THƯ CHỊ LUCIA KHUYÊN LẦN CHUỖI MÂN CÔI

Chúa Nhật 13-2-2005 Chị Lucia Dos Santos êm ái trút hơi thở cuối cùng nơi Đan Viện Kín Cát-Minh Coimbra bên nước Bồ-Đào-Nha hưởng thọ 98 tuổi.

Chị Lucia sinh ngày 22-3-1907 tại làng Fatima nước Bồ-Đào-Nha.  Chị Lucia cùng với 2 em họ Phanxicô và Giaxinta Marto được diễm phúc trông thấy Đức Mẹ MARIA hiện ra lần đầu tiên tại Fatima ngày 13-5-1917 và lần cuối ngày 13-10-1917, cách đây đúng 90 năm.  Phanxicô Marto qua đời năm 1919 hưởng dương 11 tuổi và Giaxinta Marto qua đời năm 1920 hưởng dương 10 tuổi.  Hai anh em Phanxicô và Giaxinta Marto được Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II (1978-2005) tôn phong chân phước ngày 13-5-2000 trong Thánh Lễ trọng thể cử hành tại đền thánh Đức Mẹ ở Fatima.

***********************

Lúc sinh thời, Chị Lucia Dos Santos viết một bức thư gởi các Cộng Đoàn Thánh Mẫu về tầm quan trọng, quyền lực và sức hữu hiệu của việc lần hạt Mân Côi.

Anh chị em rất thân mến.  Tôi khuyến khích anh chị em đọc lại và suy gẫm sứ điệp Đức Mẹ MARIA gởi đến chúng ta trong đó Đức Mẹ nhấn mạnh quyền lực và sức hữu hiệu của Kinh Mân Côi.  Kinh Mân Côi đạt mức thành công rất lớn trên Trái Tim THIÊN CHÚA và Trái Tim Con Chí Thánh của Ngài.

Vì vậy mà trong những lần hiện ra, chính Đức Mẹ MARIA cũng dự phần vào việc lần hạt Mân Côi như nơi Hang Đá Lộ-Đức với thánh nữ Bernadette Soubirous (1844-1879) vào năm 1858, và tại Fatima khi hiện ra với tôi và Phanxicô cùng Giaxinta vào năm 1917.

Và chính trong lúc lần hạt Mân Côi mà Đức Mẹ MARIA xuất hiện nơi đám mây rồi đứng trên cây sồi xanh và nói chuyện với chúng tôi từ trong ánh sáng của Đức Mẹ.  Về phần tôi, từ Đan Viện Kín Cát-Minh ở Coimbra này, tôi hiệp ý với tất cả anh chị em để chúng ta cùng nhau tạo thành một mặt trận hùng mạnh đại đồng của kinh nguyện và của lời cầu xin.

Tuy nhiên xin anh chị em ghi nhớ rằng không phải chỉ riêng tôi góp lời cầu nguyện với anh chị em mà còn có toàn thể triều thần thiên quốc cùng hợp chung tiếng hát hòa điệu với các tràng kinh Mân Côi nhịp nhàng anh chị em đọc.  Thêm vào đó cũng có các Đẳng Linh Hồn nơi Lửa Luyện Tội kết hợp lời nguyện xin tha thiết của các vị với lời khẩn cầu của anh chị em.

Ngoài ra ngay mỗi khi bàn tay anh chị em mân mê tràng chuỗi Mân Côi và bắt đầu lần hạt Mân Côi thì tức khắc các Thánh Thiên Thần và Các Thánh Nam Nữ cũng hòa nhịp với anh chị em trong lời Kinh.

Chính vì các lý do trên đây mà tôi khuyến khích anh chị em hãy sốt sắng lần hạt Mân Côi. Anh chị em hãy lần hạt Mân Côi với trọn tâm tình với Đức Tin và cùng lúc hãy suy gẫm ý nghĩa các mầu nhiệm của Kinh Mân Côi.

Tôi xin nhắc nhở anh chị em rằng đừng đợi đến khuya-lắc khuya-lơ mới lẩm nhẩm lời Kinh Kính Mừng. Đừng lần hạt Mân Côi khi anh chị em đã mệt-nhừ sau một ngày lao công vất vả! Xin anh chị em hãy lần hạt Mân Côi riêng hoặc lần hạt chung nơi cộng đoàn, lần hạt trong gia đình hay ngoài gia đình, lần hạt trong nhà thờ cũng như khi đi lại trên đường phố. Anh chị em hãy lần hạt Mân Côi với tâm tình đơn sơ như bước theo từng bước đi của Đức Mẹ MARIA và của Đức Chúa GIÊSU Con Dấu Ái của Đức Mẹ.

Anh chị em hãy lần hạt với trọn Đức Tin để cầu cho các trẻ em sắp sinh ra, cho người đau khổ, cho người đang làm việc cũng như xin cho người hấp hối được ơn chết lành.

Mỗi khi lần hạt Mân Côi anh chị em hãy hiệp ý với mọi người công chính trên toàn cõi địa cầu cũng như với tất cả các Cộng Đoàn Thánh Mẫu, nhưng nhất là anh chị em hãy lần hạt Mân Côi với trọn tâm lòng đơn sơ con trẻ, bởi vì, tiếng nói trẻ thơ thường hòa nhịp êm ái với tiếng hát du dương của các Thánh Thiên Thần.

Đã có không biết bao nhiêu lần, chỉ một tràng hạt Mân Côi thôi, đủ để làm nguôi cơn thịnh nộ của THIÊN CHÚA Chí Công khiến THIÊN CHÚA tuôn đổ Tình Yêu từ bi thương xót của Ngài trên thế giới và cứu được nhiều linh hồn khỏi hư mất và bị trầm luân đời đời trong Lửa Hỏa Ngục.  Chính với tràng chuỗi Mân Côi, với việc sốt sắng lần hạt Mân Côi mà chúng ta sớm được trông thấy ngày Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ MARIA chiến thắng trên thế giới.

Tôi xin ưu ái ôm hôn tất cả anh chị em.
Ký tên: Nữ Tu Lucia Dos Santos.

***********************

… ”Có điềm lớn xuất hiện trên Trời: một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao .. Lại có điềm khác xuất hiện trên Trời: đó là một con Mãng Xà, đỏ như lửa, có bảy đầu và mười sừng, trên bảy đầu có vương miện. Đuôi nó quét hết một phần ba các ngôi sao trên trời mà quăng xuống đất .. Bấy giờ có giao chiến trên Trời: Thiên Thần Micae và các Thiên Thần của Người giao chiến với con Mãng Xà.  Con Mãng Xà cùng các thiên thần của nó cũng giao chiến. Nhưng nó không đủ sức thắng được, và cả bọn không còn chỗ trên Trời nữa. Con Mãng Xà bị tống ra, đó là con Rắn xưa, mà người ta gọi là ma quỷ hay Satan, tên chuyên mê hoặc toàn thể thiên hạ. Nó bị tống xuống đất và các thiên thần của nó cũng bị tống xuống với nó… Khi con Mãng Xà thấy mình đã bị tống xuống đất, nó liền đuổi bắt người Phụ Nữ đã sinh con trai… Nhưng đất cứu giúp bà: đất há miệng ra uống cạn dòng sông từ miệng con Mãng Xà phun ra. Con Mãng Xà nổi giận với người Phụ Nữ và đi giao chiến với những người còn lại trong dòng dõi bà, là những người tuân theo các điều răn của THIÊN CHÚA và giữ lời chứng của Đức Chúa GIÊSU KITÔ” (Sách Khải Huyền 12,1-17).

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
http://www.radiovaticana.org/vie/index.asp

THÀ CHẾT VINH CÒN HƠN SỐNG NHỤC

Từ ngày tổ tông loài người thoả hiệp với ma qủy quay lưng lại với Thiên Chúa, ma qủy thường dùng chiêu thức này để kiếm thêm đồng minh chống lại Thiên Chúa.  Trong vườn địa đàng nó đã nói cùng Adam – Eva: “cứ ăn đi ngươi sẽ bằng Thiên Chúa.”  Ông bà đã ăn.  Ông bà đã bắt tay cùng satan để chống lại Thiên Chúa.  Con cháu Adam từ đời này đến đời nọ vẫn còn vô số người vì sự an nhàn bản thân, vì mong tìm kiếm lợi lộc, tìm hư danh trần thế, họ vẫn bằng lòng quay lưng lại với Thiên Chúa để làm tôi cho ma qủy, để tận hưởng khoái lạc mau qua trần gian.

Và cũng từ ngày Con Thiên Chúa từ chối thoả hiệp với sa tan, các môn đệ của Chúa trải qua bao thời đại vẫn còn đó những tấm gương quả cảm, anh dũng can trường từ chối thoả hiệp với sa tan.  Họ thà nghèo đói để được bình an tâm hồn hơn là kiếm tiền bằng việc phi nhân thất đức mà lòng chẳng chút bình an.  Họ chấp nhận vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời vua chúa trần gian, cho dù phải tù đầy, gian truân khốn khó.  Họ chấp nhận đánh mất mùa xuân hạn hẹp trần gian để đổi lấy mùa xuân bất diệt thiên đàng.

