TÔI ĐI ĐÂU… ĐÂU TÔI ĐI

Thân tặng bài viết này đến các bạn trẻ, những người đang thao thức tìm một hướng đi cho đời mình có ý nghĩa và giá trị.

Bạn thân mến, nếu tôi mời bạn đến gia đình của tôi dự tiệc cuối tuần, chắc chắn bạn sẽ hỏi tôi: and ở đâu, khu nào?  Còn nếu bạn đang sống ở Mỹ thì sẽ hỏi số nhà, tên đường, thành phố và mã số vùng.  Trước khi đi, bạn sẽ vào Mapquest, Yahoo map, hoặc Google map để tìm đường chỉ dẫn.  Nếu bạn có máy navigator, bạn cũng làm tương tự: nhập dữ liệu vào máy, và nhờ máy tìm đường giúp mình để đến nơi mà mình muốn.  Với tấm bản đồ trên tay bạn hoàn toàn tự tin để đi đến nơi mà bạn muốn đến.

Dù cầm tấm bản đồ trên tay, thực tế thỉnh thoảng bạn cũng phải liếc nhìn xem thử lộ trình mình đang đi đã tới đâu, chỗ nào.  Nhất là tại những ngã tư đường, bạn lại càng phải chú ý vào tấm bản đồ chỉ đường một cách cẩn thận, nếu không bạn sẽ rẽ lạc hướng, mất thời gian quay lại, và có khi còn bị tai nạn.  Có bản đồ mà không nhìn vào nó và không theo sự hướng dẫn của nó thì cũng coi như không.

Ngoài ra, bạn cũng cần tỉnh táo để đọc các tên đường, nhìn rõ những dấu chỉ đường và lưu lượng giao thông trên con đường bạn đang đi.  Không tỉnh táo đủ, bạn có thể sẽ đi quá điểm đến của  mình lúc nào không biết.

Nói tóm lại, để đến nơi mà mình muốn, bạn cần phải có sự chuẩn bị và kiểm tra dọc theo lộ trình của bạn.  Không có sự chuẩn bị, bạn sẽ không biết phương cách để đi tới đích.  Không có sự kiểm tra, quan sát, có lẽ bạn cũng sẽ không bao giờ đến nơi bạn đã hoạch định.

*******

Bạn thân mến, dù chỉ là một cuộc “đi ăn cho vui” mà bạn cũng sẵn sàng đầu tư vào việc ấy một cách chu đáo, phương chi một hành trình cho đời của bạn mà bạn lại không đầu tư vào hành trình ấy một cách cẩn trọng sao?

Bạn đi đâu trong cuộc đời này?  Đâu là điểm đến của đời bạn?  Trên tay bạn có tấm bản đồ nào không?  Nếu có, nó là loại gì?  Trên con đường dẫn tới chỗ “ăn cho vui” mà bạn còn biết đặt niềm tin vào bản đồ do con người làm ra, kinh nghiệm cho thấy – nó không luôn luôn chính xác; vậy phương chi trên con đường đi tìm ý nghĩa và hạnh phúc thật cho đời bạn, chẳng lẽ bạn lại đặt niềm tin vào những loại “bản đồ” do con người chế tạo hay sao?  Bản đồ dỏm sẽ dẫn bạn đi lạc hướng mà bạn không hề hay biết.  Khi khám phá ra, bạn đã quá trễ vì trời đã tối, cửa đã đóng, khách đã ra về.  Thực tế, có những nhiều người đi lạc đường và đã gặp bao nhiêu nguy khó, mất tích, vô định… chỉ vì bản đồ trên tay là bản đồ giả.

Bạn có dừng lại để “kiểm tra” đời bạn để biết bạn đang ở trên đoạn đường nào không?  Nếu bạn biết “liếc” nhìn tấm bản đồ trên con đường “đi ăn cho vui” ở mỗi ngã tư, thì việc dừng lại để kiểm tra hành trình đời mình còn quan trọng hơn gấp ngàn lần bạn ạ.  Chắc chắn một điều, hành trình đời bạn đã và sẽ còn đối diện nhiều ngã tư lắm.  Cũng như bạn cần phải rẽ hướng trái hay phải thật chính xác, và chỉ có một lằn trên con đường giao thông xe cộ, thì mỗi ngã tư của đời bạn cũng sẽ phải đối diện với sự chọn lựa một mất một còn như vậy.  Rẽ đúng hướng sẽ đi về đích; rẽ sai hướng, bạn sẽ lạc mất hướng đi đời mình.  Nếu bạn không dừng lại kiểm tra hành trình đời mình, thì ai sẽ làm việc đó cho bạn?  Nhờ những lần bạn “liếc mắt” nhìn lại chính hành trình đời mình, hy vọng bạn sẽ vẫn còn thời gian quay lại đúng đường nếu mình đã lỡ đi lạc.

*******

Bạn thân, bạn hãy xác định hướng đi cho mình đi!  Bạn sẽ đi đâu?  Bản đồ ấy là gì?  Và đừng quên bạn cần dừng lại để “liếc mắt” đến cuộc hành trình của mình mỗi ngày.

Chúc bạn thành công tìm ra mục đích, lý tưởng đời bạn, phương tiện giúp bạn đạt được mục đích, lý tưởng ấy, và bạn thực sự chiếm đoạt được mục đích, lý tưởng của đời bạn.

Br. Huynhquảng

ĐẦY TỚ CỦA MỌI NGƯỜI

Bác sĩ Charles Mayo cùng với cha và người em xây dựng bệnh viện Mayo nổi tiếng trên thế giới tại Rochester thuộc bang Minnnesota.  Một lần có phái đoàn chuyên viên y khoa từ Âu Châu được mời đến nhà bác sĩ Charles Mayo. Theo tục lệ ở đó, khách sẽ để giầy ở ngoài cửa phòng ngủ để ban đêm sẽ có người đánh bóng các đôi giầy ấy.

Nhưng bác sĩ Charles Mayo là người về nhà sau cùng. Khi về phòng, ông thấy các đôi giầy để đó và đã quá khuya, ông không muốn đánh thức người giúp việc . Ông thở dài, rồi đem các đôi giầy xuống bếp, tự tay ông, thức đến nửa đêm để đánh bóng các đôi giầy của khách.

*****

Bạn thân mến! Câu chuyện của bác sĩ  Charles Mayo trên đây cũng là một tấm gương mà Chúa Giêsu muốn nhắn nhủ bạn và tôi trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay: “Nếu Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người ”(Mc.9:35).

Cũng như các Tông đồ chúng ta thường tranh luận ai trong chúng ta là người lớn nhất. Đức Kitô trả lời ta: “Người lớn nhất phải làm đầy tớ cho mọi người”.

Đây thật là một cuộc cách mạng. Vị trí trong xã hội bị đảo lộn. Người đứng đầu không còn phải để ra lệnh, nhưng để phục vụ. Người làm lớn không còn ăn trên ngồi trốc, nhưng chọn chỗ hèn mọn nhất. Người bé nhỏ nhất trở nên người lớn nhất. Người yếu đuối nhất trở nên người được trọng vọng nhất.

Đây là một cuộc cách mạng không đổ máu. Vì người đứng đầu trở thành người phục vụ không phải vì ép buộc nhưng do tự nguyện. Vì người làm lớn xuống chỗ hèn mọn nhất không buồn sầu nhưng trong niềm vui. Thế giới biến đổi không do những đấu tranh giành quyền lợi, nhưng do người có quyền tự nguyện từ bỏ đặc quyền đặc lợi.

