TRUYỀN GIÁO HAY RAO GIẢNG TIN MỪNG

Dầu đã được trực tiếp tham gia vào công tác “truyền giáo” trong thời gian hai năm tại Mongolia, nhưng khi được nhiều bạn gửi ‘mail’ khuyến khích viết bài suy niệm nhân Khánh Nhật Truyền Giáo, tôi vẫn cảm thấy ngại ngùng.  Lý do là vì suy nghĩ của tôi sau thời gian “truyền giáo” trở về đã bị thay đổi nhiều quá; tôi cảm thấy lạc lõng và cô đơn trong suy tư, cũng như hụt hẫng trong truyền đạt về đề tài này.  Cuối cùng thì sáng nay trong thánh lễ, sau khi lắng nghe lời chia sẻ của các tập sinh, tôi đã quyết định viết, nhưng không phải cho ai khác mà là viết cho chính mình đấy thôi.

Tôi nhớ năm 2003, sau khi kết thúc nhiệm kỳ giám tỉnh cuối cùng, tôi vẫn chưa có một định hướng rõ rệt nào cho tương lai phục vụ của mình.  Vì Bề Trên trung ương rộng phép cho tôi được hưởng một năm bồi dưỡng tại bất cứ đâu…, nên tôi đã quyết định xin có một năm trau dồi thêm kiến thức về tu đức, và học hỏi về các tôn giáo thế giới tại đại học Berkeley – California (Hoa Kỳ).  Chính trong thời gian này mà tôi đã đi tới quyết định xin bề trên cho phép đi truyền giáo tại Mongolia (Mông Cổ), nơi mà tôi đã lui tới nhiều lần trong thời gian, với tư cách giám tỉnh, thành lập các cơ sở truyền giáo cho anh em tỉnh dòng Don Bosco Việt Nam.  Hơn nữa, trước khi lên đường đi Mongolia, tôi còn được tham dự một khóa học ba tháng chuyên đề về truyền giáo học tại đại học Universitá Pontificia Salesiana – Roma.  Ấy thế mà khi thực sự tới và làm việc trực tiếp tại một nơi truyền giáo ‘Ad Gentes’ thứ thiệt như Mongolia, cái kinh nghiệm “truyền giáo” tuy còn rất nông cạn và bé nhỏ mà tôi đã thủ đắc được trong thời gian ngắn ngủi này đã đủ để làm đảo lộn mọi suy nghĩ trước đó của tôi về lãnh vực này.

Trước hết, tôi thấy mình dị ứng ghê gớm với cái từ “truyền giáo” thông dụng, vì thấy nó quá mập mờ dễ gây hiểu lầm.  Nếu truyền giáo hàm ý làm cho một người “không có đạo” được rửa tội để gia nhập đạo Công giáo theo nghĩa “cải đạo,” thì rõ ràng là ta đã hiểu sai ẩn ý của Đức Kitô mất rồi.  May mắn thay nội dung này đã chính thức bị Công Đồng Va-ti-can II phế bỏ! “Missio” phải được hiểu là sứ vụ được sai đi (thừa sai) để “rao giảng Tin Mừng,” có nghĩa là để loan báo Tin Mừng cứu độ, để loan truyền tình yêu thương xót của Thiên Chúa đã từng được Đức Kitô Giêsu thực hiện trong cuộc sống của Người, đặc biệt qua cái chết Thập Giá.  Quan niệm cho rằng: ai đó phải gia nhập đạo, phải được rửa tội, thì mới được hưởng nhờ lòng nhân ái cứu độ của Thiên Chúa là một sai lầm lớn.  Lòng thương xót và ơn cứu độ đã được Chúa ban cho hết thảy mọi người cách vô điều kiện (x. Rô-ma 5).  Như thế “Loan báo Tin Mừng” không làm gì khác hơn là mở mắt cho người ta nhận biết rằng họ đã được hưởng ơn cứu độ và lòng thương xót, nhờ vào sự chết và phục sinh của Đức Kitô Giêsu.  Một khi họ đã tin nhận điều đó, ta mời gọi họ gia nhập cộng đoàn tín hữu để cùng chúng ta dâng lời cảm tạ tri ân lên Thiên Chúa về hồng ân vĩ đại đó.

Một suy nghĩ khác mà tôi cảm thấy rất “dội” đó là: nếu không có ai đi truyền giáo thì các dân ngoại sẽ mất linh hồn hết…, rằng nhà truyền giáo là những người mang ơn cứu độ tới cho kẻ ngoại…, rằng ơn cứu độ lệ thuộc vào một lối sống được xây dựng trên nền “luân lý Kitô giáo” mà ta sẽ mở mắt cho họ biết, để rồi, nhờ nắm giữ cặn kẽ các qui định, luật lệ đó, họ sẽ được vào hưởng nước thiên đàng.  Thiết tưởng: khi Đức Kitô sai các tông đồ đi rao giảng Tin Mừng, Người đâu có ám chỉ điều này: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.”  Ngay câu nói: “Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ” đâu có nghĩa là, chính phép rửa sẽ ban ơn cứu độ!  Nhìn vào chính Đức Giêsu ta sẽ thấy: Tin Mừng của lòng thương xót cứu độ vẫn có thể được rao giảng và mời gọi ngay cả một người nữ Sa-ma-ri đang sống chung chạ sau năm đời chồng.

Khi còn ở Mongolia, cha sở nhà thờ chính tòa Ulaanbataar, một nhà truyền giáo người Ca-mơ-run, xin tôi dạy giáo lý cho một nhóm sinh viên.  Ngài muốn tôi dạy theo chương trình giáo lý tân tòng mà ngài đã soạn sẵn, khởi đầu bằng nội dung thập giới của Chúa và lục giới của Hội Thánh…  Ngài căn dặn: đó là các điều kiện tiên quyết để gia nhập đạo hầu được rỗi linh hồn…  Tôi đã quyết định không áp dụng chương trình đó, xác tín rằng “truyền giáo” tiên quyết phải là rao giảng Tin Mừng, mà Tin Mừng chính là cho mọi người nhận biết Thiên Chúa xót thương và cứu độ toàn thể nhân loại.  Tôi dọn một chương trình riêng, trong đó tôi phân tích cho các sinh viên Mongolia hiểu ra rằng: Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô yêu thương họ, không như các thần linh đạo Shaman của người du mục, luôn gieo rắc sợ hãi kinh hoàng khắp nơi.  Thế đấy, cái kinh nghiệm rất cụ thể của tôi về sự khác biệt quá lớn giữa “truyền giáo” và “loan báo Tin Mừng” đại loại là như thế.

Từ cái kinh nghiệm “thừa sai” còn rất thô thiển tại Mongolia tôi đã học được một bài học cơ bản: Thiên Chúa, không biết từ thuở nào, đã yêu mến và cứu chuộc các người Mông Cổ du mục sinh sống trên vùng thảo nguyên lạnh giá mênh mông tại Trung Á.  Cuộc sống du mục nay đây mai đó của họ, với văn hóa và các truyền thống từ bao đời, cho dầu có nhiều điểm khác biệt với nền “luân lý Kitô giáo” mang tính định canh định cư của lịch sử, vẫn không hề tách họ ra khỏi lịch sử cứu độ mà Thiên Chúa đã và đang chủ động thực hiện nơi họ nhờ Đức Kitô Giêsu.  Công việc của một “thừa sai” như tôi đích thị phải là rao giảng Tin Mừng, là loan báo cho họ biết rằng Thiên Chúa yêu thương họ trong chính lối sống và văn hóa của họ…, đồng thời mời gọi họ tin vào Đức Kitô Giêsu Cứu Chúa…, mời gọi họ lãnh nhận phép thánh tẩy… và gia nhập vào Hội Thánh là cộng đoàn những người nhận biết Thiên Chúa từ ái và yêu thương để không ngừng cất cao lời cảm tạ.  Và cũng từ đó tôi nghiệm ra một điều còn quan trọng hơn nữa là: một “người loan báo Tin Mừng” trước hết phải chính mình có cảm nghiệm sâu sắc về lòng thương xót cứu độ của Chúa.  Cảm nghiệm này chính là nền tảng của việc được sai đi, là sức mạnh trong khiêm tốn phục vụ, là hy vọng không hề suy chuyển trước các khác biệt và thách đố, và là chương trình và hành động trong sứ vụ thừa sai.

Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa đã cho con được tham gia chút ít vào chương trình cứu độ đầy yêu thương của Chúa đối với dân tộc Mongolia.  Cảm tạ Chúa đã mở lòng cho con nhận biết Chúa yêu thương họ vô cùng, trước cả khi con được sai tới với họ để nói cho họ biết điều đó.  Qua tâm tình tri ân này, xin cho con tiếp tục không ngừng khao khát tuyên xưng niềm tin vào một Thiên Chúa yêu thương và cứu độ, và tìm cách làm chứng cũng như loan truyền điều đó cho mọi người con gặp gỡ và tiếp xúc hàng ngày.  Con coi đó chính là công việc “truyền giáo = thừa sai” Chúa đang dành cho con lúc này và trong điều kiện sống này. Amen.

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

DÂNG PHẦN NÀO LÊN THIÊN CHÚA?

“Đức Giê-su ngồi đối diện rương đựng tiền dâng, Ngài quan sát cách những người đến bỏ tiền vào rương.  Lắm người giàu có bỏ rất nhiều tiền cũng có một bà góa nghèo đến dâng hai  đồng tiền nhỏ, trị giá một xu.

Ngài gọi các môn đệ đến và bảo họ: “Thật, Ta nói cùng các  con, bà góa nghèo nầy đã bỏ vào thùng nhiều hơn hết thảy những người khác. Vì mọi người  lấy phần dư để đem dâng, còn bà góa nghèo nầy đã dâng tất cả những gì mình có, là tất cả  những gì bà ấy có để sống.” (Mc 12:41-44)

**************************************

Đúng thế, chỉ có Chúa Giêsu mới nhìn thấu được lòng người, mới thấy được ai là người dâng cho Thiên Chúa nhiều nhất.  Nhưng còn một người nữa.  Một người biết rất rõ chuyện bỏ tiền thau hằng tuần.  Biết rõ từng người một: ai là người dâng của dư, ai là  người dâng cả gia tài lên Thiên Chúa. Người đó là tôi, chiếc giỏ tre được chuyền tay mỗi ngày Chúa Nhật.  Hôm nay tôi sẽ kể cho bạn nghe những chuyện mắt thấy, tai nghe.  Tôi không dám phê phán ai, chỉ ghi lại những nhận xét của tôi.