Hôm nay chúng ta mừng kính 117 thánh tử đạo Việt Nam, là con số tượng trưng cho hơn 130 ngàn vị tiền nhân đã chết trong các đợt cấm đạo tại Việt Nam từ cuối thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 19.  Họ đã chết không phải vì chống lại triều đình.  Họ đã chết không phải vì lỗi công bình bác ái với tha nhân.  Họ đã chết vì không chịu thoả hiệp với thế gian.  Giữa sự sống và sự chết chỉ cách nhau một lằn ranh.  Lằn ranh đó chính là cây thập giá.  Bước qua thì được thoát khỏi cực hình trần gian.  Bước qua thì được trở về với vợ con, với xóm làng, với chức tước vua ban và bổng lộc trần gian, nhưng các thánh tử đạo Việt Nam đã không vì thế mà chối Chúa, bỏ đạo.  Không thể vì ham sống sợ chết mà phải chà đạp lên thập giá là bỏ cơ hội sống đời đời để đổi lấy cuộc sống lây lất tạm thời trần gian.  Các ngài thà chịu đòn roi, thà chịu án tử hình để trung kiên theo Chúa, để lãnh phúc triều thiên vinh quang bất diệt trên quê trời còn hơn là làm tôi mọi cho ma qủy.  Như trường hợp ông đội Bường đã thẳng thắn trả lời với quan quân: “Bên đạo chúng tôi ai chết trẻ là đi đường tắt, ai chết già là đi đường trường.  Song đàng nào cũng tới quê thật là nước thiên đàng vậy.”  Thế nên, thánh nhân đã khuyên nhủ các đồng đạo rằng: “Chúng ta hãy vui lòng chịu mọi sự khốn khó để giữ nghĩa cùng Chúa cho đến khi nào thánh ý Chúa định thể khác.  Nếu quan có hành hạ thì hãy can đảm chịu đựng.  Hễ xác chết rồi thì hồn chúng ta bay thẳng về trời, không sợ gì roi đòn.  Chịu sự khó như vậy là vác thánh giá theo Chúa Giêsu.  Nếu có đau đớn quá thì hãy xin Đức Mẹ phù trợ cho được bền lòng đến cùng.”

Đọc lại tiểu sử các thánh tử đạo Việt nam chúng ta thấy có vô số lời dụ dỗ thật ngọt ngào.  Tại Hà Tĩnh, các quan cho gọi những người đứng đầu các họ đạo Công Giáo đến và vẽ hình chữ thập xuống đất rồi bảo họ: “Chúng tôi chẳng muốn bắt ép quí vị điều gì trái nghịch với đạo.  Chúng tôi biết đây không phải là thánh giá mà quí vị tôn thờ.  Vậy hãy bước qua để chúng tôi có thể trình lại với vua là chúng tôi đã thi hành lệnh, nếu không chúng tôi mắc lỗi trước mặt vua.”  Riêng tại Nghệ An, ông quan tỉnh đã nói với người công giáo: “Các ông thật dại dột để mình phải khổ sở.  Làm sao chống lại được với lệnh vua? Đạo ở trong lòng chứ đâu có ở bên ngoài.  Tạm chối đi, rồi hai ba tháng sau theo trở lại.  Hãy xem thánh Phêrô đã chối đạo ba lần mà vẫn còn được cất nhắc lên cao.”

Song le, có nhiều phản ứng khác nhau.  Có kẻ giả vờ bước qua để sống an nhàn.  Có kẻ đã thản nhiên bước qua vì gia đình và dòng họ còn cần đến mình.  Nhưng vẫn còn đó nhiều người không chịu bước qua dù chỉ là giả vờ, dù chỉ là tạm thời bỏ đạo rồi khi sóng gió đi qua lại quay về với Thiên Chúa.  Họ đã vui lòng đón nhận mọi khốn khó để nói lên lòng trung thành với đức tin vào Chúa.

Riêng cha Anrê Dũng Lạc, dù rằng quan quân mở lối thoát bằng việc cho giáo dân đem tiền chuộc Ngài nhưng ngài vẫn cương quyết chối từ.  Các giáo dân đã tới trại giam khuyên nhủ cha rằng: “Thưa cha, cha chịu chết thì một mình cha lên thiên đàng, mà nếu cha còn ở lại thì bổn đạo chúng con được nhờ, vậy xin cha nghĩ lại.”  Nhưng cha Lạc đã cấm họ đem tiền chuộc, cha nói: “Tôi bị bắt lần này là lần thứ ba, thì đó đúng là thánh ý Chúa định cho tôi như vậy, anh chị em đừng mất tiền chuộc tôi làm gì.  Tôi cũng như Thánh Phêrô, khi phải bắt lần trước được giáo dân cầu nguyện cho và được về, lần thứ hai giáo dân cũng lo liệu cho được thoát khỏi, nhưng ý Chúa đã định cho tôi phải chết vì Người như thánh Phêrô, thì xin anh em đừng chuộc tôi nữa.”

Là con cháu các thánh tử đạo Việt Nam, chúng ta luôn tự hào vì có các vị tiền nhân đã quả cảm để sống niềm tin, nhưng liệu rằng chúng ta hôm nay còn mấy ai dám khước từ những thoả hiệp trần gian để trung kiên với đức tin của cha ông để lại?  Vẫn còn đó những con người vì chút bổng lộc trần gian đã bỏ đạo, đã chống đối đạo.  Vẫn còn đó những con người vì miếng cơm manh áo, vì tương lai của con cái đã chẳng giữ đạo hay theo đạo một cách hời hợt.  Có cũng như không.  Vẫn còn đó những con người vì tiền mà bán mình, bán con để kiếm đồng đô la bất chính.  Họ thà rằng lỗi luật Chúa còn hơn là bỏ lỡ cơ hội lấy tiền, lấy bạc.  Họ thà rằng mất mặt với bà con xóm làng còn hơn là mất túi ba gang mà “quạ đen ban tặng.”  Vẫn còn đó những con người bỏ Chúa chứ không bỏ tiền, bỏ Chúa chứ không bỏ tình, bỏ giáo hội chứ không bỏ danh vọng trần gian.

Lạy các thánh Tử Đạo Việt Nam là cha ông của chúng con, xưa các ngài đã dùng máu đào để bảo vệ đức tin xin gìn giữ chúng con luôn trung kiên theo Chúa, dám khước từ danh lợi thú trần gian để nên chứng nhân cho Nước Trời trong cuộc sống hôm nay.

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

CÁI MƠN

Hôm nay lưng quần của tôi vừa lại với cái bụng nhờ các chị Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn tẩm bổ.  Tôi đến Cái Mơn, Bến Tre, giảng khóa tĩnh tâm Linh Thao với cơn cảm lạnh, ho sặc sụa và ho ra cả đờm xanh, còn cái lưng quần rộng khoảng bốn phân (2 inches), phải xiết chặt dây nịt cho khỏi tuột.  Chị y tá của Hội Dòng khám xong bảo tôi bị suy dinh dưỡng vì cơ thể ăn uống thiếu chất.  Chị cho thuốc và chích calcium cho tôi cùng với chị nhà bếp tẩm bổ liên miên nên sau bốn ngày tôi khỏe hẳn ra.  Cám ơn Chúa đã đưa tôi đến vùng Bến Tre đầy tràn tình thương và ưu ái này để được “đổ xăng” sau những ngày lam lũ ở Lào.

Chúa dẫn tôi đến đây để hướng dẫn Linh Thao cho các em tập sinh năm thứ nhất và các ứng sinh của Hội Dòng.  Con số lên đến 93 em làm tôi hơi ngộp, chưa kể mười mấy chị đã khấn rồi cũng tham gia “ké” vào ở những hàng ghế cuối.  Cũng may Dì Bảy Phụng, Bề Trên Hội Dòng, đề nghị tôi dành thời giờ ưu tiên gặp riêng 24 em tập sinh năm thứ nhất, còn những em khác khi nào có chỗ trống thì gặp.  Mỗi ngày tôi dâng Lễ, cho ba đề tài và gặp riêng 9 em, nên cũng còn được ít thời gian nghỉ ngơi.  Thông thường ngày đầu của các khóa rất ít người đến gặp, khóa này ngày nào cũng đầy, ngày đầu tiên cũng vậy, chẳng có chỗ nào trống, đã vậy đôi khi có vài em xin “ké” vào dăm mười phút.  Sáng cuối cùng ra khóa không có chương trình gặp ai mà vẫn có thêm năm em xin gặp riêng.  Cám ơn Chúa đã dùng tôi như một khí cụ của Chúa để giúp nhiều tâm hồn quay trở về với Chúa.

