ĐIỀU KỲ DIỆU NHỎ TRONG ĐÊM GIÁNG SINH

Vào Giáng Sinh năm 1914,  giữa cao điểm của trận thế chiến thứ nhất, sau nhiều tuần lễ giao chiến một bên là quân Đức còn bên kia là quân Anh, Pháp và Bỉ, có biết bao quân lính đã ngã gục. Binh lính của hai phe tại mặt trận miền Tây đã hạ súng để cùng nhau ăn mừng đêm Thiên Chúa ra đời.

Bắt đầu chỉ có một giọng ca đơn độc được cất lên : “Stille Nacht, Heilige Nacht… – Silent night, Holy night – Đêm Thánh vô cùng, đêm yên bình…” trên bãi chiến trường đang đẫm đầy máu và đầy khói súng.  Tiếng ca bắt đầu trông thật lẻ loi tội nghiệp.  Không đầy một trăm mét đối diện, dưới các lũy hào, quân Anh vẫn bất động im lặng không phản ứng.  Tuy nhiên bên này chiến hào, quân Đức lại sôi nổi lên: một vài người, hàng trăm, và cuối cùng thì đến hàng ngàn người cùng ngân cao “Stille Nacht, Heilige Nacht… – Silent night, Holy night – Đêm Thánh vô cùng, đêm yên bình…”

Khi âm thanh cuối cùng được chấm dứt, chỉ sau một phút yên lặng bỗng có tiếng vỗ tay cùng những tiếng la hú vang vọng không phải từ một mà đến cả ngàn người từ chiến tuyến quân Anh: “Good, old Fritz” và “Encore, encore” hoặc “More, more” “nữa, nữa”.

Để đáp lại quân Anh cũng hòa mình theo niềm vui mà cùng cất cao tiếng hát “Merry Christmas, Englishme”.  Để chứng minh cho những tiếng la vang: “Chúng tôi không bắn, anh cũng không bắn” quân Anh đã cho đặt những cây đèn sáp được thắp sáng trên khắp chiến hào.

Qua ánh sáng lờ mờ của ánh đèn sáp, bên chiến hào Đức có bóng người đàn ông đứng lên.  Với giọng ca thật mạnh và thật đúng điệu Anh, anh ta vừa đi vừa hát bài ca của Placide Cappeau, bài ca mà ngay cả một đứa bé nhỏ bên Anh cũng biết, nay lại được một người của quân thù, của một người Đức hát cao đã làm quân Anh thật xúc động.  Anh ta  từ từ tiến đến chiến hào của quân Anh:

– Tôi là một Trung Úy của quân Đức, hỡi các bạn, mạng sống của tôi hiện nằm trong tay các bạn. Tôi đã ra khỏi chiến hào và đang đi đến các bạn.  Xin gửi một sĩ quan đến gặp tôi trên nửa đoạn đường.

Dần dần hình bóng của viên Trung Úy càng hiện rõ ra, hàng trăm họng súng chĩa thẳng đến anh.  Bỗng nhiên bên chiến hào Anh lại có một người đàn ông trèo lên chiến hào rồi chui qua hàng rào kẽm gai.  Nay thì không còn mệnh lệnh nào có thể ngăn chận anh người Anh này lại được nữa.  Anh ta tiến thẳng đến viên Trung Úy người Đức.  Họ cùng nhau bắt tay, ôm nhau, miệng nói tay thì vất súng xuống đất.

Quân Đức làm tiếp thêm một việc thật ngoạn mục.  Đem quà sang tặng cho quân Anh:  Một cành thông Giáng Sinh đã được thắp sáng sẵn bởi những ngọn đèn sáp được đem đến tận chiến hào quân Anh.  Súng vẫn không nổ.  Suốt đêm quân lính ca hát những bài Giáng Sinh tùy theo ngôn ngữ của mình, họ chia nhau thức ăn, điếu thuốc lá hoặc ngụm rượu mạnh cho ấm bụng để cùng nhau mừng đêm Chúa ra đời.

Qua ngày hôm sau, họ dành thì giờ để chôn cất quân lính tử trận lâu nay bị tuyết lấp phủ, ngồi tâm sự chuyện gia đình, cho nhau xem hình ảnh của vợ con hoặc cùng nhau đá banh.  Quân lính bỗng nhiên nhận ra và cùng nhau nhất trí : “Chấm dứt chiến tranh”.  Chúng tôi chỉ muốn được sống, muốn được trở về nhà cùng gia đình mà thôi.

Sau hai ngày vui đùa thoải mái thì lệnh trên từ hai phía được truyền xuống: chấm dứt cuộc ngưng chiến.  Ai không thi hành sẽ bị xử lý tại chỗ.  Binh lính lại giao hẹn với nhau là chỉ bắn lướt qua đầu mà thôi.  Tuy nhiên giao hẹn chỉ được thi hành nội trong một ngày duy nhất, sau đó thì đâu lại vào đấy.  Họ tiếp tục chém giết nhau.  Cuộc chiến vô lý đã làm thiệt mạng một triệu người đến năm 1918 mới được chấm dứt.

“Stille Nacht, Heilige Nacht… – Silent night, Holy night  – Đêm Thánh vô cùng, đêm yên bình…” chỉ với bài ca ngắn, không nhiều, chỉ cần một đêm ngắn ngủi nhưng biết bao sinh mạng đã được cứu thoát.  “Stille Nacht, Heilige Nacht… – Silent night, Holy night – Đêm Thánh vô cùng, đêm yên bình…” đúng là một đêm kỳ diệu cho những người lính bé nhỏ vô tội.

“Der kleine Frieden im Grossen Krieg” – Michael Jungs
Phương Tôn chuyển dịch

*************************

Lạy Chúa Hài Đồng, một Mùa Giáng Sinh lại về, trên thế giới đó đây vẫn còn những tiếng súng ầm vang với  những cuộc chiến có lý và vô lý, vẫn còn đó với những người lính bé nhỏ vô tội xa nhà, xa vợ con trong ngày Giáng Sinh huyền nhiệm.  Xin sự bình an ngày Chúa Cứu Thế Giáng Sinh  đến với mọi tâm hồn, xin cho mọi người biết yêu thương nhau, biết chia sẻ miếng cơm manh áo,  miếng kẹo, ngụm rượu, biết hạ súng như những người lính Đức – Anh năm xưa.  Xin cho các nhà lãnh đạo trên thế giới biết hạ lòng tự ái, từ bỏ những tham lam ích kỷ để nghĩ đến hạnh phúc của tha nhân.

“Vinh Danh Thiên Chúa trên trời,
bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.” (Lc 2:14)

MẸ VÔ NHIỄM

Trên toà giảng, vị linh mục cầm một tờ 20 mỹ kim mới toanh giơ cao trên tay.  Ông nhìn quanh nhà thờ và hỏi: “Ai muốn tờ 20 mỹ kim này?”  Nhiều cánh tay vội vàng giơ lên. “Đợi một chút”.  Nói rồi, vị linh mục vo tờ bạc lại thành một nắm, rồi giơ cao lên và hỏi tiếp: “Ai còn muốn tờ bạc này?”  Vẫn còn nhiều cánh tay giơ lên.  Ông nhìn quanh rồi hỏi: :”Nếu tôi sẽ làm thế này thì sao?”  Nói xong ông buông tờ giấy bạc nhăn nhúm xuống đất, rồi đưa đôi săng đan chà lên trên, di qua di lại.  Vị linh mục cầm tờ giấy bạc nhàu nát, bẩn thỉu lên và hỏi:  “Có ai còn muốn tờ bạc này?”  Một vài cánh tay vẫn giơ lên.

