THIÊN ĐÀNG LÀ THẾ ĐÓ

“Mừng vui lên Sion, này đây Chúa ngươi đến rồi.
Mừng vui lên Sion, Ngài khấng nghe lời ngươi đó.
Ngài dẫn đưa ngươi, qua những hố sâu, qua núi đồi,
Về nơi an vui, nơi suối mát trong đẹp tươi.”

Đó là lời reo ca thoát thai từ niềm tin son sắt của tiên tri Sôphônia trong cảnh tang tóc khổ đau của kiếp lưu đày biệt xứ.

Số là vào thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên, vùng đất Do thái bị áp lực và sâu xé bởi đoàn quân viễn chinh Assyria hùng mạnh ở phía Bắc và vương quốc Ai Cập rộng lớn ở phía Nam.  Ngoài ra còn phải đương đầu với tệ nạn cướp bóc, sách nhiễu của các nước lân bang.  Triều đình Do thái bị phân năm xẻ bảy.  Người thì muốn cấu kết với Assyria để tránh tai họa, kẻ thì đòi liên minh với người Assur để chống giặc phương Bắc.  Tình trạng rối rắm, bất ổn, chia rẽ, lo sợ đã làm đất nước nhỏ bé Giuđa rơi vào hoàn cảnh khốn đốn, kiệt quệ chưa từng thấy.  Rốt cuộc Giêrusalem bị dày xéo, đền thờ rơi vào tay giặc, và dân cư phải đi lưu đày.  Kiếp nô lệ cho đế quốc Assur bắt đầu.

Vào khoảng năm 609 trước Thiên Chúa giáng sinh, đế quốc Assur bắt đầu suy yếu.  Tin tưởng ngày Giavê ra tay cứu thoát, thấy trước thời kỳ khôi phục quốc gia Giuđa, Sôphônia đã phấn chấn tâm hồn người dân lưu đày bằng lời reo vui: “Hỡi thiếu nữ Sion, hãy cất tiếng ca!  Hỡi nhà Israel hãy vui mừng!  Vì Chúa đã cất án phạt trên ngươi.  Địch thù của ngươi, Ngài bắt phải tháo lui.  Vua Israel là Chúa ở giữa ngươi, ngươi không còn phải sợ khổ cực nữa” (Xp 3:14-15).

Đây là niềm vui lớn lao cho toàn dân.  Vui vì được Giavê giải thoát.  Vui vì Chúa đến ở với dân Người.  Chính Thánh Phaolô cũng đã nhắc đến niềm vui cứu độ này cho cộng đoàn tiên khởi Philip: “Anh em hãy vui mừng lên… vì Chúa đã gần bên” (Phi 4:4-5).  Đây chính là chủ đề của Chúa nhật thứ 3 mùa vọng.  Màu tím trong phụng vụ được thay bằng màu hồng.  Qua đó, Giáo hội kêu mời dân Chúa hãy đổi mới thái độ sống, hãy hân hoan vui mừng, hãy hát lên, vì khổ đau kinh hoàng sẽ qua đi và bình an của trời cao đang ngự đến.

Hãy đổi mới thái độ sống cũng chính là câu trả lời của Thánh Gioan Tiền hô khi dân chúng đến hỏi “Chúng tôi phải làm gì?”

Theo Thánh Gioan, để đón chào Sứ giả Bình an, để tiếp nhận Hạnh phúc của trời cao, thì “ai có hai áo, hãy cho người không có, ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy…  Đừng đòi gì quá mức ấn định…  Đừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai.”  Phải chăng vị ngôn sứ đã muốn làm nổi bật chân lý: Hãy thương người để gặp được Chúa.

Khi hết lòng tu chỉnh thái độ sống của mình đối với anh chị em chung quanh, khi cố gắng thực thi công bình, bác ái, yêu thương và san sẻ, khi quyết tâm thay đổi tính khí xung giận hận thù, là tôi đang chân thành mở ngỏ đón mừng Đấng Cứu Thế ngự đến, là khơi dòng cho nguồn bình an tuôn tràn đến người thiện tâm, và làm cho thiên đàng thật sự chớm nở nơi trần thế.

Người Nhật thường kể cho nhau nghe câu chuyện về một hiệp sĩ Samurai hung bạo, cộc cằn không ai bằng.  Một hôm chàng ta đến gặp một vị thiền sư và nói:

– Xin hãy chỉ cho tôi biết thiên đàng là gì và hoả ngục là gì?

Vị thiền sư đưa mắt nhìn con người thô bạo từ đầu đến chân rồi thất vọng trả lời:

– Dạy cho ngươi biết thế nào là thiên đàng và thế nào là hoả ngục ư?  Ta không thể dạy cho ngươi bất cứ điều gì cả.  Vì ngươi là một kẻ hung bạo, thô lỗ.  Ngươi là nỗi tủi nhục cho hàng ngũ hiệp sĩ Samurai.  Hãy cút khỏi mặt ta.  Ta không chịu được ngươi nữa.

Nghe những lời sỉ vả ấy, chàng hiệp sĩ nổi nóng, liền rút gươm định chém đầu vị thiền sư.  Nhưng vị này giơ tay ngăn lại và nói:

– Hỏa ngục là thế đó!

Chợt nhận ra đây là bài học thực tiễn của nhà tu hành, chàng hiệp sĩ vội dừng tay.  Sự hối hận bỗng đâu dâng tràn tâm hồn, chàng ta hiểu rằng vị thiền sư muốn hy sinh cả mạng sống để dạy cho mình bài học về hoả ngục.  Thế rồi chàng từ từ hạ gươm xuống, cho vào bao, đoạn đến quì gối trước mặt vị thiền sư với tất cả sự thành tâm sám hối.  Vừa nâng chàng dậy, vị thiền sư vừa nhìn sâu vào đôi mắt của chàng và nói:

– Thiên đàng là thế đó! 

Thiên đàng đã hiện hữu nơi cõi thế.  Đấng Cứu Thế đã đến trần gian.  Một Hài Nhi đã sinh ra đời.  Nhưng, nếu không biết thành tâm sám hối, đổi mới thái độ, làm sao người ta có thể cảm thấu được hạnh phúc thiên đàng là gì, Chúa Hài đồng là ai, hay niềm vui cứu độ là chi.  Phải chăng vì bao lâu nay tính nóng nảy, giận hờn, ích kỷ, và nhất là vì thiếu hành vi sám hối mà người ta đã gây ra không biết bao nhiêu quang cảnh tan nát, lưu đày, hoả ngục cho chính mình và cho tha nhân?