Tôi được diễm phúc chứng kiến nhiều phép lạ Chúa làm trong các khóa Linh Thao.  Tôi thấy những xác chết được Chúa ban ân sủng cho sống lại.  Tôi thấy những người bệnh tật, mù, què, câm điếc được Chúa thương chữa lành.  “Em mang vết thương lòng này bao lâu rồi?”  Tôi hỏi, và em trả lời: “Dạ đã nhiều năm rồi, em bị vết tổn thương này quá đau đớn và oan ức nên hận lắm, mà không biết và cũng không dám nói với ai vì xấu hổ, và mặc cảm tội lỗi.”  Vết thương này làm tâm hồn em chết lịm, chai lì, và chìm ngập trong bóng tối của Sự Dữ.  Em tự an ủi mình vết thương này lâu ngày sẽ quên đi và sẽ lành, nhưng thực tế là mỗi lần nhớ đến là mỗi lần đau nhói lên, mỗi lần nhắc lại là ràn rụa nước mắt đau đớn.  Vết thương chẳng bao giờ lành.  Em không có khả năng tự cứu rỗi lấy em.  Bóng tối của Sự Dữ như vết dầu loang, và ngày càng tràn ngập tâm hồn em với một bóng đêm ghê rợn như đi vào một hang tối đen không có lối thoát.  Em tuyệt vọng.  Và trời đã tối.  Em nghĩ chỉ còn một cách là chôn vùi vết thương này tận sâu kín trong cõi lòng.  Em đi dần vào ngõ cụt, lạc lối đi và mất cả lối về.  Em bắt đầu mất bình an và trở nên khô khan, hay gắt gỏng, khó chịu, khó tha thứ, khó cảm thông, nhìn đời chỉ thấy u ám, nhìn người với ánh mắt ngờ vực và thành kiến.  Trong ánh mắt em chỉ còn thấy một màu sám ảm đạm của màn đêm.

Em mở lòng kể cho tôi nghe trong nước mắt và đau đớn vì những vết thương nặng nề trong tâm hồn, một tâm hồn đã chìm ngập và bị giam cầm trong vũng lầy tối tăm đã bao nhiêu năm mà không có lối thoát.  Em khóc cho thân phận hẩm hiu của em.  Chúa đến.  Và Chúa đã khóc với em.  Khi em can đảm mở lòng, em đã cho phép lăn tảng đá chai lì che lấp hầm mộ vết thương này đi.  Nhìn phiến đá chai lì bên ngoài, em tưởng đã lành, em tưởng “nó” đã chết và đã hết, nhưng khi phiến đá được mở ra, vết thương còn đầy máu mủ, hôi tanh vì đã lâu ngày rồi.  Phiến đá lòng hé mở và ánh sáng ân sủng tràn vào ngập cả tâm hồn.  Ánh sáng tình yêu bao trùm tâm hồn em, xóa tan mọi bóng đêm của Sự Dữ.  Em vẫn khóc, nhưng từ những giọt nước mắt đau đớn xót xa trở thành những giọt nước mắt ân sủng, những giọt nước mắt của niềm vui sống lại, nước mắt của hy vọng, và tâm hồn em tràn ngập sự sống của Thiên Chúa.  Em gào lên trong sung sướng vì quá hạnh phúc tung tăng trước nhan Chúa.  Em như một xác chết biết đi nay đã sống lại.  Em đã chết mà nay đã sống lại.  Cả triều thần thiên quốc cùng vui mừng hoan hỷ mở tiệc ăn mừng vì một người con của Thiên Chúa đã chết, đã bị giam cầm trong ngục tù tối tăm của Sự Dữ đã bao nhiêu năm, nay được ân sủng của Chúa đưa về vùng trời ánh sáng của tình thương và hy vọng.

Ngắm nhìn em đi từ bóng tối tuyệt vọng đến ánh sáng hy vọng, từ đau khổ tuyệt vọng đến niềm vui tràn đầy hạnh phúc, từ một tâm hồn đã chết mà nay sống lại và tràn ngập sự sống, làm tôi được vui lây.  Tôi được ăn “ké” niềm vui của em và niềm vui sướng của cả triều thần thiên quốc.  Tôi như anh tài xế taxi chở em đi gặp vị bác sĩ đại tài tên là Giêsu.  Em cứ đòi tôi chữa bệnh và cho em lời khuyên phương thuốc cứu chữa, tôi nói tôi không có khả năng đó vì tôi chỉ là người tài xế taxi nhưng em không tin và em thất vọng lắm, tôi chỉ có thể giúp đưa em gặp bác sĩ mà thôi.  Đến khi em gặp Chúa Giêsu Đấng chữa lành thì em mới hiểu lời tôi nói.  Em đã gặp Ngài.  Em tung tăng vui sướng trong hạnh phúc ân sủng.  Em muốn gào thét lên cho tất cả thế giới biết Thiên Chúa Tình Yêu mà em được cảm nhận chữa lành.  Nhìn Chúa, em chỉ biết cảm tạ muôn hồng ân.

Tôi cũng ngỡ ngàng như em trước những kỳ công, ân sủng và phép lạ Chúa làm.  Tôi cũng đã cùng em cảm tạ, chúc tụng Thiên Chúa là Đấng nhân từ và giàu lòng thương xót.  Tôi ngỡ ngàng vì Chúa đã thương chọn tôi làm môn đệ cho Ngài.  Tôi kinh ngạc khi được Chúa mời hợp tác trong chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa.  Nhìn lại bản thân mình, tôi thấy mình vẫn là một kẻ tội lỗi, yếu đuối, bất tài và vẫn cứ cà lăm như xưa, mà Chúa lại sử dụng một cách lạ lùng.  Ngày nào tôi cũng yếu đuối.  Và rồi ngày nào tôi cũng thân thưa cùng Chúa: “Bố ơi, con lại té nữa rồi, con lại làm Bố buồn nữa rồi, ngày mai con hứa sẽ làm cho Bố vui nghe.”  Và Chúa nhìn tôi mỉm cười, ôm tôi vào lòng và hôn tôi.  Ngày mai Chúa biết tôi vẫn cứ té và Chúa vẫn tiếp tục tha thứ.  Chúa hiền quá và tôi vẫn cứ “ăn hiếp” Chúa hoài.  Quỷ không nghỉ ngơi đâu, ngày nào chúng nó cũng dụ dỗ, dọa dẫm tôi.  “Mày yếu đuối quá, tội lỗi quá, mày bất xứng mà không biết thân phận, không biết xấu hổ à!”  Nó tìm đủ mọi cách làm cho mặc cảm tội lỗi của tôi lớn dần lên để rồi lánh xa Chúa.  Tôi xấu hổ vì những yếu đuối của tôi nhưng tôi không mặc cảm.  Tôi đón nhận tôi là một con người, là một kẻ yếu đuối tội lỗi, và vẫn yếu đuối mỗi ngày, nhưng tình thương của Chúa to lớn hơn tất cả những tội lỗi yếu đuối của tôi.  Càng yếu đuối bao nhiêu thì tôi lại chạy đến Chúa bấy nhiêu.  Càng thấy tôi yếu đuối tội lỗi thì tôi lại thấy tình yêu cao cả của Chúa bấy nhiêu – một tình yêu vô điều kiện.

Lạy Chúa Giêsu là Thiên Chúa của lòng con.  Con cảm tạ tình Chúa yêu con và tin tưởng chọn con, trao cho con sứ mạng được làm ngôn sứ, tư tế và vương đế, dù rằng con vẫn tội lỗi và bất xứng.  Con đang mang trên người một chức Thánh nhưng con người con thì không, con được đặc ân mang một dấu ấn của Chúa, nhưng con vẫn bất toàn, tội lỗi và yếu đuối.  Con cảm tạ Chúa vì đã thương dùng con và tin tưởng trao ban sứ mạng cao cả này.  Xin Chúa tiếp tục đồng hành với con và dạy dỗ con, để con mỗi ngày trở nên giống Chúa hơn.  Cám ơn Chúa đã hạ mình mang thân phận con người chia sẻ cuộc sống với con để con hiểu và cảm thông với Chúa, để con yêu Chúa hơn, và để con can đảm quyết chí bước theo Ngài.  Lạy Chúa, con sung sướng và ngỡ ngàng thấy cách Chúa sử dụng con.  Xin Chúa thương tiếp tục sử dụng con dù rằng con bất xứng.  Amen!

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.
October 6, 2007

TÂM TÌNH BIẾT ƠN

Cám ơn Người luôn nhớ đến con
Cho con biến đổi từ thân xác
Cho con niềm trung trinh tín thác
Dù biết tình con đã nhạt nhòa.
Cám ơn Người vẫn chưa quên
Một gã phong cùi mất tuổi tên
Mất luôn tất cả tình xưa cũ
Đời con phiêu bạt sống bên đường.

* * * * *

Bạn thân mến! Hơn hai ngàn năm trước đây, tôi đã sinh ra và lớn lên trong vùng Samari bên miền đất Do Thái ngày nay. Từ ngày khôn lớn, vì cuộc sống lam lũ nghèo đói, tôi đã phải bôn ba vất vả hàng ngày để kiếm sống, và cũng từ ngày đó, tôi đã mang trong người căn bệnh hiểm nghèo: bệnh phong cùi.  Ngày tháng trôi qua, căn bệnh không có thuốc chữa này đã lấy đi những ngón tay ngón chân của tôi, nó cũng làm cho khuôn mặt của tôi biến đổi thành dị hợm khó coi.

