MANG CHÚA ĐẾN VỚI MỌI NGƯỜI

Cuộc sống hàng ngày, thăm viếng nhau là chuyện hết sức bình thường. Nghe tin bên nhà ông A có chuyện không may, ông B đến nhà ông A thăm hỏi, chia sẻ niềm đau. Hoặc biết nhà bà B có tin vui, bà A đon đả chạy sang góp thêm tiếng cười, chia sẻ niềm vui.  Hai người hàng xóm thăm nhau, hai người bạn thăm nhau, những người trong thân tộc máu mủ, họ hàng thăm nhau, tất cả đều là chuyện bình thường của cuộc sống.

Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cho biết Đức Maria đi thăm bà Isave, người chị họ của Mẹ, khi nghe tin bà mang thai. Đây là một sự thăm viếng bình thường giữa hai người họ hàng của nhau.  Dẫu cho Đức maria, lúc đó đã bắt đầu mang thai Chúa Giêsu, và dẫu cho bà Isave từ xưa tới nay không có con, bây giờ lại mang thai trong lúc già nua tuổi tác, thì việc Đức Maria thăm bà Isave vẫn là chuyện bình thường.  Có chăng, thì chỉ niềm vui là lớn hơn mà thôi.  Nhưng trong sự thăm viếng bình thường giữa hai người phụ nữ ấy, Thiên Chúa lại làm một điều rất phi thường.  Vậy đâu là sự phi thường do bàn tay Thiên Chúa?

Vì đây không chỉ là một cuộc thăm viếng, gặp gỡ giữa hai người mẹ mà thôi. Nhưng trong cuộc thăm viếng giữa hai người mẹ, là một cuộc chào đón giữa hai người con, dù hai người con đó chỉ mới là bào thai trong lòng của hai người mẹ. Sự chào đón lạ thường này, đã khiến thánh Gioan Tiền Hô nhảy mừng trong lòng bà Isave, ngay sau lời chào đầu tiên mà Đức Maria dành cho bà.

Nhảy mừng là để diễn tả niềm vui.  Bào thai trong lòng bà Isave chính là thánh Gioan Tiền Hô, đã biểu lộ niềm vui mừng bằng động tác “nhảy mừng”. Niềm vui cho gia đình của thánh Gioan lớn lắm. Vì đây không phải là niềm vui bình thường, nhưng là niềm vui ơn cứu độ. Niềm vui lớn lao đó, trước hết không chỉ vì hạnh phúc được Đức Maria đến thăm, đúng hơn, cùng với sự thăm viếng của mình, Đức Maria đã mang Chúa đến viếng thăm gia đình thánh Gioan.

Niềm vui càng lớn và ý nghĩa nhiều hơn, khi vừa nhập thể trong lòng Đức Maria, nghĩa là vừa mới xuống thế làm người, Chúa Giêsu đã chọn gia đình thánh Gioan làm gia đình đầu tiên để Người thực hiện cuộc viếng thăm đầu tiên. Bởi thế, ơn cứu chuộc, lần đầu tiên đến trong trần gian, ngoài Đức Maria và gia đình thánh Gia, gia đình đầu tiên được diễm phúc đón nhận là chính gia đình của thánh Gioan. Còn hơn thế nữa, chẳng những được Chúa đến thăm, gia đình thánh Gioan còn hãnh diện vô cùng vì cùng với việc Đức Mẹ ở lại, gia đình thánh Gioan được Chúa ngự đến, hiện diện và cùng chung sống.  Chỉ có gia đình thánh Gioan là gia đình đầu tiên được diễm phúc như thế.

Thật ra bào thai không thể nhảy mừng, dù sẽ là một siêu nhân, cũng không bao giờ biết niềm vui, nỗi buồn, cũng chẳng hiểu được bất cứ một điều gì, để có thể nhảy mừng hay không nhảy mừng.  Nhưng ở đây, thánh Luca khẳng định rất dứt khoát: “Hài nhi nhảy mừng trong lòng bà”. Như vậy, ta phải giải thích làm sao cho hiện tượng kỳ diệu này? Chắc bạn đồng ý với tôi, đây là một phép lạ: Thiên Chúa đã thực hiện phép lạ tuyệt vời. Người đã làm cho một cuộc viếng thăm bình thường, trở nên rất đỗi lạ thường: thai nhi có thể nhảy cẩng lên mà vẫn bình yên vô sự. Sự nhảy mừng, đồng thời là phép lạ ấy, có được là do một bào thai khác, được một người mẹ khác mang trong lòng mình làm nên.  Người mẹ đó là Đức Maria, và bào thai mà Mẹ mang trong dạ, đó là Đấng Cứu Thế, là Thiên Chúa làm người. Chỉ có một Thiên Chúa và quy về Thiên Chúa, ta mới dám khẳng định đức tin của mình vào một sự kiện lạ thường như thế.

Vâng! Chỉ có Thiên Chúa mới làm nên điều kỳ diệu đến nỗi con người phải chưng hửng.  Do đó, việc Đức Mẹ thăm viếng bà Isave không còn là một cuộc thăm viếng bình thường nữa, mà là một cuộc trao ban ơn cứu độ. Mẹ đã mang chính Đấng là Ơn Cứu Độ tuyệt đối đến cho gia đình bà Isave.

Mẹ đến thăm bà Isave, thì trong hành động thăm viếng đó, Mẹ đã mang Chúa Giêsu đến cho gia đình bà Isave. Bởi vậy, bất cứ nơi nào người ta mang Thiên Chúa đến cho nhau, ở đó sẽ có niềm vui, có sự bình an, có ơn thánh, và sự cứu rỗi sẽ tràn ngập.

Trong cuộc thăm viếng người chị họ của mình, Mẹ Maria dạy chúng ta một bài học đáng giá: Hãy mang Chúa đến với mọi người, chứ đừng mang hận thù, đừng mang những suy nghĩ đen tối, những nghi kỵ đến với nhau. Chúng ta hãy bắt chước Mẹ để yêu thương và chia sẻ tình yêu với mọi người. Hãy cưu mang Chúa Giêsu trong tâm hồn, để như Mẹ, ta cũng có thể mang một tâm hồn tràn ngập sự sống của Chúa Giêsu và mang chính Chúa Giêsu đến với anh chị em xung quanh. Nhờ đó, mọi người sẽ chứa chan niềm vui, chứa chan ơn thánh, chứa chan niềm hạnh phúc và bình an.

Lm Vũ Xuân Hạnh

NỤ HÔN CHO ÔNG GIÀ NOEL LÀM THUÊ

Câu chuyện xảy ra đã hơn năm năm nhưng tôi vẫn nhớ như in món quà mà một cô bé đã tặng tôi mùa đông năm ấy, một mùa Giáng sinh lạnh lẽo nhưng ấm áp tình người.

Tháng mười hai, trời ở miền Bắc mưa rả rích kèm theo cái lạnh như cứa vào da thịt.  Khoảng không gian chật hẹp của căn gác nhỏ không làm dịu được nỗi buồn và cảm giác nhớ nhà.  Noel này cả lớp tôi lại lên kế hoạch đi chơi nhưng giờ mẹ vẫn chưa gửi tiền.  Chắc mùa này quê mình lại bão lụt nhiều nên gia đình không thu hoạch được gì.

