SỰ SỐNG BẤT DIỆT

Hôm ấy, một hoàng tử nọ và ba vị cận thần lên đường kinh lý kiểm tra đất nước rộng lớn của vua cha.  Khi tới trên đỉnh núi cao, hoàng tử đưa mắt nhìn xuống miền đất mênh mông phía dưới.  Một lúc, hoàng tử ngậm ngùi lên tiếng:

– Ôi, quê hương thân mến!  Ôi đất nước dấu yêu!  Ngươi thật xinh đẹp biết bao với những thung lũng êm dịu, những mặt hồ trong xanh đầy ánh sáng, những cánh đồng với đủ thứ hoa muôn màu sắc, những núi đồi hùng vĩ và những khu rừng tĩnh mạc êm đềm.  Thế nhưng, ta sẽ phải chết và sẽ phải từ biệt ngươi, sẽ không bao giờ còn được chiêm ngắm vẻ đẹp của ngươi nữa.  Ôi sự chết, nhưng tại sao lại phải có sự chết?

Rồi hoàng tử buồn sầu nức nở.  Thấy vậy, hai vị cận thần cũng mủi lòng khóc theo.  Họ than thở và tìm cách ủi an hoàng tử.  Trong khi đó, vị cận thần thứ ba chỉ mỉm cười và không một lời phát biểu.  Về tới triều đình, hoàng tử gọi vị cận thần thứ ba đến và trách hỏi:

– Hôm nay, khi đứng trên núi cao, tâm hồn ta buồn sầu khôn tả.  Trong khi hai vị cận thần kia tìm cách an ủi ta, còn ngươi, tại sao ngươi chẳng nói gì mà lại mỉm cười như thế?

Vị cận thần thứ ba khôn ngoan trả lời:

– Tâu lạy hoàng tử.  Xin hoàng tử hãy nghĩ lại xem.  Nếu những vị danh nhân đại tướng từ trước đến nay tiếp tục sống mãi, không ai phải chết, đời sống họ sẽ ra thế nào và vận mệnh thiên hạ sẽ ra sao? Nếu hoàng đế, vua ông nội của hoàng tử không phải chết thì làm sao vua cha của hoàng tử có thể lên ngôi kế vị được?  Nếu vua cha của hoàng tử còn tiếp tục sống mãi thì làm sao hoàng tử có thể cai trị trên ngai vua cha được?  Nếu như tất cả các hoàng tử và các vua chúa trên trần gian này còn tiếp tục sống mãi thì lúc này hoàng tử sẽ thế nào?  Hôm nay, hạ thần đã nhìn thấy một hoàng tử thiếu hiểu biết sự thật về thân phận con người, lại thêm hai vị cố vấn chỉ biết nịnh bợ vuốt ve sự khờ dại của hoàng tử nữa thì làm sao mà hạ thần lại không thấy buồn cười được?

Lời nói khôn ngoan của vị cận thần thứ ba đã làm cho hoàng tử thức tỉnh và cảm thấy hổ ngươi vì sự khờ dại của mình.  Hoàng tử nói thêm:

– Sau này, khi giờ chết đến, ta chỉ muốn một mình ngươi bên cạnh giường ta mà thôi.

*******

Là con người, ai lại không sợ chết.  Bởi vì biết rõ những gì phải bỏ lại đàng sau, nhưng không biết trước mắt sẽ gặp thấy điều gì, chính vì những điều chưa biết đó làm cho con người thêm băn khoăn lo sợ.  Tuy nhiên, trên trần gian này không có chân lý nào chắc chắn hơn là sự chết.  Mỗi người sinh ra trên trần gian đều phải chết, tuy không ai biết được chính xác mình sẽ phải chết khi nào, chết cách nào và chết ở đâu.  Thế nhưng, đâu phải tất cả mọi người đều nghĩ tới cái chết của mình.  Biết bao nhiêu người sống như thể là sẽ không bao giờ phải chết hoặc vì dửng dưng, hoặc vì cố tình muốn gạt bỏ nó sang một bên để khỏi phải bận tâm đến cuộc sống hiện tại của họ.

Chúa Giêsu tuy là Con Một của Thiên Chúa hằng sống và là nguồn mạch sự sống, nhưng đã tự nguyện mặc lấy thân phận con người hay chết, và hơn nữa đã muốn chấp nhận cái chết khổ nhục trên thập giá để nhắc nhở con người thực tại về sự chết là gì và đâu là con đường dẫn tới sự sống hạnh phúc thật, sự sống bất diệt.  Ðó là con đường cứu độ qua mầu nhiệm đau khổ của thập giá và của sự chết.  Ơn cứu độ của Chúa Giêsu tác động trên con người toàn diện, bắt đầu từ trong thâm tâm, từ sự nhận biết và chấp nhận con người thật với tất cả những hạn hẹp của mình.  Ðó là bước đầu tiên tháo gỡ mình khỏi những trói buộc nô lệ, để bắt đầu sự giải thoát.  Con đường cứu thoát đòi hỏi sự chết đi liên tục để bắt đầu con đường sống thực sự.  Ðòi hỏi lòng can đảm và sức mạnh vào lòng tin của Chúa Kitô là Ðấng đã toàn thắng sự chết để mở ra chân trời mới của sự sống bên kia sự chết.

Trong phúc âm, trước khi bước vào con đường khổ nạn, Chúa Giêsu đưa ba môn đệ thân cận nhất lên núi cao và cho họ thấy trước vinh quang của Ngài để củng cố niềm tin của họ, để họ không nản lòng thất vọng vì sẽ phải đứng trước cái chết khổ nhục của Ngài, vì biết rằng đó là ngưỡng cửa dẫn vào vinh quang của sự sống bất diệt.  Con đường cứu độ đó không thể nào chỉ dừng lại trong vinh quang của núi Tabor, nhưng là vững bước cùng Chúa vác thập giá tiến lên núi Sọ qua sự chết đi từng ngày trong cuộc sống của mình, Chết đi cho tính kiêu ngạo, cho lòng ích kỷ tự ái và mọi thói hư nết xấu để sống cho Chúa trong tinh thần phục vụ và yêu thương.

*******

Lạy Chúa Giêsu,

Chúa đã phán bảo chúng con rằng: “Không có tình yêu nào lớn hơn cho bằng hiến dâng mạng sống vì người mình yêu mến”.  Xin giúp con can đảm chấp nhận chết đi từng giây phút trong con người cũ của con, để bắt đầu sống cho Chúa ngay từ giây phút này, để con biết nhận ra Chúa nơi anh em con.  Và để những người chung quanh cũng nhận ta Chúa trong cuộc sống con.  Amen!

R. Veritas

ÁNH MẮT THIÊN CHÚA

Người làm sao chiêm bao làm vậy. Tâm hồn thế nào sẽ bộc lộ ra trong ánh mắt thế ấy.  Hôm nay, Chúa Giêsu ngồi trước cửa đền thờ Giêrusalem quan sát những người bỏ tiền vào hòm dâng cúng trong đền thờ.  Người đã thấy và đã phán đoán. Qua cách quan sát và phán đoán ta có thể thấy được tâm hồn của Người.