Vào thời đó, luật lệ và quan niệm của con người cho rằng người mắc bệnh phong là người tội lỗi, là hiện thân của hình phạt mà Thiên Chúa đã giáng xuống. Người mắc bệnh phong cũng bị thân nhân và người đời ruồng bỏ, bị gạt ra khỏi cộng đoàn xã hội.  Hàng rào ngăn cách bởi luật lệ ngăn cấm tôi không được tiếp xúc với những người không mắc bệnh.  Chính vì điều này mà những người mắc bệnh phong như tôi đã phải liên kết với nhau để nâng đỡ nhau, sống quây quần bên nhau làm thành một xã hội của những người phong cùi.

Một ngày kia, tôi nhìn thấy Giêsu trên đường đi. Tôi đã nghe người ta nói nhiều về Giêsu, về quyền năng mà Giêsu đã chữa lành cho các bệnh nhân, về tình yêu thương an ủi nâng đỡ mà Giêsu đã trao ban cho nhiều người, đặc biệt là những người nghèo khó và cùng khốn như tôi. Khi nhìn thấy Giêsu trên đường đi, nỗi vui mừng đã tràn ngập lòng tôi, với niềm tin tưởng dâng cao, tôi tự nhủ:

– Phen này chắn hẳn tôi sẽ được cứu, sẽ được chữa lành !!!

Nhưng luật lệ đã ngăn cấm không cho phép tôi đến gần Giêsu.  Biết làm sao đây?  Tôi cùng với những người bạn cùi, chúng tôi phải đứng xa xa và mạnh dạn cất tiếng kêu xin lòng thương xót của Giêsu:

– Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương xót chúng tôi (Lc.17:13)

Giêsu đã vượt qua luật lệ, Ngài đã phá tan bức tường ngăn cách kỳ thị, Giêsu đã đến đứng bên cạnh tôi.  Trước mặt tôi là một Giêsu với gương mặt phúc hậu, với đôi mắt rưng rưng ngấn lệ …Giêsu giơ tay đụng đến thân xác tàn tạ bệnh hoạn của mỗi người chúng tôi.  Cuối cùng Ngài lên tiếng nói :

– “Hãy đi trình diện với các Tư Tế” (Lc.17:14)

Tôi giơ bàn tay lên cao để nhìn.  Bàn tay vẫn như cũ, ngón tay vẫn còn bị mất, vết thương lở lói với máu mủ vẫn còn nguyên vẹn.  Căn bệnh vẫn còn đó trên thân xác này, thế mà Giêsu lại bảo tôi đi trình diện với các tư tế để được khám xét, để được chứng thực là đã sạch bệnh.  Lạ quá nhỉ?  Tôi hoang mang phân vân không biết phải làm gì. Chẳng lẽ tôi không được Giêsu chữa lành hay sao?  Ngài không nghe tiếng tôi van xin; không dủ lòng thương xót cho con người cùng khốn của tôi hay sao?  Nhưng với niềm tin tưởng phó thác nhỏ bé trong tôi, tôi bước đi và làm theo lời Ngài chỉ dạy.  Nhưng lạ thay, trên đường đi đến trình diện các tư tế, tất cả mười người chúng tôi đều được khỏi bệnh.  Niềm vui mừng hân hoan trào dâng trong lòng tôi. Giêsu đã nghe tiếng tôi nài xin.  Ngài đã dủ lòng thương tôi, đã chữa lành cho tôi. Giờ đây tôi mới hiểu ra là Ngài muốn có sự cộng tác của tôi để việc cứu chữa mà Ngài thực hiện nơi tôi trở nên trọn vẹn hơn, hoàn hảo hơn và nhiều ý nghĩa hơn… Giêsu ơi! Tình thương của Ngài sao quá bao la!!!

Trước khi gặp Giêsu, tôi là một gã phong cùi bị xã hội và con người coi là phường tội lỗi, bị thân nhân và người đời xa lánh ruồng bỏ, phải sống lang thang vất vưởng đầu đường xó chợ. Sau khi gặp Giêsu, tôi được chữa lành và được biến đổi thành một con người mới, được hòa nhập vào cộng đoàn xã hội, không còn bị khinh chê, bị thân nhân và người đời ruồng bỏ nữa. Giêsu đã cải hóa con người tôi, Ngài đã làm tất cả những điều này vì yêu thương tôi.  Lòng biết ơn đã thôi thúc tôi quay về với Đấng đã cứu chữa tôi.  Tôi phải trở về gặp Ngài, xấp mình dưới chân Ngài để nói lời tạ ơn, để thấy mình được bao bọc bởi tình yêu thương, và cũng để làm mọi sự để đáp lại tình yêu đó.

Gặp lại Giêsu, Ngài trao cho tôi ánh mắt yêu thương trìu mến.  Ngài ân cần nhỏ nhẹ lên tiếng nói với tôi:

-“Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?” (Lc.17:17-18)

Chín người kia đâu?  Họ đi đâu rồi?  Họ là những người Do Thái mà!  Họ là người “trong đạo” và là người dân được Thiên Chúa tuyển chọn.  Ấy vậy mà họ không nhìn ra quyền năng Thiên Chúa đã làm trên cuộc sống và thân xác của họ hay sao?

Chín người kia đâu?  Họ đã cùng tôi đi chung một đoạn đường dài trong những năm tháng đắng cay cuộc đời, họ đã cùng tôi chia sẻ tấm áo miếng cơm trong cuộc sống đầu đường xó chợ, và mới vài giờ trước đây, họ đã đi chung một con đường với tôi để đến trình diện các tư tế.   Nay được khỏi bệnh, có lẽ họ không còn tiếp tục sống chung với tôi, chia sẻ vui buồn sướng khổ với tôi như trước nữa.  Họ tách riêng ra và không thể cùng tôi đi chung một con đường.  Họ đã bị ngăn cản bởi hàng rào ngăn cách của kỳ thị “trong đạo-ngoại đạo” gây ra. Họ được giải thoát khỏi bệnh tật nhưng họ lại bị nô lệ vào luật lệ và quan niệm khắt khe của người đời.

Chín người kia đâu?  Tôi không biết giờ này họ ở đâu, nhưng tôi biết chắc chắn một điều là họ đã được khỏi bệnh như tôi, và họ đã quên người đã làm cho họ khỏi bệnh.  Chắc hẳn họ đã có lòng tin nên được khỏi bệnh, nhưng họ lại thiếu lòng biết ơn cần thiết của một con người.  Họ đã khỏi bệnh phần xác nhưng căn bệnh hiểm nghèo trong tâm hồn của họ vẫn còn cần được cứu chữa.

Trong sự kính trọng và vâng phục, tôi xấp mình dưới chân Giêsu để nói lên tâm tình tạ ơn.  Ngay lúc đó, Giêsu đã cúi xuống và nâng tôi lên. Ngài nói nhỏ vào tai tôi:

– “Ðứng dậy về đi ! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh”. (Lc.17:19)

Tôi đứng dậy bước đi nhưng lòng còn mang nặng ơn nghĩa với Giêsu. Chân tôi bước đi nhưng lòng trí và ánh mắt của tôi cứ hướng về Giêsu. Tiếng Ngài cứ vang vọng trong tâm trí của tôi “ về đi…về đi ”. Ngài muốn tôi về với cuộc sống bình thường ngày xưa, về với gia đình làng xóm, về với cộng đoàn xã hội… “ về đi ” để làm chứng cho Ngài, để nói về Ngài cho những người xung quanh tôi, để rao truyền Tin Mừng và ân sủng mà Ngài đã trao ban cho tôi hôm nay. Tôi vừa bước đi vừa nói với Ngài trong thinh lặng: ”Vâng lời Ngài, con đi về…Nhưng Giêsu ơi! xin ở cùng con luôn mãi…” 

* * * * *

Lạy Chúa! Xin cho con luôn ý thức để nhận ra những hồng ân mà Chúa đã ban cho con từng giây từng phút, để con cũng biết dâng lời cảm tạ từng phút từng giây.  Xin cho con biết cảm nhận tình thương, sự hy sinh và cử chỉ yêu thương của những người chung quanh, để con biết đáp trả bằng chính tình yêu chân thành và sự hy sinh của con.  Xin cho con luôn sống tâm tình biết ơn; biết ơn Chúa và biết ơn người, để cuộc đời con luôn là một bài trường ca tri ân cảm mến.  Amen.