Tôi ở giáo xứ này trên 30 năm rồi, nên tôi biết rất rõ từng khuôn mặt, tính tình của rất nhiều người.  Tôi vẫn nhớ rõ mồn một từng khuôn mặt đơn sơ, xinh tươi như các thiên thần của những em nhỏ khi còn nằm trong nôi, đến khi chập chững biết đi, lớn lên trở thành các cô thiếu nữ xinh đẹp, duyên dáng. Các em trai ốm gầy, tóc húi cua hay đùa nghịch, nói chuyện trong nhà thờ thưở nào nay là những chàng thanh niên, chững chạc, thành tài, có gia đình.  Tôi nhớ các bàn tay nhỏ bé, được bố mẹ nhét vào tờ giấy $5, $10, rồi lắc lắc tay các em cho rớt tiền xuống khi chiếc giỏ tre được chuyền đến. May mắn cho các em, đựợc bố mẹ dạy bảo khi còn bé, nên các em đã quen với việc dâng cúng của lễ cho Chúa hằng tuần.  Nhiều em nay đã trưởng thành, lập gia đình, có con và tiếp tục truyền thống tốt này.  Tôi nhớ một hôm tình cờ nghe được mẫu chuyện giữa người mẹ và đứa bé gái trạc năm tuổi. Em hỏi mẹ:

– Tại sao mình bỏ tiền vào giỏ vậy Mẹ?

– Giúp cho nhà thờ, cha Sở trả tiền điện, tiền nước và nhiều thứ khác.

– Tại sao mình phải giúp?

– Mình không giúp cho cha, cha đâu có tiền trả tiền điện. Không có điện nhà thờ tối thui, buồn lắm.  Chúa cho ba mẹ rất nhiều ơn lành mỗi ngày và ba mẹ muốn dâng lại cho Chúa những gì Chúa đã ban cho ba mẹ.

Tôi không rõ em có hiểu được những gì mẹ em nói hay không, nhưng em không hỏi nữa.  Mỗi tuần em rất vui khi thấy tôi đến.  Sau khi bỏ tiền, em thường quay lại nói với mẹ:

– Con dâng tiền cho Chúa rồi Mẹ.

– Con giỏi lắm!

Người thiếu phụ nhìn con rồi quay sang nhìn chồng. Cả ba đều nở nụ cười hạnh phúc, chan hòa. Tôi thấy Thiên Chúa hiện diện trong gia đình này.

Tiếc thay tôi không gặp được nhiều gia đình sống đạo tốt lành, biết ý thức như gia đình trên.  Có gia đình khi vừa thấy tôi được chuyền tay ở hai ba hàng ghế đầu, họ đứng dậy đưa con đi nhà vệ sinh.  Khi họ trở lại, của lễ đã dâng lên bàn thờ.  Hôm khác, khi tôi sắp được chuyền đến, họ bận rôn, lu bu lo cho con nhỏ, nên vô tình họ không thấy tôi, chiếc giỏ tre.  Tuần này sang tuần khác, bổn cũ soạn lại đâu còn gọi là chuyện tình cờ như tôi nghĩ nữa.  Buồn thay, họ đã làm gương xấu cho những đứa con của họ.  Các em lớn lên không thấy chuyện dâng cúng của lễ ngày Chúa Nhật là bổn phận của các em.

Trong nhà thờ có hai nơi tôi được chuyền đến trước tiên là các dẫy ghế của ca đoàn và các vị thừa tác viên Thánh Thể, cùng với các vị chủ tịch, phó chủ tịch của các ban ngành.  Không hiểu sao, tôi không được sự chiếu cố nồng hậu từ các vị này.  Ca đoàn cộng với các vị trong các ban ngành cũng gần bốn chục người, nhưng lác đác chỉ có vài người bỏ tiền thau.  Tôi thắc mắc mãi:  đây là những người nồng cốt của cộng đoàn; những người rất nhiệt tình, hăng say đóng góp sức lực, thời gian cho giáo xứ trong mọi công tác, sao lại chừa công tác này?  Mãi sau này tôi mới tìm ra được câu trả lời.  Hôm đó nhà thờ xin tiền lần thứ hai để cho việc bảo trì nhà Chúa.  Một anh trong ca đoàn tự nói với chính mình, như là cách phân minh cho những người chung quanh biết anh có lý do chính đáng không phải đóng góp tiền:

– Nữa! Đóng góp nữa! Bỏ giờ đi tập hát chưa đủ sao?

Tôi không biết anh than phiền cha Sở hay than phiền Chúa?  Có lẽ anh đang tự vấn an lương tâm cho vơi bớt nỗi bứt rứt.

Nhà thờ đâu khác gì với căn nhà ở.  Mười hay hai mươi năm mái nhà dột, hư phải thay.  Thảm đi riết cũng mòn.  Điện nước không trả, PG&E sẽ cúp hết mọi thứ.  Việc bảo trì nhà Chúa không lo, ai sẽ lo?

–  Nhà thờ có Chúa lo.

– Tôi không đóng cũng có người khác đóng.

– Tháng này còn nợ mấy cái thẻ tín dụng, tiền hơi eo hẹp. Con hẹn Chúa tháng sau.

– Chúa cho con trúng stock, vé số, con hứa sẽ dâng cho Chúa thật nhiều.

– v.v… và v.v…

Đâu đó tôi vẫn còn nghe những lời nói ấu trĩ này!

Trong Kinh Thánh, ngày xưa, người ta đem lễ vật lên đền thờ để dâng lên Thiên Chúa.  Chúa đâu có gởi các thiên thần xuống từng dẫy ghế thâu nạp của lễ bao giờ. Có vài nhà thờ, mỗi ngày Chúa Nhật, các giỏ xin tiền đựợc đặt quanh cung thánh, mỗi người tự lên dâng của lễ của họ.  Một nghi thức rất hay cần phổ biến và duy trì.

“Thật, Ta nói cùng các con, bà góa nghèo nầy đã bỏ vào thùng nhiều hơn hết thảy những người khác. Vì mọi người lấy phần dư để đem dâng, còn bà góa nghèo nầy đã dâng tất cả những gì mình có, là tất cả  những gì bà ấy có để sống.”

Phần bạn, bạn sẽ dâng phần nào lên Thiên Chúa trong ngày Chúa Nhật sắp đến này?

Lữ Khách
01-20-2007

CÁI NHÌN NỘI TÂM

Mùa Chay là mùa sám hối.  Sám hối là đổi mới tâm hồn.  Muốn đổi mới tâm hồn, phải đổi mới cách nhìn về con người và cuộc đời, về bản thân và tha nhân.  Hôm nay, Chúa Giêsu dạy ta những cách nhìn thời cuộc và biến cố theo tinh thần của Người.

Thông thường, trước một biến cố, ta dễ có cái nhìn chính trị.  Hôm nay, người ta thuật lại việc Phi-la-tô giết những người Do thái trong đền thờ.  Thời ấy, đế quốc Rô-ma đang thống trị nước Do thái.  Phi-la-tô là viên tổng trấn của Rô-ma.  Tường thuật biến cố đau thương này, người ta mong Chúa Giêsu có cái nhìn chính trị, dấn thân vào chính trị.  Người ta mong Chúa Giêsu kết án Phi-la-tô. Không bàn về chính trị, không làm chính trị, cho dù sau này Chúa Giêsu vẫn bị kết án vì một tội chính trị.  Không kết án Phi-la-tô, dù sau này chính Người bị viên tổng trấn này kết án.

Trước mọi biến cố, Chúa Giêsu muốn ta có một cái nhìn tôn giáo, vượt lên trên lĩnh vực chính trị.  Từ một câu hỏi thuộc bình diện chính trị, Chúa Giêsu đã đưa ra một giải đáp thuộc bình diện tôn giáo.  Từ một biến cố gây xôn xao dư luận, Chúa Giêsu mời gọi ta hãy ăn năn sám hối.  Từ cái chết của thể xác, Chúa Giêsu hướng suy nghĩ ta tới cái chết của linh hồn:  “Các ông tưởng mấy người Ga-li-lê đó bị như vậy là vì họ tội lỗi hơn những người Ga-li-lê khác sao?  Tôi nói cho các ông biết, không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy”.

*********************************

Đối với người khác, ta dễ có cái nhìn kết án.  Khi gặp một nguời mù từ thưở mới sinh, người ta hỏi Chúa Giêsu:  “Đây là do tội nó hay tội của cha mẹ nó?”  Gặp người phụ nữ phạm tội ngoại tình, người ta muốn kết án chị.  Người ta có thói quen cho rằng thành công là ân huệ Chúa thưởng cho người đạo đức, còn tai họa là hình phạt Chúa dành cho kẻ tội lỗi.  Hôm nay, chứng kiến những nạn nhân bị thiệt mạng, những người tường thuật đều nghĩ rằng những nạn nhân ấy chết vì họ tội lỗi, còn tôi vô sự, điều đó chứng tỏ tôi vô tội.  Chúa Giêsu lên tiếng cảnh báo họ:  “Các ông cũng là kẻ tội lỗi.  Nếu các ông không ăn năn hối cải, các ông sẽ chết thảm khốc hơn những nạn nhân kia nữa”.  Chúa Giêsu dạy ta có cái nhìn bao dung.  Nếu có phải xét đóan, hãy xét mình trước khi xét người.  Nếu có phải lên án, hãy lên án chính bản thân mình trước khi lên án người khác:  “Hãy lấy cái đà ra khỏi mắt ngươi trước, rồi ngươi sẽ thấy rõ để lấy cái rác ra khỏi mắt anh em”.  “Ai trong các ông vô tội hãy ném đá chị này trước đi”.

Sau cùng, ta thường có cái nhìn ảo tưởng.  Ta xây dựng những chương trình to lớn, những tham vọng đổi mới xã hội.  Chúa Giêsu dạy ta hãy có cái nhìn thực tế:  Đừng ảo tưởng với những chương trình to tát, lấp biển vá trời.  Hãy bắt đầu bằng những việc nhỏ bé.  Đừng có ảo tưởng đổi mới xã hội, cải tạo thế giới.  Trước hết, hãy đổi mới chính mình, cải tạo bản thân mình.  Tục ngữ Trung quốc có câu:  Nếu mỗi người trồng hoa trước cửa nhà mình, cả thế giới sẽ biến thành một vườn hoa đẹp.  Đổi mới chính mình đó là góp phần vào đổi mới thế giới.

Với những bài học ấy, Chúa Giêsu hướng ánh mắt ta lên cao, vượt thoát lĩnh vực tự nhiên để vươn tới lĩnh vực siêu nhiên.  Với những bài học ấy, Chúa Giêsu hướng cái nhìn của ta xuyên qua những lớp bì phu bên ngoài để soi chiếu vào chiều sâu nội tâm.  Với những bài học ấy, Chúa Giêsu hướng cái nhìn của ta ra khỏi những ảo tưỏng, đối diện với thực tế bản thân để trước mỗi biến cố ta tự xét và đổi mới chính mình.

Lạy Chúa xin đổi mới trái tim con.  Amen!

TGM Ngô Quang Kiệt

CON ĐƯỜNG NÀO TA ĐI?