Ông vuốt tờ bạc cho thẳng lại và nói: “Anh chị em vừa học được một bài học quý giá.  Cho dù tôi làm gì với tờ bạc này, anh chị em cũng vẫn muốn nó, vì giá trị nó không thay đổi.  Nó vẫn là đồng 20 mỹ kim.

*******************************

Bạn thân mến,

Rất nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta cũng như tờ bạc kia, bị vo tròn bóp méo, bị vứt xuống đất, bị chà đạp đến nhăn nhúm vì những quyết định sai trái của mình hay vì hoàn cảnh đưa đẩy.  Biết bao lần chúng ta đã ngụp lặn trong vũng bùn của tội lỗi.

Nhưng cho dù thế nào đi nữa, chúng ta vẫn không mất đi giá trị của mình.  Dù bẩn thỉu hay sạch sẽ, dù nhàu nát hay thẳng thớm, chúng ta vẫn có giá trị trước mặt Thiên Chúa, Đấng Tạo Dựng nên chúng ta.  Ngài biết rõ chúng ta cả trong lẫn ngoài, và vẫn trân quý chúng ta.  Thiên Chúa không bỏ cuộc với chúng ta.  Tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội chứng minh điều đó.  Mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thể cũng chứng minh điều đó.

“Vì loài người chúng ta, và để cứu rỗi chúng ta, Người đã từ Trời xuống thế”

Ngôi Hai Thiên Chúa giáng thế để chia sẻ thân phận mỏng dòn, yếu đuối, rách nát, bị chà đạp và hất hủi của những người bé mọn, cùng khổ trong xã hội.  Và qua thập giá, Người đã tái lập lại phẩm giá của chúng ta.

Qua Mẹ Vô Nhiễm, Thiên Chúa ban cho Con Một của Ngài một người Mẹ xứng hợp dưới thế, và ban cho chúng ta một người Mẹ cao cả trên trời.

Mừng Lễ Mẹ Vô Nhiễm, chúng ta không chỉ mừng Mẹ được đặc ân thoát khỏi tội nguyên tổ.  Nhưng qua Mẹ, chúng ta cảm nghiệm lòng thương xót của Thiên Chúa tỏ lộ trong việc giải thoát con người khỏi cạm bẫy của Satan.

Tín điều Mẹ Vô Nhiễm nhắc chúng ta về hai chân lý.  Một là, chúng ta cần ơn cứu rỗi.  Hai là, chúng ta không tự mình làm được.  Chính nhờ công nghiệp của Đấng Cứu Thế, mà Mẹ được gìn giữ khỏi án phạt của tội nguyên tổ.  Và cũng nhờ công nghiệp của Thiên-Chúa-làm-người, chúng ta cũng được trở nên những tạo vật tinh tuyền không kém gì Mẹ trong ngày chúng ta chịu phép Rửa.

Mừng Lễ Mẹ Vô Nhiễm, chúng ta cùng với Mẹ hướng về Đấng Cứu Thế, Đấng đã đến và sẽ đến để đưa chúng ta về Vương Quốc vĩnh cửu.  Nơi đó, chúng ta sẽ cùng với sứ thần Ga-bri-en cất cao lời chào: “Kính mừng Ma-ri-a, Đấng đầy ân phúc.  Đức Chúa Trời ở cùng bà” (Lc 1:28).  Cùng với thánh nữ E-li-za-bét chúng ta tán tụng Mẹ: “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ.  Và Giê-su con lòng bà gồm phúc lạ” (Lc 1:45).   Ngước lên trời cao, chúng ta hiệp cùng Đức Thánh Cha Biển Đức 16, thân thưa với Mẹ:

Hỡi Đấng đầy ơn sủng, Ma-ri-a, với tiếng xin “ vâng” với kế hoạch của Đấng Tạo Hoá, Mẹ đã mở lối cho chúng con vào nẻo đường cứu độ.  Xin dạy chúng con biết xin “vâng” theo thánh ý Chúa.  Nguyện cho lời xin “vâng” của chúng con hiệp với lời xin “ vâng” của Mẹ, một lời xin “vâng” không ngần ngại không ẩn ý, một lời xin “ vâng” Thiên Chúa Cha đã muốn có để Đức Ki-tô, Con Người mới, Đấng Cứu Độ thế giới và lịch sử được giáng trần.

Xin ban cho chúng con lòng can đảm nói “không” với những dối gạt của quyền lực, tiền tài, nhục dục; nói “không” với việc làm ăn bất chính, hành vi tham nhũng, đạo đức giả; nói “không” với sự ích kỷ và bạo động; nói “không” với Ác thần, thủ lãnh gian dối của thế gian này.  Xin giúp chúng con “xin vâng” với Chúa Ki-tô, Đấng tiêu diệt quyền lực của sự dữ với quyền năng vô biên của tình yêu.  Chúng con biết rằng chỉ khi nào các tâm hồn quay lại cùng Đấng Tình Yêu, là chính Thiên Chuá, thì chúng con mới có thể xây dựng một tương lai xán lạn cho mọi người.

Bảo Lộc

XIN CHO CON BIẾT LẮNG NGHE

“Tiếng của người hô trong sa mạc: Hãy dọn đường Chúa, hãy bạt lối Người đi” (Mt. 3:3)

Tại sao tiếng hô lại được cất lên trong sa mạc mà không phải là thành thị, phố xá hay phòng trà, chợ búa, nơi người ta đang quây quần đông đúc hay vui chơi tội lỗi? Tiếng hô phải được cất lên chính những nơi này mới có người nghe, mới mong có kẻ quay đầu qui chánh, sửa đường bạt lối, làm nên nẻo chính đường ngay cho Đấng Thiên Sai chứ!

Gioan sống trong sa mạc. Tiếng hô của ông vang lên giữa vùng hoang vắng.

Không biết chốn trời không mông quạnh thế kia thì tiếng hô được mấy ai chú ý. Tiếng hô vang, vang lên mãi… Nhưng trong nơi trống vắng thì ai nghe cho!

Phải chăng Gioan đã hô lên cho chính mình ông nghe? Nếu thế thì lời kêu gọi “Hãy dọn đường Chúa, hãy bạt lối Người đi” trước tiên phải là lời nói với chính mình ông.

Nhờ biết hô với chính mình trước hết nên Gioan đã có sức lôi kéo từng đoàn người từ khắp xứ Giuđê đến với ông, để nghe tiếng ông hô, và chịu làm theo lời răn dạy của ông. Nhờ hô với chính mình mà tiếng hô đã vang đến tận khắp các vùng Giêrusalem, xâm nhập tới cõi lòng của bao kẻ sa đọa khô khan.

Không phải chỉ sau khi nghe tiếng hô của Gioan mới bắt đầu có người ăn năn hối cải, chịu thanh tẩy để dọn đường cho Chúa đến. Đúng hơn, từ hoang vắng của sa mạc và trong nơi tịch liêu của cõi lòng, Gioan đã nghe tiếng hô phát ra: “hãy dọn đường cho Chúa đến”. Lời đó vang đi dội lại trong lòng ông, thúc bách ông nối dài tiếng hô bằng cách ra đi “dọn lòng người cho Chúa đến.”

Cho nên, Gioan chính là người đã dọn đường lòng mình trước nhất. Vì biết lắng nghe những điều mình hô nên tiếng hô của mình có người đáp lại. Sự lắng nghe không chỉ bằng thính giác, nhưng còn bằng tâm hồn. Và từ tâm hồn mới phát sinh những thái độ sống. Một đứa trẻ “biết nghe” không nhất thiết phải là một đứa trẻ có thính giác tốt, nhưng là một đứa trẻ biết ghi tâm lời nói của bố mẹ, thầy cô, và mang ra thực hành.

Những gì phát xuất từ con tim cũng đều mang sắc thái của tình yêu và sự sống.

