TÌNH YÊU VÀ ĐAU KHỔ

Ðau khổ thường bắt đầu bởi yêu thương.  Cũng như thường hiểu thế nào là chia ly khi đã có xum họp.  Cho đi rồi đợi chờ, chờ đợi nhưng chẳng thấy vì thế mới có niềm đau.  Yêu rồi khổ.  Khổ đau đưa tới chân trời của nước mắt và mầu tím của cô đơn.

Nếu không có tình yêu.  Nếu không có người yêu.  Nếu tôi không yêu thì làm gì có khổ đau. Bởi đó, kẻ vì yêu mà đau khổ thì oán trách tình yêu, oán trách người yêu và oán trách chính mình.  Nếu tình yêu tạo nên đau khổ thì muốn tránh đau khổ phải tránh yêu đương.  Nhưng nếu lẩn tránh yêu thương thì đâu là ý nghĩa của cuộc sống?

***************

Con sâu có thể làm cho cánh hoa mang thương tích.  Nhưng nếu giết bầy sâu bằng cách cày nát cả vườn hoa thì là thảm cảnh đáng buồn.  Vết cắn của sâu có làm cánh hoa đau đớn, nhưng nếu nhổ sạch vườn hoa thì khu đất sẽ thành hoang vắng, buồn tênh.  Ðời tôi cũng vậy, có đau khổ vì một tình yêu nhưng tôi vẫn có hạnh phúc vì còn tình yêu.  Ðau khổ của một tình yêu chỉ là một bông hoa bị sâu cắn trong khu vườn khả năng yêu thương của tôi.  Chẳng có năng lực nào cản ngăn một bông hoa khác thắm tươi sẽ trổ sinh.

Tình yêu bàng bạc như thời gian nên tình yêu và cuộc đời là một.  Không có sự sống nào mà không liên hệ tới yêu thương.  Không muốn yêu để tránh đau khổ là không muốn có yêu thương.  Mà không có yêu thương thì tự nó đã là một đau thương rồi.  Không có khả năng yêu thương thì là gỗ đá, củi mục.  Có khả năng yêu thương mà không được yêu thì sự bất hạnh còn đắng cay hơn là đau khổ của tình yêu.  Lẩn tránh đau khổ bằng cách oán trách tình yêu và chối từ yêu thương là đi tìm một khổ đau lớn hơn.

Có một con đường, tuy có vất vả nhưng vô cùng bát ngát, mênh mông là hướng về Ngài, Thượng Ðế, tình yêu trọn hảo để đem những khổ đau của mình hòa vào biển rộng yêu thương ấy.  Nếu tình yêu có gây đau khổ thì biến đau khổ thành sáng tạo để rồi tiếp tục yêu.  Chỉ có tình yêu tuyệt hảo là không nhuốm màu đau khổ.  Ðau khổ của tình yêu đến từ yếu đuối và lầm lẫn.  Bởi vậy, chỉ có tình yêu không lầm lẫn và yếu đuối của Thượng Ðế mới trọn vẹn vô biên.

Vì yêu mà tôi đau khổ thì có thể vì đau khổ mà tôi biết yêu thương?

***************

Kẻ chạy trốn tình yêu, thực ra, là kẻ đang tìm tình yêu mãnh liệt.  Kẻ oán trách tình yêu, thực ra, là kẻ đang yêu vũ bão.  Không ai trốn tình yêu để rồi không yêu mà chỉ trốn tình yêu này để đi yêu một tình yêu khác.

Tình yêu vô hình nên không oán trách tình yêu được mà chỉ có thể oán trách người yêu thôi, nhưng khó mà chỉ oán trách người yêu mà lại không gây thương tích cho mình.  Liên hệ giữa người yêu và kẻ yêu là liên hệ gắn bó, phức tạp.  Khi yêu thì kẻ yêu và người yêu đi chung một con đường.  Bởi đó, không có sự lạc lối nào mà không ảnh hưởng cả hai.  Không có mất mát nào mà chỉ có một người gánh chịu.

Khi nói rằng mối liên hệ ấy bị cắt đứt chỉ có nghĩa là họ không còn đi chung đường.  Không đi chung một đường không có nghĩa là đã thoát được mọi ràng buộc.  Nhiều khi càng cay nghiến thì lại càng nhớ thương mà càng nhớ thương thì lại càng cay nghiến.  Vì thế, khi mối liên hệ bị dập gẫy, bị cắt đứt cũng chưa hẳn là kẻ yêu và người yêu xa cách được nhau.

Khi nào chưa quên được vết thương thì lúc đó vẫn còn là gần gũi.  Khi nào còn thao thức thì vẫn còn liên hệ.  Nếu còn liên hệ thì oán trách người yêu cũng vẫn là oán trách chính mình.  Càng oán trách bao nhiêu thì nỗi đau càng sâu.

Tuy còn ràng buộc, còn thao thức, nhưng vì không đi chung một đường nữa nên cũng có nghĩa là ly biệt.  Khi đã tạ từ, khi người yêu đã đi xa thì chỉ còn mình là gần mình thôi.  Chỉ còn mình biết rõ nỗi đau của mình thôi.  Vì người yêu đã cách xa nên oán trách người yêu cũng chẳng làm cho người yêu đau khổ.  Chỉ riêng mình chịu.  Vì thế, người yêu có thể gây đau khổ, nhưng sau đó chính mình lại là kẻ nuôi dưỡng vết thương khổ đau ấy cho thêm lớn và thêm sâu.

Giã từ.  Xin để cho cánh chim muốn bay hãy bay xa.  Nó chẳng thuộc về mình và cũng chẳng xứng đáng với tình yêu mình ban tặng.

***************

Tình yêu của chủ thể yêu có thể biến đổi khách thể yêu.  Ánh mắt khổ đau nhưng khoan dung và tha thứ của Chúa đã biến đổi đời Phêrô.  Thái độ của khách thể khi đón nhận tình yêu cũng tác động con tim của chủ thể yêu.  Chúa đợi chờ Mai Ðệ Liên.  Nàng đã đáp lại bằng những sợi tóc ăn năn.  Chính vì sự đáp lại ấy mà Chúa đã nói:  Kẻ yêu nhiều thì được tha nhiều.

Chẳng ai sống mà lại không yêu thương.  Nếu không muốn yêu thì họ phải có khả năng yêu để yêu cái không muốn yêu.  Như vậy thì cũng đã là yêu rồi.  Yêu là yêu ai.  Thương là thương người nào. Không có tình yêu trống không . Như vậy tình yêu cần đối tượng.  Ðối tượng là cảm hứng cho tình yêu.  Tuy nhiên, nếu không có chủ thể yêu thì đối tượng cũng là vô nghĩa.

Cả chủ thể yêu và đối tượng yêu đều là con người bất toàn vì tội lỗi.  Bởi tội, con người không còn tuyệt hảo, họ sống trong thiếu vắng.  Không có hạnh phúc vô cùng thì họ không thể chỉ cho đi mà không hao mòn.  Bởi thiếu vắng nên họ cần được đáp lại để đỡ mòn mỏi, khát khao.  Khi yêu, tôi cần được tình yêu đáp trả.  Nếu tôi cần tình yêu của người để sống thì yêu người cũng chính là yêu tôi.  Và nhiều khi tôi yêu tôi hơn là yêu người.  Tôi yêu người, muốn chiếm người để khỏa lấp nỗi cô đơn trống vắng trong tôi.  Như vậy thì tình yêu của con người dù đẹp đến đâu, thơ mộng đến đâu cũng vẫn thường mang mầm ích kỷ.  Nếu có ích kỷ thì làm sao tránh được gây khổ đau cho nhau.

Càng xa ánh sáng càng nhiều lạnh lẽo, càng lắm bóng đêm.  Cũng vậy, càng xa Chúa là tình yêu tuyệt hảo thì tình yêu của con người càng lắm bất hảo.

***************

Con người được dựng nên bằng tình yêu nên đau khổ không có năng lực giết chết được khả năng yêu thương.  Và cái kỳ diệu của cuộc sống là yêu thương có thể nẩy sinh từ đau khổ.  Nhiều nhánh hoa tình yêu đã rộ nở sau những đêm dài của khổ đau.  Sau đau khổ, cây tình yêu có thể tái sinh và tình yêu nào khi đã đi qua lăng kính của đau khổ thì thường bao giờ cũng sâu thẳm, khác biệt.

