ĐẦY TỚ VÀ NÔ LỆ

Trong nhân gian, “ghế” tượng trưng cho địa vị, quyền lực và quyền lợi. Ghế là nỗi ước mơ của nhiều người: Ghế trưởng phòng, ghế giám đốc, ghế thủ trưởng, ghế đại biểu..v..v.. Tất cả nỗ lực của con người được dồn vào việc có một chiếc ghế tốt, sau đó là giữ ghế, hay tìm cách lên ghế tốt hơn, cao hơn…  Đó là bối cảnh của cuộc sống vật chất kim tiền mà ta thường nhìn thấy trong xã hội ngày nay.

*****

Bạn thân mến! Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến chiếc ghế trong nước Thiên Chúa.  Đó là chiếc ghế danh dự, chiếc ghế cao trọng nhất mà hai môn đệ Gioan và Giacôbê xin được ngồi hai bên tả hữu của Chúa.

Hai ông là những môn đệ thân tín nhất của Chúa, hai ông đã từ bỏ mọi sự để đi theo Ngài, nhưng bây giờ lại muốn kiếm chút lợi lộc từ chính sự thân tín và từ bỏ ấy.  Hai ông đã lên tiếng xin với Đức Giêsu: “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang” (Mc.10:37).

Các anh không biết các anh xin gì!” (Mc.10:38).  Thực vậy, hai ông đâu có biết ai sẽ là người ở “bên phải và bên trái” của Đức Giêsu, khi Ngài ở trong “vinh quang” của Ngài trên thập giá?  Họ đang xin mà không biết chỗ của hai tên cướp bị đóng đinh cùng với Ngài. Họ vẫn chưa hiểu gì cả về định mệnh đích thực của Chúa Giêsu.  và cũng chính lời cầu xin này đã tạo ra sự mất bình an trong nhóm Mười Hai, đã tạo ra thái độ bực tức và ganh tị của các môn đệ còn lại. Nhiều môn đệ cũng ước mơ và có tham vọng được ngồi trên hai ghế tả hữu đó.

Theo họ, hai anh em Gioan và Giacôbê cố giành bước trước, đã chơi xấu, muốn chiếm ưu thế đối với họ.  Lập tức, vấn đề tranh cãi xem ai sẽ là người lớn nhất, cao trọng nhất bắt đầu nổi lên dữ dội trong nhóm Mười Hai.  Tình hình bỗng trở nên nghiêm trọng, liên hệ giữa các ông có vẻ bị sứt mẻ nếu Chúa Giêsu không ra tay chỉ dạy cho họ.  Ngài vạch rõ các tiêu chuẩn khác nhau về sự cao trọng trong Nước Thiên Chúa và các nước trên trần gian:

Trong các vương quốc trần gian, tiêu chuẩn về cao trọng là quyền thế. Người đứng đầu, người làm lớn, người có quyền thường có thái độ thống trị, áp đặt, hống hách.  Chức vụ và quyền lực trở thành phương tiện phục vụ bản thân.  Đó là lối lãnh đạo dễ thấy nơi người đời.

Trong vương quốc của Chúa, tiêu chuẩn lại là phục vụ.  Sự cao trọng không bao gồm việc bắt người khác phục vụ mình, nhưng là đặt chính mình vào việc phục vụ tha nhân. ”Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người.” (Mc.10:43-44)

Đức Giêsu là mẫu gương phục vụ cho ta noi theo.  Phục vụ là động từ tóm kết toàn bộ cuộc đời của Đức Giêsu nơi dương thế, vì Ngài đến trần gian để phục vụ, sống như người phục vụ, và chết như dấu chứng lớn nhất của phục vụ trong yêu thương: “Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người”. (Mc.10:45)

*****

Lạy Thầy Giêsu, Thầy đã nâng chúng con lên làm môn đệ, làm bạn, làm anh em của Thầy. Còn Thầy lại hạ mình phục vụ chúng con như người tôi tớ, Thầy đã rửa chân cho chúng con như một người nô lệ… Xin giúp chúng con biết noi gương Thầy, không màng tới địa vị cho mình, nhưng luôn dấn thân phục vụ anh em, như Thầy đã đến phục vụ và hy sinh cả mạng sống làm giá cứu chuộc chúng con. Amen

Tổng hợp từ R. Veritas
(CN29B TN – BĐ 1: Is 53:10-11 – BĐ 2: Dt.4:14-16 – PÂ: Mc.10:35-45)

ƯỚC MƠ

Nơi nào có ước mơ, nơi ấy trở thành kỳ diệu.  Không có ước mơ thì không có đi tới, không có nảy sinh.  Người ta có thể không thực hiện được điều mình mơ ước.  Nhưng bất cứ một điều gì người ta thực hiện được thì trước đó họ đã phải xây dựng trên ước mơ.  “Ta ước ao được ăn lễ Vượt Qua này với các ngươi trước khi Ta chịu khổ nạn” (Lc. 22:15).  Ước mơ đó đã thôi thúc Chúa lập phép Thánh Thể để ở lại với tôi.  Ước mơ, rồi bảo lòng mình bước tới.  Bởi đó, nơi nào có ước mơ thì có hy vọng. Nơi nào có hy vọng thì có khơi mầm sáng tạo.

Một ngày không nuôi hoài bão là một ngày ủ dột, ngủ dài.  Hoài bão là cánh buồm gọi gió, đưa tôi ra khơi.  Một ngày không ấp ủ ước mơ là một ngày trống vắng, lặng lẽ.  Lý tưởng nào cũng được ôm ấp bằng những mơ ước.  Ước mơ định hướng cho tôi đi tới.  Sống không ước mơ là một cánh bèo trôi dạt buồn tênh.

Người ta nói tiếc thương quá khứ chứ không nói tiếc thương tương lai.  Vì tương lai chưa tới thì làm gì có phàn nàn, hối hận, thương tiếc.  Cũng vậy, người ta nói mơ ước tương lai chứ không nói ước mơ quá khứ.  Vì quá khứ đã ở sau lưng thì còn gì mà mơ ước.  Như thế, lối đi của mơ ước là nẻo hướng tới trước mặt, là nhìn về tương lai.  Quá khứ có thể là sứt mẻ, nhưng tương lai thì nguyên vẹn. Lối đi trước mặt của đồi non là những chùm lá dâu xanh cho tằm dệt lụa, nhả tơ.  Lối đi trước mặt của bầy sâu xấu xí là lớn lên thành cánh bướm cho đẹp khóm hoa.  Cỏ cây cũng còn cần lối đi trước mặt để hướng tới, để kiện toàn, huống gì con người.  Tôi cần tương lai để thăng hoa.  Nẻo đi trước mặt hàm chứa hy vọng, là nối dài những ước mơ.  Vì thế, tôi sống là tôi mơ ước.

Làm gì có bắt gặp nếu không có kiếm tìm.  Làm gì có kiếm tìm nếu không có mơ ước.  Bởi vậy, mơ ước là mở lối đi vào mênh mông, là phá ngõ cho sáng tạo đi về.  Có sáng tạo, có triển nở thì vì thế mà đời tôi có thể phong phú thêm.

*******

Ước mơ xác định tôi là ai.  Tôi mơ ước điều gì là tôi muốn có điều đó.  Ðiều tôi muốn có ấy nói cho tôi biết tôi như thế nào.  “Kẻ gian ác thì mơ ước điều dữ” (Cách Ngôn 21:10).  Vì thế, tôi có thể hướng dẫn đời tôi bằng cách hỏi xem mình đang mơ ước gì.  Nếu dân tộc tôi mơ ước đoàn kết, đấy là dấu hiệu chúng tôi đang chia rẽ.  Nếu tôi mơ ước đi về, đấy là lời thầm nói tôi đang ở xa.  Khi có đau khổ thì mơ ước yêu thương.  Khi thấy người khác mơ ước nụ cười, thì đấy là lời gián tiếp nói cho tôi họ đang buồn.  Xem vậy, những điều tôi mơ ước là những điều tôi thiếu vắng, hoặc có mà còn quá ít ỏi.  Nhưng chính cái thiếu vắng này nói cho tôi biết tình trạng hiện tại con người của tôi ra sao và tôi muốn trở nên như thế nào.

Mơ ước là đi tìm cái thiếu vắng, nhưng cũng có nghĩa là đang bắt gặp.  Mơ ước nên thánh thiện là tôi đã bắt đầu băn khoăn về tội lỗi của mình.  Mơ ước thuận hòa là khởi điểm đi đến thứ tha.  Vì thế, cái thiếu vắng của mơ ước có gieo mầm gặp gỡ.

Nếu tôi có những ước mơ ngàu đục thì chắc chắn đời tôi không thể là dòng suối trong.  Khô cằn không nảy sinh hoa lá xanh tươi, và chẳng có sự sống nào đến từ tro than.  Truyện Kinh Thánh kể: “Một buổi chiều nọ, David dậy khỏi giường và đi tản bộ trên sân thượng đền vua.  Từ sân thượng, ông thấy một phụ nữ đang tắm; người phụ nữ dáng vẻ rất xinh đẹp” (2 Samuel 11:2).  Rồi David ước mơ chiếm lấy nàng làm vợ.  Ước mơ ấy đã đưa David đến chỗ âm mưu giết Uriya, chồng người phụ nữ: “Hãy đặt Uriya ở chỗ mặt trận ác liệt nhất, đoạn bỏ nó mà rút lui, cho nó bị đánh mà chết đi” (2 Samuel 11:15).  Mỉa mai thay, Uriya lại là một sĩ quan cương trực, tài ba và trung thành của vua.