Fred Nassiri, sinh ra và lớn lên ở xứ Ba Tư, sau đó di dân đến Hoa Kỳ và sống tại thành phố ăn chơi cờ bạc Las Vegas, nơi đây Fred Nassiri đã gầy dựng được tài sản rất lớn trị giá gần 1 tỷ mỹ kim nhờ công việc sáng chế kinh doanh các kiểu mẫu quần áo thời trang và sản xuất đĩa hát.  Fred Nassiri đã sống và lớn lên với niềm tin của một tín đồ Hồi Giáo, nhưng tại thành phố cờ bạc Las Vegas này, ông đã bước vào 1 con đường mới, con đường trở nên một tín hữu Công Giáo, và hơn thế nữa, con đường trở nên 1 tu sĩ  trong dòng Anh Em Hèn Mọn Phanxicô.

Ngày 1 tháng 3 vừa qua, Fred Nassiri đã đến Vatican và được gặp Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Ông nói về cuộc gặp gỡ này như sau:

– “Tôi muốn mang đến Vatican một chứng từ đức tin và lòng khâm phục lý tưởng dòng Anh Em Hèn Mọn.  Tất cả tài sản của tôi, tôi sẽ cống hiến cho người nghèo để tôi trở thành 1  tu sĩ Phanxicô.”

Nói về sự chuyển hướng cuộc đời, về con đường mà Fred Nassiri đã lựa chọn và bước vào, Ông giải thích như sau:

–  “Càng có nhiều tiền của sức lực, càng có nhiều nghĩa vụ đối với những người chung quanh mình.”

(Catholicworldnews.com, Trích bản tin ngày 2/3/2007)

* * * * *

Bạn thân mến! Con đường mà Fred Nassiri đã lựa chọn và bước vào là con đường bỏ mọi sự để bước đi theo Chúa Giêsu, để làm môn đệ của Ngài.  Con đường theo Chúa rộng hẹp ra sao ? con đường ấy có cây dài bóng mát, có hoa thơm cỏ lạ, có chim hót, có suối róc rách reo vui không nhỉ ? Con đường ấy là con đường vinh quang hạnh phúc hay là con đường đau thương tủi nhục ? Chắc hẳn bước đi theo Chúa Giêsu là bước đi trên “con đường Chúa Giêsu”. Chắc hẳn người môn đệ Chúa Giêsu không có con đường nào khác ngoài con đường mà Ngài đã đi qua.

Xin mời bạn cùng với tôi, chúng ta hãy lần theo dấu chân của Chúa Giêsu trong những bài đọc của mùa chay, để biết thêm về một vài con đường ngày xưa Ngài đã ngược xuôi qua lại, để nhận ra con đường ngày xưa ấy đã tác động đến cuộc sống của tôi và bạn hôm nay ra sao.

Con đường vào hoang địa: Trước khi bắt đầu cuộc sống công khai rao giảng, Chúa Giêsu bắt đầu bằng “con đường vào hoang địa” để sống một mình trong thinh lặng, chay tịnh và cầu nguyện (Lc 4:1). Bước đi trên “con đường vào hoang địa”, Chúa Giêsu đã làm nổi bật bản tính con người của mình. Ngài chấp nhận những khó khăn thiếu thốn trong cuộc sống, chịu thử thách, chịu cám dỗ và kiên cường chống trả (Lc 4:3-13).

Bước đi trên “con đường vào hoang địa” trong đời sống thiêng liêng là bước đi với Chúa Giêsu, là trở nên giống Ngài, là liên kết với Ngài trong thinh lặng và cầu nguyện, là để được Ngài tôi luyện và biến đổi…

Bạn thân mến! “Con đường vào hoang địa” trong đời sống thiêng liêng của tôi và bạn ra sao? Đã bao giờ tôi và bạn bước chân vào con đường này chưa nhỉ ? Chẳng lẽ chúng ta qúa sợ sệt mà không dám bước vào hay sao?

Con đường lên núi Tabo: Biến cố trên núi Tabo (Lc.9:28) là điểm vinh quang rực rỡ sáng ngời của Chúa Giêsu, là một bằng chứng xác tín Chúa Giêsu là con Thiên Chúa,  là một phép la, là 1 sự biến đổi hình dạng con người của Chúa Giêsu để mặc lấy thiên tính của Ngài. Biến cố trên núi Tabo cũng là một khuyến khích trợ lực cho những ai bước đi theo Ngài .

Bước đi theo Chúa không phải để tìm kiếm những giây phút ngất ngây tuyệt vời trên núi Tabo như ba môn đệ Phêrô, Gioan và Giacôbê xưa kia, cũng không phải là ở lại trên núi Tabo để tận hưởng những giây phút vinh quang rực rỡ tuyệt vời với Ngài. Nhưng bước đi theo Chúa là phải cùng xuống núi với Ngài, cùng ngược xuôi qua lại với Ngài trên con đường rao giảng Tin Mừng, và nhất là cùng với Ngài bước đi trên con đường Thánh giá hy sinh cứu chuộc.

Đường lên núi Sọ Golgotha:(Ga 19:17). Với thập giá sần sùi trên vai, cô đơn lạc lõng giữa rừng người vây quanh. Chúa Giêsu bước đi trên con đường ra núi Sọ như 1 tội nhân .  Với hơi tàn sức yếu, Ngài lê gót bước đi, đi mãi cho đến đỉnh đồi Golgotha. Về phương diện con người, đây là con đường đau thương tủi nhục của Chúa Giêsu.  Cuối con đường, Ngài đã chấp nhận cái chết trần truồng trên thập gía vì yêu thương .

Trên núi Tabo, vinh quang rực rỡ sáng ngời đã dành cho Chúa Giêsu, nhưng trên núi Sọ, Ngài chỉ có đau thương nhục nhã và cái chết.  Hai ngọn núi, hai con đường khác nhau. Về mặt thể lý, hai ngọn núi không cách xa nhau bao nhiêu nên con người có thể dễ dàng đi từ ngọn núi này sang ngọn núi kia .  Nhưng về mặt thiêng liêng, thật khó khăn biết bao để đi hết đọan đường ngắn ngủi ấy, bởi vì con người ưa thích những vinh quang ngất ngây tuyệt vời,  không dám hy sịnh, sợ đau khổ, sợ chết. Con người không thấu hiểu và cũng không xác tín được rằng: “Cái chết là cửa ngõ dẫn đưa vào sự sống lại đời đời”. 

Đường vinh quang phuc sinh:(Ga.20). Qua cái chết đau thương nhục nhã trên thập giá, Chúa Giêsu đã sống lại, Ngài đã chiến thắng sự chết. Con đường đau khổ và sự chết đã dẫn đưa đến con đường vinh quang phục sinh . Qua cái chết của Chúa Giêsu, Ngài đã nối tiếp “đường lên núi Sọ Golgotha” bằng “đường vinh quang phuc sinh” của Ngài.

Bạn thân mến! Chúa Giêsu đi “con đường vào hoang địa” để cầu nguyện và để tôi luyện.  Ngài đã đi “con đường lên núi Tabo” để được Thiên Chúa Cha biến đổi hình dạng. Ngài cũng đi “con đường lên núi Sọ” với biết bao đau thương tủi nhục để hy sinh mạng sống cho người mình thương. Qua cái chết của Ngài, Ngài đã đi vào “con đường vinh quang phuc sinh”.  Tôi và bạn đang đi con đường nào đây nhỉ ? Thầy Giêsu đã đi con đường trên đây, Chẳng lẽ người môn đệ của Ngài lại đi con đường khác được sao ?

* * * * *

Lạy Chúa! Bước đi theo Chúa không phải là chỉ bước đi với Ngài trên con đường vào hoang địa., cũng không phải là chỉ bước đi với Ngài trên con đường lên núi Tabo hay con đường lên núi Sọ, nhưng là cùng bước với Ngài trên mọi nẻo đường Ngài đã đi qua và  cùng với Ngài đi đến chặng đường cuối cùng: “đường vinh quang phục sinh”,  đó cũng là cùng đích của người Kitô chúng con hôm nay.

Lạy Chúa! Xin ban ơn giúp sức cho con, để con có đủ can đảm và lòng yêu mến mà bước đi theo Ngài và cũng được sống lại với Ngài, Amen .

Linh Xuân Thôn

ĐƯỢC Ở BÊN CẠNH

Nhiều năm trước đây, có một câu chuyện kể về một nghệ sĩ trẻ làm việc trong phòng tranh của một hoạ sĩ vĩ đại tại Roma. Nhận thấy người nghệ sĩ này có nhiều tài năng, nên bạn bè anh đã hối thúc anh:

– Bạn nên lập ra một phòng tranh độc lập của riêng bạn.

Họ còn tiên báo là:

– Nhờ đó, bạn sẽ được giàu có, thành công và nổi tiếng.

Nhưng người nghệ sĩ trẻ này nói:

– Không, tôi đã phát hiện ra bậc thầy của tôi rồi, tôi muốn được vẽ giống như danh hoạ Raphael, và bằng mọi giá, tôi phải được sống gần bên cạnh vị thầy này, để được học hỏi phương pháp, nắm bắt tư tưởng và lắng nghe những lời giáo huấn của thầy. Tôi không có một tham vọng nào khác ngoài việc được trở nên giống như thầy.

****************

Trong Tin Mừng Đức Giêsu, Chúa đã để lại cho nhân loại một kho tàng quí giá, qua những Lời giáo huấn, những việc làm của Ngài đáng để cho mọi người nhìn vào đó, để cũng được trở nên con cái của Ngài. Không có gì hạnh phúc hơn là tất cả mọi người đều được trở nên con cái Ngài.  Mang thân phận con người yếu hèn, con người không dám mơ ước được trở nên giống như Ngài, mà chỉ cầu mong sao được trở nên là con cái của Ngài.  Chính những lúc có Chúa cùng đồng hành mọi người sẽ cảm thấy đó là những giây phút tuyệt vời nhất trong cuộc sống.  Bạn cùng tôi hãy mời Chúa đến trong cuộc sống để có Chúa cùng đồng hành trên con đường hành trình sống nơi trần gian này.

Giêsu chính là thần tượng của mọi người.  Ngài là Ngôi Hai Thiên Chúa, để thực hiện công trình Cứu Độ:

Ngài đã vâng lời Thiên Chúa Cha chấp nhận hoà đồng trong thân phận làm người như mọi người.  Ngài vô tội, nhưng Ngài vẫn đến xin Gioan làm phép rửa cho Ngài.  Ngài là bậc tiên phong cải cách lối sống đạo đức giả hình của các biệt phái, kỳ lão. Ngài sửa đổi những suy tư, cách sống về việc phụng vụ tôn thờ Thiên Chúa.  Ngài mạnh dạn lên án những bất công, kỳ thị, nâng đỡ những con người lầm than cơ cực.   Ngài đã nâng đỡ ủi an, chữa bệnh, tha tội để tái tạo thân xác cùng linh hồn trở nên hoàn thiện.   Ngài chính là người cha nhân hậu, sẵn sàng thứ tha mọi lỗi lầm cho đứa con hoang đàng khi biết hối lỗi trở về.  Ngài đã yêu thương tha thứ những việc làm của con người đã kết án Ngài.