Nhưng nếu biết sống an hoà với mọi người, biết chia sẻ cứu giúp những ai bần cùng khốn khó, biết chế ngự thói xấu tật hư, biết hướng lòng lên với trời cao bằng kinh nguyện và lời tri ân, thì như lời Thánh Phaolô đoan quyết, “bình an của Thiên Chúa sẽ gìn giữ lòng trí của anh em trong Đức Giêsu Kitô” (P1 4:7)

Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm.

Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn

4 ĐIỀU KỲ DIỆU VỀ ĐỨC MẸ GUADALUPE

Vào ngày 12 tháng Mười Hai hàng năm, Giáo hội mừng lễ Đức Mẹ Guadalupe, đánh dấu ngày 9/12/1531, khi Đức Mẹ hiện ra ở Mexico với một nông dân 57 tuổi tên Juan Diego.  Khi ấy Juan Diego đang đi bộ đến khu vực mà nay là thành phố Mexico (đồi Tepeyac), thì ông thấy Đức Mẹ hiện ra.

Để chứng minh cho Đức Tổng Giám mục những gì ông đã thấy, Đức Mẹ bảo ông leo lên đỉnh đồi để hái hoa.  Khi lên tới nơi, Juan Diego tìm thấy những bông hoa hồng Castilian, vốn không nở vào mùa này và cũng không phải là loài sống được nơi đây.

Đức Mẹ đã sắp xếp số hoa tìm được vào chiếc áo tilma bằng sợi xương rồng của Juan.  Và khi ông đến dinh thự của giám mục, mở chiếc áo choàng ra thì hoa rơi xuống sàn, trên bề mặt áo bỗng xuất hiện hình ảnh Đức Mẹ mà ngày nay được gọi là “Đức Mẹ Guadalupe.”  Chiếc áo tilma với hình ảnh Đức Mẹ chỉ trong vòng 7 năm đã tác động lên hàng triệu người, khiến họ chuyển sang đạo Công giáo.

Bên cạnh đó, chiếc áo hiện được trưng bày tại Vương cung thánh đường Đức Mẹ Guadalupe ở thành phố Mexicô, Mexicô còn có nhiều điều lạ lùng mà các khoa học gia chưa thể giải thích.

Dưới đây là 4 sự thật đáng kinh ngạc về chiếc áo tilma in hình Đức Mẹ.

1) Chất liệu và màu sắc đặc biệt mà loài người không thể tái tạo

Chiếc áo tilma được làm chủ yếu từ sợi cây xương rồng, một chất liệu có chất lượng rất kém và bề mặt thô ráp.  Vì thế rất khó để mặc chúng, và thậm chí còn khó hơn nếu muốn giữ được hình ảnh đã vẽ lên vải.  Tuy thế, hình ảnh Đức Mẹ trên tấm áo tilma nói trên vẫn còn cho đến ngày nay.  Các nhà khoa học nghiên cứu vải tấm nhấn mạnh rằng, bề mặt tấm vải đã không được xử lý bằng bất kỳ kỹ thuật nào.  Bề mặt trên tấm tilma có in hình Đức Mẹ khi chạm vào thì mềm như lụa, trong khi những phần còn lại tilma vẫn thô ráp.

Hơn nữa, các chuyên gia nhiếp ảnh hồng ngoại nghiên cứu vào cuối những năm 1970 xác định rằng, trên chiếc tilma không có bất kỳ nét cọ nào (hoàn toàn không), như thể ảnh Đức Mẹ được sát nhập vào làm một với tấm vải.  Tiến sĩ Phillip Callahan, một nhà sinh lý học tại Đại học Florida phát hiện ra rằng, khi đưa bức ảnh ra xa một chút thì có sự khác biệt về diện mạo của kết cấu và màu da của Mẹ, mà con người không thể tái tạo được:

“Kỹ thuật đó không thể là do bàn tay con người làm nên.  Nó chỉ thường xảy ra trong tự nhiên, như màu của lông chim hay cánh bướm và những màu tươi tắn trên bọ cánh cứng…  Nếu từ từ lùi ra xa bức ảnh, đến một khoảng cách nhất định thì các sắc tố tự nhiên và bề mặt có in hình Đức Mẹ sẽ hòa quyện vào với nhau, vẻ đẹp tuyệt vời nơi chân dung Đức Trinh Nữ có màu của trái olive hiện ra như thể đó là ma thuật.”

Ngoài ra, tấm vải có in hình Đức Mẹ còn thay đổi nhẹ màu sắc tùy vào góc nhìn của người xem.  Màu sắc của bức ảnh cũng không thể tìm thấy nơi các loài động vật hay trong các nguyên tố khoáng chất (vào năm 1531, chưa có màu tổng hợp), khiến nhiều câu hỏi chưa có lời giải đáp.

2) Mọi người cho đây chỉ là một bức vẽ, nhưng chiếc áo tilma ấy đã đánh bại mọi bức vẽ bản sao cả về thời gian lẫn chất lượng

Mỗi khi có ai muốn tạo ra một bản sao để thay thế bức ảnh gốc, thì kết quả là bản sao ấy sẽ nhanh chóng phai mờ, trong khi bản gốc dường như không bao giờ phai.  Miguel Cabrera, một nghệ sĩ sống giữa thế kỷ 18, người đã sao chép ra ba trong số những bản sao nổi tiếng nhất (một dành tặng Tổng giám mục, một dành tặng Đức giáo hoàng và một cho chính ông) đã từng viết về sự khó khăn trong việc sao chép bức ảnh, dù là với những chất liệu tốt nhất:

Ông nói: “Tôi tin rằng dù một họa sĩ tài năng và cẩn thận nhất đi chăng nữa, nếu anh ta sao chép bức ảnh thánh thiêng này trên tấm vải vẽ có chất lượng kém [như chiếc áo tilma gốc], thì dẫu anh có cố gắng khó nhọc đến mấy để họa lại 4 chất liệu trên bức ảnh, thì cuối cùng cũng phải mệt mỏi thừa nhận rằng mình không thể làm được.  Điều này có thể được chứng minh rõ ràng qua rất nhiều bản sao đã được tạo nên, nhờ vào lợi thế của việc sử dụng véc-ni, tấm vải vẽ được chuẩn bị cẩn thận nhất và chỉ sử dụng một chất liệu là dầu – môi trường thuận lợi nhất cho việc vẽ tranh…”