Cứ hỏi lòng mình và xem điều mình mơ ước đề xác định mình đang đi về đâu, lý tưởng cuộc sống là gì.  Không có lý tưởng nào thoát khỏi vòng cưu mang của ước mơ.  Tội lỗi nào cũng thường đã được thai nghén từ những ý nghĩ thầm kín.  Những xác chết đã được che phủ trong những ngôi mộ bằng đá hoa cương (Mt. 23:28).  Những gì người ta ca tụng tôi, chưa hẳn là đúng.  Những gì tôi làm bên ngoài, chưa hẳn đã là phản ảnh trung thực cõi lòng bên trong.  Cứ hỏi kỹ hồn tôi xem mình đang thầm mơ ước gì để xác định mình là ai.  Nếu tôi mơ ước cho đi thì cánh tay tôi sẽ cố gắng giang rộng.  Nếu tôi ước mơ thu vào thì bàn tay tôi sẽ nắm chặt.  Lúc mà mơ ước của tôi là những hạt nước mưa đầu mùa cho khu vườn thì tôi có hy vọng đợi chờ những chùm bông sẽ rộ nở.  Lúc tôi ước mơ chiếm đoạt tình yêu, của cải của người khác là lúc tôi gieo tang tóc.  Tang tóc đến từ hành động.  Mà hành động là kết quả của mơ ước.

Ước mơ đúng cũng có thể hành động sai.  Nhưng đã ước mơ sai thì không bao giờ có hành động đúng.

*******

Tôi chỉ mơ ước những gì tôi không có.  Bởi vậy, tự nó, mơ ước là những điều không có trong hiện tại.  Chính thế, tự nó, mơ ước không là kết quả.  Nếu tôi chỉ mơ ước để sống trong mơ ước thì đời là giấc ngủ buồn vì tôi hoài hoài sống trong điều không có thực.  Bấy giờ, ước mong chỉ là ảo mộng. Sống trong mộng ảo là lừa dối mình, cho dù lừa dối ấy có đẹp đến đâu thì cũng vẫn là lừa dối mà thôi.

Ước mơ vẽ ra một vùng trời lý tưởng, ước mơ cất tiếng gọi cho tôi đi về vùng trời đẹp đó.  Thách đố của ước mơ, vòng bạc lấp lánh của vương miện ước mơ là người ấp ủ mơ ước có lên đường về vùng trời đẹp mà giấc mơ kêu mời.  Mơ ước sẽ nở thành chùm hoa sao rực rỡ hay sẽ âm thầm chết lặng lẽ tùy thuộc ở thái độ của người ước mơ.  Ước mơ là thầy, là đạo, nếu tôi muốn tìm thầy học đạo thì tôi phải lên đường, chứ đạo không tìm đến tôi.

Tôi lại nhớ đến chuyện người thanh niên giàu có:

– Thưa Thầy, tôi phải làm gì để đạt được ước mơ mà tôi hằng ấp ủ?

– Hãy từ bỏ hết những gì ngươi có, rồi đi cùng Ta.

Nghe xong, người thanh niên buồn bã bỏ đi (Mt. 19:21-22).  Và từ đó, ước mơ của chàng héo úa theo dòng đời.

*******

Tội lỗi nào thì cũng thai nghén từ những ước mơ.  Cũng thế, chẳng có việc kỳ diệu nào mà không sinh nở từ những giấc mộng được ấp ủ bằng thời gian.  Có một người thiếu nữ chết lúc tuổi mới 24 mà nàng đã làm cả bầu trời nở rợp hoa hồng: Têrêsa Hài Ðồng Yêsu.  Người thiếu nữ đã tự thú trong truyện Một Tâm Hồn: “Một lần cả nhà về quê thăm bà con thân thích.  Mẹ bảo chị Marie lấy áo đẹp nhất vận cho em nhưng đừng vận thứ áo hở cánh.  Khi ấy con không nói gì và làm ra chuyện dửng dưng như các trẻ nhỏ khác, song trong lòng đã lủng bủng: – Giá cho vận áo hở cánh, có xinh hơn không?”  Sau này, khi lớn lên, Têrêsa viết tiếp: “Với tính nết ấy, con trộm nghĩ, nếu phải tay cha mẹ không có nhân đức, không biết dạy con, có lẽ con đã là đứa xấu nết dữ tợn lắm, và mất linh hồn cũng chưa biết chừng” (Một Tâm Hồn, trang 25).  Cái ngày về thăm bà con thân thích ấy, Têrêsa còn bé lắm, vậy mà nàng đã biết ước mơ được mặc áo hở cánh đó bằng màu áo nữ tu nhà kín ở Lusieux.  Cũng như Ignatio, trước khi về trời với cờ Thánh Giá để thu tập môn sinh lập nên dòng Tên, chàng sĩ quan Tây Ban Nha đã si mê một người phụ nữ quý tộc đến nỗi mơ ước được nàng để ý đã làm chàng vào sinh ra tử, coi nhẹ cái chết hầu trở thành anh hùng của mọi mặt trận.

Ước mơ.  Nơi nào có ước mơ, nơi ấy trở thành kỳ diệu.

Trong truyện Một Tâm Hồn, hầu như không trang nào mà Têrêsa không viết về mơ ước yêu thương. Trong cái can đảm chịu đau đớn trên giường bệnh, người ta vẫn đọc thấy ước mơ được nũng nịu với Chúa.  Có nhiều tước hiệu được xưng tụng cho Têrêsa.  Giáo Hội gọi vị thánh trẻ là nhà truyền giáo thời danh.  Nhưng tôi thích gọi Têrêsa là cô bé làm dáng, một thiếu nữ đa cảm.  Cái làm dáng của Evà nhưng lại đa cảm trong duyên tình thánh của Maria.  Tôi muốn gọi Têrêsa là một nữ tu suốt đời dệt mộng, và là vị thánh của mơ ước. Têrêsa đâu có đi truyền giáo, chỉ ước mơ thôi, và ước mơ đẹp nhất của Têrêsa có lẽ là ước mơ về trời để làm mưa hoa hồng xuống trần gian.

Giã từ ước mơ mặc áo hở cánh, Têrêsa đã đốt cháy đời mình bằng những ước mơ khác.  Nàng ước mơ được làm linh mục để đi truyền giáo.  Ước mơ được tới Hà Nội và Sàigòn (Một Tâm Hồn, trang 215).  Têrêsa đã chẳng bao giờ tới Sàigòn được.  Nhưng mỗi lần đi ngang nhà Kín, trên con đường Cường Ðể rợp lá me, tôi thấy dáng như Têrêsa đang trồng những khóm hồng.  Têrêsa đã chẳng bao giờ là linh mục, nhưng ước mơ đã đốt cháy tình yêu của nàng thành muôn ngàn thánh lễ trọng thể.  Chúa Kitô là linh mục đau khổ, kẻ đã chấp nhận thánh ý của Cha mình.  Trong ý nghĩa ấy thì Têrêsa đang dâng thánh lễ trên địa cầu:  “Lạy Chúa, con không muốn nên thánh nửa vời, con chẳng sợ như thế thì phải chịu đau khổ nhiều vì Chúa đâu… xin Chúa nhận lấy ý riêng con, bởi vì con chọn tất cả những sự Chúa muốn, con chọn trót ý Chúa” (Một Tâm Hồn, trang 27).

Chẳng chết đâu, Chúa biết ngày nào ngươi ăn trái đó thì mắt ngươi sẽ mở ra và ngươi sẽ biết mọi điều như Chúa.

Evà thấy giấc mơ đẹp như màu hồng của trái táo.  Nàng đã ăn.  Nàng cũng mơ ước cho chồng mình được thông minh như Thiên Chúa.  Từ đó, địa đàng đã đóng ngõ, cài then.  Nước lụt dâng về.  Có nước mắt.  Và màu hồng của trái táo đã thành màu trắng khăn tang.

Lạy Chúa,

Xin soi sáng cho những ước mơ của con, vì có những mơ ước mà khi con cắn vào là đời con khổ lụy.  Có những mơ ước mà con miệt mài trèo lên, khi đạt được là lúc con rơi xuống vực sâu.

Thánh thiện hay tội lỗi cũng đều đến từ những ước mơ.

Lm Nguyễn Tầm Thường S.J. – Trích trong “Nước Mắt và Hạnh Phúc”

 

TIỀN CỦA

Ngày 06 tháng 06 năm 1976, nhà tỷ phú  Paul Getty qua đời, để lại một gia sản từ hai đến bốn tỷ mỹ kim.  Sau năm cuộc hôn nhân và năm lần ly dị, ông đã tuyên bố với phóng viên báo chí: “Tôi mong dùng tất cả gia tài của tôi để xây dựng một cuộc hôn nhân hạnh phúc.  Tôi sợ thất bại.  Tôi lo không thể tạo được hạnh phúc hôn nhân”.  Một lần khác ông cũng thú nhận rằng mình đã không đạt được hạnh phúc trong gia đình. Và ông đã kết luận: “Tiền bạc không thể mua được hạnh phúc. Trái lại, nó còn có họ hàng bà con với những nỗi bất hạnh nữa.”

*****

Bạn thân mến! Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến một chàng thanh niên giàu có.  Anh sống một đời sống luân lý tốt đẹp, nhưng anh vẫn cảm thấy còn thiếu vắng một cái gì đó. Và rồi Chúa Giêsu đã tỏ lộ cho anh biết điều thiếu vắng ấy: Ngươi hãy về, bán tất cả những gì ngươi có, làm phúc bố thí cho kẻ nghèo túng, rồi hãy đến và theo Ta (Mc.10:21).  Thế nhưng chàng thanh niên đã buồn bã, cúi mặt bỏ đi vì anh là một người có nhiều tiền bạc.

Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay giúp ta cảm nếm được nỗi buồn của Đức Giêsu và của anh nhà giàu.  Đức Giêsu buồn vì bị từ chối bởi người mà mình yêu mến. Chúa buồn vì anh đã gắn bó với tiền bạc hơn yêu mến Chúa.  Anh thanh niên buồn vì có sự rạn nứt nơi bản thân.  Anh đã phấn khởi đi tìm gặp Chúa, nhưng rồi anh đã bỏ Chúa mà ra đi với tấm lòng đầy muộn phiền.

