THANH TẨY ĐỀN THỜ

Mahatma Gandhi, vị thánh của dân tộc Ấn Độ, trong nhật ký tự thuật của mình, ông kể rằng khi còn theo học ở Nam Phi, ông rất thích đọc KinhThánh, đặc biệt là “Bài giảng trên núi”.  Ông xác tín rằng Kitô giáo chính là giải đáp cho hệ thống đẳng cấp đã gây thương tổn cho đất nước Ấn Độ của ông từ bao thế kỷ.  Ông thực sự nuôi ý định trở thành Kitô hữu.

Ngày kia, ông vào một nhà thờ để dự lễ và nghe giảng.  Người ta chặn ông lại ở cửa nhà thờ và nhẹ nhàng cho ông hay rằng nếu ông muốn dự lễ, xin mời ông đến một nhà thờ dành riêng cho người da đen.

Ông ra đi và không bao giờ trở lại.

**********************************

Tin Mừng hôm nay thuật lại Đức Giêsu xua đuổi những người bán chiên bò, chim câu và những người đổi tiền ra khỏi Đền Thờ.  Chắc chắn Người không hề xua đuổi những con người thành tâm thiện chí.  Nhà thờ là nơi tôn nghiêm, qui tụ các tín hữu, cử hành phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể, mọi người chung một niềm tin, một lời cầu tôn vinh Thiên Chúa.  Nhà thờ chính là Hội Thánh thu nhỏ, không phải là ngôi nhà kín rào lũy cấm, trái lại phải mở rộng để đón tiếp mọi người.

Hôm nay Đức Giêsu phải xua đuổi người ta ra khỏi Đền Thờ, vì Người không muốn nơi thánh thiêng trở thành cái chợ, Người không muốn nhà Cha Người bị xúc phạm.  Người thấy cần phải thanh tẩy Đền Thờ.  Thái độ quyết liệt của Đức Giêsu đòi chúng ta phải xét lại chính mình.

Dường như không khí chợ búa vẫn vương vấn đâu đây:  Người ta hẹn hò vào các giờ lễ, họ đi nhà thờ nhưng mắt trước mắt sau, họ lo trình diễn áo quần kiểu tóc.

Có kẻ đến nhà thờ để thắp sáng hào quang cho chính mình hơn là cho Chúa.

Có những đám cưới yêu cầu bật sáng mọi bóng đèn trong thánh đường.

Có những đám ma nhà thờ phải treo cờ tang phướn rũ như một biển tím, một rừng tang.  Đồng tiền đã che mờ nét tôn nghiêm nhà Chúa.

“Hãy đem tất cả những thứ này ra khỏi đây”. (Ga 2,16). Lời bất bình đó của Đức Giêsu vẫn như còn đang nói với chúng ta hôm nay.  Người muốn các nhà thờ phải là nơi thờ phượng, nơi tĩnh lặng để con người gặp gỡ Thiên Chúa.  Không cần ồn ào, nặng phần trình diễn, cũng không nên máy móc, buồn tẻ khi cử hành các nghi thức phụng vụ.

Nếu mỗi thánh lễ là tái diễn Hy lễ Thập Giá của Đức Giêsu, Đấng đã yêu cho đến cùng, thì mỗi thánh lễ cũng mang một sức sống mới của Đấng Phục Sinh.  Người chính là Đền Thờ mới, nơi nhân loại sẽ thờ phượng Thiên Chúa Cha cách đích thực.

**********************************

Lạy Cha, Mùa Chay là mùa thanh tẩy các đền thờ: đền thờ vật chất là những thánh đường và đền thờ thiêng liêng là mỗi người chúng con.  Xin giúp chúng con biết thanh tẩy những nhơ nhớp trong tâm hồn, hầu xứng đáng đến thờ phượng Cha trong Đền Thờ mới là Đức Giêsu, con cha.  Amen!

Thiên Phúc

GƯƠNG SOI

Hằng ngày tôi vẫn soi gương nhiều lần, có khi nhiều hơn tôi tưởng. Mỗi lần soi gương, ít nhiều nó cũng để một cảm giác nhẹ nhàng khoan khoái.  Nhưng rồi gần đây, một chiều lặng lẽ bên dòng suối, khi soi mình dưới mặt nước, tôi thấy gương mặt mình giao động, hình dạng thay đổi và trông khác với khuôn mặt mà mình thường soi trong gương mỗi ngày.  Một ý nghĩ chợt đến, một thắc mắc gợi về.  Đâu là khuôn mặt thật của tôi?

Cuộn theo dòng tư tưởng nối tiếp, một kỷ niệm ngày xưa trở lại.  Nhớ có lần bạn bè thốt lên: “Sao dạo này mặt cậu ốm thế?”  Tôi tự tin phản ứng: “Đâu có, vẫn tròn trĩnh như ngày xưa chứ có gì thay đổi đâu.  Vẫn soi gương và thấy mình khỏe mạnh”

Sau này khám phá ra, mới biết chính cái gương soi mỗi ngày đã tạo cho khuôn mặt của mình luôn ú mập, chứ thật ra má đã hóp và mắt đã sâu.  À, thì ra có loại gương khi soi vào ta thấy mặt mình dài ra như toa xe lửa, nhưng cũng có loại gương cho ta một khuôn mặt tròn trĩnh như cái bánh tét ngày xuân.  Còn có loại gương khi soi vào mà giật mình đánh thót, tưởng mình như ông cụ đến tuổi “thất thập cổ lai hy”.  Rồi cũng loại gương mà khi soi vào, nó cho ta cảm giác thấy đời xuân vẫn còn phơi phới.  Phức tạp quá!  Có chuyện soi gương mà cũng lắt léo làm sao!

Soi gương một đời mà chưa bao giờ trông thấy chính xác khuôn mặt thật của mình.  Có mỉa mai làm sao không chứ!  Rồi trách gương dối trá không phản ánh sự thật, dù sự thật đang sững sờ trong gương.  Trách gương dối trá lại tội nghiệp cho gương, có phải gương dối trá hay lòng người quanh co?  Biết đâu người sản xuất vì vô tình hay hữu ý đã tạo cho gương méo mó trong phản ánh.  Vì pha chất không chính xác hay bất cẩn trong cân đo để tạo nên mặt thủy tinh lừa gạt?  Đâu là nguyên do của méo mó, hay chấp nhận méo mó như một thực tại tương đối của cuộc sống?  Thật khó mà đánh giá.

Chỉ là chuyện tí tẹo giữa khuôn mặt với gương soi.  Chỉ là chuyện bên ngoài, thật ngoài của một con người mà lắm khi cảm thấy quanh co méo mó.  Mà cuộc sống đâu chỉ là chuyện đầu tóc dáng vóc, đâu chỉ là chuyện mặt tròn mặt méo, mũi cao mũi tẹt, hay cặp mắt với hàng mi.  Ẩn sâu trong ánh mắt nụ cười ấy còn cả một cuộc sống muôn màu của một con người mà ta thường gọi là nhân cách nữa chứ.

Muốn biết nhân cách của mình ra sao tôi cũng phải nhờ đến gương soi. Không phải dùng tấm thủy tinh tráng sơn một mặt, rồi trông vào đó nổi lên nhân cách của mình.  Mà tôi phải dùng đến một loại gương phức tạp hơn, tinh tế hơn.  Gương cuộc đời.

Môi trường của tôi đang sống, hoàn cảnh tôi đang chung đụng, bạn bè tôi đang giao du hay vợ chồng con cái tôi đang gắn bó.  Tất cả là tấm gương diệu kỳ phản ánh toàn bộ con người của tôi.  Nó cho biết nhân cách của tôi ra sao, lối cư xử của tôi thế nào.  Tôi là người dễ thương hay đáng ghét, là người rộng mở hay khép kín, chân thành hay gian dối?  Tôi phải soi vào tấm gương diệu kỳ ấy để thấy rõ chính mình.  Khi được nhiều người thương yêu, bạn bè quý mến, xóm giềng viếng thăm, tôi biết mình đang an vui trong vòng tay rộng mở của cuộc đời và niềm vui được gia tăng trong từng quan hệ.

Khi mọi người “phớt tỉnh ăng lê”, xóm giềng qua lại thưa dần, người thân thì ngại đến, vậy là tôi cũng linh cảm phần nào về nhân cách của mình rồi đó.  Chắc có gì không ổn đây!  Tín hiệu cho biết có những vết nhăn nheo đang làm cho khuôn mặt tâm hồn của tôi mất duyên.  Có lẽ tôi phải rà lại đâu là nguyên nhân đã làm cho sợi dây quan hệ rỉ sét.  Lắm khi tôi muốn người khác quan tâm, nhưng tôi lại chẳng bao giờ muốn cầm “phone” để gọi.  Muốn nhận được nhiều cánh thư nhưng chẳng bao giờ muốn viết đôi dòng gửi đi.  Muốn có ai đó chân thành, nhưng lòng thì vẫn luôn khép kín.  Muốn có thật nhiều bạn tốt, nhưng lòng tôi thì cứ mãi lắt léo quanh co.

Gương cuộc đời cho tôi cái nhìn thật rộng trong từng quan hệ, nhưng cũng cho tôi cái nhìn thật sâu trong nhân cách của mình.  Dù vẫn lắm lúc bất toàn trong phản chiếu, vẫn méo mó khi rọi soi, nhưng dù sao nơi đó tôi cũng đọc được đời tôi trong từng tương quan với cuộc sống.  Cũng như khuôn mặt phải soi gương mỗi sớm, phải ngắm nghía mỗi chiều thì nhân cách của tôi cũng phải được rọi soi mỗi ngày để cái nhìn thêm sáng, để cư xử thêm tươi.

Gương thủy tinh phản ánh trọn vẹn bên ngoài của một khuôn mặt.  Gương cuộc đời chiếu lên toàn bộ của một nhân cách.  Vậy gương gì phản chiếu cái thâm sâu của một tâm hồn?  Cái độc đáo và giá trị của một con người không chỉ dừng lại nơi mái tóc hàm răng, hay ánh mắt bờ mi.  Nó cũng không dừng lại nơi cái thế giới đa dạng của nhân cách, cho dù nó phong phú đến đâu đi chăng nữa. Nhưng còn có cái gì đó sâu thẳm hơn, giá trị hơn, và trường cửu hơn.

Ẩn sâu dưới khuôn mặt và đôi mắt, khuất lấp sau bề dày của nhân cách, có một thế giới huyền nhiệm, đó chính là tâm hồn. Vì tâm hồn quá sâu, quá huyền bí nên tôi không thể lấy gương thủy tinh để rọi, cũng chẳng có thể lấy gương cuộc đời để soi.  Tôi phải nhờ đến chính Chúa là tấm gương nhiệm mầu có thể soi rọi mọi ngõ ngách thầm kín sâu xa của hồn mình.