Dĩ nhiên một tổ chức ở trần gian thì phải có người trên kẻ trước, phải có người lãnh đạo, chỉ huy.  Nhưng trong tổ chức của Chúa, thì những người giữ địa vị cao phải ý thức mình là rốt hết, ở thứ hạng sau cùng.  Người lãnh đạo phải trở nên tôi tớ cho mọi người: “Ai muốn làm đầu thì hãy ở cuối hết và hầu hạ mọi người”. Chúa nói thế và Người đã làm thế. Người đã dạy cho các môn đệ bài học khiêm nhường và phục vụ bằng chính việc làm của Ngài:  Người đã qùy gối rửa chân cho các môn đệ và mời gọi các ông cũng rửa chân phục vụ cho nhau:  “Các con gọi Thầy là Thầy và là Chúa thì đúng lắm. Vậy mà Thầy đã rửa chân cho các con. Các con cũng hãy rửa chân cho nhau” (Ga.13:13).

Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh của một đứa trẻ để làm gương mẫu cho người thấp hèn bé nhỏ trong Nước Trời. Thế nhưng Thiên Chúa lại hiện diện trong người thấp hèn bé nhỏ ấy:  “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy” (Mc.9:37) .

Trong cuộc sống hôm nay, ai là những “đứa trẻ” trong cái nhìn của tôi và bạn?  Có phải là những người thiếu học, những người tội lỗi? Những người lao động lam lũ vất vả vì tìm kiếm miếng ăn ? Làm sao để nhận ra họ?  Tôi và bạn, chúng ta đã tiếp đón họ như thế nào?

*****

Lạy Chúa!  Xin giúp con hiểu lời Chúa dạy, cho con quyết tâm thực thi điều Chúa mời gọi con hôm nay, đó là phục vụ mọi người trong tin yêu và khiêm tốn. Amen

(Tổng hợp từ R. Veritas)

SUY TÔN THÁNH GIÁ

Sách ghi lại rằng thánh Hélène, mẹ của vua Constantin, đã để lại một tượng thánh giá trong thành thánh Giêrusalem dưới thời hoàng đế Hérachius I.  Người Ba Tư vào thời gian đó đã tiến chiếm Giêrusalem và lấy đi một phần chính của thánh giá thật mà thánh Hélène đã dâng cúng tại thành thánh Giêrusalem.  Vua Hérachius I nhất quyết lấy lại thánh giá này.  Vua ăn chay, cầu nguyện, kêu gọi dân chúng hối cải, ăn năn sám hối, ăn chay, cầu nguyện để xin chúa thương giúp đỡ, bảo vệ, hun đúc tinh thần quả cảm, can đảm để chiến thắng quân Ba Tư, hầu thánh giá thật được dựng lại trong thành thánh Giêrusalem.  Lời cầu nguyện của vua Hérachius I và toàn dân đã được Chúa thương nhậm lời.  Vua và quan quân đã đánh bại, chiến thắng quân Ba Tư và trở về Constantinople trong tiếng reo hò, hoan ca vang dội của toàn dân.  Dân chúng cầm cành ô liu trong tay, và cầm những ngọn đuốc cháy sáng cung nghinh thánh giá thật đã được tái chiếm lại trong tay quân Ba Tư với niềm vui tràn trề.  Hoàng đế Hérachius I sung sướng không kể xiết, muốn trở về Giêrusalem ngay sau 14 năm thánh giá thật bị lưu lạc nơi quân Ba Tư.  Nhà vua tiến vào thành thánh, nhưng trước khi bước lên núi Sọ, nhà vua không thể nào bước đi được khiến mọi người âu lo và sợ sệt.  Trước sự lạ ấy, Giáo Trưởng Zacharie hô lớn: “Tâu Ðức Vua, chắc chắn phẩm phục sang trọng mà Ðức Vua đang mặc không xứng với sự khó nghèo và khiêm tốn mà Chúa Giêsu xưa đã thực hiện khi vác thập giá”.  Nhà vua nghe lời vị Giáo Trưởng kêu mời và vội cởi bỏ phẩm phục sang trọng, lộng lẫy mà vua đang mặc để khoác vào người bằng bộ quần áo khó nghèo.  Tức thì, vua bước đi được một cách nhẹ nhàng và dễ dàng trước sự chứng kiến của toàn dân và để chứng tỏ tình thương bao la vô biên của Chúa, Chúa đã làm vô vàn phép lạ trong ngày kỷ niệm đáng ghi nhớ đó.  Giáo Hội đã lập thánh lễ suy tôn thánh giá vào ngày 14/9 hằng năm để cho mọi người kính nhớ biến cố lớn lao, lạ lùng và đáng ghi nhớ này.

*******

Cái chết của Chúa Giêsu theo con mắt người đời, nhất là đối với người Do Thái lúc đó là một sự thất bại, một sự dại dột vì trước thách thức của người Do Thái: “Nếu hắn là Ðấng Kitô, là vua Israen, hắn cứ việc bước xuống khỏi thập giá ngay bây giờ cho ta thấy rồi ta tin” ( Mc 15, 32 ).  Chúa Giêsu vẫn một mực im lặng.  Sự lặng thinh của Chúa thật khó hiểu vì Ngài chấp nhận ý Cha để cứu chuộc nhân loại qua cái chết thập giá.  Chết là lời nói cuối cùng diễn tả tình yêu tuyệt đối của Chúa đối với nhân loại, đối với thế giới, đối với mọi người.  Chết mới nói lên lời: “Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu” ( Ga 15, 13 ).  Thập giá là hình phạt vô cùng bỉ ổi và ác độc của người Do Thái và La Mã đối với con người, đối với tội nhân.  Thập giá theo nhãn giới người thường là một thất bại ê chề, một thảm họa của con người mang nhãn hiệu “tội nhân” bị kết án tử hình.  Nhưng thập giá là mầu nhiệm tình thương, muôn đời con người có lòng tin vẫn suy phục tôn kính thánh giá.  Thánh giá là nguồn suối tuôn trào ơn cứu độ, là cuốn sách giá trị nhất trong mọi cuốn sách vì nơi đó con người tìm được sự an bình và hạnh phúc, con người tìm được niềm vui và ơn giải thoát khỏi tội lỗi.

Chúa Giêsu đã chiến thắng ma quỉ, đã từ chối mưu kế của satan, quỉ dữ.  Ngài đã ngước mắt lên trời, thưa với Chúa cha rằng: “Lạy Cha con xin phó linh hồn trong tay Cha “( Lc 23,45 ). Chúa Giêsu đã tín thác tất cả sinh mạng của Ngài trong tay Chúa Cha để Cha lo toan và định liệu.  Chính Chúa Cha đã làm cho Chúa Giêsu sống lại để cai trị, điều khiển mọi sự trên trời dưới đất ( Mt 28, 18 ).  Chúa Giêsu đã phục sinh để làm cho con người có sự sống mới, sự sống vĩnh cửu.  Thập giá luôn là thách đố cho con người, nhưng ơn cứu độ chỉ có được nơi thập giá vì chính nơi Chúa Giêsu, ơn cứu độ chứa chan cho mọi người.

*******

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết mến yêu thánh giá vì cây thánh giá mang lại ơn cứu độ cho chúng con.  Xin cho chúng con ơn can đảm để chúng con luôn làm chứng cho tình thương vô biên của Chúa.  Xin cho chúng con luôn biết giới thiệu thánh giá cho mọi người vì có kinh qua sự đau khổ thập giá như Chúa, chúng con mới được vinh quang.