Thế ra, không biết lắng nghe bằng con tim thì con tim sẽ không thể cất lời. Và nếu lời cất lên không phát xuất từ con tim, lời đó sẽ chẳng mang hiệu quả gì.

Thomas Merton đã từng nhận xét:

“Nếu đời ta cứ phun ra những lời vô ích
Chẳng bao giờ ta nghe được bất cứ điều gì,
Chẳng bao giờ ta thấy bất cứ điều gì,
Chẳng bao giờ ta trở nên bất cứ cái gì.

Thế rồi,
Vì cứ nói mãi trước khi có cái gì để nói,
Ta trở thành người không biết nói.”

Không biết nói hoặc nói điều vô ích mà cứ bắt người khác lắng nghe thì chỉ tạo nên những cực hình, phản kháng.

Nhiều gia đình bất an, nhiều cộng đoàn bất thuận, nhiều quốc gia bất hoà chỉ vì có kẻ không biết nói. Nguyên do là thiếu lắng nghe, sự lắng nghe của tâm hồn. Tâm hồn không nghe được vì còn ngổn ngang đây đó nhiều chướng ngại của tự ái, ích kỷ, kiêu căng, tự mãn…

Lắm khi ta than thở: “Chúa không chịu nghe tiếng tôi”. Nhưng thử hỏi: “Chúa không nghe tiếng tôi hay vì tôi không nghe được tiếng Ngài? Rồi khi nghe được tiếng Chúa, liệu tôi có chấp nhận để tiếng ấy nhồi nắn biến đổi đời mình chăng?”

Nhiều lúc tôi buồn vì người ta không chịu nghe điều tôi muốn nói. Nhưng thử hỏi: họ không nghe tiếng lòng của họ, mà nghe tiếng lòng người khác sao được khi chính tôi lại bịt tai tâm hồn? Âm thanh của lời tôi nói sẽ chẳng truyền lan nếu nó không phải là “Lời” đã vang dội lại trong sa mạc lòng mình.

Có nghe được tiếng nói nơi lòng mình mới mong đổi được đời mình. Có đổi được đời mình mới làm thẳng đường cho Chúa đến. Chúa đến trong đời tôi, để rồi qua tôi Ngài đến với người khác.

* * * * *

Bạn thân mến, “Hãy dọn đường Chúa, hãy bạt lối Người đi.” Tôi muốn hô vang lời ấy cho mọi người nghe. Nhưng trước hết, tôi phải bắt chước thánh Gioan, đi vào sa mạc cuộc đời, tức là bước vào nơi thanh vắng và tĩnh lặng của nguyện cầu, nơi đó tâm hồn tôi sẽ nghe được tiếng nói của trời cao. Tiếng ấy sẽ dần dần lớn mạnh trong tôi, cho đến khi oà vỡ và tuôn chảy đến muôn tâm hồn.

Phải chăng đó chính là thái độ sống mà Tin Mừng mùa Vọng năm nay muốn tôi mặc lấy.

LM. Bùi Quang Tuấn, CSsR

MANG NẶNG ĐẺ ĐAU

Trong tờ thông tin liên lạc của một giáo xứ nọ, người ta đọc thấy ở trang bìa của số ra tháng 12 như sau:  Mùa Vọng là mùa của thai nghén…

Có lẽ chỉ có những người đàn bà đã hơn một lần trải qua thời thai nghén và sinh nở mới có thể giúp chúng ta hiểu được thế nào là 9 tháng 10 ngày mang nặng đẻ đau… Trong 9 tháng 10 ngày, ngoài những nôn mửa không ngừng, người đàn bà mang thai thường phải trải qua nhiều tâm trạng khác nhau của vui buồn lẫn lộn.

Vui vì sự sống và niềm hy vọng đang lớn dần trong tâm hồn và thể xác của mình, người đàn bà mang thai cũng lo sợ vì những bất ngờ không lường trước được.  Những đột biến trong người khiến cho người đàn bà mang thai cảm nhận được sự mỏng dòn, yếu đuối của con người.  Tất cả mọi cử động, chế độ dinh dưỡng đều được cân nhắc cẩn thận để không phương hại đến bào thai… Có nên tiếp tục đi nhanh như trước kia không?  Có nên dùng một điếu thuốc như trước không?  Có nên dùng cà phê không?  Có nên dùng một chút bia rượu không?  Có nên thức khuya không?…  Tất cả đều được cân nhắc từng ly từng tí.

Bào thai càng lớn dần, niềm vui và nỗi lo lắng cũng tăng thêm… Và khi đến ngày khai hoa nở nhụy, như Chúa Giêsu đã nhận xét, niềm vui của người đàn bà khỏa lấp được tất cả chờ đợi trong khi mang thai và những đớn đau trong khi sinh con.

Sự chào đời của hài nhi không những mang lại niềm vui, nhưng cũng đảo lộn cuộc sống trong gia đình.  Đứa bé đã trở thành trung tâm của cuộc sống gia đình.  Giờ giấc thay đổi, nhịp sống cũng thay đổi.  Và có lẽ cái nhìn cũng đổi mới với mọi người trong nhà.

*************************************

Mùa Vọng là mùa của thai nghén…  Do tiếng thưa xin vâng đáp trả của Đức tin, chúng ta cũng cưu mang chính Chúa.  Như người đàn bà có thể cảm nhận được sự hiện diện mỗi lúc một thêm thân mật và gần gũi với Chúa trong tâm hồn chúng ta.

Cũng như người đàn bà mang thai có thể nhận ra sự mỏng dòn yếu đuối của mình, với sự hiện diện của Chúa trong tâm hồn, chúng ta cũng cảm nhận sâu sắc hơn những bất toàn, khiếm khuyết và tội lỗi của chúng ta.  Ý thức ấy càng mời gọi chúng ta bước đi trong từng cố gắng vươn cao hơn.  Cũng như người đàn bà mang thai cân nhắc từng đường đi nước bước, từng cách ăn mặc đi đứng, người cưu mang Chúa cũng tập trung tất cả suy tư, hành động, cư xử của mình vào chính Chúa.  Lẽ sống và động lực của người có niềm tin chính là Chúa… Bào thai càng lớn lên thì sự quên mình của người mẹ càng gia tăng.  Người cưu mang Chúa cũng thế.  Thánh Gioan Tẩy giả đã diễn tả đúng đòi hỏi ấy khi Ngài nói về Chúa Giêsu: “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại”… Càng quên mình, người Kitô càng cảm nhận được sự hiện diện của Chúa trong tâm hồn.  Đó là định luật của đời sống Đức tin.  Chính khi quên mình, người Kitô cảm nhận được sự hiện diện của Chúa và càng gặp được chính mình…

Mùa vọng là mùa của thai nghén:  chúng ta hãy chuẩn bị cho Chúa Giêsu một máng cỏ trong tâm hồn chúng ta.  Cũng như người đàn bà quên mình vì không biết bao nhiêu chuẩn bị cho con, chúng ta cũng hãy hướng trọn cuộc sống của chúng ta về với Chúa Giêsu.  Hãy để cho Ngài lớn lên bằng những nhỏ lại của chúng ta:  nhỏ lại trong tham vọng, nhỏ lại trong những ước muốn bất chánh, nhỏ lại trong những đố kỵ, ghen ghét ích kỷ, nhỏ lại trong muôn vàn những đốn hèn, nhỏ nhặt trong cuộc sống… Và rồi, với Chúa ngự trị trong ta, tình mến sẽ lớn mãi trong trái tim.

R. Veritas

*************************************

Ðây những tháng cuối trong năm.
Ðây những đêm dài nhất
và những ngày buồn nhất.
Hằng ngày truyền hình và báo chí
đổ tuôn một loạt tin bạo động
làm tuyệt vọng!