Nếu chỉ có tình yêu không có đau khổ thì tình yêu không có đối tượng để trang điểm.  Tôi hiểu thế nào là yêu thương bởi trong tôi đã có sẵn khả năng để hiểu thế nào là đau khổ.  Làm sao xác định được ánh sáng nếu không có bóng đêm.  Chối từ khả năng đau khổ thì cũng chẳng còn khả năng yêu thương nữa.  Nếu gọi tình yêu là bông hoa.  Nếu bảo cánh bướm là khổ đau vì bướm chỉ hút mật của hoa.  Nếu bông hoa chối từ cánh bướm thì vườn hoa cũng cô đơn vì chẳng còn ai để đỏm dáng.  Nếu cánh bướm đã làm cho vườn hoa thêm tươi thì có thể bảo đau khổ cũng làm cho tình yêu thêm sâu?

Càng đau khổ tôi càng biết giá trị của yêu thương.  Ðau khổ dạy cho tôi thế nào là lầm lẫn, thế nào là mất mát, thế nào là yếu đuối.  Nhận thức được sự yếu đuối của mình để hiểu sự yếu đuối của người. Có cay đắng của mất mát để đừng làm kẻ khác mất mát.  Khi hiểu sự lầm lẫn của người gây đau khổ cho tôi để biết rằng sự lầm lẫn của tôi cũng gây đau khổ cho người thì đấy là con đường thức tỉnh, là lối đi dẫn tới yêu thương.  Như vậy, đau khổ có là tặng vật trong cuộc đời?

***************

Khi yêu, tôi không chờ đợi một suối đời ngát trong.  Tôi không ước mong một dòng sông thời gian không gợn sóng.  Yêu là tôi biết rằng sẽ có khổ đau.  Ðau khổ có thể làm cây tình yêu rụng lá.  Nhưng sau đó, cây tình yêu có thể trổ sinh mầm non ngọc bạc lấp lánh.  Giá trị đời tôi được xác định do thái độ của tôi đối với đau khổ và tình yêu, chứ tình yêu, đau khổ, tự nó chẳng có ý nghĩa gì.

Lm Nguyễn Tầm Thường, SJ.
(Trích trong Nước Mắt và Hạnh Phúc)

LỜI NGUYỆN CỦA MỘT LINH MỤC CHIỀU CHÚA NHẬT

Lạy Chúa, chiều nay, con chỉ có một mình.  Những tiếng động trong nhà thờ lần lần tắt im.  Những người đi dự Chầu đã về hết.

Và con, con trở về nhà Xứ,
Một mình.
Con gặp những người đi dạo chơi về.
Con đi qua những rạp hát chật ních người ra vào.
Con thả bước dài theo các quán cà phê đầy những người có vẻ buồn chán đang gượng gạo kéo dài cuộc vui của ngày Chủ Nhật.

Con gặp thấy nhiều trẻ con đang chơi trên các vỉa hè.  Những trẻ con, lạy Chúa, chúng là con trẻ của người ta, chớ không bao giờ là của con.
Này con đây, lạy Chúa, con chỉ có một mình,
Sự yên lặng làm con khó thở,
Sự cô quạnh đè nặng trên con.
Lạy Chúa, nay con được 34 tuổi,
Con có một thân thể như những người khác
Với những bàn tay gân guốc để làm việc,
Với một quả tim được dành để yêu thương,
Nhưng con đã phó thác cho Chúa hết.
Thật ra Chúa đang cần những thứ đó.
Con đã phó dâng tất cả cho Chúa rồi, nhưng lạy Chúa, dâng vậy thật đau khổ!

Thật đau khổ khi con phải dâng thân xác cho Chúa, bởi vì thân xác đó nó muốn tự hiến cho một người khác.
Thật đau khổ khi phải yêu tất cả mọi người mà không được giữ riêng lại một người nào.
Thật đau khổ khi con bắt lấy một bàn tay mà con không được giữ luôn.
Thật đau khổ khi con gây được một mối tình mà rồi con phải trao mối tình đó cho Chúa.
Thật là đau khổ khi con không được sống cho mình chút nào mà phải hòan toàn sống cho kẻ khác.
Thật là đau khổ khi con phải đi với kẻ khác, mà không hề có một ai sẽ tới với con.
Thật là đau khổ để biết tội lỗi kẻ khác trong khi con không được từ chối việc tiếp đón và nâng đỡ họ.
Thật đau khổ khi con nhận biết những thầm kín của người ta mà không được tiết lộ cho ai.
Thật đau khổ khi thấy cả đời con phải lôi kéo kẻ khác mà không khi nào được ai thúc đẩy con, dầu trong chốc lát.
Thật đau khổ khi con phải luôn ra tay nâng đỡ những người yếu đuối mà con thì không bao giờ được nương dựa vào một người nào.

Này con đây, lạy Chúa!
Này thân xác con
Này trái tim con
Này linh hồn con.

Xin cho con được cao thượng đủ để nâng đỡ thế gian.
Xin cho con trong sạch đủ để ôm ấp thế gian mà không hề muốn giữ nó lại cho con.
Xin cho con được nên như một môi trường gặp gỡ, nhưng là một môi trường tạm thời; để con nên như con đường hướng đến với Chúa, chứ không phải là con đường cụt.

Lạy Chúa, chiều nay trong khi mọi sự đều yên lặng và trong khi trái tim con cảm thấy đau đớn vì khô quạnh.
Trong khi mọi người đang dày vò hồn con và con cảm thấy con bất lực để làm cho họ được thỏa mãn.
Trong khi bao nhiêu khốn nạn và tội lỗi của thế gian là cả một sức nặng đang đè trên vai con.
Thì con xin nói lại với Chúa là con sẵn sàng hy sinh luôn; không phải nói với một giọng cười diễu nhưng nói một cách chậm rãi, suy nghĩ và khiêm nhường.
Lạy Chúa, này con đang một mình trước mặt Chúa, trong sự yên lặng của buổi chiều nay!

Michel Quoist – Prières.

LỜI MỜI GỌI

“- HÃY THEO TÔI ! Ông đứng dậy và đi theo Người” (Mt. 9:9)

Bạn thân mến ! Trên đây là dòng chữ ngắn ngủi tường thuật về việc Chúa Giêsu kêu gọi Mát-thêu khi Ngài đi ngang qua phòng thu thuế, nơi ông đang làm việc. Khi nghe tiếng Chúa mời gọi,  Mát-thêu đã làm gì ? Ông phản ứng ra sao?  Xin thưa: Ông đã bàng hoàng ngơ ngác, không nói được nửa lời, nhưng đã tức khắc đứng lên, bỏ mọi sự để đi theo Ngài.

Mát-thêu là người thu thuế, ông bị dân chúng khinh chê  xỉ vả, chòm xóm lẩn tránh, những người đạo đức lạnh nhạt với ông, họ lên án và  buộc tội ông là đứa hợp tác với La Mã, là quân ăn cướp, là kẻ bóc lột, lưu manh… nhưng Chúa Giê-su đã tìm kiếm ông, đã chọn và mời gọi ông làm môn đệ của Ngài.

Phải chăng việc Chúa Giê-su đi ngang qua trạm thu thuế, nơi Mát-thêu đang làm việc là chuyện tình cờ ?  Phải chăng Chúa Giê-su mời gọi Mát-thêu là chuyện ngẫu nhiên, không chuẩn bị trước ?  Không phải thế, vì chính Ngài đã lên tiếng nói về Công Trình Cứu Độ của Ngài với các người Pharisêu tại nhà ông Mát-thêu: ”Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần… Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt. 9:13)

Khi Mát-thêu được Chúa đến, Ngài lên tiếng mời gọi ông: “Hãy theo tôi”.  Ông đã tức khắc đứng lên đi theo Chúa.  Phải chăng việc đứng lên tức khắc để theo Chúa là một hành động nông nổi không suy tính trước ? Phải chăng việc mau mắn bước đi theo Chúa, rồi mời Chúa về nhà ăn uống và còn giới thiệu Chúa cho bạn bè của mình là một hành động hoang tưởng và không thực tế … Không phải thế.  Vì  “tất cả là tình yêu và do tình yêu”.  Chính tình yêu đã mời gọi và hoán cải ông, tình yêu đã biến đổi phận người. Tình yêu chân thành đã vang lên tiếng mời gọi: “Hãy theo Tôi” và Mát-thêu đã bỏ bàn thu thuế tội lỗi để lên đường.

