NƠI CHÂN TRỜI VÀ MẶT ĐẤT GIAO NHAU (có Youtube)

Có hai nhà đạo sĩ kia, một hôm đọc thấy trong một cuốn sách khảo cổ cho biết: có một nơi chân trời và mặt đất giao nhau.  Hai nhà đạo sĩ bèn quyết định lên đường đi tìm cho được nơi chân trời và mặt đất giao nhau như trong sách đã cho biết.  Hai ông còn thề nguyền sẽ không trở về bao lâu chưa tìm được nơi trời đất giao nhau đó.  Bởi vì hai ông được biết ở nơi đó sẽ có một cánh cửa mở ra chân trời.  Khi cửa mở ra, người ta sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

Sau một cuộc hành trình lâu dài và gian khổ, hai nhà đạo sĩ đã tìm được nơi chân trời và mặt đất giao nhau.  Hai ông cũng đã mở được cánh cửa trời…  Nhưng đến lúc bước vào cửa trời, hai ông hết sức bỡ ngỡ, vì hai ông gặp lại chính căn phòng quen thuộc của mình…  Lúc ấy hai ông mới hiểu: con đường lên trời bắt đầu từ mặt đất này, trong đời thường, nơi mình đang sống hằng ngày.

Anh chị em thân mến, đường lên trời bắt đầu từ mặt đất này, nơi “Trời Mới Đất Mới” sẽ xuất hiện trong ngày Chúa chúng ta “trở lại cũng một cách y như Ngài đã lên trời.”  Chúa lên trời không có nghĩa là Ngài ra đi.  Bởi vì ra đi là để lại sự vắng mặt.  Đàng này, Chúa không để chúng ta đơn độc, Ngài còn “ở lại với chúng ta mãi cho đến tận thế.”

Chúa lên trời là Chúa “khuất dạng”, không còn hiện diện bằng xương bằng thịt trước mắt chúng ta nữa, để bắt đầu một sự hiện diện ẩn khuất, nghĩa là Chúa vẫn có mặt đó mà chúng ta không thấy được.  Ngài vẫn ở giữa chúng ta, trong những nơi mà Ngài đã dạy chúng ta biết để nhận ra Ngài: trong Lời Chúa, trong các bí tích, trong anh chị em, trong những người nghèo khổ…  Ngài không chỉ hiện diện mà còn ở, còn cư ngụ.  Một chỗ ở có ý nghĩa sâu sắc hơn một sự hiện diện: Người ta có thể hiện diện trên đường phố, còn ở thì chỉ ở trong nhà mà thôi.  Thiên Chúa chỉ muốn có một chỗ ở, một ngôi nhà riêng của Ngài và ngôi nhà đó là chính chúng ta: “Ngài ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế”, Ngài ở với chúng ta như ở trong ngôi nhà của Ngài.

Khi nói “Chúa lên trời ngự bên hữu Chúa Cha” hay khi cầu nguyện: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”, chúng ta đừng tưởng Chúa ở xa cách chúng ta.  Ngài ở trên các tầng mây xanh.  Không!  Nếu đóng khung Chúa ở trên trời là chúng ta bắt Ngài phải di tản.  Chúng ta đánh mất Ngài!  Nhưng qua kiểu nói tượng hình của Kinh Thánh, chúng ta hãy hiểu việc Chúa lên trời là một cuộc thăng quan tiến chức, được thêm uy quyền, hiệu năng, và do đó được hiện diện một cách sâu đậm, thắm thiết hơn, chứ không phải một cuộc thăng thiên xét theo không gian, khiến Ngài xa lìa thế giới chúng ta.

Vì vậy, thiên sứ phải lay tỉnh các môn đệ đang mải mê nhìn lên trời: “Hỡi các ông, người Galilê, thôi đừng đứng đó mà nhìn lên trời nữa!”  Nhưng hãy đi mở mang Nước Chúa và sự hiện diện của Ngài bằng cách hoàn thành công trình đang dang dở của Ngài ở trần gian này: “Hãy đi đến với muôn dân, làm phép Rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.  Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em, để muôn dân trở nên môn đệ của Thầy.”  Đó, như thế Chúa lên trời là để khởi đầu sứ vụ của Giáo Hội: Các môn đệ phải ra đi làm chứng về sự sống lại của Chúa Giêsu, không phải chỉ ở Giêrusalem và nơi những người Do Thái mà thôi, mà còn ở khắp nơi, cho đến tận cùng trái đất và nơi tất cả dân tộc.

Anh chị em thân mến, từ ngày Chúa lên trời, sứ mạng của chúng ta là phải đi vào trần gian, trở về với thực tế, nhìn kỹ vào cuộc sống của nhân loại, của mọi người anh em trên mặt đất này, để cùng với mọi người ra sức xây dựng Nước Trời đang thành hình ngay trong trần thế này, giữa thế giới hôm nay, tùy theo mức độ chính thế giới này có thể hiện được tình thương, có phản ảnh được tình yêu vô biên của Thiên Chúa hay không.  Đúng theo tinh thần của Tin Mừng: Nước Trời không phải chỉ là chuyện đời sau, mà còn phải là thực tế hiện tại: như hạt cải trong thửa vườn, như men trong bột, như muối cho đời: “Nước Trời ở giữa anh em.”

Như thế, thưa anh chị em, Thiên Chúa không đóng đô ở riêng một chỗ nào trong không gian, trên các tầng trời.  Ngài ở bất cứ nơi nào có tình yêu thương.  Nếu cứ luyến tiếc nhìn lui lại quá khứ, hãy mải mê ngước mắt lên trời, chúng ta sẽ quên rằng Thiên Chúa đang ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế.  Thiên Chúa đang hiện diện bất cứ nơi nào có tình yêu thương nhau, đùm bọc nhau, chia sẻ cho nhau.  Và chỗ nào có một cộng đoàn, một xã hội như vậy, lớn hay nhỏ, đang thành hình thì từ chỗ đó, Nước Trời đang bắt đầu hiện diện.

Trái lại, chỗ nào người ta còn giành giựt nhau, còn áp bức, khai thác, bóc lột nhau, còn coi nhau như thù nghịch, thì khỏi cần tìm địa ngục ở đâu xa hơn nữa: địa ngục đang bắt đầu từ chỗ đó.  Thiên đàng hay địa ngục, chúng ta đang bắt đầu xây dựng hay đào sâu ngay từ trong cuộc sống chúng ta hôm nay.

Vậy, ngày Chúa lên trời, thay vì chỉ mải mê nhìn lên trời, thụ động trông chờ ngày Chúa trở lại, chúng ta hãy nhìn xuống mặt đất, hãy cùng nhau góp sức xây dựng con đường lên trời ngay từ mặt đất này; vì chính từ mặt đất này mà “Trời Mới Đất Mới” sẽ xuất hiện trong ngày Chúa chúng ta “trở lại cũng một cách y như Ngài đã về trời.”

Công đồng Vaticanô II đã nói: “Vẫn biết rằng quê hương vĩnh cửu của chúng ta không phải ở trần gian này và chúng ta chỉ đi qua để về quê hương trên trời, nhưng thực là sai lầm, nếu vì đó mà nghĩ rằng mình có thể xao lãng nghĩa vụ của mình ở trần gian” (Mv 43,1b).  Vì thế, trông đợi “Trời Mới Đất Mới” không những không làm giảm bớt mà còn tăng thêm nơi chúng ta ý chí xây dựng trời đất hiện tại này.  Bởi vì xây dựng trời đất hiện tại là xây dựng “Trời Mới Đất Mới” (MV 39,2a), là xây dựng quê hương vĩnh cửu của chúng ta vậy.

Trích trong “Niềm Vui Chia Sẻ”

 *********

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã yêu trái đất này, và đã sống trọn phận người ở đó.  Chúa đã nếm biết nỗi khổ đau và hạnh phúc, sự bi đát và cao cả của phận người.  Xin dạy chúng con biết đường lên trời, nhờ sống yêu thương đến hiến mạng cho anh em.  Khi ngước nhìn lên quê hương vĩnh cửu, chúng con thấy mình được thêm sức mạnh để xây dựng trái đất này, và chuẩn bị đón ngày Chúa trở lại.

Lạy Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Thiên Chúa, xin cho những vất vả của cuộc sống ở đời không làm chúng con quên trời cao; và những vẻ đẹp của trần gian không ngăn bước chân chúng con tiến về bên Chúa.  Ước gì qua cuộc sống hằng ngày của chúng con, mọi người thấy Nước Trời đang tỏ hiện.  Amen!

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

CON ĐANG TÌM MẸ CON (có Youtube)

“…Năm 1949 chúng tôi hiểu được đôi điều mới về Mẹ Maria.  Sự hiểu biết đầu tiên là thấy Mẹ Maria chính là Lời Chúa sống động; Ngài được mặc bằng Lời Chúa.  Mẹ Maria là Phúc Âm hằng sống.  Nếu Ngôi Lời là vẻ đẹp, là sự chói ngời của Chúa Cha, thì Mẹ Maria là một thụ tạo với bản chất là Lời Chúa và Người có vẻ đẹp không ai sánh bằng.