****************

Được trở nên giống như Thầy đó chính là điều chàng nghệ sĩ trẻ mong ước. Vì sao? Vì danh hoạ Raphael chính là thần tượng của anh, anh đã nhìn ra được các bí quyết phương pháp, và anh đã học hỏi được rất nhiều điều qua người thầy của mình.

Cuộc sống quanh tôi đã có biết bao những danh nhân, những người đã nêu cao ý chí để vượt qua những trở ngại vươn lên tới thành công vĩ đại.  Đó chính là những tấm gương sáng ngời, là hiện thân của Đức Kitô, đáng để cho bạn và tôi soi vào mà noi gương học hỏi.

Bạn đã chọn cho mình một thần tượng để sống theo mẫu gương ấy chưa?  Hay vẫn cho tôi là số một, là một người chỉ đáng cho người khác noi theo, chứ không bao giờ noi theo người khác.  Đó chính là mấu chốt để nhìn ra được cái tôi của mình.

Nhìn lại tâm trí và thân xác của chính bản thân:  Tôi có thực sự tôn kính Ngài là Thiên Chúa thật sự chưa? Hay tôi chỉ mơ mơ màng màng thờ kính Thiên Chúa như chuyện trên mây, trên gió.  Tôi có thực sự ăn năn mỗi khi đến lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải?  Hay tôi chỉ làm như một thủ tục bởi sự ràng buộc của luật buộc. (xưng tội rước lễ trong mùa Phục Sinh.)  Tôi có yêu người như mình ta vậy không?  Hay tôi chỉ là một con người chỉ biết nghĩ đến cái tôi của mình.  Tôi có thực sự tha thứ những lỗi lầm khi anh em phạm đến mình?  Hay tôi vẫn cố chấp mắt đền mắt, răng đền răng …

****************

Lạy Chúa, trong những ngày trong Mùa Chay này, xin Chúa cho con biết nhận ra Chúa trong cuộc sống, qua việc làm, qua sinh hoạt với mọi người chung quanh, để con biết học tập noi theo những gương sáng. Xin cho con biết nhận Chúa chính là thần tượng của cuộc đời con, là kim chỉ nam hướng dẫn con trên con đường SỐNG ĐẠO HÔM NAY, biết sống Yêu Thương và Phục Vụ, theo đúng với chủ đề của năm phụng vụ 2007.  Amen!

CÁN CÂN TÌNH YÊU

Một linh mục thuộc giáo phận New York bên Hoa Kỳ chuyên lo mục vụ cho các tù nhân đã kể lại kinh nghiệm như sau:

Một hôm, ngài được mời đến thăm một thanh niên da đen sắp sửa bị đưa lên ghế điện vì đã giết người bạn gái của mình.  Như thường lệ, mỗi khi gặp một tử tội sắp bị hành quyết, vị linh mục thường khuyên nhủ, giải tội và trao ban Mình Thánh Chúa.

Sau khi đã lãnh nhận các bí tích cuối cùng, người thanh niên da đen bỗng trầm ngâm suy nghĩ như muốn nói lên một điều gì rất quan trọng.  Cuối cùng, với tất cả cố gắng của một người biết mình sắp lìa cõi đời này, anh mới thốt lên với tất cả chân thành:

– Thưa cha, con đã làm hư hỏng cả cuộc đời. Con chưa hề học được một điều gì hữu ích ngoài một điều duy nhất đó là đánh giày. Xin cha cho con được phép đánh bóng đôi giày của cha.  Như thế, con sẽ hài lòng vì nhận được sự tha thứ của Chúa, bởi vì con không biết làm gì để tạ ơn Chúa trước khi con gặp lại người bạn gái của con trên thiên đàng

Và không đợi cho vị linh mục trả lời, người thanh niên đã cúi gập người xuống và bắt đầu đánh bóng đôi giày của vị linh mục…  Cử chỉ ấy khiến cho vị linh mục nhớ lại hình ảnh của người đàn bà đã quỳ gối bên chân Chúa Giêsu, đổ dầu thơm trên đầu, trên chân của Ngài và dùng tóc của bà để lau chân Ngài.  Chúa Giêsu đã nói với bà:  “Tội của con dù có nhiều đến đâu cũng được tha, bởi vì con đã yêu nhiều”.

******************************

Sám hối, ăn chay, đền tội,  đó là những khẩu lệnh mà mỗi người chúng ta đều nghe lặp đi lặp lại trong suốt Mùa Chay này. Theo quan niệm công bình và thưởng phạt của chúng ta, kẻ có tội ắt phải đền tội. Toà án của loài người thường cân lường tội trạng của người có tội để tìm ra một hình phạt cân xứng.

Chúng ta không thể áp dụng một thứ cán cân như thế vào trong mối tương quan giữa tội lỗi của chúng ta với sự công bình của Thiên Chúa. Nơi Thiên Chúa chỉ có một trái tim duy nhất: đó là  lòng nhân từ . Thiên Chúa yêu thương chúng ta và tha thứ tất cả tội lỗi của chúng ta bằng lòng nhân từ vô biên của Ngài.

Do đó, khi nói đến ăn chay đền tội, chúng ta không thể cân lường tội lỗi của chúng ta để rồi tìm ra một lượng đền tội cho cân xứng. Có hy sinh nào tương xứng được với tội trạng của chúng ta? Có án phạt nào cân xứng với sự xúc phạm của chúng ta?

Thiên Chúa không chờ đợi nơi chúng ta điều gì khác hơn bằng chính tình yêu của chúng ta. Với tình yêu, thì dù một cử chỉ nhỏ mọn cũng trở thành một lễ dâng đẹp lòng Chúa. Những gì chúng ta dâng lên Chúa, không phải là của cải chúng ta có, những bố thí chúng ta làm cho người khác, những khổ chế chúng ta tự áp đặt cho bản thân… mà chính là lòng yêu mến của chúng ta.

 “Tội của con dù có nhiều đến đâu cũng được tha, bởi vì con đã yêu nhiều”.

Ước gì lời của Chúa Giêsu nói với người đàn bà tội lỗi cũng là lời ngọt ngào mà chúng ta tiếp nhận trong suốt Mùa Chay này.

******************************

Lạy Chúa, Chúa nhân từ đối với ai khiêm tốn, và tha thứ cho kẻ biết hối cải ăn năn.  Xin soi sáng cho mỗi người chúng con biết ăn năn hối cải và tăng cường việc bác ái yêu thương, hầu chế ngự mọi tính mê tật xấu.  Nhờ đó, chúng con được sạch tội, và thêm lòng sốt sắng thông phần cuộc khổ nạn của Đức Kitô, Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen!

Lm. LG.Huỳnh Phước Lâm

TIẾNG CHUÔNG ÐỒNG

“Chúa ơi! sao cha xứ mình keo thế!” “Cha keo thì bà bếp cũng khổ, chả bao giờ được ăn miếng thịt!” Chuyện cha xứ hà tiện lại được đem ra làm đề tài. “Chả bao giờ mua sắm cái gì cả. Chắc cha phải có hàng trăm ngàn!” Một bà khác: “Có một thân một mình, chả mấy ngày không có lễ mồ bậc nhất! Lại còn mấy sào ruộng nhà xứ nữa!” Có giọng thêm vào: “Còn mấy cây xoài chung quanh nhà thờ để làm gì! Cứ tiền bán xoài năm nay thì cha cũng đủ tiêu cả năm!” Dựa lưng vào tường, bà quản giáo góp lời: “Mà lạy Chúa tôi! Bà bếp cũng chịu khó quá, cả rau cỏ cũng chẳng phải mua!” Chạy ra gốc cau nhổ miếng nước trầu, bà phó hội buông một câu sắc như dao: “Gớm! ở với cha xứ keo như thế thì không chịu khó cũng chả được!” Mùa lúa gặt xong, không còn chuyện đầu làng cuối xóm, các bà quay về chuyện cha xứ.

Gian phòng không gì đáng giá vài trăm bạc. Chiếc bàn gỗ cạnh cửa sổ không sơn phết. Cánh tủ bị nứt một đường lớn, gián có thể chui qua. Tủ không bao giờ khóa nhưng cũng treo lủng lẳng một chiếc khóa sắt sét rỉ. Ðôi giầy cất trên nóc tủ, chỉ đi vào những ngày lễ trọng. Cái giường gỗ mốc, chiếc gối đầu đan bằng tre mây cạnh chiếc mền có dấu hiệu hai bàn tay bắt nhau của Mỹ viện trợ cho dân di cư năm 1954. Chiếc mũ loại chủ đồn điền cao su người Pháp ngày xưa, móc vào cây đinh trên cột mùng. Chiếc đồng hồ quả quýt tróc sơn với những con số la mã, để ở cạnh chỗ mấy cuốn sách latin. Ðáng giá nhất: Cái xe đạp.

Ngoài phòng khách, chiếc bàn dài, mỗi bên ngồi được mươi người, trải tấm nhựa có in hình trái dứa với ô vuông màu xanh đậm. Một chai nước lọc không đậy nút, che bằng chiếc phễu làm bằng giấy. Dăm ba chiếc ly trên chiếc khay nhôm. Hình đức cha địa phận trên tường đã bạc màu. Vào ngày Tết có thêm bình nước trà và bình thủy đựng nước nóng. Ngoài ngày Tết, bà bếp lại cất đi.

Cái hà tiện mà mấy bà hay mở đầu câu chuyện là những bữa cơm của cha. Miệt quê chỉ họp chợ vào ban sáng. Chợ họp từ tờ mờ cho đến khi rõ mặt trời thì tan. Cứ xem người đi chợ mà biết ngày hôm đó họ ăn gì, kinh tế gia đình ấy ra sao. Ở ngôi làng nhỏ này, người ta chẳng những biết tính tình, gia thế của nhau mà còn biết nhiều thứ khác nữa. Cha già cũng không thoát khỏi những thứ biết ấy. Chẳng phải là việc của các bà, nhưng có vậy thì mới có chuyện mà nói chứ. Các bà cứ bực mình là tại sao cha xứ có tiền mà chẳng bao giờ dám ăn ngon. Nào là bà bếp chỉ mua tép để kho mặn, họa hoằn mới mua thịt thì chỉ mua một miếng bằng ngón tay để bằm nhỏ nấu canh hoa thiên lý! Nói thì nói vậy, chứ các bà cũng thương ngài lắm. Chẳng ai chê trách cha già được điều gì cả. Cha hiền từ, nhân đức, không hề làm mất lòng ai. Chỉ có điều làm các bà cứ bực mình là tiền cha để làm gì, có một thân già tội gì mà phải ăn uống như thế cho nó khổ!

Không hôm nào cửa sổ trên gian cung thánh không mở từ một giờ trưa đến ba giờ chiều. Giờ cha cầu nguyện. Nó như cái đồng hồ chạy gần hai mươi năm nay, không bao giờ sai. Không ai biết quê quán cha ở đâu. Từ ngày di cư năm 1954 đến ngày cha về hưu là mười chín năm mà không có người bà con nào đến thăm. Cha cũng không hề bỏ xứ đi vắng trừ những dịp cấm phòng. Có lần ông trùm hỏi:

– Sao Cha không bao giờ đi đâu cả?

