CHẾT VÌ YÊU

Đức Cha Bossuet, một nhà văn và một nhà hùng biện thời danh thế giới, đã nói : “Trong vũ trụ không có ai cao trọng hơn Đức Kitô, trong Đức Kitô không có gì cao trọng hơn sự hy sinh, trong mọi sự hy sinh không gì cao trọng hơn giây phút tắt thở trên thánh giá”.

Ông Nguyễn Hiến Lê, một lương dân, một nhà văn, một nhà giáo dục viết hàng trăm sách học làm người.  Trong bài đề tựa cuốn “Sống hạnh phúc”, ông đã đặt câu hỏi : “Đức Giêsu, một người chết yểu, chết non lúc hơn ba mươi tuổi.  Sao được cả nửa thế giới sùng bái lạ lùng như vậy?” và ông đáp : “Thưa chỉ vì Ngài đã thương yêu hy sinh cho nhân loại đến hơi thở cuối cùng”.

*************************

Một danh nhân thế giới và một danh nhân Việt Nam đã nhận định giống nhau về cái chết của Đức Giêsu, một cái chết vì thương yêu nhân loại đến hơi thở cuối cùng.  Phải nói hơn nữa rằng : “Đức Giêsu đã thương yêu nhân loại không phải chỉ đến hơi thở cuối cùng mà đã thương yêu nhân loại từ thuở đời đời và cho đến đời đời”.

“Ta đoái thương ngươi bằng tình nhân nghĩa muôn đời, nên cho dù núi non có thể đổi dời, gò nổng có thể xê đi, tình nhân nghĩa Ta với ngươi sẽ không đổi dời” (Is. 54, 8.10).  Tiên tri Giêrêmia cũng nói đến tình yêu ngàn đời đó : “Ta đã yêu ngươi bằng một tình yêu muôn đời” (Gr. 31, 3).

Chính tình yêu đời đời, bất di bất dịch đó đã khiến Chúa Con bỏ trời mà xuống thế làm người, hy sinh cho nhân loại đến hơi thở cuối cùng, cho nhân loại thấy được tình yêu Thiên Chúa.  Loài người sống trong trần gian nên chỉ thấy những gì xảy ra trong trần gian, vì thế, chỉ thấy Chúa Con thương yêu họ từ lúc sinh ra làm người cho đến hơi thở cuối cùng. Họ thấy Người sinh ra trong cảnh bần cùng, hang đá bò lừa để tỏ lòng thương yêu kẻ cơ bần như mục đồng sống phận tôi tớ cực khổ với đàn chiên giữa cảnh đêm đông sương tuyết lạnh lùng.  Họ thấy Người đến đưa Tin mừng cho những người nghèo khổ, ban bình an xuống cho những tâm hồn giá lạnh.  Họ thấy Người trở nên bé thơ cho những cụ già neo đơn như ông Simêon và bà Anna bồng bế để an ủi những cõi lòng héo hắt cô đơn, và được thấy niềm vui ơn cứu độ, không còn tuyệt vọng trước cái chết xồng xộc đến.  Họ thấy Người phải tha hương nơi đất khách quê người để chia sẻ nỗi sầu với những ai bị lưu đầy biệt xứ, với những ai phải chia lìa quê cha đất tổ. Họ thấy Người thương sống đồng phận với giới lao động thợ thuyền, giới phục vụ mọi tầng lớp, mọi hạng người như tôi tớ mà vẫn phải sống kiếp lầm than đọa đầy.  Họ thấy Người công khai rao giảng tình thương vô biên của Thiên Chúa mà vẫn bị ghét bỏ, chống đối.  Họ thấy Người hết lòng hết sức cứu chữa những kẻ mù, què, câm, điếc, bệnh tật, quỷ ám và cho kẻ chết sống lại, thế mà Người vẫn bị bắt bớ, kết án tử hình đóng đinh trên thập giá.

Ôi Người là đại ân nhân của nhân loại, là đường, là sự thật, là sự sống và là sự sống lại muôn đời. Thế mà Người sẵn sàng hiến thân cho kẻ thù giết đi, cho kẻ thù được thỏa lòng hả dạ, cho kẻ thù nhìn thấu tận trái tim rộng mở của Người yêu thương và tha thứ cho kẻ thù.  Cho nên không lạ gì, nhân loại dù tin hay không tin Người, đều thấy Người yêu thương hy sinh cho nhân loại đến hơi thở cuối cùng.

Không có cái chết nào có thể sánh ví được với cái chết của Đức Giêsu.  Dù Lê Lai có hy sinh chết đi để cứu chúa Lê Lợi, cũng chỉ chết cho một vị vua chúa, dù thánh Grandhi hay tổng thống Abraham Lincoln đã hy sinh chết cho dân tộc, cũng chỉ giải phóng tạm thời cho một dân tộc được tự do, thoát khỏi chế độ nô lệ.  Dù nhà bác học Galilée hy sinh chết cho chân lý khoa học thì cũng chẳng cứu được ai khỏi chết.  Dù bác sĩ Schweitzer (Xuét-Dơ) suốt đời phục vụ dân nghèo Phi châu, cũng chẳng đem lại hạnh phúc cho họ được bao nhiêu.

Tất cả những cái chết thời danh đó chỉ là hình bóng, là môn đệ của Đức Kitô.  Chỉ cái chết của Đức Giêsu Kitô mới chứng tỏ hoàn toàn tình yêu thương hy sinh cứu độ nhân loại đến cùng và cho đến muôn đời.

*************************

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã chết trên thập giá vì yêu thương chúng con, yêu thương đến hơi thở cuối cùng và cho đến muôn đời.  Xin cho chúng con biết hít thở tình thương yêu đó vào trái tim chúng con, nuôi sống tình yêu chúng con, cho chúng con biết hy sinh cho nhau hàng ngày để được diễm phúc sống trong tình yêu của Chúa đến muôn đời.

Theo tập sách “ xây nhà trên đá”

TỰ HẠ

Quan sát những nữ tử thừa sai Bác ái chăm sóc và rửa những vết thương cho các bệnh nhân tại một trại phong cùi, một nhà đại phú phát biểu: “Cho tôi một triệu mỹ kim tôi cũng không làm được những việc này”.  Nghe nói thế, Mẹ Têrêxa Calcutta trả lời: “Cho chúng tôi một triệu mỹ kim để bảo chúng tôi ngưng làm những việc này, chúng tôi vẫn tiếp tục”.

*************************

Câu chuyện trên và những mẫu gương của các nữ tử thừa sai Bác ái đang phơi bày khắp nơi trên thế giới dẫn chúng ta vào trọng tâm bài Tin Mừng dành cho ngày thứ năm Tuần Thánh.

Chiều sâu của sự kiện Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ nằm trong những nhận định thánh Gioan ghi nhận: “Trước khi Chúa Giêsu thi hành công việc hèn hạ dành cho những người tôi tớ, Đức Kitô biết rằng Chúa Cha đã trao phó mọi sự trong tay mình và vì Ngài bởi Thiên Chúa mà đến và sẽ trở về cùng Thiên Chúa”.  Nói cách khác trước khi chỗi dậy, cởi áo, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu và rửa chân cho các môn đệ, Chúa Giêsu ý thức rõ ràng Ngài là ai.  Ngài là Đấng Thiên Chúa trao cho mọi quyền năng và giây phút vinh quang của Ngài đã đến gần.  Tuy biết rõ địa vị cao trọng của mình như thế, nhưng Chúa Giêsu vẫn tự hạ làm công việc Ngài luôn thực hiện trong suốt cuộc sống để thực thi lời Ngài rao giảng “Con Người đến để hầu hạ chứ không phải được hầu hạ”.

Thông thường, những người có địa vị cao thích ăn trên ngồi trốc; những kẻ làm đầu xem việc được cung phụng, hầu hạ là chuyện dĩ nhiên, là những quyền lợi mình đáng được hưởng.  Nhưng đối với Chúa Giêsu thì hoàn toàn khác hẳn, Ngài đã từng giảng dạy và luôn thực thi những gì mình giáo huấn: “Trong anh em ai muốn mình nên cao trọng thì hãy làm đầy tớ, ai muốn làm đầu thì hãy nên tôi tớ cho mọi người”.  Nay Ngài làm gương, rửa chân cho các môn đệ, một việc làm thường dành riêng cho những người tôi tớ, những kẻ thấp hèn.

Nội lực thúc đẩy Ngài sống và cư xử không ỷ lại vào địa vị cao trọng của mình, như thế chắc chắn phải là tình yêu, vì chỉ có tình yêu mới giúp cho con người không câu nệ.  Chỉ có tình yêu mới làm cho con người vươn mình để xả thân phục vụ người khác, bất chấp công việc tầm thường, đòi hỏi một sự tự hạ mình, đòi hỏi một sự hy sinh, quên mình và tự hiến hoàn toàn con người của mình, con người không đeo huân chương, không phô trương cấp bằng, không mang chức tước địa vị.

