Chúa như thế chứng tỏ tấm lòng của chúng ta đối với Chúa.  Và để đáp lại, Chúa sẽ ban lại cho ta gấp bội.

Lm Carolô Hồ Bặc Xái

*****

Lạy Cha, chúng con cảm tạ Cha, Ðấng tạo thành trời đất,

Ðã tỏ hiện cho những kẻ khiêm nhu bé mọn.
Chúng con cảm tạ Cha đã muốn giao ước với loài người.
Cha đã yêu thương chúng con trước một cách nhưng-không,
Khi đoái đến một dân tộc mà Cha gọi là “dân nhỏ bé nhất trong muôn dân”.
Tại một thôn xóm vô danh nhất trên miền Ðất Hứa,
Trong số những thiếu nữ vô danh nhất của Ít-ra-en,
Cha đã chọn một cô gái làm Mẹ Chúa Giê-su,
Một cô gái được chúc phúc hơn mọi cô gái,
Một thiếu nữ đã đáp ứng được mọi ân sủng của Cha.
Ðối với muôn thế hệ,
Ðức Ma-ri-a đã trở nên gương sáng phục vụ và khó nghèo cho Hội Thánh.

Vâng, lạy Cha, chúng con cảm tạ Cha

Ðã gầy dựng nên Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a trong số những kẻ bé mọn.
Cha muốn rằng bởi Mẹ mà Chúa Con trở thành người trong nhân loại,
Kết hiệp chúng con với Cha trong Chúa Thánh Thần.

Robert Guelluy

THỊT TA LÀ CỦA ĂN

Nói đến máu thịt là nói đến những gì thâm sâu nhất trong con người. Thâm sâu vì máu thịt chính là sự sống. Thâm sâu vì máu huyết thuộc hệ di truyền. Ta thường nói: máu huyết của cha, thịt xương của mẹ. Yếu tố “gen” là thứ sâu xa trong bản tính con người.  Là lực lượng âm thầm điều hướng định mệnh con người. Như thế máu thịt không những làm thành con người thể lý bên ngoài mà còn làm thành con người ở chiều sâu tâm sinh lý nữa.

Máu thịt là thứ thiết thân nhất trong con người. Thiết thân vì nó gắn bó chặt chẽ với bản thân ta, gắn bó với sự sống của ta.  Lấy nó ra khỏi con người thì đau đớn lắm. Thiết thân vì ta yêu mến nó. Yêu máu thịt của mình cũng như yêu mạng sống mình là một điều hết sức tự nhiên.

Hôm nay khi nói ban Máu Thịt cho chúng ta, Chúa Giêsu ban cho ta những gì thâm sâu nhất trong bản thân Người. Người không chỉ ban Máu Thịt mà còn ban cho ta cốt lõi của bản tính Thiên Chúa. Thánh Gioan Tông đồ định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu: Khi ban cho ta Máu Thịt, Chúa Giêsu ban cho ta chính tình yêu của Người.”

Khi ban Máu Thịt cho ta, Chúa Giêsu phải chịu đau đớn.  Mạng sống là quý nhất. Nhưng Người yêu ta còn hơn yêu mạng sống của mình. Vì thế, Người hiến mạng sống cho ta như lời Người nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”. Mạng sống là thiết thân. Nhưng đối với Người, ta còn thiết thân với Người hơn cả mạng sống của Người nữa. Người chịu tiêu hủy mình đi để trở nên thiết thân với ta. Khi hiến mình làm lương thực, Người chấp nhận chịu nghiền tán, chịu đớn đau để trở thành thịt máu của ta, để trở thành thiết thân với ta, đến nỗi ta không thể tách Người ra khỏi ta được nữa. Thật là một tình yêu lạ lùng. Thật là một sáng kiến tuyệt vời.

Khi ban Mình Máu Thánh cho ta, Chúa Giêsu mong ước ta sống kết hiệp mật thiết với Người. Khi chịu lấy Mình Máu Thánh Chúa thì Chúa ở trong ta và ta được ở trong Chúa.  Đây là một biến đổi sâu xa.  Chúa Giêsu đã làm người để ở với ta, làm tấm bánh để ở lại trong ta.  Chúa mong ước ta ở lại trong Chúa. Vì thế khi rước lễ, ta phải biến đổi đời sống cho xứng đáng và phù hợp với Chúa. Ở trong Chúa không phải là ở trong không gian vật lý nhưng ở trong không gian thiêng liêng, trong ảnh hưởng của Chúa, trong tình yêu của Chúa, trong lề luật của Chúa, trong tinh thần của Chúa.  Như thế ở trong Chúa có nghĩa là sống như Chúa, suy nghĩ như Chúa, hành động như Chúa, yêu thương như Chúa.

Khi mời gọi ta đến kết hiệp với Người, Chúa mong muốn cho ta được sống.  Chúa chính là nguồn mạch sự sống. Ở trong Người là ở trong sự sống. Kết hiệp với Người là kết hiệp với sự sống. Sống nhờ Người là hít thở sự sống của Người, hấp thu sự sống của Người. Người là sự sống vĩnh cửu, sự sống sung mãn, sự sống hạnh phúc. Được sống bằng sự sống của Người ta sẽ được sự sống dồi dào, hạnh phúc không bao giờ tàn phai.

*****

Lạy Chúa, xin cho con hiểu biết, yêu mến và sống bí tích Thánh Thể trong cuộc đời con. Amen.

TGM. Ngô Quang Kiệt

VẾT THƯƠNG LÂU LÀNH

Là bà con trong dòng họ, chung sống trong một khuôn viên, nên lâu nay Bà con vẫn duy trì sống bên nhau êm ả. Tuy cũng có những lúc sóng gió, xích mích, những lúc vui buồn, nhưng rồi cũng chín bỏ làm mười, bà con dòng họ lại vui vẻ chia sớt cho nhau những biến cố vui buồn trong cuộc sống. Trải qua những năm tháng bên nhau người nào khó tính, người nào dễ tính, cách sống của từng nhà, từng người ra sao ? cũng được mọi người nhìn nhận và nhắc nhau cư xử cho vui vẻ. Cuộc sống cứ trôi qua, những tưởng sau những xích mích chín bỏ làm mười cho êm ả cũng trôi đi. Nhưng không, khi có chuyện gì to tiếng cãi vã thì mọi chuyện trong quá khứ vẫn được nhắc đến như một vết thương lòng chưa thể lành.