LM Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

CUỘC SỐNG VĨNH CỬU

Trong mười một mẫu gương phục vụ nổi tiếng nhất trong Giáo Hội trong năm 2001, tạp chí “Inside Vatican” (Trong Ðiện Vatican), đã đề cao cha Micheal Giorgie, dòng Phanxicô, vị linh mục tuyên úy của Ðội Cứu Hỏa, đã hy sinh trong khi cấp cứu các nạn nhân cuộc khủng bố ngày 11/09/2001 tại New York, Hoa Kỳ.

Cha Giorgie sinh ra trong một gia đình di dân gốc Ái Nhĩ Lan.  Là thành viên của đội cứu hỏa New York, cha săn sóc tinh thần cho các nhân viên cứu hỏa.  Một trong những nhiệm vụ của cha là an ủi và nâng đỡ tinh thần cho các gia đình của những nhân viên qua đời.  Mỗi ngày, cha chứng kiến nỗi đau khổ của không biết bao nhiêu người.  Cha không chỉ an ủi và nâng đỡ các nhân viên cứu hỏa, tất cả những ai quen biết cha đều chứng kiến cảnh cha chia sớt tiền của cho những người vô gia cư.  Và các bạn của cha sẽ không bao giờ quên được hình ảnh của vị linh mục ngồi cạnh giường bệnh của các em bé.  Người ta lại càng thấy rõ tấm gương hy sinh quảng đại ấy chiếu sáng trong khi cấp cứu các nạn nhân của cuộc khủng bố ngày 11/09/2001.  Khi những nhân viên cứu hỏa ùa vào trong tòa nhà thương mại thế giới đang bốc cháy để tìm cứu các nạn nhân, họ biết rõ mình đang đương đầu với chính cái chết, cha Giorgie cũng ý thức được điều đó, nhưng ngài vẫn cùng với họ len lỏi  vào tòa nhà đang sụp đổ.  Cha ban bí tích xức dầu bệnh nhân cho những người đang hấp hối.  Là người của niềm tin, cha tin ở ơn cứu rỗi muôn đời và cha đã hy sinh mạng sống để mang lại ơn cứu rỗi ấy cho những ai đang đối diện với sự chết.  Vị linh mục đã tháo bỏ chiếc mũ bảo vệ đội trên đầu để cử hành nghi thức cuối cùng cho một người lính cứu hỏa bị một người phụ nữ từ trên một cửa sổ của toà nhà thương mại quốc tế nhảy xuống đè chết.  Trong khi ngài cử hành nghi thức thì một khối gạch rơi xuống trúng đầu, ngài chết tại chỗ.

Cha Micheal Giorgie đã trả giá cuối cùng là chính sự sống của ngài.  Cha hy sinh mạng sống của cha cho các nhân viên mà cha hằng yêu thương và gọi là con cái của cha.  Năm người lính cứu hỏa đã mang cha vào trong một nhà thờ gần bên và đặt cha dưới bàn thờ trong y phục của một người lính cứu hỏa.  Họ khóc cha một lúc rồi trở lại hiện trường để cứu thêm những nạn nhân khác.  Giấy chứng tử của cha mang số 1, bởi vì thi thể của cha là thi thể đầu tiên được mang ra khỏi nơi đổ nát.

Tại New York, người ta nói rằng cha phải là người chết số một, bởi vì cha là người hướng dẫn bao nhiêu người khác vào cổng thiên đàng.

*******

Biến cố ngày 11/09/2001 sẽ mãi mãi được ghi khắc trong tâm khảm của mọi người trên khắp thế giới.  Bên kia bao nhiêu cái chết và bao nhiêu thương tích là hình ảnh của vô số những bậc anh hùng.  Nhiều người sẽ bị lãng quên nhưng một số sẽ mãi mãi tồn tại như những cột trụ của chiến thắng và khải hoàn với sự hy sinh quên mình.  Giữa khối vụn vỡ và cát bụi trổ sinh những bông hoa của hy sinh quên mình.  Trong thân phận bụi tro, con người phải trở về tro bụi.  Nhưng bên kia tro bụi là sự sống mà sự hiến thân vô vị lợi làm cho trở nên vĩnh cửu.

Chúng ta không chỉ suy nghĩ về thân phận mong manh bất toàn của kiếp người.  Niềm tin hướng cái nhìn của chúng ta về sự sống vĩnh cửu.  Nơi đó, chân lý về con người luôn được ngời sáng.  Con người chỉ tìm gặp lại bản thân bằng sự hiến thân vô vị lợi.

*******

Lạy Chúa,  Trong khi mưu tìm cuộc sống giữa những thực tại chóng qua ở đời này.  Xin cho chúng con luôn biết tìm kiếm và xây dựng những giá trị vĩnh cửu.

R. Veritas

ĐỐI VỚI TÔI, ĐỨC GIÊSU LÀ AI?

Năm 1904, Hàn lâm viện Hoàng gia Anh đã tổ chức một cuộc triển lãm tranh, trong đó có trưng bày một bức họa tựa đề: “Người bị khinh chê chối bỏ”.  Bức hoạ vẽ Chúa Giêsu đứng trước nhà thờ chính tòa Thánh Phaolô, trong một khu phố ở trung tâm thành phố Luân đôn.  Đây là khu đông đúc dân cư nhưng không một ai để ý tới Ngài. Một người đàn ông vừa đi vừa đọc báo, suýt đâm thẳng vào Chúa. Một khoa học gia bận bịu với những ống nghiệm, không nhìn lên Chúa.  Một chức sắc trong hàng giáo phẩm hiên ngang ngẩng đầu tiến bước, nhưng không thấy Chúa.  Một nhà thần học đang hăng say thuyết giảng về Đức Kitô mà không nhìn thấy Ngài.  Duy nhất chỉ có một nữ tu nhìn thấy Chúa, nhưng vẫn dửng dưng bước đi trên con đường của mình.

Ông William Barclay, một học giả Kinh Thánh nổi tiếng trong thành phố Luôn Đôn đã bình luận về bức họa như sau: “ Hoàn cảnh này cũng thường xảy ra trong cuộc sống hôm nay. Nếu Đức Giêsu tái xuất hiện, có lẽ cũng chả ai chú ý tới Ngài.  Người ta còn bận tâm về đủ thứ chuyện cao siêu hơn là việc lưu tâm tới Chúa, chẳng ai thắc mắc “Đức Giêsu là ai ?

***

Bạn thân mến ! Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến câu hỏi: ”Đức Giêsu là ai? “.  Phúc âm tường thuật về việc Chúa Giêsu và các môn đệ cùng đi tới các làng xã vùng  .  Dọc đường Ngài đã gây ý thức cho các ông về người Thầy của họ bằng câu hỏi vô thưởng vô phạt: ”Người ta bảo thầy là ai?“. Sau đó Ngài đặt vấn đề cho các ông, bắt các ông phải trả lời câu hỏi quan trọng hơn: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”

Đức Giêsu đặt câu hỏi trên cho các môn đệ khi các ông còn đang ở với Ngài, đã thấy việc Ngài làm, đã nghe lời Ngài giảng dạy.

Hôm nay Đức Giêsu cũng đặt câu hỏi này cho tôi và bạn: “Con bảo Thầy là ai?” Ngài nhắm thẳng vào mỗi người trong chúng ta, đòi ta phải trả lời. Và câu trả lời của ta không phải là câu trả lời máy móc, không phải là cái biết lý thuyết trong sách vở, nhưng là cái biết thân tình của người môn đệ, phải bắt nguồn từ một kinh nghiệm gặp gỡ và quen biết Đức Giêsu. Nếu không thì chẳng lẽ ta lại đi theo một người mà mình không quen biết và tin tưởng sao ?