Linh Xuân Thôn

BÀI HỌC ĐẦU TIÊN

Tôi từ Lào về lại Việt Nam với cơn bệnh cảm ho.  Chị y tá Hội Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn, Bến Tre, khám cho tôi và bảo tôi bị suy dinh dưỡng vì cơ thể ăn uống thiếu chất.  Tôi không ngạc nhiên gì cả.  Một tháng rưỡi vừa qua tôi sống với các em nghèo ở bên Lào.  Buổi sáng chúng tôi ăn xôi chấm với mắm Pa Đẹt, buổi trưa ăn mắm với xôi, và buổi tối thì… lại xôi với mắm.  Xôi và mắm Pa Đẹt là hai món ăn truyền thống của người Lào.  Mắm Pa Đẹt hơi giống như mắm nêm của Việt Nam nhưng không nặng mùi bằng mắm nêm.  Người giàu ăn xôi, mắm Pa Đẹt, cùng với thịt cá và rau, còn người nghèo thì ăn xôi, mắm và rau.  Nhà của mấy em này có một mảnh vườn nho nhỏ, mỗi ngày họ cứ ra ngoài sân, ngoài vườn cắt rau vào để ăn, lúc thì ăn sống, lúc thì ăn chín.  Nhưng rau không đủ vì vườn nhỏ xíu mà đến hai mươi miệng ăn, nên họ hái luôn tất cả các loại đọt cây trong vườn để ăn cho no bụng.  Đọt cây gì ở ngoài vườn cũng ăn, như đọt cây xoài, ổi, me, v.v…  Có nhiều đọt cây mà tôi chẳng biết là cây gì, nhưng họ ăn thì tôi cũng ăn.  Có bữa họ đem lên bàn ăn một bắp chuối sẻ dọc làm tư để ăn sống.  Những rau cỏ này ăn không thì rất chát nhưng chấm với mắm thì vừa miệng.  Mỗi ngày họ mua khoảng một ký cá nhỏ rồi dằm nát ra, trộn lẫn với mắm Pa Đẹt, dằm thêm vài củ hành tây hoặc khóm vào để cho được nhiều, đổ nước nhiều vào để đủ cho nhiều miệng ăn rồi bắc lên lò khuấy cho đều là đã chuẩn bị xong cho bữa ăn.  Mỗi bữa có thêm một tô canh rau đi kèm với xôi, mắm và rau.  Sáng, trưa hay chiều thì cũng chỉ ăn có chừng đó món nên sau một tháng rưỡi tôi bị suy dinh dưỡng là chuyện không ngạc nhiên.

Thức ăn của họ đơn sơ thế nào thì đời sống của họ cũng đơn sơ như vậy.  Tuy thức ăn dọn lên bàn đơn giản thiếu thốn nhưng họ ăn uống trò chuyện vui vẻ.  Ngưòi dân Lào rất đơn sơ và hiền hòa, đến độ trước 1975 người dân đi chợ ngay ở thủ đô Viên Chăn quên không tắt máy xe honda mà cũng chẳng bao giờ bị mất.  Người dân đi mua đồ không hề trả giá vì tin người bán hàng không bao giờ nói thách, nên nói giá nào là mua giá đó.  Nghe như chuyện thần thoại vậy.  Tôi nhờ các em dẫn tôi đi chợ, và quả thật người bán nói giá nào là họ cứ mua như vậy.  Tôi nói với các em là phải trả giá thì các em chỉ cười lắc đầu.

Bây giờ thì nhiều người Việt qua định cư ở Lào đã nhiều đời và trong mười lăm năm nay người Việt qua làm ăn cũng đầy dẫy.  Người Việt lanh lợi và nhanh nhẹn hơn người Lào nhiều.  Một  anh cu li ở Việt, khi qua Lào thì lên làm thợ phụ và làm còn hay hơn, nhanh hơn mà tiền công lại rẻ hơn thợ phụ Lào.  Còn anh thợ phụ ở Việt khi qua Lào thì làm thợ chính.  Anh thợ chính ở Việt, khi qua Lào thì làm thầu khoán.  Vì làm rẻ hơn, đẹp hơn và nhanh hơn nên ai cũng muốn mướn, thế là dân Việt tràn qua ào ạt để làm việc.  Tôi thường đến nhà thờ sớm một tiếng để gần gũi và nghe chuyện của các nhóm thợ thầy Công Giáo đến đi Lễ Chúa Nhật.  Hỏi ra thì hầu hết các anh là nông dân làm ruộng.  Mấy anh này mà đến thành phố Sàigòn làm việc thì chắc chắn chỉ được mướn làm cu li mà thôi, nhưng qua Lào thì nghiễm nhiên lên chức thợ phụ hay thợ chính ngon lành.  Nhiều nông dân Việt, sau khi dọn đất và cấy lúa xong thì phải chờ cho lúa mọc, nên rất rảnh rỗi đến mấy tháng liền, hoặc là những tháng khô không trồng trọt canh tác gì được, thì lại rủ nhau từng nhóm kéo qua Lào.  Tôi đã đi xe buýt qua Lào ba lần, lần nào xe cũng đầy các công nhân, nông dân Việt qua Lào làm việc.

Người Việt tháo vát lanh lợi hơn người Lào, mà mánh mung thì cũng quá tải nên dần dần có khuynh hướng lấn át người Lào.  Người Việt qua Lào cũng có người tốt kẻ xấu.  Đáng tiếc là một số nhỏ “con sâu làm rầu nồi canh” hay tụ tập nhậu nhẹt, cờ bạc, đánh lộn, trộm cướp, nên dần dần người Lào có vẻ sợ người Việt.  Bây giờ ai đi đâu cũng phải khóa xe cẩn thận, mua đồ thì phải cố trả giá như người Việt vậy.  Người Việt tràn qua Lào làm ăn sinh sống nhiều cũng giúp đóng góp cho kinh tế Lào phát triển khá hơn, nhưng đồng thời cũng là mối bận tâm cho người Lào trong những năm gần đây vì công nhân Việt tràn qua nhiều quá nên công nhân Lào khó tìm được việc vì đời sống văn hóa xã hội Lào là vui vẻ và từ tốn làm việc.  Ngay cả chạy xe ngoài đường cũng vậy, đường rộng và vắng mà tôi thấy người Lào cứ tàn tàn chạy chứ không rồ ga phóng cho nhanh như người Việt.

Tôi đã thăm nước Lào hai lần trong những mùa hè năm trước nhưng thật sự tôi chưa biết gì về người Lào.  Tôi chỉ có một khái niệm chung chung nước Lào là một nước chậm tiến và nghèo hơn Việt Nam.  Vì thế năm nay tôi qua Lào với một não trạng giúp cho người nghèo.  Hơn một tháng trời sống ở Lào, não trạng này được Chúa biến đổi.  Tôi đến Lào với ánh mắt coi thấp người Lào.  Họ nghèo hơn tôi, chậm chạp hơn, học vấn kém hơn và kiến thức cũng thua tôi, nên tôi có khuynh hướng hơn họ và có thái độ “đến để ban phát”.  Và đây là bài học đầu tiên Chúa dạy tôi tại Lào:  Tôi đến không phải để ban phát mà để nhận lãnh.  Người Lào đã dạy tôi cách sống.

Tôi đã sống ở Mỹ 26 năm và có khuynh hướng làm cái gì cũng phải cho thật nhanh như Mỹ với não trạng thời giờ là vàng bạc nên đi nhanh, làm nhanh, ăn nhanh, lái xe cũng nhanh, v.v…  Dần dà tôi quen với lối sống của dân Mỹ là cái gì cũng phải nhanh để đỡ mất thì giờ.  Lâu dần tôi đánh mất đi văn hóa Việt Nam trong dòng máu mình mà sự từ tốn ôn hòa được trân trọng.  Nhiều lần tôi về Việt Nam chơi, hẹn với những người bạn ở Việt Nam đi chơi nhưng họ toàn xài “giờ dây thung” gây cho tôi sự khó chịu bực mình.  Năm nay, tôi ngỡ ngàng khi Chúa tỏ lộ cho tôi điều này trên đất Lào.  Người Lào còn chậm hơn cả người Việt, ngồi chờ nhau một tiếng hai tiếng cũng chẳng có gì bực dọc cả.  Tôi đã sống với họ hơn một tháng và bắt đầu biết tập chờ đợi như họ, tập bỏ chương trình riêng của mình để đón nhận những gì đưa đến, tập để cho người khác dẫn tôi đến những chỗ tôi không thích hay không dự tính trước.

Ở trước nhà của các em có một cái sân chơi đá banh khoảng bằng sân bóng chuyền.  Với phạm vi này khoảng tám người chơi đá banh thì vừa, nhưng thường có tới 10, 12, hoặc 14 người chơi, và cái sân chỉ ngập toàn người với người, nên không có chỗ để chạy, trái banh cũng khó thấy vì bị đám đông che mất.  Mới đầu tôi bực bội lắm vì không có chỗ để chạy hoặc lừa banh còn mọi người vẫn chơi vui vẻ.  Dần dần tôi khám phá một chân trời mới, đó là không phải chỉ chơi với trái banh mà chơi với con người.  Hơn thế nữa, tôi bắt đầu học bài học mới và một lối nhìn mới là nhìn ngắm những tâm hồn của những người chơi banh.  Bắt đầu từ đó, tôi ra chơi banh chung với những tâm hồn, bất kể ít hay nhiều người cũng không phải là mối quan tâm.  Tôi bắt đầu thấy những tâm hồn rộn ràng, tiếng vui chơi nhảy múa, tôi có cảm tưởng như các Thiên Thần đang cười đùa nhảy múa vậy.