Anh Minh vừa làm lại cái mương nước, bị lấn sang phía hàng rào của bà cô một tí, lâu nay bà đã hậm hực, hôm nay vừa mới đi làm về,  bước xuống xe anh đã được bà nghiêm nghị nhắc nhở, vì nóng tính anh đã to tiếng phân trần.  Như giọt nước tràn ly, bà tức tối lôi bao nhiêu thứ xích mích từ khi ba anh còn sống, còn thuở hàn vi, từ hồi anh còn nhỏ, cả nhà phải nhờ vả bà, rồi những bất đồng mới đây phân trần, kèm theo là những lời mắng nhiếc “ đồ mất dạy, đồ vô ơn, thị có tiền của, mới giàu có lên, không coi ai ra gì ….” Anh Minh cũng không vừa, lôi ra bao nhiêu chuyện không đẹp trong cư xử của cô chú, những tính toán hơn thua, rồi cũng nói trả bằng những câu cay đắng “ sống không để cho con cháu tôn trọng, sống ích kỷ…..”  có ai đến can, hai bên cũng giành lấy phân bua, kể lể thêm, để chứng minh mình là người bị hại.  Ngày hôm sau câu chuyện cũng chưa lắng xuống, gặp ai bà cũng kể lại và còn nói thêm những câu dạy đời thâm thúy, anh Minh thì cũng ra vẻ hả dạ vì đã nói hết những xấu xa của bà cô và còn tỏ ra oan ức vì bị bà chửi.  Đứng đó cũng có ông chú, suốt lúc giằng co, ông chẳng nói câu nào để chứng tỏ cho mọi người thấy ông là người am hiểu lẽ đời, hôm sau gặp tôi ông chẳng phân trần ai đúng, ai sai, ông nói với tôi: “Cám ơn Chúa, lúc đó tôi cũng tức, tính nói cho nó mấy câu thật đau, nhớ đời, nhưng tôi đã không nói ra”.

Tôi ngạc nhiên và thấy ông thật là khiêm tốn.  Người ta hãnh diện vì có tài ăn nói sắc sảo hơn người, lý lẽ thâm thúy thuyết phục, thể hiện kiến thức sâu xa…. nhưng con tim chật hẹp.  Những lời lẽ sắc sảo lúc dạy con, răn vợ, răn chồng, dạy đời, nghe đạo đức, thâm thúy mà có khi đến tím ruột người nghe, thơ văn sắc xảo mà có thép như dao ghim vào tim người khác, chẳng phải là vì lời nói cũng có chất độc, có lưỡi dao sao?  Nếu không, làm sao người nghe lại cảm thấy xót ruột, đau tim khi chỉ nghe lời nói thôi?  Những tưởng “lời nói, gió bay” nhưng sao lại “sống để dạ, chết mang theo”?  Vì nó là vết thương lòng, hành động ác thì khó, chứ lời nói ác thì dễ, nhưng hậu quả lại giống nhau.

Câu nói mộc mạc và vô tình của ông dượng làm tôi trăn trở và suy nghĩ hơn về tác dụng của lời nói trong cuộc sống.  Khi tôi nói với ai bằng ý nghĩ hơn người, kiêu ngạo hay ác ý, là lúc người nghe nhận được chất độc, lưỡi dao của lòng nghen ghét, đố kỵ, ích kỷ của tôi.  Đó là lời nói hiểm hóc, lời đay nghiến, lời xét đoán, lời dèm pha, lời chứng gian, lời lường gạt, lời phỉnh nịnh, lời nhân nghĩa giả dối trong lòng tôi.  Cho dù lời nói đó có hoa mỹ và được ngụy trang bằng những từ ngữ gì đi nữa thì vẫn phản tác dụng và một ngày nào đó người nghe sẽ nhận ra và cảm thấy nghê sợ tôi…. Khi tôi nói lời khích lệ, nhìn nhận những điều tốt họ đã làm, sẽ có động lực giúp họ làm nhiều điều tốt hơn.  Tôi cảm nghiệm rằng, mình chỉ dám nói với ai lời sửa dạy, nếu tôi thật lòng yêu thương họ như mình, bằng không thì nên khiêm tốn im lặng, để không gây thêm thương tích trong lòng người khác.

Dòng họ tôi sống với nhau rất êm ả, gia đình tôi sống với nhau rất hòa bình nhưng lạnh lẽo vì thiếu vắng những lời nói rộng lượng, lời nói tình yêu từ trong lòng người này đến con tim người khác.  Lời nói từ con tim yêu thương đâu cần lý lẽ, đâu cần tư duy sâu sắc, nhưng khốn thay lòng người chỉ toàn những tính toán ích kỷ, ước muốn điều xấu cho người khác, thì làm sao có thể có lời nói mang yêu thương?  Muốn yêu thương đời, yêu thương người đích thực tôi phải đến với nguồn tình yêu là chính trái tim Chúa, để được Chúa biến đổi thanh luyện con tim biết yêu người khác.