Việc Mẹ Maria chính là Lời Chúa sống động được nói lên rõ ràng nơi bài ca chúc tụng (Magnificat); bài ca độc đáo vì những câu Kinh Thánh trong đó.  Điều này cho thất rõ ràng Mẹ Maria được nuôi dưỡng bằng Kinh Thánh đến độ Người có thói quen dùng Lời Kinh Thánh…

Sự hiểu biết này (Mẹ Maria là Lời Chúa được thực hiện) đã đánh động chúng tôi rất sâu xa… Trong tính cách đặc biệt và toàn thiện của Người, Mẹ Maria nói lên điều mọi người Kitô hữu phải trở thành: đó là một Kitô khác, là sự Thật, là Ngôi Lời, từ con người mà Thiên Chúa đã ban cho họ…”

Đây là kinh nghiệm của bà Chiara Lubich về Mẹ Maria.  Mẹ Maria là Phúc Âm được hoàn toàn đem thực hiện (She is the Word of God perfectly put in practice).  Kể cả anh chị em Tin Lành cũng chấp nhận cái nhìn này về Mẹ Maria.  Khi nhìn vào Mẹ, chúng ta thấy kết quả của Phúc Âm đã được đem thực hiện: từ Phúc Âm được sinh ra một con người cao đẹp, giống như Chúa Giêsu hay là một cộng đoàn như Gia Đình Nazareth.

Đây chính là điều mà Mẹ Maria mong ước nơi chúng ta, là con cái của Mẹ: sống Lời Chúa, sống theo tinh thần Phúc Âm, chứ không phải theo logic của thế gian.  Đó có nghĩa là sống như chính Mẹ đã sống.  Nói một cách khác, Mẹ muốn chúng ta phúc âm hóa lối sống chúng ta.  Người sẵn sàng giúp chúng ta trong việc này!

*********

Lúc đó chừng bảy giờ tối, Linh mục chánh xứ vào nhà thờ để đóng cửa.  Cha đi khập khễnh vì tuổi già.  Tới gần cửa, linh mục thấy một em bé chừng sáu tuổi đang đứng trong bóng tối nhà thờ.
–  Con đang làm gì đấy?
–  Con… đang tìm mẹ con!
–  Tìm mẹ con?  Con thấy rõ đây không còn ai nữa.  Về nhà đi, giờ này chắc mẹ con đang dọn cơm cho con.
–  Không!  Bà ở nhà không phải là mẹ con!  Em bé trả lời với giọng mạnh mẽ.
Linh mục tiếp tục nói với giọng êm dịu hơn vì phỏng đoán một thảm trạng trong gia đình em bé.
–  Trời ơi!  Nếu mẹ con không ở nhà, sao con đến đây tìm ngài?
–  Vì các bạn con đi học giáo lý nói rằng tại nhà thờ có Mẹ của tất cả mọi người.
–  Đây ah?… Đúng.  Con nói đúng lắm!  Đây có Mẹ của tất cả mọi người.  Cha sẽ cho con xem Mẹ con, mời con theo cha.
Linh mục cảm thấy rất cảm động vì lời nói và sự khổ tâm của em bé ngây thơ đó.  Cha cầm tay em, đưa nó đi trong ánh chạng vạng của nhà thờ đến trước tượng Đức Mẹ Maria bên cạnh bàn thờ.  Cha mở đèn, đột nhiên xuất hiện trong ánh sáng khuôn mặt êm dịu và mỉm cười của Mẹ Maria, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao sáng láng.
–  Con thấy chưa?  Đây là Mẹ của tất cả chúng ta, là Mẹ của Chúa Giêsu…
–  Con muốn cầu nguyện với cha xin Mẹ cho người đàn bà không phải là mẹ của con rời nhà con và đừng bao giờ trở lại nữa được không?

Linh mục và em bé đọc vài kinh “Kính mừng…” sau đó em ra về.

Tám ngày sau, một người đàn ông cũng vào nhà thờ và quỳ xuống trước tượng Đức Mẹ Maria cầu nguyện.  Sau đó ông xin gặp linh mục và nói:

–  Con mới đuổi người đàn bà không phải là vợ con đi!  Đây là cái gì vượt trên sức con…  Chỉ nhờ sức mạnh Mẹ Maria đã ban cho con, con mới đủ can đảm trở về với vợ con.  Xin cha thêm lời cảm tạ Đức Mẹ với con…

(Fr. Mariano from Turin)

*********

Ông bố của em bé đã đến sùng kính Mẹ Maria sau khi ông đã đổi mới lối sống của ông.  Mẹ Maria không phải chỉ phúc âm hóa chính Ngài thôi, mà còn muốn giúp chúng ta sống theo ý Chúa, theo tinh thần Phúc Âm.  Khi sống theo Phúc Âm, chúng ta trở nên giống như Đức Giêsu.  Vì thế, có thể nói rằng nhiệm vụ của Mẹ Maria trong Giáo Hội là khắc ghi hình ảnh Chúa Giêsu trong tâm hồn chúng ta.

Mẹ Maria mong muốn nơi chúng ta điều này nhất; đó là biến hình tâm hồn chúng ta thành hình dáng Đức Giêsu.  Nếu chúng ta lo sùng kính Mẹ Maria bằng dâng hoa, rước kiệu, lần chuỗi, đi hành hương Thánh Mẫu… mà đồng thời không lo phúc âm hóa tâm hồn mình, thì chúng ta không đẹp lòng Mẹ, ta làm cho Mẹ bất mãn về chúng ta.

Hai tháng Năm và Sáu giúp chúng ta nên xét mình lại: Mẹ Maria đối với tôi là ai?  Một Đấng mà phải sùng kính bằng hoa, lần chuỗi… chăng?  Một Đấng mà chúng ta cầu xin khi cần một điều gì đó?  Hay Người là mẫu mực mà ta cố gắng bắt chước trong đời sống hàng ngày?  Việc sùng kính Mẹ Maria có giúp mình thay đổi không?  Có giúp mình thấm nhuần tinh thần Phúc Âm không?

Chúng ta phải lo sống như Mẹ Maria vì Ngài là hình ảnh hoàn thiện nhất của Đức Giêsu.  Bằng cách nào?  Bằng cách sống thinh lặng, khiêm nhường, hiền lành, trong sạch, yêu thương, quên chính mình…  Đây là chương trình cho cả đời sống chúng ta!

Thân ái,

Gildo Dominici, SJ
(Trích báo Ðồng Hành – tháng 5 và 6/1992)

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

HÃY NHÌN XUỐNG ĐỂ THẤU HIỂU VÀ SẺ CHIA (có Youtube)

Xã hội phát triển, đồng nghĩa đời sống vật chất và tinh thần con người ngày càng được nâng lên.  Tuy nhiên, nhiều người trong chúng ta lại không cảm thấy hạnh phúc dù họ không hề thiếu thứ gì.  Họ khó chịu, mệt mỏi khi gặp chuyện không vừa ý, khi thua kém người khác hay khi không được thỏa mãn điều gì đó,… và thường nghĩ rằng mình là người bất hạnh nhất, cảm thấy trên đời không ai khổ bằng mình.

Vậy nếu bạn cảm thấy mình là người bất hạnh nhất thì ai sẽ là người hạnh phúc nhất?  Câu trả lời là chẳng có ai!  Bởi cuộc sống này không có điều gì là toàn mỹ, không có gì là toàn nhất cả.  Được cái này thì mất cái kia!  Hãy nhìn rộng ra và làm vài phép so sánh, bạn sẽ thấy mừng vì mình chưa phải người bất hạnh nhất đâu.

Nếu bạn cảm thấy việc học đối với bạn quá nhàm chán, luôn là một gánh nặng và bạn muốn bỏ cuộc thì hãy nhìn sang những đứa trẻ trong lớp học tình thương hay những em nhỏ sáng đánh giày, tối học trong lớp bổ túc văn hóa, chắc chắn bạn sẽ rút lại ý định bỏ học của mình.

Cuộc sống này không có điều gì là toàn mỹ, không có gì là toàn nhất cả. Hay khi bạn cảm thấy căn nhà mình ở quá “ngột ngạt”, không đủ rộng lớn đối với mình thì hãy thử sống trong khu ổ chuột để biết cảm giác thiếu thốn, ngột ngạt thật sự nó như thế nào.

Cảm giác bị ba mẹ mắng thật không dễ chịu chút nào!  Nhưng liệu có bằng cảm giác của người không còn ba mẹ la rầy hay phải chứng kiến gia đình “mỗi người một nơi” không?  Bạn có thể tự trả lời được.  Còn nhiều điều, nhiều điều khác lắm nhưng chỉ qua vài ví dụ như vậy cũng có thể thấy ta vẫn còn sung sướng hơn nhiều người.

Hôm trước tôi có xem một đoạn phóng sự trên TV về tình hình chiến sự tại Syria, một phóng viên đã hỏi những người tị nạn một câu như thế này :

– Nếu được ước, các anh sẽ ước gì?

Tất cả đều trả lời :

– Chúng tôi chỉ muốn kết thúc chiến tranh, chúng tôi chỉ muốn trở về nhà sống cuộc sống yên bình.