*****

Chúa quan tâm tới những người bé nhỏ. Hàng hàng lớp lớp người tiến đến dâng cúng. Tin Mừng thuật lại: “Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà góa nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng bạc Rôma”. Thật lạ lùng. Biết bao nhiêu người Chúa chẳng quan tâm, chỉ quan tâm tới một người bé nhỏ nhất. Chúa chỉ quan tâm tới một người nghèo nhất. Một bà góa. Bà góa này chắc chắn phải gầy gò bé nhỏ, ăn mặc rất đơn sơ. Nhưng Chúa đã chú ý đến bà. Người ta bảo tìm gì gặp nấy. Chúa yêu thương những người bé nhỏ, nên quan tâm tới người bé nhỏ và chỉ nhìn thấy những người bé nhỏ. Ánh mắt quan tâm nên nhìn thấy rõ, dù người đó bé nhỏ, lạc giữa đám đông. Ánh mắt yêu thương nên thấy người đó thật đẹp dù ăn mặc rất đơn sơ, hình dáng rất tiều tụy. Quả thật trái tim Chúa nhân hiền như người mục tử tốt lành, bỏ chín mươi chín con chiên béo tốt để đi tìm một con chiên lạc còm cõi. Như người phụ nữ đốt đèn tìm một đồng tiền nhỏ bé rơi trong góc nhà.

Chúa nhìn bên trong tâm hồn. Biết bao người giàu sang béo tốt quần là áo lụa, nhưng Chúa không nhìn.  Chúa chỉ nhìn người phụ nữ nghèo nàn, gầy gò, rách rưới.  Biết bao người dâng cúng tiền rừng bạc biển mà Chúa chẳng khen. Chúa chỉ khen người phụ nữ bỏ vào thùng tiền hai đồng xu nhỏ. Không những khen mà Chúa còn cho rằng bà này bỏ nhiều hơn những người khác. Thì ra Chúa đánh giá không dựa theo khối lượng nhưng dựa theo chất lượng. Chúa không nhìn bề ngoài nhưng nhìn vào tấm lòng. Chúa cho biết tại sao Chúa khen bà: “Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống”.  Chúa đã nhìn thấu tâm hồn của bà.  Một tâm hồn thiết tha yêu mến Chúa và với công việc nhà Chúa. Chúa đã thấy tấm lòng của bà. Một tấm lòng quảng đại dám cho đi tất cả những gì cần thiết cho đời sống của mình.

Lời Chúa hôm nay vừa cảnh tỉnh tôi vừa dạy dỗ tôi về cách sống đạo và về cách nhìn người.

Về cách nhìn người, Chúa dạy tôi đừng chạy theo những người giàu sang phú quý quyền cao chức trọng, nhưng hãy biết chú ý tới những người bé nhỏ nghèo hèn trong xã hội. Đừng xét đoán người theo hình dáng bề ngoài, theo y phục hay theo tiền của. Hãy biết nhìn bên trong tâm hồn con người. Có những người có địa vị cao nhưng tâm hồn lại thấp hèn. Có những người nghèo hèn nhưng tâm hồn rất cao thượng. Có những người giàu có nhưng rất bủn xỉn. Có những người nghèo khó nhưng rất quảng đại.

Vì thế trong đời sống đạo, Chúa dạy tôi đừng giả hình vì Chúa nhìn thấu rõ tâm hồn. Tôi có thể lừa dối người khác, nhưng không thể lừa dối Chúa. Đừng khoe khoang kiêu ngạo vì Chúa chỉ yêu thích tâm hồn bé nhỏ khiêm nhường. Đừng tìm chỗ đứng trong xã hội, trước mặt người đời, nhưng hãy tìm chỗ đứng trong lòng Thiên Chúa.

*****

Lạy Chúa, xin dạy con biết noi gương bà góa nghèo, biết sống đơn sơ chân thật, nhưng luôn quảng đại với Chúa và với anh em. Amen.

TGM. Ngô Quang Kiệt

BÊN KIA SỰ CHẾT

Trên giường hấp hối, thánh Monica đã nhắn nhủ con ngài là Augustino như sau: “Mẹ chỉ xin con một điều là hãy nhớ đến mẹ khi tới bàn tiệc thánh”.

Có lẽ nhiều người trong chúng ta cũng đã được nghe nhiều lời van xin tương tự phát ra từ môi miệng của những người thân của chúng ta, trước khi từ giã cõi đời…  Nhưng xa mặt cách lòng, nhiều người trong chúng ta lãng quên những lời van xin thống thiết ấy.  Cần được thương, cần được nhớ: đó là khát vọng tự nhiên của con người.  Không ai muốn là một hoang đảo cô đơn.  Dưới cái nhìn Đức Tin, lời van xin kẻ khác cầu nguyện cho, còn chứng tỏ một lòng khiêm tốn, một thái độ chấp nhận cái giới hạn mỏng manh bất lực của mình.

Để giúp chúng ta có dịp đáp lại thỉnh cầu của những người đã đi vào thế giới bên kia và để thể hiện mối tình thông hiệp “các thánh thông công”, Giáo Hội ngay từ buổi đầu kỷ nguyên Kitô đã cổ động việc tưởng nhớ cầu nguyện cho những người quá cố.  Những thế kỷ gần đây đã dành tháng 11 hằng năm cho việc đạo đức ấy.  Hai ngày lễ mừng kính các thánh và cầu cho các linh hồn được ấn định vào hai ngày mùng một và mùng hai đầu tháng với những kinh nguyện rất ý nghĩa, nhắc chúng ta về sự hiệp thông trong Giáo Hội.  Công đồng Vatican II trong hiến chế về Mầu Nhiệm Giáo Hội đã viết như sau: “Giáo Hội lữ hành hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu cho những người đã chết, vì cầu nguyện cho họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc lành thánh…”.  Nói về sự bầu cử của các đẳng linh hồn, Công Đồng viết như sau: “Khi được về quê Trời và hiện diện trước nhan Chúa, nhờ Người, với Người và trong Người, các thánh lại không ngừng cầu bàu cho chúng ta bên Chúa Cha…”  Sự trao đi nhận lại đó vừa là một việc bác ái vừa là một bổn phận thảo hiếu đáp đền, đã thực sự củng cố Giáo Hội thêm vững bền trong sự thánh thiện.

Quỳ cầu nguyện một mình trong nhà thờ, hay ngậm ngùi đốt lên một ngọn bạch lạp tại một nghĩa trang nào, có lẽ ai trong chúng ta cũng cảm thấy bùi ngùi xúc động khi nghĩ đến những người chết và chính cái chết.  Chúng ta đang đứng giữa biên giới vô hình của sự sống và sự chết.  Và một cách vô cùng huyền nhiệm và sống động, những người chết đang hiện diện với chúng ta bằng một sợi dây liên kết thâm sâu, thắm thiết…  Cái chết không còn là một chấm hết cuối cùng đối với chúng ta nữa.  Tình yêu mạnh hơn sự chết.  Chính Tình Yêu đã làm cho những người đã chết được sống và cũng chính Tình Yêu liên kết chúng ta với những người chết.  Vâng, chỉ có Tình Yêu mới làm cho con người được bất tử.  Chỉ có Tình Yêu mới làm cho con người liên kết với những người đã chết.  Chỉ có Tình Yêu mới mặc cho những nghĩa cử của con người sự bất diệt.