Sáng qua, mấy đứa cùng xóm trọ mách nhau chuyện làm thêm cho các tổ chức từ thiện.  Mấy đứa rủ nhau đi kiếm việc.  Công việc không nặng lắm nhưng khá mất thời gian bởi tôi và Hải vào vai hai ông già Noel.  Chúng tôi xuất phát từ nhà lúc sáu giờ tối và về cũng phải sau nửa khuya.  Có hôm làm ở trung tâm bảo trợ trẻ em nghèo, có hôm làm ở hội người tàn tật, cũng có khi là các trại mồ côi.

Những ngày cận kề Giáng sinh chúng tôi lại càng phải đi nhiều.  Hôm đứng ở cổng trường tiểu học vùng ven ngoại thành, trời đã khuya lắm rồi nhưng có một cô bé vẫn chưa về.  Bé nhìn tôi chằm chằm nhưng không dám tiến lại gần.  Tôi đến cạnh bé, hỏi nhỏ: “Cháu sao vậy?”  Bé cười, đôi mắt vẫn còn nhiều niềm vui: “Ông già Noel ơi, có phải đứa trẻ nào học giỏi mới nhận được quà?  Sáng nay cháu bị điểm kém môn toán, cháu sợ không có quà.”  Tôi cười nhẹ: “Không đâu, ông cho tất cả.  Nhưng nếu cháu nào ngoan thì ông sẽ vui hơn.”  Bé ngạc nhiên, nhìn sang tôi, nhìn cả Hải: “Vậy là cháu đã làm hai ông buồn rồi à?”

Bé khóc, những giọt nước mắt nóng hổi rớt đầy trên tay tôi.  Hình như trong suốt buổi tối qua, vì quá mệt nhọc mà chúng tôi quên mất nở nụ cười với nhiều đứa trẻ, trong đó có bé.  “Thôi, cháu nín đi.  Hai ông già này không buồn đâu, nhưng cháu phải cố gắng hơn nhé.”  Bé cười, đôi mắt vẫn còn ngân ngấn nước: “Vậy đi phát quà cho trẻ em, hai ông có nhận được quà của ai không?”  Hải bước tới: “Không, hai ông chỉ đem quà và giúp các cháu thực hiện ước mơ thôi.  Là ông già Noel rồi thì cần gì nữa.”

Bé đi lại gần tôi, gần Hải: “Cháu tặng hai ông nhé,” rồi hôn nhẹ nhàng lên má của chúng tôi.  Hai đứa ngớ người ra nhưng vẫn không quên nở nụ cười với bé trước khi bé đi mất.  Cảm giác ấm áp lan tỏa trên má tôi, rồi cả người.  Một chút vị ngọt ngào xen lẫn niềm thích thú.  Tôi chợt nghĩ chưa bao giờ mình ước cho bản thân một món quà gì đó.  Hình như tuổi thơ của tôi đã qua và chuyện ông già Noel đã chìm vào quá khứ lâu lắm rồi.

Thì ra không phải cứ mặc bộ trang phục đỏ trắng, phát quà cho trẻ em là mình đã tròn vai ông già Noel.  Ông già Noel chỉ hiện hữu thật sự khi chúng ta được giao cảm với nhau.  Sự chia sẻ tình người không chỉ là những hộp quà phát vội mà còn là những nụ hôn hồn nhiên và giàu ý nghĩa.  Cảm ơn cô bé dễ thương đã cho những “ông già Noel” làm thuê như chúng tôi một kỷ niệm thú vị trong mùa Giáng sinh.

Tâm Vũ (Huế)

SẴN SÀNG CHO GIÁNG SINH

Nhiều người bước vào lễ Giáng Sinh một cách mệt mỏi, bận rộn, xao lãng, và bị vắt kiệt với đủ mọi ánh đèn, ca nhạc, và ăn mừng Giáng sinh.  Mùa Vọng là thời gian chuẩn bị cho Giáng Sinh, nhưng với nhiều người trong chúng ta, đây không phải là thời gian chuẩn bị để Chúa Kitô có thể sinh ra lần nữa một cách sâu đậm trong đời sống mình.  Thay vào đó, việc chuẩn bị cho Giáng Sinh, hầu như là để chuẩn bị cho các buổi ăn mừng với gia đình, bạn bè và đồng nghiệp.  Những ngày hướng đến Giáng Sinh hiếm khi được yên bình.  Thay vào đó, chúng ta cứ hối hả vội vã lo trang trí, mua quà, gởi thiệp, chuẩn bị đồ ăn, và dự các liên hoan Giáng Sinh.  Hơn nữa, khi Giáng Sinh về, chúng ta đã chán ngấy các bài hát Giáng Sinh, đã nghe chúng cả trong các điệu nhạc giật gân trong các trung tâm mua sắm, trong nhà hàng, quảng trường, và trên đài phát thanh.

Và rồi Giáng Sinh đến với chúng ta trong một không gian chật chội và mệt mỏi, chứ không thư thái và yên bình.  Thật vậy, đôi khi mùa Giáng Sinh như bài kiểm tra sức chịu đựng hơn là thời gian vui vẻ thực sự.  Hơn nữa, và còn nghiêm trọng hơn, nếu chúng ta thành thật với bản thân, chúng ta phải công nhận, trong khi chuẩn bị chúng ta ít chừa chỗ cho việc thiêng liêng, cho Chúa Kitô sinh ra một cách sâu đậm trong lòng mình.  Thời gian chuẩn bị thường dành để chuẩn bị nhà cửa hơn là chuẩn bị tâm hồn, mua sắm hơn là cầu nguyện, tiệc tùng hơn là chay tịnh chuẩn bị cho đại lễ.  Mùa Vọng thời nay có lẽ là để ăn mừng trước hơn là chuẩn bị cho lễ Giáng Sinh.

Và kết quả là, như các chủ trọ đã không còn phòng cho Đức Mẹ và thánh Giuse trong mùa Giáng Sinh, chúng ta cũng thường “không còn phòng” không còn chỗ trong đời mình cho sự tái giáng sinh thiêng liêng.  Lòng chúng ta thì tốt, chúng ta muốn Giáng Sinh tái sinh chúng ta về đường thiêng liêng, nhưng cuộc sống của chúng ta quá nhiều áp lực, quá nhiều hoạt động và quá mệt mỏi, đến nỗi chúng ta không còn sinh lực thực sự để làm cho Giáng Sinh trở nên thời gian đặc biệt để canh tân tâm hồn mình.  Tinh thần Giáng Sinh vẫn ở trong chúng ta, vẫn thật, nhưng như đứa trẻ trong nôi bị bỏ bê đang chờ được bồng ẵm.  Và chúng ta muốn bồng đứa trẻ lên, nhưng lại không bao giờ đến gần cái nôi cả.

Vậy thì chúng ta thật tệ biết bao?