Anh hãy thắp cây nến đầu của Mùa Vọng!
để nói trước tiên niềm hi vọng của anh:
Chúa không ngủ,
anh và thế giới được cứu rỗi
nhờ Ngài trước hết.

Anh hãy thắp một ánh sáng!
Giây phút im lặng và cầu nguyện,
hằng ngày đọc Thánh Kinh,
viếng thăm một bệnh nhân,
lắng nghe người bên cạnh,
một cử chỉ mới để chia sẻ,
một lời lành và xác thực,
đáp lại một lời gọi…

Với những người trong gia đình,
con của anh trước hết
đang nhìn anh,
hãy nghiêm trọng, vui vẻ,
thắp cây nến đầu của Mùa Vọng!

Hiền Hoà chuyển dịch

GẶP GỠ ĐỨC KITÔ

Một trong những người tiền phong vận động chính phủ cải cách hệ thống nhà tù ở Hoa Kỳ là một tội phạm đã hối cải, tên Starr Daily. Câu chuyện ông hoán cải thật lạ lùng nhưng thật tuyệt vời như sau:

Khi Daily bị kết án tù lần thứ ba trong đời, quan toà nói với ông:

– Có phạt thêm nữa thì ông ấy cũng vậy, và tôi không biết phải làm gì khác trong vụ xử ông.  Sự bất lực của chúng tôi là sự tuyệt vọng của ông.

Trong thời gian ở tù, lối sống của Daily thật tệ hại đến nỗi người ta phải giam ông vào một cái “hố” biệt lập. Thông thường một tù nhân chỉ có thể chịu nổi cảnh giam cầm đó hai tuần lễ. Sau đó có bác sĩ đến thăm và ra lệnh đưa về nhà giam bình thường.

Nhưng trường hợp của Daily thì đã hơn hai tuần lễ và vẫn tiếp tục. Rồi một ngày kia, một sự kiện khác thường xẩy đến. Khi Daily nằm trên sàn lạnh lẽo của cái “hố”, một tư tưởng kỳ lạ nảy ra trong đầu. Ông thường có một sức mạnh và năng lực đáng kể. Bỗng dưng ông tự hỏi điều gì sẽ xảy ra cho ông nếu ông dùng sức mạnh và năng lực ấy để làm việc thiện hơn là làm điều xấu. Ý tưởng ấy tràn ngập tâm trí ông. Và trong một thời gian thật lâu, ông nằm suy nghĩ về điều đó.

Điều kế tiếp xẩy đến thì thật khó để diễn tả. Daily bắt đầu có những giấc mơ đứt đoạn về Đức Giêsu Kitô, là người mà từ lâu ông cố gạt ra khỏi cuộc đời mình. Trong giấc mơ, ông thấy Đức Giêsu đứng bên cạnh ông và nhìn vào mắt ông. Tất cả những người mà Daily đã làm họ đau khổ dường như lướt qua trong tâm trí ông. Và khi đó, Daily đã tỏ lòng thương mến họ,

Cảm nghiệm đó đã thay đổi hoàn toàn con người Daily. Trước đó, ông là một tội phạm cứng cỏi, đầy căm thù. Sau đó, ông là một con người mới, đầy tình yêu.

Sau cùng, Daily được phóng thích và bắt đầu một sự nghiệp mới để nói chuyện và viết lách hỗ trợ việc cải cách nhà tù.

Nhận định về sự hoán cải lạ lùng của ông Daily, ông Peter Marshall, một tuyên uý nổi tiếng của Quốc Hội, nói rằng: “Starr Daily là một bằng chứng sống động tốt nhất mà tôi chưa từng thấy, đó là ‘một tạo vật mới trong Đức Giêsu Kitô’. Ông không chỉ là một con người cũ được chắp vá, nhưng là một con người hoàn toàn mới

(Catherine Marshall, A Man Called Peter.)

* * * * *

Câu chuyện của ông Starr Daily có sự tương đồng kỳ lạ với câu chuyện của ông Giakêu trong bài Phúc Âm hôm nay.

Cả hai đều có đời sống tệ hại. Cả hai đều gặp gỡ Chúa Giêsu. Cả hai đều thay đổi nhờ sự gặp gỡ đó. Và cả hai đều đền bù cho quá khứ.

Daily tuôn đổ tình yêu trên những người mà ông đã làm tổn thương họ. Ông dành trọn cuộc đời còn lại để vận động cải cách hệ thống nhà tù.

Giakêu phân phát nửa gia tài cho người nghèo. Và những ai bị ông lường gạt đều được bồi thường gấp bốn. Số tiền bồi thường này nhiều hơn luật buộc gấp đôi. (Xh 22:3)

Bạn và tôi, chúng ta áp dụng câu chuyện của ông Daily và ông Giakêu vào đời sống của chúng ta như thế nào?

Cả hai câu chuyện đều nhắc nhở chúng ta về một điều mà chúng ta thường hay quên. Chúa Giêsu muốn đi vào cuộc đời chúng ta và thay đổi chúng ta trở nên tốt hơn, cũng như Người đã thay đổi ông Daily và Giakêu.

* * * * *

Bạn thân mến, Chúng ta hãy kết thúc bài chia sẻ hôm nay với những lời thật tuyệt vời của Chúa Giêsu nói với chúng ta qua sách Khải Huyền (3:20):

“Hãy lắng nghe! Ta đứng ở ngoài cửa và gõ; nếu ai nghe tiếng Ta và mở cửa, Ta sẽ đi vào nhà của họ và ăn với họ, và họ sẽ ăn với Ta” 

Trích R. Veritas

RESUME (BẢN LÝ LỊCH) CỦA GIÊSU

Gửi kèm ảnh  của Ta

Bạn hãy tưởng như mình làm chủ một công ty.  Công ty đó chẳng gì khác hơn là chính trái tim lòng bạn.  Bạn đang tìm một viên quản lý cho công ty này, và tình cờ gặp được một resume (bản lý lịch) của người tên là Giêsu Nadarét.   Bạn sẽ nghĩ gì về quản lý viên này?  Lý do gì cản trở bạn để phó thác cho Đức Giêsu quản thúc trái tim bạn?

Địa Chỉ:  Nhà Tạm (Bí Tích Thánh Thể)
Điện Thoại:  Rôma 10:13
Mạng Lưới:  Kinh Thánh
Các khóa từ: Giêsu Kitô, Thầy Chí Thánh & Đấng Cứu Độ

Bối Cảnh

Ta là Giêsu – Chúa Kitô.  Rất nhiều người gọi Ta là Thầy Chí Thánh.  Ta gởi resume (bản lý lịch) cho con vì Ta muốn tìm chức quản lý tối cao trong trái tim con.  Con hãy cân nhắc kỹ các thành tích của Ta được trình bày trong resume (bản lý lịch) này.

Khả Năng

  • Ta dựng nên trời đất thiên địa (Sách Cách Ngôn 3:19).
  • Ta tạo nên con người từ đất đai (Sách Khởi Nguyên 2:7).
  • Ta thở hơi cho con người có mạng sống (Sách Khởi Nguyên 2:7).
  • Ta đã cứu chuộc nhân loại khỏi án chúc dữ của Lề Luật (Galatô 3:13).
  • Phúc lành của giao ước với Abraham trong cuộc sống nhân loại có được là qua Ta (Galatô 3:14).

Kinh Nghiệm Nghề Nghiệp

  • Ta chỉ có một Chủ duy nhất (Luca 2:49).
  • Ta chưa bao giờ bị trễ nãi, vắng mặt, không vâng lời, lười biếng hay bất kính.
  • Chủ Ta không có lời nào khác ngoài những lời say sưa khen ngợi Ta (Matthêo 3:15-17).

