LỜI NGUYỆN KHIÊM NHƯỜNG

Có một thầy ẩn sĩ nọ nổi tiếng thánh thiện nhất trong vùng và hay làm phép lạ.  Tin đồn rằng:  Bất cứ điều gì Thầy xin đều được Chúa nhậm lời.

Một hôm, dân làng kéo đến xin Thầy cầu nguyện cho trời mưa, nhưng thay vì mưa thì trời nắng hạn hơn.  Một người mẹ vẫn nuôi hy vọng nơi đứa con bịnh nặng của mình đến xin thầy cầu nguyện cho đứa con trai được mau lành bệnh, nhưng đứa con lại chết sau đó vài ngày.  Vài người khác đến xin Thầy làm phép lạ cho đá trở thành bánh mì nhưng đá vẫn trơ ra đó.   Sau ba lần thử thách mà không được gì cả, dân làng nổi giận đuổi Thầy ra khỏi phạm vi của làng, nhứt định không cho Thầy trở lại trong vùng nữa.  Thầy ẩn sĩ tìm một hang đá khác, nơi rừng vắng, Thầy than thở với Chúa như sau:

“Lạy Chúa, con không hiểu tại sao lại xảy ra như vậy.  Con cầu xin Chúa cho mưa thì Chúa lại cho nắng hạn lâu hơn.  Con xin cho đứa trẻ được mau lành bệnh thì Chúa lại cho nó chết.  Con xin Chúa cho dân chúng bánh ăn, thì Chúa cứ để những viên đá trơ trơ ra đó.  Vì thế, Chúa xem đó, con bị mọi người xua đuổi, xem con như một người tội lỗi ghê gớm.”  Bấy giờ có tiếng từ trời đáp rằng:   “Này con yêu quí của Cha, Cha ban cho con những gì con đã xin Cha trước đó”.

Thầy ẩn sĩ không còn nhớ những gì mình đã cầu xin trước đó nên mới hỏi thêm:  “Nhưng lạy Chúa, lời cầu nguyện trước đó là những lời nào?”  Tiếng lạ đáp:  “Trước đây con đã xin Cha cho con được sống khiêm nhường”.

*******************

Quý vị và các bạn thân mến,

Con đã xin Cha cho con được sống khiêm nhường.  Nhưng khi được như ý thì Thầy ẩn sĩ lại than phiền.  Phải chăng lời cầu xin cho được sống khiêm nhường chỉ là một lời cầu nguyện khiếm diện?  Thầy ẩn sĩ không nghĩ gì đến sự nghiêm chỉnh của những lời cầu nguyện trước kia, vì ham danh lợi mà bị dân làng lèo lái, lợi dụng, muốn Thầy cầu nguyện cho được những lợi lộc cho riêng họ, thay vì cầu nguyện theo ý Chúa để ý Chúa được thể hiện.

Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận trong tập sách Đường Hy Vọng đã định nghĩa:  Cầu nguyện là mở rộng tâm hồn đón nhận tình yêu của Thiên Chúa Cha và Ngài đã khuyên như sau:  Chúa Giêsu dạy con cầu nguyên đầy lòng tin tưởng, mở rộng tâm hồn đón nhận tình yêu của Thiên Chúa Cha:  “Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Tin tưởng nơi Lời của Chúa Cha, như một đứa con đến xin bánh, xin cá, càng suy ngắm, con càng thấy lời cầu nguyện của người Kitô chủ yếu lại làm cho mình sẵn sàng đón nhận ơn của Chúa sắp đến, nước của Chúa sắp đến.  Khi con cầu nguyện chân thành, con khao khát Chúa đến, khi con lãnh nhận Chúa Thánh Thần, Ngài là ơn cao cả của Thiên Chúa Cha, ơn tình thương của Thiên Chúa Cha là nước Trời, được nước trời là được tha tội với điều kiện là con phải  yêu thương và tha thứ cho anh chị em.  Đọc kinh Lạy Cha, con khám phá ra rằng:  Yêu mến Chúa là được Chúa yêu thương chúng con, chính vì thế mà con phải sẵn sàng trông chờ Chúa.”

Sống khiêm nhường đích thực không gì hơn là mở lòng để đón nhận ý Chúa, mở lòng để sống theo ý Chúa.  Lời nguyện khiêm nhường là một lời nguyện đẹp nhưng ý thức để sống lời nguyện đó trong mỗi giây phút, mỗi biến cố của cuộc sống hiện tại không phải là dễ.

*******************

Lạy Chúa, xin dạy con biết cách sống khiêm nhường, khiêm nhường thẳm sâu từ trong tâm hồn để biết đón nhận ý Chúa cho dù có gặp thất bại khốn khó.  Một đứa con thơ chóng quên những gì nó đã thủ thỉ với cha mẹ trong những lúc vui vẻ.  Lạy Cha nhân ái, xin nhắc nhở những lúc con quên lãng, xin dạy dỗ những lúc con tối tăm, xin chăn dắt con từng bước để sống theo thánh ý Ngài.

R. Veritas

BIỂN HỒ CUỘC ĐỜI

Câu chuyện năm xưa

Vào một buổi chiều mùa xuân, mấy bạn chài xứ Ga-li-lê quyết định ra khơi.  Sau mấy năm làm môn đệ của vị tôn sư người Na-za-rét, cuộc sống họ đã ít nhiều thay đổi.  Vài tuần trước đây, họ đã gặp khủng hoảng khi người thầy yêu quý của họ bị kết án tử hình trong dịp lễ Vượt Qua.  Thấy thầy mình bị bắt bị giết, họ trốn tránh trong hoang mang lo sợ.

Nhưng trong lúc họ đang co quắp với nỗi sợ hãi của mình, Chúa Ki-tô Phục Sinh đã đến với họ.  Ngài chúc bình an và ban sức mạnh cho họ.  Ngài đã vượt thắng sự chết như lời kinh thánh đã tiên báo.  Ngài đang sống.  Đây không phải là ảo giác.  Họ đã cùng ăn uống với Ngài.

Đi trong niềm tin và hy vọng, họ trở về với cuộc sống thường nhật.  Chiều nay, họ cùng nhau ra khơi trên Biển Hồ quen thuộc.  Tuy có khác biệt về tay nghề, kiến thức, và ngay cả tính tình, họ liên kết với nhau trong niềm tin vào Chúa Ki-tô Phục Sinh.  Một nhóm ngư phủ mới đang chập chững thành hình.  Một nhóm bạn hăng hái và đầy ắp lý tưởng.  Cả đêm đó, họ cùng nhau làm việc, cùng hy vọng rồi thất vọng.  Những lần thả lưới rồi kéo lên, mà khoang thuyền sao vẫn trống vắng.

Sáng sớm tinh mơ, mặt hồ đầy sương.  Một tiếng vọng từ bờ hồ vang ra: “Này các chú, không bắt được gì ăn sao?”  Họ thở dài:  “Không có gì cả!”  Tiếng bên kia vẫn mời gọi: “Thử thả lưới bên mạn phải của thuyền xem sao, sẽ bắt được cá.”  Họ nhìn nhau, lòng ấm lại.  Lời khuyên của người khách bên bờ hồ làm bừng lên một tia hy vọng.  Vất vả cả đêm rồi nhưng không bỏ cuộc.  Họ cố thử thêm một lần nữa xem sao.