Tiến sĩ Adolfo Orozco, nhà nghiên cứu và nhà vật lý học tại Đại học Quốc gia Mêxicô, vào năm 2009 đã so sánh việc chiếc áo tilma được bảo quản quá hoàn hảo so với những bản sao của nó.  Ví dụ, một bản sao năm 1789 được vẽ trên một bề mặt tương tự với các kỹ thuật tốt nhất vào thời điểm đó, sau đó bản sao được bọc kính và lưu trữ bên cạnh chiếc áo tilma gốc.  Lúc đầu, trông bản sao thì đẹp khi mới sơn, nhưng chỉ 8 năm sau với khí hậu nóng ẩm của Mêxicô, người ta đã phải gỡ bỏ bản sao này bởi màu sắc đã phai mờ và có những vết nứt.

Tuy nhiên, Tiến sĩ Orozco cho biết, không có bất kỳ lời giải thích khoa học nào lý giải cho sự thật là “chiếc áo tilma gốc đã được trưng bày ngoài trời trong gần 116 năm mà không có bất kỳ biện pháp bảo vệ nào.  Tấm áo đã hấp thu tất cả những tia hồng ngoại và tia cực tím phát ra từ hàng chục ngàn ngọn nến gần đó, đồng thời tiếp xúc với không khí ẩm ướt và mặn trong ngôi đền.”

3) Chiếc áo tilma giống như một cơ thể sống

Năm 1979, khi Tiến sĩ Callahan phân tích áo tilma bằng công nghệ hồng ngoại, ông cũng phát hiện ra rằng chiếc áo luôn duy trì một nhiệt độ không đổi là 98,6 độ F (tương đương 36,6 – 37 độ C), giống như nhiệt độ của một cơ thể sống.

Khi bác sĩ Carlos Fernandez de Castillo, một bác sĩ phụ khoa Mêxicô, kiểm tra áo tilma, đầu tiên ông thấy một bông hoa bốn cánh nằm ở vị trí là dạ con của Mẹ Maria.  Người Aztec gọi loài hoa này là Nahui Ollin, đây là biểu tượng của mặt trời và còn là biểu tượng của sự sung túc.  Sau khi kiểm tra kỹ lưỡng hơn, tiến sĩ Castillo kết luận rằng kích thước của cơ thể Đức Mẹ Guadalupe trong bức ảnh, tương tự với kích thước của một bà mẹ mang thai.  (ngày 9/12, ngày Đức Mẹ hiện ra với Juan, chỉ hai tuần lễ trước Giáng sinh…).

Cuối cùng, một trong những phát hiện nổi tiếng nhất, đó là những khám phá nằm trong đôi mắt của Đức Mẹ trong bức ảnh.  Tiến sĩ Jose Alte Tonsmann, một bác sĩ nhãn khoa người Peru đã tiến hành một nghiên cứu, và một trong những thí nghiệm của ông là phóng đại 2.500 lần hình ảnh đôi mắt Đức Mẹ.  Với hình ảnh phóng đại này, nhà khoa học này phát hiện có hình ảnh 13 người ở cả hai mắt với các tỷ lệ khác nhau, giống như mắt của con người khi nhìn sự vật gì đó.  Đôi mắt dường như đã chụp lại cảnh tượng khi thánh Juan Diego trải chiếc áo tilma của mình ra trước mắt vị Tổng giám mục.

4) Bức ảnh dường như không thể bị phá hủy

Qua nhiều thế kỷ, có hai sự kiện đã đe dọa sự nguyên vẹn của chiếc áo tilma.  Một xảy ra vào năm 1785 và một vào năm 1921.  Năm 1785, khi một công nhân đang lau dọn bề mặt kính của bức ảnh, ông đã vô tình làm tràn 50% dung dịch a-xít nitric lên phần lớn bức ảnh.  Vì thế, hình ảnh Đức Mẹ và những nơi còn lại của áo tilma ngay lập tức bị dung dịch ăn mòn gần hết.  Tuy nhiên sau 30 ngày, bức ảnh tự phục hồi và còn nguyên vẹn cho đến này nay, ngoại trừ các vết bẩn nhỏ trên tấm vải không in hình Đức Mẹ.

Năm 1921, một nhà hoạt động chống giáo sĩ đã giấu một quả bom có chứa 29 thanh thuốc nổ trong một lọ hoa hồng, và đặt nó trước bức ảnh bên trong Vương cung thánh đường ở Gadalupe.  Khi quả bom phát nổ, hầu như tất cả mọi thứ từ bàn thờ bằng đá cẩm thạch, sàn nhà cho tới cửa sổ cách đó 150m đều bị vỡ… nhưng bức ảnh và khung kính xung quanh vẫn không ảnh hưởng gì.  Thiệt hại duy nhất xảy ra gần với áo tilma là một cây thánh giá bằng đồng thau bị xoắn và uốn cong bởi vụ nổ.

Anna Huê (theo Church Pop)

ÐỂ TỰ DO VÀ HẠNH PHÚC HƠN

Bỗng nhác thấy bóng ngựa phóng qua. Kẻ trên lưng ngựa chính là người bạn thủa xưa cùng nhau tầm thầy học đạo. Cất tiếng gọi, mà bóng ngựa cứ nước kiệu phóng đi như bay. Băn khoăn về người bạn cũ thủa nào.  Nhà đạo sĩ lên đường xuôi phương nam tìm ngọn núi có am thất của kẻ đồng môn. Tới nơi, nhân gian cho ông biết am thất không còn ai trông coi. Kẻ trụ trì đã chết rồi. Tính ra, đúng ngày mà có bóng ngựa đi qua.

Ngày xưa hai người có một lời hứa: Ai chết trước sẽ về báo cho kẻ ở lại biết thế giới bên kia thế nào. Phải chăng bóng ngựa là hồn người bạn cũ?

Ðêm đó, bên rừng am thất, bỗng có người cầm tay nhà đạo sĩ dắt đi. Quay nhìn, chính hồn người bạn cũ hiện về.

       –     Này, bạn cũ, xin nói cho tôi biết thế giới bên kia thế nào.