– Ði thì mình cũng tốn mà chủ nhà đón khách cũng tốn!

Không biết nói thật hay chơi, câu trả lời bất hủ ấy càng làm cho các bà thêm chuyện về tính hà tiện của một cha già.

***************************

Bắt đầu bàn chuyện xây nhà thờ cũng là thời điểm cha già có thể về hưu. Ðức cha đã cho phép ngài nghỉ. Sau hai mươi năm di cư, nhà thờ xây tạm từ ngày định cư đầu tiên trên khu đất hoang, bắt đầu sụp đổ. Mái tôn viện trợ hai mươi năm trước đã mục, mưa dột. Cửa sổ long bản lề, nhiều cái đã đóng chằng bằng những khúc ván thông. Những năm đó là thời gian quân đội Mỹ còn ở Việt Nam. Vào khoảng thời gian này, nhiều nhà thờ cũng đã được xây lại nhờ sự trợ giúp do thiện chí của quân đội đồng minh.

Hơn một năm quyên góp mà chẳng đi đến đâu. Làng nghèo. Hết đóng tự ý lại bổ nhân danh, cứ đầu người mà đóng, nhiều đóng nhiều, ít đóng ít. Ðông con, nhà nghèo lại phải đóng nhiều nên sinh lắm chuyện chẳng hay. Kẻ đóng tiền, người nộp thóc. Ðóng góp mãi dân chúng xót ruột. Không đóng sợ bị trục xuất, chết không có người đưa. Kêu ca, nhưng biết làm sao, nhà thờ bắt đầu đổ, giá nào cũng phải làm lại. Nhiều linh mục xin Mỹ giúp mà làm được nhà thờ. Thấy các xứ chung quanh có nhà thờ, dân lại càng bực bội. “Sao cha không xin lính Mỹ ít gỗ, ít xi măng”. Ðối với cha già, hình như quân đội đồng minh không hề có mặt ở đây: “Nhà thờ của các con thì các con phải xây lấy.”

Tiền thu không đủ, nhưng đợi đến bao giờ. Chạy từng thùng thóc. Vật giá leo thang vùn vụt. Nhà thờ hư quá rồi không chần chừ được nữa. Vào một ngày nọ, Cha già quyết định khởi công. Có ai là người phấn khởi vì biết ngày nào hoàn thành! “Rõ thật là chuyện các cha già!” “Cứ tay mà cuốc thì đến bao giờ, chỉ nhờ xe Mỹ ủi cho vài nhát là xong!”. Cằn nhằn. Nhưng sau một tháng thì nền nhà thờ cũng thành hình. Hàng trăm nhát cuốc góp lại, kiến tha lâu có ngày đầy tổ. Cả xứ làm nhân công, người lớn gánh đất, con nít khuân gạch. Tường bắt đầu xây. Có lòng góp sức, nhưng vật liệu rồi cũng cạn. Ôi! lực bất tòng tâm. Nhà nhờ dang dở. Hy vọng mong manh và niềm vui thành cằn nhằn.

***************************

Thế rồi bất chợt một ngày, có tiếng loan tin: “Các bà ơi, Mỹ nó giúp xứ mình rồi!” Buông miếng trầu trên tay: “Chuyện gì thế?” Vừa phe phẩy cái nón vừa hối hả: “Ra mà xem, xe chở bao nhiêu tôn đến.” Ngẩng đầu lên, một bà: “Ðã bảo mà, cứ nhờ Mỹ ngay từ đầu thì có phải xong nhà thờ rồi không.” “Cha già thật lẩm cẩm, nó cho thì cứ xin chứ làm gì mà phải tự ái.” Những buổi chiều nhàn rỗi, đề tài lính Mỹ cũng thường được chiếu cố tận tình. Chỗ nào có Mỹ thì con gái hư hỏng. Chỗ nào có Mỹ thì có xì ke. Mỹ ở đâu thì tội ở đó. Nhưng từ ngày có những chuyến xe tiếp tế đến thì cái nhìn của các bà về lính Mỹ bớt hằn học. Cái nhìn của kẻ thọ ơn đã xoay chiều.

Vật liệu tiếp tục chở về. Bàn tay với bàn tay. Sân nhà thờ vang tiếng cười. Ước mơ được ngôi giáo đường đang thành sự thật. Ðối với xóm giáo di cư này thì không có gì bằng nhà thờ. Mất nhà thờ thì niềm tin ở vào đâu. Nhìn nhà thờ cao dần bắt đầu nghiêng thành bóng lúc ngả chiều, lòng người ai cũng rộng mênh mông chờ tiếng chuông khánh thành. Ngày ấy chắc phải vui lắm. Cứ mơ một khung trời mà ai cũng hân hoan.

Cha già lâm bệnh phải vào nhà thương lúc nhà thờ gần xong. Dấu hiệu cuối đời, tiếng điểm của thời gian cho một con người đã đến. Hai mươi năm trời không bao giờ cha xa làng. Sáng dâng lễ, tối cầu kinh. Bỗng dưng hôm nay thiếu bóng cha. Hình ảnh ấy lạ quá. Như chiếc kim đồng hồ đang đều đặn bỗng dưng rơi xuống. Tự nhiên xứ đạo vắng hẳn đi. Một thứ trống trải mà từ trước tới nay không ai cảm thấy. Buổi chiều bên giàn trầu. Chuyện của các bà: “Mới vắng cha mấy hôm mà xứ vắng quá!” “Ừ, tôi cũng thấy thế, cứ như nhà có đám ma.”

Cha già xa xứ cả tuần lễ rồi. Khi có đau đớn và chia lìa thường làm con người quý xót thương và yêu mến bao dung. Buổi kinh trưa của các bà không còn thấy cửa sổ trên gian cung thánh mở nữa. “Tội nghiệp cho cha, già cả rồi bây giờ lại đau yếu thì lấy ai mà chăm sóc lúc về hưu.” Không biết bao giờ cha già mới khỏe. Mà bệnh gì vậy. Lại già cả rồi. Tình cảm này nuối tiếc tình cảm kia. “Chúa ơi, cha già mà chịu khó quá. Cứ lụ khụ khuân gạch một mình.” Một bà khác: “Chẳng ngày nào mà không đội cái nón trắng đi trộn cát với phu hồ, mà trời thì cứ nắng quá sức.” Phẩy chiếc quạt, có giọng tiếp: “Ừ, tôi nói thật đấy, khó có cha xứ nào mà bì lại được với cha xứ mình. Các cha trẻ thì tài ngoại giao, chứ chả đạo đức như cha già mình được đâu!” “Cha đã già rồi mà không nghỉ ngơi, làm làm gì cho thêm khổ vào thân!” Hôm nay chẳng bà nào nói đến cái tính hà tiện của cha nữa. Bà nào cũng tỏ vẻ thương hại cha. Sau cái hôm bị té ở cuối sân nhà thờ, cha đau rồi lâm bệnh luôn. Trượt chân, không kịp buông tay chống, cha ngã vào đống gạch.

***************************

Rồi chuyện ly biệt cũng đến. Ðời như dòng nước cũng phải buông bờ mà xuôi về biển. Tình cảm nào, yêu thương hay ghét bỏ thì cũng có ngày tan theo hạt nắng, để mỗi linh hồn bay theo gió ngàn về bến bờ riêng của mỗi người. Sau khi khánh thành nhà thờ có một tuần lễ, cha già giã từ con chiên về hưu. Ngày từ biệt cha ở sân nhà thờ, xứ đạo u buồn lắm. Rưng rưng lệ thương một cha già đã gần hai mươi năm chung sống. Cha ra đi như một cái tang. Như một tàu cau sau những ngày che chở cho buồng cau kết trái, bây giờ nó xơ xác rụng xuống về với đất bụi. Giã từ trời cao. Hình ảnh đơn sơ của cha làm cho người ta bây giờ mủi lòng. Ðồ đạc của cha có chiếc vali, mấy thùng giấy đựng đồ. Chiếc xe đạp buộc trên nóc xe lam. Lòng xe còn rộng. Xe chuyển bánh. Một cánh lá bay về cuối đời, im lặng ở một chốn không còn tiếng chuông.

Người ta thường không quý những gì mình có, khi mất rồi mới mến thương. Hai mươi năm cha con sống bên nhau. Có những gia đình từ đời cha đến đời con, xuống cháu đều đo tay cha già ban phép cưới, rửa tội, làm lễ an táng. Cái nghĩa ấy chẳng dễ gì một sớm mà phai nhạt. Ngày cha lên đường bỏ xứ đi mới là lúc họ thấy mình đã không phụng dưỡng cha già cho đủ. Cái cảm tình của kẻ thấy mình không tròn ân nghĩa làm nhiều người hối hận. Trên sân nhà thờ hôm ấy, nhiều dòng nước mắt đã rơi. Cha đi rồi, giáo xứ vắng lạ lùng. Một im lặng bàng bạc mà phủ kín lòng người.

***************************

Cha ra đi để lại cho xóm đạo ngôi nhà thờ khang trang. Chuyện xây nhà thờ không đơn giản như tôi viết ở trên. Về sau này, khi cha đi rồi người ta mới biết rõ. Chuyện là có lần ông trùm tò mò hỏi cha: “Bẩm cha, nhà thờ là do công lao của cha. Chúng con chẳng biết nói sao để cám ơn cha.” Nói tới đó ông ngập ngừng, ông muốn hỏi xem ai là người đã trợ giúp vật liệu vì mọi người đều biết số tiền quyên góp không thể đủ mua tất cả. Nhưng ông không biết mở đầu làm sao cho gọn. Ông chỉ sợ hỏi cha như thế là tò mò tọc mạch, nên đã mãi mà ông không tìm được câu vào đề cho đúng. Sau cùng ông đành ngập ngừng:

– Bẩm Cha, chúng con chỉ đóng góp được có phân nửa mà nhà thờ thì tới những bốn triệu, vậy ai giúp mình số tiền lớn đó hả cha?

Cha già lắng nghe. Mắt trái của cha vẫn còn bầm tím vì vết thương ngã ở đống gạch chưa lành. Ngài ôn tồn nói như một điều rất bình thường:

– Chẳng có ai giúp mình cả. Các con phải cám ơn vì sự quan phòng của Chúa. Ðây là tiền mà các con biếu cha, tiền các con xin cha làm lễ. Hai mươi năm qua, những ngày sống với các con, cha coi tiền ấy là tiền cha giữ giùm các con. Số tiền cha để dành vừa đủ để bù vào chỗ thiếu mà xây xong nhà thờ!