Quả nhiên, Trời không phụ lòng người.  Lưới không còn nhẹ tênh nhưng trĩu nặng đầy cá.  Từ ngạc nhiên đến vui mừng.  Họ thầm cám ơn người khách lạ trên bờ hồ đã chỉ cho họ thấy điều họ không thấỵ

Tuyệt vời hơn nữa, khi lên đến bờ người khách lạ đang chờ họ bên bếp lửa hồng, với bánh và cá nướng thơm lừng.  Vị khách mời họ ngồi xuống quanh bếp, lấy bánh và cá trao cho họ.  Không ai bảo ai, nhưng họ đều cảm nghiệm được vị khách ngồi trước mặt chính là Thầy mình.  Quanh bếp hồng, kỷ niệm trào dâng.  Làm sao quên được họ đã từng ăn một bữa bánh và cá rất no nê, từ năm chiếc bánh và hai con cá ít ỏi.  Làm sao quên được mẻ cá lạ năm xưa và lời mời gọi lên đường. 

****************************

Câu chuyện hôm nay,

Năm xưa các môn đệ cảm nghiệm tình yêu Thiên Chúa hiện diện giữa loài người, và sẵn sàng làm chứng cho tình yêu ấy.  Hôm nay, Chúa Ki-tô Phục Sinh vẫn tiếp tục đồng hành với chúng ta trong dòng đời.   Nhưng trên Biển Hồ của cuộc đời không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió.  Dòng đời thường có những khúc quanh bất ngờ.  Có những lúc, bạn cũng như tôi, chúng ta đối diện với những vất vả lên ghềnh xuống thác.  Có lúc đau khổ và mất mát ngập tràn phủ lấp niềm vui Phục Sinh.  Có những lúc mất lý tưởng và lạc lõng cô đơn.  Có lúc niềm tin bị chao đảo trước những thử thách của cuộc sống.  Có những lúc chúng ta giật mình hoảng hốt không còn nhận ra đâu là bến bờ.  Những lúc đó không dễ gì bạn và tôi nhận ra bàn tay quan phòng của Thiên Chúa.  Nhưng chính những lúc đó là lúc Chúa Phục Sinh âm thầm đứng bên Biển Hồ hỗ trợ và cổ võ chúng ta.

Khi chúng ta chán nản với những gánh nặng của cuộc đời, khi chúng ta thất vọng với chính mình hay với những người chung quanh, khi chúng ta nhìn đời với đôi mắt hoài nghi, chua chát, khoan! xin đừng bỏ cuộc buông trôi bánh lái.  Đấy là những lúc chúng ta đang gặp khủng hoảng và bị lạc hướng.  Những lúc này là lúc chúng ta cần đặt niềm tin vào lời mời thả lưới của Chúa Phục Sinh.  Ngài đang trao cho chúng ta tia sáng hy vọng.

Niềm tin căn bản của người Ki-tô là niềm tin vào một Thiên Chúa cùng đồng hành với chúng ta trong mọi nẻo đường của cuộc sống, ngay cả trong những lúc thất vọng và trống vắng nhất.

Điều quan trọng là cố gắng sống lạc quan.  Dù cả đêm vất vả, các môn đệ đã tiếp tục thả lưới vì họ nhớ lại những mẻ cá năm xưa.  Những lúc chúng ta chao đảo và trống vắng, xin nhớ lại những niềm vui đã có, những hồng ân đã nhận để xác tín rằng “sau cơn mưa trời lại sáng.”  Những nghi ngờ và thất vọng dễ làm cho chúng ta quên đi hình ảnh của một Thiên Chúa quan phòng.  Nếu chỉ dìm mình vào việc than thân trách phận thì chẳng những vấn đề chẳng được giải quyết, mà tinh thần chúng ta cũng suy xụp theo.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta mở lòng đón nhận phép lạ của cuộc sống hằng ngày.

Niềm tin Phục Sinh là xác tín của sự hy vọng.  Mẻ lưới đầy cá là phép lạ của sự tỉnh thức.  Đức Kitô không đổ cá vào thuyền của các môn đệ, Ngài bảo họ thả lưới ở bên kia mạn thuyền.  Người mở mắt họ để họ thấy mẻ cá đằng sau lưng.  Trong tình thế rối ren, đôi lúc chỉ cần ai đó cho chúng ta một chút ánh sáng, một chút hy vọng, và rồi mọi việc sẽ được giải quyết.

****************************

Lạy Chúa Ki-tô Phục Sinh, xin dạy con biết nhận ra sự hiện diện của Chúa trong dòng đời.  Trong những lúc con chao đảo thất vọng, xin khích lệ con.  Trong những lúc vất vả muộn phiền, xin nâng đỡ con. Trong những lúc con muốn buông xuôi tất cả, xin củng cố đức tin của con bằng phép lạ của sự tỉnh thức. Lạy Chúa, xin cho con niềm tin yêu và hy vọng nơi Chúa, vì Chúa là kim chỉ nam định hướng đời con. Amen.

Bảo Lộc

NIỀM VUI PHỤC SINH

Thân xác chúng ta thường mang những vết sẹo, hậu quả của những lần bị trầy trụa, té ngã. Có những vết sẹo gợi lại cả một vùng kỷ niệm. Dù vui hay buồn thì cũng là chuyện đã qua. Vết sẹo làm ta kém đẹp, nhưng không còn chảy máu và làm đau như xưa.

* * * * *

Chúng tôi đã được thấy Chúa“… Ðó là tiếng reo vui ngây ngất của các môn đệ. Thầy Giêsu, người đã bị đóng đinh, đã chết và được chôn cất, nay bất ngờ hiện đến, đứng giữa họ thật gần gũi. Thấy Thầy vẫn như ngày xưa, có khác chăng là Thầy có thêm những vết sẹo của dấu đinh và vết đâm.

Khi Ðức Giêsu phục sinh hiện ra thăm các môn đệ, Ngài giúp họ nhận ra Ngài nhờ những vết sẹo. Ngài cho họ xem những vết sẹo ở tay và cạnh sườn. Những vết sẹo nói lên một điều quan trọng: Thầy chính là Ðấng đã bị đóng đinh và đâm thâu; Thầy đã chết nhưng Thầy đã thắng được cái chết.

Chúng ta ngỡ ngàng khi thấy Chúa phục sinh có sẹo, dù điều đó chẳng đẹp gì. Ngài không ngượng mà cho các môn đệ xem. Những cái sẹo sẽ ở mãi với Ngài trên thiên quốc. Chúng gợi lên những kỷ niệm buồn phiền, thất bại, đớn đau. Nhưng nếu không có chúng thì cũng chẳng có phục sinh. Chẳng cần phải xóa đi khỏi ký ức cuộc khổ nạn kinh hoàng và cái chết nhục nhã. Chúng ta cũng lên thiên đàng với các vết sẹo của chính mình. Sống ở đời sao tránh khỏi những dập gẫy, thương tích. Nếu chúng ta đón nhận mọi sự với tình yêu thì mọi sự sẽ trở nên nhịp cầu cứu độ. Tin Mừng phục sinh là Tin Mừng về các vết thương đã lành. Có những vết thương tưởng  chẳng thể nào thành sẹo. Chúng ta có dám cho người khác thấy sẹo của mình không?

Cuộc khổ nạn của Thầy hôm nào đã làm các môn đệ bị thương. Nhưng các vết sẹo của Thầy hôm nay đã chữa lành những vết thương đó. Hẳn Tôma đã nhìn thật lâu những dấu đinh. Chính lúc đó ông khám phá thật sâu một tình yêu. Tình yêu hy sinh mạng sống và đủ mạnh để lấy lại. Tình yêu khiêm hạ cúi xuống để chinh phục ông. Ông đâu dám mong Thầy sẽ đích thân hiện đến để thỏa mãn những đòi hỏi quá quắt của mình. Lòng ông tràn ngập niềm cảm mến tri ân. Ông ra khỏi được sự cứng cỏi, khép kín, tự cô lập, để bước vào thế giới của lòng tin. Tôma đã tin vượt quá điều ông thấy. Ông chỉ thấy và chạm đến các vết sẹo của Thầy, nhưng ông tin Thầy là Chúa, là Thiên Chúa của ông.