Để muốn biết rõ tâm hồn tôi ra sao, đời sống đạo tôi thế nào? Để có thể thấy được niềm tin của tôi còn đủ thắp sáng cho cuộc lữ hành trần thế hay không?  Tôi phải soi gương.  Gương Giêsu.

Tôi không thể chạy đến cha xứ hỏi, “Cha ơi, cha thấy tâm hồn con dạo này ra sao?” Tôi cũng chẳng thể chạy đến ông trùm rồi nói, “Ông thấy đời sống đạo của tôi dạo này thế nào?”  Mà tôi phải chạy đến chính Chúa, để chính Ngài soi cho tôi biết tình trạng tâm hồn của mình.  Có thể lâu nay tâm hồn tôi bất an, khuôn mặt tôi u buồn, tôi tìm đủ mọi loại gương để ngắm nghía, tôi tìm đủ mọi loại người để hỏi han, nhưng có khi tôi lại quên tìm đến gương Giêsu để khám phá ra mọi nguyên nhân xáo trộn.  Có khi hồn tôi đang vương vấn, tim tôi đang đi hoang, óc tôi đang xao xuyến trăm bề, thì dù tôi có soi gương trăm lần mỗi ngày, có bỏ công trang điểm “full-time”, thì nụ cười tôi vẫn gượng gạo, ánh mắt tôi vẫn u uẩn nét buồn.

Khi soi gương Giêsu mỗi ngày, tâm hồn tôi có sự bình an, tôi tìm được niềm vui và niềm tin giữa muôn xáo trộn của cuộc sống.  Và thế là hiện lên ánh mắt rạng rỡ và nụ cười hân hoan.  Không điểm trang nhiều mà đôi mắt vẫn đẹp, không ngắm nghía nhiều mà nụ cười vẫn tươi.  Phải chăng đó là điều kỳ diệu của cuộc sống con người khi liên kết đời sống thể lý với cuộc sống tâm linh?  Khi dìm mình trong gương soi Giêsu, không những tôi tìm cho mình được câu trả lời về vấn nạn của cuộc sống, mà còn đem lại cho tôi một sức biến đổi diệu kỳ.  Rồi sự biến đổi ấy toát ra nơi ánh mắt nụ cười đưa tôi đến gần với con người, đến gần với cuộc sống như dòng suối mát chan tưới cả đồng xanh.

Trong thinh lặng chiều nay, tôi tự hỏi: bấy lâu tôi soi gương thật nhiều, tôi điểm trang thật công phu, có bao giờ tôi nghĩ đến gương Giêsu nhiệm mầu đang đóng vai trò quyết định cho vẻ đẹp thanh thoát của tôi.  Tôi tự nhủ với lòng mình, có lẽ phải bắt đầu từ hôm nay, mỗi tinh sương trong nắng ấm hay cô quạnh khi đêm về, tôi phải dìm sâu trong gương soi Giêsu, để đời mình thêm đẹp và hồn mình thêm vui.  Rồi trong đêm vắng, tôi thổn thức thì thầm như lời kinh sám hối.

Chúa ơi, lâu nay con vẫn một đời mê mãi điểm trang cho khuôn mặt để tìm cái đẹp trong ánh mắt của người khác, nhưng con lại quên tìm vẻ đẹp trong ánh mắt Chúa.  Con có ngờ đâu, khi con tìm được vẻ đẹp hồn con trong cái nhìn của Chúa, thì con cũng có được vẻ đẹp thanh thoát dịu dàng trong cái nhìn của những người xung quanh.  Khi con trở về với Chúa, con nếm cảm được sự bình an để rồi con có niềm vui chan chứa khi đến với con  người.  Ước gì mỗi lần soi gương để điểm tô khuôn mặt, con cũng biết thì thầm: “Chúa ơi, xin thánh hoá hồn con!”

Nguyễn Thảo Nam

TỪ TABOR ĐẾN GOLGOTHA

Một linh mục qua nhiều năm coi xứ đã kể một câu chuyện khá dí dỏm và cũng rất sâu sắc như sau:

Có một đôi vợ chồng trẻ rất xinh đẹp và sống với nhau cũng rất khéo.  Đúng là một cặp “trai tài gái sắc”.  Có lẽ chính nét trẻ trung xinh xắn của vợ chồng đã cho họ một mùa xuân cuộc đời thật nồng cháy tình yêu và hạnh phúc.

Một ngày nọ, người vợ ăn một nửa trái táo, rồi tặng chồng phần kia.  Người chồng vui vẻ đón nhận:

– Ôi nửa trái táo ân tình, công chúa của lòng anh!

Hai mươi năm sau.  Cũng đôi vợ chồng ấy, cộng thêm những nét tàn tạ của thời gian.  Cũng một trái táo, vợ ăn một nửa, mời chồng phần còn lạị  Nhưng người chồng nhăn mặt:

– Sao lại cho nửa trái táo ăn thừa?

Tất cả nguyên trạng chỉ khác nhau có nhan sắc.  Cũng nửa trái táo dâng tặng nhưng hai mươi năm trước nhận từ tay “người đẹp” là trái táo ân tình.  Hai mươi năm sau từ tay “nàng già” là trái táo ăn thừa.  Nếu chỉ dựa vào nhan sắc người ta sẽ mất hết tất cả với thời gian.

************************************

Cuộc biến hình trên núi Tabor được xếp đặt trước việc tiên báo khổ nạn.  Nếu người ta làm cho an toàn những viên thuốc đắng bằng một lớp vỏ bọc đường, thì Đức Giêsu cũng hoá giải tin khổ nạn bằng một cuộc biến hình rực rỡ.  Bọc đường chứ không bọc thuốc ngủ.  Hóa giải chứ không gây mê.

Nhưng có lẽ cuộc biến hình đã phản tác dụng:  “Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm, chúng con xin dựng ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Elia” (Mc 9,5).  Vậy là Phêrô, Giacôbê và Gioan muốn định cư luôn trên đỉnh núi Tabor.  Họ đòi ngủ yên trong hào quang rực rỡ.  Họ bỏ lại dưới chân núi các bạn đồng môn, các cuộc truyền giáo.  Họ muốn xa rời dân chúng đang khao khát Lời Chúa.

Các ông đâu biết rằng Thầy Giêsu chỉ lên đỉnh núi Tabor trong chốc lát, rồi xuống chân núi chuẩn bị vác thập giá lên đồi Canvê.  Theo Thầy không phải là lên cao hưởng thụ, nhưng là xuống thấp và leo lên thập giá với Thầy.

Cũng như ba môn đệ, đôi vợ chồng trong câu chuyện trên chỉ muốn dừng lại ở vẻ đẹp.  Nhưng vẻ đẹp đâu tồn tại mãi, Chúa chỉ mặc “tấm áo trắng như tuyết” trong chốc lát vì niềm hy vọng Phục Sinh.  Cuộc đời cần hạnh phúc chứ không phải vẻ đẹp.  Vẻ đẹp là một ân huệ của trời, nhưng cũng có thể là cạm bẫy cướp đi hạnh phúc.

Giá trị đích thực chính là tình yêu, chính do tình yêu mà đôi vợ chồng mới giữ được lòng chung thủy, chính do tình yêu mà các Kitô hữu mới trở nên bóng hình xinh đẹp rực rỡ của Chúa.  Chính do tình yêu mà chúng ta phải biến hình đổi dạng mỗi ngày để phản ánh vinh quang ngời sáng của Người.

Đức Kitô vinh quang của Tabor cũng chính là Đức Kitô rong ruổi trên các đường phố Palestina rao giảng, chữa bịnh và làm các phép lạ.

Đức Kitô sáng láng của Tabor cũng chính là Đức Kitô thấm đẫm mồ hôi trong vườn Giệtsimani.

Đức Kitô của Tabor cũng chính là Đức Kitô trên thập giá đỉnh Golgotha.

Hai đỉnh núi Tabor và Golgotha cách nhau không xa, nhưng lại là con đường vạn lý, con đường đau khổ, con đường vượt qua:  Đường tình yêu.  Theo Thánh Têrêsa thành Lisieux:  “Sống tình yêu không phải là căng lều trên đỉnh Tabor, mà là cùng với Giêsu ta trèo lên đồi Canvê”.  Thánh Bernadette cầu nguyện:  “Con không xin cho mình khỏi phải đau khổ, nhưng chỉ xin Người đừng bỏ con trong khổ đau”.

************************************

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn can đảm tiến bước trên đường đời chông gai vạn nẻo, với niềm hy vọng biến cố Phục Sinh sẽ bừng sáng.  Amen!

Thiên Phúc

TRỞ VỀ

Trong một buổi chia sẻ kinh nghiệm sống một phụ nữ đã kể lại như sau:

Tôi nhớ ngày tôi còn là một thiếu nữ, một lần kia cha mẹ tôi dắt tôi đi xem cuốn phim tựa đề là “Ảo ảnh cuộc đời”.  Phim đó kể lại chuyện một cô gái không những đã bội bạc mà còn khinh khi làm khổ người mẹ đang hết lòng yêu thương và hy sinh cho cô.  Qua nhiều biến cố thăng trầm, cuối cùng, người mẹ đau khổ đó chết, cô gái trở về thống hối tiếc thương.

Về nhà, hôm ấy gia đình bàn tán về ý nghĩa của câu chuyện trong phim.  Tôi nhớ rõ là tôi đã bực bội phê bình to tiếng: “Bấy giờ mới trở về ăn năn thống hối làm gì nữa, vì mẹ đã chết rồi.”

Tôi thấy mẹ tôi định trả lời, nhưng cha tôi dùng ánh mắt ngăn mẹ tôi lại và nói:  “Không có sự trở về nào là trễ trong tình thương con ạ”.

Ngày đó, thú thật tôi không hiểu gì nhiều về câu trả lời của cha tôi.  Nhưng bây giờ đã là mẹ, tôi mới thấm thía ý nghĩa của lời đó.  Chính câu nói ấy đã giúp tôi luôn sẵn sàng yêu thương tha thứ cho con cái tôi.

****************************

Phim truyện này cho chúng ta hình ảnh về cuộc đời như một dòng nước tuôn chảy từ trên xuống dưới, Việt Nam ta có câu:  “Nước mắt chảy xuôi” là theo nghĩa đó.  Cha mẹ yêu thương con cái không mong gì từ con cái, chỉ cầu mong con mình đầy đủ, khoẻ mạnh, vui tươi, hạnh phúc.  Nếu chúng trở nên người tốt, hữu ích cho đời nó và cho xã hội, gia đình nó ấm cúng, đạo hạnh, tử tế là cha mẹ vui lòng rồi.