Hồn người chết lẳng lặng kéo nhà đạo sĩ theo mình. Qua khu rừng, rồi một hoang địa. Có tiếng nói từ đâu đó:

        –   Ði về phía đông mươi trượng, vào đường hầm. Ði xuống trăm bước.

Ði lên. Về phía nam.
Thoát chốc, hồn người bạn cũ biến mất, bất ngờ như khi hiện đến.
Mơ hồ như trong giấc ngủ mộng mị. Con đường về thế giới bên kia bắt đầu. Hồn nhà đạo sĩ theo tiếng gọi huyền bí dẫn đi. Qua nhà, qua cửa. Ông nghe có tiếng cầu kinh. Trời đổ mưa. Ngoài cánh đồng có người làm việc. Hoàng hôn lên, bình minh xuống. Bé thơ ngồi xem mẹ xay bột bên khuông cửa. Êm ả, một đời sống thanh bình. Ông hỏi tiếng vọng:

       –     Thiên đàng đâu?

Một quang cảnh tương tự như cuộc sống bình thường chung quanh ông trên dương thế đang diễn ra. “Ðó, ông đang đi qua thiên đàng đó.” Nhà đạo sĩ không thấy chi thần tiên như người ta nói, không có các vũ công vũ khúc nghê thường. Không có yến tiệc linh đình. Một sinh hoạt như cuộc sống trên dương thế của ông thôi. Kì lạ quá. “Thiên đàng có vậy thôi sao? Còn hỏa ngục thế nào?” Ông ngạc nhiên về những hình ảnh thiên đàng, hỏa ngục mà ông vẫn dạy trong những bài thuyết giảng của mình.
Qua thiên đàng rồi, tiếng vọng dẫn ông sang một thế giới khác. Chập chờn, ông lạc vào một vùng như hoang tưởng. Chung quanh ông là những tòa nhà sang trọng. Có những toán người ca hát nhẩy múa thâu đêm suốt sáng. Yến tiệc bày biện tưng bừng. Chỗ nào ông cũng thấy xa hoa, phấn hương. “Có phải đây mới là thiên đàng chăng?” Ông ngạc nhiên không hiểu nơi này là gì mà hạnh phúc phúc thế. Nhưng có tiếng bí mật trả lời ông: “Không! đây là hỏa ngục!” Qua sảnh đường, ông nhác thấy có người quen, chính hồn người bạn cũ năm xưa! Ông ta đang ngậm miệng cố nuốt những dòng rượu chảy nhễ nhãi. Chung quanh sàn nhà cẩm thạch, đoàn vũ nữ nhẩy múa. Nhóm người khác đang chia nhau tiền bạc. Tiền đâu mà nhiều thế. Họ đếm thâu đêm suốt sáng không hết. Chỗ nọ, đoàn nhạc công mồ hôi nhễ nhãi oằn oại trên tiếng đàn. Họ ăn chơi không ngơi nghỉ. “Thế này nghĩa là gì? Ðâu là thiên đàng? Ðâu là hỏa ngục?”

*********************

Ðược giác ngộ, nhà đạo sĩmới thấy những gì hiểu về thiên đàng, hỏa ngục của ông xưa kia non nớt quá. Ôngvẫn nghĩ rằng thiên đàng là nơi không phải làm việc, chỉ có ăn chơi, tung tăngnhàn hạ suốt ngày. Hỏa ngục là nơi cực hình, không có ăn chơi, chỉ quần quậtlàm việc. Bây giờ trái ngược lại. Nhưng ông đã hiểu. Cái bi thương hệ tại làthiên đàng có tự do, hỏa ngục là đường một chiều, không có chọn lựa.

Ông thấy người bạn cũsống trong căn nhà lộng lẫy, không phải làm việc gì, chung quanh là nhạc khúcdập dình. Mới đầu ông nghĩ thế thì hạnh phúc quá. Nhưng hồi lâu, lâu nữa, mộtngày, hai ngày, rồi một năm, hai năm, nếu dòng rượu cứ suốt ngày đêm tuôn chảyvà người bạn cũ của ông cứ phải oằn oại uống như thế suốt năm này qua năm nọthì sao? Ông ớn đến lạnh người. Nhìn chung quanh, ông thấy quả là một thế giớikinh hoàng. Tốp người đang khiêu vũ kia cứ oằn oại trong điệu nhạc, ngày nàyqua ngày nọ. Họ không được đi đâu, không phải làm gì, đời họ bây giờ chỉ làkhiêu vũ, ngày, đêm. Ông đứng nhìn những khuôn mặt thất thần. “Họ đã ở đây baolâu? Họ đã phải đếm tiền thế kia từ thế kỉ nào?” Chung quanh ông không còn làhạnh phúc vì tiếng đàn, vì những khăn bàn bằng lụa quý, những chén ngà chạmvàng nữa. Ông thấy một thế giới cô độc khủng khiếp. Nhìn người bạn cũ, ông thấyđôi mắt đỏ ngàu, lờ đờ. Môi miệng sưng lên, nhưng ông ta không nghỉ được, dòngrượu cứ chảy và ông cứ ừng ực mà uống.

*********************

Những ngày còn lại cuốiđời của nhà đạo sĩ, ông nhìn lại những lời giảng thuyết của ông ngày xưa thếnào là hạnh phúc, thế nào là đau khổ. Ông thấy những suy tư ấy non yếu quá.Trầm ngâm hơn, ông viết cho người môn sinh của mình về thiên đàng và hỏa ngụcnhư sau:

Con thân mến,
Thiênđàng là nối tiếp hạnh phúc chúng ta sống trên cõi trần. Hỏa ngục là xây tiếpnhững nô lệ nội tâm chúng ta đang xây dở dang.

Con đừng cầu xin ThượngÐế cho con bất hạnh đời này để được hạnh phúc đời sau. Con phải nỗ lực vươn lênmà loại bớt bất hạnh. Thượng Ðế không muốn con người đau khổ. Ðến trong trầngian, Ðức Kitô cho người đói ăn, người què đi, người mù nhìn thấy, người phunghủi được sạch, người chết sống lại. Ðau khổ, tự nó là điều xấu. Ngài khôngmuốn. Con hãy xin Thượng Ðế cho con hạnh phúc đời này, như hình ảnh báo trướcmột hạnh phúc thật bao trùm đời sau. Và hãy hết sức làm đẹp thế giới con đangsống chung quanh bằng con đường xây dựng hòa bình, công chính, yêu thương đểcon người cảm thấy vị ngọt hạnh phúc mai sau sẽ dạt dào thế nào.