Phúc cho ai không thấy mà tin” Chúng ta vẫn tin vào rất nhiều điều mà mình không bao giờ thấy. Các bạn trẻ vẫn tin vào tình yêu, tình bạn. Các đôi vợ chồng vẫn tin vào sự chung thủy của nhau, dù chẳng ai thấy rõ hết lòng dạ của nhau. Tin không phải là một hành vi mù quáng, phi lý. Tin chẳng hề làm hạ giá con người. Trái lại, chỉ con người mới biết tin và dám tin. Nhờ tin, tôi không còn bị giam hãm trong thế giới chật hẹp của cân đo đong đếm, nhưng được đưa vào một thế giới phong phú hơn nhiều: thế giới của những ngôi vị tự do, của chính Thiên Chúa. Tin là chấp nhận bấp bênh, là có thể bị lừa.

Tin bao giờ cũng đòi hỏi một bước nhảy vọt khỏi cái thấy. Chúng ta không được phúc thấy Chúa theo kiểu Tôma, nhưng chúng ta vẫn được thấy Chúa theo những kiểu khác. Cần tập thấy Chúa để rồi tin. Có khi phải tập nhìn lại những vết sẹo của mình, của Hội Thánh, của cả thế giới, để rồi tin rằng Chúa phục sinh vẫn đang có mặt giữa những trăn trở và vấp váp, thất bại và khổ đau. “Phúc cho những ai không thấy mà tin”, và phúc cho những ai “biết thấy nên tin”.

Ðể thấy được Chúa Phục Sinh, cần có đức tin. Ai tin thì mới thấy, và thấy để rồi tin hơn.

* * * * *

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, lúc chúng con tìm kiếm Ngài trong nước mắt, xin hãy gọi tên chúng con như Chúa đã gọi tên chị Maria đứng than khóc bên mộ.

Lúc chúng con chán nản và bỏ cuộc, xin hãy đi với chúng con trên dặm đường dài như Chúa đã đi với hai môn đệ Emmau.

Lúc chúng con đóng cửa vì sợ hãi, xin hãy đến và đứng giữa chúng con như Chúa đã đến đem bình an cho các môn đệ.

Lúc chúng con cứng lòng cố chấp và xa cách anh em, xin hãy kiên nhẫn và khoan dung với chúng con như Chúa đã không bỏ rơi ông Tôma cứng cỏi.

Lúc chúng con vất vả suốt đêm mà không được gì, xin hãy dọn bữa sáng cho chúng con ăn, như Chúa đã nướng bánh và cá cho các môn đệ bên bờ hồ năm xưa.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, xin ban cho chúng con “con mắt đức tin” để được nhìn thấy Ngài, để chúng con tin là Ngài đang sống, đang đến, và đang ở thật gần bên chúng con mỗi ngày. Amen.

Vietnamese Missionaries in Asia

KẾT HỢP VỚI CHÚA

Văn hào kiêm triết gia nổi tiếng người Ấn Độ Rabindranath Tagore đã viết như sau:

“Trên bàn tôi là một sợi dây Guitar, tôi xoay nó qua lại theo các chiều khác nhau, nó không bị ràng buộc chi cả.  Vì nó được cuộn tròn nên khi tôi xoắn đầu này thì đầu kia cũng bật dậy, sợi dây dẫy nẩy trong tay tôi, mà chẳng phát ra một âm thanh nào.  Hiện tượng này biến mất khi tôi buộc nó vào chiếc đàn Guitar, hai đầu bị gắn chặt để sợi dây căng thẳng, rồi với đầu ngón tay, tôi gẩy nhẹ vào sợi dây và lạ thay một âm vang nổi lên hầu như du dương.  Đây chính là lúc sợi dây được tự do để tạo nên nốt nhạc.

Cũng thế, trong cách trồng cây cà chua, cây yếu ớt ngã xoài trên mặt đất, nhiều khi lá bị héo úa dập nát.  Nhưng nếu cây được cột vào một cọc dựng đứng, mọi phần tử của cây được phơi ra ánh nắng, cây sẽ mơn mởn và đâm nhiều bông trái.  Chính vì bị ràng buộc mà cây đã có nhiều triển vọng sinh hoa kết quả.

**************************

Ràng buộc là một sự cần thiết.  Sợi dây Guitar chỉ tạo ra âm nhạc khi nó gắn bó với cây đàn, cây cà chua chỉ sai trái khi được nương tựa vào cây cọc nâng đỡ.  Trần gian này không có tự do hoàn toàn, cũng chẳng có ai có quyền lợi tuyệt đối.  “Không ai là một hòn đảo”.  Trái lại, mọi người phải liên đới với nhau, hành động của người này ảnh hưởng tới công việc của người kia.  Vì thế, muốn hưởng tự do của mình, ta phải tôn trọng tự do kẻ khác.  Nói cách khác, tự do của mỗi chúng ta ràng buộc lẫn nhau.

Là Kitô hữu, sự ràng buộc này còn chặt chẽ hơn nữa, vì chúng ta là con một Cha.  Chúng ta có bổn phận yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau; chúng ta phải nhường nhịn và tha thứ cho nhau; đồng thời cùng hợp lực chống lại cám dỗ của sa tan luôn rình rập gây chia rẽ và xúi ta phạm tội, nhất là phải chấp nhận hy sinh từ bỏ tính ích kỷ để chăm lo cho nhau như lời Chúa Giêsu đã phán:  “Nếu hạt lúa mì có mục nát đi trong lòng đất thì mới trổ sinh nhiều bông hạt” (x Ga 12.24).

Chúa Cứu Thế chính là tấm gương tuyệt hảo về sự từ bỏ chính mình để lo cho hạnh phúc của con người.  Tác giả thư Do Thái đã viết:  “Dầu là con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân mình đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5,9).

**************************

Lạy Chúa, con sẽ hoàn toàn vô dụng khi sống xa cách Chúa.  Như cây đàn Guitar, con chỉ vang lên bài ca tôn vinh khi con kết hợp cùng Chúa mà thôi.  Xin thên ơn can đảm để con dám từ bỏ chính mình mà sống theo thánh ý Chúa.  Xin đừng để con lìa xa Chúa bao giờ.  Amen!

Thiên Phúc

NGÔI MỘ TRỐNG

Đầu tháng 3/2007, kênh truyền hình Discovery đã cho trình chiếu một phim tài liệu mang tựa đề “Ngôi Mộ Thất Lạc của Chúa Giêsu”.  Nội dung xoay quanh việc khám phá khảo cổ năm 1980 ở khu Talpiot, phía đông Giêrusalem.  Mười hộp đựng cốt đã đưọc khai quật, trong đó có một hộp khắc tên Yêsu (Yeshua) con ông Yôseph.  Phải chăng đoàn làm phim đã kiếm được bằng chứng khảo cổ về con người Yêsu thành Nazarét?  Phải chăng đây là chứng cớ làm lung lay niềm tin vào Đấng Phục Sinh?

Các chuyên gia khảo cổ Do thái đã không cho là như thế.  Vì chín phần trăm đàn ông Do thái ở thế kỷ thứ nhất mang tên Yêsu; mười bốn phần trăm mang tên Yôseph, đây không phải là lần đầu tiên, và cũng không phải là lần cuối cùng những hộp đựng cốt như thế này xuất hiện.  Ít ra là đã có hai hộp mang tên Yêshua con ông Yôseph được khai quật từ năm 1930.  Câu chuyện tìm được hài cốt của Chúa Giêsu chỉ là giả tưởng.