Hôm nay chúng ta dễ dàng trả lời như Phêrô: “Thầy là Đức Kitô“, và hơn Phêrô: “Thầy là Ngôi Lời nhập thể, là Con Thiên Chúa“.  Nhưng vấn đề không phải chỉ là trả lời đúng câu hỏi mà còn là sống tận căn thân phận của Thầy.

Ngay sau khi loan báo con đường khổ nạn mình sắp đi, Thầy Giêsu loan báo con đường dành cho người môn đệ. Môn đệ chỉ có một con đường duy nhất, đó là con đường Thập Giá của Thầy mình đã đi qua.

Thầy đã sống phận con người với tất cả bấp bênh tăm tối, đã phải chịu đau khổ, chịu hành hạ và sỉ nhục, chịu vác thập giá và chịu chết.  Tôi có dám sống phận con người của tôi trong niềm vui không? Tôi có dám từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ngài không ?

Thầy đã chịu chết vì làm chứng cho sự thật, tôi có dám hiến mạng sống của tôi vì Thầy và vì Tin Mừng không?

Thầy đã vượt qua đau khổ để vào vinh quang bất diệt, tôi có dám chọn con đường khiêm hạ và nghèo khó không?

Ngài thật là một mầu nhiệm khôn dò và phong phú. Ta chỉ mon men đến gần, nhưng không sao múc cạn được mầu nhiệm ấy. Phải thanh lọc những hình ảnh ta vốn có về Ngài.

***

Lạy Chúa Giêsu! Cuộc đời này có biết bao cạm bẫy mời mọc mà con thì lại yếu đuối mong manh.  Xin nâng đỡ con, để con đừng bỏ cuộc. Xin đồng hành với con, để con không cô đơn.  Xin cho con biết từ bỏ mình, vác thập giá mình mà bước đi theo Chúa đến cùng. Amen.

(Tổng Hợp từ R. Veritas)

CÂY KẸO  

Một hôm có một người  đến thăm bạn, ông ta  mang theo một cây kẹo to có hình dáng và màu sắc trông rất hấp dẫn để  làm quà cho cậu bé Út trong nhà.  Cậu bé thích thú cầm mãi trong tay…  Khi khách ra về, mẹ cậu bé lại gần và nhỏ to với cậu :

– Út cho mẹ cục kẹo này nhé !

Ngẫm nghĩ một chút, cậu biết mẹ rất sợ cay nên cậu bé nói :

– Kẹo này cay lắm, mẹ ăn không đươc đâu ! 

Bà của cậu bé cầm cây kẹo :

– Kẹo ngon quá, bà không sợ cay cháu cho bà nhé !

Suy nghĩ một chút, bà của cậu bị huyết áp cao nên kiêng không ăn mặn nên cậu bé trả lời

– Kẹo này mặn lắm, bà không ăn đươc đâu

Ông của cậu bé từ ngoài vườn vào cười cười :

– Ông không sợ cay cũng không sợ mặn, cháu cho ông nhé!

Cậu bé nắm chặt cây kẹo hơn một tí và nghĩ thầm:  răng của ông đã rụng gần hết  cả rồi, thế là cậu bé nói:

– Kẹo cứng lắm ông không ăn đươc đâu!

Cha của cậu bé nói nhỏ vào tai cậu:

– Vậy thì chỉ có ba mới ăn được cây kẹo này rồi: vì ba không sợ cay cũng không kiêng mặn, ba vừa gặp nha sĩ xong hàm răng của ba rất tốt .

Lần này cậu bé giữ thật chặt cây kẹo trong hai bàn tay của mình, cậu ngẫm nghĩ một lúc lâu, rồi mắt cậu sáng lên và nói :

– Ba không ăn đươc đâu vì kẹo này dành cho… con nít !

Trong đời sống của bạn và tôi , có bao lần chúng ta giống như cậu bé, đã đưa ra rất nhiều lý do để khước từ sự chia xẻ với người khác???!

*******

Khi xưa ở Biển Hồ Ga-Li-Lê, trước đám đông theo Người để nghe giảng dạy,  họ không có gì để ăn, ông An Rê thưa cùng Người :” Ở đây có một em bé có năm cái bánh lúa mạch  và hai con cá nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu !”(Ga 6 ,9)

Với quyền năng của Thiên Chúa, như trong tiệc cưới Cana, Người đã hóa nước thành rượu.  Chúa Giêsu có thể biến đá thành bánh là điều thật dễ dàng với Người, nhưng Người đã dùng năm cái bánh và hai con cá của một em bé, phần ăn mà em mang theo bên  mình, phần ăn mà em đã sẵn lòng chia xẻ với mọi người, dù em biết là không thấm vào đâu so với đám đông.

Thiên Chúa có thể làm mọi điều tốt đẹp cho chúng ta vì Ngài rất yêu thương chúng ta, nhưng Người mong muốn sự cộng tác của chúng ta, như em bé khi xưa đã trao ra không chỉ là năm cái bánh  và hai con cá, mà là tình yêu thương của em với những người xung quanh: vì chính trong tình yêu thương nhau, chúng ta kết hợp với nhau và nên một cùng với Thiên Chúa .

”Thiên Chúa là tình yêu : ai ở lại  trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa”( 1Ga 4,16)

*******

Lạy Chúa, con xin lỗi Chúa về những khi con dửng dưng trước những khó khăn, thiếu thốn, tuyệt vọng của người khác.
Xin cho mắt con biết thương yêu để con nhận biết và giúp đỡ người khác.
Xin cho tai con biết thương yêu để con biết lắng nghe trước những đau khổ, khó khăn của người khác.
Xin cho miệng con biết thương yêu để con biết an ủi người khác.
Xin cho tay chân con biết thương yêu để con biết tìm đến làm việc lành, phục vụ cho người khác.
Xin cho tim con biết thương yêu để con chân thành, cảm thông và không khước từ bất cứ một ai như tình yêu Thiên Chúa đã dành con.  Amen!

MT

HÃY MỞ RA

Nữ văn sĩ Hellen Keller (1880-1968) nổi tiếng của Hoa Kỳ ở thế kỷ XX là một người khuyết tật: vừa mù vừa câm điếc.  Thưở nhỏ vì không thể nhận biết các âm thanh nên cô không phát âm được cho dù thanh quản và miệng lưỡi của cô vẫn hoạt động bình thường.  Cô hay nổi loạn và phá phách, nhất là trong những bữa ăn.  Gia đình mướn gia sư để kềm cặp dậy dỗ, nhưng chẳng ai chịu được tính tình của cô bé này.  Đến năm 7 tuổi, nhờ sự kiên nhẫn của cô giáo Anne Sullivan mà Hellen học nói bằng ngôn ngữ cho người câm điếc, đánh vần trên lòng bàn tay.  Lần đầu tiên Hellen phát âm được chữ “wa” – “ter”  (water: tiếng Anh nghĩa là nước), cô thật sự sung sướng vì có thể giao tiếp được thế giới bên ngoài.  Dần dần cô học đọc học viết bằng chữ Braille dành cho người khiếm thị.  Sau đó cô tiếp tục học lên đại học, và trở thành nhà văn.

Hellen Keller tâm sự rằng bị câm điếc thì khổ hơn bị mù rất nhiều, vì bị câm điếc không nghe được, không nói được, nên mình không hiểu người mà người cũng không hiểu mình.  Người ta dễ cảm thông với người mù hay người què cụt hơn là với người câm điếc, vì người câm điếc bề ngoài trông không giống người tàn tật.  Chỉ khi nào tiếp xúc với họ, ta mới biết họ cô đơn lẻ loi đến chừng nào.