Con đừng vì lười biếngkhông nỗ lực xây dựng cuộc sống hạnh phúc hôm nay rồi tự an ủi hứa thiên đànglà hạnh phúc tương lai.

Hỏa ngục không là hìnhphạt Thượng Ðế sắm sẵn như một nhà tù xây nên rồi chờ xem ai lỗi phạm thì bắtvào. Hỏa ngục cũng giống thiên đàng, cuộc sống ấy là kéo dài những dở dang củacon người trong cuộc sống hôm nay. Nếu dang dở ấy là hạnh phúc thì con sẽ hạnhphúc tiếp đời sau, đó là thiên đàng. Nếu dang dở ấy là bất hạnh thì đời sau làbất hạnh tiếp cái dang dở ấy, đấy là hỏa ngục. Con hoàn toàn lựa chọn cho mình.Căn nhà hạnh phúc con đang xây dở thì khi chết rồi, con sẽ tiếp tục xây hạnhphúc ấy. Con xây ngục thất, thì khi chết rồi con sẽ phải tiếp tục xây cái ngụctù dở dang của bất hạnh đó.

Tội là con đưa một đam mêlên thành lí tưởng để theo. Hạnh phúc là sự hài hòa của mọi thứ say mê.

Tình yêu, tình dục, lòngthèm muốn, ghen tương, nhan sắc, tiền bạc, giận hờn, sức khỏe, trí tuệ, vậtchất, tinh thần… tất cả làm nên con người chúng ta. Hạnh phúc là khi ta quânbình và hài hòa nó. Chẳng hạn như nhan sắc, đó là nghệ thuật, nó đem hạnh phúccho người, cho mình. Nhưng nó phải hài hòa trong nhân đức, thật thà, đoantrang. Khi con người để nhan sắc thành lí tưởng cao nhất để theo thì giống nhưmột bức tranh thêu, nhan sắc sẽ tiêu diệt những đường chỉ thêu khác. Lúc ấy lòngthương xót sẽ chết trước cửa nhà người nghèo khó, lòng bao dung chìm dần, niềmtự kiêu dâng lên. Con sẽ dùng mọi tiền bạc cho tấm thân thôi, những tốn phí cóthể lỗi công bình, vì con không còn lòng thương xót cho những kẻ phải sốngkhông đúng phẩm giá con người chỉ vì nghèo. Không có một chút ghen, có lẽ cuộcsống cũng khô khan lắm. Không có tình dục, con người sẽ đi về đâu. Giận hờncũng thế, nó cho người ta những giây phút “đau thương êm ái.” Nhưng chúng phảihài hòa.

Con thấy đó, hỏa ngục lànơi không còn hài hòa. Kẻ nhẩy múa là thâu đêm suốt sáng nhẩy múa. Kẻ uống rượulà phải uống triền miên. Khi sống, họ chọn một đam mê rồi đưa lên thành lítưởng để theo, thì khi chết họ cũng theo lí tưởng đó mà sống. Hỏa ngục hệ tạilà đó.

Tội làm con người mất hạnh phúc. Nhưngmất hạnh phúc bằng cách nào? Tội là thần tượng một đam mê. Khi một đam mê lêncao thành thần tượng thì nó thống trị mọi suy tư khác. Kẻ ấy lúc nào cũng bị ámảnh bởi đam mê đó. Ðam mê độc tài này đẩy con người vào hành động. Lúc ấy, conngười mất tự do. Bị đam mê điều khiển thì cuộc sống thành đường một chiều. Trênđường một chiều này, hễ ca múa là thâu đêm suốt sáng ca múa. Hễ say đắm tìnhdục thì ngụp lặn trong dục tính. Hài hòa bị tan vỡ. “Nô lệ là kẻ để cho bất cứsự gì đó thống trị mình” (2 Phêrô 2:19).

Hạnh phúc, đau khổ lànhững định nghĩa đơn sơ thôi. Thiên đàng và hỏa ngục ở khắp nơi trên cõi thếnày. Bởi đó, con không cần mong người sau hiện về nói cho biết. Chính KinhThánh cũng chẳng cho ai từ cõi chết về để nói về thiên đàng, hỏa ngục. Ðây làthế giới riêng tư của mỗi người, thì làm sao con biết thiên đàng của kẻ khácđược? và con cũng đâu cần điều ấy, phải vậy không? Cúi hỏi tâm hồn mình, nhìnxem có đam mê nào con đang đưa lên thống trị suy tư, hành động trong đời sốngcủa con. Nơi đó con sẽ thấy thiên đàng hay hỏa ngục.


*********************

Khi của cải bị cô lậpmột mình, xa cách sự độ lượng, lòng thật thà, tâm tình bao dung, thì nó khôngcòn bè bạn. Nó trở nên độc tài. Nó trả thù lại kẻ đã cắt đi những liên hệ mà nóphải có. Nghi ngờ đi với thành thật và độ lượng sẽ thành khôn ngoan. Có sứcmạnh nhưng thiếu tâm hồn sẽ thành hung bạo. Tình dục đi với lề luật sẽ phongphú tình yêu. Tự bản chất, tất cả nó đã được sinh ra trong những liên hệ hàihòa ấy. Khi ta chọn một mà thôi đời sống sẽ nghiêng đổ.

Nhà đạo sĩ thấy nơi ôngđi qua mà tiếng nói nhiệm mầu bảo ông là thiên đàng, có gì đặc biệt đâu. Cũngđồng lúa. Có mưa và nắng. Có người tát nước bên dòng sông. Chính trong cái bìnhthường ấy mà ông đã đi tìm định nghĩa thiên đàng như một thế giới xa lạ, rực rỡxa hoa. Ông không nhìn thấy thiên đàng hay hỏa ngục ngay dưới chân mình. Trongcuộc đời, bao người đã đi hết miền đất này tới miền đất kia tìm thiên đàng hạgiới. Nhưng họ cứ tìm mãi mà đời cứ mênh mông, không gặp.