Hôm ấy ông trùm rớt nước mắt. Im lặng. Khi ta im lặng nhìn xuống dòng đời, bấy giờ mới thấy có nhiều thứ xót thương nó thấm vào lòng. Trời ơi! một số tiền lớn như thế. Hai mươi năm cần cù làm việc cho Chúa. Hai mươi năm dâng lễ, gìn giữ đồng tiền cho con chiên của mình để rồi về già ra đi với chiếc vali bạc màu, mấy thùng giấy đựng đồ và chiếc xe đạp cũ. Những chiếc xe chở vật liệu kia là tiền của cha. Tất cả những bữa ăn khem khổ của cha già là ở đấy. Bằng ấy ngày xây nhà thờ mà có ông Mỹ nào đến chụp hình, quay phim đâu, sao không ai tinh ý mà nhìn ra điều đó.

Cha già vĩnh viễn xa mất rồi. Cha ra đi không bao giờ trở lại nữa. Không còn dịp nào để xem bà bếp của cha sáng nay mua mấy con cá khô, mấy lạng đỗ đen. “Sao cha không cho chúng con biết bằng ấy năm cha đã chắt chiu từng đồng cho chúng con. Nếu cha không sống cực như thế thì làm sao chúng con có nhà thờ. Không cách nào chúng con xây được nhà thờ vì xóm giáo nghèo quá. Có phải cha đã nhìn thấy từ hai mươi năm xa xưa về trước. Có phải qua những giờ cha quỳ trước Mình Thánh Chúa hàng ngày mà Chúa đã mặc khải cho cha hoàn cảnh xóm giáo chúng con hai mươi năm về sau. Cho đến bây giờ chúng con vẫn không hiểu nổi. Ðời cha là một nhiệm lạ với chúng con. Khi chúng con biết thì đã quá muộn cho một lời biết ơn. Hai mươi năm bên cha, chúng con khâm phục mọi nhân đức của cha. Cha nhân từ, cha chịu khó, chúng con không trách cha được một điều nào. Chúng con chỉ ao ước rằng giá cha không hà tiện quá như thế, giá cha không tham tiền như thế thì cha nhân đức vẹn toàn. Hôm nay, chúng con mới biết những đồng tiền kia cha cất ở đâu, để làm gì. Quá muộn rồi cha ạ, cho một lời tạ lỗi, biết ơn của chúng con.”

Vĩnh biệt cha.

***************************

Mùa hè đầu tiên được mặc áo dòng về quê. Tôi vui lắm. Chả mấy lúc không nhìn mình trong gương. Tôi thích làm sao cái cổ côn trắng áo dòng. Hè ấy, tôi về nhà hưu thăm cha già thủa xưa, người đã viết giấy giới thiệu cho tôi đi tu. Từ những ngày là cậu giúp lễ, hôm nay tôi trở về báo tin vui cho cha cậu bé ngày xưa đã lớn, đã chững chạc trong chiếc áo dòng có cổ côn trắng đạo mạo. Cha đã dìu tôi đi một đoạn đường, tôi nghĩ là cha sẽ mừng lắm khi thấy tôi đang hăm hở lên đường như cậu bé vui mùa xuân.

Trên chuyến xe lam về nhà hưu, nhìn trời cao xanh, tôi thấy hồn mình cũng thênh thang theo. Ôn lại những kỷ niệm năm xưa. Tôi nhớ buổi chiều nọ, hôm ấy thấy dấp dáng áo dòng của cha ở ngõ, tôi không sợ, không chạy trốn cha như hồi bé nữa mà ra đón cha vào nhà chơi. Năm ấy vừa xong tiểu học, năm tôi đi tu. Buổi chiều đó, cha đến nhắc cho tôi là còn hai ngày nữa hết hè tôi phải chuẩn bị về nhà trường. Mùa hè nào cũng thế, cứ còn vài ngày hết hè, cha đến tận nhà nhắc cho mẹ tôi nhớ đến ngày tôi phải đi, cho đến ngày tôi đủ “tuổi khôn” cha mới thôi. Cha biết rõ tất cả con chiên của cha. Biết từng gia đình, tình trạng đạo đức, tình trạng con cái trong nhà. Ngay cả nhà nào có con đến tuổi xưng tội là cha đến tận nhà mà nhắc. Hình ảnh này in đậm trong tâm trí tôi, nhắc nhở tôi về hình bóng của một chủ chăn biết rõ chiên của mình.

Những năm còn bé ấy, chiều thứ sáu đầu tháng nào chúng tôi cũng phải đi xưng tội. Chính cha đánh trống báo hiệu, mở cửa nhà thờ, kê tòa giải tội. Ban tối cha dạy giáo lý. Cha bắt chúng tôi vào Legio Mariae, cũng phải phúc trình công tác hàng tuần, quét nhà mấy lần, vâng lời ba má mấy lần. Cha là linh mục lo cho con chiên và lo hết mình vì phần rỗi của họ. Về sau này làm linh mục, tôi mới thấy ngồi giải tội cho con nít là một phiền toái. Nhưng ngày xưa, cha già biết rằng tuổi thơ là trang giấy trắng cần viết vào đấy những hương nhân đức thật sớm. Cha đã không nhàm chán giải tội cho chúng tôi. Cha tập cho chúng tôi ngay còn bé đã biết quý trọng bí tích rồi. Kỷ niệm này ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống linh mục của tôi sau này với tòa giải tội.

Khu nhà hưu thật vắng lặng. Hàng cây khuynh diệp cao ngất giữa trời nắng hanh mùa hạ. Tiếng ve rỉ rả gợi sầu, nó chẳng phá được cái vắng lặng mà càng làm cho nỗi vắng có vẻ mênh mông. Lá khuynh diệp rơi đầy lối vào, không ai quét cả. Mấy chú gà con chạy xào xạc bên bụi tre vàng ươm. Khu nhà giống như một tu viện cổ kính không có ai ra vào. Tôi hỏi cụ già đang rẫy cỏ trên mấy vồng khoai, cụ bảo cha đang đọc kinh ở nhà nguyện.

Tôi ngồi ở hành lang đợi. Hơn một tiếng, cha già chậm rãi đi ra. Cha bước từng bước chậm, khuờ khoạng với chiếc gậy gỗ. Cả hai mắt của cha đã bị lòa. Tôi đến gần trước mặt mà cha cũng chẳng nhìn thấy. Nghe tiếng tôi chào, cha nhận ra tiếng ngay, khuôn mặt cha mừng vui rạng rỡ. Cha giơ tay tìm tôi:

– Có phải con đấy không?

– Dạ, con đây ạ.

Cha giơ tay tìm rồi nắm vai tôi. Buổi trưa ấy cũng là lần sau cùng, tôi không bao giờ gặp lại cha già nữa. Lời cha nói trước khi chia tay cũng là lời trăn trối sau cùng. Tay run run, khuôn mặt tỏ rõ nỗi vui khi biết tôi đã đi được một quãng đường trên lý tưởng đời tu:

– Cha già rồi, cha chẳng làm gì được cho Chúa nữa. Cha gởi lại Giáo Hội trong tay con, trong tay các thầy trẻ.

Từ biệt cha ra về, rưng lệ, tôi bùi ngùi thương cảnh già của cha. Trong nỗi bùi ngùi, tôi cũng hạnh phúc vì bóng hình của cha là sức mạnh nâng đỡ tôi bước tới. Cha bước can trường trong thánh thiện, có thể đời cha cũng có lúc lẻ loi chăng? Nhưng cha đã đi trọn đời bằng những bước chân vô cùng anh hùng. Và tôi biết, cha hạnh phúc vì thế giới bình an của cha là cha luôn có Chúa.

***************************

Rồi tôi bỏ nước ra đi. Tôi không bao giờ gặp lại cha già nữa. Vào một buổi chiều tháng Năm ở trong một chủng viện miền trung nước Mỹ, tôi nhận được lá thư của đứa em gái gởi từ quê hương sang. Cuối đoạn thư đứa em viết :

“…Em đã về sống với thầy mẹ rồi, không còn ở nhà dòng nữa. Nhà dòng đã bị người ta lấy. Các đệ tử nhỏ như tụi em đều phải về hết. Buồn quá anh nhỉ. Nhưng mà thôi, phải chấp nhận chứ biết sao hả anh. Mẹ vẫn thường nhắc về anh luôn. Mẹ bảo không hiểu sao cứ nghe tiếng chuông nhà thờ là mẹ lại nhớ đến anh. Mà kỳ lạ, em cũng vậy anh ạ. Ban chiều khi em cắt cỏ cho trâu ở ngoài đồng mà nghe tiếng chuông em thấy tâm hồn mình như chùng xuống. Nó buồn nao nao làm sao ấy anh ạ. Tiếng chuông như có an ủi, vỗ về mà cũng như lời buồn nhắc nhở về một thủa bình yên, một thủa an vui đã mất.

Anh biết không, trước ngày giải phóng thì các xứ đạo chung quanh chẳng xứ nào mua chuông, họ đều xài chuông đĩa. Bây giờ xăng nhớt hiếm hoi, chẳng xứ nào còn xăng chạy máy điện nữa nên chiều về không còn tiếng chuông. Ðã bao năm sống trong tiếng chuông, lớn lên trong tiếng chuông, tiếng chuông đã là một phần đời của mình rồi. Bây giờ tiếng chuông bỗng vắng bặt, xứ đạo như chết, im lìm lặng lẽ. Ai cũng buồn. Nhưng may cho xứ mình là trước khi về hưu, cha già đã mua cho quả chuông đồng thật lớn. Bây giờ trong khi các xứ đạo khác thật vắng thì chỉ có tháp chuông nhà thờ mình là còn tiếng chuông kêu. Ban chiều ở ngoài đồng, hễ nghe tiếng chuông là người ta sửa soạn về. Những xứ chung quanh đều hướng về xứ mình vì chỉ có một quả chuông duy nhất cho cả vùng. Tiếng chuông chiều nghe an ủi lắm anh ạ, nghe như Chúa vẫn còn ở với mình…”

Nghĩ đến cha già, tôi lại bồi hồi nhung nhớ. Cha đã chết rồi, đã vĩnh viễn ra đi, nhưng đời cha là tiếng chuông còn sót lại sau những luyện lọc bằng can đảm, nhẫn nại, bao dung. Trong cuộc đời lý tưởng, cha đã là ngọn nến cháy để linh hồn tôi ấm trong những ngày mệt mỏi, trống vắng. Mỗi lúc muốn xây đắp cho riêng mình, mỗi khi nghĩ đến những công danh mà một người thanh niên có thể với tay vào đời, tôi lại nhớ về cha. Cuộc đời cha lại đốt cháy đi những ý nghĩ nhỏ nhoi trong hồn tôi.

“…đấy là tiền của các con. Những ngày cha sống với các con, cha đã giữ tiền giùm các con. Ðấy là tiền lễ mà các con xin. Cha đã tích góp trong hai mươi năm qua. Các con phải cám ơn Chúa về sự quan phòng của Ngài..”

Cha chẳng bao giờ nhìn thấy những chân trời rộng rãi. Cha không du học, không có bằng cấp. Cha chỉ là một linh mục nhà quê. Nhưng vào những ngày gian khổ nhất của đất nước, ở miền quê ấy, chỉ còn mỗi tiếng chuông của cha sót lại.