Hiểu được con người và những hành động tự hạ và hy sinh cao cả của Chúa Giêsu, như thế chúng ta mới có thể tiến sâu vào việc Chúa Giêsu có ý định thực hiện trong buổi tiệc ly.  Ngài quyết định lập phép Thánh Thể với mục đích hiện tại hoá và kéo dài hy tế Ngài đã hiến dâng qua cái chết đau thương trên thập tự.  Biến cố rửa chân cho các môn đệ chỉ là một nghi thức vĩnh biệt nhưng là một nghi thức quyết định và cao trọng đến đỗi Phúc Âm thánh Gioan chỉ ghi lại biến cố này chứ không thuật lại việc Chúa Giêsu lập phép Thánh Thể.

Về phần chúng ta, chúng ta không thể nhận lãnh và sống Bí tích Thánh Thể nếu chúng ta không thực thi từng chữ và trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống truyền dạy của Chúa Giêsu trong phần kết cuộc bài Tin Mừng hôm nay: “Nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con thì các con cũng phải rửa chân cho nhau, vì Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước và làm như Thầy đã làm cho các con”.

Có bắt chước Chúa Giêsu sẵn sàng rửa chân cho nhau, sẵn sàng tự hạ hy sinh làm những công việc hèn mọn nhất để phục vụ cho mọi người, chúng ta mới có thể lãnh nhận Chúa Giêsu trong phép Thánh Thể cách xứng đáng để trở nên một với Ngài, tiếp tục công việc dấn thân, chết để vâng phục hoàn toàn thánh ý Thiên Chúa và chết để tỏ tình thương đối với anh chị em đang sống bên cạnh.

*************************

Lạy Chúa, trong bữa Tiệc Ly trọng đại, trước ngày tự hiến thân chịu khổ hình, Đức Giêsu đã rửa chân cho các môn đệ để làm gương cho chúng con noi theo.  Xin cho chúng con biết bắt chước Đức Giêsu sẵn sàng tự hạ hy sinh phục vụ mọi người với tình yêu thương đích thực.  Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

Sưu tầm từ tài liệu của Gp. Long Xuyên – Tinvui

CHỖI DẬY

Ngày kia, có một thanh niên đến thưa với Thầy ẩn sĩ Sisot:

–  Thưa Thầy, xin Thầy cho con một lời chỉ giáo.
–  Con muốn gì? cứ nói!
–  Thưa Thầy, con phải làm gì ? Con mới phạm một tội tầy đình và thật ghê gớm.

Nói xong, chàng thanh niên khóc nức nở. Thầy Sisot thản nhiên trả lời: “Nếu như thế thì hãy chỗi dậy đi”.
Chàng thanh niên lắc đầu: “Con đã cố gắng chỗi dậy nhưng lại sa ngã và phạm đi phạm lại, con phải chỗi dậy bao nhiêu lần nữa?”

Thầy Sisot cương quyết: “Con phải chỗi dậy sau mỗi một lần sa ngã cho đến khi nào Chúa gọi con ra khỏi thế gian này”.

*****************************

Câu trả lời của Thầy Sisot cho chúng ta thấy cuộc đời là một cuộc chiến đấu liên lỉ.  Lúc chúng ta tưởng mình đã thành công lại chính là lúc chúng ta yếu đuối dễ sa ngã hơn bao giờ hết.  Con người chúng ta sức hèn yếu đuối dễ sa  ngã, cho nên điều quan trọng là phải biết chỗi dậy sau mỗi lần phạm tội sa ngã như Thầy Sisot đã khuyên chàng thanh niên.

Tội là một sự phản bội.  Mỗi khi chúng ta phạm tội là chúng ta dẹp Chúa qua một bên, chúng ta chọn tiền bạc, chọn những thú vui trần gian, những thú vui tội lỗi thay vì đặt Chúa làm chủ đời sống chúng ta.

Giuđa và Phêrô, cả hai đã phản bội Chúa.  Nhưng sau khi phạm tội, mỗi người có một cách phản ứng khác nhau:

  •        Giuđa ân hận vì đã bán Chúa một cách đê hèn, chớ không phải ân hận vì đã làm Chúa buồn. Việc làm của ông kể như là một thất bại và ông đã đi đến chỗ tự tử.  Đó không phải là lòng hối hận ăn năn thiệt tình.
  •         Phêrô đã hối hận ăn năn cách thực tình.  Phêrô hối hận vì đã làm Chúa buồn.  Ông nghĩ đến tình thương của Chúa nên ông đã không thất vọng nhưng tin tưởng hơn vào lòng thương xót nhân từ của Chúa, và ông đã được Chúa tha thứ.

Chúa Giêsu đã hứa đặt Phêrô làm đầu các tông đồ mặc dầu Ngài biết chắc rằng Phêrô sẽ chối Thầy.  Sau khi phạm tội, Phêrô đã ăn năn hối hận, được Chúa tha thứ và Chúa đã không rút lại lời hứa trước đó.  Lòng thành thực ăn năn hối hận không làm chúng ta mất mát gì, trái lại nó mở lòng chúng ta đón nhận ơn tha thứ của Chúa.

Có một em khi nghe kể chuyện về Giuđa, em đã thốt lên: “Nếu như em là Giuđa, sau khi phạm tội thì chắc chắn em sẽ không đi thắt cổ nhưng sẽ chạy đến ôm lấy cổ Chúa xin Ngài tha thứ, và chắc chắn Ngài sẽ tha thứ như Ngài đã tha thứ cho Phêrô”.

Một câu nói tuy đơn sơ nhưng nói lên rằng em bé kia đã thấu hiểu tình thương tha thứ của Chúa Giêsu.  Chúng ta chắc chắn sẽ được Chúa tha thứ, miễn là chúng ta có lòng ăn năn thống hối thật tình và quyết tâm chừa cải, canh tân đời sống.

*****************************

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn ghi nhớ trong lòng những đau khổ mà Con Chúa đã chịu vì tội lỗi chúng con, để giúp chúng con thêm lòng yêu mến Chúa, xa tránh tội lỗi và vững lòng tin tưởng vào tình thương, lòng nhân từ thương xót của Chúa.  Xin Chúa đừng để chúng con phải rơi vào thất vọng: thất vọng đối với bản thân, đối với tha nhân và nhất là thất vọng đối với tình yêu của Chúa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen!

Sưu tầm từ tài liệu của Gp. Long Xuyên – Tinvui

THIÊN ĐÀNG LÀ THẾ ĐÓ

“Mừng vui lên Sion, này đây Chúa ngươi đến rồi.
Mừng vui lên Sion, Ngài khấng nghe lời ngươi đó.
Ngài dẫn đưa ngươi, qua những hố sâu, qua núi đồi,
Về nơi an vui, nơi suối mát trong đẹp tươi.”

Đó là lời reo ca thoát thai từ niềm tin son sắt của tiên tri Sôphônia trong cảnh tang tóc khổ đau của kiếp lưu đày biệt xứ.

Số là vào thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên, vùng đất Do thái bị áp lực và sâu xé bởi đoàn quân viễn chinh Assyria hùng mạnh ở phía Bắc và vương quốc Ai Cập rộng lớn ở phía Nam.  Ngoài ra còn phải đương đầu với tệ nạn cướp bóc, sách nhiễu của các nước lân bang.  Triều đình Do thái bị phân năm xẻ bảy.  Người thì muốn cấu kết với Assyria để tránh tai họa, kẻ thì đòi liên minh với người Assur để chống giặc phương Bắc.  Tình trạng rối rắm, bất ổn, chia rẽ, lo sợ đã làm đất nước nhỏ bé Giuđa rơi vào hoàn cảnh khốn đốn, kiệt quệ chưa từng thấy.  Rốt cuộc Giêrusalem bị dày xéo, đền thờ rơi vào tay giặc, và dân cư phải đi lưu đày.  Kiếp nô lệ cho đế quốc Assur bắt đầu.

Vào khoảng năm 609 trước Thiên Chúa giáng sinh, đế quốc Assur bắt đầu suy yếu.  Tin tưởng ngày Giavê ra tay cứu thoát, thấy trước thời kỳ khôi phục quốc gia Giuđa, Sôphônia đã phấn chấn tâm hồn người dân lưu đày bằng lời reo vui: “Hỡi thiếu nữ Sion, hãy cất tiếng ca!  Hỡi nhà Israel hãy vui mừng!  Vì Chúa đã cất án phạt trên ngươi.  Địch thù của ngươi, Ngài bắt phải tháo lui.  Vua Israel là Chúa ở giữa ngươi, ngươi không còn phải sợ khổ cực nữa” (Xp 3:14-15).