Mầu nhiệm cứu độ đã được gắn kết với cuộc đời Mẹ, xin mẹ dạy con biết “yêu người” như xưa mẹ đã đến thăm Bà Isave, xin mẹ dạy con biết “ chịu mọi sự sỉ nhục bằng lòng” vì trong lòng con, cũng vốn có những chất độc và lưỡi dao.  Qua chuỗi môi khôi, Mẹ muốn cứu tất cả chúng con ra khỏi gian tà ngay chính trong lòng mình, Mẹ muốn chữa lành những chất độc, những vết thương lòng mà con cứ cố giữ mãi.  Xin mẹ dẫn dắt chúng con đến suy gẫm trái tim Chúa bằng kinh Kính mừng hàng ngày, để trái tim con được mở rộng yêu thương.  Xin dâng Mẹ những Kinh Kính Mừng mầu nhiệm, nhờ ân phúc và quyền phép của Mẹ gởi những bông hồng yêu thương mầu nhiệm đến trái tim những người con yêu thương, những người đang sống quanh con và cả những người con đã thành kiến, ác ý với họ.

Chiều Thu

 

 

 

KHÓC

“Làm người có miệng có môi,
khi buồn thì khóc, khi vui lại cười” (ca dao)

Cười và khóc là chuyện bình thường của kiếp nhân sinh.  Người không cười không khóc là có vấn đề.  Hoặc người ta cười thì mình khóc, hay người ta khóc mình lại cười mới là người bất thường.

Chúa Giêsu nói: “Tôi phải ví thế hệ này với ai?  Họ giống như lũ trẻ ngồi ngoài chợ gọi lũ trẻ khác, và nói: Tụi tôi thổi sáo cho các anh, mà các anh không nhảy múa; tụi tôi hát bài đưa đám, mà các anh không đấm ngực khóc than.  Ông Gioan đến, không ăn không uống, thì thiên hạ bảo ông ta bị quỷ ám.  Con Người đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì thiên hạ lại bảo đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi” (Mt 11, 16-19).

Thánh Phaolô tông đồ nói: “Vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12,15).

Cười có bao nhiêu kiểu thì khóc cũng có bấy nhiêu loạiKhóc sướt mướt, khóc nghẹn ngào, khóc da diết, khóc tấm tức, khóc nức nở, khóc nỉ non, khóc tức tưởi, khóc than, khóc thầm, khóc hận, khóc ai oán, khóc xụt xùi, khóc thút thít, khóc lớn tiếng, khóc gầm, khóc gào, khóc…

Nhưng dù khóc kiểu nào cũng luôn xoay quanh hai đối tượng: Khóc cho người khác và khóc vì người khác, rồi khóc cho chính mình và vì chính mình.

Khóc cho người khác và vì người khác

Khi đến gần Giêrusalem và trông thấy thành, Chúa Giêsu đã thương khóc thành sẽ bị phá hủy vì không đón nhận Tin mừng của Ngài.  “Sẽ tới những ngày quân thù đắp lũy chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề.  Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái đang ở giữa ngươi, và sẽ không để hòn đá nào đè trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm” (Lc 19,41).

Dân chúng đấm ngực và thương khóc khi thấy Chúa Giêsu vác thánh giá.  Chúa Giêsu nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi, hãy khóc cho thân phận mình và cho con cháu” (Lc 23,27-28).

Khi được tin Lazarô đã qua đời, Chúa Giêsu đến thăm viếng, an ủi hai chị em Macta và Maria:  “Khi thấy cô Maria khóc và những người Do thái đi với cô cùng khóc, Đức Giêsu thổn thức trong lòng và xao xuyến… Ngài liền khóc” (Ga 11, 33-35).

Khóc cho chính mình và vì chính mình

Thánh Luca thuật lại: “Có một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pharisêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm.  Chị đứng đàng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người.   Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên”(Lc7,37-38).

Thánh Matthêu, Maccô và Luca, cả ba đều nói về nhân vật Phêrô, người đã khóc lóc thảm thiết vì đã chối Chúa, đúng như lời Thầy Giêsu nói: “Gà chưa gáy thì anh đã chối Thầy ba lần”.  Ông khóc lóc thảm thiết” (Mt 26.75 ; Mc 14,72 ; Lc 22,62).  Theo một truyền thống xa xưa, thánh Phêrô đã lánh vào một cái hang gần đấy mà khóc; ngày nay mới có nhà thờ gọi là Gà gáy (Galicanto).

Khóc cho đức tin của người tín hữu

Giáo hội là mẹ đã sinh ra các tín hữu trong ân sủng.  Và thời gian lữ hành của mỗi người là thời kỳ thai nghén, thời gian chờ đợi được sinh ra.  Là tín hữu, ai cũng biết chết là ngày sinh lại, được về với Chúa. Nhờ cuộc ra đi này mà ta trở nên “đồng hình đồng dạng với Chúa” (Phip 3, 10).

Khi Chúa thương gọi tôi về, thì tôi hân hoan như trong một giấc mơ. Miệng tôi nức vui tiếng cười, lưỡi tôi vang lời ca hát.  Ngàn dân tung hô tôi thật vĩnh phúc!

Khi tham dự ta hát thật to, nhưng sự việc xảy đến lại không thấy biểu lộ niềm vui ấy trong đức tin.  Nào là  vô cùng thương tiếc báo tin, vô cùng đau đớn, vô cùng mất mát, vô cùng đau lòng, vô cùng đau xót, vô cùng đau buồn… Cái vô cùng ấy không thể hiện được niềm tin cậy vào Chúa.  Ngài không được đặt làm nền để bù đắp những trống vắng vì mất người thân.  Thế hân hoan ở đâu?  Vĩnh phúc ở đâu?  Có cha mẹ nào lại nói là tôi rất đau buồn báo tin: con tôi từ xa về thăm gia đình.  Có khi nào con cái lại thông báo là vô cùng chua xót vì sắp về thăm bố mẹ và người thân.  Về với Chúa là cha là mẹ sao nói như vậy.  Xem ra phải hát là khi Chúa thương gọi AI về thì tôi hân hoan mới đúng…

Biểu lộ đức tin như thế chưa phải là cách sống đạo lý tưởng và trưởng thành.  Càng không phù hợp với tinh thần người con luôn tín thác vào Cha quan phòng.  Mà còn ngược lại ý định Thiên Chúa, ngược lại với giáo lý của Ngài và giáo huấn của Giáo hội.  Đành rằng chia ly người thân yêu dễ làm ta bị tổn thương vì lưu luyến, thương nhớ.