Tình yêu cao cả vô vị lợi đó, chính là hình ảnh của tình yêu Thiên Chúa dành cho con người.  Khi chúng ta sống ngay lành, thánh thiện, chúng ta không làm tăng thêm một chút gì cho Chúa nhưng khi chúng ta lầm lỗi, là lúc chúng ta làm phiền lòng Người.  Những lúc đó Chúa luôn mong mỏi chúng ta trở về, vì Ngài không muốn cho chúng ta phải bất hạnh, xa rời tình yêu của Ngài.

Trong tin Mừng Chúa Giêsu có nói: “Cứ để cả hai cùng lớn lên cho đến mùa gặt” (Mt 13,30a).

Cả hai đây chính là cỏ lùng và lúa tốt, người lành thánh và kẻ tội lỗi.  Chúa muốn nói đến lòng kiên nhẫn chiu đựng của Ngài trước lỗi lầm của chúng ta.  Chúa ghét tội nhưng lại yêu mến tội nhân vì họ còn có thể thống hối để được tha thứ.  Nhưng Chúa kiên nhẫn chịu đựng là để giải thoát cho chúng ta chứ không phải để dung túng cho tội lỗi.

Vậy trong cuộc đời làm con Chúa đừng bao giờ ngã lòng thất vọng, vì với tình thương không bao giờ là quá muộn, chỉ cần chúng ta biết mở rộng cõi lòng để Chúa tuôn đổ tình yêu của Ngài.

****************************

Lạy Chúa, xin cho con biết đại lượng với anh em, nhất là những người thân yêu trong giao tiếp hàng ngày.  Xin giúp con mỗi khi thấy mình lầm lỗi biết ăn năn thống hối, trở về cùng Chúa.  Xin cho con luôn xác tín rằng Chúa luôn đồng hành với con và luôn yêu thương con.  Đối với Chúa không bao giờ là quá muộn.  Xin cho con luôn bắt đầu lại trong tin yêu và hy vọng.  Amen!

Thiên Phúc

HÃY CẢI THIỆN VÀ HÃY TIN

Piri Thomas có viết một tác phẩm nhan đề “Trong Những Con Ðường Xấu Xa” (Down These Mean Streets).  Tác phẩm mô tả việc ông cải tà qui chánh từ một người bị kết án tù, một người nghiện ma tuý, và cố tình giết người để rồi trở thành một Kitô hữu gương mẫu.

Một đêm kia, Piri đang nằm trên giường trong phòng giam của mình. Đột nhiên, anh nghĩ tới tình trạng hỗn loạn mà anh đã gây ra trong đời anh.  Anh cảm thấy có một ước muốn mãnh liệt là cầu nguyện.  Nhưng anh đang nằm cùng giường với một tù nhân khác mà người ta gọi là “thằng ròm”.  Vì thế anh chờ đợi. Sau khi đoán chắc rằng “thằng ròm” đã ngủ, anh leo ra khỏi giường và quì xuống nền bê tông lạnh ngắt để cầu nguyện.  Anh kể lại: “Tôi bầy tỏ với Chúa những gì có trong trái tim tôi… Tôi nói với Ngài những lời mộc mạc… chứ không phải những lời hoa mỹ… Tôi nói với Ngài những điều tôi muốn, những thiếu thốn của tôi, những hy vọng và thất vọng của tôi,… Tôi cảm thấy dường như tôi có thể khóc được… Đó là một điều mà bao nhiêu năm nay tôi không thể làm”.

Sau khi Piri cầu nguyện xong, một tiếng nói nho nhỏ đáp: “Amen”. Đó là tiếng của “thằng ròm”.  Piri nói: “Thế là hắn nằm sấp xuống, đầu úp trên đôi tay khoanh lại, còn tôi vẫn quì yên lặng.  Một lúc thật lâu không ai nói với ai.  Rồi “Thằng ròm” nói nhỏ: “Tôi cũng tin Chúa!”. Hai người bạn trẻ nói chuyện với nhau một lúc lâu.  Rồi Piri leo lên giường ngủ.  Anh nói: “chúc Chico ngủ ngon nhé”. Tôi nghĩ rằng Thiên Chúa luôn luôn ở với chúng ta, chỉ có chúng ta là không ở với Ngài thôi”.

*******************************

Câu chuyện này là một hình ảnh rất đẹp, minh hoạ những gì Đức Giêsu muốn nói trong bài Tin Mừng hôm nay khi Ngài bảo: “Hãy cải thiện đời sống và hãy tin vào Phúc Âm”.  Giáo huấn của Đức Giêsu gồm hai điều: trước hết là “cải thiện” đời sống của chúng ta. Sau đó là “tin vào Phúc Âm”, chúng ta hãy bắt đầu với điểm thứ nhất: cải thiện đời sống.

“Cải thiện” hay “cải tà qui chánh” nghĩa là nhìn nhận những gì xấu, không tốt đẹp trong đời sống của chúng ta, và sau đó là từ bỏ chúng, quay lưng lại với chúng, nói khác đi là thẳng thắn đối diện với tội lỗi trong đời sống của ta, rồi cương quyết không tái phạm nữa.  Như thế có nghĩa là bắt chước Piri Thomas nhìn nhận tình trạng hỗn loạn mà anh đã gây ra trong đời sống của anh và quyết định làm một điều gì tốt đẹp để sửa lại chuyện đó.

Tất cả chúng ta đều có thể có những kinh nghiệm tương tự như Piri Thomas.  Chúng ta cũng ý thức về những khuynh hướng xấu thỉnh thoảng làm hỗn loạn đời sống chúng ta.  Chẳng hạn chúng ta ý thức về tính ích kỷ khiến chúng ta đặt quyền lợi của mình lên trên nhu cầu của tha nhân.  Chúng ta ý thức về tính cao ngạo khiến chúng ta không muốn nhìn nhận những sai trái của mình.  Chúng ta ý thức về tính lười biếng khiến chúng ta ngại giúp đỡ tha nhân.  “Cải thiện” nghĩa là đối diện với những khuynh hướng xấu trong đời sống chúng ta và làm một cái gì để sửa đổi những khuynh hướng đó.

Điều này dẫn chúng ta đến điểm thứ hai trong giáo huấn của Đức Giêsu.  Ngòai việc cải thiện đời sống ra, Đức Giêsu còn yêu cầu chúng ta “tin vào Phúc Âm”.  Nghĩa là tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và Ngài đến để cứu chúng ta. Nghĩa là tìm kiếm Đức Giêsu đặc biệt trong Bí Tích Hoà Giải, và nhận nơi Ngài sự tha thứ và chữa lành.  Nghĩa là làm những gì Piri đã làm sau khi nhìn ra những gì xấu xa trong cuộc sống của anh. Anh đã quay về với Thiên Chúa để cầu cứu.  Anh tin vào “Tin Mừng” cho biết rằng Thiên Chúa đã sai Đức Giêsu đến thế giới này để cứu chuộc những người tội lỗi như anh. Chính vì thế, câu chuyện của Piri Thomas là hình ảnh rất đẹp minh hoạ hai điểm trong giáo huấn của Đức Giêsu trong bài  Tin Mừng hôm nay.  Điểm thứ nhất là “cải thiện” đời sống. Điểm thứ hai là “Tin vào Tin Mừng” tin rằng Đức Giêsu đến để cứu giúp chúng ta.

Cách đây ít lâu, tác giả Kilian Mc Donnell đã thực hiện một cuộc thăm dò sâu sắc về những cuộc trở lại.  Cuộc thăm dò ấy đã đáp ứng câu hỏi này: Tại sao có một vài nhà rao giảng Tin Mừng lại rất thành công trong việc làm cho thính giả hối cải như thế?  Theo Mc Donnell, có một điều là họ theo giáo huấn của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay.  Họ làm cho quần chúng nhìn nhận rằng mình là những kẻ tội lỗi, và họ giúp quần chúng quay về với Đức Kitô để được cứu độ.   Ông nói: “Nhiều người không nhìn nhận Đức Kitô vì họ không nhìn nhận rằng chính họ là những kẻ tội lỗi.  Nếu tôi không phải là người tội lỗi thì tôi đâu cần đến Đức Kitô”

Mc.Donnell kết luận: “Không ai mừng kính những mầu nhiệm của Đức Kitô một cách vui mừng, nếu trước tiên người đó không buồn rầu nhìn nhận rằng mình là kẻ có tội”.  Bài Tin Mừng hôm nay kêu gọi chúng ta thực hiện hai điểm quan trọng ấy.  Nó mời gọi chúng ta nhìn nhận mình là những kẻ có tội, và quay về với Đức Giêsu để được cứu độ.  Điều đó khiến chúng ta đi đến một nhận xét quyết định.  Bài Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta như thể dẫn chúng ta vào mùa chay một cách tốt đẹp.  Qua các thế kỷ, các Kitô hữu đều nhận thấy mùa chay là thời gian Thiên Chúa ban ân sủng cách đặc biệt, nhất là để giúp ta cải thiện đời sống

Nếu chúng ta muốn tìm một phương thế đặc biệt để sống tinh thần mùa chay năm nay, thì không có phương thế nào tốt hơn là coi mùa chay như một cơ hội thuận tiện để tái khám phá ra quyền năng của Bí tích hoà giải và sự bình an này, chúng ta thực hiện những gì mà Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta làm, chúng ta hãy nhận thức được tình trạng tội lỗi của mình và nhận Ngài làm cứu Chúa của ta.

Để kết thúc, chúng ta hãy suy nghĩ về một đoạn như thư của thánh Phaolô nhận thức được tình trạng tội lỗi của mình và nhận Đức Giêsu làm Cứu Chúa của mình. Thánh Phaolô viết:

“Tôi không hiểu những gì tôi làm, vì tôi không làm những gì tôi muốn làm, mà lại làm những gì tôi không muốn làm,…vì ngay cả khi tôi muốn làm điều tốt thì tôi cũng không làm được. Tôi không làm điều tốt tôi muốn làm mà lại làm điều xấu tôi không muốn làm… Thật tôi là người vô phúc biết bao. Ai sẽ cứu tôi khỏi cái thân xác đang dẫn tôi tới cái chết này?….. Tạ ơn Thiên Chúa… người đó là Đức Giêsu Kitô!” (Rm 7: 15-25) 

Lm Mark Link

LỜI NGUYỆN XIN TĨNH LẶNG

Hãy làm thinh và biết Ta là Đức Chúa.