Những người lần đầu tiên ra nước ngoài sinh sống hay học tập đều có một kinh nghiệm tương tự như bà Hellen Keller.  Vì không quen với ngôn ngữ mới, thì có tai cũng như điếc, có miệng như câm: nghe không hiểu, nói không được.  Không nghe được, không nói được cũng giống như đóng kín cánh cửa cảm thông.  Hàng rào ngôn ngữ đã tạo khoảng cách làm ta cảm thấy cô đơn và lẻ loi.

* * * * * * *

Trong câu chuyện tin mừng hôm nay, Đức Giêsu đi về vùng của dân ngoại, miền Thập Tỉnh, là vùng của mười thị trấn (dekapolis) ở phía đông sông Giođan.  Ở đó Ngài đã chữa lành cho một người điếc và ngọng.  Có lẽ câu chuyện này cũng tương tự như bao câu chuyện khác chúng ta đã từng nghe. Nhưng điểm làm tôi chú ý nhất là cách chữa bệnh của Đức Giêsu.  Có một chút gì đó là lạ trong cách Ngài chữa bệnh lần này.  Thay vì chỉ đơn giản truyền lệnh, như Ngài đã nói với người phung: “Ta muốn, con hãy được sạch!” (Mc 1,41), hoặc với người bại liệt: “Đứng dậy, vác chõng mà đi!” (Mc 2,11), hoặc với người bại tay: “Giơ tay ra!” (Mc 3,5), hoặc với cô bé con ông chủ hội đường: “Ta-li-tha-kum, dậy đi con! (Mc 5,41), thì Ngài lại “đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh” rồi mới kêu lớn tiếng bằng tiếng Aram: “Ep-pha-ta! hãy mở ra” (Mc 7,33-34).  Chưa hết, sau khi sự kiện xảy ra là người vừa điếc vừa ngọng ấy nghe được, nói được thì Ngài lại “truyền bảo họ không được nói với ai” (Mc 7,36).  Úp úp mở mở, bí bí mật mật, không giống như thái độ của vị tôn sư danh tiếng vang lừng.

Thế thì tôi phải hiểu câu chuyện Maccô ghi lại như thế nào đây?  Đức Giêsu không phải là một pháp sư làm ma thuật, nhưng là một thầy thuốc đến chữa lành.  Có lẽ Đức Giêsu phải kéo người khuyết tật ra riêng để tránh óc hiếu kỳ của đám đông.  Ngài chạm lấy đôi tai, cái lưỡi của người điếc và ngọng ấy để gợi ý cho người anh ta biết rằng anh rất có thể được chữa lành.  Đó là cách duy nhất Ngài tiếp cận được với anh ta, vì nếu Ngài có nói, anh cũng không nghe được, có ra hiệu anh cũng không hiểu.  Nhưng với một cử chỉ thân tình, Ngài chạm đến anh để anh được chữa lành.  Xỏ ngón tay vào lỗ tai để anh hiểu rằng anh sẽ được nghe, chạm tay vào lưỡi để anh biết rằng lưỡi anh sẽ được tháo cởi.  Xỏ tay vào tai và chạm tay vào lưỡi để anh thấy rằng: tình yêu chẳng phải lời nói suông, nhưng được thể hiện qua hành động.  Và tình yêu đó cho đi nhưng không, không cần ghi công, không cần tán tụng.

Việc chữa lành của Đức Giêsu cho người điếc và ngọng ở vùng Thập Tỉnh diễn tả lời ca của ngôn sứ Isaia trong về triều đại của Thiên Chúa (Is 35, 4-6).  Khi mắt người mù được mở, tai kẻ điếc được nghe, khi kẻ què nhảy cẫng lên và người câm cất tiếng hát, là hình ảnh của một thời đại của lòng thương xót, của chữa lành và hoà giải.  Khi Đức Giêsu nói Ep-pha-ta, Hãy mở ra, Ngài đang khai mở một thời đại mới, xoá đi sự phân biệt đối xử, hàng rào ngăn cách giữa Israel và dân ngoại.  Khi đến với kẻ tật nguyền, Ngài lấp đi hố sâu mặc cảm, nối kết lại truyền thông giữa người và người.

Có thể chúng ta và nhiều người khác ngày nay không bị điếc bị ngọng về mặt thể lý, nhưng bị điếc bị ngọng về mặt tinh thần.  Khi tôi bỏ ngoài tai những giáo huấn của Tin Mừng, của giáo hội, khi tôi cố chấp trước những lời khuyên bảo của người khác mà làm những điều xằng bậy không biết hổ thẹn, là tôi đang bị điếc. Khi tôi không dùng miệng lưỡi để nói những lời yêu thương và chân thật, đem lại bình an và hoà thuận, mà lại dùng miệng lưỡi để bỏ vạ cáo gian, nói những lời dối trá xuyên tạc, gây chia rẽ hận thù, là tôi đang bị ngọng.  Khi tôi giả điếc làm ngơ trước những bất công của xã hội, trước những tệ nạn nhan nhản chung quanh, khi tôi im lặng thoả hiệp với sự dữ, an phận với quyền lợi nhỏ nhoi của mình, thì tôi có tai mà chẳng nghe, có lưỡi mà chẳng nói.

Trong một xã hội mà con người vẫn chưa bình đẳng về nhiều mặt, mơ ước bình đẳng là điều chính đáng.  Nghèo đói, kỳ thị, bất công, phân biệt đối xử, dễ làm cớ vấp phạm cho nhiều người.  Trước những nghịch cảnh của cuộc đời, khi người nghèo bị bỏ rơi, phụ nữ bị buôn bán, người khuyết tật bị lợi dụng, người liêm chính bị bịt miệng, những bào thai vô tội bị phá huỷ, đất đai bị cưỡng đoạt, cơ sở thờ tự bị di dời, để cho một thiểu số tham lam trục lợi, thì người Kitô hữu không thể dửng dưng cho rằng đây là chuyện của xã hội, để người khác lo, còn mình, mình chỉ lo phần thiêng liêng của mình.

Chúa Giêsu luôn trân trọng những người bệnh hoạn, tật nguyền và luôn bênh vực những mẹ góa con côi.  Là những người theo Chúa, chúng ta có trách nhiệm phải yêu thương họ và tỏ tình liên đới gắn bó với họ.  Thói thường người ta hay trọng giầu khinh nghèo, tham danh vọng bỏ nhân nghĩa.  Chính thánh Giacôbê đã nhắn nhủ tất cả những người tin vào Chúa Giêsu đừng đối xử thiên vị, đừng tham phú phụ bần, đừng phân biệt giầu nghèo, bởi vì những người xem ra kém may mắn, khó nghèo lại được Chúa hứa ban nước Trời. (Gc 2, 5).

Hôm nay Lời Chúa thách đố chúng ta hãy để Chúa Giêsu mở miệng lưỡi chúng ta về mặt thiêng liêng, để Ngài khai mở đôi tai điếc của chúng ta.  Nói cụ thể hơn, có một cử chỉ rất quen thuộc mà mỗi lần tham dự thánh lễ chúng ta đều thực hiện.  Đây là lúc nghe công bố Tin Mừng thí dụ như “Bài trích Phúc âm theo thánh Maccô,” và chúng ta đáp lại: “Lạy Chúa, vinh danh Chúa” và ta làm dấu thánh giá trên trán, trên môi, trên ngực.  Đấy chính là dấu chỉ bề ngoài để nói lên ý nghĩa bên trong: “Hãy mở ra.”  Ý muốn nói: Lạy Chúa xin hãy mở trí khôn con, xin mở miệng con, xin mở trái tim con, để con được hiểu, để con cảm nhận, để con có thể nói Lời của Chúa.  Một cử chỉ rất quen thuộc, nhưng vì quá quen nên dễ bị xem thường.  Ước gì mỗi lần làm dấu thánh giá chúng ta ý thức được: Tôi phải mở trí, mở lòng, mở miệng ra để thoát khỏi cảnh câm điếc.