Điều này thách thức chúng ta hãy nhìn vào chính mình, nhưng không đến nỗi xấu như nhiều chỉ trích lòng đạo thường hay nói đâu.  Dự lễ Giáng Sinh với một cuộc sống quá bận rộn và quá lơ là việc dành chỗ cho Chúa Kitô, không biến chúng ta thành người xấu.  Như thế không có nghĩa chúng ta là những kẻ ngoại đạo vô tâm.  Và cũng không có nghĩa là Chúa Kitô đã chết trong lòng chúng ta.  Chúng ta không xấu xa, mất đức tin và ngoại đạo chỉ vì chúng ta hướng đến Giáng Sinh theo thói quen một cách quá lơ là, quá bận rộn, quá áp lực và quá mệt mỏi đến nỗi không thể có một nỗ lực ý thức để làm cho đại lễ này trở thành dịp để canh tân linh hồn thực sự trong đời mình.  Tình trạng thờ ơ đường thiêng liêng của chúng ta định rõ chúng ta là con người hơn là thiên thần, trần tục hơn là thuần khiết, và duy cảm hơn là duy thiêng.  Tôi cho rằng Chúa hoàn toàn hiểu tình trạng này của chúng ta.

Thực sự, tất cả mọi người đều đấu tranh với điều này theo nhiều cách.  Không ai hoàn hảo, không ai dành trọn không gian của đời mình cho Chúa Kitô, ngay cả trong thời gian Giáng Sinh.  Điều này sẽ cho chúng ta đôi chút an ủi.  Nhưng cũng cho chúng ta một thách thức cấp thiết.  Trong cuộc sống bận rộn và lơ đãng của chúng ta, có quá ít chỗ cho Chúa Kitô!  Chúng ta phải hành động dọn đôi chỗ cho Chúa Kitô, khi làm cho Giáng Sinh thành một thời gian phục hồi linh hồn và canh tân đời sống.

Làm sao chúng ta làm được chuyện này?

Trong những ngày cận kề Giáng Sinh, chúng ta cố gắng làm đủ mọi chuyện cần thiết để sẵn sàng cho tất cả những gì cần có trong nhà, trong nhà thờ, và nơi làm việc.  Chúng ta đi mua quà, gởi thiệp, treo đèn và trang trí, soạn thực đơn, mua đồ ăn, dự đủ tiệc liên hoan Giáng Sinh ở nơi làm việc, nhà thờ và nhà bạn bè.  Điều này, cộng thêm vào áp lực sẵn có trong cuộc sống, thường làm cho chúng ta nghĩ: Tôi sẽ không làm được!  Tôi sẽ không sẵn sàng!  Tôi sẽ không sẵn sàng cho Giáng Sinh!  Đây là cảm giác chung của mọi người.

Nhưng, sẵn sàng cho Giáng Sinh, làm mọi việc cần làm, không phải là hoàn tất các việc chúng ta đã lên danh sách như mua quà, gởi thiệp, thức ăn, các bổn phận xã hội.  Ngay cả khi danh sách những việc cần làm chỉ mới xong được một nửa, nhưng nếu bạn đi lễ nhà thờ ngày Giáng Sinh, nếu bạn ngồi được trong bàn ăn với gia đình vào ngày Giáng Sinh, và nếu bạn thăm hỏi hàng xóm và đồng bạn với đôi chút nồng hậu hơn, thì điều này không có nghĩa là bạn lơ là, mệt mỏi, quá tải, và không suy nghĩ rõ về Chúa Giêsu, và có nghĩa là bạn đã làm trọn những việc để đón Giáng Sinh rồi đó.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

MARIA, MẪU MỰC TUYỆT VỜI

Thánh Gioan Maria Vianney, cha sở họ Ars, là người có lòng sùng kính Mẹ Maria cách đặc biệt.  Ngài có một người anh tên là Phanxicô.  Hồi còn nhỏ, ngài thường bị người anh này trêu chọc và bắt nạt, vì sự chậm chạp, kém thông minh và nhất là vì lòng đạo đức của mình.

Ngày nọ, hai cậu bé phải ra đồng làm cỏ lúa giúp gia đình.  Gioan không biết làm cách nào để có thể thi đua với anh lúc nào cũng làm việc nhanh hơn mình.  Thế là Gioan liền nghĩ ra một phương kế và lấy đó làm đích điểm để đạt cho bằng được.  Cậu mang theo một tượng Đức Mẹ mà một nữ tu đã tặng và đặt trước mặt vài bước, rồi nhìn vào bức tượng mà tiến lên nhờ vậy lần nào cậu cũng theo kịp anh.  Chiều về, Phanxicô liền báo cáo với mẹ: “Mẹ biết không, thằng Gioan đã làm việc bằng con, chẳng công bằng chút nào, bởi vì con làm việc một mình, còn nó, nó được Đức Mẹ giúp”.

*************************

Trong cơn gian nan thử thách, nếu chúng ta đặt trọn niềm tín thác nơi Đức Maria, chắc chắn chúng ta sẽ được Mẹ bầu cử và chở che.  Vì Mẹ là Mẹ của Chúa Giêsu, nên Mẹ cũng là Mẹ chúng ta.  Mẹ yêu thương mỗi người chúng ta bằng chính tình yêu mà Mẹ đã dành cho Chúa Giêsu – Trưởng Tử trong nhiều anh em – (x.Rm 8,29), vì Mẹ đã cộng tác vào việc sinh hạ và giáo dục chúng ta với tình thương của một ngươì mẹ.

Mẹ Maria quả thực là Mẹ chúng ta, nhưng cũng vì là mẹ mà Người đã trở thành mẫu mực của chúng ta trong niềm tin.  Như Công Đồng Vaticanô II đã dạy:  “Mẹ Thiên Chúa là mẫu mực của Giáo Hội trên bình diện đức tin, đức ái và hiệp nhất hoàn hảo với Chúa Kitô” (Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân 63).  Vì thế, chúng ta không chỉ ngước trông lên Mẹ để kêu cầu, mà còn nhìn về Mẹ như một gương mẫu để tiến bước.

Trong thông điệp “Redemptoris mater” Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã giới thiệu con đường lữ hành đức tin của Mẹ Maria.  Mẹ cũng đã trải qua những thử thách đức tin, kể cả đêm tối đức tin trên con đường dương thế như chúng ta.  Mẹ đã đi qua những bước đường trần gian trong vâng phục, tín thác và tin yêu.  Giờ đây, Mẹ cũng đang đồng hành để dẫn dắt chúng ta từng bước đi theo người Con của Mẹ.

Lòng sùng kính của chúng ta đối với Đức Maria dựa theo chức vụ Mẹ Thiên Chúa, Cộng tác viên chặt chẽ của Chúa, và gương mẫu thánh thiện tuyệt vời.  Vì thế, lòng tôn kính dành cho Đức Maria – Mẹ chúng ta – chỉ nên trọn hảo khi chúng ta hết lòng thực hành các nhân đức Kitô giáo mà chính Mẹ là mẫu mực tuyệt vời cho chúng ta bắt chước noi theo.

*************************

Lạy Mẹ Maria, Mẹ là mẫu gương thánh thiện tuyệt vời cho con trong cuộc lữ hành trần gian này.  Xin Mẹ dạy con luôn biết noi gương Mẹ trong vâng phục, tin yêu và phó thác.  Xin Mẹ luôn củng cố trong con đức tin, cậy mến mà Mẹ đã thực hành đến mức trọn hảo, để con ngày càng nên giống Mẹ nhiều hơn.  Amen!