Thầy Giêsu đòi anh hy sinh đúng cái điều anh muốn giữ lại. Vì của cải vốn là chỗ dựa của đời anh.  Anh sẵn sàng làm mọi điều Thầy đòi hỏi, trừ việc bỏ chỗ dựa này. Bây giờ anh thấy rõ hơn mình nô lệ cho điều gì. Tiếc thay anh không có can đảm ra khỏi sự nô lệ này dù anh vẫn khát khao sự sống đời đời.

Bi kịch của chàng thanh niên giàu có trong Tin Mừng cũng là bi kịch của mỗi người chúng ta hôm nay.

Ai trong chúng ta cũng từng bị giằng co giữa ước mơ bay cao và sự kéo ghì của vật chất.  Của cải vật chất có sức hấp dẫn mãnh liệt.  Ta làm chủ nó, nhưng sau đó nó lại làm chủ ta và trở thành thịt xương mà ta không thể dứt bỏ.  Không chắc người thanh niên giàu có này sẽ bị luận phạt, nhưng chắc chắn anh ta khó có hạnh phúc. Hạnh phúc chỉ đến với người dám sống và làm theo ý Chúa.  Nếu ta biết bỏ tất cả những gì cản trở để đến với Chúa, ta sẽ đạt được chính Chúa.  Được Chúa là được tất cả, vì Chúa là hạnh phúc viên mãn.  Được Chúa rồi ta sẽ không còn khao khát điều gì khác nữa.

Người có của khó vào Nước Thiên Chúa biết bao (Mc.10:23).  Vào thời Đức Giêsu, giàu có được coi là một ơn phúc. Vậy mà Ngài lại coi đây là một cản trở nguy hiểm. Của cải dễ làm người ta khép kín trước Thiên Chúa và nỡ tâm chà đạp lên quyền lợi của anh chị em mình.

Đức Giêsu và các môn đệ đã sống nghèo, sống như những người lữ hành, không chỗ cậy dựa, để tín thác vào Chúa Cha và dễ dàng đến với anh chị em. Theo Đức Giêsu là chấp nhận tay trắng, bấp bênh.  Nhưng đừng quên rằng theo Ngài cũng là trở nên giàu có. Không phải sự giàu có do ích kỷ giữ lại, nhưng là sự giàu có do mở ra trao hiến.  Không phải sự giàu có do tìm kiếm chiếm đoạt, nhưng là sự giàu có đến như một quà tặng biếu không.

Theo Ngài không phải chỉ là bỏ nhà cửa; ruộng vườn, bỏ những người thân yêu…mà là bỏ đến cả mạng sống của mình.  Theo Ngài còn là được gấp trăm ở đời này và ngay cả cuộc sống đời đời mai sau.

*****

Lạy Chúa! Giàu sang, danh vọng, khoái lạc là những điều hấp dẫn và luôn lôi kéo con trong cuộc sống hôm nay. Chúng trói buộc con, không cho con được tự do ngước lên cao để sống cho những giá trị tốt đẹp hơn.

Xin Chúa giải phóng con khỏi sự mê hoặc của kho tàng dưới đất, nhờ cảm nghiệm được sự phong phú của kho tàng vĩnh cửu trên trời.

Ước gì con không bao giờ quay lưng trước những lời mời gọi của Chúa, không bao giờ ngoảnh mặt để tránh cái nhìn yêu thương Chúa dành cho từng người trong chúng con.

Lạy Chúa!  Xin dạy con biết yêu mến Chúa trên hết mọi sự. Vì Chúa chính là hạnh phúc và là gia nghiệp của đời con.  Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas
(CN28 TN, BĐ I: Kn7:7-11; BĐ II: Dt.4:12-13; PÂ: Mc.10:17-30)

PHỤC VỤ VÀ HIỆN DIỆN

Cô Son, nữ tu Dòng Nữ Vương Hòa Bình, phụ trách giáo lý dự tòng và giáo lý hôn nhân cho người Dân Tộc.  Nếu anh chị em Dân Tộc ở gần thì cô sắp xếp lớp ở nhà xứ để họ đến học, còn những người ở xa thì cô phải lặn lội đi vào buôn để dạy.  Sáng nọ cô vào làng dạy giáo lý hôn nhân cho sáu cặp mà ngồi chờ hơn tiếng chẳng thấy ai đến học, thông thường các cô khác thì đã đi về rồi, nhưng cô Son cố nán lại trong buôn để đi tìm, đến nhà cụ Lép hỏi con bà, Lợi, ở đâu mà không thấy đến lớp học giáo lý.  Bà nói nó đang ở nhà Dí, thế là cô đi tìm hỏi nhà Dí.  Đến nhà Dí thấy Lợi cùng với mấy người bạn đang khề khà mấy hạt đậu phụng với rượu đế.  Cô nói hôm nay có học mà sao không đến.  Lợi nói quên, bây giờ lỡ uống rượu rồi nên không đi học nữa.  Cô nói Lợi để rượu đó, đi học về rồi uống tiếp, nhưng Lợi không chịu.  Cô nài nỉ mãi thì Lợi nói cô về lớp trước đi, rồi Lợi sẽ đến liền.  Cô không đi, vì cô biết nếu cô đến lớp chờ thì Lợi cũng chẳng ló mặt đến.  Cô nói: “Tôi không đi đâu, tôi cứ ngồi đây chờ anh.  Tôi đến lớp từ sáng đến giờ và đã chờ gần hai tiếng rồi.”  Lợi nghe cô nói thì động lòng, cô đã bỏ công việc bề bộn của giáo xứ để lặn lội chạy xe vào làng để dạy, rồi lại còn kiên nhẫn ngồi chờ mình gần hai tiếng, nên Lợi ngưng ngay rượu để đi học.  Thế là tóm được một anh!  Lợi dẫn cô đi tìm mấy người kia, chỉ một chặp là có đủ mặt, và lớp học lại tiếp tục, dù trễ hơn hai tiếng.

Anh chị em Dân Tộc đối xử với nhau đầy tình người như vậy đó.  Các anh chị em đến học vì thấy cô đã chờ mình gần hai tiếng đồng hồ, họ thấy tội nghiệp khi cô phải lủi thủi đi về.  Còn chuyện cô vào mà không có người nào học để rồi lần sau không vào nữa thì họ chẳng quan tâm.  Đời sống của họ chẳng biết suy nghĩ về tương lai, anh chị em Dân Tộc chỉ sống thì hiện tại mà thôi.  Họ kiếm được tiền hôm nay thì vui hôm nay, còn ngày mai thì họ chẳng màng tới.  Ngày trước đã có nhiều cô vào trước để dạy nhưng thường bỏ ngang khóa học vì không hiểu được đời sống của người Dân Tộc và cũng chẳng cảm thông với não trạng và tâm tình của họ.  Nếu đến với người Dân Tộc chỉ bằng cái đầu logic và luật lệ thì không thể đến được với anh chị em Dân Tộc được.  Muốn đến với họ thì phải đến bằng trái tim để có thể cảm thông.  Cách hành xử của anh chị em Dân Tộc là cách hành xử của con tim.

Sau khóa học có thánh lễ hợp thức hóa các đôi hôn nhân tại nhà thờ giáo xứ.  Trước thánh lễ cô đã đếm đủ sáu cặp rồi, nhưng đến khi đọc lời thề hứa của từng cặp thì không biết sao lại mất đi một cặp.  Kiểm tra lại thì thấy thiếu cặp vợ chồng Hua.  Đi tìm quanh nhà xứ cũng chẳng thấy đâu.  Cô hỏi thăm cặp vợ chồng Hua đâu thì có người bảo họ đã đi về rồi.  Hỏi tại sao về thì chẳng ai biết, thế là cô nhờ một anh Dân Tộc đi với cô về lại buôn tìm Hua.  Đến nhà Hua thấy hai vợ chồng ngồi mỗi người một góc.  Hua đang chửi vợ như tát nước, thiếu điều muốn bỏ vợ.  Cô hỏi sao mà bỏ thánh lễ về ngang như vậy thì mới biết bà vợ đang bồng con dự lễ thì đứa nhỏ… tè ra ướt hết cả áo, nên đi về nhà thay áo khác.  Nhưng ở nhà làm gì có cái áo nào ra hồn để thay, nên không trở lại dự lễ nữa.  Cô năn nỉ mãi một chập sau hai vợ chồng mới chịu theo cô trở lại nhà thờ.  Khi đến nhà thờ thì lễ đã xong, cha xứ phải làm một phần riêng cho hai vợ chồng.  Phục vụ cho anh chị em Dân Tộc là thế đó, nếu cứ thẳng thừng như kiểu người Kinh thì chắc không ổn.  Làm việc với họ cần kiên nhẫn và sự cảm thông nhiều lắm.

Đến với anh chị em Dân Tộc mà chỉ biết những lý lẽ và nguyên tắc của người Kinh thì họ khó mà đón nhận.  Một lần tôi đi với một anh giáo lý viên vào buôn lúc buổi chiều, đến cái chòi của một gia đình Dân Tộc thì chúng tôi được mời ăn tối.  Họ dọn lên bốn trái bắp nướng.  Anh giáo lý viên cầm một trái bắp nướng ăn, tôi cũng cầm một trái ăn, còn vợ chồng anh Dân Tộc và bốn đứa nhỏ ngồi coi chúng tôi ăn.  Tôi hỏi nhỏ anh giáo lý viên sao họ không ngồi ăn chung thì mới biết rằng bốn trái bắp nướng này là phần ăn tối của cả gia đình.  Họ đã nhường cho những người bạn của họ ăn.  Mà chúng tôi không ăn không được, vì không ăn là từ chối tình thương của họ và họ sẽ không coi chúng tôi là bạn.  Tôi ăn trái bắp mà nuốt không trôi, một phần vì bắp vàng rất cứng, bắp đã được hong khô bằng khói trên bếp để có thể để được lâu, rồi bây giờ nướng lên để ăn nên cứng kinh khủng, một phần là tôi đang ăn bữa ăn tối của họ và họ sẽ nhịn ăn tối đó, nên tôi ăn từng hạt mà như muốn mắc nghẹn đâu đó trong cổ họng.  Đó là văn hóa của người Dân Tộc, như người Kinh có mời khách bất ngờ ăn chẳng qua là mời xã giao vì cơm chỉ nấu đủ cho gia đình hôm đó.  Nghe mời lơi mà tưởng thiệt ngồi vào ăn thì nhiều chuyện đáng tiếc xảy ra.  Với người Dân Tộc thì không có mời lơi, khi họ mời là mời thiệt tình, họ nghĩ mình không ăn là khinh họ và không coi họ là bạn.