Kinh thánh quả quyết với chúng ta rằng nếu chúng ta làm thinh thì sẽ biết Chúa, nhưng có được sự lặng yên thì nói dễ hơn làm.  Như Blaise Pascal từng nói, “Mọi khốn khổ của con người là do chẳng ai có thể ngồi yên trong một tiếng đồng hồ.”  Đạt được sự tĩnh lặng có vẻ là việc quá tầm chúng ta, và như thế chúng ta gặp một song đề: chúng ta cần tĩnh lặng để tìm Chúa, nhưng cần Chúa giúp để tìm sự tĩnh lặng.  Nghĩ như thế, tôi xin đưa gởi gắm các bạn một lời nguyện xin sự tĩnh lặng.

Lạy Thiên Chúa của tĩnh lặng…

Xin làm tĩnh lặng những bồn chồn tuổi trẻ của con, tĩnh lặng cơn đói khát cứ ập vào con, cơn đói khát muốn nối kết với mọi người, muốn thấy và thưởng nếm mọi thứ, cơn đói khát khiến con mất bình an những buổi tối cuối tuần.  Xin tĩnh lặng những giấc mơ tự đại muốn mình nổi bật với người khác.  Xin cho con ơn sống hài lòng hơn với bản thân con.

Xin tĩnh lặng cơn bồn chồn khiến con thấy mình quá nhỏ bé.  Xin cho con biết rằng đời con là đủ, và con không cần đòi hỏi về mình, dù cho cả thế giới đang cố lôi kéo con làm thế với vô vàn những hình ảnh tiếng động khắp nơi.  Xin cho con ơn sống bình an trong cuộc đời mình.

Xin làm tĩnh lặng tính dục của con, chỉnh đốn những khao khát bừa bãi, dục vọng của con, nhu cầu không ngơi muốn được thân mật hơn nữa của con.  Xin tĩnh lặng và chỉnh đốn những dục vọng trần tục của con mà không cần phải xóa bỏ chúng đi.  Xin cho con biết nhìn người khác mà không phải với con mắt tình dục ích kỷ.

Xin tĩnh lặng những lo âu, trăn trở của con và đừng để con lúc nào cũng sống ngoài giây phút hiện tại.  Xin cho con biết ngày nào có mối lo của ngày ấy.  Xin cho con ơn biết rằng Chúa đã gọi con trong yêu thương, viết sẵn tên con trên thiên đàng, và con được tự do sống mà không cần lo lắng.

Xin tĩnh lặng nhu cầu muốn bận rộn luôn mãi của con, muốn kiếm việc gì đó để làm, muốn lên kế hoạch cho ngày mai, muốn hoạt động mọi phút giây, muốn tìm cái gì đó để lấp đầy khoảng thinh lặng.  Xin cho con biết thêm tuổi thêm khôn ngoan.  Xin làm nguôi đi những cơn giận âm ỉ vô thức của con vì thấy quá nhiều mong muốn của mình chưa thành sự.  Xin tĩnh lặng sự chua cay vì thất bại của con.  Xin giữ con khỏi ghen tương khi con cay đắng chấp nhận những giới hạn của cuộc sống mình.  Xin cho con ơn chấp nhận những thất bại và hoàn cảnh của mình.

Xin tĩnh lặng nỗi sợ chính mình, nỗi sợ trước những thế lực tăm tối đang đe dọa con trong vô thức.  Xin cho con can đảm để đối diện với bóng tối cũng như ánh sáng của chính mình.  Xin cho con ơn đừng sợ sự phức tạp của mình.

Xin tĩnh lặng nỗi sợ bẩm tại của con là sợ mình không được yêu thương, sợ con không xứng đáng để yêu.  Xin làm tĩnh lặng sự hoài nghi dằn vặt rằng con luôn là kẻ ngoài cuộc, rằng cuộc sống thật bất công, rằng con không được tôn trọng và thừa nhận.  Xin cho con ơn biết rằng con là con yêu dấu của Chúa, Đấng yêu thương con vô điều kiện.

Xin tĩnh lặng trong con nỗi sợ vô cớ đối với Chúa, để con đừng thấy Chúa xa cách và đáng sợ, mà thay vào đó là nhìn thấy Chúa nồng ấm và thân thiện.  Xin cho con ơn liên kết với Chúa thật hồn nhiên, như một người bạn mà con có thể chuyện trò, đùa giỡn, vui vẻ và thân thiết.

Xin tĩnh lặng trong con những suy nghĩ bất dung, về những giận hờn từ quá khứ, những bội bạc, lăng mạ mà con phải chịu.  Xin tĩnh lặng trong con những tội mà chính con đã phạm.  Xin tĩnh lặng trong con những tổn thương, cay đắng và giận hờn.  Xin cho con sự tĩnh lặng từ sự tha thứ, từ con và cho con.

Xin tĩnh lặng những nghi ngờ, lo lắng về sự hiện diện của Chúa, về lòng trung tín của Chúa.  Xin tĩnh lặng trong con xung lực muốn để lại dấu ấn, muốn tạo nên gì đó bất tử cho bản thân mình.  Xin cho con ơn biết tin tưởng, ngay cả trong tối tăm và nghi hoặc, rằng chính Chúa sẽ cho con sự sống đời đời.

Xin tĩnh lặng tâm hồn con để con biết Chúa là Thiên Chúa, và cho con biết Chúa đã tạo dựng và gìn giữ mọi hơi thở của con, rằng Chúa yêu thương con cũng như hết thảy mọi người, rằng Chúa muốn cuộc sống chúng con bừng nở, Chúa muốn chúng con hạnh phúc, Chúa yêu thương và chăm lo hết mọi người, rằng chúng con sẽ được an bình trong bàn tay nhân từ của Chúa, ở đời này và đời sau.  Amen!

Rev. Ron Rolheiser, OMI

VUA SỰ THẬT

Chúa Giêsu thật là ngược đời.  Khi làm phép lạ cho bánh hoá ra nhiều, dân chúng hân hoan phấn khởi, muốn tôn Ngài làm vua thì Ngài không muốn.  Ngài phản đối bằng cách trốn đi.  Cũng như hôm vinh quang vào thành Giêrusalem, dân chúng hân hoan, cởi áo lót đường, cầm cành lá phất phơ đón chào.  Hôm ấy mà Chúa xưng vương thì quá thuận lợi.  Thế mà Chúa phản đối bằng cách cỡi con lừa bé nhỏ, yếu ớt.  Còn hôm nay, phận tội đồ đứng trước mặt quan án, bị dân chúng khinh khi chối bỏ, thân tàn ma dại, chẳng còn hình tượng con người nữa, thì Ngài lại hiên ngang xưng mình là vua.  Chẳng phải vô tình, nhưng là cố ý.  Hôm nay, đối diện với cái chết, đối diện với quyền lực và đối diện với sự hận thù, Chúa Giêsu muốn xưng vương trong hoàn cảnh này để làm chứng cho sự thật.

Sự thật mà Đức Giêsu làm chứng đó là có một vương quốc khác, vượt xa mọi vương quốc trần gian.  Khi tự nguyện chấp nhận cái chết, Đức Giêsu muốn cho ta hiểu: Ngoài cuộc đời này còn có một cuộc đời khác.  Ngoài thế giới này còn có một thế giới khác.  Đó là vương quốc của Chúa.  Đó là Nước Trời.  Vương quốc ấy là vương quốc sự sống vì sẽ không còn bóng dáng cái chết.  Khi còn ngày rộng tháng dài, Đức Giêsu không xưng vương.  Nay cận kề cái chết Ngài mới xưng vương để dạy cho ta biết vương quốc của Ngài “không thuộc thế gian này.”  Sự sống trần gian này chẳng đáng giá gì so với sự sống trong Nước Chúa.  Vì thế muốn vào được vương quốc của Chúa, phải biết từ bỏ tất cả, kể cả mạng sống nữa.

Sự thật mà Đức Giêsu làm chứng đó là quyền năng của Chúa là trên hết.  Khi một mình yếu đuối nhưng vẫn hiên ngang đối diện với Philatô tượng trưng cho quyền lực của đế quốc La mã bao trùm thiên hạ, Đức Giêsu muốn cho ta hiểu rằng Thiên Chúa là nguồn gốc của mọi quyền năng như Ngài đã trả lời Philatô: “Ông có quyền không bởi tự mình mà có, nhưng từ Trời ban cho.”  Thánh nữ Xêxilia cũng nói: “Quyền uy ở đời giống như quả bong bóng.  Nó không triển nở ở tự nó.  Nó không tự mình tròn trịa được.  Phải nhờ đến không khí.  Nhưng chỉ một mũi kim cũng làm nó xẹp xuống.”  Quyền uy trần gian mau tàn.  Chỉ có quyền năng của Thiên Chúa mới bền vững.  Chính vì thế Đức Giêsu không xưng vương khi tràn đầy uy tín, khi được dân chúng ngưỡng mộ.  Vì nếu Ngài xưng vương khi được dân chúng tung hô vạn tuế, khi làm những việc kỳ lạ lớn lao, khi tràn đầy uy tín, thì vương quyền ấy chẳng hơn gì vương quyền của vua chúa trần gian khác.  Nhưng hôm nay, khi mất hết mọi uy tín, không còn ai tung hô ủng hộ, Đức Giêsu xưng vương để cho ta thấy Ngài siêu thoát mọi quyền lực và vinh quang theo thói thế gian.  Ngài chỉ trông cậy vào quyền năng của Thiên Chúa.  Vì thế những ai muốn vào vương quốc của Ngài phải biết coi thường mọi vinh quang quyền thế ở trần gian.

Sự thật mà Đức Giêsu làm chứng đó là tình thương chiến thắng thù hận.  Khi một mình đối diện với những ghen ghét thù hận của đám đông, Đức Giêsu muốn dạy ta biết Thiên Chúa là tình yêu. Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa trên trần gian. Vì yêu thương mà Ngài đã xuống trần gian. Ngài đã yêu thương cho đến chết vì yêu. Đó là tình yêu lớn lao nhất như lời Ngài nói: “Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu”. Dù những thù hận vây bọc, nhưng Đức Giêsu vẫn yêu thương. Hôm nay đơn thân độc mã trong vòng vây của hận thù, Đức Giêsu vẫn xưng vương để cho ta thấy: tình yêu thương đã chiến thắng. Hận thù đem lại chết chóc, chỉ có tình yêu thương mới cứu được thế giới.