Trong khi chúng ta mãi lo nghĩ làm sao để sống giàu có, phủ phê thì những người tị nạn Syria chỉ mong ước đất nước kết thúc chiến tranh để có thể bình yên trở về nơi “chôn rau cắt rốn” của mình.  Thế mới biết, trong lúc khó khăn, nguy hiểm thì điều chúng ta cần nhất chính là bình yên thật sự.

Bạn tôi có lần kể cho tôi nghe chuyện về một ca sĩ hát nhạc cổ điển rất nổi tiếng.  Cô từng kết hôn với một người chồng giàu có và rất hạnh phúc.  Một hôm, cô đến một quốc gia láng giềng để trình diễn, và đêm trình diễn đó rất thành công.  Sau buổi diễn, khi cô bước ra khỏi nhà hát cùng với chồng và con trai, phóng viên điện ảnh liền đua nhau tới phỏng vấn.

Mọi người đều ca tụng và ngưỡng mộ người ca sĩ.  Họ ca ngợi cô vì cô đã nổi tiếng ngay sau khi tốt nghiệp đại học, lại được bầu là một trong mười người chơi nhạc cổ điển hay nhất trên thế giới ở tuổi 25.  Một số người ca ngợi rằng cô có chồng giàu, làm chủ một công ty rất lớn và có một con trai rất xinh xắn, luôn luôn mỉm cười.

Trong khi mọi người nói những lời có cánh, người ca sĩ chỉ lắng nghe.  Sau đó, cô bắt đầu nói rất chậm rãi: “Trước hết tôi muốn cám ơn tất cả mọi người vì lời ca ngợi về tôi và gia đình tôi, và tôi hy vọng tôi cũng qúy mến những điều này như các bạn.  Tuy nhiên, các bạn chỉ thấy một phần và đã không nhìn thấy những phần khác.  Sự thật là, đứa con trai xinh xắn của tôi mà các bạn nói rằng luôn luôn tươi cười thật ra bị câm.  Ngoài ra, bé còn một người chị ở nhà cũng đang mắc bệnh tâm thần, cháu bị giữ trong căn phòng chắn bằng các thanh sắt trên cửa sổ năm này qua năm khác.”

Nghe cô ca sĩ nói, đám đông im lặng nhìn nhau.  Cô ca sĩ tiếp tục nói một cách bình tĩnh: “Ðiều này cho chúng ta biết những gì?  Tôi tin rằng chỉ có một lời giải thích, đó là Thượng Đế ban tình thương cho mọi người rất công bằng.”

Câu chuyện của cô ca sĩ cho ta thấy Thượng Đế rất công bằng bởi trong vũ trụ chúng ta đang sống luôn tồn tại một pháp lý: có được, có mất.

Con người ta thường dễ sa đà vào những thứ phù phiếm mà thường bỏ quên những thứ đáng quý ở thực tại.  Ước mơ, khát khao sống tốt hơn là chính đáng nhưng chẳng may không đạt được cũng đừng quá buồn bởi còn nhiều người khó khăn hơn gấp vạn lần ta. Hãy mở lòng ra, nhìn xung quanh với ánh mắt từ bi và bao dung, sẽ biết rằng ta còn may mắn hơn rất nhiều người, và đó cũng là một lý do để ta cảm thấy thêm yêu đời.

Thượng Đế cho ta cái cổ không những để ta ngước lên trên phấn đấu mà còn để ta nhìn xuống để thấu hiểu, chia sẻ với những mảnh đời còn khó khăn, bất hạnh.

Hoàng An

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

TRỞ NÊN HÌNH ẢNH CHÚA GIÊSU (có Youtube)

Nhiều lần Chúa Giêsu nói về Chúa Cha khiến các môn đệ đâm ra tò mò.  Chúa Cha là Ai?  Ngài ở đâu?  Ngài là Đấng thế nào?

Thế nên Philípphê mới đề nghị với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.”

Dùng ngôn ngữ vốn rất hạn hẹp của con người để diễn tả mầu nhiệm cao vời về Chúa Cha thì khác chi lấy gang tay đo chín tầng trời.  Vì vậy, thay vì dùng lời để diễn giải, Chúa Giêsu dùng phương pháp trực quan.  Ngài chỉ cho Phi-líp-phê cũng như các môn đệ xem chân dung, xem hình ảnh đích thực của Thiên Chúa Cha.  Chân dung đó, hình ảnh đó chính là Ngài: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha.”

Tiếp theo, Chúa Giêsu cũng tỏ cho các môn đệ biết giữa Ngài và Chúa Cha có một mối hiệp thông hết sức mật thiết.  Những lời Chúa Giêsu nói chính là những lời của Chúa Cha được phát ra qua môi miệng Chúa Giêsu: “Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra.  Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình” (Ga 14,10).  Những gì Chúa Giêsu thực hiện trong cuộc đời đều cũng là những hành động của Chúa Cha…

Thế là Chúa Cha tự tỏ mình qua Chúa Giêsu.  Nhìn vào Chúa Giêsu, nhân loại sẽ biết được Thiên Chúa Cha.

*******

Thánh Athanasiô đã diễn tả chân lý nầy như sau: “Chúa Cha được bày tỏ qua Chúa Con và Chúa Con được bày tỏ qua Giáo Hội.”  Nói khác đi, Chúa Con là hình ảnh trung thực của Chúa Cha, còn Giáo Hội là hình ảnh trung thực của Chúa Con, và chúng ta, vì là thành phần của Giáo Hội, nên cũng phải là hình ảnh trung thực của Chúa Giêsu.

Theo nhật báo Chứng Nhân kitô hữu (Témoignage Chrétien), vào năm 1941 có một vị linh mục bị Đức Quốc Xã giam trong trại tập trung dành cho người gốc Do thái.  Như bao tù nhân khác, ngài cũng bị hành hạ và ngược đãi thậm tệ.  Tuy nhiên ngài vẫn vui vẻ và luôn sẵn sàng giúp đỡ anh em đồng cảnh ngộ đang lâm vào tình trạng khủng hoảng và tuyệt vọng.

Trong cảnh tù đày đói khát, một vụn bánh còn quý hơn vàng, vậy mà ngài dám chia sớt phần ăn ít ỏi của mình cho những bạn tù yếu sức hơn.

Những lúc trời rét buốt xương, tấm áo len được xem là kho tàng vô giá, thế mà có lần ngài tặng không chiếc áo len đang mặc cho bạn tù đang lâm trọng bệnh nằm run cầm cập trong xó nhà.

Ngài là nhịp cầu yêu thương giữa những kẻ bất hoà, đem sự khích lệ tinh thần cho những tâm hồn sầu muộn…  Ngài đã cứu được mấy bạn tù tuyệt vọng khỏi tự huỷ mình nhờ những khuyên lơn an ủi…  Vì thế, các tù nhân trong trại rất yêu quý và xem ngài như người cha thứ hai.  Họ đều gọi ngài cách thân thương là… Bố.

Trong trại tù còn có một thanh niên bụi đời, lớn lên nơi đầu đường xó chợ, căm hờn mọi người, không ngần ngại phạm bất kỳ tội ác nào.

Vị linh mục khả ái từng bước tiếp cận, trò chuyện, giúp đỡ, khuyên răn, và cuối cùng đã cảm hoá được chàng thanh niên chai đá và tưởng chừng như vô phương cứu chữa nầy.  Ngài cũng mong ước dần dần dẫn dắt cậu về với đạo thánh Chúa.

Thế rồi, một hôm, có lệnh chuyển cha sang trại Ao-sơ-vích (Auschwitz), một trại tập trung mà chỉ mới nghe danh xưng, mọi trại viên đều phải kinh hoàng.  Đó là lò hủy diệt con người bằng những hầm hơi ngạt và lò thiêu xác.

Trước khi chia tay với các bạn tù và đặc biệt với cậu thanh niên mới hoàn lương, ngài quyết định phải giới thiệu đôi nét về Chúa Giêsu cho cậu với hy vọng cậu sẽ trở thành người con Chúa.

Ngài vỗ vai cậu và ôn tồn nói “Này, con yêu của Bố, đã từ lâu Bố rất mong con nhận biết và trở thành môn đệ Chúa Giêsu .”

Cậu thanh niên thưa lại: “Nhưng con chưa biết gì về Chúa Giêsu cả.  Bố có thể kể sơ lược về Ngài cho con biết được không?”

Biết mình không còn thời gian để giới thiệu dông dài vì giờ chuyển trại sắp đến, vị linh mục già thinh lặng cúi đầu, cầu nguyện giây lát, rồi ngài ngẩng lên khiêm tốn đáp: “Chúa Giêsu mà Bố muốn cho con tin và yêu mến, Ngài giống như Bố đây!”

Bấy giờ cậu thanh niên nhìn thẳng vào mắt ngài cách trìu mến và chân thành đáp lại: “Nếu Chúa Giêsu mà giống Bố thì có thể một ngày nào đó, con sẽ tin và yêu mến Chúa Giêsu!”