Các tôn giáo lớn trên thế giới đều rất trân trọng những thánh tích thuộc về vị giáo chủ của mình, như ngọc xá lợi (xương cốt) của Phật Thích Ca, hoặc những lọn tóc của giáo chủ Môhamét.  Điều lạ lùng là người Kitô chẳng có một vật kỷ niệm gì thuộc về Chúa Giêsu.  Người chẳng để lại cho chúng ta một điều gì ngoài “ngôi mộ trống” và chứng từ của những môn đệ đầu tiên rằng Người đã sống lại.

************************************

Mừng Chúa Phục Sinh, chúng ta tuyên xưng rằng: đằng sau câu chuyện “Ngôi Mộ Trống” là sự hiện diện đích thực của một “Đấng Phục Sinh”, của một quyền năng có sức mạnh biến cải những trái tim đang đau buồn thất vọng thành bừng sáng tin yêu, biến những con người yếu đuối nhát sợ nên mạnh mẽ tuyên xưng đức tin dù phải lấy cái chết mà “làm chứng” Thầy mình đã sống lại và đang sống.

Vâng, câu chuyện “Ngôi Mộ trống”, ”Đức Kitô phục sinh” mãi mãi, muôn đời, khắp nơi, là câu chuyện của niềm tin căn bản của Kitô giáo.  Bởi vì câu chuyện nầy, biến cố nầy lại không là một sự kiện đột xuất, tình cờ của lịch sử, nhưng là một công trình vĩ đại trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Và sự cứu độ là gì nếu không phải là đem lại cho chúng ta niềm hy vọng nơi một Thiên Chúa luôn trung tín với tình yêu của Người?

Niềm tin Phục Sinh căn bản là một niềm tin vào một Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi những ai tín thác vào Người.  Niềm tin Phục Sinh là xác tín rằng cuộc đời không phải chỉ đầy dẫy những thất bại khổ đau.  Chúa sống lại có nghiã rằng đêm đen dù có dài đằng đặc nhưng sẽ có một ngày mai tươi sáng.

Cuộc sống nào mà lại không có những nhọc nhằn và phiền muộn? Ai trong chúng ta mà lại chẳng có lần thất vọng? Mà lại chẳng có lần thấy mình khổ đau?

Đường thánh giá là đường để đi, không phải là nơi dừng lại.  Điểm hẹn phải là biến cố Phục Sinh… Chúng ta không thể ở mãi trong than khóc của thứ sáu tuần thánh, nhưng phải bước vào niềm vui của Chủ Nhật Phục Sinh.

Chúa đã Phục Sinh!  Nhưng sự kiện Chúa Sống Lại có ích gì cho chúng ta, nếu như chúng ta không cảm nghiệm được tin mừng Phục Sinh?  Nói một cách khác, liệu chúng ta đã sống, đã chuẩn bị tâm hồn cho Chúa Phục Sinh vào ngự trị?  Hay bóng tối vẫn còn đầy?  Và Thần Chết vẫn còn thống trị?

Như vậy, điều quan trọng là làm sao để chúng ta có thể sống tin mừng Phục Sinh một cách trọn vẹn.  Làm sao cho tin mừng này chi phối mọi nẻo đường phục vụ và sống. Làm sao cho sứ điệp Phục Sinh đó, niềm vui đó, sức sống đó lan toả, chi phối đời sống cộng đoàn cũng như cuộc sống mỗi người.  Làm sao để gương mặt, lời nói, cách ứng xử của chúng ta luôn phản ảnh niềm vui phục sinh. Để rồi chúng ta có thể xác tín như Đức cố Hồng Y  F.X.  Nguyễn Văn Thuận rằng: “Trong tự điển của Kitô hữu, không có từ buồn”.

Mỗi lần chúng ta tiếp tục yêu thương dù bị từ chối, mỗi lần thất bại mà vẫn cố gắng, mỗi lần tiếp tục hy vọng dù hy vọng đã tan vỡ, mỗi lần lau khô dòng lệ và khởi sự lại, là chúng ta  tham dự vào mầu nhiệm và quyền năng phục sinh.

Như thế tin mừng phục sinh là không có gì có thể hủy diệt chúng ta, dù đau khổ, tật nguyền, tội lỗi, hay sự chết. Vì Đức Kitô đã chinh phục tất cả thì chúng ta cũng sẽ chinh phục tất cả nếu chúng ta đặt trọn niềm tin vào Người. Chúng ta hãy hoan hỉ vui mừng trong niềm tin đó.

Antôn Bảo Lộc

************************************

Lạy Chúa Giêsu phục sinh
lúc chúng con tìm kiếm Ngài trong nước mắt,
xin hãy gọi tên chúng con
như Chúa đã gọi tên chị Maria đứng khóc lóc bên mộ.

Lúc chúng con chán nản và bỏ cuộc,
xin hãy đi với chúng con trên dặm đường dài
như Chúa đã đi với hai môn đệ Emmau.

Lúc chúng con đóng cửa vì sợ hãi,
xin hãy đến và đứng giữa chúng con
như Chúa đã đến đem bình an cho các môn đệ.

Lúc chúng con cố chấp và xa cách anh em,
xin hãy kiên nhẫn và khoan dung với chúng con
như Chúa đã không bỏ rơi ông Tôma cứng cỏi.

Lúc chúng con vất vả suốt đêm mà không được gì,
xin hãy dọn bữa sáng cho chúng con ăn,
như Chúa đã nướng bánh và cá cho bảy môn đệ.

Lạy Chúa Giêsu phục sinh,
xin tỏ mình ra
cho chúng con thấy Ngài mỗi ngày,
để chúng con tin là Ngài đang sống, đang đến,
và đang ở thật gần bên chúng con. Amen.

Trích Manna năm C

NGÔI MỘ TRỐNG – DẤU CHỈ PHỤC SINH

Con người ở đời thường khởi sự bằng cái “có” : có địa vị, có quyền thế, có bằng cấp, có tiền của, có sức mạnh, có tài năng. Nhưng Thiên Chúa lại thường khởi sự bằng cái không. Trong sách Sáng Thế, Thiên Chúa khởi sự từ cái hoang vu trống rỗng, không không Lúc khởi đầu Thiên Chúa sáng tạo trời đất, đất còn trống rỗng chưa có hình dạng, tối tăm bao trùm vực thẳm và Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên nước” ( St 1, 1 – 2 ).

Cái hoang vu trống rỗng của “ngày thứ nhất” trong công trình sáng tạo trời đất sẽ lại xuất hiện trong một “ngày thứ nhất” khác: “Ngày Chúa Ki-tô sống lại từ cõi chết”. Ðó là cái hoang vu trống rỗng của Ngôi Mộ Trống mà Ma-ri-a Mác-đa-la đã chứng kiến và đau buồn thốt lên “Người ta đã lấy mất xác Chúa tôi rồi”, Phê-rô ngạc nhiên trong hoài nghi, Gio-an đã thấy và đã tin.

Tất cả được khởi đầu bởi một sự kiện lạ lùng. Các phụ nữ ra mồ thấy tảng đá lăn ra khỏi mộ. sau đó Phê-rô, Gio-an không còn thấy xác Ðức Giê-su trong ngôi mộ mở toang. Có lẽ lúc này Phi-la-tô còn đang ngủ, các Thượng Tế, Kinh Sư, Kỳ Mục cũng thế. Họ ngủ thật say, sung sướng vì đã dẹp yên được một chướng ngại từng làm họ ghen tức, mất ăn mất ngủ. Mọi sự đã được giải quyết đúng như sự sắp đặt khéo léo của họ. Cái tên Giê-su rồi sẽ bị quên lãng, chẳng còn ai nhắc tới. Tảng đá to đã niêm phong cửa mộ. Giê-su Na-da-rét đã đi vào lòng đất lạnh.