Đức Giêsu đã chiến thắng. Ngài là Đấng đầu tiên từ trong kẻ chết sống lại. Với chiến thắng, Đức Giêsu mở cửa vương quốc của Ngài. Đó là vương quốc của Sự Thật. Chỉ những ai thuộc về sự thật mới được vào. Và những ai thuộc về sự thật phải biết chiến thắng sự giả trá. Sự giả trá đó là sự chết, đó là những vinh hoa phú quý trần gian và đó là lòng thù hận ghen ghét. Hiểu biết sự thật, đập tan sự dối trá, ta mới tiến vào Nước Sự Sống theo bước Đức Giêsu Kitô. Với chiến thắng Ngài thật sự là Đường dẫn đến Sự Thật và Sự Sống muôn đời.

Lạy Đức Giêsu là Vua của chúng con, xin cho chúng con được làm dân của Chúa, được thuộc về Nước Chúa, nước đầy tràn Sự Thật và Sự Sống, nước công chính và tình yêu muôn đời.

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

LỄ TẠ ƠN

Ở Việt nam, thời Nhà Nguyễn, triều đình Huế, trong suốt 79 năm độc lập (1807- 1885), đàn Nam Giao luôn là nơi tổ chức nghi thức Tế Nam Giao đều đặn vào mùa Xuân hàng năm để tạ ơn trời đất cho mưa thuận gió hòa đem lại cơm no áo ấm cho toàn dân.  Đó là lễ tạ ơn của Việt Nam.  Từ năm 1886 đến 1890, không tổ chức lễ tế Nam Giao.  Bắt đầu từ năm 1891, cứ ba năm, vua nhà Nguyễn mới tế lễ Trời Đất ở đàn tế Nam Giao một lần.  Lễ tế Nam Giao cuối cùng của triều Nguyễn là vào ngày 23 tháng 3 năm 1945.  Tuy chỉ đặt hy vọng vào một thế lực thần thiêng là Trời Đất, nhưng dân tộc Việt Nam cũng có tâm tình biết ơn và tạ ơn.  Trước sự bất lực của con người, người dân Việt cũng đã cầu xin: Lạy trời mưa xuống – Lấy nước tôi uống – Lấy ruộng tôi cày – Lấy đầy bát cơm – Lấy rơm đun bếp.

Và trong quan hệ giữa người với người, người Việt cũng có những nét văn hóa biểu lộ tâm tình biết ơn người qua tục ngữ ca dao: “Uống nước nhớ nguồn.  Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.  Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng.”

Trên đất nước Hoa Kỳ, hằng năm vào ngày thứ năm tuần thứ tư của tháng 11, cả nước tưng bừng mừng lễ Tạ Ơn (Thanksgiving), một ngày quốc lễ.  Sau đây là đôi nét về nguồn gốc ngày lễ ấy:

Giống như tàu Noe ngày xưa, vào ngày 6 tháng 9 năm 1620, có 102 người gồm thủy thủ, đàn ông, đàn bà và trẻ con bước lên tàu Mayflower rời Anh Quốc vượt đại dương để đi tìm một vùng đất mới.  Họ là “những người hành hương” (Pilgrims) ra đi vì nỗi khát vọng tìm một vùng đất mới cho tự do tôn giáo.  Họ đi khắp nơi, và cuối cùng đã cặp bến Plymouth Rock, Massachusetts vào ngày 11 tháng 12 năm 1620.

Mùa đông đầu tiên, thời tiết khắc nghiệt, thực phẩm thiếu thốn và bệnh dịch hoành hành đã cướp đi 46 sinh mạng.  Những người sống sót nhờ ăn thịt gà tây hoang và bắp ngô do người dân Da Đỏ cung cấp.  Thổ Dân rất thân thiện và tận tình giúp đỡ trong cuộc sống mới bằng cách dạy cho họ trồng tỉa, săn bắn theo phong tục địa phương.

Được sự hướng dẫn của một người Da Đỏ tên là Squanto, vào mùa Xuân và mùa Hè năm 1621, bắp lên tươi tốt hứa hẹn một vụ mùa no nê.  Mùa màng đã gặt hái xong, thực phẩm dư thừa cho cả mùa Đông.  Họ quyết định tổ chức một ngày “Hội Ngày Mùa” (Harvest Festival) để tạ ơn Thượng Đế  đã cho họ sống sót qua mùa đông đầu tiên trên xứ lạ.  Đó là ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên trên đất Hoa Kỳ vào đầu tháng 11 năm 1621.

Thực phẩm chính trong ngày lễ Tạ Ơn này gồm: bắp, bí đỏ, chim, vịt, ngỗng và gà tây.  Khách mời là Thổ Dân.  Tộc trưởng Massasoif đã dẫn 90 dũng sĩ đến dự và còn mang biếu thống đốc của nhóm người Hành Hương lúc bấy giờ là Bradford năm con nai.  Họ ăn uống vui chơi suốt tuần.

Lịch sử ngày lễ Tạ Ơn của người Mỹ cũng có nhiều thăng trầm nổi trôi theo vận nước.  Các tiểu bang thuộc địa đầu tiên không thống nhất được ý kiến chung về ngày lễ Tạ Ơn.  Khi cuộc chiến giữa các di dân Mỹ và đế quốc Anh xảy ra, và George Washington thoát khỏi cuộc bao vây ở Valley Forge, ông đã tuyên bố ngày lễ Tạ Ơn quốc gia vào ngày 26 tháng 11 năm 1789.

Mãi đến năm 1863, Tổng thống Abraham Lincoln thấy chiến tranh đã đến hồi kết thúc, nên chỉ định lấy ngày thứ năm cuối cùng của tháng 11 làm ngày lễ Tạ Ơn cho toàn quốc.  Nhưng chẳng may ông bị ám sát.  Andrew Johnson lên làm tổng thống lại duy trì truyền thống cũ, nhưng đổi lại ngày thứ năm tuần lễ thứ tư của tháng 11 làm ngày lễ Tạ Ơn.  Rồi trong khoảng thời gian từ năm 1939 đến 1941, Tổng thống Franklin Roosevelt đã chỉ định lấy ngày thứ năm của tuần lễ thứ ba của tháng 11 làm ngày lễ Tạ Ơn.  Nhưng lần này ông Roosevelt bị các thương gia và các đảng viên đảng Cộng hòa chống đối dữ dội, cho rằng tổng thống đã đi ngược lại truyền thống cũ.  Hai năm sau, tổng thống Roosevelt rút lại quyết định cũ và quyết định lấy ngày thứ năm tuần thứ tư của tháng 11 làm ngày lễ Tạ Ơn cho toàn quốc mãi cho đến ngày hôm nay.

Lễ Tạ Ơn mang một ý nghĩa sâu xa.  Con người có thể khác nhau về tôn giáo, chúng tộc, màu da nhưng đều có tâm tình biết ơn và tạ ơn.  Đối với người Kitô giáo nói riêng và đối với nhân loại nói chung, tạ ơn Thiên Chúa là một tâm tình thái độ phải có đối với Đấng Sáng Tạo vũ trụ đã hằng thi ân cho con người.

Nhân dịp mừng lễ Tạ Ơn, chúng ta có dịp để xét lại tâm tình, thái độ biết ơn tạ ơn Thiên Chúa, tạ ơn đời và tạ ơn người.

Trước hết đối với Thiên Chúa,thánh Luca có thuật lại một câu chuyện như sau: “Trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu đi qua biên giới giữa hai miền Samari và Galilê.  Lúc Người vào một làng kia, thì có 10 người phong hủi đón gặp Người.  Họ dừng lại đàng xa và kêu lớn tiếng: “Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi!”  Thấy vậy, Đức Giêsu bảo họ: “Hãy đi trình diện với các tư tế.”  Đang khi đi thì họ được sạch.  Một người trong bọn, thấy mình được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa.  Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn.  Anh ta lại là người Samari.  Đức Giêsu mới nói: “Không phải cả mười người đều được sạch sao?  Thế thì chín người kia đâu?  Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?”  Rồi Người nói với anh ta: “Đứng dậy về đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh” (Lc 17:11-19).

Chín người được ơn chữa khỏi nhưng chỉ có một người trở lại tạ ơn Thiên Chúa.  Lòng biết ơn, tạ ơn coi bộ ít ỏi!  Thực tế cuộc sống của chúng ta cũng nói lên thực trạng đó.  Ngày xưa dân Israen được Thiên Chúa dìu đắt, nâng đỡ bao bọc để đi về miền đất hứa, thế nhưng họ vẫn không thật lòng biết tạ ơn Thiên Chúa, ngược lại còn phản lại những gì Ngài đã làm cho họ.

Phải tạ ơn Thiên Chúa, vì trong cuộc sống, chúng ta đón nhận không biết bao ân huệ của Thiên Chúa, nhưng chúng ta lại không nhận ra hay không muốn nhận ra những ân huệ ấy khi chúng ta tự xem những thành quả của công việc mình làm là do tài sức của mình.  Có khi chúng ta nghĩ những gì Thiên Chúa làm cho con người là việc Ngài phải làm.  Như thế là vô ơn!

Phải biết ơn người, biết ơn đời, vì trong cuộc sống của chúng ta hôm nay là kết quả của bao nhiêu người đã hy sinh, đóng góp làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.  Chúng ta chịu ơn biết bao nhiêu người từ tổ tiên ông bà cha mẹ, bạn bè, người thân, những nhà khoa học, văn nghệ sĩ… đến những người vô danh đã tô đẹp cho cuộc sống hôm nay.

Lễ Tạ Ơn đối với chúng ta, những người Việt tị nạn trên đất nước Hoa Kỳ, là dịp để chúng ta nhìn lại cuộc hành trình gian khổ để đi tìm tự do, để tạ ơn Thiên Chúa đã cho chúng ta có được cuộc sống hôm nay, để tạ ơn đất nước Mỹ và người Mỹ đã cưu mang chúng ta.

Mừng lễ Tạ Ơn mà chỉ nghĩ đến du lịch, tiệc tùng, đi mua sắm, xem football mà không sốt sắng tham dự Thánh lễ Tạ Ơn để tạ ơn Trời, tạ ơn người, tạ ơn đời là một thiếu sót rất lớn vậy!