Tình yêu đã biến đổi ông từ cái tên cũ là “Lê-vi thu thuế” trở thành cái tên mới là “Mát-thêu Tông đồ”. Mát-thêu trong tiếng Do-Thái cũng có nghĩa là “Ân phúc từ Thiên Chúa”.

Tình yêu đã thôi thúc để ông từ bỏ những làm ăn bất chính, từ bỏ cuộc sống sung túc vật chất do những đồng tiền không lương thiện mang lại… Ông phải từ bỏ tất cả để bước đi theo tiếng gọi của tình yêu, bước đi theo Đấng là nguồn mạch của tình yêu.  Đấng ấy chính là Thầy Giêsu của ông.

Khi nhận ra lời mời gọi ”Hãy theo tôi” của thầy Giêsu,  Mát-thêu đã nhanh chóng đứng dậy và bước đi theo Ngài.  Lời mời gọi Chúa nói với Mát-thêu xưa kia vẫn còn tiếp tục vang vọng cho đến ngày nay.  Bạn và tôi, chúng ta có nghe được tiếng mời gọi của Ngài không? Chúng ta sẽ làm gì, sẽ phản ứng ra sao trước lời mời gọi của Chúa ?

Chúa mời gọi ta không phải vì ta xứng đáng hay tài giỏi, không phải vì ta thánh thiện đạo đức hay ngoan hiền,  nhưng vì tình yêu thương và sự quan tâm săn sóc của Ngài dành cho ta, cho mỗi một người trong chúng ta, vì Ngài là Đấng hay thương xót và vì ân sủng của Ngài luôn là quà tặng ban xuống dồi dào trên cuộc đời của ta.

Chúa mời gọi ta vì Ngài luôn tin tưởng ta, Ngài tin người yếu đuối có thể trở nên vững mạnh. Tin người lạc lối có thể trở lại đường ngay. Tin người lầm lỡ có thể làm lại cuộc đời. Vì tin nên Ngài mời gọi và trao nhiệm vụ.  Ngài tin tưởng và mời gọi ta cộng tác vào công trình cứu độ của Ngài. Tin tưởng trao vào tay ta cả kho tàng ơn thánh.  Tin tưởng trao cho ta vận mệnh các linh hồn.

Tôi là ai mà được Chúa tin tưởng đến thế? Tôi phải làm gì để đáp lại sự tin tưởng và tình yêu thương mà Ngài đã dành cho tôi ?

* * * * *

Lạy Chúa, Xin cho con biết noi gương bắt chước thánh Mát-thêu, biết lắng nghe và từ bỏ để bước đi theo tiếng Ngài mời gọi.  Amen .

Linh Xuân Thôn

VŨ THỦY, NGƯỜI KHIẾM THỊ VIẾT VỀ CHÚA

Trong số những tác giả gửi bài cho trang Đồng Xanh Thơ, có một người khiếm thị, chị Vũ Thủy.  Tôi chưa được gặp chị Vũ Thủy, nhưng qua những bài thơ đã giới thiệu trên trang Đồng xanh thơ 1 và 2: bài “Món quà của Thượng Đế” và “Hai ngàn năm vẫn đợi”, tôi đã hình dung ra được một Vũ Thủy đầy niềm tin yêu và hy vọng, chấp nhận cuộc sống “khiếm thị” như một món quà của Thiên Chúa.  Nhờ đó, không những chị sống được, mà còn sống vui, còn đi học Anh văn, đi học vi tính, đi công tác bác ái từ thiện… Và hơn hữa, chị còn viết lên những chứng từ sống động về một cuộc sống tin yêu phó thác trong tình yêu thương bao la của Chúa, trong tình bác ái đâm đà của tình người.  Chị Vũ Thủy vừa gửi cho tôi những tâm tình đáng trân trọng trong bài tự tình “Đi Tìm Hạnh Phúc” và bài thơ “Cô gái mù với ly cà phê trắng”- toàn bộ bản văn là nguyên văn do chính chị dùng máy vi tính đặc biệt dành cho người khiếm thị… Xin giới thiệu cùng mọi người chứng từ sống động nầy với ước mong Hãy Cùng Ngợi Khen Thiên Chúa.  (pmcaohuyhoang)

***************

ĐI TÌM HẠNH PHÚC

Nếu một lúc nào đó, bạn thử lấy một mảnh vải đen che mắt mình và thử làm việc trong bóng tối khoảng một tiếng đồng hồ.  Lúc đó bạn sẽ biết cuộc sống của người mù là khó khăn như thế nào. Nhưng chưa hết đâu, bởi lẽ bạn chỉ có một tiếng đồng hồ thôi.  Những người mù phải đối diện với bóng tối cả một đời, với sự thiếu thốn vật chất lẫn tinh thần và với những nỗi phiền muộn do sự phân biệt đối xử của những người đồng loại.  Nói thế, nhưng không phải là tuyệt vọng, chúng tôi có thể học tập, lao động, ca hát, chơi thể thao, làm thơ… như bao nhiêu người khác, nếu như xã hội đừng quên chúng tôi cũng có cảm xúc, cũng có ước muốn, cũng có những sở thích và có nhân quyền.  Chúng tôi có thể sống vui tươi, vô tư như các bạn khi chúng tôi không bị cô lập (nghĩa là xin mọi người chung quanh đừng nghĩ rằng chúng tôi là người ngoài hành tinh và gạt chúng tôi ra khỏi những công việc bình thường.)  Khả năng chúng tôi có nhưng còn cần sự giúp đỡ của các bạn để phát huy nó.  Không nhìn thấy nhưng chúng tôi có thể cảm nhận được thế giới xung quanh bằng những giác quan còn lại.

Một điều đáng buồn là chỉ thiểu số người khiếm thị sống lạc quan.  Đa phần còn lại thường sống trong lặng lẽ và cô độc vì hoàn cảnh gia đình, điều kiện sinh sống và sự tự ty mặc cảm.  Họ có vẻ như đang chôn mình trong nấm mồ tăm tối.  Vả lại, thường là cái nghèo đi đôi với người mù.  Có một bạn nữ trong khi tâm sự với tôi đã thốt lên rằng: “cuộc đời của tôi khốn nạn, giấc ngủ của tôi cũng khốn nạn nốt!”  Có người trách móc: “Tại sao cha mẹ tôi lại sinh ra tôi để tôi phải sống trong bóng tối khốn cùng này?”…

Tôi thì may mắn hơn đã trải qua cuộc sống như một người bình thường trong mười mấy năm. Lúc tôi mới trở thành một người mù, tôi đã có những ngày tháng ảm đạm và dài đằng đẵng.  Điều mà trước đây tôi không hề trải qua vì tôi vốn là một cô gái rất tinh nghịch và náo nhiệt.  Khi đó, tôi chỉ còn biết cầu nguyện với Chúa xin cho con biết con phải làm gì để không trở thành người vô dụng.  Và Người đã hành động khi những cơn bệnh trầm trọng của tôi bỗng nhiên lui dần.  Tôi bắt đầu đi học chữ nổi, học sử dụng computer, học cách đi đứng sinh hoạt như người mù.  Tôi bắt đầu tiếp cận với những người mù có vẻ buồn bã, khắc khoải, thầm lặng.  Tôi khuyến khích họ tâm sự, và lắng nghe tất cả những nỗi bực dọc, những nỗi buồn chán, tuyệt vọng…  Giải thích cho họ về những điều rất đơn giản đến không thể ngờ nhưng lại là một khái niệm trừu tượng đối với những người mù bẩm sinh.  Có những ngày tôi phải liên lạc điện thoại suốt mấy tiếng đồng hồ để ngăn cản một người bạn trong cơn tuyệt vọng muốn nhảy lầu.  Rồi tôi viết chữ nổi, đọc băng cát xét để dạy người bạn này học tập cho quên đi những khắc khoải.  Thỉnh thoảng tôi đi thăm người khuyết tật ở vùng sâu, vùng xa và những mái ấm, nhà mở của người khuyết tật trong thành phố…. Tất cả những công việc đó thật là nhỏ bé.  Tôi đã cho những người bạn của tôi chỉ là một ly nước lã, nhưng hiệu quả thật là bất ngờ.  Đôi khi, người bạn trước đây đã cho rằng cuộc đời cô ta thật khốn nạn, nói với tôi rằng: “Nhờ những lời khuyên của chị, bây giờ em cảm thấy cuộc đời em thật là có ý nghĩa.”  Một người bạn sau khi nghe tôi đọc bài thơ: “Cô gái mù với ly cà phê trắng” qua đài phát thanh đã gọi điện thoại cho tôi nói rằng anh ta đang sống thật vô vị và rất ngạc nhiên khi thấy một người mù lại có vẻ tự tin yêu đời như trong bài thơ đó.  Tôi cho anh ta bí quyết của tôi là học tập và làm tất cả những gì mình có thể.  Bây giờ anh ta đã trở thành một người mù khá bận rộn và công nhận rằng:  “Trước đây một năm tôi không biết cười, nhưng bây giờ tôi có thể cười được rồi….”