Đây là niềm vui lớn lao cho toàn dân.  Vui vì được Giavê giải thoát.  Vui vì Chúa đến ở với dân Người.  Chính Thánh Phaolô cũng đã nhắc đến niềm vui cứu độ này cho cộng đoàn tiên khởi Philip: “Anh em hãy vui mừng lên… vì Chúa đã gần bên” (Phi 4:4-5).  Đây chính là chủ đề của Chúa nhật thứ 3 mùa vọng.  Màu tím trong phụng vụ được thay bằng màu hồng.  Qua đó, Giáo hội kêu mời dân Chúa hãy đổi mới thái độ sống, hãy hân hoan vui mừng, hãy hát lên, vì khổ đau kinh hoàng sẽ qua đi và bình an của trời cao đang ngự đến.

Hãy đổi mới thái độ sống cũng chính là câu trả lời của Thánh Gioan Tiền hô khi dân chúng đến hỏi “Chúng tôi phải làm gì?”

Theo Thánh Gioan, để đón chào Sứ giả Bình an, để tiếp nhận Hạnh phúc của trời cao, thì “ai có hai áo, hãy cho người không có, ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy…  Đừng đòi gì quá mức ấn định…  Đừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai.”  Phải chăng vị ngôn sứ đã muốn làm nổi bật chân lý: Hãy thương người để gặp được Chúa.

Khi hết lòng tu chỉnh thái độ sống của mình đối với anh chị em chung quanh, khi cố gắng thực thi công bình, bác ái, yêu thương và san sẻ, khi quyết tâm thay đổi tính khí xung giận hận thù, là tôi đang chân thành mở ngỏ đón mừng Đấng Cứu Thế ngự đến, là khơi dòng cho nguồn bình an tuôn tràn đến người thiện tâm, và làm cho thiên đàng thật sự chớm nở nơi trần thế.

Người Nhật thường kể cho nhau nghe câu chuyện về một hiệp sĩ Samurai hung bạo, cộc cằn không ai bằng.  Một hôm chàng ta đến gặp một vị thiền sư và nói:

– Xin hãy chỉ cho tôi biết thiên đàng là gì và hoả ngục là gì?

Vị thiền sư đưa mắt nhìn con người thô bạo từ đầu đến chân rồi thất vọng trả lời:

– Dạy cho ngươi biết thế nào là thiên đàng và thế nào là hoả ngục ư?  Ta không thể dạy cho ngươi bất cứ điều gì cả.  Vì ngươi là một kẻ hung bạo, thô lỗ.  Ngươi là nỗi tủi nhục cho hàng ngũ hiệp sĩ Samurai.  Hãy cút khỏi mặt ta.  Ta không chịu được ngươi nữa.

Nghe những lời sỉ vả ấy, chàng hiệp sĩ nổi nóng, liền rút gươm định chém đầu vị thiền sư.  Nhưng vị này giơ tay ngăn lại và nói:

– Hỏa ngục là thế đó!

Chợt nhận ra đây là bài học thực tiễn của nhà tu hành, chàng hiệp sĩ vội dừng tay.  Sự hối hận bỗng đâu dâng tràn tâm hồn, chàng ta hiểu rằng vị thiền sư muốn hy sinh cả mạng sống để dạy cho mình bài học về hoả ngục.  Thế rồi chàng từ từ hạ gươm xuống, cho vào bao, đoạn đến quì gối trước mặt vị thiền sư với tất cả sự thành tâm sám hối.  Vừa nâng chàng dậy, vị thiền sư vừa nhìn sâu vào đôi mắt của chàng và nói:

– Thiên đàng là thế đó! 

Thiên đàng đã hiện hữu nơi cõi thế.  Đấng Cứu Thế đã đến trần gian.  Một Hài Nhi đã sinh ra đời.  Nhưng, nếu không biết thành tâm sám hối, đổi mới thái độ, làm sao người ta có thể cảm thấu được hạnh phúc thiên đàng là gì, Chúa Hài đồng là ai, hay niềm vui cứu độ là chi.  Phải chăng vì bao lâu nay tính nóng nảy, giận hờn, ích kỷ, và nhất là vì thiếu hành vi sám hối mà người ta đã gây ra không biết bao nhiêu quang cảnh tan nát, lưu đày, hoả ngục cho chính mình và cho tha nhân?

Nhưng nếu biết sống an hoà với mọi người, biết chia sẻ cứu giúp những ai bần cùng khốn khó, biết chế ngự thói xấu tật hư, biết hướng lòng lên với trời cao bằng kinh nguyện và lời tri ân, thì như lời Thánh Phaolô đoan quyết, “bình an của Thiên Chúa sẽ gìn giữ lòng trí của anh em trong Đức Giêsu Kitô” (P1 4:7)

Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm.

Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn

4 ĐIỀU KỲ DIỆU VỀ ĐỨC MẸ GUADALUPE

Vào ngày 12 tháng Mười Hai hàng năm, Giáo hội mừng lễ Đức Mẹ Guadalupe, đánh dấu ngày 9/12/1531, khi Đức Mẹ hiện ra ở Mexico với một nông dân 57 tuổi tên Juan Diego.  Khi ấy Juan Diego đang đi bộ đến khu vực mà nay là thành phố Mexico (đồi Tepeyac), thì ông thấy Đức Mẹ hiện ra.

Để chứng minh cho Đức Tổng Giám mục những gì ông đã thấy, Đức Mẹ bảo ông leo lên đỉnh đồi để hái hoa.  Khi lên tới nơi, Juan Diego tìm thấy những bông hoa hồng Castilian, vốn không nở vào mùa này và cũng không phải là loài sống được nơi đây.

Đức Mẹ đã sắp xếp số hoa tìm được vào chiếc áo tilma bằng sợi xương rồng của Juan.  Và khi ông đến dinh thự của giám mục, mở chiếc áo choàng ra thì hoa rơi xuống sàn, trên bề mặt áo bỗng xuất hiện hình ảnh Đức Mẹ mà ngày nay được gọi là “Đức Mẹ Guadalupe.”  Chiếc áo tilma với hình ảnh Đức Mẹ chỉ trong vòng 7 năm đã tác động lên hàng triệu người, khiến họ chuyển sang đạo Công giáo.

Bên cạnh đó, chiếc áo hiện được trưng bày tại Vương cung thánh đường Đức Mẹ Guadalupe ở thành phố Mexicô, Mexicô còn có nhiều điều lạ lùng mà các khoa học gia chưa thể giải thích.

Dưới đây là 4 sự thật đáng kinh ngạc về chiếc áo tilma in hình Đức Mẹ.

1) Chất liệu và màu sắc đặc biệt mà loài người không thể tái tạo

Chiếc áo tilma được làm chủ yếu từ sợi cây xương rồng, một chất liệu có chất lượng rất kém và bề mặt thô ráp.  Vì thế rất khó để mặc chúng, và thậm chí còn khó hơn nếu muốn giữ được hình ảnh đã vẽ lên vải.  Tuy thế, hình ảnh Đức Mẹ trên tấm áo tilma nói trên vẫn còn cho đến ngày nay.  Các nhà khoa học nghiên cứu vải tấm nhấn mạnh rằng, bề mặt tấm vải đã không được xử lý bằng bất kỳ kỹ thuật nào.  Bề mặt trên tấm tilma có in hình Đức Mẹ khi chạm vào thì mềm như lụa, trong khi những phần còn lại tilma vẫn thô ráp.

Hơn nữa, các chuyên gia nhiếp ảnh hồng ngoại nghiên cứu vào cuối những năm 1970 xác định rằng, trên chiếc tilma không có bất kỳ nét cọ nào (hoàn toàn không), như thể ảnh Đức Mẹ được sát nhập vào làm một với tấm vải.  Tiến sĩ Phillip Callahan, một nhà sinh lý học tại Đại học Florida phát hiện ra rằng, khi đưa bức ảnh ra xa một chút thì có sự khác biệt về diện mạo của kết cấu và màu da của Mẹ, mà con người không thể tái tạo được:

“Kỹ thuật đó không thể là do bàn tay con người làm nên.  Nó chỉ thường xảy ra trong tự nhiên, như màu của lông chim hay cánh bướm và những màu tươi tắn trên bọ cánh cứng…  Nếu từ từ lùi ra xa bức ảnh, đến một khoảng cách nhất định thì các sắc tố tự nhiên và bề mặt có in hình Đức Mẹ sẽ hòa quyện vào với nhau, vẻ đẹp tuyệt vời nơi chân dung Đức Trinh Nữ có màu của trái olive hiện ra như thể đó là ma thuật.”

Ngoài ra, tấm vải có in hình Đức Mẹ còn thay đổi nhẹ màu sắc tùy vào góc nhìn của người xem.  Màu sắc của bức ảnh cũng không thể tìm thấy nơi các loài động vật hay trong các nguyên tố khoáng chất (vào năm 1531, chưa có màu tổng hợp), khiến nhiều câu hỏi chưa có lời giải đáp.