Một lần tôi ghé thăm nhà các cô giáo lý viên ăn trưa, phần cơm nấu cho năm cô và tôi là sáu.  Đang ăn thì ba anh Dân Tộc đem măng trong buôn ra nhà các cô để đổi gạo.  Các cô kêu vào ăn chung luôn vì họ đi chặt măng trong rừng từ sáng, rồi mang ra nhà các cô thì chắc chắn chưa có gì trong bụng, và lát nữa đây họ lại đi bộ hai ba tiếng về làng.  Một chập sau có thêm hai chị Dân Tộc ở buôn khác đem chuối ra đổi gạo và cũng được kêu vào ăn.  Vài phút sau lại có một nhóm năm anh em giáo lý viên Dân Tộc ghé ngang chơi cũng ngồi hết vào bàn và mọi người cùng vui.  Phần cơm cho sáu người nay phục vụ cho mười sáu người, thay vì mỗi người ăn hai chén hơn thì nay mỗi người ăn một chén và mọi người cùng vui.  Hôm đó tôi ăn một chén cơm thôi nhưng no thật sự vì một chén cơm đầy hương vị tình người.

Tôi đến phục vụ anh chị em Dân Tộc và thường hay có thái độ ban cho, các cô giáo lý viên đã dạy tôi cách sống phục vụ thật sự là hiện diện với anh chị em Dân Tộc.  Làm cho người khác thì dễ hơn là làm với người khác, và sống với người khác thì còn khó hơn nữa.  Thiên Chúa đã vì quá yêu nhân loại mà hạ mình đến thế gian để sống với con người.  Phục vụ như Marta là điều tốt nhưng hiện diện như Maria thì quý hơn (Lc 10:38-42).

Lạy Chúa, xin cảm hóa tâm hồn con để con biết Phục Vụ anh chị em với thái độ Hiện Diện như Chúa đã sống.  Sống trong một thế giới nặng phần sản xuất càng nhiều càng tốt nên con thường có thái độ làm cho nhiều mà quên đi thái độ cảm thông của con tim.  Xin Chúa cho con cảm nghiệm Tình Chúa thật nhiều để con lúc nào cũng mang lấy tâm tình của Chúa trên đường lữ hành.  Amen!

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.
October 1, 2009

GIAO ƯỚC TÌNH YÊU 

Ngày nay, nhắc đến hai chữ “hôn thú” thì nhiều bạn trẻ chết rét.  Họ lo sợ đủ thứ.  Ở  Mỹ mà không có “3 C” – Car (xe hơi), Condo (nhà lầu), và Credit Card (thẻ tín dụng) – thì khó mà có đám cưới.  Chưa hết, lấy nhau rồi thì phải hy sinh, phải lo kinh tế gia đình, lo con cái, lo chiều cha mẹ hai bên.  Hết được tự do thoải mái, dzung dzăng dzung dzẻ như những ngày còn bồ bịch với nhau.  Ký vào tờ giấy hôn thú như ký vào tờ hợp đồng khổ sai chung thân!  Bởi vậy nên trước đám cưới thường có những buổi party thân mật với bạn bè để ghi nhớ những ngày vui độc thân.

Mà họ lo sợ cũng phải.  Sống trong thời đại internet với những thay đổi đến chóng mặt, chúng ta thường bị cám dỗ bởi xu hướng “có mới nới cũ”.  Này nhé, xe chạy chừng 5-7 năm phải mua xe mới, máy laptop thì 3 năm lại phải thay, software nâng cấp liên tục, rồi điện thoại di động thì chừng 1-2 năm là đổi kiểu.  Công ăn việc làm và chỗ ở cũng thế, nếu đổi được thì đổi.  Đổi xe đổi nhà đổi việc xoành xoạch, riết rồi người ta dễ nghi ngờ: có cái gì thật sự là trường tồn vĩnh viễn không?  Ngay cả đời sống hôn nhân cũng thế: có thật sự là bách niên giai lão, là trăm năm hạnh phúc không?

Ngày xưa lấy vợ lấy chồng công giáo thì không phải lo lắng về chuyện ly hôn ly dị.  Người ngoại đạo cũng hiểu như thế.  Nhưng ngày nay, nguyên tắc nhất phu nhất phụ, một vợ một chồng, là kỷ cương của hôn nhân công giáo bao đời nay, giờ cũng bị thử thách khá nặng nề.  Tỉ lệ người công giáo ly dị bỏ nhau ở nhiều nơi cũng không kém gì dân ngoại.  Có những cặp vợ chồng lấy nhau cả hai mươi năm cũng có nguy cơ rạn nứt, ông một nơi bà một nẻo.  Thế thì lời Chúa hôm nay: “Sự gì Thiên Chúa kết hợp, loài người không được phân ly” (Mc 10,9) xem ra khó quá!  Chúng ta phải hiểu lời cảnh cáo nghiêm khắc của Chúa Giêsu như thế nào đây?

Giáo huấn của Chúa Giêsu về hôn nhân và ly dị cần phải được hiểu trong bối cảnh văn hoá xã hội của thời ấy.  Trong xã hội Do thái xưa, phụ nữ và trẻ em không được bình đẳng với nam giới.  Họ chỉ là tài sản của người chồng người cha.  Hôn nhân là một giao ước giữa chú rể (hoặc cha chú rể) với cha cô dâu.  Sau ngày đám cưới, cô dâu sẽ hoàn toàn thuộc về chồng cho đến chết, hoặc cho đến khi bị chồng ly dị.  Theo luật Môise, đàn ông có quyền “bỏ vợ” có khi chỉ vì những lý do cỏn con.  Sách Đệ nhị luật viết rằng: “Nếu một người đàn ông đã lấy vợ và đã ăn ở với vợ, mà sau đó nàng không đẹp lòng người ấy nữa vì người ấy thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì sẽ viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà.” (Đnl 24,1).

Trong thời Chúa Giêsu, hai trường phái Hillel và Shammai tranh luận với nhau về lý do được phép ly dị.  Phái Shammai cho rằng chỉ trong trường hợp ô nhục, như ngoại tình hoặc lăng loàn mất nết, mới được bỏ vợ mà thôi.  Phái Hillel thì cho rằng, kể cả những chuyện làm người chồng mất mặt, như bếp núc vụng về, ăn mặc hở hang, nói năng rổn rảng, thân thể không sạch sẽ thơm tho, cũng có thể là lý do để bỏ vợ.

Khi chất vấn Chúa Giêsu, những người Biệt phái này muốn xem Ngài đứng về phe nào.  Câu trả lời của Ngài làm họ ngạc nhiên.  Chúa Giêsu bênh vực các phụ nữ vì họ không phải là những món hàng khi cần thì giữ không cần thì bỏ.  Ngài trích dẫn Sách Sáng Thế để cho thấy ly dị là một tình trạng bất toàn.  Thưở ban đầu Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ để trợ lực cho nhau, bổ khuyết cho nhau.  Đối với Chúa Giêsu, luật Thiên Chúa không thiên vị đàn ông hay đàn bà.  Chẳng qua là vì ông Môise đã nhượng bộ lòng chai dạ đá của dân chúng, nên mới cho phép đàn ông bỏ vợ.  Trong Tin Mừng Matthêu, Chúa Giêsu còn nhấn mạnh rằng “ngoại trừ trường hợp dâm bôn (Hy lạp: porneia), ai bỏ vợ mà cưới người khác là phạm tội ngoại tình” (Mt 5,32; 19,9).  Khi đưa ra luật cấm bỏ vợ, Chúa Giêsu muốn nâng cao phẩm giá của hôn nhân đã bị coi thường trong thời đại của Ngài.  Ngài muốn con người trở lại với những gì là căn bản trong đời sống hôn nhân: đó là trở nên một trong tình yêu.

Ai cũng biết rằng đời sống hôn nhân chẳng bao giờ là chuyện dễ dàng luôn luôn thuận buồm xuôi gió.  Bởi vậy nên khi dẫn nhau đến bàn thờ, người ta mới thế hứa giữ lòng chung thủy với nhau “khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khoẻ để yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời.”  Hứa thì hứa vậy, nhưng rất khó giữ vì ít ai chuẩn bị kỹ càng để đi học làm vợ làm chồng, làm cha làm mẹ, mà cứ coi như là chuyện tự nhiên ấy.  Các lớp dự bị hôn nhân luôn bị kêu ca là lâu lắc thủ tục rườm rà.  Nhiều bạn trẻ bỏ nhiều tiền bạc và công sức để tổ chức đám cưới thật sang trọng hoàn hảo.  Nhưng họ đã chuẩn bị những gì để bước vào đời sống hôn nhân?

Đám cưới một ngày, hôn nhân cả đời.  Ngày xưa người ta sống trong môi trường làng xã, môi trường cộng đoàn giáo xứ, ít ra nếu vợ chồng có xung khắc cũng còn có những người khác khuyên bảo nâng đỡ.  Ngày nay người ta sống khá độc lập, mạnh ai nấy sống đèn nhà ai nấy rạng. Khi không xen vào chuyện gia đình của người khác dễ bị xem là “nhiều chuyện.”  Bởi vậy nên để có đời sống hôn nhân bền vững trước thử thách, các cặp vợ chồng cần phải có thêm ít là “3 C” nữa, ngoài xe hơi, nhà lầu và thẻ tín dụng.  Đó là Communication (đối thoại chia sẻ), Cooperation (cộng tác), và Commitment (dấn thân).