Khóc nào có giá trị cho con người

Người ta khóc mà mình không thật ngại quá.  Người ta khóc thì mình cũng cố sụt sùi, ít là rặn ho rồi nấc, và nếu cần thiết cũng cố gào lên vài tiếng.  Khóc đôi khi còn để che đậy một sự bất hiếu hay một tội ác nào đó.  Hoặc để đánh lạc hướng, xoá đi dư luận về đời sống của mình.  Nếu khóc chỉ để mà khóc, chỉ vì thể diện thì ích chi.  Khóc không giúp ta kiểm điểm, hối cải, không giúp ta hoàn thiện và thăng tiến đời sống thì có lợi gì đâu. Vậy ta:

Hãy khóc vì những tội lỗi đã phạm đến Chúa.
Hãy khóc vì những lỡ lầm gây ra cho nhau.
Hãy khóc vì những chai lỳ, cố chấp và kiêu căng.
Hãy khóc vì những khô khan ươn lười của thân xác.
Hãy khóc vì những gương xấu đã làm cho nguời thân.
Hãy khóc vì những cớ vấp phạm cho người non yếu về đức tin, về kiến thức.
Hãy khóc vì những đam mê dục vọng bất chính gây ra chia rẽ, đổ vỡ.
Hãy khóc vì trái tim xơ cứng trước cảnh bi đát đau thương của đồng loại.
Hãy khóc vì những cơ hội bị bỏ qua khi ta có thể nắm lấy.
Hãy khóc vì những điều tốt lành có thể làm được mà ta lại không.
Hãy khóc vì những lý tưởng cao đẹp mà không cố gắng thực hiện.
Hãy khóc vì những ơn lành Chúa ban lại không sử dụng, sinh lợi.
Hãy khóc vì những hạnh phúc đáng lẽ ta được hưởng thì lại để cho quỷ dữ lấy mất.
Hãy khóc vì những bình an Chúa tặng lại để cho hận thù chiếm chỗ.
Hãy khóc thật nhiều để cảm thông và thương xót, để biến đổi và hoàn thiện như Phêrô, như người phụ nữ ngoại tình, như tên trộm lành…
Hãy khóc thật nhiều để tẩy rửa con người cũ bằng bí tích hoà giải.  Trong đức tin, ta được tắm gội trong ân sủng và mặc lấy con người mới theo hình ảnh Chúa Giêsu.
Hãy khóc đi khóc đi khóc đi….

Chúa Giêsu là người bình thường, vì trái tim rung động, cảm mến và xót thương khiến Ngài rơi lệ. Ngài bộc lộ rất chân thành và đơn sơ chứ không giả vờ.  Ngài hội nhập và đón nhận vào cuộc sống trần gian một cách tự nhiên, và thể hiện bằng trái tim xương thịt của con người.

Hãy sống và biểu lộ tình cảm, lòng vị tha và thương yêu chân thành phát xuất từ trái tim.  Ta sẽ thấy Chúa Giêsu là gương mẫu của một con người bình thường biết vui cùng người vui và khóc cùng kẻ sầu đau.

Thái độ của người có đức tin

Luôn tin vào lời xin của Chúa Giêsu:  “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha ban cho con cũng ở đó với con” (Ga 17,24).

Luôn tin vào lời hứa của Chúa Giêsu: “Ngay hôm nay, người sẽ ở trên Thiên đàng với Ta” (Lc 23,43).

Luôn tin tưởng vào Chúa Giêsu, vì Ngài là sự sống lại và là sự sống, ai tin vào Ngài thì dù đã chết cũng sẽ được sống. (Ga 11,25).

Luôn tin tưởng rằng một khi “con người cũ nơi chúng ta bị đóng đinh vào thập giá với Chúa Giêsu, thì tội lỗi bị huỷ diệt, ta không còn làm nô lệ cho tội nữa” (Rm 6,6-7).

Luôn tin tưởng khi vượt qua cái chết, ta sẽ gặp được “trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã qua đi, không còn sự chết nữa…” (Kh 21, 1).

Luôn tin tưởng khi vượt qua cái chết thì mọi khổ đau, bất công sẽ không còn và “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ, sẽ không còn sự chết, không còn tang tóc nữa” (Kh 1,4).

Luôn tin tưởng rằng “nếu chúng ta đã cùng chết với Chúa Giêsu, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người.  Thật vậy, một khi Chúa Kitô sống lại từ cõi chết thì không bao giờ Ngài chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người.  Nay Người sống là sống cho Thiên Chúa” (Rm 6,8-10).

Luôn tin tưởng là “tất cả chúng ta sẽ được biến đổi.  Quả vậy, cái thân hư nát này sẽ mặc lấy sự bất diệt, vì gieo xuống thì hèn hạ, mà chỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối mà trỗi dẫy thì mạnh mẽ, bất tử…” (1Cr 15,42-43.51-52).

Luôn tin tưởng “Sống là sống cho Chúa, chết là chết cho Chúa.  Vậy sống hay chết chúng ta đều thuộc về Chúa” (Rm 14,8).

Thanh Thanh

BÁNH TRƯỜNG SINH

Ở nước ta, trong nạn đói năm Ất Dậu 1945, hằng triệu người miền Bắc lâm vào cảnh túng thiếu, đến nỗi củ chuối trong vườn cũng chẳng còn để mà ăn, khiến cho họ phải bỏ nhà cửa, làng mạc lên đường đi kiếm chút của ăn nuôi thân.

Thời gian đó, tại một số giáo xứ may mắn, không bị nạn đói hoành hành, người ta tổ chức phát chẩn cho những người bị đói.  Mỗi ngày giáo xứ nấu những nồi cơm lớn, rồi nắm thành những nắm nhỏ, được gọi là nắm cơm chim phân phát cho hằng trăm người đói lả.  Đàn ông, đàn bà và trẻ nít đứng xếp hàng để chờ được nhận nắm cơm chim của mình.