2) Mọi người cho đây chỉ là một bức vẽ, nhưng chiếc áo tilma ấy đã đánh bại mọi bức vẽ bản sao cả về thời gian lẫn chất lượng

Mỗi khi có ai muốn tạo ra một bản sao để thay thế bức ảnh gốc, thì kết quả là bản sao ấy sẽ nhanh chóng phai mờ, trong khi bản gốc dường như không bao giờ phai.  Miguel Cabrera, một nghệ sĩ sống giữa thế kỷ 18, người đã sao chép ra ba trong số những bản sao nổi tiếng nhất (một dành tặng Tổng giám mục, một dành tặng Đức giáo hoàng và một cho chính ông) đã từng viết về sự khó khăn trong việc sao chép bức ảnh, dù là với những chất liệu tốt nhất:

Ông nói: “Tôi tin rằng dù một họa sĩ tài năng và cẩn thận nhất đi chăng nữa, nếu anh ta sao chép bức ảnh thánh thiêng này trên tấm vải vẽ có chất lượng kém [như chiếc áo tilma gốc], thì dẫu anh có cố gắng khó nhọc đến mấy để họa lại 4 chất liệu trên bức ảnh, thì cuối cùng cũng phải mệt mỏi thừa nhận rằng mình không thể làm được.  Điều này có thể được chứng minh rõ ràng qua rất nhiều bản sao đã được tạo nên, nhờ vào lợi thế của việc sử dụng véc-ni, tấm vải vẽ được chuẩn bị cẩn thận nhất và chỉ sử dụng một chất liệu là dầu – môi trường thuận lợi nhất cho việc vẽ tranh…”

Tiến sĩ Adolfo Orozco, nhà nghiên cứu và nhà vật lý học tại Đại học Quốc gia Mêxicô, vào năm 2009 đã so sánh việc chiếc áo tilma được bảo quản quá hoàn hảo so với những bản sao của nó.  Ví dụ, một bản sao năm 1789 được vẽ trên một bề mặt tương tự với các kỹ thuật tốt nhất vào thời điểm đó, sau đó bản sao được bọc kính và lưu trữ bên cạnh chiếc áo tilma gốc.  Lúc đầu, trông bản sao thì đẹp khi mới sơn, nhưng chỉ 8 năm sau với khí hậu nóng ẩm của Mêxicô, người ta đã phải gỡ bỏ bản sao này bởi màu sắc đã phai mờ và có những vết nứt.

Tuy nhiên, Tiến sĩ Orozco cho biết, không có bất kỳ lời giải thích khoa học nào lý giải cho sự thật là “chiếc áo tilma gốc đã được trưng bày ngoài trời trong gần 116 năm mà không có bất kỳ biện pháp bảo vệ nào.  Tấm áo đã hấp thu tất cả những tia hồng ngoại và tia cực tím phát ra từ hàng chục ngàn ngọn nến gần đó, đồng thời tiếp xúc với không khí ẩm ướt và mặn trong ngôi đền.”

3) Chiếc áo tilma giống như một cơ thể sống

Năm 1979, khi Tiến sĩ Callahan phân tích áo tilma bằng công nghệ hồng ngoại, ông cũng phát hiện ra rằng chiếc áo luôn duy trì một nhiệt độ không đổi là 98,6 độ F (tương đương 36,6 – 37 độ C), giống như nhiệt độ của một cơ thể sống.

Khi bác sĩ Carlos Fernandez de Castillo, một bác sĩ phụ khoa Mêxicô, kiểm tra áo tilma, đầu tiên ông thấy một bông hoa bốn cánh nằm ở vị trí là dạ con của Mẹ Maria.  Người Aztec gọi loài hoa này là Nahui Ollin, đây là biểu tượng của mặt trời và còn là biểu tượng của sự sung túc.  Sau khi kiểm tra kỹ lưỡng hơn, tiến sĩ Castillo kết luận rằng kích thước của cơ thể Đức Mẹ Guadalupe trong bức ảnh, tương tự với kích thước của một bà mẹ mang thai.  (ngày 9/12, ngày Đức Mẹ hiện ra với Juan, chỉ hai tuần lễ trước Giáng sinh…).

Cuối cùng, một trong những phát hiện nổi tiếng nhất, đó là những khám phá nằm trong đôi mắt của Đức Mẹ trong bức ảnh.  Tiến sĩ Jose Alte Tonsmann, một bác sĩ nhãn khoa người Peru đã tiến hành một nghiên cứu, và một trong những thí nghiệm của ông là phóng đại 2.500 lần hình ảnh đôi mắt Đức Mẹ.  Với hình ảnh phóng đại này, nhà khoa học này phát hiện có hình ảnh 13 người ở cả hai mắt với các tỷ lệ khác nhau, giống như mắt của con người khi nhìn sự vật gì đó.  Đôi mắt dường như đã chụp lại cảnh tượng khi thánh Juan Diego trải chiếc áo tilma của mình ra trước mắt vị Tổng giám mục.

4) Bức ảnh dường như không thể bị phá hủy

Qua nhiều thế kỷ, có hai sự kiện đã đe dọa sự nguyên vẹn của chiếc áo tilma.  Một xảy ra vào năm 1785 và một vào năm 1921.  Năm 1785, khi một công nhân đang lau dọn bề mặt kính của bức ảnh, ông đã vô tình làm tràn 50% dung dịch a-xít nitric lên phần lớn bức ảnh.  Vì thế, hình ảnh Đức Mẹ và những nơi còn lại của áo tilma ngay lập tức bị dung dịch ăn mòn gần hết.  Tuy nhiên sau 30 ngày, bức ảnh tự phục hồi và còn nguyên vẹn cho đến này nay, ngoại trừ các vết bẩn nhỏ trên tấm vải không in hình Đức Mẹ.

Năm 1921, một nhà hoạt động chống giáo sĩ đã giấu một quả bom có chứa 29 thanh thuốc nổ trong một lọ hoa hồng, và đặt nó trước bức ảnh bên trong Vương cung thánh đường ở Gadalupe.  Khi quả bom phát nổ, hầu như tất cả mọi thứ từ bàn thờ bằng đá cẩm thạch, sàn nhà cho tới cửa sổ cách đó 150m đều bị vỡ… nhưng bức ảnh và khung kính xung quanh vẫn không ảnh hưởng gì.  Thiệt hại duy nhất xảy ra gần với áo tilma là một cây thánh giá bằng đồng thau bị xoắn và uốn cong bởi vụ nổ.

Anna Huê (theo Church Pop)

ÐỂ TỰ DO VÀ HẠNH PHÚC HƠN

Bỗng nhác thấy bóng ngựa phóng qua. Kẻ trên lưng ngựa chính là người bạn thủa xưa cùng nhau tầm thầy học đạo. Cất tiếng gọi, mà bóng ngựa cứ nước kiệu phóng đi như bay. Băn khoăn về người bạn cũ thủa nào.  Nhà đạo sĩ lên đường xuôi phương nam tìm ngọn núi có am thất của kẻ đồng môn. Tới nơi, nhân gian cho ông biết am thất không còn ai trông coi. Kẻ trụ trì đã chết rồi. Tính ra, đúng ngày mà có bóng ngựa đi qua.

Ngày xưa hai người có một lời hứa: Ai chết trước sẽ về báo cho kẻ ở lại biết thế giới bên kia thế nào. Phải chăng bóng ngựa là hồn người bạn cũ?

Ðêm đó, bên rừng am thất, bỗng có người cầm tay nhà đạo sĩ dắt đi. Quay nhìn, chính hồn người bạn cũ hiện về.

       –     Này, bạn cũ, xin nói cho tôi biết thế giới bên kia thế nào.

Hồn người chết lẳng lặng kéo nhà đạo sĩ theo mình. Qua khu rừng, rồi một hoang địa. Có tiếng nói từ đâu đó:

        –   Ði về phía đông mươi trượng, vào đường hầm. Ði xuống trăm bước.

Ði lên. Về phía nam.
Thoát chốc, hồn người bạn cũ biến mất, bất ngờ như khi hiện đến.
Mơ hồ như trong giấc ngủ mộng mị. Con đường về thế giới bên kia bắt đầu. Hồn nhà đạo sĩ theo tiếng gọi huyền bí dẫn đi. Qua nhà, qua cửa. Ông nghe có tiếng cầu kinh. Trời đổ mưa. Ngoài cánh đồng có người làm việc. Hoàng hôn lên, bình minh xuống. Bé thơ ngồi xem mẹ xay bột bên khuông cửa. Êm ả, một đời sống thanh bình. Ông hỏi tiếng vọng:

       –     Thiên đàng đâu?