Mỗi lần chúng ta hy sinh cho một người nào đó, mỗi lần chúng ta săn sóc một người đau yếu, an ủi một người đau khổ, bênh vực một người cô thế, hay cùng với những người khác dấn thân để canh tân cuộc sống… Chúng ta đang tiến dần đến sự bất tử.  Yêu thương chính là tái sinh, là sự thông dự vào sự sung mãn của cuộc sống.  Đó phải là niềm tin của chúng ta trong ngày hôm nay khi chúng ta tưởng nhớ và cầu nguyện cho người quá cố.  Xin Chúa nâng đỡ Đức Tin yếu kém của chúng ta, xin Ngài ban thêm niềm hy vọng cho chúng ta.

Sưu tầm

*******

Tôi đã được phép giã từ.
Chúc tôi ra đi may mắn nhé, anh em!
Tôi cúi đầu chào tất cả trước khi lên đường.

Này đây chìa khóa tôi gài lên cửa,
Và cả căn nhà cũng trao trọn anh em.
Chỉ xin anh em lời tạ từ lần cuối,
Thắm đượm tình thân.
Từ lâu rồi, sống bên nhau,
Chúng mình là láng giềng lối xóm;
Nhưng anh em đã cho tôi
Nhiều hơn tôi cho lại anh em.

Bây giờ ngày đã rạng,
Đèn trong xó tối nhà tôi đã tắt.
Lệnh triệu ban rồi,
Tôi đi đây.

Vĩnh Biệt – Lời Dâng 93

NGÀY MAI CỦA ĐỜI TÔI

Ngày mai lìa bỏ gian trần,
Giã từ thương tiếc người thân lắm mà.
Nghe lòng rung hạt châu sa,
Được làm con Chúa lơ là tình Cha.

Tình thương Thiên Chúa bao la,
Tỉnh đi kẻo phải trầm kha vong hồn.
Quay về bên Chúa Chí Tôn,
Ngày qua tháng lại, hoàng hôn đến gần.
Thời gian trôi nhanh, nhanh quá là nhanh.

Nhìn lại chính mình để gợi nhớ mà ghi ơn.  Giáo Hội là người Mẹ hiền luôn nhắc nhủ con cái hồi tâm tỉnh ngộ chuẩn bị ngày về Nhà Cha.

Nguyên tháng Mười Một hàng năm, kính nhớ các linh hồn nơi luyện ngục, vì tội thì Chúa tha, nhưng vạ thì phải đền.

Hiện giờ các linh hồn ở chốn thanh luyện không còn cơ hội lập công đền tội cho mình được nữa, chỉ biết trông chờ những người còn sống đền thay nguyện giúp trong mầu nhiệm Các Thánh Thông Công.  Đành rằng sẽ có ngày được về bên Chúa, nhưng đang đau buồn luyến tiếc vì lúc sống đã không đáp lại tình thương hải hà của Thiên Chúa:  Thật là đau khổ vì hối hận và luyến tiếc; nhưng nhờ vậy mà được thanh luyện.  Nghĩ mà lo sợ cho chính mình…

Không có Đức Kitô, đời ta vô nghĩa; nhưng không trông cậy nơi Ngài, thực hành Lời Ngài dạy, lại càng khốn cho tôi; đời tôi sẽ mất hy vọng.

Lạy Chúa, con hy vọng vào Ngài.  Đời con nương bóng Chúa thôi.  Thiên Chúa dành sẵn gia tài không thể hư hoại, không thể vẩn đục và tàn phai cho những người hy vọng vào Ngài: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Do lượng hải hà, Người cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giêsu Kitô đã từ cõi chết sống lại, để được hưởng gia tài không thể hư hoại, không thể vẩn đục và tàn phai.  Gia tài nầy dành ở trên trời cho anh chị em, là những người, nhờ lòng tin, được Thiên Chúa quyền năng gìn giữ, hầu được hưởng ơn cứu độ Ngưòi đã dành sẵn, và sẽ bày tỏ ra trong thời sau hết.” (1 Pr 1:3-4)

 *******

Cái chết của tôi

Một điều hoàn toàn chắc chắn, là tôi phải chết; nhưng có một điều hoàn toàn không biết chắc, là tôi sẽ chết lúc nào?  Cách nào?  Vì thế tôi phải luôn tỉnh táo.  Dù hoàn cảnh thế nào, khi chết tôi cũng chả mang theo được gì, bỏ lại tất cả; tôi sẽ ra đi một mình, ra đi một lần không bao giờ trở lại; một sự ra đi dứt điểm, không thể sửa đổi, một sự ra đi bắt buộc, không ai trên trần gian nầy níu kéo được.  Không thể chần chờ, có ai sống mãi để rồi hoan ca?

Hãy để sự chết mở mắt cho tôi khám phá những điều tôi tưởng không muốn thấy.  Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn, nào được ích gì?

Đối diện với cái chết, tôi thấy chỉ việc phụng sự Thiên Chúa là quan trọng.  Còn những việc lạm dụng của cải là điên rồ; những danh dự tôi ham muốn, thực ra chỉ là những cạm bẫy; giàu sang có ích gì cho tôi nếu tôi không tích trữ một kho tàng trên trời.

Tôi muốn một cuộc đời lâu dài mạnh khoẻ, nhưng ích gì nếu tôi không chuẩn bị một cuộc đời vĩnh cửu.  Để đón nhận cái chết của đời tôi trong an bình, tôi phải yêu Chúa và tưởng nhớ Chúa, từng giây phút như hơi thở của sự sống đời tôi.

Người khôn là người biết đợi chết!

Một người kia đi du lịch qua nước Pháp.  Khi đến bờ biển Côte d’Azur để nghỉ mát, ông bị tai nạn giao thông và chết tại đó.
Bộ Giao Thông của nước Pháp liền đặt nơi nầy một tấm bảng có ghi câu:  “Nơi đây, một người đến nghỉ một ngày, nhưng rồi phải ở lại đây luôn mãi.”
Thật đúng như lời thánh Bênađô cảnh cáo: “Sự chết đợi con mọi nơi, thì con cũng đợi nó mọi chốn.  Như vậy, mới là người khôn.”
Tuyệt vời thay niềm tin của người đón nhận Đức Giêsu Kitô làm lý tưởng cho cuộc đời, nên biết hướng đi và đích điểm của ngày về.

Tôi là người Kitô Hữu,
Niềm tin vào Đức Giê-su Con Trời.
Cửa trời rộng mở gọi mời,
Loài người yêu dấu, cao vời hơn muông.

Con ơi! chớ sống buông tuồng,
Ngày mai phải thác, Cha buồn xót xa.
Uổng công con được sinh ra,
Quay về cho sớm, mặn mà tình Cha.

Nam Giao

NƯỚC TRỜI LÀ CỦA HỌ

Nếu chúng ta được lên trời để thăm các thánh,
hẳn chúng ta sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước sự đa dạng.

Các thánh thật khác nhau về nhiều mặt:
giới tính, tuổi tác, màu da, tiếng nói, nghề nghiệp,
hoàn cảnh, thời đại, bậc sống, khả năng, tính tình…

Có người không biết viết như thánh nữ Catarina Siêna.
Có người đậu tiến sĩ triết hạng tối ưu như thánh Edith Stein.
Có người làm bao phép lạ phi thường như ngôn sứ Êlia.
Có người sống âm thầm như chị Têrêsa nhỏ.