Thiên Phúc

GIU-ĐA

Không tha thứ cho chính mình là phạm tội đến hai lần (Khuyết danh)

 Không hiểu sao, tôi luôn bị mẹ ghét.  Dường như tôi làm điều gì cũng không đúng ý bà.  Có lẽ tôi luôn là đứa vụng về, mà lại lầm lì, không lanh lợi như hai chị, mà cũng có lẽ cả 3 chị em đều là gái, nên mẹ không vui?  Tôi chẳng bao giờ biết được lý do, nhưng cho dù như thế nào, tôi vẫn không bao giờ quên đựơc những trận đòn của mẹ từ những ngày thơ ấu.  Và tôi sợ, không dám tự làm điều gì, vì sợ làm không đúng ý mẹ.  Ngay cả nói, cười trong nhà, tôi cũng không dám.  Cứ như thế, tôi trở thành một cái bóng lặng lẽ, mờ nhạt.  Thế nhưng cái làm cho tôi đau đớn hơn cả, lại không phải là những trận đòn ấy, mà là một cái tát. Vâng, chỉ một cái tát!

Hôm ấy, chúng tôi họp lớp.  Dù chuẩn bị thi tốt nghiệp, chúng tôi vẫn quyết định dành một ngày để chia tay, rời trường.  Hôm ấy, 9g tối tôi mới về nhà. Chưa bao giờ tôi về khuya đến thế.  Một thằng bạn đưa tôi về, tôi chẳng nghĩ gì vì ngay từ những ngày tiểu học, tôi đã quen bạn trai nhiều hơn bạn gái, hơn nữa, bọn con trai trong lớp tôi hiện nay rất galăng, chẳng cần ai nói, chúng nó tự động chia nhau đưa các bạn nữ về nhà.  Thế nhưng, đến cổng, vừa bước chân xuống xe, tôi ăn một cái tát như trời giáng.  Tôi bàng hoàng đến nỗi một lúc sau mới biết mẹ đứng đó.  Sau đó, mọi sự như trong một màn sương, tôi chẳng còn nhớ điều gì cho mạch lạc.  Chỉ còn một cảm giác đọng lại trong tôi.  Tôi không bao giờ quên được cảm giác ấy. Tôi chỉ mong tôi được chết đi ngay lập tức, để thoát khỏi nỗi nhục nhã này.  Từ đó, không một đứa bạn nào của tôi được bén mảng đến nhà tôi nữa, và dường như tôi cũng không có bạn.  Tôi chỉ còn là một cái xác chịu sự sai khiến của mẹ, là cái bung xung chịu đựng những cơn giận của mẹ.

Thế nhưng, không ai cấm được tôi ước mơ.  Trong mơ, tôi thấy mình là một cô công chúa xinh đẹp, khéo léo, có thật nhiều bạn, và có được một người thương yêu, như bố tôi, không bao giờ la mắng, đánh đập tôi.  Và quả đã có người ấy, một chàng hoàng tử làm choáng ngợp hồn tôi, nhưng tôi sợ, không dám đến gần vì sợ mình quá xấu xí, quá vụng về, làm sao người ta có thể chấp nhận?  Ôi, chàng hoàng tử của tôi. Trong mọi giấc mơ, tôi đều mơ thấy chàng!

***************************

Năm năm chung sống, có với nhau 2 mặt con, tôi vẫn không biết anh có yêu tôi hay không.  Ngày quen nhau, tôi bị cái vẻ lành lạnh của anh thu hút, thế nhưng khi chung sống, lại cũng chính cái vẻ lành lạnh ấy của anh làm tôi chán.  Suốt ngày làm việc, cuối tháng, anh đưa lương cho tôi hết, chẳng giữ lấy một đồng.  Rồi những ngày Phụ nữ, ngày sinh nhật tôi, anh quên!  Có lần tôi nhắc, anh trả lời gọn bưng:  “Có bao nhiêu tiền, anh đưa em cả rồi!  Em thích hoa gì thì ra chợ mua, đúng ý mình, về dễ chưng hơn!”  Tôi ngọng! Anh không thích giao du, hết giờ làm là về nhà, bạn bè bảo tôi sướng, khỏi phải lo giữ chồng, nhưng chúng nó có biết đâu, có những buổi tối, tự dưng cảm thấy trống trải, bâng khuâng, tôi muốn rủ anh đi dạo, rồi ghé vào một quán cà phê nào đó vừa nghe nhạc, vừa nhâm nhi, nhưng anh cho rằng, điều đó chỉ dành cho những kẻ đang yêu, còn đã là vợ chồng, thì miễn, để thời gian chăm sóc con cái, nhà cửa! Riết rồi tôi chán!  Vợ chồng chẳng lẽ chỉ là những kẻ cùng lo chung cơm áo gạo tiền thôi sao?!

Rồi tôi gặp anh ta.  Mọi người đồn, anh được rất nhiều cô theo đuổi.  Tôi không quan tâm và cũng chỉ giao tiếp với anh trên bình diện công việc.  Nhưng càng về sau, từ những câu chuyện về công việc, chúng tôi lại lan man về xã hội, về cuộc sống, rồi bỗng cảm thấy có những suy nghĩ thật trùng hợp.  Có người chăm sóc, có người hỏi han, chiều chuộng, tôi như sống lại thời con gái.

Và điều ấy đã xảy đến.  Khi biết tôi có thai, anh ta thẳng thừng:  Anh không thể ly dị.  Anh cũng không muốn phá vỡ hạnh phúc gia đình em.  Em đừng lo, mọi người sẽ nghĩ em có con với chồng, chẳng có chuyện gì đâu!

Tôi lăn ra ốm một trận thập tử nhất sinh.  Chồng tôi lo lắng, vì chẳng ai biết được tôi bệnh gì. Sau biết tôi có thai, anh cứ nghĩ tôi ốm nghén.  Tuần lễ ấy, anh nghỉ làm, ở nhà nấu cháo cho tôi, túc trực bên giường.  Không thể thản nhiên nhận sự chăm sóc ấy, tôi kể hết, và chờ đợi sự phán quyết của anh.  Anh cứ ngồi nghe tôi nói, không hề ngắt lời, nhưng sắc mặt ngày một tái dần đi.  Khi tôi ngừng lời, anh chậm chạp đứng dậy, đi ra, vẫn không một lời!

Tôi biết, mọi sự thế là chấm dứt.  Tôi không oán trách anh, chỉ vì tôi đã quá nhẹ dạ, quá nông nổi, tưởng rằng tình yêu phải được biểu lộ bằng sự chăm sóc, chiều chuộng, bằng những lời yêu thương môi miệng.  Còn oán trách ai được nữa khi chính mình đã thả mồi bắt bóng, chính mình đã hất đi cái hạnh phúc mình đang có!

Cả ngày hôm ấy không thấy anh.  Tôi biết mình phải làm gì.  Cố gắng hết sức để ngồi dậy thu xếp quần áo, tôi chỉ đau xót nghĩ đến hai đứa con. Rồi đây ai sẽ chăm sóc chúng?  Giá mà tôi nghĩ đến điều này từ trước, thì đâu có ngày hôm nay!