Một quang cảnh tương tự như cuộc sống bình thường chung quanh ông trên dương thế đang diễn ra. “Ðó, ông đang đi qua thiên đàng đó.” Nhà đạo sĩ không thấy chi thần tiên như người ta nói, không có các vũ công vũ khúc nghê thường. Không có yến tiệc linh đình. Một sinh hoạt như cuộc sống trên dương thế của ông thôi. Kì lạ quá. “Thiên đàng có vậy thôi sao? Còn hỏa ngục thế nào?” Ông ngạc nhiên về những hình ảnh thiên đàng, hỏa ngục mà ông vẫn dạy trong những bài thuyết giảng của mình.
Qua thiên đàng rồi, tiếng vọng dẫn ông sang một thế giới khác. Chập chờn, ông lạc vào một vùng như hoang tưởng. Chung quanh ông là những tòa nhà sang trọng. Có những toán người ca hát nhẩy múa thâu đêm suốt sáng. Yến tiệc bày biện tưng bừng. Chỗ nào ông cũng thấy xa hoa, phấn hương. “Có phải đây mới là thiên đàng chăng?” Ông ngạc nhiên không hiểu nơi này là gì mà hạnh phúc phúc thế. Nhưng có tiếng bí mật trả lời ông: “Không! đây là hỏa ngục!” Qua sảnh đường, ông nhác thấy có người quen, chính hồn người bạn cũ năm xưa! Ông ta đang ngậm miệng cố nuốt những dòng rượu chảy nhễ nhãi. Chung quanh sàn nhà cẩm thạch, đoàn vũ nữ nhẩy múa. Nhóm người khác đang chia nhau tiền bạc. Tiền đâu mà nhiều thế. Họ đếm thâu đêm suốt sáng không hết. Chỗ nọ, đoàn nhạc công mồ hôi nhễ nhãi oằn oại trên tiếng đàn. Họ ăn chơi không ngơi nghỉ. “Thế này nghĩa là gì? Ðâu là thiên đàng? Ðâu là hỏa ngục?”

*********************

Ðược giác ngộ, nhà đạo sĩmới thấy những gì hiểu về thiên đàng, hỏa ngục của ông xưa kia non nớt quá. Ôngvẫn nghĩ rằng thiên đàng là nơi không phải làm việc, chỉ có ăn chơi, tung tăngnhàn hạ suốt ngày. Hỏa ngục là nơi cực hình, không có ăn chơi, chỉ quần quậtlàm việc. Bây giờ trái ngược lại. Nhưng ông đã hiểu. Cái bi thương hệ tại làthiên đàng có tự do, hỏa ngục là đường một chiều, không có chọn lựa.

Ông thấy người bạn cũsống trong căn nhà lộng lẫy, không phải làm việc gì, chung quanh là nhạc khúcdập dình. Mới đầu ông nghĩ thế thì hạnh phúc quá. Nhưng hồi lâu, lâu nữa, mộtngày, hai ngày, rồi một năm, hai năm, nếu dòng rượu cứ suốt ngày đêm tuôn chảyvà người bạn cũ của ông cứ phải oằn oại uống như thế suốt năm này qua năm nọthì sao? Ông ớn đến lạnh người. Nhìn chung quanh, ông thấy quả là một thế giớikinh hoàng. Tốp người đang khiêu vũ kia cứ oằn oại trong điệu nhạc, ngày nàyqua ngày nọ. Họ không được đi đâu, không phải làm gì, đời họ bây giờ chỉ làkhiêu vũ, ngày, đêm. Ông đứng nhìn những khuôn mặt thất thần. “Họ đã ở đây baolâu? Họ đã phải đếm tiền thế kia từ thế kỉ nào?” Chung quanh ông không còn làhạnh phúc vì tiếng đàn, vì những khăn bàn bằng lụa quý, những chén ngà chạmvàng nữa. Ông thấy một thế giới cô độc khủng khiếp. Nhìn người bạn cũ, ông thấyđôi mắt đỏ ngàu, lờ đờ. Môi miệng sưng lên, nhưng ông ta không nghỉ được, dòngrượu cứ chảy và ông cứ ừng ực mà uống.

*********************

Những ngày còn lại cuốiđời của nhà đạo sĩ, ông nhìn lại những lời giảng thuyết của ông ngày xưa thếnào là hạnh phúc, thế nào là đau khổ. Ông thấy những suy tư ấy non yếu quá.Trầm ngâm hơn, ông viết cho người môn sinh của mình về thiên đàng và hỏa ngụcnhư sau:

Con thân mến,
Thiênđàng là nối tiếp hạnh phúc chúng ta sống trên cõi trần. Hỏa ngục là xây tiếpnhững nô lệ nội tâm chúng ta đang xây dở dang.

Con đừng cầu xin ThượngÐế cho con bất hạnh đời này để được hạnh phúc đời sau. Con phải nỗ lực vươn lênmà loại bớt bất hạnh. Thượng Ðế không muốn con người đau khổ. Ðến trong trầngian, Ðức Kitô cho người đói ăn, người què đi, người mù nhìn thấy, người phunghủi được sạch, người chết sống lại. Ðau khổ, tự nó là điều xấu. Ngài khôngmuốn. Con hãy xin Thượng Ðế cho con hạnh phúc đời này, như hình ảnh báo trướcmột hạnh phúc thật bao trùm đời sau. Và hãy hết sức làm đẹp thế giới con đangsống chung quanh bằng con đường xây dựng hòa bình, công chính, yêu thương đểcon người cảm thấy vị ngọt hạnh phúc mai sau sẽ dạt dào thế nào.

Con đừng vì lười biếngkhông nỗ lực xây dựng cuộc sống hạnh phúc hôm nay rồi tự an ủi hứa thiên đànglà hạnh phúc tương lai.

Hỏa ngục không là hìnhphạt Thượng Ðế sắm sẵn như một nhà tù xây nên rồi chờ xem ai lỗi phạm thì bắtvào. Hỏa ngục cũng giống thiên đàng, cuộc sống ấy là kéo dài những dở dang củacon người trong cuộc sống hôm nay. Nếu dang dở ấy là hạnh phúc thì con sẽ hạnhphúc tiếp đời sau, đó là thiên đàng. Nếu dang dở ấy là bất hạnh thì đời sau làbất hạnh tiếp cái dang dở ấy, đấy là hỏa ngục. Con hoàn toàn lựa chọn cho mình.Căn nhà hạnh phúc con đang xây dở thì khi chết rồi, con sẽ tiếp tục xây hạnhphúc ấy. Con xây ngục thất, thì khi chết rồi con sẽ phải tiếp tục xây cái ngụctù dở dang của bất hạnh đó.

Tội là con đưa một đam mêlên thành lí tưởng để theo. Hạnh phúc là sự hài hòa của mọi thứ say mê.

Tình yêu, tình dục, lòngthèm muốn, ghen tương, nhan sắc, tiền bạc, giận hờn, sức khỏe, trí tuệ, vậtchất, tinh thần… tất cả làm nên con người chúng ta. Hạnh phúc là khi ta quânbình và hài hòa nó. Chẳng hạn như nhan sắc, đó là nghệ thuật, nó đem hạnh phúccho người, cho mình. Nhưng nó phải hài hòa trong nhân đức, thật thà, đoantrang. Khi con người để nhan sắc thành lí tưởng cao nhất để theo thì giống nhưmột bức tranh thêu, nhan sắc sẽ tiêu diệt những đường chỉ thêu khác. Lúc ấy lòngthương xót sẽ chết trước cửa nhà người nghèo khó, lòng bao dung chìm dần, niềmtự kiêu dâng lên. Con sẽ dùng mọi tiền bạc cho tấm thân thôi, những tốn phí cóthể lỗi công bình, vì con không còn lòng thương xót cho những kẻ phải sốngkhông đúng phẩm giá con người chỉ vì nghèo. Không có một chút ghen, có lẽ cuộcsống cũng khô khan lắm. Không có tình dục, con người sẽ đi về đâu. Giận hờncũng thế, nó cho người ta những giây phút “đau thương êm ái.” Nhưng chúng phảihài hòa.

Con thấy đó, hỏa ngục lànơi không còn hài hòa. Kẻ nhẩy múa là thâu đêm suốt sáng nhẩy múa. Kẻ uống rượulà phải uống triền miên. Khi sống, họ chọn một đam mê rồi đưa lên thành lítưởng để theo, thì khi chết họ cũng theo lí tưởng đó mà sống. Hỏa ngục hệ tạilà đó.

Tội làm con người mất hạnh phúc. Nhưngmất hạnh phúc bằng cách nào? Tội là thần tượng một đam mê. Khi một đam mê lêncao thành thần tượng thì nó thống trị mọi suy tư khác. Kẻ ấy lúc nào cũng bị ámảnh bởi đam mê đó. Ðam mê độc tài này đẩy con người vào hành động. Lúc ấy, conngười mất tự do. Bị đam mê điều khiển thì cuộc sống thành đường một chiều. Trênđường một chiều này, hễ ca múa là thâu đêm suốt sáng ca múa. Hễ say đắm tìnhdục thì ngụp lặn trong dục tính. Hài hòa bị tan vỡ. “Nô lệ là kẻ để cho bất cứsự gì đó thống trị mình” (2 Phêrô 2:19).