Nói chung chẳng gì có thể ngăn cản chúng ta nên thánh,
vì Thiên Chúa muốn mọi người nên thánh chẳng trừ ai.

Các mối phúc là con đường nên thánh.
Con đường này chính Ðức Kitô đã đi và mời ta cùng đi.
Ngài mời ta có tâm hồn nghèo khó, hiền lành,
nghĩa là hoàn toàn tín thác vào một mình Thiên Chúa,
có lòng khát khao sự công chính, chỉ mong làm trọn ý Ngài.

Trong tương quan với tha nhân, Ðức Kitô mời ta
có lòng thương xót, biết đau nỗi đau của người khác,
có tâm hồn trong sạch, nghĩa là sống ngay thẳng, chân thành,
có tinh thần xây dựng hòa bình và công bằng xã hội,
nghĩa là chăm lo phát triển toàn diện từng người và mọi người.

Sống các mối phúc trên là chấp nhận mối phúc bị bách hại.
Mỗi vị thánh đều sống nổi bật trong một số mối phúc.
Họ đã nếm phần nào hạnh phúc từ đời này
trước khi hưởng hạnh phúc trọn vẹn bền vững trên trời.
Chúng ta thường nghĩ nên thánh là chuyện cao siêu
dành cho một thiểu số hết sức đặc biệt.

Thật ra mọi Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh.
“Các con hãy nên trọn lành như Cha trên trời.”
Chỉ Thiên Chúa mới là nguồn mọi sự thánh thiện.
Ngài mời chúng ta chia sẻ sự thánh thiện của Ngài.

Nên thánh là đáp trả lời mời đó.
Khi chiêm ngắm các thánh, ta có thể hiểu nên thánh là gì.

Nên thánh là để cho tình yêu chi phối toàn bộ cuộc sống,
là ra khỏi cái tôi hẹp hòi của mình
đẻ sống hết tình cho Thiên Chúa và tha nhân.

Nên thánh là luôn lắng nghe tiếng Chúa
và trung thành đáp lại trong giây phút hiện tại.

Nên thánh là yêu mến cuộc sống mà Chúa tặng trao,
là để cho Chúa yêu mình, nắm tay mình,
dắt mình vào thế giới riêng tư của Chúa.

Nên thánh là thuộc trọn về Chúa và về anh em,
là để Chúa dần dần chiếm lấy mọi chỗ của đời mình.

Chúa mời tôi nên thánh với con người và hoàn cảnh riêng.
với sa ngã của quá khứ và mỏng dòn của hiện tại,
với cái dằm vẫn thường xuyên làm tôi nhức nhối.

Chúa muốn tôi nên thánh với mặt mạnh, mặt yếu của tôi.
Ước gì đời tôi vén mở một nét nào đó của Chúa.

Lm Nguyễn Cao Siêu S.J

*******

Lạy Cha,
con phó mặc con cho Cha,
xin dùng con tùy sở thích Cha.
Cha dùng con làm chi, con cũng xin cảm ơn.
Con luôn sẵn sàng, con đón nhận tất cả.
Miễn là ý Cha thực hiện nơi con
và nơi mọi loài Cha tạo dựng,
thì, lạy Cha, con không ước muốn chi khác nữa.
Con trao linh hồn con về tay Cha.
Con dâng linh hồn con cho Cha,
lạy Chúa Trời của con,
với tất cả tình yêu của lòng con.
Vì con yêu mến Cha,
vì lòng con yêu mến
thúc đẩy con phó dâng mình cho Cha,
thúc đẩy con trao trọn bản thân về tay Cha,
không so đo,
với một lòng tin cậy vô biên,
vì Cha là Cha của con.

(Charles de Foucauld)

CON CÓ THỂ ĐỌC KINH LẠY CHA ĐƯỢC KHÔNG?

Con không thể đọc “Lạy Cha
nếu không chứng tỏ được, bằng cuộc sống của mình,
là con có một mối liên hệ Cha con với Cha.

Không thể đọc “Chúng con
nếu con cứ sống trong một tinh thần hẹp hòi khép kín
và nghĩ rằng trên trời chỉ có một chỗ đặc biệt dành riêng cho Giáo Hội của con mà thôi.

Không thể đọc “Chúng con nguyện Danh Cha cả sáng
nếu con, một người kêu cầu Danh Cha, nhưng chính con lại không nên Thánh.

Không thể đọc “Nước Cha trị đến
nếu con không dùng hết năng lực của mình để xúc tiến nhanh ngày lại đến của Cha.

Không thể đọc “Ý Cha thể hiện
nếu con không đồng ý nhưng còn nổi loạn chống lại ý ấy.

Không thể đọc “dưới đất cũng như trên trời
nếu con không sẵn sàng tận hiến cuộc đời của con dưới thế nầy để phục vụ Cha.

Không thể đọc “xin cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày
Nếu con không thay đổi lối sống chỉ dựa trên sự lợi dụng người khác.

Không thể đọc “và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con
nếu con vẫn giữ mối hiềm khích, lòng thù hận và nỗi tức giận chống lại anh em con hoặc ganh tị với họ.

Không thể đọc “xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ
nếu con cương quyết đặt mình hoặc cứ ở lại trong một hoàn cảnh mà con có thể dễ dàng rơi vào chước cám dỗ.

Không thể đọc “nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ
nếu con không sẵn sàng chiến đấu trong tinh thần, với một vũ khí là lời cầu nguyện.

Không thể đọc “Amen
nếu con không thêm rằng: “bằng bất cứ giá nào.”

Vì con phải trả giá rất nhiều mới đọc được lời kinh ấy một cách hết sức khiêm cung

M.W.Grass, bản dịch của M.Stein –  Thái Văn Hiến trích dịch

*******

Lạy Chúa Giêsu, qua các tông đồ, Chúa đã dạy con cách cầu nguyện qua câu Kinh Lạy Cha, xin cho con ý thức  từng lời từng chữ mà con đọc.  Xin cho con biết sống với Lời Kinh mà Chúa đã dạy cho con.  Amen!

ĐÔI MẮT

Nhạc sĩ Xuân Hồng viết ca khúc “Đôi mắt” với ca từ dễ thương.

Mẹ cho em đôi mắt sáng ngời,
Để nhìn đời và để làm duyên.
Mẹ cho em đôi mắt màu đen,
Để thương để nhớ, để ghen để hờn.
Đôi mắt em là cửa ngỏ tâm hồn,
Là bài thơ hay nhất,
Là lời ca không dứt,
Là tuyệt tác của thiên nhiên.
Đôi mắt là cửa ngỏ tâm hồn, là tuyệt tác thiên nhiên
.

Thi sĩ Lưu trọng Lư đã viết hai câu thơ thật đẹp về tình yêu trong đôi mắt:

Mắt em là một dòng sông,
Thuyền ta bơi lặng trong dòng mắt em
.

*******

Mắt là cảm hứng cho thi sĩ, nhạc sĩ.  Mắt là hồn cho thơ, là sóng cho nhạc.  Có người nhìn đôi mắt như mùa thu.  Có người nhìn đôi mắt như dòng sông.  Trong văn chương, nghệ thuật, cảm hứng về mắt bao giờ cũng là đôi mắt đẹp.