Lm Trịnh Ngọc Danh

**************************************

Có những lúc trong đời ta quên lãng
Những phước lành mà Chúa đã ban cho
Mãi bon chen, mãi vất vả âu lo
Chuyện cơm áo, chuyện hơn thua cuộc sống

Ta chưa hiểu, tạ ơn là hy vọng
Là giục lòng, là tiếng nói đức tin
Là lời ca, rung động cõi tâm linh
Là tiếng hát, là vần thơ chúc tụng

Thơ Đa-vit, tạ ơn trong biến động,
Giữa muôn ngàn thử thách đang bủa vây
Vẫn hoan ca, cảm tạ Chúa đêm ngày 
Lòng tin quyết, đem thành công đắc thắng

Chúa Giê-su, trong đêm dự tiệc thánh
Ngài dâng lời cảm tạ biết ơn Cha
Bánh vỡ ra, như thịt máu chan hoà
Thành mô thức, hiến dâng ơn cứu rỗi

Chúa cảm tạ, khi tang gia bối rối
Khi lệ buồn, Chúa khóc với Ma-ry
La-za-rô, sống lại, đã bước đi
Ban hy vọng, nguồn vui mừng khôn tả

Trong Đức tin, chúng ta cần cảm tạ
Về ơn lành, cứu rỗi Chúa đã ban
Về tình yêu, về chăm sóc, bảo toàn
Về an ủi, về bao che, dẫn dắt

Hãy tạ ơn, khi bình minh chim hót
Hãy tạ ơn, khi lá rụng hoàng hôn
Hãy tạ ơn, khi biển nổi sóng cồn
Khi hoa nở, trời thanh trong gió mát

Hãy cảm tạ, cùng trăng sao trời đất
Hát reo mừng, chúc tụng Đấng đại năng
Hãy hân hoan, ca ngợi Chúa vĩnh hằng
Được tôn thánh, hiển vinh ngàn muôn thuở.

Thanh Hữu

KHI MÙA GIÁNG SINH ĐẾN…

Đã tới giờ đi ngủ, tôi dắt cu Bí lên giường.  Tôi nằm cạnh nó, vỗ nhẹ vào lưng và kể một câu chuyện thần tiên giản dị, nhưng mãi nó vẫn chưa ngủ, còn quay ra hỏi tôi:

– Bố sắp về chưa mẹ?

– Lúc chiều bố đã nói chuyện phone với con là một tuần nữa bố sẽ về mà.

Trong ánh sáng mờ của ngọn đèn ngủ, cu Bí giơ cả hai bàn tay lên, xòe đủ muời ngón nhỏ xíu ra truớc mặt tôi rồi hỏi:

– Một tuần nữa là mấy ngày? Mẹ đếm đi

Tôi đếm từng ngón tay của Bí:

– Đây này, 1,2,3,4,5,6,7. Tới ngày này bố sẽ về.

Cu Bí reo lên:

– Con thích quá, bố về với mẹ, với con để đi mua cây thông nhé?

– Đúng vậy, mùa lễ Giáng Sinh này chúng ta sẽ có một cây Christmas đẹp ơi là đẹp như những năm truớc. Bây giờ con hãy ngủ đi nhé.

Thằng bé sung suớng mỉm cuời và khép mắt lại.  Tôi tin rằng một giấc mơ đẹp đang đến với nó. Nhưng ngay trong giây phút này một giấc mơ buồn của tuổi thơ tôi hiện ra, khi vừa rồi tôi nhìn thấy con tôi xòe những ngón tay để đếm từng ngày đợi mong bố về sau một chuyến công tác xa nhà…

***************************

Tôi chỉ còn nhớ những hình ảnh mơ hồ, không theo thứ tự, kể từ khi tôi lên 4 tuổi, tôi thấy bố mẹ tôi thường xuyên cãi nhau và có khi đánh nhau, mẹ ném một cái gì đó vào bố và bố cũng ném lại vào mẹ.  Những lúc đó tôi sợ hãi khóc ré lên, nhưng mặc cho tôi gào khóc bố mẹ vẫn tiếp tục cãi nhau. Một lần, khi thấy tôi khóc mẹ đã tức giận tát túi bụi vào mặt tôi, làm tôi sợ hãi thêm và nín khóc ngay, từ đó trở đi tôi không dám khóc nữa, mỗi lần bố mẹ bắt đầu to tiếng thì tôi len lén chui vào tủ quần áo, đóng cửa lại, tôi tìm thấy nơi đó một sự trú ẩn bình an.  Có hôm tôi ngủ quên trong đó, có hôm tôi chờ đợi sự im ắng thì chui ra, hoặc bố hoặc mẹ đã ra khỏi nhà.  Tôi đã biết tự lo cho chính mình, mở tủ lạnh tìm đồ ăn, là một vài miếng cheese khô hay cái hotdog đã mở bọc nằm lăn lóc trong góc tủ.  Vì sau trận cãi nhau chẳng ai ngó ngàng đến tôi, tôi cũng biết thân phận chẳng dám kêu réo hay đòi hỏi gì.

Rồi một ngày tôi thức dậy thì biết mình mất mẹ, bố tôi ngồi thừ người ở ghế.  Mẹ tôi đã ra đi và bỏ tôi ở lại như một trong các món đồ cũ mẹ không cần dùng.  Bố tôi nói dửng dưng như thông báo một chuyện vừa xảy ra ở nhà hàng xóm:

– Mẹ đi rồi, từ nay con ở với bố.

Tôi oà lên khóc, có lẽ vì sợ hãi cô đơn hơn là thương nhớ mẹ, tôi rất ít khi nhận được sự chiều chuộng âu yếm nơi mẹ, thì giờ chính của mẹ ở nhà là uống bia, uống rượu như bố, rồi mẹ ngủ vùi. Những bữa ăn của tôi thường là những lát bánh mì, gà chiên mua sẵn ở tiệm hay hotdog.  Đôi khi bố mẹ vui vẻ tôi được dẫn đi ăn nhà hàng, đó là những ngày hạnh phúc nhất đời tôi, vì được thấy bố mẹ thân thiện và được ăn đồ nóng sốt ngon lành.  Tôi từng cầu mong những giây phút hạnh phúc đó kéo dài vô tận, nhưng thực tế thì quá ngắn ngủi, tôi không hiểu sao mới hôm qua họ còn cười nói, ôm hôn nhau, hôm sau họ đã cãi nhau, chửi nhau đầy vẻ hận thù.  Tôi đã mong lớn mau để hỏi bố hỏi mẹ điều này.

Bố để mặc tôi khóc một lúc rồi gắt:

– Thôi nín đi, đừng làm bố sốt ruột lên đây.

– Tại sao mẹ bỏ đi? Rồi mẹ ở nhà ai?

– Bố không biết! bố tôi trả lời cụt ngủn và lạnh lùng.

Tôi tưởng mẹ đi mấy ngày rồi trở về như vài lần trước, nhưng bố đã nói:

– Mẹ không bao giờ trở về đâu, bố sẽ gởi con cho người giữ trẻ để bố còn đi làm.

Từ ngày mẹ đi, không còn ai để cãi nhau nên thì giờ của bố chỉ để uống rượu bia, hết uống với bạn bè ngoài đường về đến nhà lại uống.  Tôi không chui vào tủ quần áo để trốn nữa mà chỉ ngồi ru rú trong phòng coi ti vi một mình.

Bố gởi tôi cho một gia đình Việt nam, sáng trước khi đi làm bố mang tôi đến, chiều về làm ghé vào đón tôi.  Bác Kha trai làm việc cùng hãng với bố, bác Kha gái ở nhà trông con, họ có một đứa con gái bằng tuổi tôi tên Linh.  Chính ở nơi đây tôi được ăn những bữa cơm ngon lành, được hưởng lây không khí gia đình ấm cúng, hai vợ chồng bác Kha không cãi nhau như bố mẹ tôi nên cái Linh ngạc nhiên khi nghe tôi kể phải trốn vào tủ quần áo.

Vài tháng trôi qua, tôi thực sự yêu thích ngôi nhà êm ấm của bác Kha, nhưng một đôi lần bố không đón tôi đúng hẹn, bác Kha trai đã về đến nhà ăn xong bữa cơm chiều mà bố vẫn chưa đến, tôi đã thấy khi bác Kha trai về, nhà vui vẻ, rộn ràng hẳn lên, khi ấy Linh quên tôi, nó nhảy nhót lên lòng bố, kể chuyện nọ kia, bác Kha gái vừa dọn cơm vừa nói chuyện vói chồng.  Tôi như người thừa, bị bỏ rơi, cảm thấy tủi thân và ganh tị với Linh, chỉ mong mau chóng rời khỏi đây, dù chỉ là về nhà với bố ăn một cái bánh mì nguội kẹp hotdog và uống một ly sữa là xong bữa ăn chiều thường lệ.

Bố thường xuyên đón tôi trễ, tôi càng ngày càng mặc cảm, tủi thân với gia đình bác Kha, mỗi buổi chiều tôi đều ngó ra cửa sổ mong đợi bóng dáng bố đang từ ngoài sân bước vào, tôi vui khi thấy bố, tôi thất vọng khi bóng chiều ngả màu tối mà bố chưa đến.  Thế là tôi lỉnh vào phòng trong vờ coi tivi để khỏi trông thấy cảnh Linh đang hưởng hạnh phúc bên bố mẹ nó.

Bác Kha gái hay nói với tôi:

– Bố cháu có bồ rồi, bố quên đón cháu rồi.

Tôi đã nhìn bác Kha với vẻ tức giận, bố có bồ chỉ là một ý nghĩ bố đang gần gũi một người nào đó, chứ tôi chẳng hiểu “bồ” là gì cả.  Tôi không muốn tin điều bác Kha nói là sự thật.

Tôi hay khóc thút thít mỗi khi bố đón tôi trễ, đó là một sự phản đối, sự trách móc duy nhất tôi có thể làm, vì nếu tôi nói lên một điều gì đó sẽ bị cắt ngang ngay bằng lời gắt gỏng của bố, cho đến khi ăn xong bữa tối với bố ai về phòng nấy tôi lại khóc tiếp trong đống chăn gối quấn quanh tôi và ngủ thiếp đi.

Dù nhà bác Kha vẫn có những bữa cơm trưa ngon lành, vẫn là cảnh gia đình ấm cúng, nhưng tôi biết những cảnh đó không thuộc về tôi, tôi vẫn chỉ là đứa trẻ đứng bên ngoài, tôi càng ngày càng ganh ghét với Linh, tôi không thích đến nhà bác Kha nữa, dù ở nhà tôi cũng có gì vui đâu!

Một chiều đi làm về, bố sửa soạn quần áo của bố và tôi vào hai cái valy.  Tôi lẩn quẩn bên chân bố và luôn miệng hỏi:

– Chúng ta sẽ đi xa hở bố?

– Ừ, chúng ta sẽ về Texas thăm bà nội và cô Nga.

Tôi ngạc nhiên lẫn tò mò:

– Con không biết là mình có bà nội và cô Nga, con tưởng rằng trên cõi đời này nhà mình chỉ có bố, mẹ và con.