Hạnh phúc, đau khổ lànhững định nghĩa đơn sơ thôi. Thiên đàng và hỏa ngục ở khắp nơi trên cõi thếnày. Bởi đó, con không cần mong người sau hiện về nói cho biết. Chính KinhThánh cũng chẳng cho ai từ cõi chết về để nói về thiên đàng, hỏa ngục. Ðây làthế giới riêng tư của mỗi người, thì làm sao con biết thiên đàng của kẻ khácđược? và con cũng đâu cần điều ấy, phải vậy không? Cúi hỏi tâm hồn mình, nhìnxem có đam mê nào con đang đưa lên thống trị suy tư, hành động trong đời sốngcủa con. Nơi đó con sẽ thấy thiên đàng hay hỏa ngục.


*********************

Khi của cải bị cô lậpmột mình, xa cách sự độ lượng, lòng thật thà, tâm tình bao dung, thì nó khôngcòn bè bạn. Nó trở nên độc tài. Nó trả thù lại kẻ đã cắt đi những liên hệ mà nóphải có. Nghi ngờ đi với thành thật và độ lượng sẽ thành khôn ngoan. Có sứcmạnh nhưng thiếu tâm hồn sẽ thành hung bạo. Tình dục đi với lề luật sẽ phongphú tình yêu. Tự bản chất, tất cả nó đã được sinh ra trong những liên hệ hàihòa ấy. Khi ta chọn một mà thôi đời sống sẽ nghiêng đổ.

Nhà đạo sĩ thấy nơi ôngđi qua mà tiếng nói nhiệm mầu bảo ông là thiên đàng, có gì đặc biệt đâu. Cũngđồng lúa. Có mưa và nắng. Có người tát nước bên dòng sông. Chính trong cái bìnhthường ấy mà ông đã đi tìm định nghĩa thiên đàng như một thế giới xa lạ, rực rỡxa hoa. Ông không nhìn thấy thiên đàng hay hỏa ngục ngay dưới chân mình. Trongcuộc đời, bao người đã đi hết miền đất này tới miền đất kia tìm thiên đàng hạgiới. Nhưng họ cứ tìm mãi mà đời cứ mênh mông, không gặp.

Bây giờ ông hiểu ý sâu xamà tiếng nói nhiệm mầu dạy ông. Thiên đàng là sự tự do nội tâm. Ông đã viếtxong lời cuối, muốn gởi người môn sinh. Ông muốn nhắc cho người môn sinh hỏangục là tiếp tục cái thú vui độc đoán lúc còn sống, như người mê rượu sẽ suốtngày đêm phải uống rượu tiếp, người mê nhẩy múa sẽ suốt tháng cứ nhẩy múa liênmiên, kẻ mê tiền thì khi chết rồi không được làm gì cả cứ đếm tiền hết năm nàyqua năm nọ. Ðọc lại những gì đã viết, ông chả thấy có gì mới cả. Kinh Thánh đãnói đến rồi. “Nếu họ không tin lời của Môsê và các tiên tri, thì người chết cósống lại, họ cũng chẳng chịu tin đâu” (Lc. 16:31). Rồi, ông lặng lẽ cất đinhững gì đã viết, không gởi cho người môn sinh nữa.

NGUYỄN TẦM THƯỜNG
Trích tập suy niệm MÙA CHAY và CON SÂU BƯỚM

VƯƠNG QUỐC TÌNH YÊU


Ngày 15-4-1996, linh mục GeorgeParker, giám quản xứ thánh Giuse thuộc giáo phận Norwich ở Connecticut Hoa Kỳ, đã trả lại số tiền $5,000.00 đô la của nghị sĩ Christopher J. Dodd giúp cho trường học của giáo xứ.  Cha Parker làm thế để phản đối nghị sĩ Dodd mang danh Công giáo, nhưng lại liên tục bỏ phiếu ủng hộ các dự luật phá thai.  Cha Parker gọi số tiền của Dodd là “số tiền vấy máu hài nhi vô tội”.  Người không ngần ngại gọi Dodd là “môn đệ của thần chết”.

Việc làm của cha khiến nhiều  người cảm kích, dân chúng đã gởi về giúp trường học $61,000.00 đô la.  Nhiều tổ chức binh vực sự sống, và nhiều cơ quan truyền thông bày tỏ sự ngưỡng mộ ngài.

Trớ trêu thay không một linh mục nào trong giáo phận Norwich bênh vực hành động kiên cường ấy.  Không ai dám công khai phê phán việc làm của nghị sĩ Dodd.  Đau đớn hơn nữa, chính đức cha Daniel Ạ Hart vì áp lực của nghị sĩ Dodd đã cho ngài ngưng việc coi xứ.  Đến nước này ngài chỉ biết xin về hưu.  Đức Cha Hart viết thư cho ngài như sau:  “Tôi rất tiếc là cha đã xin về hưu với tâm trạng bị xử bất công.  Tôi cầu nguyện cho sự đau khổ này sẽ kết hợp cha với Đức Kitô một cách trọn vẹn hơn, nhờ Người mà cha tìm được niềm vui”.

*********************

Câu chuyện trên đây sẽ giúp chúng ta hiểu rõ tâm trạng của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay.  Thánh Gioan viết:  “Sắp đến lễ Vượt Qua, rất nhiều người đi Giêrusalem…  Họ đang tìm Đức Giêsu và hỏi nhau:  “Chắc ông ấy chẳng đến dự lễ đâu!”  Còn bọn tư tế và Biệt phái đã ra lệnh:  “Bất cứ ai biết ông ấy ở đâu thì phải báo cho họ đến bắt” (Ga 11,55-57). Vậy Đức Giêsu vào thành Giêrusalem với tâm trạng của một kẻ bị truy nã, một kẻ có tên trong sổ bìa đen.

Nhưng Người vẫn công khai vào thành, không một chút sợ hãi.  Người cỡi trên lưng lừa con để thực hiện lời tiên tri Dacaria:  “Này Vua ngươi đến, đầy vẻ dịu dàng, cỡi lừa, lừa con của lừa mẹ” (Dcr 9,9).  Đức Giêsu muốn chứng tỏ Người là Đấng Mêsia, vị Cứu tinh, Vua hiền từ:  Một vị Vua chiến thắng bằng cái chết trên thập giá, khác với chiến thắng bằng vũ lực của các vua trần thế ngồi trên lưng ngựa.

Dân chúng trải áo, lấy lá lót đường, hoan hô chúc tụng Người như một vị vua chiến thắng, đấng Cứu tinh của dân tộc, đuổi lũ quân Rôma ra khỏi vùng Palestina, xô nhào chúng ra biển, tái lập vương quyền vua David.  Trái lại, Đức Giêsu đã cưỡi con vật hiền lành tiến vào Giêrusalem, hành động này đã đi ngược lại quan niệm của họ, nên không lạ gì họ đã hùa theo nhóm Biệt phái, kết án tử hình cho Người chỉ vài ngày sau đó.

Cha Parker đã không chấp nhận thỏa hiệp với thế gian, với tội lỗi.  Người đã giữ đúng vai trò tiên tri, chấp nhận lội ngược dòng, cho dù phải chịu đau khổ và bị bỏ rơi để nên giống Thầy Giêsu.

Đức Giêsu không xua quân đi giao chiến với các dân tộc.  Nhưng đã quy tụ mọi người chiến đấu với nghèo đói, bất công và thù hận.

Đức Giêsu không đến để kết án và hủy diệt kẻ khác.  Nhưng đã thứ tha và băng bó những vết thương tâm hồn.

Đức Giêsu không ngồi trên ngai vàng để dân chúng hầu hạ.  Nhưng đã qùy xuống rửa chân cho các thần dân.

Đức Giêsu không đến để thiết lập một vương quốc trần gian tạm bợ.  Người đến để xây dựng một vương quốc vĩnh hằng, vương quốc tình yêu ngay trong lòng mọi người.

*********************

Lạy Chúa, người đời đón rước Chúa vào thành Giêrusalem, để rồi lại kết án Chúa ngay trong thành thánh. Xin cho chúng con đừng bao giờ thỏa hiệp với thế gian, nhưng cho chúng con can đảm theo Chúa đến chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, để được sống lại với Chúa trong đêm Phục Sinh khải hoàn.  Amen!