Sau thế chiến thứ hai, người ta không còn gặp lại vị linh mục nầy nữa. Còn cậu thanh niên thì được sống sót qua các trại tập trung trở về với gia đình, và đã thuật lại câu chuyện trên đây về một mục tử đã thực sự trở thành hình ảnh trung thực của Chúa Cứu Thế.  Cũng chính nhờ hình ảnh Chúa Giêsu ngời sáng lên nơi con người và cuộc đời của vị mục tử tốt lành nầy, chàng thanh niên được cảm hoá và trở thành người con Chúa.

Lạy Chúa Giêsu,

Đã bao lần chúng con làm cho khuôn mặt Chúa trở méo mó, biến dạng và có thể là rất khó thương vì đời sống không đẹp của chúng con.

Xin cho chúng con biết nhìn lên Chúa như một khuôn mẫu tuyệt vời để đào tạo bản thân mình thành con người mới, có phẩm chất cao đẹp, có đạo đức và văn hoá để nhờ đó, chúng con trở thành hình ảnh trung thực về Chúa cho thế giới hôm nay.

Lm Ignatiô Trần Ngà

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

LỜI CHÀO HUYỀN DIỆU (có Youtube)

Chào hỏi là cử chỉ đầu tiên khi hai người gặp gỡ nhau.  Tùy theo cách thức chào hỏi mà người ta nhận ra mối tương quan giữa hai người, cũng như địa vị của họ.  “Ave Maria – Kính chào Bà Maria” là lời chào của Sứ thần Gabrien trong ngày truyền tin.  Lời chào ấy, vừa thể hiện sự kính trọng, vừa là lời tôn vinh các nhân đức của Đức Trinh nữ.  Lời chào thân thương ấy đã trở thành lời kinh quen thuộc của người Công giáo chúng ta.

Thánh Luca là tác giả duy nhất ghi lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Sứ thần Gabrien và Đức Trinh nữ thành Nagiarét.  Sự kiện này được chính Đức Maria kể lại cho tác giả như một dấu ấn đặc biệt trong cuộc đời mình.  Gabrien là vị sứ thần được Chúa sai từ trời xuống chào kính Đức Trinh nữ và loan báo mầu nhiệm Nhập Thể.  Đây thật là lời chào huyền diệu, hàm chứa những ý nghĩa sâu xa.  Lời chào này không chỉ khởi đầu cho cuộc gặp gỡ giữa cá nhân, mà còn là khởi đầu của công cuộc Nhập thể cứu độ trần gian.

Trong Cựu Uớc, nhiều cuộc gặp gỡ giữa các thiên sứ (hay người của Thiên Chúa) với người phàm được ghi lại, như trường hợp của ông Abraham hay các ngôn sứ.  Tuy vậy, không có một cuộc gặp gỡ nào được diễn tả với thể thức chào hỏi kính trọng, như lời chào của Sứ thần Gabrien.  Lời chào của Sứ thần là lời chào của chính Thiên Chúa, Đấng sai Sứ thần đến gặp Đức Trinh nữ Maria.  Sứ thần có sứ mạng chuyển tải một thông điệp, với nội dung như Đấng sai mình đã truyền dạy.

“Ave Maria”, đây là lời chào của Đấng sáng tạo ngỏ với thụ tạo của mình.  Lời chào diễn tả sự khiêm nhường của Thiên Chúa.  Vào thời ban đầu của lịch sử, Thiên Chúa đã sáng tạo vũ trụ, trời đất và muôn vật muôn loài.  Trong các loài thụ tạo, Chúa dựng nên con người và trao cho họ thay mặt Ngài làm chủ đất đai, canh tác vũ trụ.  Một tác giả đã viết: “Khi sáng tạo, Thiên Chúa giống như nước thủy triều, khiêm nhường thu mình lại để nhường chỗ đất khô cho con người và các loài thụ tạo.”  Nay, Ngài lại có sáng kiến cứu độ con người.  Để thực hiện chương trình ấy, Thiên Chúa mời gọi sự cộng tác của một người phụ nữ đơn sơ khiêm hạ.  Dường như Ngài chờ đợi sự đồng ý của Trinh nữ.  Nếu Thiên Chúa hạ mình chào một thụ tạo, thì Trinh nữ thành Nagiarét cũng diễn tả sự khiêm nhường qua câu trả lời: “Này tôi là tôi tớ Chúa.”  Đức Maria khiêm tốn ý thức mình chỉ là tôi tớ thấp hèn trước sự cao cả thánh thiện của Chúa.  Nếu Mẹ nhận được những đặc ân cao cả, là do lòng thương xót của Chúa.  Mẹ đã phó thác hoàn toàn theo ý Chúa, vì Mẹ xác tín rằng, những gì Chúa muốn đều tốt cho nhân loại và tốt cho những ai có liên quan.  Khi suy ngắm mầu nhiệm thứ nhất của Mùa Vui, chúng ta xin cho được sự khiêm nhường, như sự khiêm nhường của Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ trần gian.  Chúng ta cũng cầu xin cho được noi gương Đức Trinh nữ, khiêm hạ trước mặt Chúa và sẵn sàng cộng tác với Ngài.

“Ave Maria”, lời chào đi liền với lời ca tụng nhân đức của Đức Trinh nữ Maria.  Sứ thần đã ca tụng Mẹ là “Đấng đầy ơn phúc.”  Đây không phải là một lời khen xã giao theo kiểu người đời.  Đây cũng không phải là một lời khen tặng mà con người dành cho nhau, nhưng đây chính là lời của Thiên Chúa tôn vinh Đức Mẹ.  “Đầy ơn phúc” là cách diễn tả một người toàn vẹn, thánh thiện, hoàn hảo, đầy đủ mọi đức tính tốt đẹp.  Đức Mẹ có vẻ đẹp thể xác lẫn tâm hồn, vừa đẹp lòng Thiên Chúa vừa đẹp lòng con người.  Vì Đức Mẹ không mắc tội tổ tông, nên Đức Mẹ tinh tuyền, như bà Evà trước khi phạm tội. Tâm hồn và thể xác Đức Mẹ phản ánh sự thánh thiện vẹn toàn của Thiên Chúa, nhờ vậy mà Mẹ được tôn vinh hơn hết mọi phụ nữ trên trần gian.  Lời chào của Sứ thần cũng thường được dịch là “Hãy vui lên!”  Một người đầy ơn sủng sẽ luôn hân hoan vui mừng vì cảm nhận sâu sắc sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời.  Thiên sứ mời gọi Đức Mẹ hãy vui lên, như tâm tình hân hoan vui mừng của nữ ngôn sứ Sophonia trong Cựu ước, bởi lẽ Thiên Chúa sẽ thực hiện những việc kỳ diệu trong lịch sử, để thể hiện quyền năng và tình thương của Ngài.  Niềm vui tràn đầy của Đức Mẹ đã thể hiện qua kinh Magnificat sau đó.  Niềm vui của Đức Trinh nữ là niềm vui toàn diện, cả linh hồn và thần trí.

“Ave Maria”, lời chào đánh dấu một giai đoạn mới trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.  Tác giả thư Do Thái đã viết: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã nói với chúng ta qua các Tổ phụ và các ngôn sứ.  Đến thời sau hết này, Ngài nói với chúng ta qua người Con” (Dt 1,1).  Với lời thưa “Xin vâng” của Đức Trinh nữ, Ngôi Lời đã hóa thành xác thịt và cư ngụ giữa chúng ta.  Đấng từ trời cao đã giáng thế.  Thiên Chúa với con người đã nên một.  Từ nay, Thiên Chúa không còn là Đấng cao xa vời vợi, nhưng Ngài đã mang lấy bản tính nhân loại và chọn trái đất là quê hương.  Ngài cũng chọn con người là anh chị em, để cùng chia ngọt sẻ bùi trong cuộc đời dương thế.

Người tín hữu Công giáo lặp lại lời chào “Ave Maria” mỗi khi lần hạt Mân Côi.  Lời chào này đã trở thành lời cầu nguyện thân thuộc, đi liền với tình suy niệm những biến cố quan trọng của cuộc đời Chúa Cứu Thế.  Kinh Mân Côi giúp chúng ta chiêm ngưỡng Chúa Giêsu và mở lòng đón nhận giáo huấn của Người.  Hai mươi mầu nhiệm Mân Côi phác họa chân dung Đấng Cứu Thế, đồng thời giúp ta nhận ra chính thân phận và cuộc đời mình giữa những biến cố Vui, Sáng, Thương, Mừng đan xen với nhau.

“Ave Maria”, ước chi lời chào này luôn vang lên nơi môi miệng và tâm hồn chúng ta, lúc vui cũng như lúc buồn, khi hạnh phúc cũng như khi đau khổ, tuổi thanh xuân cũng như khi xế bóng, để xin Đức Mẹ đồng hành với chúng ta mọi giây phút của cuộc đời.  Khi đọc kinh “Kính Mừng”, người tín hữu Công giáo thể hiện tâm tình phó thác cậy trông nơi lời cầu bầu của Đức Mẹ và kêu xin: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử.”  Đây là lời cầu nguyện của Công đồng Êphêsô vào năm 431, sau khi đã tuyên bố tước hiệu “Mẹ Thiên Chúa” như một tín điều.