Kỹ Năng & Kinh Nghiệm Công Tác

  • Một số kỹ năng và kinh nghiệm công tác của Ta gồm có: làm cho những kẻ nghèo khó không còn nghèo khó nữa, chữa lành những tâm hồn tan nát, đập tan xiềng xích cho những kẻ tù đày, chữa lành những ai đau yếu, hồi phục nhãn lực cho những kẻ mù lòa, và cho kẻ áp bức được giải oan (Luca 4:18)
  • Ta là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hòa bình.
    (Isaia 9:5). Những ai lắng nghe ta sẽ được sống trong bình an và chẳng sợ tai họa (Cách Ngôn 1:33).
  • Quan trọng nhất là Ta có quyền lực, tài năng và sức mạnh để xóa tẩy tội của con (Gioan 1:7-9).

Quá Trình Học Vấn

  • Ta bao gồm tất cả chiều ngang và chiều dọc của tất cả mọi hiểu biết (Cách Ngôn 2:6).
  • Trong ta giấu ẩn cả kho tàng về hiểu biết và khôn ngoan (Côlôsê 2:3).
  • Lời Ta có uy quyền dũng mạnh được diễn giải như cây đèn rọi soi bước chân ngươi và là ánh sáng cho nẻo đường ngươi đi (Thánh Vịnh 119:105).
  • Ta cũng có thể nói cho ngươi biết được tất cả những điều bí ẩn nhất của trái tim ngươi (Tv 44:21).

Những Thành Tích Trọng Đại

  • Ta đã tích cực tham gia vào Hội Nghị Sáng thế (Khởi Nguyên 1:26).
  • Ta đã bỏ mạng sống mình để con được sống (2 Côrinthô 5:15).
  • Ta đã đánh gục quỷ Sa-tan và loài người và đã công nhiên bêu nhục chúng (Côlôsê 2:15).
  • Ta đã dùng phép lạ để nuôi sống người nghèo khó, chữa lành các bệnh nhân và phục hồi mạng sống cho kẻ đã chết.
  • Còn nhiều những thành tích trọng đại khác không thể kể hết ra đây được. Con có thể đọc nó ở mạng lưới của Ta tại www.KinhThanh. Con không cần phải có móc nối mạng lưới điện toán hoặc máy điện toán mới tới mạng lưới của Ta được.

Lý Lịch Người Chứng

Tất cả những ai tin và theo Ta trên khắp thế giới sẽ chứng minh quyền năng chữa lành, ơn cứu độ, ơn giải thoát, các phép lạ, sự khôi phục và sự hướng dẫn siêu nhiên của Ta.

Tóm Lược

Bây giờ con đã đọc resume (bản lý lịch) của Ta xong, Ta rất tự tin là chỉ duy Ta là ứng viên độc nhất và duy nhất xứng đáng để đáp ứng địa vị quan trọng này trong trái tim con.  Ta sẽ cẩn thận dẫn dắt con trong bước đi (Cách Ngôn 3:5-6) và dẫn con đến sự sống vĩnh cửu (Gioan 6:47).  Khi nào thì Ta có thể bắt đầu?  Thời gian rất là quí báu (Dothái 3:15).

Ánh Nhiệm chuyển ngữ

XIN THƯƠNG XÓT CON LÀ KẺ CÓ TỘI…

Theo một truyền thuyết về thánh Gio-an, tác giả sách Tin Mừng, sau 3 năm ngài bị lưu đầy ở đảo Patmos, khi trở về Ê-phê-sô, Ngài được biết chuyện về một chàng trai mà Ngài đã từng kỳ vọng rất nhiều tại cộng đoàn Ê-phê-sô.  Hiện anh ta đã sa ngã và trở thành một thủ lãnh trộm cướp khét tiếng.  Thánh Gio-an tuy đã già yếu gần 100 tuổi nhưng vẫn một mình chống gậy tìm lên ngọn núi sào huyệt của anh ta.  Mới đến lưng chừng núi thì cụ già bị bọn lâu la bắt trói dẫn về cho thủ lãnh.

Vừa gặp mặt, chàng trai đã giật mình kinh sợ vì nhận ra thầy cũ của mình.  Thánh Gio-an sau khi được cởi trói, ôn tồn khuyên nhủ:

– Này con yêu của thầy, sao con lại tránh nhìn vào mắt thầy ? Bây giờ đứng trước mặt con, thầy chỉ là một con người già yếu, không thể tự vệ được cơ mà…

Ngài thinh lặng một chút rồi lấy hơi nói tiếp:

–  Con đừng ngại, tội lỗi của con chắc chắn đã được Thiên Chúa tha thứ.  Chính thầy đã xin điều ấy cùng Chúa Giê-su đầy lòng thương xót cho con rồi.  Thôi, con hãy cùng với các bạn con rời bỏ ngọn núi này mà theo về với thầy nhé…

Chàng trai nghe đến đây thì quỳ xụp xuống, xấp mình khóc lóc trong niềm vui được hoán cải và tha thứ.  Sau đó, mọi người được chứng kiến một cảnh tượng thật lạ lùng: một ông lão dìu một chàng trai xuống núi, theo sau là tất cả thủ hạ trong băng cướp của anh…

* * * * *

Bạn thân mến! Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến lời van xin của người thu thuế kêu cầu lòng thương xót của Chúa và lời cầu nguyện đầy tự mãn của người Pharisêu.  Ðức Giêsu đưa ra kết luận: “người thu thuế được nên công chính, còn người Pharisêu thì không”.  Những người nghe Ngài nói chắc hẳn đã ngỡ ngàng chưng hửng.  Người Pharisêu là mẫu mực trong việc giữ luật. Những điều xấu xa tiêu cực, ông không làm.  Những điều luật đòi hỏi, ông còn làm nhiều hơn thế nữa.

Lời cầu nguyện của ông thật rõ ràng và trung thực, một lời nguyện mà nhiều người đạo đức thời bấy giờ thèm muốn.  Nhưng tại sao Thiên Chúa lại không nhìn đến ông?  Tại sao Thiên Chúa lại thương người thu thuế tội lỗi? Tại sao Thiên Chúa lại cho người thu thuế được trở nên công chính ?

Tình thương của Thiên Chúa đôi khi xem ra nghịch lý, nhưng không vô lý. Chúng ta cần nhìn cách người Pharisêu cầu nguyện:  Ông đứng trên cao trong đền thờ và tách biệt với những người khác. Mắt ông vẫn nhìn thấy người thu thuế đứng xa xa phía dưới.  Chúng ta cần nghe lời ông cầu nguyện: Ông muốn dâng lên Thiên Chúa lời tạ ơn, nhưng lời tạ ơn của ông lại trở thành sự so sánh ông với người khác, tràn đầy cái tôi tự mãn và kiêu căng. Ông liệt kê những tội ông không hề phạm, những việc đạo đức ông quen làm, vượt quá điều luật đòi hỏi: “tôi không như bao kẻ khác… tôi ăn chay… tôi nộp thuế…”

Cái tôi của ông thật cao vời vợi, hơn hẳn người khác. Cái tôi của ông quá ngon lành, quá bảo đảm, nên ông không cần xin Chúa thêm điều gì. Ông chỉ khoe với Chúa những thành tích đạo đức của ông, hay đúng hơn ông đang đề cao “cái tôi” của chính mình.

Ðời sống của ông Pharisêu đầy đặn quá, tròn trịa quá đến nỗi Thiên Chúa trở nên thừa. Ngài chẳng tìm ra được một kẽ hở nào, một khoảng trống nào để có thể đi vào đời ông nên Ngài phải chịu đứng bên ngoài.