Nhìn những kẻ sa cơ thất thế nhận phần ăn ít ỏi, ta thấy mỗi người nhận và ăn một cách khác nhau: Có người khi nhận nói lên lời cám ơn, có kẻ thì mắc cỡ giật lấy nắm cơm rồi lẩn mất.  Có người ăn vội vàng rồi ra đi, có kẻ cầm nắm cơm tới một bụi tre hay một khóm trúc rồi mới ăn. Có người chỉ ăn một nửa, còn một nửa thì gói lại để dành.  Có người làm dấu Thánh Giá trước khi ăn, nhưng cũng có kẻ không làm vì có lẽ họ là người ngoại đạo .

***

Bạn thân mến! Cách thức những người bất hạnh đến xin ăn phần nào giống như cách thức những người nghe và đón nhận lời Chúa trong đoạn Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay.  Lời Chúa hôm nay mời gọi ta hãy đến với Giêsu và tin vào Ngài.  Hãy đến để được Ngài nuôi dưỡng bằng Bánh Trường Sinh, Bánh Bởi Trời, Bánh Ban Sự Sống Đời Đời .  “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống.  Ai ăn bánh này thì sẽ được sống muôn đời. Và bánh Ta ban chính là thịt Ta cho thế gian được sống.” (Ga.6:51)

Đời sống của ta là một hành trình đi về nhà Cha trên trời.  Để đến với Thiên Chúa, ta phải vượt qua sa mạc cuộc đời đầy chông gai cạm bẫy. Đường đi rất khó khăn nguy hiểm.  Những chiến đấu có thể sẽ khiến ta mệt mỏi rã rời. Ta sẽ chẳng đủ sức đi trọn con đường nếu không được nâng đỡ, an ủi.  Để giúp ta đủ sức chiến đấu và đi trọn con đường khó khăn thử thách tiến về nhà Cha. Thiên Chúa đầy tình yêu thương đã ban cho ta tấm Bánh Trường Sinh. Bánh Trường Sinh mà Chúa Cha ban cho ta chính là Đức Giêsu Kitô, người Con Một của Người.  Món quà của Chúa Cha ban cho ta được thực hiện dưới hai hình thức: Lời Chúa và Bí Tích Thánh Thể.

Đức Giêsu Kitô là Lời Ban Sự Sống của Thiên Chúa. Chính Đức Giêsu đã khẳng định điều này khi Người trả lời ma quỉ trong cơn cám dỗ: “Người ta sống không nguyên bởi bánh. Nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra”. Thật vậy, chính Lời Chúa làm cho sự sống xuất hiện.  Nhờ Lời của Thiên Chúa mà vũ trụ được tạo thành. Đức Giêsu là Lời của Thiên Chúa trực tiếp nói với nhân loại. Lời Chúa là lẽ sống.  Lời Người ban sự sống cho Ladarô, cho con trai bà góa thành Naim. Lời Người tha thứ tội lỗi cho Mađalêna, cho người phụ nữ ngoại tình, cho Giakêu. Lời Người hoán cải người phụ nữ xứ Samaria. Người đưa tất cả những người tội lỗi trở về con đường sự sống. Lời Người đã giúp cho bao thế hệ tìm thấy lẽ sống. Lời Người ban cho họ một sự sống mới, tươi trẻ, phong phú, dồi dào hơn. Chính vì thế, thánh Phêrô đã lên tiếng tuyên xưng: “Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con biết đi theo ai. Chỉ Thầy mới có những Lời ban sự sống đời đời”.

Ban Lời hằng sống chưa đủ với tình yêu thương của Người, Đức Giêsu còn ban cho ta chính bản thân Người trong bí tích Thánh Thể.  Thật là một tình yêu sâu xa tha thiết. Khi nuôi dưỡng ta bằng chính thịt máu Người, Đức Giêsu không những muốn kết hiệp mật thiết với ta trong từng thớ thịt, từng dòng máu, mà Người còn muốn ban cho ta sự sống đời đời.  Bí tích Thánh Thể là lương thực thần linh.  Lương thực thần linh ban sự sống thần linh.  Qua bí tích Thánh thể, sự sống thần linh dần dần thấm nhập bản thân ta. Đây là một tiến trình thần hóa chầm chậm.  Ta trở nên một thân thể với Đức Giêsu.  Ta sống cùng sự sống của Người, sự sống đời đời trong hạnh phúc của Thiên Chúa.

Thánh lễ chính là bữa tiệc trong đó Thiên Chúa dọn ra hai bàn tiệc:  Bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể.  Cả hai bàn tiệc cũng đều là chính Đức Giêsu. Trong thánh lễ, ta nghe lời Chúa dạy dỗ ta.  Lời Chúa chỉ cho ta con đường ngay thẳng, con đường hạnh phúc, con đường đưa ta về với Thiên Chúa. Thánh Thể Chúa ban sức mạnh giúp ta đủ sức đương đầu với những khó khăn thử thách của cuộc đời.

Bởi thế, khi tham dự thánh lễ, ta cần lưu ý lắng nghe Lời Chúa. Chúa muốn nói riêng với từng người.  Hãy lắng nghe để tìm ra điều Chúa muốn nhắn gửi.  Hãy lắng nghe để tìm ra lẽ sống.  Hãy lắng nghe để biết con đường phải đi.  Lời Chúa là con đường đưa ta tới sự thật và sự sống.

Hãy rước lễ một cách kính cẩn sốt sắng.  Phép Thánh Thể chính là một quà tặng của tình yêu Thiên Chúa.  Hãy hưởng nếm sự ngọt ngào được kề cận với Thiên Chúa.  Hãy múc lấy nơi Thánh thể nguồn sức mạnh để vượt thắng những thử thách trong cuộc đời.  Hãy để Thánh Thể uốn nắn, biến đổi ta để ta ngày càng trở nên giống Người hơn. Hãy cảm nếm hương vị thiên đàng ngay khi còn tại thế.