“Ave Maria”, lời ca tụng hôm nay nơi trần thế, cũng là lời ca tụng giữa triều thần thánh trên thiên đàng, để rồi cùng với Đức Mẹ, chúng ta sẽ được hân hoan ca tụng Chúa muôn đời.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

100 NĂM FATIMA: CÂU CHUYỆN ĐỨC MẸ HIỆN RA VẪN RẤT CUỐN HÚT (có Youtube)

Các cuộc hiện ra của Đức Mẹ ở Fatima một thế kỷ trước, vẫn tiếp tục thu hút các tín hữu và cả những người không cùng niềm tin.

Trong khi trọng tâm của thông điệp Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, Bồ Đào Nha cách đây 100 năm đó là “hoán cải” và “cầu nguyện”, thì những phép lạ và hiện tượng không thể giải thích được đi kèm sự kiện ấy vẫn tiếp tục kích thích sự tò mò đối với đông đảo các tín hữu cũng như những người không cùng niềm tin Kitô giáo.

Các cuộc hiện ra của Đức Maria tại Fatima năm 1917, không phải là sự kiện siêu nhiên đầu tiên được biết đến tại Fatima – bởi hai năm trước khi Mẹ hiện ra với ba trẻ chăn cừu là Lucia dos Santo và hai người em họ Jacinta và Francisco Marto, thì các em đã thấy một cảnh tượng kỳ lạ khi lần chuỗi Mân Côi ở đồng cỏ.  Điều này ghi lại trong nhật ký của nữ tu Lucia, người sau này trở thành nữ tu dòng Carmen.

“Thật khó để bắt đầu [lần chuỗi] khi chúng tôi nhìn thấy trước mắt mình, một cái gì đó giống người đứng lơ lửng trên không khí phía trên trên những cái cây.  Nó trông giống một bức tượng tuyết, gần như trong suốt trước những tia nắng mặt trời.”  Nữ tu Lucia miêu tả những gì họ đã thấy vào năm 1915.

Năm 1916, Francisco và Jacinta được phép chăn đàn gia súc trên cánh đồng của gia đình, và Lucia cũng tham gia công việc này với hai người em họ của mình.  Vào chính năm này, nhân vật bí ẩn xuất hiện một lần nữa và gần hơn.  Nên các em thấy được rõ hơn.

“Đừng sợ! Ta là Sứ Thần Hòa Bình.  Hãy cùng ta cầu nguyện.” – Nữ tu Lucia nhớ lại lời thiên thần nói.

Ba em không nói với ai về cuộc viếng thăm của thiên thần, và các em cũng không thấy hiện tượng lạ nào nữa cho đến ngày 13 tháng 5 năm 1917.  Khi ấy các em đang chăn cừu và vui đùa cùng nhau, thì bị giật mình bởi hai lần sét đánh.

Khi xuống dốc, các em nhìn thấy một “phụ nữ mặc áo trắng” đứng trên trên ngọn cây nhỏ.

Đây là lần đầu tiên trong sáu lần Đức Mẹ hiện ra với các em.  Và mỗi lần hiện ra, Đức Mẹ đều ban thông điệp và những mạc khải.  Sau đây là lịch sử các cuộc hiện ra của của Đức Mẹ như sau:

– Ngày 13 tháng 5 năm 1917: Khi được hỏi: Bà là ai và bà từ đâu đến?  Người phụ nữ trả lời bà đến “từ trời” và sau này bà sẽ tiết lộ danh tính của mình.  Bà dặn các em trở lại Cova da Iria vào ngày 13 mỗi tháng, trong sáu tháng tiếp theo.  Bà cũng xin các em cầu nguyện mỗi ngày với chuỗi Mân Côi, để “thế giới có được hòa bình” và Chiến tranh thế giới lần I được kết thúc.

– Ngày 13 tháng 6 năm 1917: Người phụ nữ nói bà sẽ đưa Francisco và Jacinta về thiên đàng sớm, còn Lucia sẽ ở lại thế gian một thời gian để truyền bá việc tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội.

– Ngày 13 tháng 7 năm 1917: Người phụ nữ nói sẽ tiết lộ danh tính của mình vào tháng Mười và sẽ “thực hiện một phép lạ để mọi người nhìn thấy và tin tưởng.”  Sau khi phán bảo các em hãy hãm mình hy sinh để cầu nguyện cho kẻ có tội, bà tiết lộ ba bí mật.  Hai trong ba bí mật này đã không được công khai cho đến năm 1941, và bí mật thứ ba do nữ tu Lucia viết và gửi tới Tòa thánh Vatican, đến tận năm 2000 mới được công bố.

Bí mật đầu tiên là thị kiến về Hỏa ngục.  Ở thị kiến này, các em nhìn thấy “biển lửa” với ma quỷ và linh hồn con người đang hét lên “đầy đau đớn và thất vọng.”  Trong hồi ký, nữ tu Lucia kể lại những người đứng gần đó – người dân khi ấy đã bắt đầu tụ tập xung quanh ba trẻ vào ngày 13 hàng tháng – đã nghe thấy những “tiếng khóc” của Lucia trong thị kiến đáng sợ này.

Bí mật thứ hai là Chiến tranh thế giới thứ lần I sẽ kết thúc, nhưng sẽ “có một cuộc chiến tệ hại hơn nổ ra” nếu con người tiếp tục xúc phạm đến Thiên Chúa.  Tuy nhiên tai ương sẽ được ngăn chặn, nếu nước Nga được dâng hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội.  Mặc dù nữ tu Lucia xác nhận rằng, Đức Giáo hoàng Piô XII vào năm 1942 và Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II vào năm 1984, đã thực thi việc dâng hiến nước Nga, nhưng nhiều người sùng mộ Fatima vẫn cho rằng yêu cầu đó của Đức Mẹ chưa được thực hiện.

Bí mật thứ ba và cũng là bí mật cuối cùng: Bí mật này được công bố 83 năm sau khi Đức Mẹ hiện ra ở Fatima.  Bí mật này là thị kiến về một “vị giám mục mặc áo trắng” bị bắn giữa đống gạch đá của một thành phố đổ nát.  Vatican đã đưa ra cách giải thích chính thức, và đã thảo luận với nữ tu Lucia trước khi công bố cách giải thích này.  Vatican nói bí mật thứ ba đề cập đến cuộc bức hại các Kitô hữu vào thế kỷ 20, và cụ thể là vụ ám sát Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II bất thành vào năm 1981.

Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, sau này là Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, khi ấy là Tổng trưởng của Bộ Giáo Lý Đức Tin khi bí mật thứ ba được công bố vào năm 2000.  Khi công bố và giải nghĩa bí mật cho báo chí, ngài nói mục đích của thị kiến, ​​không phải để cho thấy một “tương lai không thể thay đổi”, nhưng là để “huy động các nguồn lực giúp thế giới thay đổi theo đúng hướng.”

– Ngày 13 tháng 8 năm 1917: Một lần nữa, người phụ nữ nói bà sẽ thực hiện một phép lạ vào tháng Mười và yêu cầu tiền quyên góp của những người hành hương sẽ được sử dụng để xây dựng một nhà nguyện trên địa điểm hiện ra.

– Ngày 13 tháng 9 năm 1917: Người phụ nữ yêu cầu các em tiếp tục cầu nguyện với chuỗi Mân Côi để “thế giới chấm dứt chiến tranh.”  Bà nói rằng Chúa Giêsu, Thánh Giuse, Đức Mẹ Sầu Bi và Đức Mẹ núi Camêlô sẽ xuất hiện trong phép lạ vào tháng Mười tới.

– Ngày 13 tháng 10 năm 2017: Mặc dù trời đổ mưa, hàng chục ngàn người đã đến Cova da Iria để chứng kiến ​​phép lạ được chờ đợi từ lâu.

Người phụ nữ đã công bố mình là Đức Mẹ Mân Côi.  Mẹ cũng cho biết, chiến tranh sẽ kết thúc và những người lính sẽ trở về nhà.  Sau khi yêu cầu mọi người ngừng xúc phạm Thiên Chúa, Đức Mẹ mở tay ra và làm phản chiếu ánh sáng về phía mặt trời.

Nữ tu Lucia reo lên: “Hãy nhìn mặt trời!”  Khi đám đông nhìn lên, mặt trời dường như nhảy múa và thay đổi màu sắc.  Các em cũng thấy Chúa Giêsu, Thánh Giuse và Mẹ Maria như Đức Mẹ đã hứa.  Nỗi ngạc nhiên trước cảnh tượng “mặt trời nhảy múa” biến thành hoảng sợ khi mặt trời dường như lao mạnh về phía trái đất.  Nhiều người lo sợ tận thế đến, nên đã la hét và chạy toán loạn, một số người tìm chỗ trốn trong khi số còn lại vẫn quỳ gối, và cầu xin Chúa thương xót.  Sau đó, mặt trời trở về như bình thường.

Mười ba năm sau khi Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, giám mục giáo phận Leiria đã tuyên bố việc ba trẻ chăn cừu thấy Đức Mẹ hiện ra là “đáng tin” và cho phép tôn kính Đức Mẹ Fatima.  Tuy nhiên, vị giám mục không công nhận hiện tượng mặt trời nhảy múa là phép lạ.