Gấp lại tờ thư, tôi đã ngồi nhìn qua cửa sổ, mây lững lờ trôi.

Những ngày còn là chủng sinh, đi nghỉ hè, khi lái xe qua những cánh đồng lúa mì mênh mông miền Kansas, mỗi khi nhìn thấy tháp chuông nhà thờ bên xóm đạo ven đường, tôi lại nhớ đến lời trăn trối của bao nhiêu năm về trước: “Cha già rồi, cha chẳng còn làm gì được cho Chúa nữa. Cha trao lại Giáo Hội trong tay con, trong tay những thầy trẻ.” Hồn tôi ấm cúng lạ thường. Tôi vui với con đường tôi đi, tôi hạnh phúc với ơn gọi tôi chọn. Và tôi đã bước tới. Những lần nghe tiếng chuông giữa trời rất cao và rất rộng, hồn tôi thật thênh thang.

Hôm nay, mỗi khi đi qua đâu, nhìn thấy tháp chuông, tôi lại nhớ về xóm đạo nhỏ ở rất xa. Tôi vẫn nghe tiếng chuông nhẫn nại, an ủi nỗi vất vả của những con chiên miền quê. Mỗi khi nghe tiếng chuông thong thả ngân, tôi lại tin rằng còn rất nhiều những tiếng chuông đẹp như thế trong lòng Giáo Hội, tiếng chuông của những linh hồn bên Chúa rất thiết tha.

Lm. Nguyễn Tầm Thường
Trích tập truyện ngắn TIẾNG GỌI PHÍA BÊN TRONG

ĐẮNG CAY

Một trong những hình ảnh mà Kinh Thánh dùng để chỉ đời sống là cái chén.  Cũng giống như một cái chén có thể đựng một thứ đồ uống vừa đắng vừa ngọt.  Cuộc đời của mỗi người chúng ta có thể nói được là sự pha trộn giữa ngọt ngào và đắng cay.  Đây là một hình ảnh phong phú và mạnh mẽ.

Nếu chén có thể hiểu như cả một cuộc đời thì nó cũng có thể hiểu như một phần cuộc đời.  Vậy thì, có những lúc chén đời sống đầy những điều đắng cay, đắng cay đến nỗi chúng ta không muốn uống hoặc cảm thấy không thể nào uống được.  Nhưng có những lúc khác, chén ấy tràn đầy sự ngọt ngào.  Có lúc chúng ta không có đủ.  Và còn những lúc khác, chén ấy có thể nhạt nhẽo và vô vị.  Sau cùng, có những lúc, chén của đời mình trống rỗng.

Giacôbê và Gioan đến cùng Đức Giêsu với một đòi hỏi rất ích kỷ.  Họ đòi được một người ngồi bên tay phải và người kia ngồi bên tay trái Đức Giêsu trong nước trời.  Rõ ràng họ nghĩ vương quốc của Đức Giêsu cũng theo kiểu mẫu của các nước ở trần gian.  Người ở địa vị cao sẽ được hưởng danh dự, vinh quang và quyền lực.

Đức Giêsu đáp lại bằng một câu hỏi: “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống không?”  Họ liền đáp lại: “Thưa được.”  Bởi vì họ nghĩ rằng đó là một chén rất ngọt ngào.

Nhưng điều mà Đức Giêsu thật sự muốn hỏi hai môn đệ là: “Các anh có sẵn sàng đi qua những đau khổ mà Thầy sắp trải qua không?”

Uống chén đau khổ và hy sinh không phải là việc dễ dàng.  Dĩ nhiên khi giờ đã đến để Đức Giêsu phải uống chén đó, Người đã chùn bước.  Ba lần Người xin Chúa Cha cất chén ấy khỏi tay Người: “Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con.  Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha”, và Người đã uống chén đó.

Các tông đồ lúc đó không biết chén của Chúa sẽ là chén rất đắng cay.  Họ cũng không biết sự yếu đuối của mình.  Thế nên khi giờ của Chúa đến, họ không cùng uống chén ấy với Người mà để Người uống chén đắng cay ấy một mình.

Chúng ta không biết trước chén đời sống nào được đưa cho chúng ta.  Chúng ta khám phá dần dần khi chúng ta tiến bước.  Đức Giêsu, Đấng vô tội đã chọn uống chén rất đắng cay.  Nhưng như chúng ta đã thấy, Người không thấy việc đó dễ dàng.  Thế nhưng Người đã uống cạn chén đó và làm thế vì yêu thương chúng ta (sự cần thiết bi thảm cũng thế – hãy nghĩ đến những viên thuốc đắng mà người ta phải uống).

Dù Đức Giêsu vô tội, Người đã cảm nghiệm sự yếu đuối và cám dỗ mà chúng ta cảm nghiệm.  Người biết sự yếu đuối của chúng ta.  Vì thế, chúng ta phải đến gần Người với lòng trông cậy, vì biết rằng Người có thể và sẽ giúp đỡ chúng ta.

Nếu chúng ta thấy chén đời sống cay đắng lạ lùng, thì chúng ta không cần phải cho rằng nó ngọt ngào hoặc nghĩ rằng chúng ta uống nó bởi sức mạnh của riêng mình.  Không giống như hai môn đệ Giacôbê và Gioan, chúng ta không nên sợ hãi hay xấu hổ mà nói rằng: “Không, Lạy Chúa, con không thể uống và không muốn uống.  Nhưng nếu con phải uống thì với sự giúp đỡ của Chúa con sẽ uống được.”

Uống chén đời sống, đặc biệt chén khó khăn được làm bởi một cuộc đời hy sinh và phục vụ người khác, chính là đi theo Đức Kitô.  Những ai chia sẻ với Người chén đắng cay của thập giá, thì Người cũng sẽ chia sẻ sự vinh quang phục sinh của Người cho họ.

Sưu tầm

********************************

Lạy Chúa Giêsu, con Thiên Chúa,
Chúa đã làm người như chúng con,
Nên Chúa hiểu gánh nặng của phận người.
Cuộc đời đầy cạm bẫy mời mọc
Mà con người lại yếu đuối mong manh.
Hạnh phúc thường được trộn bằng nước mắt,
Và giữa ánh sáng,
Cũng có những bóng mờ đe dọa.
Lạy Chúa Giêsu,
Nếu có lúc con mệt mỏi và xao xuyến,
Xin nhắc con nhớ rằng trong Vườn Dầu
Chúa đã buồn muốn chết được.
Nếu có lúc con thấy bóng tối bủa vây,
Xin nhắc con nhớ rằng trên thập giá
Chúa đã thốt lên: Sao Cha bỏ con?
Xin nâng đỡ con, để con đừng bỏ cuộc.
Xin đồng hành với con, để con không cô đơn.
Xin cho con yêu đời luôn
Dù đời chẳng luôn đáng yêu.
Xin cho con can đảm
Đối diện với những thách đố
Vì biết rằng cuối cùng
Chiến thắng thuộc về người
Có niềm hy vọng lớn hơn. Amen

Rabbouni

THÁNH LUCA -THÁNH SỬ 

Thánh Luca là người Hy-lạp ngoại giáo trở lại, và là môn đệ của Thánh Phaolô.  Người là tác giả sách Phúc Âm thứ ba và sách Tông Ðồ Công Vụ.

Thánh Luca là người học thức, có tài viết văn, có tài kể chuyện, người đề tặng cả hai tác phẩm của mình cho một nhân vật thế giá tên là Tê-ô-phim, mới theo đạo Kitô.  Thánh Luca viết sách Phúc Âm khoảng giữa năm 70 và 75 sau công lịch, nhấn mạnh đến:

  • Chúa Giêsu là Ðấng Cứu Ðộ mọi người, giao hoà nhân loại với Thiên Chúa. Chúa thu hút nhân loại bằng những đức tính cao cả của Ngài.  Ngài luôn cầu nguyện ngợi khen Chúa Cha.
  • Thiên Chúa nhân từ và thương xót.
  • Tinh thần bỏ mình và nghèo khó.

Thánh Luca dùng lời lẽ có ý nghĩa để diễn tả lại những trường hợp Chúa Giêsu tỏ lòng thương xót các phụ nữ hư hỏng, và phục hồi quyền lợi thế giá cho họ.  Người đã kể lại những câu chuyện có ích lợi đặc biệt cho dân ngoại, như các chuyện bà Ma-đa-lê-na, ông Gia-kêu, người trộm lành, người Sa-ma-ri-a nhân hậu.  Phúc Âm theo Thánh Luca có lẽ là sách Phúc Âm hấp dẫn nhất đối với thế giới mới.

1. Thánh Luca là ai?

Luca bắt nguồn từ danh từ Latin “Lucanus” nói lên nguồn gốc của ngài là dân ngoại.  Theo lá thư Phaolô gởi cho Ti-mô-thê “chỉ mình Luca ở với Cha,” có nghĩa là Luca là bạn đồng hành truyền giáo của thánh Phaolô.  Trong Phi-lê-môn câu 24, Thánh Phaolô liệt kê thánh Luca vào số “những cộng sự viên của ngài”; còn trong Cô-lô-xê ngài được gọi là “lương y.”

2. Luca đã đóng vai trò nào trong Tân Ước?

Ngài không chỉ là tác giả của Phúc Âm thứ ba mà còn là tác giả sách Tông Ðồ Công Vụ nữa.

3. Thánh Luca viết sách Phúc Âm nhằm mục đích gì?

Ngài viết Phúc Âm để minh chứng rằng đạo Chúa Kitô là một đạo giáo toàn cầu qua cách giảng diễn lòng nhân từ của Chúa đối với những người nghèo khổ và bị áp bức; nêu cao lòng thiện cảm của Chúa dành cho dân ngoại.  Phúc Âm ngài đã diễn đạt chân lý mà Thánh Phaolô công bố trong thư Ga-lát chương 3 câu 28 như sau: “Không còn Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ, vì tất cả anh em là một trong Ðức Giêsu Kitô.”

4. Thánh Luca viết Phúc Âm nhằm cho loại độc giả nào?

Là một người dân ngoại, nên ngài viết cho các tín đồ dân ngoại.

5. Thê-ô-phi-lô là ai mà Thánh Luca đề tặng ở đầu sách Phúc Âm của ngài?

Thê-ô-phi-lô là một danh từ Hy Lạp, có nghĩa là “kẻ yêu mến Thiên Chúa.”  Có thể ông là kẻ mới trở lại đạo và đại diện cho nhóm độc giả mà Luca nhắm tới, hầu họ am tường về giáo huấn của đạo mới.