Tôi cảm nhận hình ảnh Thiên Chúa đã nhập thể làm người sống với những người cùng khổ thiếu thốn qua kinh nghiệm sống với mấy em này.  Tự bản chất là Thiên Chúa mà Ngài đã hạ mình xuống trần gian mặc lấy thân xác con người để sống chung, ăn chung, chơi chung, học chung với con người ba mươi năm để được con người dạy cho cách sống trước khi giới thiệu khuôn mặt Đức Chúa Cha.  Không phải chuyện ngẫu nhiên tôi đến Lào, tôi xác tín rằng Chúa đưa tôi đến đây để dùng những người này dạy dỗ tôi.  Tôi tưởng tôi đến để cho và ban phát, nay tôi hiểu rằng tôi được Chúa gởi đến để được lãnh nhận ân sủng, tình thương và học hỏi cách sống.  Lạy Chúa, con cám ơn Chúa đã mở mắt lòng con để học bài học đầu tiên.  Xin cho con biết hạ mình để tiếp tục học những bài học kế tiếp.

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.
October 2, 2007

Vài hàng về tác giả:  Linh mục Ngô Văn Chữ dòng Tên ở Mỹ 26 năm, mới được thụ phong linh mục vào tháng 6 năm 2007.  Ngài tình nguyện xin về làm việc với người nghèo ở Lào và Việt Nam trong hoàn cảnh thiếu thốn của họ để được phục vụ họ.

VIẾT CHO NHỮNG EM NHỎ

Thánh Louis De Montfort trong “The Secret of the Rosary”

Những người bạn nhỏ thân yêu,

Nụ hồng xinh đẹp này dành cho em, đó là mỗi hạt trong tràng hạt Mân Côi của em.  Chớ chi em biết được những hạt đó thực quý giá biết bao! Búp hồng kỳ diệu này sẽ nở thành một bông hồng rực rỡ, nếu em đọc kinh Kính Mừng thật sốt sắng.

Dĩ nhiên nếu muốn em đọc trọn cả tràng 15 Mầu Nhiệm mỗi ngày thì thật là quá sức em, nhưng em hãy đọc ít là 5 Mầu Nhiệm, đọc đúng cách, với lòng sốt sắng và yêu mến.  Kinh Mân Côi sẽ là vòng hoa hồng nho nhỏ, mũ triều thiên nhỏ em dâng lên Chúa Giêsu và Mẹ Maria.  Hãy chú ý tới mọi điều tôi nói ở đây và hãy cẩn thận, chú ý lắng nghe câu chuyện có thật mà tôi muốn kể cho em, đồng thời muốn em ghi nhớ.

Có hai chị em nhỏ đang chơi trước nhà.  Hai chị em này đang đọc kinh Mân Côi rất sốt sắng.  Thình lình, một công nương xinh đẹp hiện đến, tiến lại gần em nhỏ – hai em chỉ khoảng 6, 7 tuổi – cầm tay và dắt em đi mất.  Hoảng sợ, đứa chị cuống cuồng tìm em khắp nơi nhưng vẫn không tìm thấy em đâu.  Ðau đớn, đứa chị trở về báo tin cho cha mẹ biết em mình đã bị bắt cóc.  Suốt ba ngày, người cha, người mẹ khốn khổ ấy tìm con khắp nơi nhưng không thấy.

Tối ngày thứ ba, họ thấy em ngay trước nhà, dáng vẻ sung sướng, hạnh phúc cực độ.  Họ đã hỏi xem em ở đâu suốt ba ngày đêm.  Em kể cho cha mẹ nghe: “Vị Công Nương xinh đẹp, Ðấng mà em hằng đọc kinh Mân Côi để tôn kính, đã đưa em tới một nơi thật thích thú, cho em ăn những thứ tuyệt ngon.  Em cũng nói rằng vị Công Nương đã trao cho em bế một Hài Nhi, chú bé đó rất xinh đẹp, em hôn chú bé mãi không chán”.

Cha mẹ của em chỉ mới trở thành người Công Giáo một thời gian ngắn.  Hai ông bà khi nghe con kể lập tức đến gặp Linh Mục Dòng Tên đã hướng dẫn ông bà gia nhập Giáo Hội và đọc kinh Mân Côi.  Họ kể cho ngài câu chuyện trên, và cũng chính Linh Mục này kể cho tôi nghe.  Câu chuyện đã xảy ra ở nước Parayuay.

Bởi thế, các em nhỏ thân yêu, các em hãy bắt chước hai chị em cô bé này, hãy đọc kinh Mân Côi mỗi ngày như chúng đã làm.  Thực hành như thế là em đã dành được quyền lên Thiên Ðàng chiêm ngưỡng Chúa Giêsu và Mẹ Maria.  Nếu hai Ðấng không cho các em thấy các Ngài ở đời này, thì bất cứ giá nào, sau khi qua đời, các em sẽ được thấy các Ngài đời đời.  Ước gì được như vậy.

Vì thế, thưa tất cả quí vị trong mọi tầng lớp xã hội, có học thức hay không, công chính hay tội lỗi, cao cả hay bé mọn, hãy cùng tôn vinh Chúa Giêsu và Mẹ Maria bằng việc đọc kinh Mân Côi ngày cũng như đêm, “Kính Mừng Maria, Ðấng đã vất vả nhiều vì chúng con…”.

NIỀM TIN

Cuộc nói chuyện giữa một người tân tòng và một người bạn không có niềm tin như sau:

– Vậy là bạn đã theo đạo Chúa?

– Đúng thế.

– Như vậy bạn phải biết nhiều về Ngài. Bạn hãy nói cho tôi biết: Chúa đã sinh ra ở trong nước nào?

– Tôi không biết.

– Chúa đã chết lúc bao nhiêu tuổi?

– Tôi không hay.

– Chúa đã giảng bao nhiêu bài?

– Tôi không rõ.

– Thì ra sự hiểu biết của bạn quá ít ỏi đối với một người tự nhận mình theo đạo Chúa!

– Đúng thế. Tôi hổ thẹn vì biết Chúa quá ít. Tuy nhiên, tôi biết và tin ở những điểm nầy: Cách đây ba năm, tôi luôn say sưa chè chén. Nợ nần lút đầu lút cổ. Gia đình vỡ lở tan hoang. Vợ con tôi kinh hãi khi tôi về nhà mỗi ngày trong bơ phờ say sưa. Ngày nay tôi không còn rượu chè say sưa nữa, gia đình đầm ấm yên vui, chúng tôi không còn lâm cảnh nợ nần túng thiếu… Tất cả những điều đó, chính Chúa đã làm cho tôi. Đấy là điều tôi biết và tin nhiều về Ngài!

* * * * *

“Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, anh em có thể ra lệnh cho cây dâu bật rễ lên, xuống biển kia mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời anh em.” (Lc.17: 6)

Bạn thân mến, cây dâu là một loại cây tương đối lớn ở miền đất Do Thái, nó có bộ rễ rất to và khỏe. Còn hạt cải là thứ hạt nhỏ xíu như đầu kim. Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, Ðức Giêsu dùng một hình ảnh rất sinh động để nói lên sức mạnh của lòng tin: Ðể làm bật rễ một cây dâu thật to, chỉ cần một chút đức tin bé nhỏ, nhưng phải là một đức tin vững vàng và mạnh mẽ. “Tin” thực sự có nghĩa là được biến đổi bởi điều mình tin.

Trong cuộc sống, có nhiều thứ rễ đã bám chặt trong đời tôi: Những “tham xân xi”, những khuynh hướng xấu, lòng ích kỷ, lối nhìn và cách suy nghĩ, lối đánh giá và hay kết án tha nhân, lối sống đạo theo thói quen, hình thức… đó là những cái rễ to lớn chằng chịt khiến tôi khó gỡ ra để ném tất cả xuống lòng biển. Chỉ có niềm tin tuy đơn sơ nhưng kiên vững vào quyền năng  của Thiên Chúa, tôi mới có thể gỡ mình khỏi những ràng buộc, mới làm được những điều tưởng như không sao làm nổi.

“Lạy Thầy! Xin thêm lòng tin cho chúng con” (Lc.17:5). Đó là lời nài xin của các tông đồ ngày xưa trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay. Lời nài xin đó cũng là của mỗi người chúng ta ngày nay. Tin là nghe theo lời Chúa, như Phêrô ngày xưa, ông bước ra khỏi thuyền để đi trên mặt nước sóng gió, ông tin mặt nước sẽ cứng như đá để ông có thể bước đi đến với Thầy mình. Tin như thế là dấn thân, là buông mình trọn vẹn, là vượt thắng được nỗi sợ hãi và lý luận tự nhiên.  Tin là thái độ can đảm của người trưởng thành, chứ không phải là thái độ dựa dẫm của người ấu trĩ.  Người có lòng tin thì làm được những việc lớn lao, vì người đó đón lấy sức mạnh của Chúa và để cho sức mạnh ấy tự do hoạt động nơi mình.

Thánh Augustinô đã nói : “Đức tin là tin những gì chúng ta không thấy và phần thưởng của đức tin là thấy những gì chúng ta tin“.