Bố tôi cười buồn:

– Ai cũng có họ hàng gần xa chứ, con có cả ông bà ngoại, nhưng họ đã từ bỏ mẹ con, nên họ chẳng bao giờ biết đến con đâu, còn bên nội con có bà nội và cô Nga, nhưng bố ít khi về thăm họ. Thôi, mai bố sẽ đưa con về.

Đêm ấy tôi đã ngủ vói một giấc mơ thật đẹp, hai bố con tôi về một vùng đất xa xôi nào đó bên Texas, tôi sẽ có bà nội có cô Nga, mọi người sẽ sống gần nhau chắc là vui lắm.  Dù tôi đã mơ thế, nhưng lần đầu gặp bà nội và cô Nga tôi vẫn rụt rè xa lạ.  Tôi luôn nắm lấy áo bố hay bàn tay bố trong khi bà và cô quấn quýt hỏi han bố đủ thứ, rồi bà và cô đều khóc, không biết họ hờn trách hay sung sướng khi gặp bố?  Xong bà nội ôm tôi vào lòng, bà ngắm nghía, vuốt ve từng lọn tóc, từng bàn tay tôi, bà bảo tôi con gái mà giống cha cao ráo.  Bà hôn lên má tôi, tôi cảm nhận được tình thương bà dành cho tôi, cả cô Nga cũng thế, cô trìu mến chăm sóc tôi, nên tôi bớt thấy xa lạ và quen dần với họ.

Hai ngày sau, tôi thấy bố sắp quần áo vào vali, tôi lo âu hỏi:

– Chúng ta lại về chốn cũ hở bố?

– Chỉ mình bố về thôi, con ở lại đây.

Tôi càng lo sợ hơn, tôi nói mà sắp khóc:

– Bố đừng đi, con muốn ở với bố.

– Bà nội và cô Nga thương con, con đừng sợ.

Bố khuyên tôi thế.

– Nhưng con không muốn xa bố. Tại sao chúng ta không sống như thế này mãi?

– Bố phải về đi làm để có tiền nuôi con chứ.

Bà nội tôi nước mắt ràn rụa cầm lấy tay bố tôi:

– Con của con mới 6 tuổi còn bé bỏng, nó đã không có mẹ chỉ còn cha thôi, hãy vì nó mà ở lại, công việc lao động của con ở đâu mà chẳng có, mấy năm nay mẹ cũng không được gần con, đừng đi đâu nữa.

Cô Nga cũng khóc theo và nói:

– Anh hãy ở lại đây, mẹ và em sẽ đỡ đần anh để cùng lo cho cháu.

Nhưng những giọt nước mắt chẳng làm bố tôi thay đổi.  Mới 2 ngày ở với bà và cô, dù tôi đang cảm thấy thân thương, nhưng bố vẫn là người gần tôi nhất.  Tôi đã quen thuộc với bố từng lúc vui buồn, những lần giận dữ, từng câu nói giọng cười, từng bữa ăn ngon, từng ngày bị bỏ đói.  Tôi vui khi ở với bà nội, cô Nga, nhưng tôi vẫn không muốn xa bố, hình như tình máu mủ ruột thịt làm tôi hiểu bố là người thân nhất, là nơi tôi cần nương tựa nhất.  Tôi ôm chầm lấy bố gào lên:

– Con không cho bố đi! Con không cho bố đi!

Bố hất mạnh tay tôi ra, tôi ngã lăn quay trên nền nhà.  Bố thương hại đỡ tôi dậy, giọng dịu lại:

– Rồi bố sẽ về thăm con, bố hứa sẽ về thăm con.

Tôi nghẹn ngào hỏi:

– Bao giờ bố về?

Bố nhìn lên tờ lịch trên tường:

– Bây giờ là tháng Mười, hai tháng nữa bố sẽ về, vào ngày Christmas, con chịu không?

Tôi đã xoè tất cả những ngón tay của mình ra và hỏi:

– Hai tháng là bao nhiêu ngày? Có lâu không?

– Là 60 ngày, mau lắm con. Bố sẽ mang về một cây Christmas để trang hoàng cho con xem, con thích cây Christmas lắm mà.

Mỗi mùa Giáng Sinh đã qua tôi đều say mê thích thú khi được ngắm những cây thông trang hoàng rực rỡ trong những cửa tiệm hay trên đường phố, đôi mắt trẻ thơ của tôi đã mở to ra như muốn mang tất cả những hình ảnh lung linh huyền diệu đó vào trong tâm hồn.  Lúc một vài tuổi thì tôi không biết, nhưng từ khi 4-5 tuổi, tôi chưa bao giờ có một cây Giáng Sinh trong nhà khi mùa lễ đến.  Tôi vừa chùi nước mắt vừa nói:

– Bố nhớ nhé, rồi chúng ta sẽ có một cây Christmas, con sẽ phụ bố để treo đèn. Bố ơi, có phải là đêm Giáng Sinh, ông già Noen sẽ chui từ ống khói để vào nhà và cho quà trẻ con, để dưới gốc cây thông không?

– Có đấy, nhưng bây giờ con phải ngoan để cho bố đi.

Tôi lại chùi nước mắt lần nữa để cho bố vui lòng, vì lời hứa hẹn trở về của bố vào mùa lễ Giáng Sinh với cây thông xinh đẹp.

– Vâng, bố xem này, con không khóc nữa đâu.

Vậy mà chỉ mười phút sau, khi bố vừa xách vali đi ra cửa, tôi bỗng cảm thấy hụt hẫng và sợ hãi trở lại, tôi chạy theo bố, nước mắt lại rơi ra:

– Bố ơi !

– Vào nhà với bà nội đi. Bố tôi gắt.

– 60 ngày nữa bố về nhé?

– Ừ, bố hứa rồi mà.

Tôi vẫn không muốn rời bố:

– Nhưng….nhưng….nếu bố quên, làm sao con nhắc bố được? Bố cho con số điện thoại của bố đi…..

Bố tôi bực mình đặt vali xuống đất, rút túi xé một mảnh giấy trắng nhỏ bằng bàn tay, viết vội vài con số rồi đưa cho tôi:

– Số điện thoại đây, thôi để bố đi.

Tôi nắm chặt tờ giấy như nắm chặt một báu vật, làm như tờ giấy mất thì tôi mất luôn cả bố.  Bà nội đã ôm tôi, cả hai bà cháu đều khóc.

Tối hôm ấy tôi hỏi bà nội: Bây giờ bố về đến nhà chưa?  Bà nói rồi, thế là tôi len lén vào phòng, đóng cửa lại.  Cầm phone lên tôi bấm đủ các số bố đã ghi trên mảnh giấy, với lòng rạo rực được nghe thấy bố nói, nhưng không ai trả lời, cõi lòng mơ hồ thất vọng, tôi nghĩ là bố đang trên đường trở về nhà hay bố đang ngủ nên không biết là tôi đã gọi.

Ngày mỗi ngày tôi đều lén vào phòng gọi phone cho bố, nhưng chẳng lần nào được gặp bố, tôi xấu hổ, sợ bà nội và vợ chồng cô Nga đọc thấy nỗi lòng mong đợi của tôi.  Tôi là đứa trẻ mỏng manh, yếu đuối, không đủ kiên nhẫn chờ đợi 60 ngày sau bố sẽ trở về.

Ngày nào tôi cũng hỏi bà nội còn bao nhiêu ngày nữa là Christmas, hình ảnh bố về với cây thông làm tôi náo nức.  Cho đến ngày cuối cùng thì cõi lòng tôi tan nát như một cái ly thủy tinh vừa bị đánh rơi trên nền gạch.  Bố không về như đã hứa, chỉ có cây thông của vợ chồng cô Nga, cây thông to đẹp, được trang hoàng đủ màu sắc nhưng vẫn không làm tôi vui, tôi cảm thấy bị tổn thương, bị bỏ rơi.  Tôi vẫn muốn liên lạc được với bố, để nghe bố nói hay giải thích tại sao, miễn là tôi vẫn cảm thấy bố đang ở bên cạnh tôi.  Tôi sợ mình đã không biết cách gọi phone, cuối cùng tôi đưa mảnh giấy ra nhờ bà nội và vợ chồng cô Nga gọi giùm, vẫn biệt tăm biệt tích, không biết bố ở đâu!

Bà nội thở dài:

– Cháu ơi, chắc bố cháu bận làm việc đấy. Thôi đừng gọi nữa, không Christmas này thì Christmas sau bố sẽ về.

Lòng tôi đã bớt náo nức chờ mong vì mùa sau xa xôi quá, 60 ngày qua tôi đã chờ đợi biết bao lâu! Tôi cũng không xoè cả hai bàn tay ra để đếm nữa, dù trong lòng vẫn hi vọng vào lời ước đoán của bà, nhưng mảnh giấy mà bố tôi xé vội để ghi số điện thoại, tôi vẫn giữ kỹ, vẫn tin đó là nhịp cầu duy nhất để nối liền tôi với bố, để tôi có thể gặp bố.

Chẳng phải chỉ mình tôi mong bố về mà bà nội và cô Nga cũng mong.  Nhưng đứa con hư của bà nội chẳng bao giờ trở về, mấy năm trời biệt tăm biệt tích, bà nội mới nhận được tin bố từ một người khác, họ báo tin bố tôi đã chết vì trúng gió, họ chỉ nói đơn giản thế.  Năm ấy tôi mới 10 tuổi, về sau tôi càng lớn càng biết nhiều về bố do bà nội và cô Nga kể lại.

Bà nội chỉ có hai người con là bố và cô Nga, vì bố là con trai nên bà nội rất cưng chiều, bố chẳng lo học hành, chỉ rong chơi cho tới lớn, rượu chè, cờ bạc và bồ bịch với đủ hạng người.  Bố ăn ở với một cô gái dân chơi bụi đời, bà nội ngăn cản không được, đành chịu thua số mệnh.  Bố mang người yêu đi sống ở một phương trời khác và từ đó chẳng hề liên lạc với bà nội cho tới ngày mang tôi về.

***************************

Tôi quả là một đứa trẻ bất hạnh khi có cả cha lẫn mẹ đều hư hỏng, nhưng tôi may mắn có bà nội và vợ chồng cô Nga.  Tôi đã xé nát mảnh giấy năm xưa có ghi số điện thoại của bố, mảnh giấy tôi đã giữ kỹ suốt 4 năm trời.  Đó chỉ là một sự lừa dối khủng khiếp, những con số đó không có thật, do bố bịa đặt ra, những lời hứa hẹn ngon ngọt chỉ để làm xiêu lòng một đứa trẻ lên 6, để bố được thoải mái ra đi, sống theo con đường của mình.