6. Luca đã làm gì để minh chứng đạo Chúa Kitô là đạo phổ quát?

Ngài đã chứng minh gia phả của Chúa Giêsu không chỉ qua dòng dõi vua Ða-vít lên tới Abraham như Thánh Matthêu đã làm, mà còn trở ngược lên tới Adam.  Chủ đích muốn nhấn mạnh rằng: Giêsu không phải chỉ là một người gốc Do Thái, mà Ngài còn là con người của hoàn vũ, mang dòng máu nhân loại.  Hơn nữa Ngài còn đề cập tới cuộc thăm viếng của Chúa tại một làng dân ngoại tên là Sa-ma-ria.  Ngài đã đề cập tới người ngoại tốt lành Sa-ma-ri-ta-nô.  Ngài nhắc tới người ngoại trong số 10 người phong cùi được chữa lành, chỉ mình Luca tường thuật những lời Chúa tuyên bố về sứ vụ của Người.

7. Cho biết vắn tắt nội dung và bố cục của Phúc Âm Thánh Luca?

    • Tin Mừng thời niên thiếu của Chúa (chương 1-2)
    • Sứ vụ của Chúa tại Galilê (chương 3-9)
    • Hành trình lên Giêrusalem (chương 9-18)
    • Sứ vụ tại Giêrusalem (chương 19-21)
    • Thương khó và sống lại (chương 22-24)

8. Phúc Âm của Luca có những đặc tính nào?

    • Là một soạn tác lịch sử được diễn đạt một cách văn chương trau chuốt.
    • Là một Phúc Âm cho những người bị áp bức.
    • Là một Phúc Âm cho dân ngoại.
    • Là một Phúc Âm của cầu nguyện.
    • Là một Phúc Âm của niềm vui.
    • Và là Phúc Âm đặc biệt nói về nữ giới.

9. Tính cách văn chương trong Phúc Âm của Thánh Luca như thế nào?

Vì là một người học thức uyên thâm, nên lối viết của ngài thật chải chuốt, tránh những từ Do Thái; nhưng vì tác giả cố bắt chước lối hành văn Cựu Ước của bản dịch Hy Lạp nên kiểu nói “và xảy ra là…” được lặp đi lặp lại nhiều quá hoá nhàm.  Bù lại tác giả biết bố cục câu chuyện, xếp đặt ý tưởng mạch lạc, đón trước rào sau kỹ lưỡng…  Tóm lại Phúc Âm của Thánh Luca là một soạn tác thật là công phu.

10. Làm sao Phúc Âm của ngài được gọi là Phúc Âm của người nghèo và bị áp bức?

    • Không Phúc Âm nào chúng ta có được một sự lưu tâm đáng yêu mà Chúa dành cho những người thu thuế và tội lỗi như trong Phúc Âm thánh Luca: Chúa đến để tìm kiếm những gì đã mất… một người nữ ngoại tình, một người thu thuế thống hối, một tên trộm ăn năn…
    • Không một Phúc Âm nào diễn tả được tấm lòng tha thiết của Chúa dành cho những người bơ vơ nghèo đói cho bằng dưới ngòi bút điêu luyện của Luca.

11. Tại sao gọi Phúc Âm Thánh Luca là Phúc Âm của niềm vui?

Là Phúc Âm của niềm vui vì ngay từ đầu, và bàn bạc trong Phúc Âm của ngài nhiều chỗ nói về niềm vui như ở đầu Phúc Âm là tin vui loan báo cho Za-cha-ri-a, truyền tin cho Maria.  Những niềm vui liên tục khi Thánh Gioan chào đời, lúc Chúa giáng sinh…

Những niềm vui trong chương 15 khi tìm thấy con chiên lạc, tìm được đồng tiền mất, gặp lại người con hoang và niềm vui hân hoan của các tông đồ khi trở lại Giêrusalem.  Ðúng như Harnack đã nói: “Có những nét vui tươi, can trường và chiến thắng âm vang trong toàn bộ cuốn Phúc Âm của Thánh Luca từ trang đầu cho tới trang chót.”

12. Thánh Luca có những nét cá biệt đặc sắc nào trong tường thuật giáng sinh của Chúa Cứu Thế?

Bằng giọng văn chương, Thánh Luca đã ghi lại cuộc truyền tin cho Ðức Maria, bài hoan ca của Mẹ Maria, bài ca của ông Gia-ca-ri-a chúc tụng Chúa, bài ca vinh danh của các thiên sứ trong đêm Chúa giáng sinh và bài ca của ông Si-mê-on: Giờ đây, lạy Chúa.

13. Lễ của ngài được mừng kính vào ngày nào trong năm phụng vụ?

Ngày 18 tháng 10 với danh tước là Luca thánh sử.

Nguồn:  http://tinmung.net

THÁNH TÊRÊSA AVILA

Thánh nữ Têrêsa sinh ngày 28 tháng Ba năm 1515 tại thành Avila, nước Tây Ban Nha.  Từ khi còn là cô gái nhỏ trong gia đình giàu có, Têrêsa và người anh trai là Rôđrigô đã ham thích đọc truyện các thánh và các đấng tử đạo.  Dường như đối với hai trẻ, các vị thánh tử đạo vào nước trời thật là dễ dàng!  Rồi hai trẻ bí mật trẩy tới một miền đất xa lạ, hy vọng ở đây có thể được chết cho Đức Chúa Giêsu.

Nhưng may thay, chưa đi được bao xa thì hai trẻ đã gặp người cậu!  Lập tức, ông đem các trẻ về cho bà mẹ đang lo lắng của chúng.  Rồi hai trẻ lại quyết định làm hai vị ẩn sĩ trong khu vườn của mình, nhưng việc này cũng chẳng thành công.  Các trẻ không có đủ đá để xây các túp lều cho mình.

Chính Thánh nữ Têrêsa Avila đã viết lại các mẩu chuyện vui này khi kể về cuộc đời thơ ấu của ngài.  Và sự việc là khi bước vào tuổi hoa niên, Têrêsa đã thay đổi hoàn toàn!  Têrêsa Avila ham thích đọc quá nhiều truyện tiểu thuyết và các truyện lãng mạn ngốc nghếch đến nỗi ngài đã giảm lòng ham ước cầu nguyện.  Têrêsa bắt đầu để ý nhiều về cách trang điểm để làm đẹp.  Nhưng sau khi trải qua một cơn bạo bệnh, Têrêsa Avila đọc truyện thánh Giêrônimô.  Và lập tức, Têrêsa Avila quyết định sẽ trở nên hiền thê của Đức Chúa Giêsu.  Têrêsa Avila gia nhập dòng Cátminh năm 1536.

Cả khi đã khấn dòng, Têrêsa Avila vẫn thường cảm thấy khó cầu nguyện.  Thêm vào đó, sức khỏe của Thánh nữ rất yếu kém.  Mỗi ngày, Têrêsa phung phí thời giờ vào những cuộc trò chuyện vô bổ.  Thế rồi một ngày kia, khi đứng trước bức ảnh của Đức Chúa Giêsu, Têrêsa cảm thấy hết sức đau buồn vì đã chưa yêu mến Người cho đủ.  Và thánh nữ bắt đầu tập sống cho riêng một mình Đức Chúa Giêsu dù phải hy sinh khó nhọc đến mức độ nào.  Đáp lại tình yêu của Têrêsa, Chúa Giêsu đã ban cho Thánh nữ đặc ân được nghe tiếng Chúa nói trong tâm hồn.  Têrêsa Avila cũng học biết cầu nguyện cách tuyệt diệu.  Thánh nữ nổi danh vì đã thiết lập thêm mười sáu tu viện Cátminh mới.  Các tu viện này chứa đầy các nữ tu ham ước sống cuộc đời thánh thiện.  Họ làm nhiều việc hy sinh vì lòng yêu mến Đức Chúa Giêsu.  Chính Têrêsa Avila đã nêu gương sáng cho các nữ tu này.  Thánh nữ cầu nguyện với rất nhiều tình yêu và thi hành các nhiệm vụ hằng ngày cách chăm chỉ.

Thánh nữ Têrêsa Avila là nhà lãnh đạo đại tài cũng như là một người rất mực yêu mến Đức Chúa Giêsu và Giáo hội.  Têrêsa Avila về trời năm 1582 và được Đức Thánh Cha Grêgôriô XV phong thánh năm 1622.  Đến năm 1970, Đức Thánh Cha Phaolô VI đã tôn nhận Têrêsa Avila làm nữ Tiến sĩ Hội Thánh đầu tiên của Giáo hội Công giáo.

Bất cứ khi nào cần một chút “sức đẩy tinh thần” để cầu nguyện cách tập trung và yêu mến hơn, chúng ta có thể cầu xin với thánh Têrêsa Avila.  Chúng ta hãy nài xin thánh nữ giúp chúng ta biết tìm những phương thế thực tiễn để có thể trung thành cầu nguyện mỗi ngày. 

**********************************

 CÁC CÂU CHÂM NGÔN THÁNH TÊRÊSA AVILA

–  “Tất cả tội lỗi đều do thiếu đức tin mà ra.”

– “Khi ta chỉ có một tham vọng làm đẹp lòng Chúa, thì chính Chúa sẽ ban cho ta sức mạnh để thắng mọi tình cảm khoe khoang.”

– Cái gì ngăn cản chúng ta dùng con mắt của tâm hồn để nhìn về Chúa? Ngài chỉ chờ đợi cái nhìn của chúng ta mà thôi.

– “Đừng để gì làm bạn xao động, và làm bạn sợ hãi. Mọi sự đều đang qua đi; Thiên Chúa không bao giờ thay đổi.  Sự nhẫn nại chịu đựng đem lại tất cả.  Ai có Thiên Chúa thì không thiếu thốn gì.  Một mình Thiên Chúa đã đủ.”

“Kẻ kiên nhẫn sẽ đạt được tất cả.” 

“Cho dù đang mắc tội trọng đi nữa, anh em cũng cứ cầu nguyện. Tôi xin đảm bảo với anh em rằng anh em sẽ đạt đến bến cảng phần rỗi.”

– “Trong quãng thời gian hai mươi tám năm, tôi đã mất hơn mười tám năm trời trong cuộc chiến giằng co vì tôi đã cố sức dung hoà Thiên Chúa với thế gian.”

– “Đừng bao giờ ngoan cố, nhất là trong những điều quan trọng. Chúa Kitô không cưỡng ép ý chí chúng ta, Người chỉ nhận những gì chúng ta dâng hiến cho Người mà thôi.  Nhưng Chúa cũng không ban mình hoàn toàn cho chúng ta cho đến khi nào Người thấy chúng ta phó mình trọn vẹn cho Người.”

– Thánh Têrêsa Avila, một hôm chịu quá nhiều đau khổ nên trách với Chúa rằng, “Tại sao Chúa lại để cho con nhiều thánh giá thế này.” Chúa liền hiện ra với chị Thánh và nói, “Vì Cha yêu thương con, nên Cha mới gửi đến cho con nhiều đau khổ, thánh giá, ngõ hầu con làm vinh danh Cha và cứu các linh hồn.”

– Trên đường đi thành lập một đan viện Carmelite, thánh nữ Têrêsa Avila đã bị lật xe và người ta nghe ngài kêu lên: “Thảo nào Chúa chẳng có bao nhiêu bạn hữu, vì Chúa đối xử với họ như thế này đây.”

 Sưu tầm