Thế nhưng, khi Thánh Kinh nói về mắt lại nói về đôi mắt mù.  Từ những trang đầu của sách Sáng Thế đã nói về mắt:  “Rắn đã nói với người đàn bà: chẳng chết chóc gì đâu ! Quả nhiên Thiên Chúa biết, ngày nào các ngươi ăn nó mắt các ngươi sẽ mở ra và các ngươi sẽ nên như Thiên Chúa, biết cả tốt xấu. Và người đàn bà đã nhìn; quả là cây ăn phải ngon… mà nhìn thì đã sướng mắt.  Nó đáng quý thực, cái cây ấy để được tinh khôn.  Và bà đã ăn… Và mắt cả hai người đã mở ra.  Và chúng biết là chúng trần truồng” (St 3, 4–7).  (x.Nước mắt và hạnh phúc tr69–71, Linh mục Nguyễn Tầm Thường )  Đoạn Thánh Kinh nói về lịch sử sa ngã của loài người đã đề cập đến đôi mắt qua 3 tiến trình: 

–  Rắn hứa là mắt hai ông bà sẽ mở ra.

–  E-và nhìn trái táo và thấy sướng mắt.

–  Mắt hai người mở ra và thấy mình trần truồng.

Rắn hứa là mắt hai người sẽ mở ra để nhìn thấy mọi sự như Thiên Chúa, nhưng mắt đức tin đã nhắm lại nên không nhìn thấy điều mình muốn thấy.  Họ không thấy mùa hoa nở rộ, những đồi cỏ bình yên, những dãi nắng hiền, những dòng suối êm ả. ( sđd. tr 72 ). “Mà nhìn thì đã sướng mắt”, cái nhìn ấy phải là đắm đuối, bằng cái nhìn đam mê đó, tội lỗi, khổ đau và sự chết đã vào trần thế.

Lời hứa của con rắn đã hiệu nghiệm: “mắt cả hai người đã mở ra”.  Không phải mở ra để nhìn thấy vẻ đẹp mà nhìn thấy mình trần truồng. “Mắt hai người đã mở ra”. Câu Thánh kinh thật ngắn ngũi diễn tả cách tinh tế sự đau thương: mở ra cũng là lúc đóng lại.  A-đam – E-và đã mở mắt, nhưng họ lẫn trốn không dám nhìn Thiên Chúa.  Cả hai đã mở mắt nhưng để tìm lá che thân, không dám nhìn nhau.  Khởi đầu lịch sử nhân loại là đôi mắt mù và sự mù loà chảy dọc theo thời gian mang tối tăm vào trong trần thế.

Chúa Ki-tô đã đến chữa lành sự mù loà ấy, hàn gắn lại vết thương thưở sa ngã của Nguyên Tổ.  Khi liên kết phép lạ Chúa Giê-su chữa người mù từ thưở mới sinh với sự mù loà của Nguyên tổ, ta mới thấy ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm Con Thiên Chúa đến trong thế gian.

“Mù từ thưở mới sinh” là mù từ xa xưa, thưở địa đàng.  Chúa Ki-tô đã mang ánh sáng cho thế gian. Ngài ban cho nhân loại đôi mắt mới: Mắt Đức Tin.  Từ tiến trình đến ánh sáng tự nhiên, người mù có một hành trình tiếp cận ánh sáng đức tin.  Chúa Giê-su chữa lành đôi mắt thể lý và mắt tâm hồn của người mù.  Chúa đã mở mắt đức tin để anh ta tin vào Chúa.  Anh ta tin vào lời Chúa là đi rửa mắt ở hồ Si-lô-ác và đã công khai nói lên sự thật ca ngợi Chúa trước mặt những người Pha-ri-siêu đang tra vấn, khủng bố anh: Chính tôi đây đã được người mà thiên hạ gọi là Giê-su lấy bùn xức mắt tôi và bảo tôi hãy đi rửa ở hồ Si-lô-ác.  Tôi đã đi, đã rửa và đã trông thấy.  Lòng bắt đầu rộng mở nên anh ta nhận ra: Nếu người đó không phải bởi Thiên Chúa thì đã không làm được gì.  Bởi đó, khi gặp lại Chúa Giê-su và được hỏi: “Anh có tin Con Người không ?” thì anh đáp lại ngay: “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?”  Chúa Giê-su tỏ mình ra cho anh: “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây”.  Anh liền đáp: “Lạy Thầy, tôi tin.”  Bước nhảy của niềm tin được kết tinh nơi thái độ quỳ xuống bái lạy.  Qua việc chữa lành đôi mắt thể lý, Chúa Giê-su trao ban ánh sáng đức tin cho đôi mắt tâm hồn. Thoát khỏi bóng tối triền miên của cuộc đời, bát ngát một bầu trời mới khi anh được sáng đôi mắt.  Lớn lao hơn nữa là tâm hồn anh thênh thang chứa chan lòng mến, anh đã quỳ bái lạy với tất cả lòng tin.  Phép lạ chữa người mù thưở mới sinh là một dấu chỉ minh chứng: Đức Giê-su là sự sáng thế gian, đã chữa lành sự mù loà của nhân loại với điều kiện: Tin vào Ngài. Chúa Giê-su cũng chữa nhiều người mù loà tâm hồn.  Ngài mở mắt cho Gia-kêu thấy được sự nguy hiểm của tiền tài đối với phần rỗi ( Lc 9, 1 – 10 ).  Ngài mở mắt cho người đàn bà ngoại tình, giúp chị từ bỏ quá khứ lỗi lầm ( Lc 7, 36 – 50 ). Ngài mở mắt cho người trộm lành giúp nhận ra lòng Chúa xót thương ( Lc 23, 32 – 43 )…

Mỗi người chúng ta có lẽ không hoàn toàn mù tối tâm hồn, nhưng có những điểm tối mà ta thấy được. Chẳng hạn như những đam mê, tham vọng, hận thù, ghen ghét, kiêu căng, có thể làm ta mù tối không nhìn thấy sự tốt lành nơi tha nhân.  Có một số người chỉ nhìn thấy điểm tối của người khác, chỉ nhìn thấy những lỗi lầm, những khuyết điểm mà không nhận ra những gì là xinh đẹp, những gì là cao quý, thánh thiện nơi họ.  Cứ tiếp tục xét mình, ta sẽ thấy có nhiều điểm tối, sự mù tối của tâm hồn rất nguy hại.  Chỉ có ánh sáng của Đức Ki-tô soi chiếu, chỉ có cái nhìn của Đấng tình yêu, mỗi người mới xoá tan những điểm tối đó.  Chỉ có sự cầu nguyện và tin tưởng vào Đấng là ánh sáng thế gian, chúng ta mới có thể xua đuổi bóng tối ra khỏi tâm hồn và nhìn mọi sự trong ánh sáng Tin Mừng Đức Ki-tô.