Ngược lại anh thu thuế thì run rẩy xấu hổ, chẳng dám ngước nhìn Chúa, chẳng dám lại gần tha nhân. Anh nhìn thấy rõ các tội lỗi của mình, anh muốn làm lại cuộc đời, nhưng hầu như tự sức mình, anh không sao làm nổi. Anh thấy mình bị kẹt cứng, chỉ còn biết cậy dựa và phó thác vào tình thương của Thiên Chúa. Anh đứng xa xa dưới cuối đền thờ, nhắm mắt cúi đầu cất tiếng cầu xin: “Lạy Thiên Chúa, xin thương cót con là kẻ tội lỗi”.

Người thu thuế thật là con người tội lỗi, nhưng sự nhìn nhận tội lỗi của anh đã trở nên một kẽ hở, một sự trống rỗng để Thiên Chúa có thể đi vào đời anh. Anh không cậy dựa vào công sức của mình nhưng vào tình yêu và lòng thương xót của Chúa.

Bạn thân mến! Công việc đạo đức là một điều tốt đẹp, là một việc đẹp lòng Chúa, nhưng tự hào về đạo đức của mình lại là một nguy cơ.  Làm việc lành cũng là một điều tốt cần được khuyến khích, nhưng nếu việc lành khiến tôi khinh miệt tha nhân thì thật là nguy hiểm.

Làm sao tôi có được sự khiêm nhường tự hạ của người thu thuế? Làm sao tôi có thể hoàn toàn cậy trông phó thác vào Chúa như người thu thuế ? Ước gì cuộc đời của bạn và tôi có thật nhiều kẽ hở, có thật nhiều khoảng trống để cho Chúa bước vào.

R. Veritas

* * * * *

Lạy Chúa,  khi đến với Chúa
Cho con tháo bỏ đôi giày những tham vọng của con
Cho con cởi bỏ đồng hồ thời khóa biểu của con,
Cho con đóng lại bút viết các quan điểm của con,
Cho con bỏ xuống chìa khóa sự an toàn của con,
Để con được ở một mình với Ngài.

Lạy Thiên Chúa duy nhất và chân thật,
Sau khi được ở với Ngài,
Cho con xỏ giày vào để đi theo con đường của Chúa,
Cho con đeo đồng hồ để sống trong thời gian của Chúa,
Cho con đeo kính vào để nhìn thế giới của Chúa,
Cho con mở bút ra để viết những tư tưởng của Chúa,
Cho con cầm chìa khóa lên để mở những cánh cửa của Chúa.
Amen.

Graham Kings

NGUỒN GỐC CỦA KINH MÂN CÔI

Căn cứ vào các nguồn tài liệu đáng tin nhất, một của Á Thánh Alan de la Roch, trong cuốn “De Dignitate Psalteri”, và một của Thánh Louis Marie Grignion de Monfort, trong cuốn “Bí Mật Kinh Mân Côi”, thì chính Đức Mẹ đã ban Kinh Mân Côi và dạy Kinh Mân Côi cho thánh Đaminh.  Đức Thánh Cha Gregory XII cũng cho rằng: “Kinh Mân Côi được chính Thánh Đaminh thiết lập để làm nguôi cơn giận của Thiên Chúa và để cầu xin Rất Thánh Trinh Nữ bầu cử.”

Vào thế kỷ 11 và 12, tại tỉnh Albi thuộc miền nam nước Pháp, có một lạc thuyết do bè rối Albigensê chủ trương là nhị nguyên.  Thuyết này cho rằng Chúa Giêsu là một tạo vật được thần sai đến để giải thoát linh hồn con người bị giam cầm trong thể xác.  Theo thuyết nhị nguyên thì Linh hồn con người cũng được thần lành dựng nên và xác thịt được thần dữ dựng nên để giam cầm Linh hồn.  Sau bao nhiêu nỗ lực mà vẫn thảm bại để chinh phục bè Albigensê rối này, thánh Đaminh rút vào một khu rừng gần thành phố Toulouse nước Pháp để cầu nguyện.  Trong thời gian này Thánh nhân khóc lóc, ăn chay và phạt xác mong làm nguôi cơn giận của Chúa.  Ngài đã thực hành việc khổ hạnh thân xác cho đến nỗi bị ngất lịm đi.  Chính lúc đó Đức Mẹ cùng ba Thiên Thần theo hầu đã hiện ra với Thánh Nhân mà nói:

– Đaminh yêu dấu, con có biết Ba Ngôi Thiên Chúa Chí Thánh muốn dùng khí giới nào để canh tân thế giới không?

Thánh Đaminh đáp:

– Ôi lạy Mẹ, Mẹ biết rõ hơn con, vì ngay sau Chúa Giêsu, Con Mẹ, Mẹ luôn là khí cụ chính yếu cho phần rỗi của chúng con.

Bấy giờ Đức Mẹ nói:

– Mẹ muốn cho con biết rằng, trong loại trận chiến này, khí giới cần phải dùng bao giờ cũng là Thánh Vịnh Thiên Thần, viên đá nền tảng của Tân Ước. Do đó, nếu con muốn giảng dạy cho các linh hồn cứng lòng và đem họ về với Chúa, con hãy rao giảng Thánh Vịnh này của Mẹ.

Từ đó, thánh Đaminh đã là sứ giả của Đức Mẹ và là tông đồ tiên khởi truyền bá Kinh Mân Côi từ năm 1214.

Cho dù chúng ta không biết chắc có thật Đức Mẹ đã ban và dạy thánh Đaminh Kinh Mân Côi hay không, song chúng ta cũng có thể tin được sự kiện này thật đã xảy ra.  Ở nơi, chính Đức Mẹ trong hai lần hiện ra tại Lộ Đức năm 1858 và Fatima năm 1917 đã cầm trong tay tràng hạt Mân Côi, như để xác nhận là chính Mẹ đã ban Kinh Mân Côi và dạy lần hạt Mân Côi, một kinh mà Đức Thánh Cha Phaolô VI đã viết trong Thông Điệp “Trong Tháng Năm (Mense Maio)” rằng: “Rất đẹp lòng Đức Mẹ và được Đức Giáo Hoàng khuyến giục nhiều nhất”.

Lần hiện ra tại Lộ Đức, Mẹ đã lần hạt Mân Côi với chị Thánh Bernadette bằng việc dùng ngón tay đưa từng hột chuỗi theo mỗi Kinh Kính Mừng chị đọc.  Sau mỗi chục kinh thì Mẹ đọc chung với chị Kinh Sáng Danh.

Trong cả sáu lần hiện ra tại Fatima với ba em thiếu nhi Lucia, Phanxicô và Giaxinta, Đức Mẹ đã kêu gọi các em hãy lần hạt Mân Côi hằng ngày.  Trong lần hiện ra cuối cùng Mẹ đã tự xưng “Ta là Đức Mẹ Mân Côi”.  Trong lần hiện ra thứ ba, Đức Mẹ đã xin các em thêm vào sau mỗi chục kinh lời nguyện: “Ôi Chúa Giêsu của chúng con, xin tha thứ cho chúng con, xin cứu chúng con khỏi lửa hỏa ngục.  Xin dẫn đưa các linh hồn lên Thiên Đàng, nhất là những linh hồn cần hơn hết.”

Trong bài giảng tại Fatima ngày 13/5/1982, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã nói về Kinh Mân Côi đối với Đức Mẹ như sau: “Lời kêu gọi thống hối bao giờ cũng được gắn liền với cầu nguyện. Hợp với truyền thống của bao thế kỷ, Đức Mẹ của sứ điệp này đã đề cập đến Kinh Mân Côi, một kinh có thể được khẳng định là Kinh của Mẹ Maria, một kinh mà Mẹ đặc biệt cảm thấy gắn liền với chúng ta.”

Thực ra, theo cuốn Ciudad de Dios của đấng đáng kính Maria D’Agreda viết trong thế kỷ 17 về cuộc đời của Đức Mẹ, như được Đức Mẹ tỏ cho biết, thì Kinh Mân Côi được bắt đầu nhen nhúm từ lúc Đức Mẹ tạ thế, qua lời xướng họa của các Thiên Thần từ trời xuống.