Anna Huê (theo Catholic Herald)
Nguồn: nhathothaiha

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

CHIÊN THIÊN CHÚA

Thánh Gioan Tẩy Giả thấy Đức Giêsu đi ngang qua thì tuyên xưng: “Đây là Chiên Thiên Chúa” (Ga 1:35), tôi thiết tưởng nếu tôi là người Do Thái đang sống ở thời đại ấy chắc tôi không hiểu từ ngữ “Chiên Thiên Chúa” đó.  Thế giới của tôi chỉ biết con chiêncon chiên tế lễ, còn từ ngữ Chiên Thiên Chúa thì chưa có trong tự điển tôn giáo Do Thái của tôi.

Thân mời các bạn cùng tôi khám phá về đặc tính của con chiên.  Con chiên là một con vật rất hiền lành và chẳng làm hại được ai, người mẹ cho đứa con nhỏ đến chơi với chiên chẳng phải lo sợ vì nó không cắn, không húc, và cũng chẳng đá.  Đứa bé gần con dê thì còn e ngại vì con dê có thể húc và đá, chớ con chiên thì không.  Con chiên không có khả năng hại người, và cũng chẳng có khả năng để tự bảo vệ nó.  Một con sói nhỏ bằng một nửa con chiên cũng đủ khả năng giết được con chiên.  Con chiên nghe tiếng chủ và muốn vâng lời chủ, khổ nỗi nó có nhân đức “hay quên.”  Chủ mới dặn nó nhớ ở trong đoàn chớ có đi lạc một mình, nó mau mắn “dạ dạ”, mà chỉ vài phút sau là nó đã quên lời dặn mất rồi.  Nó có tâm hồn mê ăn uống, cứ thấy chỗ nào có hoa thơm cỏ lạ là nó hoa cả mắt, chẳng nhớ lời chủ dặn.  Đã thế nó lại hay so sánh, phân bì và mộng mơ, đứng ở đồng cỏ này thì mơ mộng đi qua đồi bên kia vì thấy đồi bên ấy có vẻ xanh tươi hơn.  Bản chất của nó đơn sơ nên cũng dễ bị dụ.  Chính về thế mà nó cứ đi lạc hoài và làm mồi ngon cho sói.

Con chiên tế lễ phải hội đủ điều kiện là một con chiên, và phải là con đực một tuổi không tì vết (Ds 6:14).  Trong thế giới tôn giáo của tôi, phái nam lúc nào cũng được trọng vọng hơn phái nữ, nên của lễ dâng Thiên Chúa phải là nam, là đực.  Một tuổi là tuổi vừa mới trưởng thành, chưa biết nhảy đực nhảy cái, vì theo thế giới của tôi, dính dấp đến chuyện tình dục thì trở nên ô uế.  Mà nếu đã không còn tinh tuyền thì bất xứng để dâng Chúa làm của lễ.  Con chiên tế lễ không được có tì vết, nhưng lỡ nó bị lở mồm, long móng hay tai xanh thì sao?  Nói trắng ra là nó đang bị dịch, con người ăn đồ bị dịch thì chết nhưng Chúa đâu thể chết mà lo.  Nếu vậy dùng con vật lở mồm, long móng dâng Chúa được chăng?  Vấn đề ở đây là chẳng lẽ tôi dâng lên Thiên Chúa của lòng tôi cái thứ thừa thãi, cái thứ bị ôn dịch chỉ đáng vất đi hay sao?  Hay tôi muốn tiến dâng lên Thiên Chúa của lễ quý nhất đời tôi?

Con chiên tế lễ là con chiên đền tội cho con người (Lv 14:13).  Nó là con vật vô tội.  Nếu nó nói được tiếng người thì nó đã la lên: “Thả tôi ra, tôi có phạm tội gì đâu mà lại giết tôi.” Con người phạm tội thì phải chết nhưng Thiên Chúa không muốn con người phải chết, nên con người đã dùng máu con chiên thay máu con người để làm của lễ đền tội.

Con Chiên Thiên Chúa thì phải hội đủ điều kiện là con chiên, và con chiên tế lễ.  Con Chiên Thiên Chúa là con chiên để đại diện các con chiên làm của lễ đền tội cho các con chiên, vừa là Thiên Chúa để ban ơn tha tội.  Con Chiên Thiên Chúa giao hòa giữa Thiên Chúa và loài người, nối lại tình Trời và tình đất.  Con chiên tế lễ thì cứ sát tế hoài, còn Con Chiên Thiên Chúa chỉ tế lễ một lần mà thôi.  Một lần mà là đời đời, vì Thiên Chúa lúc nào cũng ở thì hiện tại: “Ta là Thiên Chúa của Abraham, của Isaac, của Jacob” (Xh 2:6).  Con chiên tế lễ thì đền tội cho người dâng của lễ, còn Con Chiên Thiên Chúa thì chuộc tội cho tất cả muôn loài thọ tạo.  Con Chiên Thiên Chúa tự nguyện hiến thân để cứu chuộc nhân loại mà chẳng một lời oán than (Is 53:7).  Ngài đã tự nguyện chết cho tội lỗi của tôi để tôi được sống.  Còn hơn thế nữa, Con Chiên Thiên Chúa tự nguyện hiến mình làm của lễ, và làm thức ăn để nuôi con cái Ngài.

Mời bạn và tôi đi cùng Mẹ Maria tiến dâng con Chiên Giêsu Con Mẹ lên Thiên Chúa Cha.  Như Tổ phụ Abraham tiến dâng của lễ cao quý nhất của ngài là Isaac (St 22:1-19).  Lúc đó Tổ phụ Abraham và Sara đã ngoài trăm tuổi rồi, niềm vui và sự sống của họ là Isaac, trung tâm điểm đời sống của họ là Isaac, khi Isaac vui thì họ vui, khi Isaac buồn thì họ cũng buồn.  Không phải hai ông bà ăn ở với nhau mà được mụn con trai này, mà Isaac là món quà Thiên Chúa ban nhưng không.  Giờ đây Thiên Chúa mời Tổ phụ Abraham tiến dâng cho Chúa của lễ quý nhất của ngài.  Nếu Thiên Chúa phán bảo Abraham dâng cho Chúa một trăm con bò, một trăm con chiên, thì không là gì đối với Abraham vì ngài giàu có lắm.  Nếu Thiên Chúa bảo Abraham dâng cho Chúa đứa đầy tớ đẹp nhất và tài giỏi nhất của ngài, chắc ngài cũng chẳng phải bận tâm chi, vì mất đứa này ngài còn những đứa khác.  Tổ phụ Abraham chỉ có được một đứa con trai nối dõi tông đường mà thôi, là niềm vui, là sự sống, và là sức sống của ngài, nhưng ngài đã xin vâng tiến dâng Isaac con ngài làm của lễ dâng lên Thiên Chúa như lòng Chúa mong muốn.

Đức Mẹ Maria cũng vậy.  Mẹ chỉ có một người con trai duy nhất.  Người con Giêsu của Mẹ là trung tâm điểm đời sống của Mẹ, là niềm vui, là sự sống, và là sức sống của Mẹ.  Mẹ cũng chẳng ăn ở với Thánh Giuse để có người con này, mà đây là một món quà Thiên Chúa ban nhưng không.  Ngày hôm nay Mẹ tiến dâng của lễ Chiên Thiên Chúa, người con yêu quý nhất của lòng Mẹ, lên Thiên Chúa Cha. Cùng với Mẹ Maria, Tổ phụ Abraham cũng tiến dâng điều cao quý nhất của ngài lên Thiên Chúa.

Bạn và tôi cũng được mời đi với Mẹ Maria và Tổ phụ Abraham đến gặp Thiên Chúa Cha.  Đức Mẹ tiến dâng Con Chiên Giêsu Con Mẹ, Tổ phụ Abraham tiến dâng Isaac làm của tế lễ Thiên Chúa. Không lẽ tôi đi dự cuộc tế lễ Trời và đất mà đi tay không?  Tôi đi dự tiệc cưới thì cũng phải có quà hay phong bì gì chứ.  Nếu đi dự tiệc cưới mà tôi còn biết phải mang quà, không lẽ đến dự tiệc tế lễ Thánh mà xách mạng không đến… thì thật khó coi.

******

Lạy Chiên Thiên Chúa, là Thiên Chúa, nhưng chấp nhận hạ mình mang thân phận con người, để cứu chuộc nhân loại, để cứu chuộc chính con.  Ngài là Thiên Chúa của lòng con, con cảm tạ Chúa đã tự nguyện hiến thân làm giá máu cứu chuộc nhân loại.  Ngài đã cứu chuộc con khỏi ách nô lệ của bóng tối sự chết bằng giá máu Thánh.  Ngài đã ban cho con sự sống và sự sống lại của chính Ngài.  Xin Chúa nhắc nhở con mãi cuộc tình Ngài ban tặng cho con nhưng không, để con được cảm hóa và biến đổi trong Tình Yêu của Ngài.  Chúa ơi, xin nhắn tin con, để mỗi lần con đến dự tiệc lễ tế Chiên Thiên Chúa tự nguyện hiến thân cho con, thì con cũng biết dâng lên Chúa, cùng với Mẹ Maria và Tổ Phụ Abraham, cái gì cao quý nhất của lòng con.  Amen!