Ðối với những người vẫn thương mến Chúa Giê-su thì kể như đã hết, không còn gì ngoài những kỷ niệm xót xa chua chát. Một thực tế phũ phàng trĩu nặng nỗi âu lo sợ hãi. Niềm hy vọng lớn lao xưa đã bị chôn vùi cùng với Giê-su Na-da-rét. Sáng nay, mấy chị em phụ nữ ra mộ thì cũng chỉ có mục đích là ướp lại cái xác không hồn chưa kịp thối rữa. Họ đi tìm một cái xác, một kẻ chết nhưng họ đã đối diện với Ngôi Mộ Trống. Ma-ri-a Mác-đa-la đau khổ thốt lên “người ta đã đánh cắp xác Chúa tôi rồi”. Các Thiên Thần hiện ra cắt nghĩa Chúa đã sống lại. Không biết các bà đã tin hay chưa, họ vội chạy về báo tin cho các Tông Ðồ. Phản ứng của Phê-rô là thinh lặng, Ông đang phân vân. Nếu có kẻ lấy trộm xác Thầy thì tại sao kẻ gian lại mất công xếp đặt khăn liệm và các dây vải cách thứ tự và gọn gàng như thế ? Ông vẫn còn bàng hoàng về những lỗi lầm chối Thầy với niềm ăn năn thống hối, Ông chưa hiểu sống lại nghĩa là gì. Còn Gioan ông đã thấy và đã tin. Ông đã thấy gì ? Thấy các dấu chỉ lạ lùng của Ngôi Mộ Trống, khăn liệm và các thứ dây được xếp gọn gàng. Chính bởi Gio-an đã chứng kiến dấu lạ Chúa Giê-su cho La-da-rô sống lại, khi La-da-rô được Chúa cho sống lại, ông ngồi dậy, nhưng thân mình còn quấn chặt các thứ khăn liệm, còn ở đây, mọi thứ được xếp gọn gàng. Gio-an nhớ lại lời Chúa Giê-su: Ngài phải chịu đau khổ trước khi bước vào vinh quang. Nhờ ghi nhớ Lời Chúa mà đức tin đã đến với Gio-an sớm hơn Phê-rô.

Trước mọi phản ứng đó, Ðức Ki-tô Phục Sinh đã biểu lộ một sự chiến thắng âm thầm, không rình rang giữa tiếng kèn trống, reo hò của toàn dân. Ðức Ki-tô đã chiến thắng tử thần, thân thể bằng xương bằng thịt của Ngài hôm nay đã được “Thần Khí Hoá” và từ đây Người sống hoàn toàn bởi Thần Khí, vì chỉ “Thần Khí mới làm cho sống, còn xác thịt thì có ích gì” ( Ga 6, 36 ).

Ðức Ki-tô đã sống lại thật trong vinh quang. Ngài không mặc lấy một thân xác khác, thân xác Phục Sinh của Ngài vẫn chính là thân xác trước đây chịu khổ hình, chết thập giá, nay thân xác đó được biến đổi, thân xác tâm linh không hư nát. Sự Phục Sinh của Ðức Ki-tô không chỉ là phục hồi sự sống như trước mà còn chuyển qua thể thức hiện hữu mới. Thân xác của Ngài được Thần Khí hóa không bị vật chất cản trở. Ðấng Phục Sinh đã nhiều lần hiện ra với các Tông Ðồ để củng cố đức tin cho họ chuẩn bị tâm hồn các ông đón nhận Chúa Thánh Thần, trở nên chứng nhân rao truyền sự chết và sống lại của Con Thiên Chúa.

Ngày nay nếu muốn làm chứng cho Ðức Ki-tô Phục Sinh, chúng ta cũng cần khởi đi từ Ngôi Mộ Trống như các Tông Ðồ ngày xưa. Nói theo ngôn ngữ tu đức thì chúng ta trở về với đời sống thanh bạch, đó là đời sống trong sạch, ngay lành và có tinh thần nghèo khó.

Thế giới hôm nay không thiếu những dấu chỉ của Ðấng Phục Sinh. Nhưng người ta không nhận thấy được Ngài vì thiếu tâm hồn ngay thẳng trong sạch “Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” ( Mt 5, 8 ). Nói khác đi, mỗi tâm hồn chúng ta là một ngôi mộ trống. Ngôi Mộ Trống là ngôi mộ không còn xác Chúa nhưng còn dấu chỉ Ðấng Phục Sinh, đó là khăn liệm và khăn che mặt. Tất cả những gì nhân loại dùng để trói buộc Chúa Giê-su, che mặt Người, cần phải cởi ra và xếp gọn một bên. Gio-an đã đi vào Ngôi Mộ Trống, Ông nhìn với cặp mắt trong sạch nên đã thấy và đã tin. Ông không thấy Chúa, nhưng thấy dấu chỉ của Phục Sinh, dầu vậy ông vẫn tin. Chúng ta không thấy Chúa mà vẫn tin vì “Phúc cho ai không thấy mà tin” ( Ga 20, 29 ). Chúng ta không thấy Chúa nhưng chúng ta thấy Ngôi Mộ Trống là cái thế giới bao la đầy dấu chỉ sự hiện diện của Người. Ta cũng có thể thấy Chúa trong trong tâm hồn khiêm nhu, tự hạ, quên mình, trong sự bình an thanh thản của nội tâm. đó là những dấu chỉ mà Ðấng Phục Sinh ban tặng.

Không có Phục Sinh, đức tin chúng ta chỉ là hảo huyền, cuộc sống chúng ta có ý nghĩa gì nếu không có gì sau hết, nếu tất cả chỉ dừng lại ở đời này ? Nhìn lại đời sống mình, chúng ta sẽ nhận thấy vô vàn sự Phục Sinh, rất nhiều những cuộc vượt qua nho nhỏ trong đời sống hướng tới Phục Sinh. Khi một tình bạn, một tình yêu bị tan vỡ, chúng ta biết hàn gắn lại bằng yêu thương thì đó không phải là sự Phục Sinh sao ? Khi mà chúng ta có kinh nghiệm về sự tha thứ, dẹp tan lòng thù hận, oán ghét thì đó là cuộc vượt qua phi thường…

Như mùa xuân sau đông tàn, Phục Sinh mãi mãi vọt lên trong đời sống chúng ta những chồi lộc ân sủng, những sức sống tươi trẻ. Tin vào Ðấng Phục Sinh là thắp lên ánh sáng mới, là đón nhận tình yêu mới cho mùa xuân tâm hồn.

(Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN)

* * * * *

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã chiến thắng sự chết bằng chính sự phục sinh của Ngài. Xin  cho con cảm nhận được niềm vui “ơn phục sinh” và luôn nhận ra Chúa Phục Sinh đang hiện diện giữa cuộc sống của con hôm nay để mai này con cũng được phục sinh với Ngài, Amen .

SỰ BẤT LỰC CỦA CHÚA

Em gọi tôi với giọng nghẹn ngào.  Con em mất rồi.  Tôi bàng hoàng sửng sốt.  Một ánh sao vụt tắt.  Một hy vọng tàn phai.  Lặng người đi, tôi biết nói gì với em bây giờ…

Sáu tháng trước em gọi báo tin vui.  Hai vợ chồng lấy nhau đã lâu.  Mong mãi một đứa con, mà bây giờ mới được.  Nhìn mặt em rạng rỡ, tôi vui lây.  Mong em được mẹ tròn con vuông.   Mong em được nghe tiếng trẻ thơ, vui cửa vui nhà.