Theo lời chỉ dạy của bà nội, của vợ chồng cô Nga, tôi đã chăm chỉ học hành. Tôi nhận thấy đây là mái ấm gia đình của tôi, vợ chồng cô Nga đã liên tiếp có 2 đứa con, dù chúng cách tuổi tôi khá xa, nhưng chúng tôi vẫn thương yêu gắn bó nhau như chị em ruột.  Mỗi khi rảnh tôi hay ôm bà nội, thủ thỉ:

– Bà ơi, sau này cháu sẽ đi làm nuôi bà, cháu sẽ làm ra nhiều tiền để cho bà sung sướng.

Bà nội vuốt đầu tôi, âu yếm:

– Bà chỉ mong mỗi một điều được thấy cháu ăn học nên người, không hư hỏng như bố cháu, thì chết bà cũng vui.

Bà đã đạt được ước nguyện đó và còn chứng kiến ngày tôi lên xe hoa với một người chồng hiền lành tử tế, anh đến với tôi bằng tình yêu và được cả gia đình tôi hài lòng tin tưởng.  Bà nội tôi từ trần khi con tôi vừa một tuổi, trên gương mặt bà giây phút cuối còn hiện lên vẻ thanh thản mãn nguyện.

***************************

Cây thông tươi xanh được trang hoàng thật đẹp, những đèn đủ màu sắc, những sợi dây kim tuyến lấp lánh, và những tấm thiệp hớn hở treo đầy cành.  Vợ chồng tôi đều thích chưng cây thông tươi vào mỗi mùa lễ Giáng Sinh, như mang cả thiên nhiên vào căn nhà ấm cúng khi ngoài trời gió lạnh đầy. Có lẽ đây là cây Christmas mà thuở lên 6 tôi đã mong mỏi đợi chờ nơi bố, thì bây giờ tôi mang niềm vui và hạnh phúc đó cho con tôi, những gì mà khi xưa tôi không có, tôi đều bù đắp cho con nhiều lên, con tôi đâu hiểu rằng nó đang sống dùm tôi một quãng đời tuổi thơ mơ ước khát khao.

Đêm Chúa Giáng Sinh, hai vợ chồng và con tôi quây quần bên gốc cây thông để mở những gói quà xinh đẹp.  Tôi đọc thấy trong mắt con tôi cả một khoảng trời xanh ngây thơ và hạnh phúc.  Lòng tôi rạt rào niềm vui, niềm hãnh diện, nhưng tôi vẫn không bao giờ quên quá khứ của tôi, không phải để oán trách bố mẹ, mà để thương cho những cảnh ngộ trẻ thơ như tôi.  Có biết bao đứa trẻ đã bị ghẻ lạnh, bị bỏ rơi trong những ngày lễ tết cuối năm đầy màu sắc tươi vui và nhộn nhịp này!!

Khi treo những cánh thiệp mang đầy lời cầu chúc, lời ước nguyện tốt lành trên cành cây Christmas, tôi đã nghĩ đến chúng.

Nguyễn Thị Thanh Dương

EMMANUEL – THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA

John P., một linh mục Ái nhĩ lan, sau nhiều năm tận tâm thuyết phục một thanh niên bỏ đạo trở về với Giáo hội, cha đã phải hoài công vô vọng. Bao lời khuyên răn cứ như “nước đổ lá môn.”

Một lần kia, Mẹ Têrêsa Calcutta được mời đến thăm Ái nhĩ lan. Ban tổ chức có thu xếp một buổi nói chuyện thân mật giữa Mẹ với các bạn trẻ. Mẹ chỉ nói giản dị về tình yêu Thiên Chúa: “Chúa yêu thương các bạn; Ngài luôn đồng hành với các bạn”. Sau đó Mẹ rời thành phố. Ai về nhà nấy.

Ngay hôm ấy, trời mỗi lúc mỗi khuya! Khi mọi vật đang chìm vào tĩnh mịch, chợt một hồi chuông điện thoại reo vang phá tan giấc ngủ của cha John. Ngài nhấc vội chiếc điện thoại, và đầu giây bên kia là giọng nói của chàng thanh niên năm nào:

– Alô, Cha John! Con muốn xưng tội với cha.

Vị linh mục tưởng chừng chàng thanh niên đang bị tai nạn hiểm nghèo nào đó nên vội dọn mình để ra đi. Ngài lên tiếng hỏi.

– Chuyện gì xảy ra cho anh vậy?

Nhưng anh ta trả lời:

– Thưa cha, vì chiều nay Mẹ Têrêsa đã nói với con một lời đánh động lòng con rất nhiều.

Vị linh mục ngạc nhiên hỏi thêm:

– Mẹ nói lời gì, và nếu tôi không lầm thì nhà thờ chật ních. Mẹ lại đâu có cơ hội để gặp riêng anh?

– Vâng thưa cha, Mẹ không gặp riêng con, nhưng Mẹ đã nói với mọi người, trong đó có con. Mẹ nói rằng: “Chúa ở với các con.”

Nghe thế, vị linh mục càng ngạc nhiên hơn nữa:

– Ủa, đã nhiều lần tôi cũng nói với anh như thế, nhưng sao hôm nay anh lại bị thuyết phục bởi lời nói ấy của Mẹ Têrêsa?

Anh thanh niên chậm rãi giải thích:

Thưa cha, vì Mẹ đã nói câu đó từ thẳm sâu của tâm hồn. Mẹ đã nói với con bằng tất cả con tim của mình.

* * * * *

Một câu nói không phát ra từ một công thức có sẵn hay do một thói tục xã giao thông thường thúc đẩy, nhưng khởi đi từ chốn thâm sâu của một tâm hồn yêu thương mới có khả năng thuyết phục, hoán cải, và truyền đạt được ý nghĩa chân thực nhất của danh hiệu Emmanuel-Thiên Chúa-ở-cùng-chúng-ta.

Trong một Thánh lễ, biết bao lần vị linh mục đọc lên cầu chúc: “Chúa ở cùng anh chị em,” nhưng thử hỏi có mấy lần lòng tôi bồi hồi xúc cảm vì sung sướng trước sự kiện này? Rất nhiều lần tôi nghe, đáp, hát, đọc những lời kinh nguyện có cùng một nội dung như thế, nhưng có mấy lần tôi cảm nhận được Thiên Chúa hiện hữu thật sự trong cuộc đời của mình? Tôi không có, phải chăng vì đã chưa đọc và nghe với tất cả tâm hồn?

Nếu thấu hiểu được thế nào là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta,” chắc chắn sẽ không có một tác nhân gì có thể làm cho con người phải run sợ bất an hay ưu sầu lo lắng.

Ngày xưa, khi Môisen đang chạy trốn người Ai-cập, tránh né bàn tay ác độc của Pharaô, Giavê đã hiện ra và bảo ông trở về đất Ai cập để giải thoát dân Israel. Trước một trách nhiệm lớn lao cùng bao hiểm nguy cho tính mạng như thế, Môisen can đảm lên đường, vì Thiên Chúa đã nói với ông: “Ta sẽ ở với ngươi” (Xh 3:12).

Rồi khi Giêrêmia được Giavê kêu gọi ra đi làm tiên tri cho các dân tộc, ông đã tìm cách thoái thác: “Tôi đâu có biết nói năng gì. Tôi chỉ ú ớ như một đứa trẻ con.” Nhưng Chúa nói: “Đừng sợ, vì Ta ở cùng ngươi” (Gr 1:8). Với lời hứa ấy của Giavê, Giêrêmia lên đường.

Trong Tân ước, khi Chúa Giêsu sai các môn đệ đi vào thế gian rao giảng Tin mừng. Sứ mạng chất đầy gian nan, không khác chi như chiên con đi giữa sói rừng. Ấy thế mà sự bảo đảm lại chỉ là một lời hứa: “Ta sẽ ở cùng các ngươi mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20). Vậy rồi các ông ra đi.

Sẽ không lời hứa nào bày tỏ trọn vẹn nỗi lòng yêu thương của một con người cho bằng lời hứa “ở cùng người yêu”, và sẽ không có nỗi lòng khát khao nào mãnh liệt cho bằng được “sống chung với người yêu”. Một chàng thanh niên có thể hứa với người con gái: “Anh sẽ mua cho em một chiếc nhẫn kim cương làm quà Giáng sinh; anh sẽ cố học thành tài để em không phải lam lũ sau này…”, nhưng nếu không có lời hứa “ở cùng em” thì vô ích hết. Cao điểm hạnh phúc trong ngày thành hôn của hai người nam nữ không phải nơi chiếc áo cưới lộng lẫy, cũng chẳng phải nơi chiếc nhẫn cưới hay lời chúc tụng của thân hữu đôi bên, nhưng là nơi giao ước tình yêu đã được thiết lập. Trong giao ước đó họ hứa “ở cùng nhau suốt đời.”

Một linh mục đã nhận xét: “ở cùng” chính là ngôn ngữ của tình yêu, vì chỉ có yêu ai người ta mới nghĩ đến “ở cùng.”

Vì yêu nên mới có việc Thiên Chúa đến “ở cùng” con người, mới có danh hiệu Emmanuel, mới có cảnh Giavê mang kiếp lầm than để thông chia nỗi đau của con người, và chưa hết, mới có danh hiệu Giêsu, nghĩa là Giavê cứu thoát.

Vì yêu thương con người nên Thiên Chúa muốn cứu thoát. Để cứu thoát, Ngài đã đến ở cùng. Có lẽ không nỗi đợi chờ hay một thoả mãn nào đáng giá hơn hình ảnh của Chúa Hài đồng nằm trong máng cỏ, hiện thân của tình yêu ở cùng.

* * * * *

Danh hiệu Emmanuel không chỉ gợi lên trong tôi ý thức về ân phúc tình yêu Thiên Chúa dành cho con người, về những lời cầu chúc được lập đi lập lại trong các Thánh lễ đang cần được nói và nghe với tất cả tâm hồn, nhưng còn là lời mời gọi bạn và tôi hãy ở cùng tha nhân, hãy xích lại gần nhau và sống thân ái hơn trong tình người.

Như Thiên Chúa đã phá đổ bức tường ngăn cách, dù đó là sự ngăn cách vô biên–giữa Tạo hoá và loài thụ tạo, giữa trời cao với đất thấp, giữa vô hình và hữu hình–chúng ta cũng được mời gọi hãy phá đổ những ngăn cách giữa con người với con người, để việc tôi “ở cùng” tha nhân trong an hoà sẽ là một phản chiếu rõ nét khuôn mặt của Thiên Chúa-ở-cùng-chúng-ta.

LM. Bùi Quang Tuấn, CSsR.