Xướng:

– Kính Mừng Maria đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Trinh Nữ.

Đáp

– Một Trinh Nữ trước khi sinh Con, đang khi sinh Con và sau khi sinh Con.

Thế là từ đó người ta bắt đầu bắt chước lời xướng họa này cho đến khi Đức Mẹ truyền dậy Kinh Mân Côi cho Thánh Đaminh.

Năm 1569, Thánh Giáo Hoàng Piô V đã chính thức công nhận Kinh Mân Côi với kết cấu của kinh như hiện dụng, sau khi thêm lời nguyện “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử Amen” vào phần cuối của kinh Kính Mừng, và kinh Sáng Danh vào sau mỗi chục kinh.

Sưu tầm

CHUỖI NGỌC VÀNG KINH

Ave Maria

Như sóng lộc triều nguyên ơn phước cả
Dâng cao dâng, thần nhạc sáng hơn trăng
Thơm tho bay cho đến cõi thiên đàng
Huyền diệu biến thành muôn kinh trọng thể.

Bạn thân mến, đó là tứ thơ tuyệt mỹ dẫn vào bài AVE MARIA bất hủ của Hàn Mặc Tử khi thi sĩ chiêm ngắm kinh Mân Côi, một lời kinh có chỗ đứng chiếm hàng thứ nhất trong lòng tín hữu và đứng thứ hai sau kinh Lạy Cha, xét về mặt giáo lý, thần học.

Lịch sử của Lễ Mân Côi được đóng ấn bằng ngày 1-10-1571.  Khi ấy, sau đỉnh điểm của cơn sốt sợ hãi, cả Châu Âu Kitô giáo thở phào nhẹ nhõm, hết sức mừng vui vì được bình an, tai qua nạn khỏi.  Một Châu Âu của quyền lực, của ngạo mạn, của vinh hoa phú quý đã phải run rẩy và tưởng chừng như bị nuốt trửng bởi đạo quân dũng mãnh của Hồi giáo.  Thế nhưng chiến thắng lại ưu ái thuộc về đạo quân ô hợp Công Giáo, sau khi toàn thể tín hữu hưởng ứng lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Pio 5, sốt sắng đọc kinh Mân Côi xin ơn bình an.  Để ghi nhớ và tỏ lòng tri ân Đức Mẹ, Đức Thánh Cha Pio 5 đã lập lễ này vào ngày 1-10-1572.

1. Sức mạnh của lời kinh đơn sơ: làm chơi ăn thật:

Chiến thắng của người Công Giáo Châu Âu năm 1571 là một sự can thiệp tỏ tường của Mẹ Maria và cho thấy sức mạnh của lời kinh Mân Côi, một lời kinh hết sức đơn sơ, chan chứa tình yêu. Trong cuộc sống, nếu có một công việc làm chơi ăn thật nào chắc chắn người ta sẽ dành giựt nhau, hầu có thể ngẩng cao đầu nghêu ngao “ngày nào trúng mánh ngày đó huy hoàng ngày nào thất mánh ngày đó điêu tàn”!  Thế nhưng nhiều người trẻ không thích đọc kinh Mân Côi chỉ vì kinh này đơn giản quá! Làm như thế là tự chúng ta chối từ một phương tiện nhẹ nhàng và hữu hiệu để nên thánh.

Đầu thế kỷ XII khi bè rối Albigense nổi lên làm điêu đứng dân nước Pháp.  Đức Mẹ đã hiện ra với thánh Đaminh, dạy ngài cách đọc kinh Mân côi và truyền cho Ngài rao giảng như một phương thuốc linh nghiệm ngăn ngừa tội lỗi và sự lầm lạc.  Nơi khác Mẹ phán dạy chân phước Alanô: “Bất cứ ai trung thành đọc kinh mân côi và suy ngắm những Mầu nhiệm sẽ được ân thưởng”.  Tại Lộ Đức Mẹ hiện ra  với tràng chuỗi và đọc kinh Mân côi với Bernadetta.  Tại Fatima cũng vậy:  “Các con hãy siêng năng lần chuỗi Mân Côi”.  Và như chúng ta đã đề cập lúc đầu, chính kinh Mân Côi đã cứu Châu Âu thoát hiểm họa.  Tôi cũng tin rằng, rất nhiều người trong chúng ta đây được ơn trở lại hoặc gia đình được bình an nhờ sức mạnh của kinh Mân côi.  Như thế, ta thấy kinh Mân côi rất đơn sơ mà linh nghiệm.  Đúng là làm chơi mà ăn thật vậy.

2. Phương cách thực hiện:

Kinh Mân Côi là tiếng trẻ thơ gọi “mẹ ơi”, và chỉ vì hai tiếng ngọt ngào đó mà người mẹ có thể làm bất cứ điều gì cho con cái mình.  Do vậy xin hãy đọc kinh kính mừng cách khoan thai, đừng đọc cho xong, cho nhiều.  Mẹ Têrêxa Calcuta rất siêng lần chuỗi nhưng cho biết:  tôi chẳng bao giờ đếm cả.  Tâm trí mẹ Têrêxa dành trọn cả vào việc suy niệm các mầu nhiệm thánh kinh.  Đọc mà không suy niệm sẽ trở thành lải nhải, điều mà Chúa Giêsu đã khuyên các môn đệ phải tránh.  Cũng không nên bắt Mẹ xài điện thoại di động hay chơi xổ số.  Xin đừng ngạc nhiên khi nghe điều này, vì đã từng có người ra tới Lavang rồi mở điện thoại di dộng để trên bàn thờ cho người quen ở nhà, Sài Gòn chẳng hạn, để xin ơn! Cũng có cặp vợ chồng lặn lội đến trung tâm hành hương với hai tờ vé số trên tay!  Hãy nhớ rằng Mẹ Maria là thôn nữ, một người mẹ quê, do vậy chỉ cần hai tiếng “mẹ ơi” là đủ rồi, mẹ hiểu rồi.

3. Mục đích của kinh Mân Côi:

Cải thiện đời sống, siêng năng cầu nguyện và hãm mình đền tội, đó là nội dung của sứ điệp Fatima.  Ở đây tôi chỉ đưa ra vài trường hợp điển hình về tội thời nay để chúng ta ý thức hơn mà sám hối và cầu nguyện cho thế giới.  Hẳn có người còn nhớ câu chuyện tướng về hưu của Trần Huy Thiệp? Câu chuyện xoay quanh lối sống của một bác sĩ, con dâu của một vị tướng về hưu.  Gia đình cô này khá giả không phải vì nghề y nhưng là nghề nuôi chó Bergie.  Cuối cùng người ta mới khám phá ra rằng cô này hàng ngày đem cả một phích các bào thai bị phá về để làm thức ăn cho chó.  Hơn nữa, ở khắp nơi trên thế giới đâu đâu cũng có chém giết nhau, cũng có khủng bố.  Ngoài chuyện chém giết thoải mái, chuyện kinh doanh thân xác phụ nữ, các cô gái Việt Nam chen chúc nhau đứng sắp hàng dài để cho người nuớc ngoài chọn làm vợ.  Sống trong một thế giới như thế, sao chúng ta không dùng Mân Côi như một vũ khí lợi hại để đền bù tội lỗi như Mẹ Maria đã dạy?  Sứ điệp Fatima vẫn còn là lời mời gọi da diết của người Mẹ đối với con cái:  Hãy siêng năng cầu nguyện, cải thiện đời sống, hãm mình đền tội và lần chuỗi Mân Côi.