 * * * * *

Lạy Chúa, niềm tin của chúng con đã có lúc chao đảo vì những khó khăn của cuộc sống. Xin soi sáng và hướng dẫn chúng con trong những lúc chúng con phải đi qua những tăm tối của niềm tin. Xin gia tăng niềm tin cho chúng con, hâm nóng niềm tin của chúng con để chúng con luôn nhận ra Chúa trong cuộc sống, nhận ra muôn ơn lành Chúa đã trao ban cho chúng con. Xin cho chúng con biết đáp trả một cách quảng đại bằng những cố gắng sống cho đến cùng niềm tin của chúng con. Amen 

R. Veritas

THIÊN THẦN BẢN MỆNH

Trong ngày mừng lễ các Thiên Thần Bản Mệnh, xin chia sẻ với các bạn một câu chuyện:

Có một Linh Mục ở miền quê nước Pháp được mời đi xức dầu ban đêm cho một bệnh nhân nguy tử. Chợt nghĩ đến đoạn đường xa xôi heo hút, ngài đã định bỏ quay về vì sợ cướp bóc trấn lột.  Nhưng rồi ý thức bổn phận và trách nhiệm của một Linh Mục, ngài lấy hết can đảm, vừa chuẩn bị túi hành trang, vừa cầu xin với Thiên Thần Bản Mệnh, rồi lên đường.  Bệnh nhân là một cụ già đã được ban Bí Tích Sức Dầu, sáng hôm sau thì qua đời. Vị Linh Mục cũng trở về nhà bình an vô sự.

20 năm sau, vị Linh Mục đã già yếu, ngài xin về hưu nhưng vẫn phụ trách tuyên úy cho một trại tù tại thành phố.  Một lần nọ, ngài được mời đến giải tội cho một tên tử tù.  Thoạt tiên, khi biết có một Linh Mục vừa tới, anh ta quay lưng vào vách nhà giam, chửi rủa xua đuổi một cách hung hăng và hằn học, nhưng rồi khi chợt quay lại, anh ta liền thay đổi hẳn thái độ vì nhận ra khuôn mặt quen quen của vị Linh Mục già.

Anh ta rụt rè hỏi thăm về quá khứ 20 năm trước, nhưng vị Linh Mục già đã cố nhớ mà vẫn không nhận ra đã gặp anh tử tù này ở đâu.  Đến lúc này thì anh ta cúi gục đầu và thuật lại đầu đuôi câu chuyện:  Hóa ra dạo ấy, anh đang bị cảnh sát truy lùng về tội sát nhân, chạy giạt vào nấp trong khu vườn nhỏ gần nhà xứ.  Anh đã nảy ra ý định sẽ rình giết vị Linh Mục để cướp chiếc áo chùng thâm giả trang trốn đi nơi khác.  Thế nhưng, đúng lúc đêm hôm khuya khoắt ấy, anh ta ngỡ ngàng trông thấy vị Linh Mục đã rời nhà xứ cùng đi với một thanh niên lực lưỡng theo sau…

Nghe đến đây, vị Linh Mục già hiểu ra mọi sự.  Ngài quỳ xuống tạ ơn Chúa rồi kể tất cả cho người tử tù nghe.  Anh cũng quỳ vội xuống, ăn năn sám hối và lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải trong nước mắt mừng vui…

******************************

Câu chuyện trên giúp tôi hiểu một điều:  Nhiều khi vì không thấy Chúa, tôi cứ nghĩ là Chúa không ở bên tôi, nhưng thật ra Chúa luôn gởi Thiên Thần Bản Mệnh đến để bảo vệ tôi.  Nhưng Chúa chỉ bảo vệ người nào sống với Chúa như đứa con thơ.  Ai càng tỏ ra yếu đuối, bé bỏng, tin tưởng Chúa càng nâng đỡ nhiều, như bài Phúc Âm của Thánh Mátthêu đã nói (18:10).  Tôi lại nhớ đến một đoạn trong bài hát “Khúc hát một loài hoa” của nhạc sĩ Ân Đức:  “Một niềm tin vô biên, một niềm tin phó thác triền miên, ai mong muốn lên Nước Trời phải trở nên thơ bé mà thôi.”

Ai càng trở nên như trẻ nhỏ, thì Chúa càng yêu thương đỡ nâng dìu dắt.  Ước gì lúc nào tôi cũng biết sống nhỏ bé trước mặt Chúa, và luôn phó thác mọi sự trong tay Chúa, để Chúa tiếp tục gởi Thiên Thần Bản Mệnh đến nâng đỡ và che chở tôi mỗi ngày.  Và giờ đây xin mời bạn cùng tôi dâng một lời kinh lên Thiên Thần Bản Mệnh của chúng ta:

Lạy Thiên Thần Chúa Trời là đấng đã nên quan thầy gìn giữ con,
Vì ơn lòng lành Đức Chúa Trời,
Xin người soi sáng con, phù hộ con ngày/đêm hôm nay.

Têrêsa Hải Phượng

NGĂN CÁCH

Chuyện kể rằng có một nhà giầu kia thường than phiền với người bạn thân rằng ông không thấy hạnh phúc.  Ông giao thiệp rộng, tiệc tùng ngày đêm.  Cuộc sống vật chất ông không thiếu thứ gì, nhưng ông rất cô đơn.

Một hôm, người bạn đến thăm,  sau khi nghe ông than thở, anh ta dẫn ông ra cửa sổ nhìn xuống đường và hỏi: “Anh nhìn thấy gì?”  Ông nhà giầu đáp: “Tôi thấy người ta đi lại, đàn ông , đàn bà, cụ già, trẻ con.”

Sau đó, người bạn dẫn ông nhà giầu đến một tấm gương và hỏi: “Bây giờ anh thấy gì?”  Ông ta đáp: “Tôi chỉ thấy chính tôi.” 

Người bạn ôn tồn nói: “Trong cửa sổ có gắn kính, và ở tấm gương cũng có kính.  Khi anh nhìn kính trong cửa sổ, anh có thể thấy người khác.  Nhưng phiá sau tấm kính trong gương là một lớp bạc.  Khi lớp bạc được tráng vào, anh không còn nhìn thấy những người khác.  Anh chỉ nhìn thấy chính anh!” 

******************************

Lớp bạc có thể tượng trưng cho những gì đang ngăn cách chúng ta với những người khác.  Đó có thể là tiền bạc, danh vọng, quyền lực, hay là sự ích kỷ, kiêu ngạo, thái độ dửng dưng.  Tất cả những thứ đó có thể làm chúng ta mù lòa không thấy Thiên Chúa và người khác.  Chúng ta chỉ thấy mình và những nhu cầu của mình.

Bài dụ ngôn trong Tin Mừng Lu-ca chương 16 nói về số phận của những người làm ngơ trước nỗi thống khổ của người khác.  Một người giầu có sống trong xa hoa nhung lụa, yến tiệc linh đình. Người kia tên La-za-rô, một người cùng khổ, đói rách bệnh tật, nằm trước cổng ông nhà giầu.

Ông nhà giầu không phải là người hẹp hòi độc ác.  Ông không sai gia nhân đuổi anh ra khỏi cổng nhà ông.  Ông không chửi rủa mắng nhiếc anh ăn vạ ở trước sân nhà ông, mà cũng chẳng đánh đập La-za-rô mỗi khi ông đi ngang qua chỗ anh nằm.  Thật ra, ông không quan tâm đến sự hiện diện của La-za-rô.  Anh đói hay no, lạnh hay ấm, đau đớn hay không, ông không cần biết.  Ông dửng dưng nhìn cái hố ngăn cách giữa ông và người hàng xóm cùng khổ mà không hề đặt một câu hỏi.  Anh La-za-rô nằm đó, như cái xác không hồn, thèm thuồng những thức ăn thừa mứa trên bàn của ông.  Nhưng cũng chẳng ai cho. Thỉnh thoảng mấy con chó nhà ông, chạy đến liếm ghẻ chốc trên người của anh, cho anh bớt ngứa ngáy.  Mấy con chó này còn đối xử với anh còn tốt hơn chủ nó nhiều!

Thế rồi cả hai đều lần lượt qua đời.  Người nghèo này chết, và ông nhà giầu cũng chết.  Chẳng ai tránh được.  Nhưng sau khi chết, số phận hai người đã hoán ngôi đổi chỗ cho nhau.  Anh La-za-rô nghèo khổ được hưởng cõi phúc với tổ phụ A-bra-ham, còn anh nhà giầu thì đau khổ trong địa ngục.  Bấy giờ, người nhà giầu mới nhìn thấy anh La-za-rô, ông muốn làm một cái gì đó để thay đổi cục diện.  Nhưng đã quá muộn rồi.

Khi còn sống, ông nhà giầu có thói quen sai bảo và muốn người khác phục vụ mình.  Sau khi chết, ông vẫn muốn xin tổ phụ A-bra-ham sai La-za-rô đến cho ông chút nước để đỡ khát.  Khi sống ông đã tự cô lập mình khỏi nhu cầu của người khác, ông đã tự tay đào một hố sâu ngăn cách giữa mình và tha nhân, giờ ông phải sống mãi trong sự cách ngăn đó!   Nói một cách khác, ông đã chọn cho mình một lối sống hưởng thụ, ích kỷ và dửng dưng.  Ông đã tự đưa mình vào con đường cô lập khi sống, giờ thì ông tiếp tục sống trong sự cô lập đó sau khi chết và đang bị chính những dục vọng của mình thiêu đốt trong địa ngục mà không ai có thể xoa dịu được.