Đôi mắt là tuyệt tác của thiên nhiên, là cửa ngỏ tâm hồn.  Đôi mắt có thị giác và thị lực. Thị giác là khả năng của đôi mắt có thể thấy.  Thị lực là mức độ thấy của khả năng ấy.  Thấy nhiều hay ít.  Thấy xa hay gần.  Thấy rõ hay mờ.  Người cận thị chỉ thấy được rất gần.  Người viễn thị thì thấy xa hơn.  Cần có thị giác tốt và thị lực tốt thì đôi mắt mới sáng ngời.  Thị lực còn là của trí óc và của con tim.  Có người chỉ thấy được cái thế giới chật hẹp và ích kỷ của bản thân mình; có người thấy được hoàn cảnh, tâm tư và nguyện vọng của người khác.  Thị lực còn là niềm tin.  Bar-ti-mê tuy mù nhưng lại có thị lực tốt.  Anh đã thấy được Ðức Giê-su là Ðấng Mes-si-a “Con Vua Ðavít”.  Anh thấy nhiều cái mà những người sáng mắt không thấy.  Anh thấy Chúa là con vua Đavít, là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế. Anh thấy quyền năng và tình thương của Chúa có thể cho anh được sáng mắt.  Anh thấy bằng lòng tin. Chính vì lòng tin này mà Chúa Giê-su đã thương cứu chữa cho anh sáng mắt.  Anh mù, mắt không thấy Chúa, nhưng lòng đã thấy Chúa rồi vì anh có lòng tin.  Thị lực lòng tin cho anh tiếp nhận ánh sáng tình yêu đầy tràn hy vọng.

*******

Lạy Chúa, xin cho con có đôi mắt với thị giác và thị lực tốt.  Để con nhận ra Chúa nơi anh em với những cái hay cái tốt.  Để con nhận ra Chúa nơi các kỳ công kiệt tác thiên nhiên.  Để con biết nhận ra Chúa nơi các vị Đại Diện Chúa. Và lạy Chúa, xin cho con được thấy bản thân với những yếu đuối và khuyết điểm, biết nhận ra thân phận thụ tạo lệ thuộc Đấng Tạo Hóa; từ đó con biết được ơn phúc là do lòng Chúa yêu thương ban tặng, để con luôn biết dâng lời cảm tạ, tôn thờ, phụng sự và kính mến Chúa với cả tâm tình con thảo. Amen!

Lm Giuse Nguyễn Hữu An
(CN 30B TN, BĐ 1: Gr.31:7-9 , BĐ 2: Dt 5:1-6 , PÂ: Mc.10:46-52)

MÙ LÒA

Có một câu chuyện kể về một người mù như sau:

Một anh mù đi thăm một người bạn. Vì đã lâu không gặp nên đôi bạn hàn huyên tâm sự mãi quên cả thời gian.  Khi màn đêm buông xuống, anh mù mới cáo từ ra về.  Người bạn lên tiếng bảo: “Thôi để tôi thắp cho anh cái đèn, vì trời tối quá rồi”.  Anh mù nghĩ là bạn muốn chế diễu mình nên trả lời: “Anh muốn đùa hay sao? Tôi mù thì ngày và đêm có khác gì nhau đâu”. Người bạn vội vàng xin lỗi và nói: “Tôi đâu có dám đùa với anh, ý tôi là anh nên cầm cái đèn trên tay để người ta thấy sáng mà không đụng phải anh”. Anh mù nghe nói có lý liền vui vẻ hiên ngang xách đèn ra về.  Đi được một đoạn thì có một người đi ngược chiều đụng phải anh, làm anh ngã xuống vệ đường.  Quá tức giận, anh mù lồm cồm ngồi dậy và chửi đổng: “Đồ đui, người ta cầm đèn sáng như thế mà không thấy sao?”. Người kia liền mắng lại: “Mày mới là đồ đui, đèn tắt từ lúc nào mà mày không biết, còn chửi người ta”.

*****

Bạn thân mến!  Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến một người mù. Anh thấy nhiều cái mà người khác không thấy. Anh thấy Đức Giêsu là Con Vua Đavít là Đấng Messia, là Đấng Kitô Cứu Thế (Mc.10:47).  Anh thấy quyền năng của Đức Giêsu có thể giúp đỡ anh một cái gì khác hơn là vật chất, tiền bạc. Anh thấy tình trạng khốn khổ mù lòa của mình.  Anh mù thấy được nhiều cái mà người sáng mắt không thấy.

Tiếng kêu của anh “Lạy Thầy, xin cho con được thấy” (Mc.10:51) là một tiếng kêu của lòng tin.  Tất cả sức mạnh của anh nằm ở tiếng kêu, tiếng kêu thống thiết bi ai của một người đau khổ, nhưng cũng là tiếng kêu đầy tin tưởng, hy vọng. Tiếng kêu báo hiệu một sự hiện diện, một cầu cứu. Nhiều người muốn bịt miệng anh, nhưng anh chẳng sợ gì đe dọa.  Càng bị đe dọa, anh càng gào to hơn nhiều. Cuối cùng tiếng của anh đã đến tai Ðức Giêsu.  Ngài dừng lại và sai người đi gọi anh. Khi biết mình được gọi, anh vội vã và vui sướng vất bỏ cái áo choàng vướng víu, nhẩy cẫng lên mà đến với Ðức Giêsu.  Anh đi như một người đã sáng mắt, bởi thực ra con mắt tâm hồn của anh đã sáng rồi.  Lời cầu của anh được Đức Giêsu đáp ứng: “Lòng tin của anh cứu chữa anh”. (Mc.10:52)

Khi được khỏi mù lòa, lòng tin của anh thêm vững mạnh.  Anh thấy lại mặt trời, anh gặp Ðấng cho anh ánh sáng.  Không ngồi ở vệ đường nữa, anh đứng lên đi theo Ðức Giêsu. (Mc.10:52)  vì Ngài chính là ánh sáng cho đời anh. Ngài sẽ dẫn đường anh đi. Đi đến sự thật và đến sự sống.

Mời bạn cùng với tôi, chúng ta hãy đi vào lòng mình để nhận ra những bóng tối đã che phủ đời ta. Ta có tìm thấy Chúa là ánh sáng cho đời ta không? Chắc hẳn đời sống của tôi có nhiều bóng tối vì tôi chưa tin tưởng vào Chúa. Đời sống tôi bế tắc vì tôi chưa đặt niềm hy vọng vào Chúa. Đời tôi mệt mỏi chán chường vì tôi chưa yêu mến Chúa hết lòng.  Hãy tin tưởng vào Chúa.  Ánh sáng đức tin sẽ chiếu soi đường đời tôi đi. Hãy hy vọng vào Chúa. Niềm hy vọng là ánh sáng ấm áp cho cuộc đời. Hãy yêu mến Chúa. Tình yêu Chúa là ánh sáng hướng dẫn mọi tư tưởng, lời nói, việc làm của tôi.  Hãy noi gương anh mù thành Giêricô bỏ tất cả mà theo Chúa.  Sống bên Chúa đời tôi sẽ ngập tràn ánh sáng.

*****

Lạy Chúa! Như người mù ngồi bên vệ đường, xin Chúa dủ lòng thương cho con được thấy:

Cho con được thấy bản thân của con với những yếu đuối và khuyết điểm, những giả hình và che đậy.  Cho con được thấy Chúa hiện diện bên con, cho ánh sáng Chúa chiếu soi vào bóng tối của đời con.

Xin mở mắt con, để con biết nhìn ngắm những cảnh đẹp thiên nhiên, những kỳ công do tay Chúa tạo dựng trong vũ trụ, trời đất, vạn vật

Xin mở mắt con, để con thấy những anh em nghèo đói, ốm đau, bệnh tật quanh con, để con biết yêu thương, nâng đỡ và chia sẻ.