Bây giờ ông hiểu ý sâu xamà tiếng nói nhiệm mầu dạy ông. Thiên đàng là sự tự do nội tâm. Ông đã viếtxong lời cuối, muốn gởi người môn sinh. Ông muốn nhắc cho người môn sinh hỏangục là tiếp tục cái thú vui độc đoán lúc còn sống, như người mê rượu sẽ suốtngày đêm phải uống rượu tiếp, người mê nhẩy múa sẽ suốt tháng cứ nhẩy múa liênmiên, kẻ mê tiền thì khi chết rồi không được làm gì cả cứ đếm tiền hết năm nàyqua năm nọ. Ðọc lại những gì đã viết, ông chả thấy có gì mới cả. Kinh Thánh đãnói đến rồi. “Nếu họ không tin lời của Môsê và các tiên tri, thì người chết cósống lại, họ cũng chẳng chịu tin đâu” (Lc. 16:31). Rồi, ông lặng lẽ cất đinhững gì đã viết, không gởi cho người môn sinh nữa.

NGUYỄN TẦM THƯỜNG
Trích tập suy niệm MÙA CHAY và CON SÂU BƯỚM

VƯƠNG QUỐC TÌNH YÊU


Ngày 15-4-1996, linh mục GeorgeParker, giám quản xứ thánh Giuse thuộc giáo phận Norwich ở Connecticut Hoa Kỳ, đã trả lại số tiền $5,000.00 đô la của nghị sĩ Christopher J. Dodd giúp cho trường học của giáo xứ.  Cha Parker làm thế để phản đối nghị sĩ Dodd mang danh Công giáo, nhưng lại liên tục bỏ phiếu ủng hộ các dự luật phá thai.  Cha Parker gọi số tiền của Dodd là “số tiền vấy máu hài nhi vô tội”.  Người không ngần ngại gọi Dodd là “môn đệ của thần chết”.

Việc làm của cha khiến nhiều  người cảm kích, dân chúng đã gởi về giúp trường học $61,000.00 đô la.  Nhiều tổ chức binh vực sự sống, và nhiều cơ quan truyền thông bày tỏ sự ngưỡng mộ ngài.

Trớ trêu thay không một linh mục nào trong giáo phận Norwich bênh vực hành động kiên cường ấy.  Không ai dám công khai phê phán việc làm của nghị sĩ Dodd.  Đau đớn hơn nữa, chính đức cha Daniel Ạ Hart vì áp lực của nghị sĩ Dodd đã cho ngài ngưng việc coi xứ.  Đến nước này ngài chỉ biết xin về hưu.  Đức Cha Hart viết thư cho ngài như sau:  “Tôi rất tiếc là cha đã xin về hưu với tâm trạng bị xử bất công.  Tôi cầu nguyện cho sự đau khổ này sẽ kết hợp cha với Đức Kitô một cách trọn vẹn hơn, nhờ Người mà cha tìm được niềm vui”.

*********************

Câu chuyện trên đây sẽ giúp chúng ta hiểu rõ tâm trạng của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay.  Thánh Gioan viết:  “Sắp đến lễ Vượt Qua, rất nhiều người đi Giêrusalem…  Họ đang tìm Đức Giêsu và hỏi nhau:  “Chắc ông ấy chẳng đến dự lễ đâu!”  Còn bọn tư tế và Biệt phái đã ra lệnh:  “Bất cứ ai biết ông ấy ở đâu thì phải báo cho họ đến bắt” (Ga 11,55-57). Vậy Đức Giêsu vào thành Giêrusalem với tâm trạng của một kẻ bị truy nã, một kẻ có tên trong sổ bìa đen.

Nhưng Người vẫn công khai vào thành, không một chút sợ hãi.  Người cỡi trên lưng lừa con để thực hiện lời tiên tri Dacaria:  “Này Vua ngươi đến, đầy vẻ dịu dàng, cỡi lừa, lừa con của lừa mẹ” (Dcr 9,9).  Đức Giêsu muốn chứng tỏ Người là Đấng Mêsia, vị Cứu tinh, Vua hiền từ:  Một vị Vua chiến thắng bằng cái chết trên thập giá, khác với chiến thắng bằng vũ lực của các vua trần thế ngồi trên lưng ngựa.

Dân chúng trải áo, lấy lá lót đường, hoan hô chúc tụng Người như một vị vua chiến thắng, đấng Cứu tinh của dân tộc, đuổi lũ quân Rôma ra khỏi vùng Palestina, xô nhào chúng ra biển, tái lập vương quyền vua David.  Trái lại, Đức Giêsu đã cưỡi con vật hiền lành tiến vào Giêrusalem, hành động này đã đi ngược lại quan niệm của họ, nên không lạ gì họ đã hùa theo nhóm Biệt phái, kết án tử hình cho Người chỉ vài ngày sau đó.

Cha Parker đã không chấp nhận thỏa hiệp với thế gian, với tội lỗi.  Người đã giữ đúng vai trò tiên tri, chấp nhận lội ngược dòng, cho dù phải chịu đau khổ và bị bỏ rơi để nên giống Thầy Giêsu.

Đức Giêsu không xua quân đi giao chiến với các dân tộc.  Nhưng đã quy tụ mọi người chiến đấu với nghèo đói, bất công và thù hận.

Đức Giêsu không đến để kết án và hủy diệt kẻ khác.  Nhưng đã thứ tha và băng bó những vết thương tâm hồn.

Đức Giêsu không ngồi trên ngai vàng để dân chúng hầu hạ.  Nhưng đã qùy xuống rửa chân cho các thần dân.

Đức Giêsu không đến để thiết lập một vương quốc trần gian tạm bợ.  Người đến để xây dựng một vương quốc vĩnh hằng, vương quốc tình yêu ngay trong lòng mọi người.

*********************

Lạy Chúa, người đời đón rước Chúa vào thành Giêrusalem, để rồi lại kết án Chúa ngay trong thành thánh. Xin cho chúng con đừng bao giờ thỏa hiệp với thế gian, nhưng cho chúng con can đảm theo Chúa đến chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, để được sống lại với Chúa trong đêm Phục Sinh khải hoàn.  Amen!

Thiên Phúc

CÁCH SỐNG THÁNH MÙA VỌNG

Mùa Vọng đã về.  Đó là thời gian chuẩn bị mừng Lễ Giáng Sinh – Sinh Nhật Đức Giêsu Kitô, Đấng Thiên Sai và Đấng Cứu Độ.  Niềm vui Lễ Giáng Sinh tùy vào cường độ mà chúng ta sống Mùa Vọng.  Chúng ta hãy làm theo các gợi ý cụ thể và sống Mùa Vọng với niềm vui mừng, cầu nguyện, yêu thương và cương quyết.  Hãy sống Mùa Vọng này như thể là Mùa Vọng cuối cùng trong cuộc đời mình.  Hãy mạnh mẽ lên!  Chúa Giêsu luôn nhắc chúng ta tỉnh thức, sẵn sàng và chuẩn bị cho cuộc tái lâm của Đức Kitô, bởi vì chúng ta chẳng biết lúc nào.