***

Lạy Chúa là Cha yêu thương, con cảm tạ Cha đã ban cho con chính Con Một yêu quý của Cha làm Bánh Trường Sinh nuôi dưỡng và dẫn đưa chúng con vào sự sống đời đời. Amen

Tổng hợp từ R. Veritas

ĐƯỜNG GIÊSU (có Youtube)

Băn khoăn về nguồn cội con người, thắc mắc về ý nghĩa cuộc đời, thao thức truy tìm cứu cánh của đời người đã tiếp nối bằng bao thế kỷ mà không có được câu trả lời thoả đáng.  Con người bơ vơ giữa ngã ba không biết phải đi về đâu.  Khi xuống trần, Chúa Giêsu đã cho ta biết nguồn cội của Người là Đức Chúa Cha, ý nghĩa đời Người là thi hành thánh ý Chúa Cha, và cùng đích đời Người là trở về với Chúa Cha.  Muốn về với Đức Chúa Cha, ta phải theo một con đường.  Đường ấy có tên là GIÊSU.  Đường này chắc chắn an toàn đi đến nơi về đến chốn vì Chúa Giêsu là người mở đường.  Người chính là con đường và Người là tâm điểm của đích tới.

Chúa Giêsu là người mở đường.

Đi đâu cũng cần có đường.  Không con đường nào tự nhiên có.  Phải có người mở đường.

Có người mở ra những con đường vật chất, nhờ có óc phiêu lưu mạo hiểm, có tầm nhìn bao quát, có óc tính toán thực tế.

Có người mở ra những con đường suy tư triết học, sáng tác nghệ thuật, nhờ trí tuệ thông minh xuất chúng, có tư duy sáng tạo, có trực giác bén nhạy, có trí tưởng tượng phong phú.

Nhưng không ai có thể mở con đường lên trời.  Đường lên trời hoàn toàn vượt khả năng con người.  Phải có Đấng, ấy là Chúa Giêsu, Người đã đến từ Đức Chúa Cha, nay Người trở về cùng Đức Chúa Cha.  Người lại hứa dọn chỗ cho ta trong Nhà Cha.  Với những thông tin như thế, Người đã cho ta biết Trời chính là Nhà Cha.  Quê Trời trở thành Quê Cha.  Nước Trời trở thành một cõi đi về thân thương của con người.  Con đường đi về ấy, chính Chúa Giêsu đã mở.

Chúa Giêsu là đường.

Không chỉ là người mở đường.  Chúa Giêsu chính là con đường.  Để về Nhà Cha, ta không chỉ đi theo, đi với mà còn phải đi trong Người.  Không chỉ đi trong đường lối, trong tinh thần, nhưng trong chính bản thân Người.  Như cành nho gắn liền với thân nho và sống bằng sự sống của thân nho.  Như bánh rượu tan hòa vào trong máu thịt trở nên thành phần của bản thân ta.  Như bản tính Thiên Chúa kết hợp với bản tính loài người trong bản thân Người.  Đi trong Người để ta ở trong Người như Người ở trong Chúa Cha.  Đi trong Người để ta mang hình ảnh của Người, để ai thấy ta cũng như thấy Người, như “Ai thấy Thầy là thấy Cha Thầy”.

Chúa Giêsu là đích tới của con đường.

Đi trong Chúa Giêsu là một hành trình dài.  Đi suốt cả đời chưa chắc đã tới.

Để đi trong Chúa Giêsu ta phải từ bỏ hết những gì của bản thân mình, kết hiệp trọn vẹn với Người, cũng như Người đã từ bỏ ý riêng để hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa Cha, để trở nên một với Chúa Cha.

Khi đã hoàn toàn từ bỏ hết ý riêng và trở nên một với Người cũng là lúc ta đạt tới đích điểm, là lúc ta gặp được Chúa Cha, là lúc ta ở trong Nhà Cha, là lúc ta đạt tới Quê Hương yêu dấu trên trời.

Lạy Chúa Giêsu là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, xin cho con biết đi trong con đường của Người.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

VỊ KỶ – SÒNG PHẲNG – VỊ THA

Ba hành khách cùng đi trên một chuyến tàu tới ga Tình yêu:  Sòng phẳng, Vị Kỷ và Vị tha.  Cả ba đều mang theo mình hai gói đồ:  Nhận và Cho, nhưng độ nặng nhẹ khác nhau:

Sòng phẳng: Cho = Nhận
Vị kỷ:             Cho < Nhận
Vị tha:            Cho > Nhận

Trong lúc rỗi rãi ba người tán gẫu về hành lý của mình.  Sòng phẳng lên tiếng:

– Tôi thấy hành lý của các anh lệch lạc, thật khó mang theo. Còn tôi luôn cân đối Cho và Nhận nên mang đi dễ dàng.

– Anh làm thế nào cho cân được? Vị kỷ hỏi.

–  Thì tôi phải tính chớ. Tôi chỉ cho đi khi tôi chắc có thể nhận về một lượng tương đương. Cho không hay nhận không của ai cái gì, tôi đều không thích.  Tính tôi là vậy, không muốn mắc nợ hay mang ơn.

Vị kỷ:

–  Anh nói nghe như thể đi mua hàng vậy: Tiền nhiều mua được nhiều, tiền ít mua được ít, không tiền không mua.  Nhưng tình cảm đâu thể đong đếm theo cách đó.

Sòng phẳng cười phá lên, rung cả hai vai.  Vị kỷ ngạc nhiên:

–  Tôi nói vậy không đúng à?

–  Quá đúng là khác. Tôi chỉ buồn cười là trông 2 gói hành lý của anh bên Cho thì nhẹ bên Nhận thì nặng, vậy mà anh cũng nói được câu đó.