Một cuốn sách bán rất chạy vào thập niên 1980 ở Hoa Kỳ có cái tựa rất hấp dẫn “The Secret of Staying in Love”, tạm dịch là “Bí Quyết Để Yêu Hoài Yêu Mãi.”  Trong sách này, tác giả John Powell cho biết rằng chìa khóa của đời sống hôn nhân là cảm thông.  Mà cảm thông đòi hỏi đối thoại chia sẻ: Communication.  Nếu đôi vợ chồng không thành thực và thẳng thắn bầy tỏ tâm tư, nguyện vọng với nhau để luôn hiểu được nhau thì khó tạo cảm thông.  Thiếu thông cảm thường tạo hiểu lầm, nghi ngờ và ghen tuông, đưa đến bất hòa và đổ vỡ đáng tiếc.  Kế đến, xây dựng mái ấm gia đình cần sự cộng tác tích cực của cả hai bên: Cooperation.  Ông bà ta hay nói: “thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn”.  Và cuối cùng là nỗ lực hy sinh dấn thân – Commitment.  Thiếu sự nhẫn nại kiên trì cần thiết, thiếu cam kết vào đời sống hôn nhân dễ đưa người ta đến chỗ bỏ cuộc khi cơm không lành canh không ngọt.

Hôm nay, Lời Chúa thách đố những ai quan tâm đến đời sống gia đình, phải tìm cách làm sao để đời sống hôn nhân vợ chồng được luôn thăng tiến và bền vững.  Chúng ta cầu cho những ai đang sống đời vợ chồng và những ai chuẩn bị kết hôn:

Xin cho họ bớt một chút nóng nảy, thêm một chút nhẫn nhục,
bớt một chút vêng vang, thêm một chút hiền hậu,
bớt một chút hẹp hòi, thêm một chút khoan dung,
bớt một chút ích kỷ, thêm một chút hy sinh,
bớt một chút tự ái, thêm một chút tha thứ,
bớt một chút ghen tương, thêm một chút tin tưởng,
bớt một chút đam mê, thêm một chút chịu đựng,
bớt một chút nản lòng, thêm một chút hy vọng.
Nhờ đó họ cộng tác với Thiên Chúa trong việc bảo vệ và chăm bón tình yêu.  Amen.

(dẫn ý từ 1 Cor 13, 4-7)

Antôn Phaolô, SJ.

BẤT KHẢ PHÂN LY

“Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi… Nàng sẽ được gọi là đàn bà vì đã được rút ra từ đàn ông.  Bởi thế người đàn ông đã lìa xa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St.2:23-24)

*****

Bạn thân mến!  Trên đây là đoạn văn cuối cùng trong bài đọc thứ nhất của phụng vụ Chúa Nhật hôm nay.  Phụng vụ Tin Mừng cũng nhắc đến sự bất khả phân ly trong đời sống vợ chồng: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mc.10:9)

Lời Chúa trên đây đã vang vọng qua hơn hai mươi thế kỷ và ngày nay vẫn thường được chọn để in trên thiệp cưới.  Phải chăng người ta ngầm nhắc nhau rằng ly dị là từ không nên có trong từ điển của các đôi vợ chồng?  Tiếc thay số ly dị nơi các kitô hữu mỗi ngày mỗi tăng.  Sống với nhau một vợ một chồng suốt một đời người đã trở thành một ước mơ khó đạt.

Trong xã hội Do Thái thời Đức Giêsu, người phụ nữ không được bình đẳng với nam giới.  Người vợ là một thứ tài sản của người chồng, nên chỉ người chồng mới có quyền ly dị vợ, có khi ly dị chỉ vì một lý do cỏn con.

Trước câu hỏi “Chồng có được rẫy vợ không?” (Mc.10:2).  Đức Giêsu cương quyết nói KHÔNG.  Ngài bênh vực các bà vợ bị áp chế.  Họ không phải là một món hàng bỏ đi khi không cần.  Lập trường của Ngài đi ngược với nền văn hóa và tôn giáo của thời xa xưa đó, cũng như thời đại của chúng ta hôm nay.

Khi người Pharisêu trích sách Đệ Nhị Luật để biện minh cho việc ly dị đúng theo luật Môsê, Đức Giêsu lại trích sách Sáng Thế, để nhấn mạnh đến sự hiệp nhất vĩnh viễn của vợ chồng: “Họ không còn là hai, nhưng là một xương một thịt” (St.2:24).  Điều này nằm trong ý định nguyên thủy của Thiên Chúa.  Việc Môsê cho phép ly dị chỉ là một nhượng bộ tạm thời.  Đức Giêsu đến để hoàn chỉnh luật Môsê và khai mở trọn vẹn ý muốn của Thiên Chúa.

Không còn là hai, nhưng là một” (St.2:24).  Làm sao hai người lại có thể “trở nên một” nếu mỗi người không “cắt bỏ” đi phân nửa ? Cắt bỏ là việc làm đau thương lắm, chịu nhiều hy sinh lắm.  Nhưng tình yêu là sức mạnh sẽ biến đau thương thành hạnh phúc, biến hy sinh thành hy vọng ngọt ngào. Chính tình yêu sẽ mang ta đến với nhau, sẽ giúp ta chịu đựng tất cả, hy sinh tất cả và vượt qua tất cả. Và Thiên Chúa, Ngài cũng chính là Tình Yêu (1Ga.4:16)

Trong Lễ Cưới, không phải chỉ có hai người yêu nhau, lấy nhau và cam kết suốt đời sống cho nhau.  Hôn nhân không chỉ là bản hợp đồng giữa hai bên. Còn cần một bên thứ ba nữa, đó là Thiên Chúa: Đấng phối hợp và làm cho hai bên trở nên vợ nên chồng.  Thiên Chúa có mặt trong mỗi Lễ Cưới để ban ơn chúc phúc cho ta. Ngài cũng có mặt trong cuộc sống của mỗi gia đình để tiếp tục bảo vệ tình yêu, để ban ơn giúp sức cho ta duy trì  hạnh phúc … ngay cả khi ta muốn bỏ cuộc.

Hãy cầu nguyện cho những cặp hôn nhân gia đình. Xin cho họ bớt một chút ích kỷ, thêm một chút khiêm tốn, bớt một chút tự ái, thêm một chút phục vụ, bớt một chút tự do đam mê, thêm một chút hy sinh tha thứ… Nhờ đó họ cộng tác với Thiên Chúa trong việc bảo vệ và tưới bón tình yêu hạnh phúc gia đình.

Hãy mở lòng để đón nhận ơn Chúa.  Hãy dành cho Chúa một chỗ trong gia đình của ta, bạn nhé

*****

Lạy Cha nhân ái, từ trời cao, xin Cha nhìn xuống những gia đình sống trên mặt đất trong những khu ổ chuột tồi tàn hay trong những biệt thự sang trọng.

Xin thương nhìn đến những gia đình thiếu vắng tình yêu hay thiếu những điều kiện vật chất tối thiểu… những gia đình buồn bã vì hiếm muộn vắng tiếng cười trẻ thơ hay vất vả âu lo vì đàn con nheo nhóc.

Xin Cha nâng đỡ những gia đình đã thành hỏa ngục vì chứa đầy dối trá, ích kỷ, dửng dưng.

Xin cho mỗi gia đình chúng con biết cố gắng gìn giữ tình yêu, biết nỗ lực xây dựng hạnh phúc và nhất là biết kết hiệp mật thiết với Chúa vì chỉ có Chúa mới mang lại tình yêu và hạnh phúc cho chúng con trong cuộc sống hôm nay và ngay cả trong cuộc sống đời đời mai sau. Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas

NHỮNG ĐIỀU MUỐN NHỚ, NHỮNG ĐIỀU MUỐN QUÊN

Khi bạn nhớ một người thân đã chết, bạn cảm thấy lòng mình bao mối ngổn ngang, muôn vàn kỷ niệm. Có những kỷ niệm làm bạn vui, có những kỷ niệm khiến bạn buồn và cũng có những điều khi nhớ lại bạn tiếc xót ngẩn ngơ, như kẻ bất ngờ phải đi xa tiếc không được hôn người yêu lần cuối, hay tiếc đã bỏ lỡ một lần âu yếm bên nhau.  Có kỷ niệm làm bạn hối hận vì đã làm buồn làm khổ người thân.  Có nỗi nhớ làm bạn tiếc hùi hụi vì đã chẳng chiều ý người, chẳng làm người vui một lần nào đó. Có những hình ảnh thân thương bạn cứ muốn nhớ hoài, và có những cảnh huống bạn muốn quên đi mãi mãi.  Nhưng dù vui dù buồn, dù thích dù không thì bạn cũng chẳng bao giờ tách rời những kỷ niệm với hình ảnh và nỗi nhớ người thân.  Bởi lẽ hình ảnh người thân còn lại trong bạn không bao giờ là một bức chân dung trừu tượng, mà luôn là một hình ảnh sống động trong một giây phút nào đó.  Bạn không thể hình dung người cha đã chết tách khỏi một nét mặt, một cử chỉ, một dáng điệu, một hành động, một bước chân nhất định nào đó.  Bạn chỉ có thể hình dung thấy cha đang nhìn bạn, đang cười với bạn hay đang sửa dạy bạn, đang vui về bạn hay đang buồn về bạn; cha đang lo lắng hay đang hạnh phúc, đang khỏe hay đang đau… kỷ niệm, hình ảnh của người thân còn lại trong ta bao giờ cũng là trong tương quan với ta.  Những hình ảnh ấy được ghi vào tâm hồn và cuộc sống của ta từng giây từng phút sống với người.  Khi người vĩnh viễn đi vào dĩ vãng thì chuỗi kỷ niệm về người đã kết thúc trong ta như hình ảnh cuối cùng của một cuốn phim.  Bác sĩ Paul Nagai trong cuốn “Hồi chuông Quang đảo” kể lại kinh nghiệm bản thân ông với cái nhìn của mẹ trước khi chết.  Ông đã mất niềm tin và sống sa đọa từ khi vào trường Y, sự tiếp xúc với xác chết và bạn bè cùng lứa đã xô ông vào đó.  Nhưng chính đôi mắt mẹ nhìn ông trước khi chết đã làm cho ông không thể nào tin rằng khi đôi mắt ấy khép lại thì mẹ ông thành hư vô.  Ông tin rằng đằng sau đôi mắt ấy phải có cái gì bất tử.  Và từ lúc đó ông khám phá trở lại lòng tin vào Thiên Chúa và Sự Sống.