Tôi cảm thấy thật là hạnh phúc và mong cho những người bạn của mình luôn được vui vẻ mãi. Vậy là khi tôi nghĩ rằng tôi cho họ lời an ủi và sự cảm thông thì chính là họ đã đem đến cho tôi hạnh phúc.  Và cứ thế những phiền muộn trăn trở của tôi đã biến mất nhường chỗ cho con người trước đây của tôi.  Hầu như tôi quên mình là người mù, không gian quanh tôi rộn rã tiếng cười.  Tuy thế, mỗi khi gặp một hoàn cảnh xấu số nào đó, tôi lại cảm thấy đau lòng và tôi lại rơi vào tâm trạng phiền muộn, lúc đó tôi liền chạy đến Chúa để tìm nguồn ủi an.  Cây Thập Giá vẫn còn đó, nó là biểu trưng của sự chiến thắng đau khổ.  Tôi chợt hiểu ra rằng không có đau khổ thì không có hạnh phúc.  Đó là một cặp phạm trù luôn tồn tại bên nhau.

Trong chúng ta chắc không ít người đã từng băn khoăn với câu hỏi: “Tại sao Chúa lại để cho người ta phải chiụ những sự đau khổ; khi mà Chúa có thể giơ tay chữa lành tất cả những nỗi đau khổ đó?”  Tôi cũng đã từng băn khoăn như thế.  Và tôi đã tìm được câu trả lời sau những đau đớn về thể xác lẫn tinh thần.  Tôi bị mù do biến chứng của bệnh tiểu đường.  Một căn bệnh nan y mà tôi đã mắc phải khi mới 17 tuổi với rất nhiều biến chứng như viêm đa thần kinh, viêm xương chậu và thoái hoá cột sống.  Có nhiều đêm cơn đau quằn quại và khó chiụ triền miên tưởng chừng như không thể nào chịu đựng được.  Những lúc ấy, bác sĩ và người thân của tôi chẳng giúp gì được cho tôi.  Nước mắt cứ tự trào ra.  Tôi chỉ biết bám vào một câu kinh thánh: “Hãy đến với Ta! Hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng. Ta sẽ bổ sức cho các ngươi…”  Tôi nghĩ về sự đau khổ của Chúa Giê Su trên Thập tự và thường là tôi thiếp đi qua khỏi cơn đau.  Những lúc ấy, tôi thường nghĩ đến những bệnh nhân đang trải qua cơn đau quằn quại của bệnh ung thư, những bệnh nhân tâm thần sống như một động vật và những người liệt giường từ nhiều năm. Tôi cảm thấy cơn đau của tôi thật là bé nhỏ so với họ.  Và những cơn đau của tôi hầu như không còn nữa.  Tôi bắt đầu hiểu ra rằng Chúa gởi đến trong thế gian những sự đau khổ của loài người cũng như chính sự đau khổ của Chúa là để làm gương cho ta sống vươn lên, vượt qua những thử thách của ta và ý thức được thân phận hèn mọn của con người.

Sau tất cả những cảm nhận ấy tôi hiểu ra rằng hạnh phúc chỉ có được khi ta biết chia sẻ và quan tâm đến người chung quanh ta.  Tôi nghĩ rằng ai cũng có những nỗi khó khăn, khắc khoải, khổ đau của riêng mình, chúng chỉ khác nhau về góc độ; vậy, ta còn chần chờ gì mà không đi tìm hạnh phúc ở chung quanh ta?  Các bạn sẽ tìm thấy chung quanh bạn đang có những người còn đau khổ hơn mình, nhất là những người khuyết tật như chúng tôi.  Họ ở đó chờ một lời an ủi, một cuộc thăm viếng, một sự cảm thông.  Và đó chính là lúc bạn nhận ra cặp mắt đau đáu của Chúa Giê su trên Thập giá.

Phần tôi, Chúa đã ban cho tôi quá nhiều, Chúa mới chỉ lấy lại ở tôi một đôi mắt.  Giờ đây tôi tin rằng Chúa đang làm những điều tốt đẹp cho tôi.  Tôi xin sẵn sàng chấp nhận Thập Giá Chúa trao cho mình.

Tôi thật sự cảm ơn các bạn đã chia sẻ với tôi những kinh nghiệm sống này, chúc các bạn luôn vui vẻ và yêu đời.

Vũ Thủy – 17. 10. 2004

***************

CÔ GÁI MÙ VỚI LY CÀ PHÊ TRẮNG

Không phải ngẫu nhiên mà tôi đã đặt cho một trong những bài thơ của mình cái tựa đề nghe có vẻ kỳ lạ này.  Có lẽ bất cứ một người bình thường nào cũng cảm thấy cái gì đó thật là khủng khiếp hoặc đen tối trước một người mù.  Khi mới trở thành một người mù, không khí trong gia đình tôi có vẻ hơi nặng nề và từ “mù” hình như bị cấm.  Mấy đứa cháu nhỏ của tôi mà nói động đến chữ mù thì mẹ nó: “suỵt – không được nói” nhưng tôi bảo cứ để cho chúng nói thoải mái bởi vì nếu chỉ có từ mù mà tôi không chấp nhận được thì cả một cuộc sống đen tối trước mắt làm sao tôi vượt qua nổi.

Điều thứ hai, ly cà phê thường làm cho tôi cảm thấy sảng khoái trước bất kỳ công việc nào.

Thứ ba, điều khiến tôi viết bài thơ này để nói lên một triết lý sống là:  Mình chọn cách sống chứ không phải cuộc sống đã chọn mình.  Cuộc đời này có nhiều điều u ám và đen tối, tuy nhiên vẫn có những nét chấm phá để ta thấy bức tranh cuộc đời thật là đẹp đẽ.  Những gì khổ cực, nghèo hèn, bất hạnh, lọc lừa… ta thường ví nó với màu đen.  Những gì hạnh phúc, tươi sáng, tốt đẹp, lòng nhân ái… ta thường ví với màu trắng và màu trắng đó như những tảng băng nổi trên mặt nước nhấn chìm tất cả những gì đen tối.  Với những suy nghĩ ấy tôi thấy cuộc đời thật rực rỡ và tươi đẹp và tôi đã không thất bại trong cuộc đời này.  Sự thành công đang chào đón tôi trước mặt.

CÔ GÁI MÙ VỚI LY CÀ PHÊ TRẮNG

Ly cà phê đen trước mặt
Ngụm đắng nhuộm cuộc đời?
Cuộc đời trắng hay đen, thành công hay thất bại?
Hãy hỏi lòng mình chọn trắng hay đen

Cả bầu trời trước mặt…
Đôi mắt con không thấy ánh mặt trời
Nhưng với con cuộc đời đầy nắng ấm
Bởi quanh con đã có những bàn tay
Trao cả con tim, xiết chặt tình người
Đôi chân con bước đi vững chãi
Bởi có những bàn chân đi mở lối tâm hồn
Gieo hy vọng cho người mù tăm tối
Ly cà phê cho con ngọt ngào hơi sữa
Bởi nó như cuộc sống đầy bao dung
Đã cho con ngọt bùi trong cay đắng

Cuộc đời trắng hay đen ?
Riêng cô gái mù thấy ly cà phê trắng
Bởi dòng sữa yêu người, đời đã ban cho
Cô giơ tay hướng về Thượng Đế
“Xin cảm ơn Người, người mãi ở bên con!”

Vũ Thủy – 29. 5. 2002
VietCatholic Network

THƯA THẦY, CON PHẢI THEO AI?

Một khách hành hương, sau những ngày thinh lặng tĩnh tâm tại tu viện, ông đến nói với vị Minh Sư rằng:

– Thưa Thầy ! Con muốn “theo thầy” để tu tập, xin thầy nhận con làm học trò của thầy.

Vị Minh Sư đáp lại rằng:

– Này bạn! Bạn có thể sống với tôi, nhưng bạn đừng bao giờ trở thành người theo tôi.