Vị kỷ nhìn lại 2 gói đồ của mình, gật đầu.  Sòng phẳng thoáng bâng khuâng:

–  Không phải lúc nào tôi cũng sòng phẳng cả đâu.  Có những người cho tôi nhiều mà tôi không cho lại được là mấy.  Ví như tình yêu cha mẹ cho tôi gần như vô hạn, chẳng kể tôi có đáp lại hay không. Vậy là tôi Nhận nhiều hơn Cho.  Với con cái thì tôi Cho chúng nhiều hơn Nhận về.  Cũng nhờ có sự bù trừ như vậy mà 2 gánh hành lý của tôi thường cân nhau.

Vị kỷ tán thành:

– Tôi thấy kiểu hành lý của anh giờ đang thịnh hành. Nhiều người thích sòng phẳng cả trong tình yêu theo kiểu:  “Ông rút chân giò, bà thò chai rượu”.

Sòng phẳng trầm ngâm:

– Đôi khi tôi cũng không thích sống thế này đâu. Luôn phải tính toán nhiều – ít, luôn phải dừng gánh để sẻ từ bên này sang bên kia.  Tôi thấy mệt mỏi và nhiều lúc trống rỗng, vô cảm.

Vị kỷ:

– Tôi cũng giống anh, luôn phải so đo tính toán. Nhưng tôi phải tính sao cho Nhận về mình nhiều hơn.  Tôi chỉ thích nghĩ cho mình thôi mà.

– Nhận nhiều như thế anh có hài lòng không? Sòng phẳng hỏi.

– Chả mấy khi tôi vừa lòng. Tôi luôn canh cánh trong lòng: Mình có bị mất mát gì không?  Cho như thế có nhiều quá không?

– Anh có người yêu không?

– Có chứ. Tôi rất yêu người yêu tôi là đằng khác.  Nhưng tôi luôn lo sợ.  Tôi sợ mình cho nhiều quá lỡ tình yêu bỏ tôi đi thì tôi chẳng được gì.  Tôi không muốn nhận về tay trắng.  Đó là nỗi ám ảnh của tôi.

Tàu qua cầu vượt sông Âu Io.  Tiếng xình xịch của đầu máy át lời tâm sự của Vị kỷ.  Qua khỏi cầu, tiếng ồn dịu lại, Vị kỷ và Sòng phẳng lúc này mới nhớ tới người bạn đồng hành thứ ba.  Vị tha nãy giờ vẫn yên lặng lắng nghe.  Khi thấy hai bạn hướng mắt về mình mới khẽ khàng cất lời:

– Hai anh đều có lý lẽ của mình. Lập luận của anh Sòng phẳng thuần túy là của bộ óc, không có mấy liên hệ đến trái tim.  Chính vì vậy anh luôn thấy căng thẳng, mỏi mệt và đôi khi trống rỗng.  Còn anh Vị kỷ yêu ghét rõ ràng, nhưng tình yêu của anh là “vì mình, cho mình”.  Bởi yêu mình quá mà anh thường trực lo sợ.  ôi nói vậy có phải không hai anh?

Vị kỷ và Sòng phẳng đang mải nghĩ ngợi nên không trả lời.  Vị tha nói thêm:

– Anh Sòng phẳng nói đúng: Hành lý của tôi không cân – Cho nhiều hơn Nhận. Ấy là vì tình cảm xuất phát tự đáy lòng thì rất chân thành và giản dị.  Nó thấy rằng Cho là lẽ tự nhiên, không gì vui bằng làm cho người mình thương yêu được hạnh phúc.  Niềm vui khi dâng tặng làm vơi gánh nặng của tôi, cho tôi sự thanh thản, đủ đầy.

– Đủ đầy? Sòng phẳng và Vị kỷ cũng thốt lên.  Cho là mất chứ, cho nhiều thì phải còn ít đi mới phải.

Vị tha mỉm cười:

– Đấy là về mặt vật chất, là quy luật trong Toán học thôi. Quy luật của tình yêu thì khác.  Lát nữa đến nơi, tôi sẽ chỉ cho các anh.

Vị kỷ và Sòng phẳng nhìn gánh hành lý của Vị tha, lại nhìn hành lý của mình, lòng chưa hết băn khoăn.  Cũng vừa lúc tàu đến ga Tình yêu.  Tàu chạy chậm dần, chậm dần rồi dừng hẳn.

Ngước nhìn vào sân ga, Sòng phẳng và Vị kỷ đều trông thấy dòng chữ có nội dung Vị tha vừa nhắc đến.  Hai người rất đỗi ngạc nhiên vì họ đi trên chuyến tàu nhiều lần, đến ga Tình yêu đã nhiều mà chưa bao giờ thấy hàng chữ đó.  Thực ra quy luật của Tình yêu luôn có ở đó, nhưng chỉ những ai có trái tim nhạy cảm mới thấy và thấu hiểu.

Tôi sẽ không nói hàng chữ trên sân ga Tình yêu nói gì vì tôi chắc bạn cũng đoán ra được.

Để kết thúc câu chuyện, tôi chỉ xin tiết lộ về những người sẽ đón 3 hành khách của chúng ta cùng hành lý Cho và Nhận của mỗi người:  Đón Sòng phẳng là Khô khan, Vị kỷ sánh đôi cùng Bất an, và người đón đợi Vị tha chính là Hạnh phúc.

Trích:  Hoathuytinh.com

*****

Lạy Chúa từ nhân xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Lạy Chúa xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm; để con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng; để con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu.
Lạy Chúa xin hãy dạy con tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu. Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân; vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.
Ôi Thần Linh thánh ái xin mở rộng lòng con, xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí ơn an bình!