Đúng lúc ấy, anh vào.  Tôi chẳng còn mặt mũi nào nhìn anh.  Nhưng những lời anh nói chứng tỏ tôi hoàn toàn chẳng hiểu gì hết về chồng mình, về con người mà mình đã sống chung 5 năm qua:

–  Anh biết, cho dù em tự nhận hết tội lỗi về phần mình, nhưng anh cũng đã có lỗi với em. Anh mong ước rằng chúng ta sẽ có một cuộc sống đầy đủ, không phải thiếu thốn gì, nên đã miệt mài làm việc.  Anh quên mất rằng, em còn cần nhiều hơn một cuộc sống vật chất đầy đủ.  Ngày xưa, đó chính là điểm làm anh yêu em.  Em không coi trọng vật chất, lại hơi lãng mạn.  Chính cái lãng mạn ấy của em làm anh cảm thấy cuộc sống mình tươi mát hơn.  Thời gian qua, anh dần dần quên mất điều đó.  Anh đau đớn khi nghĩ đến chuyện đã qua, nhưng chính anh đã đẩy em đến chỗ đó.  Em có thể quên đi tất cả, để chúng mình bắt đầu lại từ đầu không?  Anh xin em điều này, không phải vì hai đứa con chúng ta, nhưng vì chính anh, anh không muốn xa em!

Cuộc sống chúng tôi sang trang từ hôm ấy.  Không biết anh thay đổi cách sống, hay tôi thay đổi cách nhìn, chỉ biết rằng, từ ngày ấy, tôi hiểu tình yêu anh dành cho tôi lớn đến thế nào, dù anh không bao giờ nói ra điều ấy.

Bụng tôi lớn dần.  Tôi đã muốn bỏ nó đi, nhưng anh không cho, vì “nó chẳng có tội tình gì”.  Anh hứa sẽ xem nó như con, như những đứa con khác.  Và quả thật, anh đã giữ lời.  Cho đến ngày nó lớn khôn, chưa bao giờ tôi thấy anh phân biệt đối xử, dường như anh đã quên câu chuyện ấy, như chưa bao giờ xảy ra.

Nhưng tôi thì không thể quên.  Nó là một bằng chứng sống cho tội lỗi của tôi.  Cứ nhìn nó là tôi lại nhớ đến tội lỗi xưa, tại sao tôi lại ngu ngốc đến thế!  Tôi hận mình, và tôi hận cả nó.  Là đứa con rứt ruột đẻ ra, nhưng tôi không thể nào thương nó nổi!  Vẫn có những lúc, sau khi la mắng, đánh đập nó, nhìn vẻ mặt ngơ ngác, cam chịu, nhìn những giọt nước mắt câm lặng của nó, tôi cũng đau xót, nhưng sự thương xót ấy không kéo dài quá vài ngày!  Tôi cũng sợ nó giống cha, nên kèm rất sát.  Mà có lẽ nó có gien di truyền, nên rất nhiều bạn trai theo đuổi.  Nhưng không đứa nào lọt qua khỏi mắt tôi.  Cho đến khi tôi chọn cho nó được một người ưng ý, nó cũng chẳng nói năng gì, lúc ấy tôi mới mừng thầm.  Không phải tôi muốn tống nó ra khỏi nhà, dù sao nó cũng là con tôi kia mà, nhưng nó đi, tôi không phải bị nhắc nhở về tội lỗi ấy nữa!

Thế nhưng tôi đã lầm.  Vợ chồng nó hạnh phúc hay không, tôi không hề biết.  Bây giờ nghĩ lại, tôi mới chợt nhận ra rằng, nó không bao giờ nói chuyện với ai trong nhà, ngay cả với bố, người không bao giờ la mắng nó. Vì thế, chẳng ai biết được vì sao nó chết!  Chỉ một năm sau ngày cưới, nó chết.  Và bây giờ đây, tôi mới biết được rằng, tôi đã phạm tội đến hai lần!  Chính tôi đã giết nó.  Một cái chết từ từ ngay từ khi nó sinh ra mà không được tôi chấp nhận.  Chính tôi, chứ không ai khác, đã hủy họai tâm hồn nó, đã đầu độc cuộc sống của nó, và chính tôi đã sắp đặt cuộc hôn nhân ấy mà không cần biết nó suy nghĩ gì.  Chính tôi.  Bởi không thể tha thứ cho chính mình, tôi đã kết án cả một sinh linh vô tội.  Còn ai có thể tha thứ cho tôi?!

Chiêu An

NHỮNG BÓNG MA TƯỞNG TƯỢNG

Trước khi dâng mình cho Chúa, Thánh An-phong là một luật sư lỗi lạc.  Người rất nổi danh vì tài hùng biện và vì lý luận đanh thép sắc bén.  Nhờ tài ba, người đã thành công trong rất nhiều vụ án hiểm hóc.  Nhưng một hôm, Chúa đã để cho người phải thất bại. Trong một vụ án mà người thấy là đơn giản, dễ dàng, người đã bị thua một cách thảm hại.  Trước thất bại cay đắng đó, người thấy như cả bầu trời sụp đổ. Danh tiếng phút chốc tan như mây bay.  Uy tín bị cuốn đi trong làn gió thoảng. Cả một màn đen tối u ám phủ xuống cuộc đời.

Chẳng còn biết tìm an ủi ở nơi nào khác, Thánh An-phong quay về bên Chúa, chìm đắm trong lời kinh cầu nguyện.  Nhờ ơn Chúa, người tìm được niềm bình an.  Hơn thế nữa, người nghe được tiếng Chúa mời gọi đi vào con đường Chúa muốn.  Từ đó, người hiến thân trọn vẹn để phục vụ Chúa, người đã trở thành linh mục, giám mục và lập ra Dòng Chúa Cứu Thế.  Sau này, khi nhìn lại, người hiểu rằng chính Chúa đã hiện diện trong những thất bại để đưa người về con đường theo ý Chúa.  Chính Chúa đã dùng những đau khổ để huấn luyện người trong đức khiêm nhường phó thác.  Chính bàn tay Chúa đã hạ người xuống trong danh vọng trần thế để nâng người lên trong vinh quang Nước Trời.

*******************************

Trong sách Tin Mừng ta thấy thuật lại nhiều trường hợp tương tự.  Khi thuyền của các Môn Ðệ đang vất vả vượt qua sóng gió, Ðức Giê-su đi trên mặt biển đến với các ông.  Các ông tưởng là ma nên càng sợ hãi hơn.  Nhưng đó chính là Ðức Giê-su.  Người làm cho biển êm sóng lặng và thuyền các ông tới bến bình an… Có lần Ðức Giê-su cùng ở trên thuyền với các ông, nhưng Người ngủ say đến nỗi sóng gió dữ dội mà vẫn không hay biết gì.  Các ông hoảng hốt đánh thức Người dậy.  Và Người đã đe sóng gió khiến chúng phải im lặng.

Hôm nay cũng thế, Người đến bất ngờ khiến các Môn Ðệ sợ hãi.  Họ đang bị cái chết đau thương của Người ám ảnh.  Nên khi Người đến họ tưởng là ma hiện hình.  Ðức Giê- su phải trấn an họ.  Cho họ xem những vết thương ở tay chân.  Cùng ăn uống với họ và giải nghĩa Thánh Kinh cho họ.  Nhờ thế, họ được bình an, được vui tươi và tin tưởng.

Trong đời sống chúng ta cũng thế.  Rất nhiều lần trong đời ta tưởng Chúa là bóng ma đến đe dọa đời sống ta.  Có những biến cố lịch sử làm đảo lộn đời ta, tưởng chừng như đưa cuộc đời ta vào ngõ cụt. Nhưng không ngờ chính Chúa dùng biến cố lịch sử dẫn đưa ta vào một con đường mới theo thánh ý Chúa. Có những khi ta gặp thất bại ê chề tưởng chừng như không còn gượng dậy nổi.  Nhưng không ngờ chính Chúa đã dùng thất bại để cảnh tỉnh ta, giúp tâm hồn ta vươn lên trong một đời sống mới cao cả tươi đẹp hơn.  Có những khi ta gặp phải những nỗi đau buồn tê tái tưởng như chết đi được.  Ta cứ tưởng Chúa đã bỏ rơi ta.  Nhưng không ngờ chính Chúa hiện diện trong những đau buồn đó để giúp ta sống trưởng thành, sâu xa, phong phú hơn.