Thiên Phúc

CÁCH SỐNG THÁNH MÙA VỌNG

Mùa Vọng đã về.  Đó là thời gian chuẩn bị mừng Lễ Giáng Sinh – Sinh Nhật Đức Giêsu Kitô, Đấng Thiên Sai và Đấng Cứu Độ.  Niềm vui Lễ Giáng Sinh tùy vào cường độ mà chúng ta sống Mùa Vọng.  Chúng ta hãy làm theo các gợi ý cụ thể và sống Mùa Vọng với niềm vui mừng, cầu nguyện, yêu thương và cương quyết.  Hãy sống Mùa Vọng này như thể là Mùa Vọng cuối cùng trong cuộc đời mình.  Hãy mạnh mẽ lên!  Chúa Giêsu luôn nhắc chúng ta tỉnh thức, sẵn sàng và chuẩn bị cho cuộc tái lâm của Đức Kitô, bởi vì chúng ta chẳng biết lúc nào.

Đây là 5 gợi ý hữu ích để chúng ta làm cho Mùa Vọng này là Mùa Thánh Đức:

1/ Duy Trì Thinh Lặng

Hãy nhớ cuộc gặp gỡ của ngôn sứ Êlia với Thiên Chúa trên núi và trong thinh lặng: “Người nói với ông: ‘Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt Đức Chúa.  Kìa Đức Chúa đang đi qua.’  Gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không ở trong cơn gió bão.  Sau đó là động đất, nhưng Đức Chúa không ở trong trận động đất.  Sau động đất là lửa, nhưng Đức Chúa cũng không ở trong lửa.  Sau lửa có tiếng gió hiu hiu.  Vừa nghe tiếng đó, ông Ê-li-a lấy áo choàng che mặt, rồi ra ngoài đứng ở cửa hang.  Bấy giờ có tiếng hỏi ông: ‘Ê-li-a, ngươi làm gì ở đây?’  Ông thưa: ‘Lòng nhiệt thành đối với Đức Chúa, Thiên Chúa các đạo binh, nung nấu con, vì con cái Ít-ra-en đã bỏ giao ước với Ngài, phá huỷ bàn thờ, dùng gươm sát hại các ngôn sứ của Ngài.  Chỉ sót lại một mình con mà họ đang lùng bắt để lấy mạng con” (1 V 19:11-13).

Hãy cố gắng loại bỏ những thứ không cần thiết và dành những phút thinh lặng cho Thiên Chúa.  Hãy “lên núi” và thinh lặng để lắng nghe Ngài, đừng chia trí vì những loại ô nhiễm nào khác.

2/ Cầu Nguyện Liên Lỉ

Hãy dành nhiều thời gian cầu nguyện trong Mùa Vọng Thánh này.  Giáo hội khuyến khích chúng ta gia tăng cầu nguyện hàng ngày.  Có nhiều cách cầu nguyện, đây là vài cách khả thi hữu ích:

  • Kinh Phụng Vụ.
  • Thánh Vịnh – cách cầu nguyện bằng Kinh Thánh.
  • Giờ Thánh, đọc và suy niệm Lời Chúa.
  • Thánh Lễ – cách cầu nguyện đặc biệt.
  • Khẩu nguyện – đọc thật chậm, chú ý tới lời kinh với lòng yêu mến.
  • Xét mình nghiêm túc.
  • Kinh Mai Côi – cuốn Kinh Thánh rút gọn.

Chiêm ngưỡng Hang Đá, theo bước các mục đồng,… Những điều này có thể hữu ích thêm vào việc cầu nguyện, đọc sách thiêng liêng (sách đạo đức).  Có nhiều cách, nhưng hãy chọn cách tốt nhất cho chính mình!

 3/ Giúp Đỡ Người Nghèo

Trong Mùa Vọng này, có thể bạn tìm được cách phục vụ Chúa Giêsu nơi người nghèo.  Hãy nhớ rằng chính Chúa Giêsu hiện thân nơi người nghèo.  Mẹ Thánh Teresa Calcutta nói rằng chúng ta nên tìm kiếm Chúa Giêsu nơi người nghèo.  Hãy đọc trình thuật Mt 25:31-46 – cuộc phán xét chung.  Chúa Giêsu cho thấy rằng cuộc phán xét cuối cùng được dựa trên đức ái – cách chúng ta đối xử với người nghèo.  Đừng bao giờ quên điều này: Bác Ái Bắt Đầu Từ Gia Đình.

4/ Tham Dự Thánh Lễ

Trong Mùa Vọng này, hãy cố gắng tham dự Thánh Lễ hàng ngày.  Nếu bạn làm được như vậy, bạn có thể tiến tới một hoặc hai bước khác, hơn cả những gì bạn đang làm.  Cố gắng đi lễ sớm để chuẩn bị đón nhận Chúa Giêsu Thánh Thể vào “Hang Belem” của bạn – gọi là Nhà Bánh, tức là cõi lòng của bạn.  Hãy cố gắng khuyến khích các thành viên trong gia đình và bạn bè cùng gặp gỡ Chúa Giêsu qua Bí tích Thánh Thể.  Thánh Anrê tông đồ đã đưa người khác đến gặp Chúa Giêsu, bạn cũng được mời gọi đưa người khác đến với Chúa Giêsu, Chiên Thiên Chúa và Đấng cứu độ nhân loại.  Thật vậy, Chúa Giêsu là ngọc quý và là kho tàng vô giá. Hãy chia sẻ Ngài với người khác!

5/ Noi Gương Đức Mẹ

Trong cuốn sách “True Devotion to Mary” (Tôn Sùng Đức Maria, số 108), Thánh Louis de Montfort chỉ ra 10 nhân đức của Đức Mẹ: khiêm nhường, tín thác, tuân phục tuyệt đối, cầu nguyện không ngừng, luôn từ bỏ mình, khiết tịnh, yêu mến, kiên trì, tử tế, và khôn ngoan.

Hãy chọn một hoặc hai trong số các nhân đức của Đức Mẹ, cầu xin Mẹ cầu giúp nguyện thay để chúng ta noi gương Đức Mẹ. Trong Mùa Vọng này, hãy nỗ lực cụ thể là sống các nhân đức.  Đức Mẹ là con đường ngắn nhất, mau nhất và dễ dàng nhất để đến với Thánh Tâm Chúa Giêsu: Ad Jesum Per Mariam – Nhờ Mẹ Đến Với Chúa Giêsu.

Lm Ed Broom (OMV – Oblates of the Virgin Mary – Dòng Tận Hiến Trinh Nữ Maria)
Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

ĐI VÀO SA MẠC CỦA NGHÈO KHÓ VÀ SIÊU THOÁT

Tin Mừng hôm nay giống như một bức tranh với hai cảnh trí đối nghịch nhau.  Trên một cái phông lờ mờ, chúng ta như thấy được cảnh đô thị giàu sang nơi ngự trị của hoàng đế Lamã, người đại diện của ông là tổng trấn Phongxiô Philatô, và các thứ vua bù nhìn là Hêrôđê và Philipphê.  Cũng trong cái phông lờ mờ ấy, người ta còn thấy được như hai cái bóng ẩn tàng là Anna và Caipha, hai vị thượng tế lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ, trên cái phông lờ mờ ấy, thánh Luca như muốn tô đậm một cảnh trí khác đó là cảnh sa mạc vắng vẻ, nơi cư ngụ của một kẻ nghèo nàn ấy là Gioan, con của Giacaria.  Thánh Luca có lẽ đã muốn làm nổi bật cái cảnh sa mạc nghèo nàn vắng vẻ ấy, để nói với chúng ta rằng chỉ có trong sa mạc vắng vẻ nghèo nàn, con người mới lắng nghe được tiếng nói của Thiên Chúa.

Sa mạc vốn là một phạm trù ưu việt của Kinh Thánh.  Những cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người thường diễn ra trong sa mạc.  Môisen đã phải lẩn trốn vào sa mạc để được nhận biết Chúa và nhận lãnh sứ mạng giải phóng dân tộc.  Bốn mươi năm lang thang trong sa mạc là thời kỳ thanh luyện cần thiết để dân riêng được vào đất Hứa.  Truyền thống đi vào sa mạc đã không ngừng được các tiên tri về sau sống lại như một kinh nghiệm cần thiết trước khi thi hành sứ vụ.  Nhưng điển hình và mang nhiều ý nghĩa hơn cả vẫn là 40 đêm ngày chay tịnh của Chúa Giêsu trong sa mạc và những đêm cầu nguyện lâu giờ của Ngài trong nơi vắng vẻ.

Sa mạc là đồng nghĩa với nắng cháy trơ trụi, nghèo nàn.  Phải chăng có trở nên trống rỗng và nghèo nàn, có trút bớt đi những cái không cần thiết thì con người mới lắng nghe được tiếng nói của Chúa và thanh luyện được niềm tin của mình.  Lịch sử Giáo Hội luôn chứng minh rằng những cuộc bách hại luôn là yếu tố thanh luyện và canh tân Giáo Hội.  Trong thử thách và khổ đau, trong nghèo nàn và trơ trụi Giáo Hội lại càng vững mạnh hơn.  Có trút bỏ được những cái không cần thiết và làm cho vướng mắc thì Giáo Hội mới trở nên sáng suốt và giàu có.  Giàu có không do những phương tiện vật chất và các thứ đặc quyền đặc lợi, mà giàu có bởi một niềm tin được tinh luyện và can trường hơn.