VIRUS MÁY TÍNH

Phần đông những người sử dụng máy tính đều đã có ít nhiều “kinh nghiệm thương đau” với những con virus quái ác: mấy cái phím không còn “dễ bảo” như trước nữa, mình đánh một đường chúng nó ra một nẻo, mình ra lệnh này nó làm theo lệnh khác, nó như con ngựa bất kham muốn chạy đi đâu thì chạy, tựa như cái giống “viên tâm mã ý” mà các bậc tiền bối thời xưa đã nói.  Cuối cùng thì chủ nhân của nó đành chấp nhận chào thua, phải format dĩa cứng và cài đặt lại tất cả.  Thiệt là bó tay!

Tôi cũng từng là nạn nhân của virus máy tính, không chỉ một mà đến mấy lần.  Lần nặng nhất khiến tôi đâm ra bực bội và xém bị stress!  Phải vận đến mấy “thần công lực” tôi mới bình tĩnh trở lại để thanh thản mà làm việc.  Tôi có “ngẫu hứng lý qua cầu” viết một bài than vãn ngắn như sau:

Chỉ là hoặc “có” hoặc “không”,
Hại nhau chi để lòng thòng dây dưa.
Phím này chẳng giống phím xưa!

Hồi mới bắt đầu dùng máy tính, tôi chẳng hiểu con virus là gì mà tác hại ghê gớm đến thế: nó phá được máy của mình, rồi còn “lây” qua những máy khác nữa chứ.  Thiệt là dễ sợ! Không biết nó có “bà con cô bác” gì với mấy con virus gây bệnh gây dịch nơi người hay không?  May thay tôi được mấy anh bạn trong công ty giải thích nên nỗi “ám ảnh” của virus máy tính đã được giải toả êm thấm.

*****

Bây giờ thỉnh thoảng nghĩ lại, tôi thấy con virus máy tính đầu tiên sao mà có nét tương tự với “tội nguyên tổ” đến thế:  Khi loài người phát minh ra được máy tính, ai nấy đều mừng rỡ vì quả thật “một kỷ nguyên mới” đã ra đời.  Một kỷ nguyên hoàn toàn mới mẻ “trinh nguyên” so với những thời đại trước đó.  Máy tính quả thật đã giúp cho nhân loại tiến những bước nhảy vọt trong hầu khắp mọi lãnh vực, nhất là khi hệ thống internet toàn cầu ra đời.  Một chân trời mới rạng rỡ ánh huy hoàng đang mở ra trước mắt nhân loại, có thể nói ví von: như cảnh huy hoàng an lạc của “vườn địa đàng” trong thời Sáng Thế.

Vậy mà không dưng có một ai đó ngứa ngáy tay chân “chế” ra một con virus, rồi thả nó đi lang thang để quấy nhiễu kẻ khác, làm cái “thế giới máy tính” đang an bình hoan lạc bỗng rối tung cả lên.  Con virus đầu tiên này đã kích thích máu “anh hùng” trong thiên hạ, thế là “người ta” đua nhau “đẻ” ra đủ loại virus, mỗi ngày một tinh vi hơn, mỗi ngày một tàn phá dữ dằn hơn, tương tự như tội lỗi của Ađam-Eva đã dẫn đến vô số tội lỗi của con cháu sau này, mỗi một lúc thêm trầm trọng hơn.  Cứ nhìn vào danh sách virus được các chương trình antivirus liệt kê thì thấy rõ mức độ bành trướng kinh khủng của con cái “sự dữ” này!

Thì ra con người không khi nào chịu bằng lòng với cuộc sống thanh bình an lạc mà trời đất đã ban cho. Đang ở yên, người ta lại “ngứa ngáy tay chân” quậy lung tung tứ phía, không sinh ra cái này thì cũng đẻ ra cái nọ cho thoả mãn máu “anh hùng”.  Kết cuộc là con người đâm ra làm hại chính mình và phá hoại cả sự bình yên của những người khác.  Thiên đàng hạ giới, nếu có, thì cũng không thể tồn tại được lâu dài!

*****

Virus máy tính do con người tạo ra đã tai hại đến thế.  Còn những virus do Satan “chế” ra thì lại càng tác hại hơn nhiều.  Chúng thâm nhiễm vào mọi ngõ ngách của cuộc sống con người, chúng làm đảo lộn mọi quan hệ tốt lành giữa con người với Thiên Chúa, giữa con người với chính mình và giữa con người với nhau.  Làm thế nào để diệt trừ mọi thứ virus “made by Satan” đang phá hoại sự an lành trên mặt đất?  Làm thế nào để xây dựng và duy trì được cuộc sống bình an hoan lạc?  Thưa: chỉ có cách là nối kết liên tục với Đấng là Thủ Lãnh Hoà Bình.  Chúa Giêsu là Nguồn Bình An Vĩnh Cửu.  Nếu nói theo ngôn ngữ computer thì Ngài là Máy Chủ chuyên trị virus trong linh hồn con người, là Server Antivirus.  Muốn thoát khỏi virus của Satan, chúng ta phải online 24/24 với Chúa Giêsu để nhờ ơn soi sáng của Ngài mà phát hiện được đòn phép của ma quỷ, nhờ sức mạnh và quyền năng của Ngài – nhất là qua bí tích Giải Tội – mà diệt trừ và tẩy xoá được những tác hại mà “virus tội lỗi” gây ra trong linh hồn chúng ta.  Nếu chúng ta giữ vững mối kết hiệp với Chúa Giêsu trong mọi giây phút của ngày sống, thì chúng ta sẽ thoát khỏi những nguy hiểm do ma quỷ giăng mắc tứ phía và chúng ta sẽ được sống bình yên hoan lạc trong vòng tay che chở của Ngài.

*****

Lạy Chúa Giêsu là Server AntiSatan của con, xin Chúa giúp con luôn kiên trì online với Chúa để con tránh được mọi cạm bẫy của ma quỷ trong cuộc sống hằng ngày, hầu con khỏi bị huỷ hoại bởi “virus tội lỗi” cũng như khỏi trở thành nơi phát tán chúng ra làm hại đến anh chị em chung quanh. Amen./.

Trầm Tĩnh Nguyện