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.
September 1, 2009

TÌNH YÊU VĨ ĐẠI

Nó là một Việt kiều về Việt Nam sinh sống.  Ở nước ngoài nhiều năm nhưng nó chẳng học hành gì, cũng chẳng có nghề ngỗng gì để tự nuôi bản thân, dù đã lớn nhưng nó cứ ăn bám vào gia đình anh chị.  Về sống ở Sàigòn với cha mẹ, nó lại cặp bạn với dân nhậu nhẹt, bài bạc, hút chích.  Thiếu tiền nên nó đi cầm luôn cả passport.  Cha mẹ nó hay tin thì chửi nó như tát nước nhưng nó vẫn dửng dưng.  Cha mẹ nó phải lo đi chuộc cái passport của nó về.  Cha mẹ nó sắm cho nó chiếc xe, khi thiếu tiền nó cũng mang đến tiệm cầm đồ.

Cha nó bực lắm, cứ mỗi lần thấy mặt nó là chửi rủa.  Mà nó bị chửi thì cũng phải, cả ngày nó cứ ở trong phòng, chỉ thò mặt ra để ăn uống mà thôi, ăn xong lại chui rúc vào phòng, mặc ai nấu ăn, dọn dẹp cho nó.  Chiều chiều nó xách xe đi chơi đến khuya hoặc sáng hôm sau mới về, rồi lại chui tọt vào phòng cho đến trưa mới thò đầu ra ăn cơm rồi lại biến mất.  Nhà nó đang ở như là phòng trọ, còn bạn bè mới là gia đình của nó.

Nó là con trai một trong một gia đình nhiều chị nên từ nhỏ quá được nuông chiều.  Bây giờ lớn rồi nhưng nó cứ nghĩ là mọi thành viên trong gia đình phải có bổn phận cung phụng nó.  Cha nó chửi thì có lúc nó nhịn, có lúc nó chửi lại.  Còn các chị của nó mà hơi lớn giọng với nó thì nó chửi cho mà biết.  Và đã có những lần nó thượng cẳng chân, hạ cẳng tay với các chị của nó.  Chỉ có mẹ nó la mắng thì nó im mà thôi.  Mà nó im cũng phải, vì cha nó đã tuyên bố từ nó rồi, chỉ có mẹ nó là cứ dúi tiền cho nó xài đều đều.  Đã mấy lần nó mắng vào mặt mẹ vì nó cần “mượn” vài triệu mà mẹ không có.  Mẹ nó chỉ lo nội trợ trong gia đình, làm gì có tiền.  Mẹ nó đã nhiều lần lấy tiền của cha nó để cho con, sau này biết được nên cha nó cất hết tiền vào tủ sắt nên mẹ nó bó tay.  Mẹ nó cứ xin tiền các chị của nó, lúc thì nói cần tiền làm việc này, cần tiền làm việc kia, nhưng trong gia đình ai cũng biết là mẹ chẳng cần gì những thứ đó vì cha đã lo hết rồi.  Chẳng qua mẹ muốn có tiền để cho thằng con “quý tử”, nhưng các chị không nỡ làm mẹ buồn nên cứ cho mẹ hoài.  Thế là nó cứ thẳng tay xài phung phí.

Mỗi lần tôi gặp mẹ nó là mỗi lần bà than thở: “Vất thì thương, vương thì tội!”  Bà cứ xin tôi cầu nguyện cho nó luôn.  Mà thật, tôi dâng lễ cầu nguyện cho nó mãi thôi và cũng cầu nguyện nhiều cho những người lêu lỏng như nó.  Nhiều lúc suy nghĩ về nó tôi cũng đâm bực, có lúc tôi tự nghĩ: “Đuổi cổ nó đi cho nó sáng mắt để biết thân, hết cách ăn bám gia đình thì hy vọng nó sẽ phải đi làm để có thể trưởng thành, sao bà mẹ cứ nuôi nó miết vậy.”  Nhìn lại tư tưởng này thì tôi thấy rõ là tôi không phải là người mẹ và chưa có cái tình yêu như người mẹ.  Chẳng biết bao giờ tôi mới có được tâm tình của một người mẹ!

Người mẹ nhìn đứa con trai quý tử của mình mà xót dạ.  Bà khóc hằng đêm mà có ai biết đâu.  Chồng bà thấy bà khóc không những không thông cảm mà còn mắng cho: “Cũng tại bà nuông chìu nó quá để nó ra như vậy.  Nó không đáng để bà khóc thương đâu, đừng khóc phí nước mắt.”  Bà lại lầm lũi đến xó khác ngồi rầu rĩ râu ri.  Bà cũng không muốn cho các con bà thấy bà khóc làm cho các con thêm bận tâm.  Bà cảm thấy cô độc.  Chẳng ai hiểu bà.  Bà nghẹn ngào cảm thấy tủi thân làm sao.  Ông chồng của bà chẳng những không một lời an ủi, lại nhiếc mắng thậm tệ.  Cái người chia cơm sẻ áo với bà, người mà khi xưa vuốt ve chìu chuộng nay quay lưng lại với bà.  Có đêm nào bà không rưng rưng dòng lệ, có đêm nào bà nằm xuống mà không trằn trọc nhớ đến con trong khi ông chồng đã say giấc điệp, có đêm nào bà không cầu nguyện xin Chúa kéo con bà trở lại.  Ngày nào bà cũng ráng đi lễ, và Thánh Lễ nào tựu trung cũng cầu nguyện cho con.  Lúc nào khuôn mặt bà cũng mang một nỗi buồn khôn nguôi.  Nhiều lúc tôi ghé thăm kể chuyện dí dỏm pha trò cho bà vui nhưng bà cũng chỉ cười được vài phút rồi nỗi buồn lại hằn trên khuôn mặt.

Tình thương người mẹ dành cho con là thế đó.  Nó có tệ đến đâu thì mẹ nó vẫn cứ thương.  Muốn dứt tình mà không nỡ.  Nhiều lúc mẹ chửi, mẹ đánh con tơi tả rồi lại lấy dầu xanh xoa cho con.  Với khả năng giới hạn của con người mà tình thương có thể toả sáng tới mức ấy, huống hồ là tình thương của Đấng vô hạn là Thiên Chúa.

Một câu trong Thánh Vịnh gần như đã nằm trong xương tủy của tôi: “Dầu cha mẹ có bỏ con đi nữa, thì hãy còn có Chúa đón nhận con” (TV 27:10).  Vâng, cho dù ngay cả cha mẹ tôi có ruồng bỏ tôi đi nữa, thì Chúa vẫn thương tôi, vì tình thương Chúa dành cho tôi vượt trên tất cả những gì tôi và con người có thể hình dung ra được, như cảm nghiệm của Tiên Tri Isaiah: “Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta – sấm ngôn của Đức Chúa.  Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55:8-9).

Càng ngắm nhìn mẹ nó thương che chở cho nó bao nhiêu thì tôi lại hình dung tình yêu Chúa dành cho con người cao trọng và vĩ đại bấy nhiêu và nhiều hơn gấp bội.  Với tuổi đời năm mươi, tôi vẫn chưa thấy tình thương nào giữa con người mà có thể hơn được tình người mẹ.  Nhìn lại quảng đời quá khứ của tôi, tôi thấy tôi tránh xa Chúa vì mặc cảm tội lỗi.  Tôi nghĩ chẳng còn ai thương tôi, tôi nghĩ Chúa cũng chẳng còn thương tôi.  Đời sống của tôi chỉ còn một màu ảm đạm của màn đêm.  Thế mà Chúa thương gọi tôi về, chỉ vì Chúa quá yêu tôi.

Ngẫm nghĩ lại cuộc đời của nó và tình thương của mẹ nó dành cho nó làm tôi liên tưởng đến cuộc đời của tôi và tình thương của Chúa dành cho tôi.  Tôi thấy mình giống nó lắm.  Tôi mau miệng lên án nó mà quên mất là chính mình cũng đã bao lần sống lầm lạc và dửng dưng trong khi Chúa vẫn đau khổ từng ngày ngóng chờ tôi trở về.

******

Lạy Chúa, con vội xét đoán quá, nếu Chúa cũng xét đoán như vậy với con thì chắc con tiêu lâu rồi.  Cảm tạ Chúa đã kiên nhẩn chờ đợi con.  Cảm tạ tình thương của Chúa, vì tình thương mà Chúa đã tự nguyện hiến thân để cứu chuộc con.  Ôi, vĩ đại thay Tình Yêu Thiên Chúa!  Lạy Chúa là Thiên Chúa của lòng con, con biết ơn và cám ơn Ngài; con chúc tụng và ngợi khen Chúa đến muôn đời.  Xin Chúa tiếp tục nuôi đứa con còn nhiều yếu đuối này trong Tình Yêu Vĩ Đại của Ngài vì chỉ có Tình Yêu của Chúa mới biến đổi được con người.  Amen.

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.
August 19, 2009

BIẾN ĐỔI ĐỜI CON, CHÚA ƠI!