Xin mở mắt con, để con thấy cái tốt nơi người khác, thấy những việc tốt lành anh em đã làm cho con trong cuộc sống hôm nay.

Xin cho cuộc đời của con luôn phản chiếu ánh sáng của Chúa, vì Chúa là Sự Sáng, là Tình Yêu, là Chân Lý và là Sự Sống đời đời của con. Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas
(CN 30B TN, BĐ 1: Gr.31:7-9 , BĐ 2: Dt 5:1-6 , PÂ: Mc.10:46-52)

NHẬN VÀ CHO

Khi Đức Giêsu đón nhận năm chiếc bánh và hai con cá, Ngài dâng lời cảm tạ rồi đưa cho các môn đệ của Ngài.  Ngài không trực tiếp đi phát phân bánh và cá cho năm ngàn người đàn ông, mấy ngàn người phụ nữ và các em nhỏ.  Thánh Matthêu thuật lại rằng Đức Giêsu đưa bánh và cá cho các môn đệ và dặn họ thay Ngài đi phân phát bánh và cá cho tất cả mọi người được ăn no nê (Mt 14:19b).

Mời anh chị em cùng tôi thử nhìn ngắm thánh Simon Phêrô đi phát bánh.  Phêrô nhận bánh tình thương và cá ân sủng nơi Đức Giêsu và đi phân phát.  Ngài thấy một cụ già lúc nào cũng chăm chú nghe Thầy mình giảng dạy, chắc cụ là người thèm khát Lời Chúa và là người tốt: “Cụ ăn cho no nghe, cụ cứ dùng thoải mái.”  Ngài vui vẻ đi phân phát và thích thú trong công việc này.  Phêrô gặp một anh chàng đi theo thầy trò mình để xem phép lạ.  Ngài không ưa hắn lắm nhưng cũng đưa bánh và cá cho hắn cho xong việc.  Nhưng anh chàng này lại tham lam đòi nhiều bánh mới chịu, Ngài phải cự thì hắn mới thôi.  Ngài đang chuẩn bị trao bánh cho một người khác thì phát giác tên này là đầy tớ của ông Thượng tế, “Tao dứt khoát không phát cho mày,” Phêrô nghĩ bụng, “Đừng hòng mà mày có một miếng, cho mày chừa để lần sau đừng đi theo bọn tao để lấy tin tức về báo cáo.”  Phêrô thầm nghĩ như vậy và chẳng muốn phát, nhưng Ngài chợt nhớ lời dặn của Thầy mình: “Anh chị em nhớ phân phát cho mọi người ăn no nê nghe.”  Nhớ lời Thầy và cuối cùng Phêrô đã phát.  Một lần nữa Phêrô gặp một ông Pharisêu, Ngài thầm nghĩ tên này thì không cách nào mà phát được, thầy mình nói câu gì thì nó cũng xuyên tạc, nó nói chặn họng, nó là một tên phá rối.  Thầy mình cự với nó không biết bao nhiêu lần, nó là kẻ thù không đội trời chung của mình, thầy mình chưởi nó là đồ cái thứ mồ mả tô vôi thế mà nó cứ chai mặt đi theo để nói xiên nói xẹo, chắc chắn không bao giờ mình phát bánh và cá cho nó.  Nhưng khi Phêrô quay lại bắt gặp ánh mắt đầy tình thương của Thầy và nhớ lại lời dặn dò kỹ lưỡng của Thầy khi trao bánh và cá cho mình: “ Phêrô ơi, anh nhớ phát cho tất cả mọi người, đừng chừa một ai, và hãy cho họ được ăn no nê.”  Phêrô dù không muốn phát bánh tình thương và cá ân sủng cho những người Ngài không ưa, nhưng rồi cũng đã ban phát như ý Thầy mình mong muốn.

*******

Chúng ta thử hình dung một môn đệ theo Chúa Giêsu, giả sử tên G. chẳng hạn, cũng nhận bánh và cá từ tay thầy.  Nhìn mẩu bánh và cá trên tay, y nghĩ rằng chừng nấy người thì biết phát cho ai, họa may chỉ đủ cho mình dùng, và y cất bánh và cá vào túi.  Vì chỉ nhận và cất đi, nên phép lạ không thể xảy ra.  Phép lạ xảy ra khi người môn đệ đón nhận và biết phân phát, cho đi.  Như biển hồ Galilê và biển chết chẳng hạn, biển hồ Galilê nhận nước từ các đồi núi đổ xuống và nó phân phát nước qua sông Giođan đến biển chết, vì biển hồ Galilê nhận và chuyển nước nên lúc nào cũng có nước mới, và cá mới sống được.  Còn biển chết vì nó chỉ nhận nước từ sông Giođan và giữ lại đó nên trở thành nước ao tù và không tạo vật nào có thể sinh tồn.

Theo trình thuật của Thánh Matthêu, khi các môn đệ nhận bánh và cá từ tay Đức Giêsu để đi phân phát, họ chỉ đón nhận bằng hai tay của mình chứ không dùng thúng để hứng.  Nhưng khi đang phân phát thì họ mới sững sờ chứng kiến phép lạ xảy ra, họ phát hoài mà không hết và các môn đệ ngỡ ngàng!  Phép lạ chỉ xảy ra khi các môn đệ nghe theo lời dặn và hợp tác với thầy để đi phân phát bánh và cá.  Đức Giêsu không nói với họ nhận bánh cá để ăn, nhưng là để phân phát.  Nếu họ chỉ giữ lại để ăn thì phép lạ không thể xảy ra.  Họ đã vâng nghe làm theo Lời Thầy và được cảm nghiệm tình yêu, ân sủng, phép lạ và quyền năng của Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến, đâu là những chiếc Bánh Ân Sủng và Cá Tình Thương mà Thiên Chúa đã đưa cho bạn và tôi với lời dặn: “Con nhớ đi phân phát cho tất cả người tốt lẫn kẻ xấu được ăn no nê?”  Cái gì cản trở bạn và tôi ban phát Bánh Tình Yêu và Cá Ân Sủng như lòng Chúa mong ước?  Đâu là những cảm nghiệm niềm vui thiêng liêng khi bạn và tôi gạt bỏ ý riêng của mình để làm theo Thánh Ý Chúa?

*******

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết đón nhận Tình Yêu và Ân Sủng của Chúa ban nhưng không và biết lên đường phân phát cho tất cả mọi người, kẻ tốt lẫn người xấu, cho người con thương con mến, cũng như cho người con ghét, con không ưa, như Chúa đã dặn dò khi Chúa trao Bánh Tình Yêu và Cá Ân Sủng cho con.  Con đã đón nhận tình thương và ân sủng Chúa một cách nhưng không, xin Chúa cũng cho con ơn can đảm để quảng đại cho đi không mà tính toán.  Amen!

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.
October 19, 2009

AI LÀ ANH EM TÔI?