Có thể chúng ta cảm thấy khó chịu vì nghĩ rằng ông đã làm gì sai lầm nghiêm trọng mà phải bị phạt như thế.  Thật ra, chính lối sống của ông đã đưa ông vào tình trạng này.  Cái tội của ông là đã không lay một ngón tay để giúp đỡ một tí, một tí thôi, những người cần được giúp đỡ.  Cái tội của ông là đã không nhìn lại một tí, một tí thôi, đến những người cần được quan tâm.  Cái tội thờ ơ lãnh đạm, sống trong sự ngăn cách với đồng loại khổ đau.  Cái tội hưởng thụ ích kỷ, chỉ chăm lo cho bản thân, không màng gì đến tha nhân.  Tội này là bước đầu hủy hoại tình liên đới giữa con người và con người, phá hoại nền tảng luân lý của xã hội.  Thiếu quan tâm đến những người nghèo khổ không chỉ làm thiệt thòi cho dân nghèo, nhưng sẽ đem lại tình trạng bất ổn cho xã hội khi hố sâu giầu nghèo quá cách biệt.

Giới răn căn bản và cao trọng nhất, mà ai cũng biết là Mến Chúa, Yêu Người.  Nhưng làm sao chúng ta có thể thực hiện điều này, nếu chúng ta không mở lòng với những người chung quanh.  Khi tôi nói yêu người tôi phải quan tâm đến người đó là ai, có nhu cầu gì, để tôi có thể giúp đỡ.  Giới luật yêu thương không phải là một khẩu hiệu chung chung, nhưng cụ thể cho từng hoàn cảnh, từng con người.

Lời Chúa hôm nay thách đố chúng ta đừng làm ngơ ngoảnh mặt trước mọi hoàn cảnh bất hạnh, trước mọi đau khổ đang xảy đến chung quanh chúng ta.  Có khi chúng ta không nhắm mắt trước những bất công xã hội, những hoàn cảnh đau thương, nhưng chúng ta cảm thấy bất lực và không biết phải làm gì.  Trong những lúc như thế, thay vì ngồi đó nguyền rủa bóng tối, chúng ta cố gắng thắp lên một ánh nến của hy vọng, bằng cách thực thi một việc bác ái cụ thể, một cử chỉ nhân ái, dù nhỏ đến đâu, để tỏ ra sự quan tâm đến những người bất hạnh, kém may mắn.

******************************

Trong tâm tình và ý nghĩa đó, chúng ta có thể mượn lời cầu nguyện của Mẹ Thánh Têrêxa Calcutta để cầu nguyện cho nhau :

Lạy Chúa,

Xin ban cho chúng con ánh sáng đức tin để nhận ra Chúa hôm nay và hằng ngày, nơi khuôn mặt khốn khổ của tất cả những người bị thử thách :

Những kẻ đói không chỉ vì thiếu của ăn, nhưng vì thiếu Lời Chúa;

Những kẻ khát, không chỉ vì thiếu nước, nhưng còn vì thiếu bình an, sự thật, công bằng và tình thương;

Những kẻ vô gia cư, không chỉ tìm kiếm một mái nhà, nhưng còn tìm trái tim hiểu biết, yêu thương;

Những kẻ bệnh hoạn và hấp hối, không chỉ trong thân xác, nhưng cả trong tinh thần.

Bằng cách thực thi lời hy vọng nầy : “Điều các con làm cho người bé mọn nhất trong anh em là các con làm cho chính Ta”  (Mt 25:40) 

Bảo Lộc

HAI KHUÔN MẶT

“Ngay trong giờ phút lâm chung, bạn và tôi, bất kể chúng ta là ai, đã từng sinh sống nơi nào, Kitô hữu hay là lương dân, tất cả chúng ta, những người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa bằng bàn tay yêu thương của Ngài, chúng ta sẽ phải đứng trước nhan Giavê và được xét xử tuỳ theo những gì đã sống và làm cho người nghèo. Chính lúc này các cân lượng mẫu mực cho việc phán xét sẽ được đưa ra.”

“Chúng ta phải càng ngày càng ý thức hơn rằng người nghèo chính là niềm hy vọng của nhân loại, bởi vì chúng ta sẽ được xét xử theo cách thức mà chúng ta đã cư xử với họ. Chúng ta sẽ đối đầu với thực tế khi được triệu về trước ngai Thiên Chúa. Và Ngài sẽ nói: “Xưa ta đói, ta trần truồng, ta không nhà cửa… Và những gì ngươi đã làm cho một trong những kẻ bé mọn chính là đã làm cho Ta.”

“Kẻ bé mọn” không chỉ là những người đang nghèo nàn về vật chất, nhưng còn là những ai đang thiếu thốn về tinh thần. Có người nghèo cơm ăn áo mặc, nhưng cũng không ít người nghèo giáo lý, kiến thức, cảm thông, an ủi, thứ tha… vì chẳng ai trao ban.”

* * * * *

Bạn thân mến, phải chăng lời nói của Mẹ Têrêsa Calcutta trên đây được trích ý từ dụ ngôn của bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay. Lời Chúa hôm nay cho ta thấy hai khuôn mặt trái ngược nhau: một ông nhà giàu dư ăn dư mặc, một anh nhà nghèo bệnh tật nằm đói lả, không đủ sức xua đuổi những con chó đến quấy rầy. Hai người ở gần nhau, chỉ cách nhau một cái cổng vẫn thường khép, nhưng lại thật xa nhau. Ông nhà giàu biết mặt, biết tên anh nhà nghèo, nhưng ông chẳng mảy may quan tâm, vì ông bận tổ chức tiệc tùng và mời quan khách.

Ladarô đã chết trong cảnh đói nghèo và bệnh tật. Ông nhà giàu cũng chết. Cái chết đồng đều cho mọi người, nhưng số phận sau cái chết lại khác nhau. Không phải chỉ vì giàu mà ông nhà giàu bị phạt, nhưng vì ông đã khép cửa và khép lòng, đã ung dung hưởng thụ quyền sở hữu “hợp pháp”, đã không chấp nhận chia sẻ điều mình có dư thừa. Ông nhà giàu hẳn đã thấy Ladarô, nhưng đã sống như thể không có anh ta, vì ông loay hoay vun quén cho hạnh phúc của mình. Không phải chỉ vì nghèo mà anh nhà nghèo được thưởng, được hạnh phúc ngồi trong lòng tổ phụ Abraham, nhưng vì anh chấp nhận số phận hẩm hiu của mình, và trông cậy vào sự trợ giúp của Thiên Chúa.

Ngày nay thế giới văn minh lại càng đào sâu hố ngăn cách giữa nước giàu và nước nghèo, giữa thiểu số người giàu và đa số người nghèo.

Bạn và tôi, chúng ta cũng giàu có về một mặt nào đó: giàu trí tuệ, giàu bạn bè, giàu thế lực, giàu chỗ đứng trong xã hội, giàu đời sống thiêng liêng.  Hố sâu chỉ được lấp đầy bằng cách mở tung cánh cửa yêu thương và chia sẻ, nhìn nhận tài nguyên thế giới là của mọi người, nhìn nhận quyền sống của từng người, sống như một nhân vị, sống như con cái Thiên Chúa, sống như anh chị em tôi.

Bạn và tôi, mỗi người chúng ta đều có một Ladarô chờ ngoài cửa, nếu chúng ta mở cửa và mời người đó đồng bàn, thì chúng ta sẽ trở nên người giàu có thực sự, và trưởng thành viên mãn trong nhân cách.

Bạn và tôi, dù có người chết hiện về, dù kẻ chết sống lại cũng chẳng làm lòng chúng ta hết chai đá. Chỉ có Lời Chúa mới khiến chúng ta sám hối ăn năn, mở lòng trước tha nhân và Thiên Chúa (x. 1Ga 3,17)

“Ta đói các ngươi đã không cho ăn; Ta khát các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù các ngươi đã chẳng thăm Ta” ( Mt 25, 42 – 43 ).

Ước mong Lời Chúa trên đây sẽ không phải là lời Chúa sẽ nói với bạn và tôi trong ngày sau hết của cuộc đời mình, ngày chúng ta phải ra trước tòa Chúa .

* * * * *

Lạy Chúa, xin mở mắt con để con nhìn thấy những người nghèo ở xung quanh con, những người nghèo trong đời sống vật chất cơm ăn áo mặc và cả những người nghèo trong đời sống thiêng liêng nữa… Xin cho con đừng sống dửng dưng; thờ ơ và khép kín trước người nghèo, nhưng biết xót thương như Chúa đã xót thương, biết quảng đại cho đi và vui vẻ chia sẻ an ủi đỡ nâng. Amen.

Trích từ  R. Veritas