Ước gì hôm nay, bạn cũng như tôi, chúng ta được chính Chúa Giêsu giải thoát chúng ta khỏi cảnh điếc và ngọng, để có thể lắng nghe những thao thức của con người trong thời đại chúng ta, và cất tiếng nói thay cho những kẻ thấp cổ bé miệng.  Im lặng trước bất công là đồng loã với tội ác.  Cho dù những lời của chúng ta chỉ là tiếng kêu trong sa mạc, chúng ta vẫn có thể thực hiện lời nói đó bằng những hành động cụ thể để tỏ lòng yêu thương và gắn bó với người nghèo, thất học, bị xâm phạm, bị bỏ rơi.

Để kết luận, mời bạn cùng tôi dùng lời nguyện của linh mục Nguyễn Công Đoan, dòng Tên để cùng cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin hãy dùng con theo ý Chúa,
làm chân tay cho những người què cụt,
làm đôi mắt cho những ai phải đui mù,
làm lỗ tai cho những người bị điếc,
làm miệng lữơi cho những người không nói được,
làm tiếng kêu cho những người bị bất công.

Lạy Chúa xin cứ gởi con ra đồng lúa
để đem cơm cho người đói đang chờ,
đem nước cho những người bị khát,
đem thuốc thang cho những người đau ốm,
đem áo quần cho những người trần trụi,
đem mền đắp cho người rét đang run.

Lạy Chúa, xin cứ gửi con ra đường
thắp đèn soi cho ai bước trong đêm,
đốt lửa ấm cho những ai giá lạnh.
Truyền cảm thông cho lữ khách đơn côi,
nâng đỡ dậy cho những kẻ bị chà đạp,
đem tự do cho những kiếp đoạ đày.  Amen.

Antôn Phaolô, S.J

EPHATA – HÃY MỞ RA

Một người ở trong nước hỏi một cụ già về thăm quê hương:

–  “Sống ở nước ngoài nhiều năm, điều gì khiến cụ buồn khổ nhất? ”.

Cụ già trả lời:

–  “Khổ nhất là chúng tôi sống như những người câm và điếc. Không biết tiếng Tây tiếng Mỹ nên chúng tôi y như người câm, chẳng nói được điều gì.  Không biết tiếng Tây tiếng Mỹ nên chúng tôi cũng y như người điếc, chẳng hiểu người ta nói điều gì ”

***

Bạn thân mến!  Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến người câm và điếc.  Anh đã được Chúa Giêsu chữa lành bệnh.   Ngài kéo riêng anh ta ra một nơi, đặt ngón tay vào lỗ tai của anh, nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh.  Rồi Ngài ngước mắt lên trời và nói : “Ephata! “, nghĩa là “ Hãy mở ra !”  Lập tức tai anh ta mở ra, lưỡi của anh như không còn bị buộc lại.  Anh nghe và nói được rõ ràng .

Câm và điếc là tật nguyền của lưỡi và tai.  Lưỡi không thể nói và tai không thể nghe. Không nói được và không nghe được khiến cho người câm điếc không hiểu được thế giới chung quanh họ, và thế giới chung quanh cũng bị ngăn cách với người câm điếc.  Đó là câm điếc thể lý.

Trong nhân gian, còn có nhiều bệnh câm điếc khác nữa:  Câm điếc vì khác biệt ngôn ngữ và văn hóa. Câm điếc vì hiểu lầm, vì định kiến.  Câm điếc vì bịt tai không muốn nghe và ngậm môi vì giận dữ.  Câm điếc trước sự thật, giả câm giả điếc không dám làm chứng cho chân lý. Câm điếc khi không nghe được những nỗi niềm ray rứt của người khác. Câm điếc khi dửng dưng trước những đau khổ của những người bệnh hoạn, tật nguyền, của trẻ thơ bơ vơ.

Nhưng còn có một loại câm điếc khác to lớn hơn; nguy hiểm hơn.  Đó là câm điếc tâm linh.  Khi bị câm điếc tâm linh, ta không nghe được Lời Chúa nói với ta trong tâm hồn, hay dạy dỗ ta qua Tin Mừng.  Không dám mở miệng để ngợi khen Chúa và làm chứng cho Ngài.  Đó là lúc ta bỏ ngoài tai lời của Chúa nói với ta về sự thật, về chân lý,  về yêu thương và hòa giải.  Khi bị câm điếc tâm linh, ta ngoan cố ở lỳ trong tội lỗi, ta cố tình ở lỳ trong cái chết của tâm hồn, không thèm nghe lời mời gọi hối cải thúc dục của Chúa Thánh Thần.

Nếu câm điếc thể lý đáng buồn và đáng sợ, thì câm điếc tâm linh còn đáng buồn và đáng sợ gấp bội.  Câm điếc tâm linh làm ta lìa xa Chúa, đánh mất Ơn Thánh Sủng, dẫn đưa ta đến cái chết đời đời.

Hôm nay, Ðức Giê-su cũng đến và mời gọi ta: “Ephata”. Hãy mở ra.

Hãy mở tai ra để lắng nghe lời anh em. Hãy mở tai ra để lắng nghe lời Chúa.  Hãy phá đi bức tường định kiến.  Hãy phá đi bức tường ích kỷ.  Hãy phá đi bức tường tâm hồn cứng cỏi để mở rộng tâm hồn đón nhận anh em và đón nhận Lời Chúa.

Hãy mở miệng lưỡi ra để đi đến với anh em và đi đến với Chúa.  Hãy cắt đứt sợi dây ích kỷ để ta quan tâm tới nhu cầu của anh em.  Hãy cắt đứt sợi dây sợ sệt để ta mạnh dạn nói những lời sự thật.  Hãy cắt đứt sợi dây lười biếng để ta nói lên những lời tốt đẹp, những lời ca ngợi tình thương và ân sủng của Chúa.

***

Lạy Chúa!  Khi con không nghe được lời của Ngài dạy dỗ, con là kẻ điếc. Khi con không nói được về Ngài, không làm chứng được cho Ngài, con là người câm.  Đó là một hình thức câm điếc tâm linh.  Xin Chúa chữa trị cho con.  Xin chữa con khỏi câm khỏi điếc.  Xin cho tai và miệng con được mở ra, để con biết lắng nghe và hiểu Lời Ngài, để cuộc đời con luôn là một lời tri ân và cảm tạ tình yêu và ân sủng của Chúa giữa thế giới hôm nay. Amen

(Tổng hợp từ R. Veritas)

LỄ ĐỨC MẸ THĂM VIẾNG (có Youtube)

Chuyện kể rằng: một thiếu nữ hôm mừng sinh nhật tuổi 17, đã xin Mẹ cô một chiếc gương soi cỡ lớn, nhưng người mẹ đạo hạnh lại cho cô một gói quà nhỏ.  Mở ra, cô thấy một bức ảnh Đức Mẹ với lời đề tặng: “Đây là chiếc gương lớn nhất mà mọi người cần soi bóng.”  Bấy giờ thiếu nữ mới hiểu và hằng ngày cô đã soi bóng mình trong tấm gương Maria.  Sau đó cô đã đi tu, sống một cuộc sống thánh thiện, và trở thành một vị thánh.

Người thiếu nữ trong câu chuyện trên đây nhờ người mẹ đạo hạnh nên biết soi chiếu đời mình nơi tấm gương Đức Maria.  Thật vậy, Đức Maria chính là mẫu gương tuyệt hảo về mọi nhân đức cho mỗi người chúng ta noi theo.  Hôm nay, chúng ta cùng nhau noi theo gương thăm viếng của Mẹ.