– Thưa thầy ! Như vậy, con sẽ theo ai?

– Bạn không theo ai hết… Ngày nào bạn theo một ai đó thì bạn không còn theo Chân Lý nữa.

(Anthony de Mello, trích trong The Song Of Bird)

* * * * *

Bạn thân mến,

Trong xã hội mà chúng ta đang sống, con người đã tự tạo cho mình qúa nhiều thần tượng, đã nhận qúa nhiều người làm lý tưởng, làm mẫu mực để sống; để noi theo. Nào là ca sĩ hoặc diễn viên điện ảnh nổi tiếng, nào là nhà thể thao tài ba, nào là nhà cách mạng xuất chúng .v.v… Con người đã ao ước được trở nên giống họ trong phong cách ăn mặc đi đứng, trong lối sống hằng ngày và ngay cả trong cách suy nghĩ nữa … Con người đã coi họ như thần tượng, nhiều khi đã đặt họ ngang hàng với thần thánh trong khi họ chỉ là một con người, một tạo vật .

Nếu chúng ta lấy tạo vật làm thần tượng, làm lý tưởng và làm mẫu mực cho cuộc sống là chúng ta đã tự hạ thấp phẩm giá con người của mình, là chúng ta đã không nhận ra hoặc quên đi một Đấng vì yêu thương đã tự hy sinh thân phận của mình là Tạo Hóa để trở thành tạo vật như con người, mang thân phận mỏng dòn như con người, sống kiếp con người để mang con người về với chân lý vĩnh phúc đời đời. Đấng ấy phải là lý tưởng của cuộc sống chúng ta, phải là mẫu mực cho đời sống chúng ta noi theo. Đấng ấy chính là Chúa Giêsu Kitô, ngài là chân lý, là đường và là sự thật cho cuộc lữ hành trần gian này của mỗi người chúng ta.

Để trả lời Philatô khi ông tra hỏi Ngài, Chúa Giêsu đã quả quyết về sứ mệnh của chính mình: “Tôi đã sinh ra và đến trong thế gian vì mục đích này. Ðó là để làm chứng cho chân lý. Ai đứng về phía chân lý thì nghe tiếng tôi” (Ga.18:37).

Tiếng của Chúa, Lời của Chúa là chân lý ngàn đời không thay đổi. Chân lý ấy là ánh sáng, là hy vọng và là con đường dẫn đến trường sinh vĩnh phúc cho những ai lắng nghe và mang ra thực hành. ”Không phải những ai nói với Ta : lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời nhưng chỉ người nào thực hiện ý Cha Ta ở trên trời, kẻ ấy mới được vào” (Mt 7:21).

Lời Chúa được ghi lại trong Kinh Thánh, chứa đựng những chân lý cứu độ mà Thiên Chúa muốn truyền đạt cho con người. Chúa mạc khải những chân lý đôi khi vượt trên sự hiểu biết tự nhiên của chúng ta. Chúng ta dễ dàng rơi vào nỗi cô đơn lạc lõng. Chính vì điều này mà người Kitô đôi khi phải đi ngược dòng đời. Đôi khi điều người đời cho là bất bình thường, lại là cái bình thường đối với người Kitô, điều người đời cho là yếu nhược, đôi khi lại là sức mạnh của người Kitô, và điều người đời cho là điên dại, có khi lại là lẽ khôn ngoan của người Kitô.

* * * * *

Lạy Chúa Giêsu, Lời Ngài là chân lý, là ánh sáng soi dẫn đường đời con đi. Lời Ngài là sức sống, là hạnh phúc, là chứa chan hy vọng cho cuộc đời. Xin cho con biết lắng nghe và mang Lời Ngài ra thực hành. Amen

Linh Xuân Thôn

NỖI ĐAU TỘT CÙNG

Mỗi một phận người đều có cái riêng của mình và rồi mỗi người có một hoàn cảnh, mỗi người có một nỗi niềm riêng chẳng ai giống ai cả. Với thân phận của căn bệnh AIDS cũng thế, mỗi người một hoàn cảnh, mỗi người một nỗi đau chẳng ai giống ai : người thì lây qua người tình, người thì lây qua tiêm chích, người thì rủi ro do nghề nghiệp … Để rồi mỗi một trường hợp ấy khi ta tiếp xúc, ta nghe họ tâm sự ta mới thấu hiểu được hoàn cảnh mà họ nhiễm bệnh. Khi ta lắng nghe thì ta mới thấu hiểu được nỗi đau của họ. Đừng vội kết án những người đã cầm án tử trong tay. Phải tìm hiểu để thấu hiểu nỗi đau của từng người.

Vội vã:

… Em là người miền Tây lên Sài Gòn lập nghiệp. Mới quen nhau được 3 tháng, em vội vã tiến đến hôn nhân. Chồng em là tài xế xe tải đường dài. Sau khi cưới nhau được hơn năm, chồng em đã vội vã “ra đi”. Gia đình chồng hoàn toàn bưng bít nguyên nhân mà anh qua đời, gia đình chồng đã giấu hồ sơ bệnh án của chồng em. Sau đó một thời gian thấy sức khoẻ sa sút, em đi xét nghiệm mới biết mình nhiễm căn bệnh của thế kỷ !!!

Em trần tình với tôi một lời muộn màng : Vì em vội vã quá ! mới quen 3 tháng mà em đã quyết định.

Em trách gia đình sao không báo cho em biết mà lại cứ giấu em mãi. Tôi chỉ kịp khuyên em hãy bỏ qua tất cả ngay cả người chồng vắn số của mình, hãy đón nhận nỗi đau và hãy cố vươn vai lên mà sống. Chợt nhìn câu danh ngôn treo trên tường “Khi đời xô bạn xuống thì bạn hãy ngẩng đầu lên”. Và tôi đọc lại cho em câu danh ngôn ấy. Hãy cố lên em !

Vâng ! Đời, người có xô bạn xuống đi chăng nữa nhưng vẫn còn ai đó, vẫn còn một tấm lòng nào đó kéo bạn lên qua bàn tay của các nữ tu, của những tình nguyện viên.

Tôi chẳng trách em, tôi chỉ thầm trách những mối tình chóng vánh mà ngày nay nhiều và nhiều bạn trẻ đã quá vội vã để rồi phải gánh chịu những hậu quả khôn lường.

Không chỉ có em mà còn rất nhiều bạn trẻ vội vã quyết định đời mình một cách chóng vánh không ngờ. Ước gì em là vết xe đổ cho các bạn trẻ “yêu cuồng sống vội”, ước gì em là bài học quý giá cho các bạn đồng trang lứa về quyết định đời mình.

Thiếu hiểu biết:

Em nằm ở Trung tâm AIDS giai đoạn cuối với thân hình tiều tuỵ, mắt em thâm lại vì chẳng hiểu tại sao hai hàng lệ cứ mãi tràn mi …

Hỏi ra thì em nói gia đình ở Kiên Giang, hai vợ chồng cưới nhau được 8 năm.  Chồng lên Sài Gòn phụ hồ… em ở nhà quê làm việc đồng áng đắp đổi qua ngày…  Đến nay được tất cả 3 người con: đứa lớn 7 tuổi, đứa kế 5 tuổi, đứa nhỏ một tuổi rưỡi.

Chẳng hiểu sao chúng cứ gầy còm, ốm yếu. Em mới mang chúng đi xét nghiệm. Kết quả xét nghiệm đã làm suy sụp gia đình, họ hàng hai bên nội ngoại.  Ba đứa trẻ bị nhiễm AIDS cả.  Ba đứa trẻ nhiễm thì chắc chắn cha mẹ chúng cũng nhiễm thôi. Và rồi em cùng chồng đi xét nghiệm thì cũng phát hiện ra bị nhiễm!!!

Thế là gia đình của em có 5 thành viên thì 5 thành viên là nạn nhân của AIDS.

Em kể xong thì hai hàng nước mắt lại cứ trào ra.

Đau quá!  Lòng dạ chẳng còn lời nào để an ủi nỗi đau của em.

Tôi cũng chẳng dám trách em, trách chồng em.  Chỉ cảm thấy đau cho sự thiếu hiểu biết của em và chồng. Ngày nay trước khi đi đến hôn nhân thường hay kiểm tra sức khoẻ thì sẽ biết được sức khoẻ. Nếu như chồng em và em kiểm tra thì đâu có xảy ra cớ sự như ngày hôm nay. Năm người đã cầm án tử quá sớm.