Thế nhưng, Trời chẳng chiều lòng người.  Bao nhiêu niềm mơ ước vụt tan như mây khói.  Em lặng lẽ thu mình trong nước mắt.  Đau khổ đang gặm nhắm trái tim em.  Tại sao?  Và tại sao?  Chẳng ai có thể cho em câu trả lời xác đáng… Bác sĩ cũng chẳng biết nguyên do.  Chỉ biết rằng con em đã mất.  Nó mất đi khi chưa được thấy mặt trời.  Nó mất đi khi chưa nếm được dòng sữa mẹ.

Tại sao Chúa bỏ con?  Tiếng kêu xé lòng của em cũng là tiếng kêu của Đấng bị đóng đinh trên thập giá.  Tiếng nghẹn ngào cũng là tiếng lòng của một bà Mẹ bất lực đứng nhìn con dưới chân thập tự.  Đau đớn.  Mất mát.  Phải chăng đời chỉ toàn là bất hạnh khổ đau?

********************************

Tôi mời em hãy đến với thập giá của Chúa Giêsu.  Đứng dưới thập giá, em và tôi, chúng ta nhìn thấy gì?  Tại sao Chúa lại chấp nhận sự yếu hèn, bất lực này?  Tại sao Chúa lại phải chết tất tưởi thế kia?  Không lẽ nào một người đã từng làm biết bao phép lạ lại không cứu nổi chính mình?  Không lẽ một con người đầy quyền năng lại bất lực trước sự dữ?  Tại sao thế?

Không, Đức Giêsu không chạy trốn sự chết, dù rằng đã có lần phải run sợ trước chén đắng của cuộc đời.  Không, Ngài đã không khước từ thập giá cho dù thập giá là biểu tượng của khổ đau, của thất bại, của nhục nhã.  Ngài không bỏ thập giá vì Ngài muốn gánh lấy những thương tích của biết bao người bị đau khổ và bỏ rơi.  Ngài đã chấp nhận cái chung cuộc tồi tàn nhất của một con người vì Ngài muốn đồng hành với con người ngay trong sự tận cùng của cái chết.  

Vâng, Chúa Giêsu vẫn nằm đó trên thập giá!  Chẳng nói năng chi.  Chẳng sợ hãi trước những lời chế diễu và sỉ vả.  Một Đấng thật quyền năng, nhưng cũng rất là bất lực!

Em có tin vào Chúa Giêsu này không?  Tin vào một Thiên Chúa cũng đã chết, cũng đã chạm đến sự tận cùng nhất của cuộc đời?  Một Thiên Chúa cũng chia sẻ sự hẩm hiu, bội phản, ruồng bỏ và thất bại của con người?

Trong cái chết, Chúa Giêsu đã hiệp thông với nỗi đau của em, nỗi khổ của gia đình em, cũng như biết bao nhiêu lao nhọc, bệnh tật, đau đớn, thất bại, mất mát của mỗi một người chúng ta.  Ngài đã mặc xác phàm để thông phần vào để gánh lấy sự yếu đuối mỏng dòn của kiếp con người.  Ngài đã đi qua cái chết để rồi chúng ta được về cõi vĩnh hằng.  Ước gì chúng ta nhận ra được một Thiên Chúa quyền năng trong một thân xác mỏng dòn yếu đuối, một thân xác đang bị treo lơ lửng trên thập tự.

********************************

Lạy Chúa Giêsu trên thập tự, xin ở với con trong giờ phút đen tối này.  Xin để con ẩn náu mình trong vết thương của Chúa.  Xin cho con lòng bình thản để đối diện với mất mát và đau khổ của cuộc đời. Và qua đó, xin cho con biết nhận ra được tình yêu vô biên trong sự bất lực của Chúa.  Amen

 Antôn Bảo Lộc

YÊSU, TÌNH YÊU KHỔ NẠN

                   +
Christ Jesus is all…

Hỡi YÊSU, hỡi Người yêu dấu
Con yêu Người, Đấng cam chịu khổ đau
Tình thương Người thật quá nhiệm mầu!
Thương con quá chịu khổ hình thập giá!

Chiều thứ sáu, chiều thương đau khổ nạn
Tội lỗi con, Người tự nguyện cưu mang
Tâm tư Người chua xót, bàng hoàng
Phản bội, chối từ, con nỡ tâm đành đoạn!

YÊSU hỡi,
Tội đời con chất chồng theo năm tháng
Để kết thành án tử cho YÊSU
Thành gai nhọn đâm thấu lòng nhân ái
Thành roi đòn,
lời xỉ nhục,
rẻ khinh
YÊSU vẫn thanh thản chịu khổ hình!

YÊSU hỡi,
Con nhớ mãi chiều đau thương khổ nạn
Thân nát tan, máu tuôn tràn lai láng
Đớn đau nào xé nát tâm can
Để lộ ra tim rực lửa tình ái?

YÊSU hỡi,
Tiếng đinh đóng, tiếng hồn con ai oán
Tiếng thét gào kết án tử YÊSU
Vẫn lặng thinh, sự thinh lặng tha thứ
Chẳng lời trách cứ,
Chẳng tiếng than van
Trung thành tiến bước
Lòng từ bi vô hạn
Người tiến đến
tột đỉnh của yêu thương.

YÊSU hỡi,
Con quá đỗi tầm thường
Sao Người thương, thương con quá bội?
Tình thương Người
Ôi tình thương vời vợi!
Con lấy gì đáp đền Người,  Người ơi?

Tình YÊSU, một mối tình tự hiến
Như hạt miến được gieo vào lòng đời
chịu nghiền nát,
thối mục,
chịu chết đi
để hạt giống đâm mầm
và nảy hạt.

NYKT

PHÉP LẠ THÁNH THỂ Ở SIENA,  Ý NĂM 1330

Thành phố Siena của nước Ý  từ trước tới nay vẫn đã nổi tiếng vì có thánh Catarina và thánh Bênadinô Albizesca lừng danh, mà còn nổi tiếng vì còn có hai phép lạ về Thánh Thể Chúa Giêsu. Phép lạ Thánh Thể thứ nhất xẩy ra vào năm 1330, rồi đúng 400 năm sau là năm 1730, phép lạ Thánh Thể lần thứ hai lại diễn ra. Cả hai phép lạ Thánh Thể tại thành phố này hiện nay người ta còn lưu giữ cả một sưu tập lớn lao chứng minh, gồm đầy đủ các chi tiết sự việc đã xẩy ra.

1- Phép lạ thứ nhất:  liên quan đến vị linh mục có nhiệm vụ săn sóc cho một bệnh nhân trong giáo xứ thuộc vùng ngoại ô thành phố. Câu chuyện được ghi lại rằng có một nông dân đau nặng, người trong gia đình đến mời vị linh mục tới cho bệnh nhân được lãnh nhận các bí tích thánh, nhất là bí tích Cáo Giải và Xức Dầu. Vị linh mục mau mắn tới Nhà Tạm lấy Mình Thánh Chúa, nhưng vì vội vã, thay vì đặt Minh Thánh Chúa vào trong hộp bạc thì vị linh mục lại kẹp vào trong trang sách nguyện. Rồi ngài cặp vội cuốn sách nguyện dưới nách đi thẳng tới nhà bệnh nhân.

Khi tới nhà bệnh nhân, vị linh mục gặp gỡ bệnh nhân, giải tội cho bệnh nhân, cho bệnh nhân chịu các Phép Bí Tích. Sau đó đọc các kinh như thường lệ rồi ngài mở sách nguyện lấy Mình Thánh Chúa cho bệnh nhân rước lễ, thì lạ lùng quá sức! Mình Thánh Chúa đã chảy máu và hầu như đã tan! Vị linh mục bồi hồi xúc động và sợ hãi, ngài vội gấp sách lại và vội vã trở về thành Siêna. Trong khi đó, cả bệnh nhân cũng như những người trong gia đình bệnh nhân không ai  hay biết sự việc lạ lùng vừa xẩy ra.