Khi Ðức Tin các Tông Ðồ còn yếu kém, họ tưởng Chúa là ma.  Khi Ðức Tin đã được củng cố, các ngài mới thấy Ðức Giê-su là có thực.  Ðức Tin của các Tông Ðồ đã được củng cố nhờ được gặp gỡ tiếp xúc thân mật với Ðức Giê-su và được nghe Người giải nghĩa Thánh Kinh.  Ðức Tin của ta còn rất non yếu.  Ta hãy biết bắt chước các Tông Ðồ củng cố Ðức Tin bằng cách năng gặp gỡ Ðức Giê-su.  Hãy đến gặp Người trong Thánh Lễ. Hãy đến gặp Người trong giờ kinh tối trong gia đình.  Nhất là hãy đến gặp Người trong những giờ cầu nguyện riêng tư, một mình đối diện tâm sự thân mật với Chúa.

Hãy củng cố Ðức Tin bằng cách học hỏi Thánh Kinh.  Ðọc Thánh Kinh hằng ngày để hiểu biết Chúa hơn.  Suy niệm Thánh Kinh để tìm ra Thánh Ý Chúa.  Và nhất là hãy biết thực hành Lời Chúa dạy trong đời sống hằng ngày.  Khi đã gặp gỡ Chúa và đã thấu hiểu Lời Chúa, ta sẽ chẳng còn bị những bóng ma ám ảnh. Ta sẽ nhìn thấy Chúa trong tất cả các biến cố vui buồn của đời sống. Cuộc sống ta sẽ tràn đầy niềm vui và niềm bình an.

*******************************

Lạy Ðức Giê-su Phục Sinh, con tin Chúa đang ở bên con.  Con xin phó thác cuộc đời con trong tay Chúa.

TGM. Giuse Ngô quang Kiệt

TIỀN BẠC

Tại một tiệm bán thực phẩm cho các loài chim kia, vì muốn thu hút khách hàng, nên ông chủ tiệm bắt được con phượng hoàng đem nhốt vào cái lồng lớn đặt trong tiệm.

Một hôm, có hai ông cháu từ miền núi xuống thành phố mua đồ. Khi đi ngang qua tiệm, vừa trông thấy con chim phượng hoàng bị nhốt trong lồng, ông ta động lòng thương hại, liền ngỏ ý với ông chủ tiệm xin mua con chim ấy.

Không để mất cơ hội, ông chủ tiệm đòi giá tiền thật cao.

Không một lời trả giá, người khách hàng đi thẳng tới nhà ngân hàng, rút số tiền cần thiết và trở lại tiệm mua chim phượng phoàng. Ông ta vui mừng ẵm con chim trên tay bước ra khỏi tiệm. Vừa bước chân tới quãng đường vắng, ông ta liền mở tay ra để chim được tự do bay bổng giữa bầu trời mênh mông của nó.

Ngạc nhiên trước việc làm của ông, đứa cháu nhỏ tò mò lên tiếng hỏi:

– Thưa ông nội, tại sao ông lại sẵn sàng hy sinh một số tiền lớn như vậy để chuộc trả tự do cho con chim phượng hoàng ấy.

Ông vui vẻ đáp:

– Cháu hãy ghi lòng tạc dạ điều này: trên đời, giàu sang không chỉ căn cứ trên những gì mình có thể chiếm đoạt được mà thôi, nhưng chính là trên những gì mình cần phải cho đi, để có thể thực hiện được điều tốt lành cần phải làm. 

 *********************************

Người ta thường nói:  “Có tiền mua tiên cũng được”.

Ðiều đó nói lên giá trị và quyền lực của tiền bạc. Tuy nhiên, tiền bạc chỉ có giá trị của nó nếu được dùng đúng đắn, tức là khi chúng ta biết để nó nên như đứa đầy tớ chứ đừng để nó làm chủ chúng ta. Bởi vì tiền bạc có thể là đầy tớ tốt lành nhưng lại là ông chủ rất độc tài ác nghiệt.

Người ta có thể dùng tiền bạc làm giá đổi lấy quyền tự do, nhưng người ta cũng có thể tự do chọn làm nô lệ của tiền bạc. Chỉ có những người đạt tới tự do nội tâm mới hiểu được giá trị tự do là gì, mới biết quí trọng quyền tự do và vì thế cũng sẵn sàng trả giá cao để đổi lấy quyền tự do cho chính mình cũng như cho tha nhân.

Người tự do thật là người biết tạo ra bầu khí an bình, thoải mái chung quanh mình, để người khác cũng có thể khám phá ra sự tự do của họ nữa. Tuy nhiên trên thực tế chúng ta thường bị trói buộc bởi nhiều thứ điều kiện và rất khó được tự do an bình nội tâm thực sự, nào là quyền bính, tiền bạc, danh vọng và dục vọng, chúng ta như những mắt xích ghì chặt chúng ta dưới ách nô lệ của chúng, điều khiển chúng ta bằng những thủ đoạn khôn khéo và khiến chúng ta thèm muốn những thỏa mãn mau qua của chúng.

Tự do đích thực của con người là tự do được làm con cái Chúa. Tự do ấy đã được Thiên Chúa ban tặng cho mỗi người ngay từ khi mới được tạo dựng, và để duy trì quyền tự do ấy mỗi người phải chấp nhận trả giá rất cao, không những chỉ một lần thôi, nhưng là chấp nhận kỷ luật của từ bỏ và tự thoát suốt cả đời người, là xác tín rằng chúng ta không thuộc về thế gian này, nhưng thuộc về Thiên Chúa, Ðấng đã tạo dựng nên chúng ta và cũng là cùng đích chúng ta phải trở về lúc cuối đời của mỗi người.

Niềm xác tín đó, không phải là thứ lý thuyết trống rỗng hoặc những lời nói suông, nhưng phải được cụ thể hóa qua lời nói cũng như hành động, làm như thế tức là chúng ta đang tiến từng ngày, từng bước tới tự do nội tâm đích thật.

*********************************

Lạy Chúa, con chỉ mong một điều, mong Chúa lấy đi để chẳng còn gì thuộc về con, mong chẳng còn gì là của con nữa, để con được trắng tay và chỉ còn Ngài để giữ lấy, để được trọn Chúa mãi là của con.  Lạy Chúa, con chỉ mong được Chúa xóa đi và chẳng còn gì để chiếm hữu, để chẳng còn gì ràng buộc con nữa, để con được ngước lên tìm được Chúa là chân lý và con được cùng Chúa đồng hành luôn mãi. Amen!

R. Veritas

BÂY GIỜ CON ĐÃ CÓ MỘT “VÌ SAO”

Khi chưa biết Ngài, con cũng chỉ là một con người bình thường như bao người khác, chưa đặt lòng tin vào một Đấng nào, chưa từng thổ lộ thâm tâm hay những việc mình làm cho ai, và chỉ biết cảm nhận ở bản thân mình khi vui cũng như lúc khổ.  Gặp những biến cố cuộc đời, cuộc sống con chao đảo đến mức tưởng rằng không đủ sức vượt qua nổi, những lúc như thế, con chỉ biết chấp nhận số phận đã an bài như vậy.