Và dường như không chỉ có em, hiện giờ còn nhiều và nhiều người chỉ vì thiếu hiểu biết để rồi nhìn đời mình trôi xuống vực thẳm mà đôi bàn tay phải buông xuôi.

Trách đời, trách người hay trách em.  Tôi chẳng dám trách ai cả, có chăng thì thương nhiều hơn là trách.

Chia tay em mà lòng cứ mãi ngậm ngùi, chẳng còn nỗi đau nào tột cùng bằng nỗi đau của em và gia đình đang gánh chịu.

Trả thù đời:

Em sinh ra và lớn lên trong một gia đình bất hạnh.  Em bước vào đời cũng trong tủi nhục và bất hạnh.  Người tình ăn chơi trác táng đã để lại cho em di chứng của căn bệnh thế kỷ.  Lẽ ra em đón nhận nó như một biến cố không may cho cuộc đời.  Vậy mà em đã trả thù, em đã trả thù cánh đàn ông bạc tình bạc nghĩa.

Kết quả là hơn ba chục thanh niên đã lây bệnh do em truyền sang.  Hơn ba chục ấy đau đớn thay thì hơn một nửa là học sinh cấp II của một trường Trung Học Cao Su nọ…

Em đã ra đi khỏi đời này nhưng em đã để lại cho cuộc đời này quá nhiều đau thương và tổn thất.

Tại sao em lại trả thù như thế?

Tại sao hơn ba chục con người đã liều mình đánh đổi cuộc chơi chóng vánh để mang trong mình án tử.

.……………..

Tất cả là nỗi đau, nỗi đau tột cùng của tôi, của bạn và của người.

Ước gì ta bớt vội vã, đừng thiếu hiểu biết và không trả thù đời để đời bớt đau hơn.

Anmai, C.Ss.R.

TẤM BÁNH TÌNH YÊU

Mỗi khi chiêm ngắm Thánh Thể Chúa, tôi không ngừng ngỡ ngàng trước tình yêu của Người. Tình yêu ấy vô cùng cao cả nhưng lại rất đỗi đơn sơ.  Đơn sơ như hình ảnh tấm bánh.

Sao Chúa không hoá thân làm viên kim cương quý giá mà lại làm một tấm bánh? Tấm bánh bình thường, quen thuộc quá. Từ khi kinh tế phát triển, bánh càng ngày càng xuống giá, bớt được quý trọng.

Tuy bình thường, nhưng bánh vẫn là lương thực cần thiết cho con người. Cũng như khí trời, như nước, bánh đi vào sinh hoạt hằng ngày của con người. Bình thường lắm nhưng không có không được.

Chúa trở thành tấm bánh để gần gũi với loài người, để đi vào sinh hoạt đời thường của con người. Con người có thể đến với Chúa dễ dàng, không e ngại, sợ sệt. Chỉ là một tấm bánh vừa tầm tay mọi người.  Chỉ là một tấm bánh sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của con người. Thật khiêm nhường mà đầy ý nhị.  Thật đơn sơ nhưng cũng thật sâu xa vì tấm bánh nói lên tình yêu tự hiến.

Bánh sẽ chẳng còn ý nghĩa nếu chỉ để trưng bày cho người ta chiêm ngắm. Bánh chỉ có ý nghĩa khi được sử dụng.  Được sử dụng là bị bẻ ra, bị nghiền nát, bị tan biến, bị tiêu hoá. Vì thế, trở thành tấm bánh là chấp nhận chịu đau đớn, chịu huỷ hoại.  Đây không phải là một chấp nhận bất đắc dĩ, vì tấm bánh bao giờ cũng mời mọc tiêu thụ.

Khi xưng mình là bánh bởi trời, Chúa Giêsu bày tỏ một tình yêu tha thiết, sẵn sàng chịu nghiền nát, tan biến, chịu chết cho nhân loại.  Chúa chịu chết cho ta được sống.  Chúa chịu huỷ hoại cho ta được lành lặn các thương tích. Chúa bé nhỏ đi cho ta được lớn mạnh.

Tấm bánh bị tiêu hoá để thực hiện một tình yêu hiệp thông.  Chúa Giêsu tha thiết với sự hiệp thông. Người không ngừng mời gọi con người đến sống thân mật với Người. Người tự nhận mình là cây nho và mời gọi mọi người hãy trở thành cành nho gắn kết với cây nho.

Hôm nay, Người còn chủ động trở thành tấm bánh để hòa vào từng giòng máu, từng thớ thịt của con người trong một kết hiệp sâu xa.  Người tự tiêu huỷ mình để trở thành thịt máu của con người. Không còn sự kết hợp nào sâu xa khăng khít hơn nữa.

Tấm bánh gợi lên một bàn tiệc tại đó anh em quây quần trong tình thương, chia sẻ lương thực và chia sẻ tâm tình.  Không còn gì đẹp hơn.  Chính Chúa Kitô tự hiến mình để quy tụ chúng ta. Chính Chúa Kitô bị bẻ ra để cho tình huynh đệ nhân loại được mặn mà thắm thiết.

Với những gợi ý như thế, Chúa hướng dẫn tôi trong tình yêu mến, trong cử hành và trong cách sống Bí tích Thánh Thể.

Yêu mến Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là trở nên hiền lành khiêm nhường, sống gần gũi với những người nhỏ bé nghèo hèn?

Cử hành Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là chấp nhận hao mòn, quên mình, thiệt thòi vì Chúa và vì anh em?

Sống Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là xây dựng tình đoàn kết, tình huynh đệ với những người sống quanh ta, trong mọi môi trường cuộc sống?

TGM. Ngô Quang Kiệt

***************

Lạy Chúa Giêsu, có một ngọn đèn dầu gần Nhà Tạm, ngọn đèn đỏ mời gọi con dừng bước chân, nhắc nhở con về sự hiện diện của Chúa.  Con mong sự hiện diện ấy lan tỏa khắp nơi, để đâu đâu cũng thấy bóng dáng những ngọn đèn đỏ.

Nhưng lạy Chúa, trước hết, xin cho cuộc đời con là một ngọn đèn đỏ, luôn kêu mời những người xung quanh con biết dừng lại, trầm tư, và gặp được Chúa. Amen

SỰ THẬT MẤT…ĐẦU

Người ta thường nói SỰ THẬT THÌ MẤT LÒNG.  Vâng!  Nói lên SỰ THẬT là chuyện rất khó nói bởi vì nó chỉ đem lại cho chúng mình những phiền toái, mích lòng và trong trường hợp của Gioan Tẩy Giả thì tệ hại hơn … NÓI THẬT THÌ MẤT ĐẦU, mất cả chỗ đeo giây chuyền!  Nhiều người, rất nhiều người, đã, đang và sẽ bị trảm quyết vì dám nói lên SỰ THẬT.  Tôi xin đơn cử một vài ví dụ minh họa có thật 100%.

Trường hợp thứ nhất:  Cách đây vài năm, được Thần Khí linh hứng trong ngày lễ Thánh Gioan Tẩy Giả Bị Trảm Quyết linh mục P. lên bục giảng với tất cả can đảm, ngài noi gương thánh Gioan Tẩy Giả dám nói lên SỰ THẬT.  Ngài phân tích những tai hại và hậu quả xấu của những việc như lãnh welfare đi làm tiền mặt, khai thuế gian lận, những vụ li dị giả để qua mặt chính phủ, đi bác sĩ khai bịnh ăn tiền của hãng bảo hiểm, về Việt Nam làm hôn thú giả…  Không khí trong nhà thờ hôm đó nặng nề như ngậm hơi nước!

Bạn biết chuyện gì đã xảy ra sau đó không?  Tiền giỏ của những ngày Chúa Nhật (collections) sụt đi một cách thê thảm, cha P phải ở nhà nấu mì gói ăn đều chi, không ai mời ngài đi ăn cơm trưa cơm tối như trước nữa!  Giáo dân của linh mục P đã hành xử y như vua Hêrôđê, họ trảm quyết ngài vì ngài dám bắt chước Gioan Tẩy Giả dám NÓI SỰ THẬT!

Trường hợp thứ hai:  Thầy C sau khi viết thư tường trình với ban cố vấn của hội dòng về những sự thật phũ phàng tại phân viện của thầy, về những sơ xuất và những sự bất cẩn của một vị bề trên cả trong việc quản lý tài chánh thì lập tức sau đó thầy được vị bề trên ấy đặt một cái tên nghe rất kêu: “THẰNG PHẢN ĐỘNG” và tuyên bố là đã hối hận vì đã nuôi ong tay áo!