Ðiều tôi muốn cùng bạn suy nghĩ là “cuốn phim” ấy có thể kết thúc bất cứ lúc nào, và mỗi hình ảnh đều chỉ ghi một lần, ta không thể xóa đi để ghi lại, làm lại một giây phút, một hành động nào.  Cái khắt khe của cuộc sống là thế bạn ạ.  Ở phim trường hay ngoài trời, khi một cảnh diễn không đạt, đạo diễn cho làm lại, thu hình lại, và cuối cùng bàn tay của người ráp nối mới cố định vị trí của mỗi hình ảnh trong cuốn phim.  Còn trong cuộc sống thì mỗi giây phút đều được ghi một lần duy nhất vào tâm hồn ta, và người ráp nối cuối cùng chính là mức độ quan hệ của ta với người thân.  Càng thân thì sự ghi nhớ càng trọn vẹn.  Mẹ có thể kể từng chi tiết về con mình từ khi mang thai cho đến ngày cuối cùng, bởi vì mẹ bao giờ cũng yêu con hơn hết và luôn “ghi nhớ và suy gẫm trong lòng” mọi chuyện liên can tới con của mình.

Dù thân hay sơ, thì mỗi người ta đã đích thân gặp gỡ, có khi là vui, có khi là buồn bực… nhưng dù sao cũng để lại một hình ảnh nào đó khiến mỗi lần nhớ đến phải vui hay buồn, mừng hay tủi, hãnh diện hay hối tiếc.

Bạn ơi, những điều muốn nhớ và những điều muốn quên về mỗi người thân hoặc bất kỳ ai ta đã gặp gỡ một lần, tùy ý ta khi sự gặp gỡ chưa diễn ra và đang diễn ra.  Còn khi đã diễn ra rồi thì không thể tùy ý ta nữa.  Những điều muốn nhớ và những điều muốn quên, ta đều phải nhớ như nhau.  Mỗi giây phút của cuộc sống, mỗi lần thể hiện quan hệ với một người, ta đều có tự do chọn giữa những gì ta muốn nhớ và những gì ta muốn quên.  Muốn quên tức là muốn không bao giờ xảy ra điều ấy, muốn không có nó trong cuốn phim đời mình sống với mọi người.

Ðừng sợ bạn ạ.  Sự khắt khe này của cuộc sống không đè bẹp chúng ta nhưng thôi thúc chúng ta.  Đừng làm những gì mà khi nhớ lại ta muốn quên đi.

Có bao giờ bạn cầm chắc được là sẽ gặp lại người thân, người bạn, người lạ mà bạn đang gặp bây giờ đâu.  Giây phút cuối cùng có thể đến với người kia hoặc với bạn bất cứ lúc nào.  Có khi người bạn, người thân bạn gặp đó hoặc chính bạn sẽ không còn đứng trên mặt đất chiều nay hay ngày mai.  Vậy thì tại sao ta không sống mỗi giây phút như thể đó là giây phút cuối cùng, đối xử với mỗi người mỗi lần như thể đó là lần cuối cùng gặp nhau!

Bạn đã từng chia tay với người thân, với bạn bè đi xa.  Bạn có để ý là lúc đó ai cũng rộng lượng hơn, ân cần hơn, sẵn sàng tha thứ, sẵn sàng giúp đỡ, sẵn sàng để lại hình ảnh đẹp nhất trong lòng kẻ ở lẫn người đi?

Bạn ơi, giá mình có thể sống với mọi người cũng như với chính mình từng giây phút, từng lần gặp gỡ như thể đó là lần cuối thì sẽ đẹp, sẽ vui biết mấy phải không?

Liệu bạn có sợ hụt hơi vì tính cách khẩn trương của giây phút cuối tràn lên suốt cuộc đời?

Bạn ơi hãy sống hãy yêu, hãy nói hãy cười như thể đây là phút cuối, và hãy làm như thể đây là việc sau cùng.  Mà đúng là như thế bạn ạ, vì có bao giờ giây phút này lặp lại nữa đâu và bao giờ nó cũng có thể là giây phút cuối, sau đó thì cuộc đời bạn kết thúc mất rồi.

Bạn hãy nhìn người võ sĩ trên vũ đài.  Họ biết chỉ có quyền thi thố tài năng giữa hai lần tiếng cồng vang lên, nên họ hối hả chừng nào.  Bạn hãy nhìn cầu thủ trên sân bóng đá, khi đồng hồ trên bảng điện càng gần phút 90 thì họ càng ráo riết tấn công.  Bạn hãy nhìn các bác sĩ và y tá trong phòng cấp cứu chạy đua với tử thần dành giựt mạng sống bệnh nhân.

Tính vắn vỏi, cấp bách của giây phút hiện tại đối với người không có niềm hy vọng nào ngoài sự hưởng thụ vật chất, là động lực thúc đẩy họ yêu cuồng sống vội:  mau hái bông hoa kẻo nó tàn.  Còn đối với người có niềm hy vọng ở tương lai vĩnh cửu thì nó lại là sự thúc đẩy sống thanh thoát và quảng đại, trong trắng và yêu thương, không để lòng mình vướng mắc với những gì phải qua đi nhưng luôn biết vươn cao (coi 1 Cor 7,29-31), là lời mời gọi đứng vững trong cuộc chiến đấu cho công bình và lẽ phải, cho yêu thương và hạnh phúc.

Mỗi lời bạn nói là lời cuối cùng
Mỗi việc bạn làm là việc sau hết
Mỗi người bạn gặp là người duy nhất
Từng giây phút trong đó,
bạn hãy sống như mình chỉ có phút ấy mà thôi.

Lm Nguyễn Công Ðoan, SJ

 

KỶ NIỆM MỪNG SINH NHẬT

Hôm nay anh chị em tổ chức mừng sinh nhật ba, mọi người tự nhủ phải có mặt để ba vui, má chồng tôi không còn.  Bà mất đi, nên trật tự trong nhà phần nào cũng thiếu kỷ cương.  Tôi muốn xua đi cái cảm giác ngại gặp lại mọi người, ngại cười nói không thật lòng, ngại vì một việc làm bề ngoài.  Tôi không muốn sống lại những ngày tháng ở nhà chồng, khi đó tôi hay tủi thân, chỉ nghĩ về mình, nên có cảm giác xa lạ, lạc lõng, nghĩ ngợi: “Mình đang có cha mẹ, có anh chị em, mà lại về nhà người ta, nhận người xa lạ làm cha mẹ, anh chị em.”  Thật lòng, tôi chỉ muốn sống với chồng của tôi, chứ không thể yêu thương gia đình họ, như những lời tôi xưng hô được….  Những nhân sinh quan trong cuộc sống, những phong tục tập quán cũng có nhiều điểm khác biệt và cả những niềm tự hào riêng của gia đình dòng tộc họ nữa.  Tôi chẳng cảm nhận được điều gì, chỉ thấy bực bội và muốn thoát ra.  Những ngày tháng xa lạ ấy, tôi dè dặt, đối phó, tiêu cực và ít dấn thân, vì thế họ cũng ít thân thiện, cởi mở với tôi. Thời gian trôi qua, các anh chị em trong nhà cũng đi lấy chồng, lấy vợ, cuộc sống của đại gia đình co dần lại.

Tan sở, tôi chạy xe ngó qua mấy cái shop, miên man suy nghĩ nên mua món quà gì cho ông, nhưng tâm trạng thì vẫn khó chịu, lại còn nảy sinh ý nghĩ “kiếm lý do bận rộn gì đó, để không tham dự”.  Dòng xe qua lại, có chiếc xe khách dừng lại trước tôi một khoảng.  Bất ngờ, tôi nhìn thấy ông cha xứ bước xuống, với một chiếc xách cá nhân, hơi ngơ ngác, rồi ngoắc xe thồ để về.  Có lẽ cha lên thành phố công chuyện rồi bây giờ trở về cái nhà xây cấp 4 cũ kỹ đã gần 30 năm, cái mà người ta gọi là nhà cha xứ.  Ôi! chán chết được!  Tôi nhìn theo, mà lòng cảm thấy bị đánh động.  Hình ảnh một người dấn thân, bỏ lại hết mọi quyền lợi, niềm vui, những toan tính cá nhân, bỏ lại một cuộc sống văn minh ở thành phố để vội vã trở về với họ đạo nghèo, nơi cha ở chỉ có một mình, chẳng có ai là cha mẹ, anh chị em.  Người thân yêu  của cha bây giờ là giáo dân, mà chắc gì giáo dân đã thông cảm và yêu thương cha, như cái giá cha đã trả, để đến với họ.  Tôi tự nhủ, tôi còn nhiều niềm vui bên chồng con, vậy mà lòng tôi sao chật hẹp quá.  Như vừa được một trợ lực, tôi vui vẻ chọn mua một món quà, hăng hái trở về nhà chồng, mừng sinh nhật bố chồng với anh chị em cho trọn vẹn.