Ngày con còn nhỏ, nhỏ lắm, con chưa đủ trí lực để hiểu có đức tin và có Chúa.  Hai anh em con đi dự Lễ Noel như bao người khác.  Cái háo hức của một ngày vui được trang hoàng rực rỡ đã cuốn hút con bước vào Nhà Thờ.  Con thấy ai cũng trầm ngâm hướng vào một điểm nào đó, chốc chốc họ lại quỳ xuống, gục mặt xuống bàn.

Con lấy làm lạ và thắc mắc, bỗng có một người phụ nữ mặc áo màu đen tiến tới hai anh em và dắt tụi con vào hàng ghế bên cạnh trước tượng của một người đàn ông vẻ mặt đau khổ bị trói trên một cây gỗ.  Và rồi cứ ai đứng thì con đứng, ai quỳ thì con quỳ.  Riêng em con thì lạ lắm, nó chẳng chịu quỳ mà chỉ ngồi im.

Những ngày con quen biết cô ấy, chỉ là tuổi học trò thôi.  Hằng đêm, con chờ cô ấy trước cổng Nhà Thờ, bên cây thông già cỗi.  Chờ lâu lắm, con chẳng biết làm gì hơn là hết nhìn chằm chằm vào mái nhà hình tam giác có cây thánh giá ở giữa, rồi lại nhìn tháp chuông có quả chuông im lìm trong đêm.

Rồi con đi học, chẳng biết tại sao những bạn bè thân thuộc quanh mình ai cũng có đạo, ai cũng có ngày chủ nhật vui vẻ.  Con tò mò và tìm hiểu.  Con đọc cuốn “Tân Ước” mà mấy đứa bạn cho mượn mà chẳng hiểu gì cả nhưng trong lòng rất muốn đọc để hiểu xem thế nào.

Cho đến một ngày, người con gái con quen đã trở thành một người phụ nữ có ý nghĩa sâu sắc trong cuộc đời của con để rồi con không thể thiếu người ấy.  Con bắt đầu tìm hiểu một cách dè dặt.  Trước bao áp lực của gia đình và bạn bè, con vẫn tìm đến Người.  Ngồi chung với  bạn cùng hoàn cảnh, con như có một vòng tay giúp con vượt qua.

Đến hôm nay, chỉ còn hai, ba ngày nữa thôi, con sẽ được bước vào cánh cửa Hội Thánh của Ngài, con được trở thành con Ngài và được Ngài che chở.  Con biết chắc từ nay con không còn cô đơn, không còn một mình trước sóng gió cuộc đời nữa…

Nhưng Chúa ơi ! Con đau lòng lắm, con như một người vô cảm, con vẫn dè dặt trước Chúa và trước cộng đồng của Chúa.  Con muốn tin Người lắm, con muốn hạnh phúc trong một gia đình có vợ con lắm, nhưng sao có những lúc con vẫn không tin vào chính bản thân mình. Có những lúc cha bảo con xuống Nhà Thờ để dành cho Chúa một phút thôi.  Con quỳ trước mặt Chúa và khóc.  Con khóc và cầu cho mình được tin Chúa và là con ngoan của Chúa. Và rồi lại có những ngày con đi Lễ một cách thờ ơ, không cảm xúc trong lòng.

Giờ đây, trước giờ phút linh thiêng này, con cầu xin Chúa!  Cầu Chúa hãy đón nhận con, giúp con tin vào Chúa và tin và những gì mà Chúa đã tạo ra, hãy rũ bỏ con người không tin vào Chúa của con đi.

Con cầu xin Chúa hãy vun đắp cho cuộc sống vợ chồng chúng con và gia đình của con được thuận hòa trong đời sống Đạo. Amen. 

Dự Tòng Phê-rô TRẦN HUY THANH, Sài-gòn

NGƯỜI VÔ THẦN

Một trong những câu truyện hay được rút ra từ Đại Thế Chiến II là câu truyện về một chiếc máy bay bị rớt tại vùng biển Thái Bình Dương.

Trên chiếc máy bay đó là Đại Úy Eddie Rickenbacker, Thiếu Úy James Whittaker, và một phi đoàn 6 người. Cả 8 người đều sống sót sau khi máy bay bị rớt.  Sau đó trong suốt 21 ngày, họ trôi lênh đênh ngoài biển cả trên 3 chiếc thuyền nhựa nhỏ không đồ ăn thức uống.

Nguồn sức sống độc nhất của họ chính là những giờ cầu nguyện mỗi ngày.  Giờ cầu nguyện bao gồm đọc một đoạn sách từ cuốn Thánh Kinh bỏ túi và cầu nguyện bộc phát với Thiên Chúa.  Chỉ có Thiếu Úy Whittaker là người độc nhất vô thần trong nhóm này.

Vào ngày thứ sáu, họ trở nên đuối sức và rất cần thực phẩm và nước.  Sau giờ cầu nguyện ban tối vừa xong, họ bắn lên trời một trái sáng, hy vọng rằng nó có thể gây chú ý cho một chiếc thuyền hay một chiếc máy bay nào.

Thế nhưng, ánh chiếu xạ từ từ tắt đi và rơi xuống cạnh chiếc thuyền.  Trong khi nó rớt xuống như vậy, nó đã lôi cuốn được một bày cá.  Trong sự hoan lạc của họ, hai con cá đã nhảy lên thuyền.  Thế là họ có được một bữa cá ăn sau một tuần đói khát.

Chiều hôm sau, họ cầu xin cho được có nước uống.  Chỉ sau một lúc, họ đã dồn dập trong một trận mưa lớn. Từ lúc đó trở đi, Thiếu Úy Whittaker đã trở nên một người có đức tin và không còn là người vô tín ngưỡng nữa.

Vào ngày thứ 10, một sự kiện đặc biệt xảy ra.  Sau giờ cầu nguyện thường nhật, họ đã xưng thú tội lỗi mình công khai.  Đấy chính là một hình thức tuyệt vời bày tỏ đức tin và đức khiêm nhường trước mặt Thiên Chúa và người khác.

Vào ngày thứ 13, một sự kiện đáng chú ý khác đã xảy ra.  Một trận mưa lớn đổ xuống nhưng nó cách xa tám người họ khoảng chừng 1000 feet.

Lần đầu tiên, Thiếu Úy Whittaker đã hướng dẫn giờ cầu nguyện.  Ông cầu xin cho trận mưa trở lại.  Thế rồi, điều không thể giải thích được bằng những luật thiên nhiên là: cơn mưa bắt đầu di chuyển từ từ đến họ ngược chiều gió.  Họ đã uống và đã hứng nước để dự trữ.

Vào ngày thứ 21 họ đã nhìn thấy đất liền.  Thiếu Úy Whittaker nghĩ rằng anh không thể nào chèo nổi khoảng cách đó nhưng anh đã cố gắng chèo.  Sau 7 tiếng rưỡi, anh đã đến đất liền.  Ông chia sẻ như sau: “Bây giờ, cho dù là đã được hoàn toàn bình phục, tôi không hiểu làm sao sau 3 tuần khát, đói, và phơi nắng, chúng tôi có thể vượt thắng.”