Bài Tin mừng thánh Luca tường thuật lại biến cố Mẹ đi thăm viếng bà Êlizabéth.  Biến cố này diễn ra liền sau khi Mẹ vừa chấp nhận lời Thiên thần truyền tin để cưu mang Đấng Cứu Thế.  Lúc đó, Thiên thần Gabriel báo cho Mẹ biết bà Êlizabeth đã cưu mang Thánh Gioan Tẩy Giả được sáu tháng.  Mẹ liền chỗi dậy, vội vã đi lên miền núi.  Không phải Mẹ “vội vã” tới nơi bà Êlizabéth để kiểm chứng lời của Thiên thần loan báo, cũng không phải để khoe khoang với Bà Êlizabét vì Mẹ được làm Mẹ Đấng Cứu Thế?  Nhưng sự “vội vã” nói lên tâm tình của Mẹ: tâm tình muốn chia sẻ; tâm tình muốn giúp đỡ. Vì muốn chia sẻ niềm vui có Chúa trong mình, vì muốn giúp đỡ bà chị họ trong lúc khó khăn, nên Mẹ đã chấp nhận hy sinh lên đường.  Mẹ “đi lên miền núi.”  Đường miền núi chắc chắn sẽ khó khăn vất vả: bụi bặm trong những ngày nắng, trơn trượt trong những ngày mưa.  Nhưng dù khó khăn vất vả đến mấy cũng không ngăn cản được tình yêu của Mẹ.  Mẹ đã lên đường.  Mẹ đã vượt qua được quãng đường dài đầy gian nan vất vả, cuối cùng Mẹ đã đến.

Giờ phút hai bà mẹ gặp nhau.  Người thăm viếng và người được viếng thăm tay bắt mặt mừng.  Niềm vui trong giờ phút đó không bút mực nào tả xiết.  Đối với Bà Êlizabéth, được “Chúa cất đi nỗi tủi nhục,” cho bà mang thai trong tuổi già, đã là niềm vui vô cùng to lớn.  Giờ đây, niềm vui đó được nhân lên gấp bội khi được “Mẹ Chúa đến viếng thăm.”  Còn Mẹ Maria, Mẹ vui vì có Chúa trong mình.  Mẹ vui vì thấy được những sự lạ lùng đang diễn ra trong cuộc đời của Mẹ.  Mẹ vui hơn khi được chia sẻ niềm vui đó cho bà chị họ.  Khi nghe bà Êlizabéth ca tụng, Mẹ quy hướng tất cả những gì Mẹ được về cho Thiên Chúa “Đấng toàn năng đã làm cho tôi những điều kỳ diệu.”  Chính vì vậy, Mẹ đã cất lời ngợi khen Thiên Chúa bằng lời kinh Magnificat: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, và thần trí tôi hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa Đấng Cứu độ tôi.”

Niềm vui giữa hai bà Mẹ được lan tỏa sang hai người con đang còn trong bụng.  Bà Êlizabéth đã xác nhận: “Vì này tai tôi vừa nghe lời Bà chào, thì hài nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi.”

Chính niềm vui hôm nay đã được tiên tri Sôphônia tiên báo, như chúng ta vừa nghe trong bài đọc thứ nhất: “Hỡi thiếu nữ Sion, hãy cất tiếng ca!  Hỡi Israel, hãy hoan hỉ!  Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy hân hoan và hãy nhảy mừng hết tâm hồn!  Chúa đã rút lại lời kết án ngươi, và đã đẩy lui quân thù của ngươi.  Vua Israel là Chúa ở giữa ngươi, ngươi không còn sợ khổ cực nữa.”  Vị tiên tri đã báo trước về ngày này.  Ngày vua Israel thực hiện lời hứa.  Ngày Ngài viếng thăm và cứu chuộc dân Người.

Hiệu quả của cuộc thăm viếng này vô cùng lớn lao: bà Êlizabeth được Mẹ lưu lại giúp đỡ trong những ngày thai nghén, sinh nở: “Maria ở lại với bà Elisabeth độ ba tháng, đoạn Người trở về nhà mình.”  Thánh Gioan Tẩy giả được khỏi tội Tổ Tông Truyền ngay từ trong lòng Mẹ.  Như vậy, cả nhà ông Giacaria đều tận hưởng niềm vui hoàn hảo vì có Chúa và Mẹ ở cùng.

Biến cố Đức Mẹ đi thăm viếng bà Êlizabéth không những mang tính lịch sử mà còn là mẫu mực cho các cuộc thăm viếng của con người qua mọi thời đại.

Trong cuộc sống, chúng ta thường thể hiện tình yêu thương bằng nhiều cách thế khác nhau: có thể bằng một tin nhắn, bằng một cú điện thoại, bằng một lá thư điện tử, bằng một lá thư viết tay, bằng một gói quà đặt trọn tất cả tấm lòng trong đó…, nhưng tất cả những cách thức đó không thể thay thế cho sự thăm viếng cách trực tiếp.  Bởi vì, thăm viếng không chỉ là chuyện thường tình giữa con người với nhau: giữa anh chị ruột thịt với nhau, giữa bạn bè với nhau, giữa làng xóm láng giềng với nhau, giữa người khoẻ với người đau yếu…  Nhưng có khi sự thăm viếng lại là một bổn phận: bổn phận giữa bề dưới với bề trên, bổn phận giữa người khoẻ với người ốm đau bệnh tật, bổn phận giữa con cái cháu chắt với ông bà cha mẹ.  Con cái có bổn phận thường xuyên thăm viếng cha mẹ, nhất là khi cha mẹ gặp sự khốn khó, bệnh tật, như người xưa dạy rằng:

“Mẹ già ở túp lều tranh
Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con.”

Tuy nhiên, trong thời buổi kinh tế thị trường, người ta thường hay vịn lý do công việc để miễn trừ cho bổn phận thăm viếng ông bà, cha mẹ.  Nhưng thử hỏi, công việc, tiền bạc quan trọng hơn hay là bổn phận thăm viếng, lòng thảo hiếu với ông bà cha mẹ quan trọng hơn?  Cần dành thời gian nhiều để thăm viếng.  Thăm viếng khi vui, thăm viếng khi buồn, thăm viếng khi ốm đau bệnh tật.  Người ta thường nói: “Vui chia vui thành hai vui khác, buồn chia buồn chỉ còn một nửa.”

Để các cuộc thăm viếng mang lại niềm vui và hiệu quả tốt đẹp, cần phải noi gương Mẹ Maria luôn phải mang Chúa trong mình.  Có Chúa là có tình thương, niềm vui và bình an.  Khi đó cuộc thăm viếng của chúng ta mới đem tình yêu đến cho mọi người.

Xin cho mỗi Kitô hữu chúng ta, luôn bắt chước gương thăm viếng của Mẹ Maria.  Hãy thăm viếng nhau và đem lại cho nhau những niềm vui và sự bình an.  Hãy thăm viếng những người yếu đau và có thể mang theo những món quà với tình thương mến.  Bề trên hãy thăm viếng những người bề dưới với sự đồng cảm và sẻ chia.  Bề dưới hãy thăm viếng bề trên với lòng hiếu kính.  Đặc biệt, trong các cuộc thăm viếng hãy mang Chúa đến cho tha nhân, như Đức Mẹ đem Chúa đến cho cả gia đình ông Giacaria ngày xưa.