Nói gần nói xa, chẳng qua nói thật, chia sẻ với các bạn ba điều trên (sức mạnh, mục đích và cách thực hiện kinh Mân Côi) chính là để ta ý thức tội lỗi nhân loại, đồng thời mời gọi mỗi người hãy canh tân đền tội bằng kinh Mân Côi với lòng yêu mến Đức Mẹ.  Nếu ai thấy kinh Kính Mừng quá tầm thường, thì xin được nhắc lại lời tớ gái của quan Naaman người Syria trong câu chuyện ông được tiên tri Eliseo chữa phong hủi: tưởng tiên tri nói điều chi khó làm, chứ như xuống sông Giordan tắm 7 lần mà hết phong thì sao ngài không thực hiện?  Ông đã tắm và da ông trở nên mịn màng như da con trẻ. Tương tự như thế, tưởng điều chi khó lắm chứ dễ như kinh Kính mừng, tại sao chúng ta không đọc hàng ngày…?  Xin dành những câu hỏi này lại để mỗi người suy nghĩ, rồi một lúc nào đó diện đối diện, lòng kề lòng trả lời trước Mẹ.

Cuối cùng xin mượn tiếp những lời thơ của bài Ave Maria trên để kết thúc những chia sẻ này :

Đây rồi, đây rồi, chuỗi ngọc vàng kinh
Thơ cầu nguyện là thơ quân tử ý
Trượng phu lời và Tông đồ triết lý
Là nguồn trăng yêu mến Nữ Đồng Trinh
Là nguồn đau chầu lạy Nữ Đồng Trinh .

Lm Nguyễn Đức Thắng, Tòa Giám Mục Long Xuyên

CẦU THAY NGUYỆN GIÚP

Một lá thư được viết nguệch ngoạc của một đứa trẻ gởi vào bưu điện, và địa chỉ gởi tới là Chúa. Nhân viên bưu điện lấy làm lạ liền mở ra đọc. Thư viết rằng : “Chúa thân mến, con là Tommy, con sáu tuổi. Ba con đã chết và mẹ con phải cực khổ để nuôi sáu anh em con. Xin Chúa cho chúng con 300 đồng nhé”.

Đọc thư xong, anh nhân viên bưu điện rất xúc động và đưa cho các bạn đồng nghiệp xem. Họ quyết định quyên góp để giúp gia đình cậu bé. Số tiền tổng cộng là 100 đồng, và họ gởi tới địa chỉ cậu bé.

Vài tuần sau, họ nhận được lá thư thứ hai. Họ cũng mở ra đọc, thư viết như sau : “Lần tới, xin Chúa có thể gởi trực tiếp cho gia đình con, vì gởi qua bưu điện, họ giữ lại 200 đồng !”

* * * * *

Nghe xong câu chuyện, chúng ta phải bật cười vì sự ngây ngô của cậu bé, nhưng liền sau đó chúng ta lại cảm thấy hổ thẹn vì thấy bóng dáng mình thấp thoáng trong hình ảnh cậu bé : Chúng ta cầu nguyện và muốn được Chúa đáp lời tức thì theo yêu cầu chúng ta đề ra, nếu Người chậm đáp ứng hoặc đáp ứng chưa đủ “chỉ tiêu” chúng ta đưa ra, thì chúng ta lại khó chịu, và cũng chẳng thèm cám ơn Người.

Tin Mừng hôm nay Chúa dạy các môn đệ : “Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí” (Lc 18,1).  Người muốn chúng ta hãy liên lỉ cầu nguyện và cầu nguyện cách kiên trì. Như Môsê quì giang tay suốt ngày cầu nguyện cho dân Do thái thắng trận, như bà goá suốt bao ngày tháng cầu xin quan toà minh xét cho bà, như thánh Mônica ròng rã 20 năm trường cầu nguyện cho người con là Augúttinô trở lại, chúng ta hãy cầu nguyện liên tục và bền chí, không hề nhàm chán, cả khi xem ra Chúa ngoảnh mặt làm ngơ.

Chúng ta không nên tìm kiếm hiệu quả tức thì. Chúa sẽ đáp lời chúng ta lúc nào và cách thức nào có lợi nhất cho chúng ta, theo như thánh ý nhiệm mầu của Người. Thời gian Chúa nhậm lời có thể sẽ lâu hơn chúng ta tưởng, cách thức Người ban ơn có thể sẽ khác với ước nguyện của chúng ta, nhưng bao giờ cũng là lúc thích hợp nhất cho linh hồn chúng ta, bao giờ cũng là cách hữu hiệu nhất cho hạnh phúc vĩnh cửu của mỗi người chúng ta.

Thường chúng ta lầm tưởng rằng, hơn ai hết chúng ta là người biết rõ những điều mình cần xin. Nhưng thánh Phaolô dạy : “Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải, chính Thánh Thần sẽ cầu thay nguyện giúp chúng ta theo đúng ý Thiên Chúa” (Rm 8,21-27). Vì thế, Đức Tổng Giám Mục Fulton Sheen viết : “Pytago đã cấm môn sinh của ông không được cầu nguyện cho chính họ vì họ không biết điều gì là lợi ích cả”. Khôn ngoan hơn, Socrates dạy môn đồ của ông chỉ xin những điều tốt lành, vì lẽ Thiên Chúa biết tường tận những gì là lợi ích cho mình.  Dốt nát và yếu đuối nên chúng ta phải xin Thánh Thần soi sáng để chúng ta làm đẹp lòng Chúa trong lúc an bình cũng như khi xao xuyến.

Như thế, cầu nguyện không phải là việc xin ơn này ơn nọ, theo óc vụ lợi của chúng ta, cầu nguyện không phải là việc tránh né bổn phận để Thiên Chúa làm tất cả, cầu nguyện cũng không phải là việc liệt kê ước muốn để mong chờ Chúa thực hiện. Nhưng cầu nguyện đích thực chính là việc thực hành Đức Tin, nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa để đối thoại với Người, van xin Người tiếp tục ban ơn để chúng ta đủ sức thực hiện thánh ý Người. Thấu hiểu sự yếu đuối của con người nên Chúa Giêsu than thở : “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?” (Lc 18,8). Vậy, cầu nguyện không phải là độc thoại mà là đối thoại liên lỉ và kiên trì với Thiên Chúa trong Đức Tin để trung thành với Chúa cho tới khi Người lại đến.

* * * * *

Tóm lại, lời cầu nguyện có năng lực rất to lớn nhưng muốn nhận được năng lực ấy, chúng ta phải kiên trì cầu nguyện, không nên trông mong kết quả lời cầu xảy đến tức khắc, bởi vì kết quả ấy sẽ đến theo cách thế và theo thời gian tùy Chúa muốn.

Chúng ta hãy kết thúc bằng một suy tư về cầu nguyện:

“Tôi cầu nguyện vì tôi là một Kitô hữu, và để làm tròn bổn phận người Kitô hữu, tôi cần Chúa giúp đỡ.
Tôi cầu nguyện vì trong đời sống tôi có sự hỗn loạn, và để làm điều hay lẽ phải, tôi cần ánh sáng Ngài soi dẫn.
Tôi cầu nguyện vì tôi cần phải đưa ra những quyết  định, mà không phải lúc nào tôi cũng sáng suốt để chọn lựa, vì thế tôi cần được Ngài hướng dẫn.
Tôi cầu nguyện vì tôi có những nỗi hoài nghi, và để lớn mạnh trong đức tin, tôi cần Ngài trợ giúp.
Tôi cầu nguyện vì đa số những gì tôi có là do Ngài ban cho, vì thế tôi phải dâng lời cảm tạ.
Tôi cầu nguyện là vì Chúa Giêsu đã từng cầu nguyện cùng Cha Ngài và nếu Chúa Giêsu cho rằng điều đó là quan trọng thì tôi cũng bắt chước Ngài làm theo như thế.  Amen

Trích trong  R. Veritas