Về đến nhà với lòng hân hoan, tôi xuống bếp phụ giúp và hòa với niềm vui họp mặt, cùng nhau chia sẻ những lo toan, chật vật trong cuộc sống của mỗi gia đình.  Đang cười nói vui vẻ với mọi người thì cô em chồng đến bên tôi lên tiếng trách móc như đã mang nỗi bực dọc ấm ức này lâu rồi.  Tôi nhớ ra có một lần tôi đã cố gắng giúp cô, nhưng kết quả không được như ý.  Cô tỏ thái độ gây gỗ, còn tôi, tâm trạng đã không thích, nhìn xung quanh toàn là anh chị em nhà họ, tôi không nhịn được, đúng là làm ơn mà mắc oán, đứng trước sự vô ơn tôi thấy uất ức quyết đối mặt cho ra lẽ.  Lời qua tiếng lại, rồi mọi người can ngăn: “Hôm nay là ngày vui của Ba, đừng làm to chuyện.”  “Tôi đâu có muốn như vậy, cây muốn lặng mà gió chẳng dừng”.   Cái động lực hăng hái vừa mới nhen nhúm một chút lửa trong tôi đã vụt tắt rồi, làm sao mà chấp nhận nổi, những người chỉ biết đòi hỏi lợi lộc về cho mình. “Hòn bấc ném đi, hòn chì ném lại” không được minh oan tỏ tường, nên nỗi uất ức lại tăng lên, còn mang danh là anh chị em một nhà, tâm trạng ấy cay đắng lắm…..

Trở về nhà, tôi hồi tưởng lại sự việc vừa qua, những gì tôi vừa mới quyết tâm, tại sao lại nhận được một gáo nước lạnh như vậy?  Động lực này, không phải bắt nguồn từ hình ảnh của ông cha xứ vội vã trở về với họ đạo nghèo hay sao???   Tôi đã cố gắng lắm rồi mà???   Không! hình như Chúa còn muốn tôi nhìn ra cuộc sống ngày thường của cha xứ, cũng có biết bao cay đắng khi đối diện với mặt trái của lòng người, với những hiểu lầm, lợi dụng, bạc bẽo, vô ơn, tráo trở, mà nào có được sự thanh minh cho tỏ tường…..  Chẳng lẽ trái tim tôi bây giờ phải mở ra nữa, bao dung hơn nữa với cô em chồng ích kỷ hay đòi hỏi, lại còn xúc phạm tôi trước đám đông nhà họ???  Mắt tôi tự nhiên ứa lệ, tôi lờ mờ hiểu được trái tim của người phải rướm máu, để yêu thương giáo dân bằng trái tim của Chúa.  Tôi hiểu ra những dao sắc của lòng người, tôi hiểu ra sự chết đi hàng ngày với mọi quyền lợi, mọi niềm vui, mọi toan tính cho cá nhân của cha, của cả nhân loại mà cha tế lễ mỗi ngày.  Tôi thấy dường như bóng dáng Chúa, đang đi giữa thế gian qua vị Linh mục của Chúa.

Cuối cùng, tôi đã đến gặp cô em chồng và nói: “Mình là chị em với nhau, mọi chuyện bỏ qua nhé, mình sẽ có nhiều cơ hội để giúp nhau hơn”

Kính lạy Máu và Nước đã tuôn trào từ trái tim Chúa, như suối nguồn thương xót chúng con. Con tín thác vào Chúa.

Chiều Thu

QUYẾT LIỆT DỨT KHOÁT VỚI TỘI LỖI

Nếu mỗi chi thể phạm tội đều phải bị cắt bỏ, chắc chắn không một ai lành lặn. Không thể hiểu theo nghĩa đen những lời Đức Giêsu nói trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay. Tuy nhiên cũng không được loại trừ tính chất quyết liệt của những lời khuyên dạy của Ngài.  Đức Giêsu bảo ta phải chặt tay, chặt chân, móc mắt khi những chi thể này phạm tội, có nghĩa là phải quyết liệt với sự xấu.

Phải quyết liệt dứt khoát với sự xấu. Vì sự xấu giống như căn bệnh hay lây.  Đã nhiễm vào một phần thân thể, sẽ nhanh chóng lây lan tới cả cơ thể.  Lây lan đến đâu làm độc đến đấy. Phải ngăn chặn ngay từ đầu, nếu không sẽ khó mà cứu vãn được mạng sống.

Phải quyết liệt dứt khoát với sự xấu. Vì sự xấu giống như nọc độc của loài thú dữ. Đã vào mạch máu sẽ mau chóng lan tràn vào tim.  Khi chất độc đã ngấm đến tim, sẽ làm tê liệt mọi hoạt động của cơ thể, sẽ cướp đi mạng sống con người.

Phải quyết liệt dứt khoát với sự xấu. Vì sự xấu giống như loại thuốc mê. Một khi để sự xấu nhiễm vào, ta sẽ mất khả năng chống cự. Sự xấu làm cho ta ra nhu nhược yếu hèn, làm tê liệt ý chí phấn đấu.  Để cho sự xấu xâm nhập, nó sẽ thống trị ta, sẽ bắt ta làm nô lệ.  Một khi đã rơi vào ách nô lệ sự xấu, ta khó lòng mà thoát ra.

Quyết liệt dứt khoát với sự xấu cũng giống như chặt tay, chặt chân, móc mắt… nghĩa là phải sẵn sàng chịu đau khổ.  Dứt khoát với tội lỗi không dễ. Tội lỗi khi đã thấm vào người, nó trở nên như một phần bản thân, gắn bó với bản thân. Dứt bỏ cũng đau đớn như chính cơ thể bị chặt bỏ, xé lìa. Ta hãy xem người cai nghiện. Cơn nghiện vật vã dày vò tưởng chết đi được. Vì đối với người nghiện, ma túy trở thành một phần thiết thân của đời sống đến nỗi khi phải dứt lìa, họ đau đớn khổ sở như phải tách lìa một phần thân thể, như đánh mất chính sự sống của họ.

Chặt tay, chặt chân, móc mắt cũng có nghĩa là dứt lìa với những người, những nơi, những đồ vật khiến ta phạm tội.  Những con người, những đồ vật, những nơi chốn đó trở thành một phần đời của ta.  Để dứt bỏ, trái tim ta đau đớn đến rướm máu.  Cuộc dứt bỏ làm tâm hồn ta như bị thương tích đau đớn vô cùng.

Cũng như người bệnh phải chịu phẫu thuật, cắt bỏ khối u, cắt bỏ phần thân thể nhiễm độc để bảo toàn mạng sống, Chúa bảo ta phải quyết liệt với tội lỗi, phải chặt tay, chặt chân, móc mắt không phải vì muốn hành hạ ta, muốn ta phải đau khổ. Trái lại chính vì yêu thương ta, muốn ta được hạnh phúc mà Chúa dạy ta phải dứt khoát với tội lỗi.

Dứt bỏ tội lỗi là dứt bỏ những phần hư hỏng xấu xa, nhiễm bệnh trong cơ thể.  Dứt bỏ tội lỗi là ngăn ngừa không cho sự xấu xâm nhập vào linh hồn. Dứt bỏ sự xấu là ngăn chặn sự độc hại tàn phá linh hồn. Dứt bỏ tội lỗi là giúp linh hồn có cơ hội được lớn mạnh, được phát triển.

Ham vui một chốc lát để rồi chịu kết án suốt đời khổ sở. Hay là chịu đau khổ một chốc lát để suốt đời được tự do hạnh phúc. Ta chọn đàng nào? Chắc chắn ta phải chọn con đường hạnh phúc lâu dài. Chính Chúa muốn hạnh phúc cho ta, nên đã truyền dạy cho ta phải dứt khoát với tội lỗi để được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu đời đời với Chúa.

***

Lạy Chúa, xin cho con biết lắng nghe lời Chúa dạy, biết dứt khoát với tội lỗi, để được sống đời đời với Chúa. Amen.

TGM. Ngô Quang Kiệt

BÓNG MÁT

Bóng mát cần thiết để dừng nghỉ.  Thiếu bóng mát cuộc hành trình sẽ mệt lắm.  Vì bóng mát chỉ để dừng nghỉ, nên nếu ngày nào bóng mát giữ chân tôi lại không muốn tôi lên đường thì lúc đó bóng mát trở thành đánh lừa tôi.  Thiếu bóng mát cuộc hành trình sẽ mệt nên tôi cần bóng mát.  Trong cái cần bóng mát ấy, dễ đưa tôi đến chỗ ôm giữ bóng mát như một nuối tiếc không muốn rời bỏ.

Có những bóng mát của một ngày hành trình dài trên đường đi bộ.  Nhất là, khi mồ hôi đong vào những sợi nắng chẻ tóc. Nhất là, khi gặp một trời hạ hực nắng và gió không hiền hòa.  Lúc đó, tôi cần một bóng mát làm sao!

Dù là bóng mát của một quán trọ hay bóng mát của một tàng cây, bóng mát vẫn chỉ là “bóng” chứ không phải là “thực”.  Vì là bóng, nên bóng mát không thể là nơi tôi nương trú.  Tôi chỉ dừng chân rồi đi.  Cái nguy hiểm của bóng mát là có thể làm chậm trễ hành trình tôi đi tới, có thể đánh mất đường về của tôi.

Từ bóng mát trên đường đi dẫn tôi đến “bóng mát cuộc đời”.

Bóng mát cuộc đời

Có nhiều thứ bóng mát trong cuộc đời.  Một ngày nào đó với lo âu trĩu nặng, rồi có một tình thân đến chia sẻ.  Một ngày nào đó bơ vơ, rồi có một tâm hồn đến cho nương tựa.  Ðấy đều là những bóng mát. Trong lúc cơ cực, một tấm lòng rộng lượng đến nâng đỡ.  Những bóng mát như vậy cần thiết biết bao. Trong đời ai cũng cần những bóng mát như thế.  Cuộc sống không giản dị êm đềm, có những quãng vắng lặng lẽ, có những khúc đi gian nan, để rồi cuộc sống cần những bóng mát cuộc đời.