Lạy Chúa, xin cho mọi người chúng con biết noi gương Mẹ Maria luôn biết siêng năng thăm viếng tha nhân.  Xin Chúa đồng hành với chúng con trong các cuộc thăm viếng, để các cuộc thăm viếng của chúng con mang lại niềm vui và sự bình an cho tha nhân. Amen.

 Lm. Anthony Trung Thành

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

KHO TÀNG CỦA TẠO HÓA (có Youtube)

“Chúng ta phải cầu nguyện luôn mà không biết mệt mỏi, vì sự cứu rỗi của nhân loại không phụ thuộc vào sự thành công về vật chất, và cũng không dựa trên khoa học mà làm mờ đi sự minh mẫn.  Và nó cũng không phụ thuộc vào vũ khí và các nghành công nghiệp của con người, nhưng nó chỉ dựa vào một mình Chúa Giêsu” – 

Thánh Frances Xavier Cabrini

Đọc những lời lẽ khôn ngoan của các thánh chúng ta hiểu được các ngài đã tìm được kho tàng mà Chúa Giêsu muốn nói với các môn đệ trong Phúc Âm Luca chương mười hai, “kho tàng của anh em ở đâu thì lòng anh em ở đó.”  Kho tàng mà các thánh tìm được chính là thứ mà mỗi người chúng ta được sinh ra để đi tìm; thế nhưng tại sao những người tìm thấy được nó thì chẳng có bao nhiêu?  Không biết các bạn có bao giờ đọc tiểu sử của các thánh và suy tư về cuộc đời của các ngài thật sự như thế nào chưa?  Nếu các bạn chưa từng thực hiện điều này, tôi mời bạn hãy đi tìm đọc một mẫu chuyện nhỏ của một vị thánh quen thuộc với bạn và suy tư về kho tàng họ tìm được.  Và nếu bạn đã từng đọc qua nhưng chưa bao giờ suy tư  xin hãy dừng lại chốc lát và suy tư về lối nhìn và cách sống của các ngài.  Một loạt những câu hỏi sẽ được đặt ra: các ngài đã nhìn thấy gì?  Cái gì đã thúc đẩy các ngài để đi tìm kho tàng đó mà các ngài đã bỏ hết cuộc đời để tìm kiếm?  Nói một cách khác, kho báu của các thánh là gì?  Phải chăng đó chỉ vỏn vẹn là một Thiên Chúa mà chúng ta cùng được biết và được mời gọi chia sẻ kho tàng vô giá ấy?  Nếu những gì các thánh đã nhận ra đều được tỏ lộ cho chúng ta qua nhiều thế kỷ, tại sao chúng ta lại không nhận thấy?  Phải chăng chúng ta là những người như Chúa đã nói trong Phúc âm, “có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe?”

Các thánh là những người có tầm nhìn xa và họ không lu bu với những bận rộn xung quanh, bởi thế cuộc sống của các ngài không chỉ luẩn quẩn với những công việc hàng ngày.  Nhưng các ngài luôn dành thời gian để trèo lên đỉnh núi của tâm hồn để quan sát lại tầm nhìn và hướng đi của mình.  Thật sự trên đỉnh núi chúng ta sẽ nhìn mọi sự rõ ràng hơn.  Ở đó, chúng ta không chỉ nhìn thấy được những gì liên quan đến chính mình, nhưng còn nhìn thấy cả một thế giới rộng lớn đang bao trùm lấy ta và ta là một phần tử nhỏ trong thế giới sống động ấy.  Lúc đó chúng ta sẽ nhận ra rằng phải có một sức mạnh siêu nhiên làm chủ và điều khiển tất cả, và con tim của chúng ta sẽ nhận ra sự tài tình của Thiên Chúa cũng như sự hiện diện của Ngài trong vũ trụ này.  Chính ở trên đỉnh núi của tâm hồn mà các thánh nhận ra được sự nhỏ bé của mình và tìm được kho tàng quý báu của các ngài – là chính Chúa Giêsu, kho tàng của mọi tạo vật.

Nhìn lại kinh nghiệm sống của mỗi người, có lẽ chúng ta đã có dịp trèo núi hay được đi núi.  Trong kinh nghiệm đó chúng ta nhận ra rằng con đường đi đến đỉnh núi không dễ dàng và chúng ta phải dồn hết sức lực mới đến được nơi mà ta muốn đến.  Và khi đến nơi, ta hẳn quên đi sự mệt mỏi của chặng đường đã qua và chỉ biết kinh ngạc trước sự hùng vĩ của thiên nhiên.  Nơi đó trước khung cảnh thiên nhiên, chúng ta cảm thấy mọi sự như mới mẻ, như chúng ta được tiếp sức, và chúng ta cảm thấy mình thật nhỏ bé và được bao bọc trong sự quan phòng của Thiên Chúa.  Trên đỉnh núi đó, chúng ta được nhắc nhở rằng chúng ta không làm chủ bất cứ gì nhưng được mời gọi để sống và thưởng thức sự hùng vĩ và cảnh đẹp của thiên nhiên.

Hành trình của tâm hồn mỗi người chúng ta cũng tương tự.  Chúng ta phải dồn hết sức lực để trèo, để tìm, để khám phá.  Hành trình của mỗi người chúng ta là tìm ra kho báu của đời mình, một kho tàng mà Thiên Chúa đã trao ban cho riêng từng người chúng ta.  Các thánh là những người đã đi trước và các ngài đã tìm được và đã hướng dẫn chúng ta biết cách tìm đến kho tàng vô giá đó.  Sự chọn lựa là do chúng ta và nằm trong tầm tay của mình.

Ước gì mỗi người chúng ta hãy dùng chút thời gian trong ngày để tìm hiểu những con đường các thánh đã đi qua, hầu giúp chúng ta biết trèo lên đỉnh núi thiêng liêng của con tim, định hướng lại con đường trước mặt và tiếp tục tìm kiếm vì chúng ta không thể quên rằng chúng ta được sinh ra để đi tìm kho tàng quý báu dành cho chúng ta – đó chính là Ngôi Hai Thiên Chúa.  Nguyện xin các thánh – là những người đã dành hết cuộc đời của các ngài để đi tìm kho tàng quý báu ấy, và khi tìm được rồi các ngài đã can đảm đánh đổi tất cả để được nó – dạy cho chúng ta biết bắt chước các ngài và luôn đi tìm Thiên Chúa trong cuộc sống hàng ngày.

Củ Khoai

******************

Con đã tìm hạnh phúc từ lâu,
đôi khi như người điên, người mất trí,
với sự đam mê, với lòng tham lam
tiền bạc, quyền hành, quyền lực…
con đã nếm mùi chút ít những điều đó,
nhưng lạy Chúa, con không tìm được niềm vui.

Con đã tìm hạnh phúc trong sự khôn ngoan,
Khôn ngoan như thế gian đề nghị
kiến thức, khoa học, tiếng tăm,
biết hết về lòng người,
hiểu hết về định mệnh thế giới,
nhưng đây cũng vậy, con không thấy chi cả.

Con cũng đã tìm thành công, lạy Chúa
Trong đời con, trong nghề nghiệp, trong gia đình,
được đứng nhứt mọi nơi, được mọi người nghe,
được mọi người nhìn nhận, nhưng con không gặp chi cả.

Hôm nay, lạy Chúa, Chúa mời con lắng nghe Chúa.
Chúa không đợi nơi con công trạng và thành công.
Chúa chờ con giữa đời con,
một đời người thật đơn giản, thật nhỏ bé.
Và chính nơi đó, Chúa tự biểu lộ để sau cùng
Con tìm thấy trong sự hiện diện của Chúa
Ý nghĩa của đời con.
“Ai có tai thì nghe.” (Mt 11, 15)

Hiền Hòa chuyển dịch

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.