Đây là 5 gợi ý hữu ích để chúng ta làm cho Mùa Vọng này là Mùa Thánh Đức:

1/ Duy Trì Thinh Lặng

Hãy nhớ cuộc gặp gỡ của ngôn sứ Êlia với Thiên Chúa trên núi và trong thinh lặng: “Người nói với ông: ‘Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt Đức Chúa.  Kìa Đức Chúa đang đi qua.’  Gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không ở trong cơn gió bão.  Sau đó là động đất, nhưng Đức Chúa không ở trong trận động đất.  Sau động đất là lửa, nhưng Đức Chúa cũng không ở trong lửa.  Sau lửa có tiếng gió hiu hiu.  Vừa nghe tiếng đó, ông Ê-li-a lấy áo choàng che mặt, rồi ra ngoài đứng ở cửa hang.  Bấy giờ có tiếng hỏi ông: ‘Ê-li-a, ngươi làm gì ở đây?’  Ông thưa: ‘Lòng nhiệt thành đối với Đức Chúa, Thiên Chúa các đạo binh, nung nấu con, vì con cái Ít-ra-en đã bỏ giao ước với Ngài, phá huỷ bàn thờ, dùng gươm sát hại các ngôn sứ của Ngài.  Chỉ sót lại một mình con mà họ đang lùng bắt để lấy mạng con” (1 V 19:11-13).

Hãy cố gắng loại bỏ những thứ không cần thiết và dành những phút thinh lặng cho Thiên Chúa.  Hãy “lên núi” và thinh lặng để lắng nghe Ngài, đừng chia trí vì những loại ô nhiễm nào khác.

2/ Cầu Nguyện Liên Lỉ

Hãy dành nhiều thời gian cầu nguyện trong Mùa Vọng Thánh này.  Giáo hội khuyến khích chúng ta gia tăng cầu nguyện hàng ngày.  Có nhiều cách cầu nguyện, đây là vài cách khả thi hữu ích:

  • Kinh Phụng Vụ.
  • Thánh Vịnh – cách cầu nguyện bằng Kinh Thánh.
  • Giờ Thánh, đọc và suy niệm Lời Chúa.
  • Thánh Lễ – cách cầu nguyện đặc biệt.
  • Khẩu nguyện – đọc thật chậm, chú ý tới lời kinh với lòng yêu mến.
  • Xét mình nghiêm túc.
  • Kinh Mai Côi – cuốn Kinh Thánh rút gọn.

Chiêm ngưỡng Hang Đá, theo bước các mục đồng,… Những điều này có thể hữu ích thêm vào việc cầu nguyện, đọc sách thiêng liêng (sách đạo đức).  Có nhiều cách, nhưng hãy chọn cách tốt nhất cho chính mình!

 3/ Giúp Đỡ Người Nghèo

Trong Mùa Vọng này, có thể bạn tìm được cách phục vụ Chúa Giêsu nơi người nghèo.  Hãy nhớ rằng chính Chúa Giêsu hiện thân nơi người nghèo.  Mẹ Thánh Teresa Calcutta nói rằng chúng ta nên tìm kiếm Chúa Giêsu nơi người nghèo.  Hãy đọc trình thuật Mt 25:31-46 – cuộc phán xét chung.  Chúa Giêsu cho thấy rằng cuộc phán xét cuối cùng được dựa trên đức ái – cách chúng ta đối xử với người nghèo.  Đừng bao giờ quên điều này: Bác Ái Bắt Đầu Từ Gia Đình.

4/ Tham Dự Thánh Lễ

Trong Mùa Vọng này, hãy cố gắng tham dự Thánh Lễ hàng ngày.  Nếu bạn làm được như vậy, bạn có thể tiến tới một hoặc hai bước khác, hơn cả những gì bạn đang làm.  Cố gắng đi lễ sớm để chuẩn bị đón nhận Chúa Giêsu Thánh Thể vào “Hang Belem” của bạn – gọi là Nhà Bánh, tức là cõi lòng của bạn.  Hãy cố gắng khuyến khích các thành viên trong gia đình và bạn bè cùng gặp gỡ Chúa Giêsu qua Bí tích Thánh Thể.  Thánh Anrê tông đồ đã đưa người khác đến gặp Chúa Giêsu, bạn cũng được mời gọi đưa người khác đến với Chúa Giêsu, Chiên Thiên Chúa và Đấng cứu độ nhân loại.  Thật vậy, Chúa Giêsu là ngọc quý và là kho tàng vô giá. Hãy chia sẻ Ngài với người khác!

5/ Noi Gương Đức Mẹ

Trong cuốn sách “True Devotion to Mary” (Tôn Sùng Đức Maria, số 108), Thánh Louis de Montfort chỉ ra 10 nhân đức của Đức Mẹ: khiêm nhường, tín thác, tuân phục tuyệt đối, cầu nguyện không ngừng, luôn từ bỏ mình, khiết tịnh, yêu mến, kiên trì, tử tế, và khôn ngoan.

Hãy chọn một hoặc hai trong số các nhân đức của Đức Mẹ, cầu xin Mẹ cầu giúp nguyện thay để chúng ta noi gương Đức Mẹ. Trong Mùa Vọng này, hãy nỗ lực cụ thể là sống các nhân đức.  Đức Mẹ là con đường ngắn nhất, mau nhất và dễ dàng nhất để đến với Thánh Tâm Chúa Giêsu: Ad Jesum Per Mariam – Nhờ Mẹ Đến Với Chúa Giêsu.