Trong những bóng mát cuộc đời ấy có những bóng mát nguy hiểm, bóng mát lừa dối.  Giữa những bóng mát cần thiết có những bóng mát bất chính.  Người ta lẫn lộn những bóng mát ấy với nhau. Vì đặc tính của bóng mát là cho người ta “chất mát”.  Ðam mê và tội lỗi cũng là một thứ bóng mát.  Nhiều khi tội lỗi và đam mê càng cho người ta nhiều “chất mát” hơn.

Thí dụ trong hôn nhân, thí dụ trong đời tu, vì một lúc yếu lòng, vào một mùa thu ảm đạm.  Rồi, ở một nơi nào đó trong tâm hồn mình, thấy bâng khuâng gợi nhớ, thấy man mác một nỗi sầu trống vắng thiếu thốn.  Người ta dễ đi tìm “bóng mát cuộc đời” bằng lỗi chung thủy.

Ðời là con đường dài.  Những lúc chớm sáng bình minh, người ta hăng hái lên đường, nhưng vào trưa oi bức, người ta muốn dừng nghỉ.  Những ngày hạnh phúc êm ả người ta không cần bóng mát cuộc đời. Những ngày chán nản, bơ vơ, người ta không muốn lên đường, lúc ấy, những quán hạnh phúc bên đường dễ cám dỗ mời mọc làm sao.

Bóng mát và người chăn chiên

Người chăn chiên nhìn về cuối chân trời.  Nắng vẫn hanh, nhưng trong lòng người chăn chiên, chiều đang đổ xuống rất mau.  Ðường vẫn còn dài.  Người chăn chiên nhủ lòng:  Phải ra khỏi cánh rừng khi chiều về!

Chúa Kitô cũng vậy, thời gian đối với Ngài là mùa màng cứu rỗi.  Ngài nhìn cuộc sống của tôi với chiều đi mà nôn nao, hối hả: “Bao lâu còn sáng ngày, Ta phải làm việc của Ðấng đã sai Ta.  Ðêm tối đến không ai còn làm việc được nữa” (Jn. 11:10).

Người chăn chiên tính toán kỹ lưỡng.  Trời còn hanh nắng đó, nhưng phải lên đường cho kịp tránh hoàng hôn.  Bầy chiên nào có biết, chúng chỉ thích an nghỉ dưới tàng cây rợp bóng.  Cái êm dịu của bóng mát làm chúng ngại lên đường.  Chúng muốn thiu thiu ngủ hơn ra đi.  Chiều cứ xuống, chầm chậm không lời báo động.  “Trong những ngày trước đại hồng thuỷ, người ta ăn uống, lấy vợ lấy chồng cho đến ngày ông Noe vào tầu.  Và lúc chẳng ai để ý gì, thì lụt đến và cuốn trôi đi tất cả” (Mt. 24: 38-39).  Khi giấc ngủ vừa tỉnh, muốn lên đường thì đã muộn.  Hoàng hôn xuống mà chưa ra khỏi cánh rừng là bóng tối bủa vây, là nguy hiểm rình chờ, sói rừng sẽ xuất hiện.  Những bóng mát ấy là cõi chết rất êm.  Những bóng mát đánh lừa.

Người chăn chiên lành nghề thì biết khúc đường còn bao lâu, quãng dài cần thiết bao nhiêu thời giờ để ra khỏi cánh rừng.  Cho dù trời có nắng, mồ hôi có chảy, người chăn chiên vẫn cứ hối hả thúc chiên lên đường, không cho nó nằm nghỉ dưới bóng mát tàng cây.  Nỗi tâm tư của người chăn là chiên chẳng hiểu mình.  Chúng trách cứ, oán than.  Trong bóng mát ấy, bầy chiên than thở, tại sao một chút hạnh phúc mà Ngài cũng lấy đi.  Bao lần trong đời, con người đã nhìn hình ảnh người chăn chiên như kẻ khó tính, không cảm thông.  Một chút hạnh phúc mà Ngài cũng không cho.  Một chút an ủi mà Ngài ngăn cấm.  Người chăn chiên biết cái rình mò của bóng đêm.  Nhìn đường còn xa mà lo âu thương bầy chiên, nếu trời đổ tối mà chưa ra khỏi cánh rừng thì sao.  Sói đến.  Chết chóc.  Ðổ vỡ.  Dù chiên muốn hay không, người chăn chiên vẫn nhủ lòng: Nhất định phải bắt chúng lên đường!

Chúa Kitô cũng thế.  Ngài thấy những “bóng mát cuộc đời” giả tạo của tôi mà lo âu.  Ngài biết bóng mát ấy đang đánh lừa tôi.  Bóng mát ấy có thể là tình cảm bất chính, là tiền bạc tôi không rõ ràng trong khi có trách nhiệm cầm giữ.  Bóng mát ấy có thể là quyền hành tôi được trao phó, nhưng mà để thoả mãn hơn là phục vụ.  Bóng mát ấy cũng có thể là giấc ngủ dài vì ngại ngùng khi thấy hành trình xám hối đòi nhiều cố gắng.  Bóng mát ấy có thể là một thứ đam mê.

Những thứ bóng mát này có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng cùng một địa chỉ là lừa gạt tôi.

Khi nói về bóng mát (shadow), cả bốn Phúc Âm chỉ nói đến 2 lần.  Và cả hai lần tiếng bóng mát đều liên quan đến sự chết.  Lần thứ 1 trong Matthêu: “Kẻ ngồi trong bóng tối sự chết” (Mt. 4: 16).  Lần thứ 2 trong Luca: “Kẻ ngồi trong tối tăm bóng chết” (Lc. 1: 79).

Trong khi những lời giảng dạy, nhiều biến cố quan trọng giữa Chúa và con người hầu hết đều xẩy ra trên đường đi đổ nắng chứ không ở trong bóng mát.  Thí dụ:

  • Trên đường đi Ngài hỏi họ: Người ta nói Thầy là ai?  Và Phêrô tuyên tín Thầy là Ðức Kitô (Mt. 8: 27-27).
  • Khi bắt đầu lên đường.  Một người đến hỏi: Thưa Thầy tôi phải làm gì để được sự sống đời đời (Mt. 10: 17).
  • Dọc đường lên Jerusalem, Ngài nói: Con Người sẽ bị nộp trong tay người đời, các ký lục và thượng tế… (Mc. 10: 32-34).
  • Trên đường đi, họ bắt ông Simon vác thánh giá đỡ cho Ðức Kitô (Lc. 23: 26).
  • Trên đường đi đến một làng nọ. Mười người phong cùi đến gặp Ngài (Lc. 17: 11).
  • Cuộc gặp gỡ sau biến cố Phục sinh cũng xẩy ra trên đường Emmaus. Hai ông kể lại chuyện xẩy ra khi các ông đi đường và các ông đã nhận ra Chúa lúc Ngài bẻ bánh (Lc. 24: 35).
  • Giakêu gặp Chúa cũng là gặp trong lúc đi đường (Lc. 19: 4).

Khi người chăn chiên dùng gậy đánh để bầy chiên khỏi ươn lười ngủ vùi trong bóng mát, cũng là lúc, để thức tỉnh tôi, Chúa trao cho tôi “chút bánh đau thương và ít nước khốn cùng.  Nhưng Ðấng dạy dỗ tôi sẽ không bao giờ rời bỏ tôi.  Khi chân tôi xiêu bên phải, vẹo bên trái, chính tai tôi nghe tiếng từ đàng sau phán:  Ðây là đường hãy đi theo đó” (Isaia 30: 18-21).  Chúa biết ngày nào tôi còn nằm trong “bóng mát” giả tạo ấy, tôi chỉ ôm mơ một bóng hình hạnh phúc ảo ảnh.  Những êm đềm ấy chỉ lừa dối tôi thôi.

Bóng cây mát ven đường đánh lừa bầy chiên để đêm tối ập xuống thế nào thì “bóng mát cuộc đời” đam mê cũng đánh lừa tôi để tôi mất mùa ơn sủng như thế.

*******

Lạy Chúa,
Bao lần tâm tư Chúa buồn phiền khi thấy con dại dột nằm ẩn mình trong bóng mát.  Những cảm xúc ngọt ngào của bóng mát chỉ cho con hạnh phúc giả mà thôi.  Nó cản đường con về đồng cỏ quê trời.  Nó làm chậm chân con ra khỏi cánh rừng nguy hiểm cho linh hồn.  Những ngày con sống như thế, Chúa thấy thời gian đổ vỡ đã gần kề mà con vẫn ngủ, thì con xin Chúa, như người chăn chiên tốt lành, hãy dùng gậy mà đánh, mà lùa chiên ra khỏi bóng mát.

Xin cho con nhớ lời thánh Phaolô nhắn gởi: “Hỡi con chớ khinh chê lời sửa phạt của Chúa, chớ ngã lòng khi Chúa trách mắng con.  Vì Chúa sửa trị kẻ Chúa yêu và đánh phạt kẻ Chúa nhận làm con.  Chúa dùng đau khổ để dạy anh chị em.  Thiên Chúa đối xử với anh chị em như đối xử với con cái.  Có con nào mà cha không phải sửa phạt ư?  Nếu anh chị em không nhận lời răn dạy như mọi người, anh chị em là con ngoại tình chứ không phải con thật nữa.  Ðàng khác cha phần xác sửa dạy ta mà ta còn tôn kính, phương chi ta càng phải vâng phục cha phần hồn là Ðấng ban sự sống cho ta.  Cha phần xác sửa trị ta theo ý riêng mình và vì lợi ích tạm thời, còn cha phần hồn thì vì lợi ích thực sự là để ta được thông phần vào sự thánh thiện của cha.  Thật vậy, mọi sự sửa phạt lúc đầu chỉ gây buồn tủi, chẳng có đem lại an ủi đâu, song về sau, những kẻ vui lòng chịu thử thách như vậy, sẽ được sự bằng an và sự công chính làm phần thưởng (Hipri 12: 4-11).

Lm Nguyễn Tầm Thường, SJ – Trích trong “Con Biết Con Cần Chúa”