Hối hận vì sự cẩu thả vội vã của mình và lương tâm cắn rứt, vị linh mục đã đi thẳng tới Tu Viện các Cha Dòng thánh Augustinô để trình bày mọi chi tiết cho Cha Fidati, một nhà Thần Học và cũng là một nhà giảng thuyết nổi tiếng thời đó. Ngài đã được Đức Giáo Hoàng Grêgôriô thứ 14 phong thánh. Vị linh mục cũng cho cha Simone xem hai trang sách có dấu máu của Mình Thánh Chúa rồi trao cuốn sách nguyện ấy cho cha Simone giữ.  Sau đó vị linh mục xin xưng tội vì sự cẩu thả của mình. Sau một thời gian cha Simone lấy một trang sách có Máu Thánh Chúa làm quà tặng cho các đồng bạn, là các cha dòng thánh Augustinô ở Perugia. Rất tiếc món quà này bị mất năm 1866, thời kỳ nhà dòng này bị đàn áp. Trang sách thứ hai còn để lại trong một hộp bằng bạc. Trong một thời kỳ bất an khác, hộp di thánh được đem về Cascia quê hương của cha Simone. Nơi đây lòng mộ mến Thánh Thể trổi vượt nơi các linh mục cũng như các người cầm quyền của thành phố. Tài liệu lưu trữ của thành phố vào năm 1387 còn được lưu  giữ tại tòa Thị Sảnh Cascia, cho chúng ta nhiều tài liệu về lễ Mình Thánh Chúa hằng năm. Trong ngày lễ, Thị Trưởng, các Thành Viên Hội Đồng thành phố và đông đảo dân chúng đã tập họp lại nơi nhà thờ, kiệu và dâng thánh lễ tôn vinh Thánh Thể Chúa Giêsu và Thánh Tích. Thành phố đã cung cấp 10 cân nến dùng cho ngày lễ được tổ chức hàng năm.

Phép lạ cũng được Đức Thánh Cha Bôniphaxiô thứ 9 tôn vinh. Ngài đã chấp thuận việc tôn kính Thánh Tích trong sắc đề ngày 10.1.1401. Đức Giáo Hoàng đã rộng rãi ban nhiều ân xá cho những ai viếng nhà thờ thánh Augustinô trong ngày lễ Mình Thánh Chúa. Ngày 7.6.1408, Đức Thánh Cha Grêgôriô thứ 12 chấp thuận lòng tôn kính Thánh Tích và ban thêm các ân xá cho những ai đến viếng nhà thờ đặt Thánh Tích này. Thánh Tích cũng còn được các Đức Giáo Hoàng Sixtô thứ 9, Innôxentê thứ 13, Clêmentê thứ 11 và Piô thứ 7 tôn vinh.

Năm 1962, một cuộc khám nghiệm toàn bộ Thánh Tích cho chúng ta biết thêm những chi tiết sau đây: Kích thước trang sách là 52x 44mm, đường kính vết máu là 40mm. Mầu vết máu đỏ hơi nâu. Qua kính hiển vi thì máu đỏ hơn. Các phân tử máu được xác định rõ ràng. Tình trạng vẫn nguyên vẹn. Một hiện tượng khác có trong vết máu là khi coi bằng kính hiển vi nhỏ hơn, thì thấy hình một người đàn ông nét mặt âu sầu. Hình ảnh này cũng được nhìn thấy trong các ảnh chụp.

Năm 1930 Hội Nghị Thánh Thể đã được tổ chức tại Cascia vào dịp kỷ niệm 600 năm phép lạ. Trong biến cố này, người ta dùng một mặt nhật mới để lưu giữ Thánh Tích. Như vậy cung thánh của Vương Cung thánh đường thánh Rita ở Assisi được phúc lưu giữ 3 thánh tích:

– Thi thể không hư hoại của thánh Rita.

– Hài cốt của thánh Simone Fidati.

– Thánh Thể phép lạ năm 1330.  Riêng thánh tích phép lạ đã được lưu giữ hơn 650 năm.

**************************

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
Chúa đến với chúng con
dưới dạng tấm bánh bình thường.
Tấm bánh chẳng nói gì, chỉ biết lặng lẽ chờ đợi.
Tấm bánh hiện diện là để phục vụ cho con người.
Tấm bánh quá đỗi mong manh, nhỏ bé,
có thể bị ẩm mốc làm hư hoại,
và tan rất mau sau khi được nhận lãnh.

Lạy Chúa Giêsu, có cái gì tương tự
giữa phận làm người và phận làm bánh của Chúa.
Xin cho chúng con biết cách
đến với con người hôm nay :
đơn sơ, khiêm hạ,
không chút vinh quang hay quyền lực.
Nhờ ăn tấm bánh của Chúa,
chúng con cũng trở nên tấm bánh ngon,
được bẻ ra để đáp ứng khẩu vị của nhiều người.

Ước gì chúng con dám rước Chúa
đi vào mọi vùng mờ tối của lòng mình,
để sự hiện diện của Chúa trong con được lớn lên.
Và ước gì chúng con trở thành
những Nhà tạm biết đi,
đem Chúa đến cho đồng bào
và quê hương chúng con. Amen!

Trích RABBOUNI

CÂU CHUYỆN RỬA CHÂN

Năm nay, những ngày cuối Mùa Chay và Tuần Thánh, mấy anh em Dòng Chúa Cứu Thế chúng tôi ở miền Nam được gọi đi giúp Đại Phúc (một tuần ) hoặc Tiểu Phúc ( 3 ngày ) ở các tỉnh miền Bắc. Các anh em ở ngay tại miền Bắc thì đã rong ruổi từ giữa Mùa Chay lên các tỉnh vùng Tây Bắc xa xôi cách trở. Có lúc cụm lại làm việc chung, có lúc tản ra mỗi người lo một xứ, rồi lại hẹn gặp nhau về chung một Giáo Xứ khác tại một Giáo Phận khác. Được gọi được mời đi giúp khắp nơi như thế này anh em chúng tôi mừng lắm, vì được sống đúng với đặc sủng của Nhà Dòng từ Thánh Tổ An Phong truyền lại cho đến ngày nay.

Thế rồi, trong những lúc ngồi trò chuyện với các cha Xứ, chúng tôi nghe được lắm điều hay. Ví như chuyện tại nhiều xứ đạo miền Bắc gốc gác do các cha Dòng Tây Ban Nha khai mở bao đời nay, khó khăn thế nào, o ép ra sao thì vẫn cứ cố mà giữ cho được cái nếp xưa, những thói tục đạo đức bình dân. Tuy nhiên cũng đã đến lúc phải mạnh dạn xem xét lại và đổi mới nhiều chuyện, bình dân đến đâu thì cũng phải lo sao cho sát với Kinh Thánh, đúng với Thần Học, giá trị nghệ thuật cũng phải kha khá và từ đó khơi lên được những tâm tình tôn giáo sâu sắc mà chừng mực, đạt được cả mục tiêu giới thiệu Đạo mình với mọi người chung quanh.

Có cha chép miệng than:

-“Ai đời chúng nó bôi mày vẽ mặt làm quân dữ, chạy rầm rầm đi bắt Chúa, hô hoán quát tháo, xô tượng đứng lên trong Nhà Thờ xong, thành công rồi là kéo nhau đi đánh chén be bét suốt đêm, lễ lạc Tuần Thánh chẳng coi ra gì. Con thì… cấm hết, dẹp hết !”