Nhà Thần học William Barclay kể lại câu chuyện:  Một kinh sư Do Thái (Rabbi) bị cầm tù ở Rôma. Trong tù, ông chỉ được ăn uống tối thiểu nhằm mục đích kéo dài cuộc sống. Thời gian trôi qua, vị kinh sư ấy ngày càng yếu dần. Cuối cùng người ta buộc phải mời bác sĩ đến khám bệnh cho ông.  Bác sĩ bảo rằng cơ thể của ông bị thiếu nước. Họ không hiểu nổi tại sao vị Kinh sư ấy lại có thể thiếu nước, bởi vì khẩu phần nước mỗi ngày tuy ít  nhưng vẫn đủ cho ông xử dụng.  Thế là đám lính gác liền chú ý quan sát người tù này một cách kỹ lưỡng hơn để thử xem ông ta làm gì với số lượng nước ấy.  Cuối cùng người ta đã khám phá ra bí mật: Vị kinh sư Do Thái này đã sử dụng phần lớn số lượng nước để rửa tay theo nghi thức Do Thái giáo trước khi ăn và cầu nguyện.  Như thế đương nhiên ông ta không còn đủ nước để uống.

*****

Bạn thân mến, Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay hôm nay tường thuật thái độ bực bội của những người Pharisêu và kinh sư Do Thái  đối với Chúa Giêsu khi họ nhìn thấy các môn đệ của Ngài ăn uống mà không chịu rửa tay theo đúng nghi thức. Ðối với người Pharisêu, sau khi ra nơi phố chợ, người ta thường trở nên ô uế do đụng chạm.  Phải rửa tay, vì tay ô uế làm đồ ăn ô uế, và đồ ăn ô uế sẽ khiến cả con người ra ô uế.

Ðức Giêsu đã long trọng khẳng định: “Không có gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế” (Mc.7:15).  Khẳng định này là một cuộc cách mạng trong Do Thái giáo, bởi lẽ đời sống người Do Thái bị bao vây bởi nhiều luật lệ và cấm kỵ:  không được ăn thịt heo, hay thịt thú chết ngạt;  không được đụng vào xác chết, đụng vào người phong cùi;  không được ăn chung với dân ngoại hay vào nhà người tội lỗi… Ðụng vào hay ăn vào là trở nên ô uế ngay.  Ðức Giêsu đã phạm nhiều điều cấm kỵ, đã phá đổ nhiều bức tường ngăn cách kẻ xấu và người tốt, dân Do Thái và dân ngoại, nam và nữ,  nô lệ và tự do… Ngài đến với những người bị coi là ô uế để làm cho họ trở nên trong sạch.

Thật ra Ðức Giêsu chẳng phản đối gì chuyện rửa tay, nhưng Ngài thấy nó quá giả hình vì người Do Thái chẳng để ý đến chuyện tẩy rửa trái tim.  Rửa tay để được yên tâm, mãn nguyện, tránh khỏi phải tẩy rửa tâm hồn là điều quan trọng hơn, khó thực hiện hơn.  Ðức Giêsu cho ta thấy cái ô uế thực sự lại không đến từ đụng chạm hay ăn uống. Cái ô uế đáng sợ nhất nằm ngay trong trái tim của ta.  Nó không từ ngoài vào, nhưng từ trong mà đi ra. “Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng… Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế.” (Mc.7:21-23)

Cần trở về với trái tim của mình. Ðó không phải là một cuộc dạo chơi, nhưng là một thách đố dám nhìn vào cái tôi sâu thẳm của long mình. “Hãy tạo cho mình một trái tim mới” (Ed 18,31).  Ðó là lệnh truyền của Ðức Chúa, nhưng con người chẳng thể tự mình thay tim đổi thịt được. “Ta sẽ thanh tầy các ngươi. Ta sẽ ban cho các ngươi một trái tim mới” (Ed 36,25tt). Ðổi được trái tim là đổi được tất cả.

Lời Chúa hôm nay là một lời nhắc nhở cho ta: Truyền thống, luật lệ và nghi thức là điều cần thiết, nhưng không được quên điều cốt lõi của luật Chúa truyền dạy: “Hãy yêu thương nhau”.  Điều quan trọng không phải là việc chúng ta làm mà chính là tình yêu trong trái tim thúc đẩy chúng ta làm. Hành động của chúng ta phải được xuất phát từ con tim, từ tình yêu.  Nếu trái tim chất đầy kiêu căng thì mọi nghi thức bên ngoài trước mặt thế gian cũng sẽ chẳng làm cho chúng ta trở nên thánh thiện trước mặt Chúa.  Bởi chính Đức Giêsu đã trách mắng người Do Thái trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay:  “dân này thờ kính Ta ngoài môi ngoài miệng, còn lòng họ thì lại xa Ta.” (Mc.7:6)

*****

Lạy Chúa Giêsu!  Xin giúp con dọn dẹp những bề bộn nơi trái tim con. Xin biến đổi tim con nên đơn sơ hơn, hồn nhiên hơn và tươi thắm hơn.

Ước gì con nhìn mọi sự, mọi người, bằng trái tim bao dung của Chúa. Và ước gì khi đã ra khỏi nỗi bận tâm về mình, trái tim con được nhẹ nhàng hơn và tự do hơn để yêu mến mọi người nhiều hơn. Amen.

NGƯỜI ĐÓ GIỐNG NHƯ TÔI

Trong thế chiến thứ hai, năm 1941, có một vị linh mục bị giam trong trại tập trung dành cho người gốc Do-thái.  Như bao người khác, cha cũng bị hành hạ và ngược đãi đến tàn tệ, còn hơn cả đối với súc vật. Thế nhưng ngài lại vẫn luôn vui vẻ tìm cách giúp đỡ các tù nhân đồng cảnh ngộ đang rơi vào tâm trạng khủng hoảng tuyệt vọng.

Cha xin cai tù cho được đi lao động thay những người đau yếu.  Ngài nhường khẩu phần bánh mì ít ỏi của mình cho những người thiếu ăn hơn.  Đối với kẻ rách rưới, ngài chia sẻ cho họ chiếc áo cũ nhưng còn tương đối lành lặn…  Trong hoàn cảnh đầy hiểm nguy, cha vẫn lặng lẽ dấu kín lý lịch của bản thân là một người Công giáo, hơn thế nữa, lại còn là một linh mục.  Chỉ có một vài người rất thân thiết mới biết rõ ngài là ai…

Trong số những người được cha giúp đỡ, có một cậu thiếu niên.  Trước đây cậu ta vốn lớn lên ở đầu đường xó chợ, không tin bất cứ ai, ngang bướng, chuyên trộm cắp để bán lấy tiền độ nhật.  Đến khi phải vào tù, cậu cũng luôn cướp giựt, quấy nhiễu mọi người.  Vị linh mục khả ái đã từng bước một tìm cách gần gũi cậu ta, trò chuyện, giúp đỡ, khuyên răn, và cuối cùng đã hoán cải được tâm hồn tưởng đã hóa ra chai đá của cậu.  Dù vậy, ngài thấy cũng chưa đến lúc nói với cậu ta về Thiên Chúa…

Thế rồi, một hôm, cha được tin mình phải chuyển đi gấp đến trại Auschwitz, một trại tập trung mà ai nghe đến tên cũng kinh hoàng khiếp hãi vì đó là nơi hủy diệt với những hầm hơi ngạt và lò thiêu xác. Ngài cố giữ bình tĩnh, vội vã chia tay mọi người.  Đến trước mặt cậu thiếu niên vừa mới quyết định hoàn lương, ngài rất muốn giúp em hiểu biết về Chúa, tin Chúa và theo Chúa.

Cha nhìn thẳng vào mắt cậu, nhỏ nhẹ hỏi: “Này cháu thân yêu của bác, cháu có muốn tin vào một người tên là Giê-su không?”  Cậu thiếu niên đứng thẳng người lên, trả lời cha bằng một câu hỏi chân thành: “Nhưng thưa bác, ông Giê-su là ai để cháu có thể tin?”  Biết mình không còn thời gian để cắt nghĩa Kinh Thánh và giới thiệu chi tiết về Đức Giê-su, cha yên lặng một chút, ngẫm nghĩ rồi buột miệng nói với cậu thiếu niên: “Người đó giống như bác!”  Cậu ta đăm đăm nhìn ngài rồi khẳng khái tuyên xưng: “Vâng, nếu ông Giê-su ấy là một người giống như bác, thì cháu tin!”

Sau thế chiến, người ta không còn gặp lại vị linh mục già ấy nữa, nhưng chắc chắn một điều là: câu truyện này được một người sống sót qua các trại tập trung thuật lại như một chứng từ sống động, người ấy chính là cậu thiếu niên năm xưa, một người tân tòng Công giáo đạo hạnh…

Theo Témoignage Chrétien.

******

Lạy Chúa Giêsu, uớc chi cuộc sống của mỗi người chúng con dù là linh mục hay giáo dân, dù ở trong tù hay giữa chợ đời, dù sống với tư bản hay cộng sản đều trở thành một chứng nhân sống động của Chúa Giêsu Kitô như vị linh mục trong trại tù của Đức năm xưa.