“Có một người đi từ thành Jerusalem tới thành Jericho… “ ( Lc. 10, 26-37)

Ông buồn lắm!  Sang tới đất nước này, lòng ông càng trĩu nặng.  Ông đã tính không đi.  Người ta bảo, sang bên đây buồn, nhất là những người già như ông.  Nhưng đám con ông nó nghĩ khác: “Bố cứ đi!  Sang bên ấy người ta sống được mình sống được.”  Vả lại, cứ ở nhà, chưa chắc chúng con có lo được cho bố không.  Bố bỏ chúng con ra đi, chúng con cũng buồn, nhưng…  cái “nhưng” ngập ngừng ấy ông hiểu.  Ông có rứt áo ra đi thì con cháu ông mới có miếng ăn.  Khổ thì ông không sợ, đời ông đã quen vất vả, trong tù còn khổ hơn nhiều, nhưng nghĩ lại thương những đứa con.  Lòng ông quay quắt khi nhìn chúng lao đao, vất vả.  Ông muốn làm một điều gì cho con cháu.  Giá ông còn trẻ!  Ừ!  Giá ông còn trẻ!

Biết mình già yếu, sang đây ông chẳng quản nề việc gì.  Người ta kiếm cho ông chân quét dọn trong công ty.  Tạ ơn Chúa!  Được cái những người làm việc quanh ông hầu hết là người quen biết trong xứ đạo cả.  Điều này cũng làm ông đôi chút an lòng.  Đã bao giờ ông đi làm cho Mỹ đâu!  Với lại, ông chỉ sợ người ta nói mình không hiểu thì ai người ta mướn.  Tất cả mọi sự là do Chúa sắp đặt.  Lòng ông càng tin tưởng.  Giờ thì ông chuyên tâm làm việc để lo cho con cháu.  Thư chúng nó gởi sang . Từ ngày có tiền ông tích góp gởi về, những đứa cháu của ông đã được đi học, đàn con ông đỡ vất vả phần nào.  Ông cầu xin Chúa cho ông sức khỏe.  Ừ!  Xin Chúa cho ông sức khỏe, vì hồi này ông cảm thấy yếu lắm.

Phần vì tuổi già, phần vì mặc cảm, ông ít giao thiệp.  Nhiều người rủ ông đi đây đó hay gia nhập đoàn thể, ông thường từ chối.  Còn lòng dạ nào mà đi đâu khi con cháu ông còn đói khổ ở quê nhà.  Một đồng tiền cóp nhặt là cả tấm lòng muốn gởi về.  Không!  Ông không còn trẻ, không còn thời gian cho bản thân, mục đích ông sang đất nước này là cứu con cháu ông thoát khỏi cái đói nghèo.

Vào làm việc trong hãng,  ông cần mẫn như một con ong.  Biết mình yếu sức, lại sợ mất việc nên ông càng chăm chỉ.  Trong khi tay làm việc, lòng ông luôn cầu xin Chúa giúp đỡ.  Chính lòng tin đó đã nâng đỡ ông rất nhiều.  Ông tin rằng Chúa đã nghe lời ông cầu, đã ban cho ông cơ hội này nên ông phải nắm bắt lấy. Vả lại, Cha xứ vẫn giảng rằng, khi đi làm phải làm xứng với đồng tiền mình lãnh.  Đó là luật công bằng.  Nhiều người biết chuyện cho là ông thật thà, nhưng cũng có người ác ý lại nghĩ là ông ma le, muốn lấy điểm!  Lời qua tiếng lại đôi khi ông cũng có nghe, nhưng mặc!  Biết chia xẻ cùng ai.  Cũng có đôi lần muốn vơi tâm sự, ông lân la góp chuyện trong giờ ‘break-time’ nhưng ông không thể hòa nhập được.  Họ toàn khoe khoang nhà to, xe đẹp, quen ông này, cha kia.  Để tỏ ra lão luyện, họ dạy nhau cách ăn gian giờ, cách mánh khóe trốn việc, họ chê bôi nói xấu nhau:  ngu không biết ăn cắp, không biết giả vờ v.v…  Một thân một mình, ông chả quan tâm giá nhà lên hay xuống.  Không biết lái xe nên ông cũng chẳng biết xe cộ tốt xấu làm sao.  Được đồng nào lo cho con cháu cả.  Vài năm nữa chết nằm xuống đấy, mua nhà, mua xe ai hưởng?  Có người dậy khôn ông khai bệnh để ăn tiền chính phủ, nhưng ông cảm thấy không ngay thẳng.  Họ chê ông dốt, nhưng thôi kệ!  Thà ông dốt trước mặt Chúa.  ”Được lời lãi cả thế gian, chết mất linh hồn nào được ích gì?”  Dưới mắt mọi người ông thuộc loại lẩm cẩm, ra vào như một bóng ma chả ai quan tâm.  Bởi thế, trong giờ nghỉ, ông thường tách riêng một mình, lẩm nhẩm đọc kinh.

Hôm nay ông mệt quá.  Cơn bệnh vẫn còn vảng vất.  Ông đã phải nằm liệt ba ngày rồi, chưa khỏi, nhưng ông không dám nghỉ thêm, sợ mất việc.  Tất cả con cháu đều trông vào ông.  Không! Ông phải đi làm.  Mồ hôi lấm tấm trên trán, ướt thấm lạnh lưng.  Miệng ông đắng ngắt.  Dựa lưng vào tường, quên luôn gà-men cháo mang theo.  Như một luồng điện, ông giật mình: ”Giêsu Maria.” Ông quên mất.  Người xếp dặn,  phải đổ mấy thùng rác trước giờ ăn trưa hôm nay vì có khách tới thăm công ty.  Ông loạng choạng đứng dậy, đầu óc quay cuồng, choáng váng.  Thùng rác có vẻ nặng hơn mọi ngày.  Dùng hết sức ông lôi nó lên. “Lạy Chúa tôi! Nặng quá!”  Hai ba lần gắng sức, nhưng vẫn không nổi.  Ông vừa tính nhờ người giúp một tay, chợt nghe:

– Kệ bà ông ấy!  Giờ nghỉ mà.

– Mẹ!  Lão ấy lấy điểm.

– Đồ ngu!  Tội gì.

Những tiếng nói chê bai văng vẳng bên tai, lòng ông tê tái.  Ông không muốn nghe nữa.  Vừa mệt vừa buồn, ông đã tính bỏ cuộc nhưng còn con ông, cháu ông.  Hình ảnh những đứa con gân guốc, dãi dầu mưa gió, những gương mặt rạng rỡ cháu ông có miếng cơm vào bụng hiện ra trong mắt ông.  Lạy Chúa xin giúp con!  Ông lại ghì sức nâng lên.  Bỗng thùng rác nhẹ tênh tuột khỏi vai. Một tiếng nói nhẹ nhàng sau lưng:

–   Bác Hai để con giúp.

Chàng thanh niên giúp ông đổ xong mấy thùng rác còn dặn thêm:

– Lần sau bác nói con nghen!  Đừng làm một mình bịnh chết.

Đưa tay vuốt mồ hôi trên trán, cảm động quá, vừa cầu nguyện, Chúa đã nghe lời.  Ông nói:

– Chú tốt quá!  Mình là người có đạo, Chúa dạy.. .

– Dạ!! Nhưng… cháu là người ngoại, bác à!..

Ông thẫn thờ bước đi, văng vẳng bên tai, lời Phúc Âm hôm nào ‘‘Có một người đi từ thành Jerusalem tới thành Jericho…”  Vậy ai là anh em ngươi?

Nguyễn Hưng