Nhưng cũng có cha lý luận rằng đó là một truyền thống cổ xưa cần bảo tồn, và ngài đưa ra sáng kiến sẽ canh tân bằng cách làm kịch bản sân khấu hóa đàng hoàng, rà soát lại nội dung, tạo bầu khí cầu nguyện trang nghiêm mà sống động, đưa thêm âm nhạc, thêm Thánh Ca vào, dạng như hoạt cảnh. Và quan trọng nhất là dứt khoát nghiêm cấm cái khâu nhậu nhẹt thịt chó.

Lại bàn đến chuyện rửa chân Thứ Năm Tuần Thánh. Các cha mình lâu nay vẫn làm theo thói quen, nay thì đang có khuynh hướng muốn đột phá cách tân. Nghe đâu có một cha bên hải ngoại đặt vấn đề sao không rửa chân cho các bà mà lại chỉ chọn các ông ? Thế là có cha chịu khó tìm đọc lại phần chữ đỏ trong Sách Lễ Rô-ma xem sao, thì thấy có ghi rất rõ về nghi thức Rửa Chân như thế này: “Các người giúp lễ sẽ hướng dẫn những người đàn ông đã được tuyển chọn đến ghế dọn sẵn. Sau đó Linh Mục (cởi áo lễ nếu cần ), với các người giúp lễ, đi đến từng người, đổ nước trên chân họ và lau…”

Trong thực tế, có nhiều nơi không ngờ sinh ra muôn vàn giống tội cũng từ cái chuyện “những người đàn ông đã được tuyển chọn”, lòng dạ con người ta khiếp lắm, giành giựt, gièm pha, đố kỵ, khích bác nhau để “phấn đấu”, “tranh thủ” cho được một chỗ trong hàng ghế các “Tông Đồ” ! Thế là có cha quyết định năm ấy không chọn trước bất cứ người nào nữa. Cả Giáo Xứ đồn đại lao xao xì xào, không khéo có người lại định bụng sẽ đi mách với… Đức Cha. Thế rồi đúng chiều Tiệc Ly, trên cung Thánh quả thật không thấy dọn các ghế ngồi cho các ông “Tông Đồ” như mọi năm, cha Sở cùng một chú giúp lễ bưng một chậu nước, khoác tấm khăn bông trên tay, băng băng đi xuống lối giữa Nhà Thờ, rồi bất ngờ dừng lại ở một người nọ, quỳ xuống rửa chân luôn, mặc cho anh ta cuống quít lọng ngọng. Cứ thế, lại bất ngờ dừng ở một người thứ hai, người thứ ba, cho đến người thứ mười hai, rải rác khắp các nơi trong giáo đường, hầu hết đều là những người đàn ông ngồi ở ngay các đầu ghế. Bất ngờ đến thế thôi chứ cha cũng không dám bất ngờ quay sang các dãy ghế bên kia chọn cả các bà để rửa chân !

Chúng tôi cũng xin tham gia góp chuyện. Tôi kể lại lần mình được dâng Lễ Thứ Năm Tuần Thánh tại một nhà thờ do các chị Dòng Phan-sinh Thừa Sai Đức Mẹ phụ trách. Vừa bước ra đầu Lễ, tôi đã thấy hay hay vui vui, cũng hơi lo lo hồi hộp vì các soeurs “chịu chơi” quá, chọn luôn mười hai tông đồ là sáu cậu bé áo sơ-mi trắng và sáu… cô bé áo đầm đồng phục học sinh. Đến lúc bắt đầu nghi thức rửa chân, tôi lại ngẩn ngơ một lần nữa vì phát hiện ra có một số em bị “thông manh”, nhìn thoáng qua không ai nghĩ các em là người khiếm thị ở Mái Ấm Như Nghĩa. Thú thật, tôi quỳ xuống rửa chân mà lòng bàng hoàng xúc động. Tôi bất giác nâng đôi bàn chân nhỏ nhắn xanh xao gầy gò của từng em để đặt lên đó một nụ hôn trân trọng và trìu mến.

Các soeurs sau Thánh Lễ có bảo tôi:

-“Cha ơi, đâu có ai bắt cha phải hôn chân người ta đâu !”

Tôi liền kể lại cho các chị nghe ấn tượng từ gần bốn mươi năm trước, khi còn là một chú thiếu niên, tôi đã gặp được nơi cha Pacifique Nguyễn Bình An, Dòng Phan-xi-cô. Lần ấy, cũng buổi chiều Tiệc Ly, cha Bình An đã tận tụy ân cần quỳ rửa và sau đó cúi gập người xuống để hôn chân từng người, trán cha lấm tấm những hạt mồ hôi, không phải do nóng bức mùa hè mà do cha đã kiệt sức lắm rồi. Không lâu sau đó, cha qua đời vì căn bệnh ung thư quái ác. Mẹ tôi đi dự đám tang ngài về cứ xót xa tiếc thương:

-“Cha tốt lành quá, ông Thánh sống nên chả trách Chúa cất về sớm !”

Còn bố tôi thì bảo:

-“Cha là người Bình An đến… hai lần đấy !”

Tôi tò mò hỏi tại sao thì mới được bố tôi giải nghĩa cho biết tên thánh của cha cũng là Bình An.

Thế rồi Tam Nhật Thánh năm nay cũng đã đến, tôi xin Đức Cha Bắc Ninh cho hai anh em DCCT chúng tôi được về giúp phụng vụ ở trại phong Quả Cảm thân quen. Cô Xuân và cô Yên, hai chị Tu Hội Thánh Tâm đang phục vụ ở đây mừng lắm, bảo là biến cố lịch sử vì có lẽ phải hơn 50 năm rồi trại phong chưa bao giờ có Thánh Lễ Tam Nhật Thánh. Chúng tôi bàn với nhau rồi ngỏ ý với các bệnh nhân: “Ở đây chỉ có hơn 20 người Công Giáo cả ông lẫn bà, cả anh lẫn chị tham dự thì xin cho rửa chân hết”

Phút chót, dễ thương quá, có thêm hai cụ ông là người bên Lương đến xin dự Lễ nữa, vậy mà cũng chẳng thể gom đủ 12 ông như quy định của Sách Lễ Rô-ma. Vậy là yên tâm lớn, không sợ các đấng các bậc đem luật chữ đỏ ra bắt lỗi !

Năm giờ rưỡi chiều, Thánh Lễ bắt đầu… Đến nghi thức rửa chân thì có một tình huống bất ngờ xảy ra, một cụ ông giơ tay xin phát biểu:

-“Thưa hai cha, con không còn chân để được rửa ạ !”

Tôi buột miệng:

-“Cụ ơi, không sao, chúng con sẽ rửa tay cho cụ vậy !”

Dãy ghế bên này thêm một cụ bà thắc mắc:

-“Nhưng thưa cha, con cũng chẳng còn tay để cho cha rửa đâu !”

Chúng tôi nhìn kỹ, quả thật đôi tay của cụ không còn bàn, cũng chẳng còn ngón nào, nó cụt ngủn ở cổ tay với những mấu mứu đầu xương nhô ra mà thôi. Cha Hoàng Xô Băng nói luôn:

-“Thưa, nếu không còn tay thì ta rửa… mặt vậy !”

Cả ngôi nhà thờ bé nhỏ với mấy chục con người hạnh phúc đã cười vang, không quên kèm theo một tràng pháo tay lụp bụp của những bàn tay không còn bàn và thiếu ngón như thế…

Trời ơi, đối với anh em chúng tôi, có lẽ trong suốt cuộc đời mục vụ sau này, sẽ mãi mãi chẳng bao giờ quên được kỷ niệm xúc động tuyệt vời có một không hai ấy…

Lm. LÊ QUANG UY, DCCT
(www.chungnhanduckito.net)