Ngay sau khi đoàn người cập bến, họ quỳ gối xuống và tạ ơn Thiên Chúa.

Khi Thiếu Úy Whittaker trở về nhà, ông đã viết một cuốn sách bán chạy nhất, diễn tả về cảm nghiệm này. Đồng thời, ông đã du lịch toàn quốc, chia sẻ niềm tin mới của ông với nhiều khán giả.

****************************** 

Câu truyện của Whittaker giống câu truyện của Thánh Tôma Tông Đồ trong bài Phúc Âm hôm nay.  Cả hai người đều nghi ngờ.  Thế rồi, cả hai từ từ đã trở nên những người tin tưởng mạnh mẽ.   Hơn nữa, họ trở nên những nhà truyền giáo.

Lòng nhiệt thành truyền giáo của Whittaker đã đưa ông vào những cuộc thuyết trình mà trong đó ông đã chia sẻ với mọi người khắp quốc gia Hoa Kỳ niềm tin mới của ông.  Lòng nhiệt thành của Thánh Tôma Tông Đồ đã đưa ngài đến mãi tận Ấn Độ.  Và công cuộc truyền giáo của cả hai vẫn còn tiếp tục sinh hoa kết quả cho đến mãi ngày nay.

Nhiều người trong chúng ta trở thành những tín hữu trong cuộc sống. Thế nhưng đã có bao nhiêu người chịu đi một bước xa hơn như Thánh Tôma và Whittaker? Có bao nhiêu người dám trở nên những vị tông đồ cho người khác?

Thiên Chúa không bao giờ muốn chúng ta chôn giấu ơn phúc đức tin của ta.  Thiên Chúa có ý muốn ta chia sẻ với đồng loại, giống như những người trên chiếc phà đã chia sẻ đức tin của họ với Thiếu Úy Whittaker, và giống như các Tông Đồ khác đã chia sẻ đức tin của họ với Tôma, và cũng giống như Tôma và Thiếu Úy Whittaker, đến phiên họ, đã chia sẻ đức tin của họ với người khác.

Đấy chính là sứ điệp của bài Phúc Âm hôm nay.  Chúa Giêsu dạy các môn đệ của Ngài, “Như Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai các con.”

Điểm quan trọng mà Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh là đức tin của chúng ta không thể bị chôn vùi trong chính con người của chúng ta mà thôi, nhưng chúng ta còn phải chia sẻ với anh chị em khác.

Nó phải được chia sẻ với con cháu chúng ta.  Nó phải được chia sẻ với những phần tử trong gia đình.  Nó phải được chia sẻ với những bạn hữu mà đức tin đã bị khô khan.  Nó phải được chia sẻ với những người quen biết và tha nhân là những người đang trên đường đi tìm kiếm đức tin.

******************************

Lạy Chúa, xin giúp chúng con nhận biết rằng Ngài đã ban đức tin cho chúng con không phải là để riêng con nhưng là để chia sẻ với người khác.

Trích Đời Thường

TIN MỪNG PHỤC SINH

Bà Regina Riley hằng cầu nguyện cho hai cậu con trai đã xa rời đức tin nhiều năm….  Bỗng một sáng Chúa nhật, bà không thể tin vào mắt mình, hai đức con bước vào nhà thờ ngồi ghế đối diện với bà.  Tan lễ, bà liền hỏi lý do nào khiến các con trở về với Chúa.  Đứa con nhỏ mau mắn kể lại:

Thời gian nghỉ hè tại Colorado, vào một sáng Chúa nhật, chúng con đang lái xe thả dốc trong cơn mưa tầm tã.  Bỗng nhiên, một cụ già không dù che, người ướt sũng đang vội vã bước đi, dáng điệu khập khiễng.

Chúng con dừng lại mời cụ lên xe, mới được biết cụ đang đi lễ, đến một nhà thờ cách đó 5 cây số.  Chúng con liền đưa cụ đến dự lễ.  Nhưng vì trời vẫn mưa nên hai anh em quyết định vào xem lễ rồi cùng đón cụ về.  Lạ thay, sau khi lắng nghe Lời Chúa chúng con rất xúc động, tâm hồn như được đổi mới hoàn toàn.  Mẹ biết không, lúc bấy giờ chúng con như được trở về nhà sau một chuyến đi dài đầy mệt mỏi.

*****************************

Câu chuyện hai anh em gặp gỡ cụ già xa lạ sẽ minh họa cho chúng ta bài Tin Mừng Phục Sinh hôm nay.

Bà Maria Mađalêna, bà Maria mẹ ông Giacôbê, và bà Salômê là ba phụ nữ nhân đức từng theo Đức Giêsu và các môn đệ.  Các bà đã từng được Thầy Giêsu dạy dỗ, yêu thương.  Nhưng giông tố kinh hoàng của chiều Thứ Sáu Tuần Thánh đã cướp đi người Thầy rất đáng kính yêu của họ.  Giờ đây, Thầy đã nằm yên trong mộ đá.  Còn lại gì?  Hay chỉ còn lại bao kỷ niệm thân thương và nước mắt.  Để vơi đi nỗi sầu, các bà chỉ biết mua dầu thơm về ướp xác Thầy.  Nhưng “Ai sẽ lăn dùm tảng đá ra cho chúng ta?” (Mc 16,3).

Kinh ngạc thay, khi đến nơi, các bà đã thấy tảng đá được lăn ra một bên, và xác Thầy cũng không còn nữa.  Chỉ còn đó, sứ thần chờ để loan báo Tin Mừng:  “Đấng bị đóng đinh đã sống lại rồi, Người hẹn gặp lại các môn đệ tại Galilê” (x.Mc 16,7).  Từ ngôi mộ trống, nơi tối tăm và chết chóc, sự sống đã bừng lên.

Hai anh em trong câu chuyện trên cũng đã một thời tin theo Chúa.  Nhưng giông tố của thời niên thiếu đến, đã cướp đi bao kỷ niệm đạo đức thưở ấu thơ.  Thế rồi, cụ già đã xuất hiện loan báo một tin mừng, không phải bằng lời mà bằng gương sáng đạo đức:  “Thầy Giêsu hẹn gặp lại các con nơi thánh đường”.

Tin Mừng chính là:  Hễ có giông tố của chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, thì cũng có bình an của sáng Chúa nhật Phục Sinh.

Tin Mừng chính là:  Hễ có bình minh là có niềm hy vọng, có trở về là có đổi mới.

Tin Mừng chính là:  Nếu ta cùng chết với Đức Kitô, ta sẽ cùng được sống lại với Người.

Tin Mừng chính là:  Nếu có tình yêu quằn quại trên thập giá, thì cũng có tình yêu rạng rỡ sáng Phục Sinh.

*****************************

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn xác tín rằng:  Mỗi lần chúng con trở về sau những lầm lỗi, là chúng con đang Phục Sinh với Chúa.  Mỗi lần chúng con tin tưởng sau những lần phản bội niềm tin, là chúng con đang sống lại với Người.  Mỗi lần chúng con tiếp tục cố gắng sau những lần thất bại đắng cay, là chúng con đang ra khỏi mồ trống.  Xin giúp chúng con biết mở rộng tâm hồn để đón nhận ân sủng Phục Sinh của Chúa.  Amen!

Thiên Phúc