Kết quả là, thầy C bị cô lập, bị tẩy chay và bị coi y như là một kẻ mang bịnh truyền nhiễm!  Bề trên cả, bề trên út, bề ngang, bề dưới trong dòng đã noi gương vua Hêrôđê, họ ra lệnh trảm quyết thầy C một cách không thương tiếc vì thầy dám nói lên SỰ THẬT.

***************

Bạn thân mến, từ cổ chí kim, từ thời các ngôn sứ, những người được Thiên Chúa trao cho trọng trách loan báo Lời Chúa cho đến nay chẳng có ai thích NÓI SỰ THẬT cả!  Lý do rất đơn giản là khi nói lên SỰ THẬT thì bị thiên hạ ghét, bị người ta hãm hại và bị mất mạng nữa!  Bạn cứ mở Kinh Thánh ra đọc thử xem:

Môisen giẫy lên như đỉa, kiếm đủ mọi cách, viện đủ mọi lý do để từ chối nhiệm vụ đi truyền lại LỜI của Thiên Chúa với Pharaoh (Ex. 3:11, 13; 4:1, 10, 13).  Tiên tri Jeremiah cũng ngán ngẩm khi Thiên Chúa gọi và chọn ông làm ngôn sứ, ông chối phăng viện lý do vẫn còn là con nít, miệng còn hôi sữa mẹ, không xứng đáng (Jr. 1:6).  Ông cảm nghiệm được những nguy hiểm chết người khi phải nói lên SỰ THẬT “Vì LỜI ĐỨC CHÚA mà con đây bị sỉ nhục và chế giễu suốt ngày” (Jr. 20:8).

Bạn thân mến, bất kể bạn là linh mục, là tu sĩ, hay là giáo dân, mỗi người chúng ta được kêu mời phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân … [và] làm chứng nhân về [SỰ THẬT] (Luke 24:47-48).  Đây là một thách đố lớn cho chúng mình.  Thế nhưng!

Khi bạn và tôi dám nói lên SỰ THẬT thì khi đó chúng ta đang giới thiệu cho thiên hạ thấy dung mạo của Đức Giêsu Kitô bởi vì Ngài nói Ngài chính là “SỰ THẬT và là SỰ SỐNG” (Jn. 14:6).

Khi nói lên SỰ THẬT, khi làm chứng cho SỰ THẬT thì bạn và tôi chắc chắn sẽ bị thiệt thòi, bị chống đối, bị hãm hại và có thể mất đầu giống như Gioan vậy.  Thế nhưng bạn hãy an tâm vì “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt. 10:32).  Khi chúng ta dám nói lên sự thật, thì [chúng ta] đến cùng ánh sáng (Jn. 3:21) và sự thật sẽ giải phóng chúng mình khỏi những ách nô lệ của ma quỷ!

Bạn có thấy những mối lợi rất lớn khi chúng ta sống và nói SỰ THẬT chưa?

Khi chúng ta ngại ngùng, sợ hãi, không đủ can đảm nói thật và sống thật, chúng ta hãy chạy đến với Chúa Giêsu Thánh Thể xin Ngài thêm sức cho, Ngài chắc chắn sẽ giúp.  Chúng ta phải bám lấy Ngài, cậy trông vào ơn của Ngài bởi vì “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Jn. 15:5).  Bạn thử xem nhé!

phamtinh@yahoo.com

BA NGÔI THIÊN CHÚA – CỘNG ĐOÀN CỦA YÊU THƯƠNG

Khi còn là giáo lý viên, mỗi khi phải giảng về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi cho xấp nhỏ, nhất là mấy em không rành tiếng Việt là tôi lắc đầu ngao ngán.  Cái gì là 3 trong 1 rồi lại 1 trong 3?  Tiếng Anh còn rắc rối hơn nữa, 3 persons in one God… 3 persons = 3 người à?  Không phải!  Vậy phải giải thích làm sao đây?  3 persons không phải là 3 người mà là 3 ngôi…  “Ngôi” là cái gì vậy thầy?  Cái này thì tôi chịu… Không biết phải giải thích làm sao để các em hiểu 3 ngôi không phải là 3 người.

Nhớ ngày xưa tôi học bổn đồng ấu, hỏi rằng “Đức Chúa Trời có mấy Ngôi?”  thì phải thưa cho to:  Dạ, có 3 Ngôi!  Nói năng lạng quạng là ăn mấy roi hoặc nhẹ lắm là bị phạt chép cho đủ 50 lần “Đức Chúa Trời có ba Ngôi.”   Tội nghiệp thằng bé, nói như con vẹt mà chẳng hiểu gì.

Lớn lên chút nữa, tôi biết lờ mờ đâu đó “ngôi” là ngôi vị, là một thực thể tách biệt nhưng lại không độc lập.  Nhà Nho đời xưa gọi mầu nhiệm này là “Tam Vị Nhất Thể”, ba cá nhân trong cùng một bản thể.  Hay nói theo kiểu tiếng Anh: “three whats in one who”.  Ba ngôi tách biệt nhưng lại là một Chúa.  Cha không phải là Con, Con không phải là Thánh Thần.

Gần đây tôi hay uống loại cà phê hoà tan 3 trong 1… Cà phê + sữa + đường.  Một buổi sáng kia cầm tách cà phê sữa nóng trên tay, tôi chợt nghiệm ra mầu nhiệm 3 trong 1.  Cà phê không phải là sữa, sữa không phải là đường, nhưng cả ba quyện lấy nhau hoà tan nên một, làm nên tách cà phê sữa thơm ngon bổ dưỡng!  Cả 3 chất hợp lại, bổ sung, và làm tăng hương vị của nhau.  Trong tách cà phê, không thể tách rời được đâu là cà phê, đâu là sữa, đâu là đường.

Tuy nhiên Thiên Chúa đâu phải là cà phê, sữa, và đường.  Ba thứ này có nguồn gốc khác nhau, có bản chất khác nhau kia mà!  Trái lại, Thiên Chúa chỉ là một gốc, một bản thể.  Từ thưở đời đời Chúa Cha là Thiên Chúa, Chúa Con cũng là Thiên Chúa, và Chúa Thánh Thần cũng là Thiên Chúa.  Ba Ngôi cùng một bản tính nên Ba Ngôi cũng là Một Chúa mà thôi!

Vì bản chất của các Ngôi là tách biệt chứ không phải là khác biệt, nên đầu óc con người mới phải tìm những hình ảnh cụ thể để diễn tả mầu nhiệm này.  Các nhà khoa học thì ví mầu nhiệm Ba Ngôi như nước dưới 3 dạng thể: hơi nước, nước lỏng, và nước đá.  Mấy người giỏi nhạc thì ví Ba Ngôi như 3 nốt nhạc chủ của một hợp âm: thí dụ các nốt đô-mi-sol làm nên hợp âm đô trưởng.  Nghĩ cho cùng, hơi nước hay nước đá cũng chỉ là nước; nốt đô hay nốt sol cũng chỉ là tầng số khác nhau của cùng một âm thanh.

***************

Mầu nhiệm Ba Ngôi Một Chúa chẳng dễ hiểu, bởi vậy ta mới gọi là mầu nhiệm!  Nhưng nói như vậy không có nghĩa rằng chúng ta chẳng có thể khẳng định điều gì về Thiên Chúa.  Nhưng điều quan trọng, thưa bạn, về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi không phải là đi tìm lý luận để giải thích cái vấn nạn tại sao lại có “Ba trong Một” hay là “Một trong Ba”, nhưng là xem mầu nhiệm này có ý nghĩa gì cho đời sống con người chúng ta?  Và chúng ta phải sống làm sao để mầu nhiệm này trở nên niềm tin căn bản, để niềm tin này thấm nhập vào đời sống mình?

Kinh thánh mạc khải cho chúng ta biết “Thiên Chúa là tình yêu” (Ga 4:16).  Mà nếu Chúa là tình yêu, thì tình yêu không thể hiện hữu một mình.  Yêu là phải cho đi, phải san sẻ; và yêu cũng phải là đón nhận.  Có nghĩa là trong tình yêu phải có ít nhất hai đối tượng: người yêu và người được yêu. Hay nói cách khác, tình yêu phải có điểm phát xuất và có điểm hội tụ.