Từ trong sa mạc của thánh Gioan Tẩy Giả, chúng ta cũng có thể rút ra được một bài học khác cho niềm tin.  Không những từ trong sa mạc Gioan đã nắm được tiếng Chúa, mà còn can đảm để hô lớn tiếng Chúa cho mọi người được nghe thấy: “Hãy dọn đường cho Chúa, hãy sửa đường cho ngay thẳng, hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi.  Đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, đường gồ ghề hãy san cho bằng.”  Lời kêu gọi ấy, Gioan chẳng những đã ngỏ với đám dân nghèo hèn, thấp cổ bé miệng, mà còn nhắn gởi với cả giai cấp thống trị trong cả nước nữa.  Ngồi tù và cuối cùng bị chém đầu vì dám lên tiếng tố giác hành vi tội ác của một Hêrôđê, số phận của Gioan cho chúng ta thấy rằng ngài đã đi đến tận cùng sứ mạng tiên tri của ngài.  Thánh nhân đã dám nói thẳng và sống thực là bởi vì ngài không có gì để tiếc nuối, không có gì để bám víu, không có gì để giữ lấy ngoài chiếc áo da thú của ngài.

Chiếc áo vẫn là tượng trưng của sứ mạng tiên tri.  Đó là lý do tại sao trong dịp tấn phong Hồng Y cho một số chức sắc trong Giáo Hội, Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói đến ý nghĩa của phẩm phục màu đỏ mà chúng ta quen gọi là Hồng Y.  “Màu đỏ là màu của hy sinh, là màu của máu, các Hồng Y phải là những người hy sinh đến độ có thể đổ máu đào.”  Lời nhắc nhở này chắc phải có một giá trị đặc biệt đối với các vị Hồng Y đến từ những nơi Giáo Hội đang bị bách hại và thử thách, những nơi mà các vị cần phải lên tiếng, cho dẫu phải hy sinh mạng sống của mình.  Gioan Tẩy Giả đã lên tiếng tố cáo và kêu gọi san bằng bất công.  Ngài đã can đảm lên tiếng là bởi vì ngài không có gì để mất.  Ngài không sợ phải mất một ít đặc quyền đặc lợi hay bất cứ một thứ ân huệ nào.

Nồi cơm manh áo hay một ít bả vinh hoa có thể là động lực thúc đẩy con người thỏa hiệp và sống dối trá.  Đó cũng có thể là cơn cám dỗ của các tín hữu chúng ta trong giai đoạn hiện nay.  Một ít đặc lợi vật chất, một vài ưu đãi, một số đặc quyền đặc lợi, một lời dễ dãi, đó là miếng mồi ngon khiến cho nhiều người nếu không bán đứng lương tâm của mình, nếu không uốn cong miệng lưỡi thì cũng chấp nhận thỏa hiệp im tiếng.  Mùa Vọng là mùa của sa mạc, có đi vào sa mạc của nghèo khó và siêu thoát chúng ta mới dễ dàng nhận ra được tiếng nói của Chúa.  Và có từ sa mạc của nghèo khó và siêu thoát, chúng ta mới có đủ can đảm để gióng lên tiếng của Chúa: “Hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng, hãy lấp mọi hố sâu, hãy bạt mọi núi đồi.  Đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, đường gồ ghề hãy san cho bằng.”

Khi cuộc sống của các tín hữu trở thành một lời mời gọi, khi miệng lưỡi của họ nói lên những lời can đảm chân thực, thì lúc đó như Tin Mừng nói với chúng ta, mọi người sẽ được thấy ơn cứu độ của Chúa.

Radio Veritas Asia – Trích trong “Suy Niệm Lời Chúa”

TẠI SAO ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI?

Vô Nhiễm Nguyên Tội là đặc ân Thiên Chúa dành cho Đức Mẹ.  Nhưng tại sao là Đức Maria mà không là người khác?  Tại sao chúng ta phải chịu hệ lụy của Tội Nguyên Tổ?  Tại sao Áp-ra-ham, Mô-sê hoặc Đa-vít được tuyển chọn mà không là người khác?

Theo Kinh Thánh, người được tuyển chọn luôn được chọn vì người không được chọn.  Như vậy, Áp-ra-ham được chọn để các quốc gia không được chọn trên trái đất sẽ được chúc lành qua ông.  Cũng vậy, Mô-sê và dân Ít-ra-en được chọn để họ có thể là dân tư tế vì các dân-tộc-không-được-chọn trên thế giới.  Đa-vít được chọn để con trai của ông có thể dẫn đưa các dân-tộc-không-được-chọn đến với Vương Quốc của Thiên Chúa.

Với Đức Maria cũng vậy.  Ơn Cứu Độ được Thiên Chúa hoàn tất qua Mẹ.  Ơn Cứu Độ hoàn toàn mang tính ngăn ngừa chứ không mang tính chữa trị, không là dấu chỉ loại trừ.  Đó là dấu chỉ về quyền năng cứu độ nơi Chúa Giêsu, dành cho chúng ta theo sự quan phòng mầu nhiệm của Thiên Chúa, để chúng ta chiến đấu với Tội Nguyên Tổ.  Vì Đức Mẹ là biểu tượng của Giáo hội và là thụ tạo đặc biệt trong các thụ tạo của Thiên Chúa, chính Đức Mẹ có thể đưa ra một ước lệ đối với sự kiêu ngạo và lời hứa giải thoát qua cuộc nổi loạn bằng cách cho chúng ta thấy rằng:

Con người là hình ảnh của Thiên Chúa.

Con người phát xuất từ Thiên Chúa và được tạo nên để kết hiệp với Ngài.

Quyền tha tội của Chúa Giêsu được biểu hiện trọn vẹn nơi Đức Mẹ, chúng ta có thể biết chắc rằng Ngài cũng có quyền tha tội của chúng ta, dù tội nặng tới mức nào.

Con người là sản phẩm tình yêu vô biên của Thiên Chúa.

Tội lỗi không là sự thật nền tảng, cũng không là nền tảng cuối cùng của con người.  Chính Chúa Giêsu mới là nền tảng.

Con người được xác định bởi tình yêu, chứ không bởi sự hận thù.

Con người được mời gọi yêu mến Thiên Chúa và tha nhân.

Con người phản ánh lý lẽ, trật tự và tình yêu của Thiên Chúa.

Con người tìm thấy sự sống khi mất sự sống và tiếp nhận tình yêu của Thiên Chúa.

Con người chỉ trở nên “người” hơn qua tình yêu, lòng khiêm nhường và lòng thương xót.

Con người lớn lên trong tình yêu bằng cách quan tâm “những người bé mọn” vì họ quý giá đối với Đức Kitô, Đấng đã tự hạ tới mức sinh nơi hang đá.

Con người nên tìm kiếm tình yêu tự dâng hiến ngay trên thế gian và phần thưởng trên trời, vì cuộc đời này không tồn tại mãi.

Chúng ta nên khiêm nhường vì chúng ta “được tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa”, và sự thật là thế. Khiêm nhường giúp chúng ta nhận biết mình cần có ơn Chúa.

Bản chất Thiên Chúa là tình yêu.  Chúng ta chỉ là thụ tạo, chúng ta không tìm thấy mình bằng cách tôn thờ bản chất đó mà bằng cách tôn thờ chính Thiên Chúa, Đấng tạo nên chúng ta và cứu độ chúng ta qua Đức Giêsu Kitô.

Tóm lại, khi nhân loại tạo nên văn hóa sự chết, Chúa Thánh Thần đã đưa Giáo hội đến với Đức Mẹ, Đấng trung gian cầu xin Thiên Chúa cứu độ chúng ta.  Đức Mẹ là Đấng đầy ơn phúc, nhân chứng duy nhất về ơn cứu độ của Đức Kitô.  Là người che chở nhân loại, Đức Mẹ như hàng rào bao quanh sự thật về Ơn Cứu Độ của Đức Kitô.  Là Tông Đồ mẫu mực, Đức Mẹ cho chúng ta biết Ơn Cứu Độ vô biên của Đức Kitô có thể tẩy sạch tội lỗi của chúng ta và cho chúng ta biết sự xứng đáng về nguồn gốc của chúng ta từ Thiên Chúa.  Đức Mẹ là “máng chuyển” ơn Chúa, như Thánh Irênê nói: “Vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống viên mãn.”

Mark Shea
Trầm Thiên Thu, chuyển ngữ từ http://www.ncregister.com