Thánh Âu-gus-tin đã ví Chúa Cha là nguồn mạch, là điểm phát xuất của Tình Yêu (Lover); Chúa Con là hội tụ, là điểm quy chiếu của tình yêu (Beloved); và Chúa Thánh Thần là sự liên lạc hai chiều, là mối dây liên kết của tình yêu (Love).

Tình yêu xuất phát từ Chúa Cha, đến với Chúa Con, qua Chúa Thánh Thần.  Trong mầu nhiệm tình yêu, Cha trao tất cả cho Con; Con dâng hiến tất cả cho Cha; và Thánh Thần là sự hiệp thông của trao ban và lãnh nhận hai chiều giữa Chúa Cha và Chúa Con.  Chúa Cha không hiện hữu cho chính mình, nhưng cho Chúa Con và Chúa Thánh Thần.  Cũng vậy, Chúa Con không hiện hữu cho mình, nhưng cho Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Và Chúa Thánh Thần cũng hiện hữu vì Chúa Cha và Chúa Con.

Mầu nhiệm Ba Ngôi không phải là Tình Yêu ngồi chiêm ngắm nhau trên cõi xa xăm nào đó, nhưng chính là Tình Yêu hiện diện trong con người và với con người.  Thiên Chúa không để dành tình yêu cho chính mình, cho riêng Cha, Con và Thánh Thần, nhưng chính là cho chúng ta, những tạo vật được dựng nên theo hình ảnh của Ngài.  Khi chúng ta tuyên xưng một Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta tuyên xưng một Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo, là Đấng Cứu Chuộc, và cũng là Đấng Thánh Hóa, Đấng đã và đang tái tạo con người từng giờ từng phút.

Chúng ta được nghe trong bài trích sách Xuất Hành rằng bản chất của Thiên Chúa là “nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34:6).  Thật vậy, Thiên Chúa của chúng ta là thế đó!  Khi chúng ta tin vào mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi là chúng ta tin vào một Thiên Chúa của yêu thương và thành tín.  Khi chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm Ba Ngôi một Chúa là chúng ta tin vào một Đấng Tình Yêu đã và đang sáng tạo, cứu rỗi và thánh hoá con người.

Bài tin mừng theo Gioan 3:16-17 cho chúng ta ba nét về Đấng Tình Yêu này:

1) Tình yêu Ba Ngôi là một tình yêu đi vào tận hiến, là tình yêu chẳng hề biết giữ lại cho mình. “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã trao ban Con Một của Người…” (Ga 3:16a).  Khi yêu ai thì chúng ta muốn cho đi những gì quý nhất của mình. Cũng vậy, vì yêu, Thiên Chúa không chỉ tạo dựng chúng ta theo hình ảnh của Ngài, nhưng còn trao ban cho chúng ta chính con người của Ngài khi nhập thể mặc lấy xác phàm.  Đó là một sự hiến trao của Tình Yêu Sáng Tạo, đem lại một cơ hội cho con người tiếp cận với sức sống thần thiêng.

2) Tình yêu Ba Ngôi là một tình yêu mưu cầu hạnh phúc cho người mình yêu.  Kinh thánh chép rằng: “… để bất cứ ai tin vào Người Con ấy thì không bị hư mất, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3:16b).  Khi yêu ai thì mình làm cho người đó trở nên tốt đẹp hơn.  Cũng vậy, vì yêu, Thiên Chúa ao ước cho chúng ta được chia sẻ hạnh phúc muôn đời với Ngài.  Đó là mục đích của Tình Yêu Cứu Độ, tình yêu đem lại sự sống cho con người hư nát vì tội lỗi.

3) Tình yêu Ba Ngôi là một tình yêu đem lại biến đổi. Thiên Chúa sai Con của Người đến không phải để lên án thế gian, nhưng để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ.” (Ga 3:17).  Tình yêu chứ không phải hình phạt sẽ cảm hoá được người khác.  Vì yêu, Thiên Chúa không muốn ai phải trầm luân. Nhưng nếu có ai đó bị hư mất thì vì họ đã tự khép lòng lại trước tình yêu của Thiên Chúa.  Đó là tình yêu của thăng tiến, Tình Yêu Thánh Hoá, để cuộc sống con người qua yêu thương, tha thứ và hòa giải, nhờ đó mà được thăng hoa.

Làm sao chúng ta biết chúng ta đang sống trong mầu nhiệm Ba Ngôi?  Nếu mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa là mầu nhiệm tình yêu thì khi nào chúng ta còn xa lạ với yêu thương là còn xa lạ với Ba Ngôi.  Đúng như Thánh Gioan quả quyết: “Ai không yêu thương thì không ở trong Thiên Chúa.”(xem 1Ga 4:8,16).

Mỗi khi chúng ta làm dấu thánh giá, uớc gì bạn và tôi, chúng ta cùng sống mãi trong mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi.  Xin Ngài cho chúng ta “được đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa Cha và ơn hiệp thông của Chúa Thánh Thần” (2Cor 13:13) để chúng ta cùng mạnh dạn tuyên xưng: “Sáng danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, như đã có trước vô cùng và bây giờ và hằng có và đời đời chẳng cùng… Amen.”

Anton-Phaolo, SJ

THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU

Làm sao nhận ra một tình yêu chân thực, làm sao không bị chóa mắt bởi những ảo ảnh, không bị lừa dối bởi những lời ngọt ngào trên môi miệng… Đó là những băn khoăn lo lắng của các bạn trẻ khi đã khôn lớn và muốn chọn người bạn đời để xây dựng hạnh phúc gia đình.

Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay gợi lên cho ta một số tiêu chuẩn, mời gọi ta nhìn vào tình yêu của Thiên Chúa vì chính Ngài là Tình yêu và là mẫu mực của tình yêu để ta noi theo.

Tình yêu chân thực là tình yêu hiến trao trọn vẹn: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã trao ban Con Một của Người…” Thiên Chúa không phải chỉ trao một quà tặng, hay một cái gì ở ngoài mình, nhưng là trao đi một điều thiết thân và quý báu.  Ðiều quý báu nhất của Thiên Chúa Cha chính là Ðức Giêsu Kitô, người Con Một của Ngài.  Khi trao Ðức Giêsu Kitô cho chúng ta, Thiên Chúa đã trao cho ta chính bản thân của Ngài.  Ngài chấp nhận Con Một của Ngài phải chết treo trên thập gía để cho chúng ta được sống. Tình yêu chân thực là thế đó, chẳng hề biết giữ lại cho mình.

Tình yêu chân thực là tình yêu chia sẻ, là quên mình và mong muốn hạnh phúc cho người mình yêu: “…để bất cứ ai tin vào Người Con ấy thì không phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3:16)   Sự sống muôn đời đã bắt đầu từ đời này, ngay trong cuộc sống hiện tại này.  Ðược sống là được đi vào thế giới thần linh, được chia sẻ hạnh phúc của Ba Ngôi Thiên Chúa, được tham dự vào bản tính thiêng liêng của Ngài và được trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài.

Thiên Chúa không muốn cho con người phải chịu cảnh trầm luân đời đời.  Nếu có ai bị hư mất hay bị luận phạt thì không phải là vì Thiên Chúa khó khăn hay độc ác, nhưng chỉ vì Ngài tôn trọng sự tự do của con người. Con người có đầy đủ tự do để có thể tin hay không tin, có thể chấp nhận hay từ chối quà tặng của Thiên Chúa, có thể mở ra hay khép lại trước sự sống đã được Thiên Chúa trao ban.

Thiên Chúa là Tình Yêu (1Ga 4:16) Chúng ta sẽ mãi mãi xa lạ với Thiên Chúa nếu chúng ta xa lạ với tình yêu. Vì “Ai không yêu thì không biết Thiên Chúa ” (1Ga 4:8) và  “Ai ở lại trong tình yêu thì cũng ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy (1Ga 4:16).  Ước gì đời sống của ta được tưới gội bởi Tình yêu, để mọi việc ta làm đều bắt nguồn từ Tình yêu và quy hướng về Tình yêu.  Ước gì ta làm chứng cho Thiên Chúa Tình yêu bằng một đời sống bác ái, yêu thương và đùm bọc chia sẻ .

***************

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi, Ngài là mẫu mực của tình yêu. Xin dạy con biết yêu như Ngài, biết sống cho tha nhân, biết quảng đại cho đi và khiêm nhường nhận lãnh. Amen

(Trích từ R. Veritas)