Lm Ed Broom (OMV – Oblates of the Virgin Mary – Dòng Tận Hiến Trinh Nữ Maria)
Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

ĐI VÀO SA MẠC CỦA NGHÈO KHÓ VÀ SIÊU THOÁT

Tin Mừng hôm nay giống như một bức tranh với hai cảnh trí đối nghịch nhau.  Trên một cái phông lờ mờ, chúng ta như thấy được cảnh đô thị giàu sang nơi ngự trị của hoàng đế Lamã, người đại diện của ông là tổng trấn Phongxiô Philatô, và các thứ vua bù nhìn là Hêrôđê và Philipphê.  Cũng trong cái phông lờ mờ ấy, người ta còn thấy được như hai cái bóng ẩn tàng là Anna và Caipha, hai vị thượng tế lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ, trên cái phông lờ mờ ấy, thánh Luca như muốn tô đậm một cảnh trí khác đó là cảnh sa mạc vắng vẻ, nơi cư ngụ của một kẻ nghèo nàn ấy là Gioan, con của Giacaria.  Thánh Luca có lẽ đã muốn làm nổi bật cái cảnh sa mạc nghèo nàn vắng vẻ ấy, để nói với chúng ta rằng chỉ có trong sa mạc vắng vẻ nghèo nàn, con người mới lắng nghe được tiếng nói của Thiên Chúa.

Sa mạc vốn là một phạm trù ưu việt của Kinh Thánh.  Những cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người thường diễn ra trong sa mạc.  Môisen đã phải lẩn trốn vào sa mạc để được nhận biết Chúa và nhận lãnh sứ mạng giải phóng dân tộc.  Bốn mươi năm lang thang trong sa mạc là thời kỳ thanh luyện cần thiết để dân riêng được vào đất Hứa.  Truyền thống đi vào sa mạc đã không ngừng được các tiên tri về sau sống lại như một kinh nghiệm cần thiết trước khi thi hành sứ vụ.  Nhưng điển hình và mang nhiều ý nghĩa hơn cả vẫn là 40 đêm ngày chay tịnh của Chúa Giêsu trong sa mạc và những đêm cầu nguyện lâu giờ của Ngài trong nơi vắng vẻ.

Sa mạc là đồng nghĩa với nắng cháy trơ trụi, nghèo nàn.  Phải chăng có trở nên trống rỗng và nghèo nàn, có trút bớt đi những cái không cần thiết thì con người mới lắng nghe được tiếng nói của Chúa và thanh luyện được niềm tin của mình.  Lịch sử Giáo Hội luôn chứng minh rằng những cuộc bách hại luôn là yếu tố thanh luyện và canh tân Giáo Hội.  Trong thử thách và khổ đau, trong nghèo nàn và trơ trụi Giáo Hội lại càng vững mạnh hơn.  Có trút bỏ được những cái không cần thiết và làm cho vướng mắc thì Giáo Hội mới trở nên sáng suốt và giàu có.  Giàu có không do những phương tiện vật chất và các thứ đặc quyền đặc lợi, mà giàu có bởi một niềm tin được tinh luyện và can trường hơn.

Từ trong sa mạc của thánh Gioan Tẩy Giả, chúng ta cũng có thể rút ra được một bài học khác cho niềm tin.  Không những từ trong sa mạc Gioan đã nắm được tiếng Chúa, mà còn can đảm để hô lớn tiếng Chúa cho mọi người được nghe thấy: “Hãy dọn đường cho Chúa, hãy sửa đường cho ngay thẳng, hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi.  Đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, đường gồ ghề hãy san cho bằng.”  Lời kêu gọi ấy, Gioan chẳng những đã ngỏ với đám dân nghèo hèn, thấp cổ bé miệng, mà còn nhắn gởi với cả giai cấp thống trị trong cả nước nữa.  Ngồi tù và cuối cùng bị chém đầu vì dám lên tiếng tố giác hành vi tội ác của một Hêrôđê, số phận của Gioan cho chúng ta thấy rằng ngài đã đi đến tận cùng sứ mạng tiên tri của ngài.  Thánh nhân đã dám nói thẳng và sống thực là bởi vì ngài không có gì để tiếc nuối, không có gì để bám víu, không có gì để giữ lấy ngoài chiếc áo da thú của ngài.

Chiếc áo vẫn là tượng trưng của sứ mạng tiên tri.  Đó là lý do tại sao trong dịp tấn phong Hồng Y cho một số chức sắc trong Giáo Hội, Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói đến ý nghĩa của phẩm phục màu đỏ mà chúng ta quen gọi là Hồng Y.  “Màu đỏ là màu của hy sinh, là màu của máu, các Hồng Y phải là những người hy sinh đến độ có thể đổ máu đào.”  Lời nhắc nhở này chắc phải có một giá trị đặc biệt đối với các vị Hồng Y đến từ những nơi Giáo Hội đang bị bách hại và thử thách, những nơi mà các vị cần phải lên tiếng, cho dẫu phải hy sinh mạng sống của mình.  Gioan Tẩy Giả đã lên tiếng tố cáo và kêu gọi san bằng bất công.  Ngài đã can đảm lên tiếng là bởi vì ngài không có gì để mất.  Ngài không sợ phải mất một ít đặc quyền đặc lợi hay bất cứ một thứ ân huệ nào.

Nồi cơm manh áo hay một ít bả vinh hoa có thể là động lực thúc đẩy con người thỏa hiệp và sống dối trá.  Đó cũng có thể là cơn cám dỗ của các tín hữu chúng ta trong giai đoạn hiện nay.  Một ít đặc lợi vật chất, một vài ưu đãi, một số đặc quyền đặc lợi, một lời dễ dãi, đó là miếng mồi ngon khiến cho nhiều người nếu không bán đứng lương tâm của mình, nếu không uốn cong miệng lưỡi thì cũng chấp nhận thỏa hiệp im tiếng.  Mùa Vọng là mùa của sa mạc, có đi vào sa mạc của nghèo khó và siêu thoát chúng ta mới dễ dàng nhận ra được tiếng nói của Chúa.  Và có từ sa mạc của nghèo khó và siêu thoát, chúng ta mới có đủ can đảm để gióng lên tiếng của Chúa: “Hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng, hãy lấp mọi hố sâu, hãy bạt mọi núi đồi.  Đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, đường gồ ghề hãy san cho bằng.”

Khi cuộc sống của các tín hữu trở thành một lời mời gọi, khi miệng lưỡi của họ nói lên những lời can đảm chân thực, thì lúc đó như Tin Mừng nói với chúng ta, mọi người sẽ được thấy ơn cứu độ của Chúa.

Radio Veritas Asia – Trích trong “Suy Niệm Lời Chúa”

TẠI SAO ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI?

Vô Nhiễm Nguyên Tội là đặc ân Thiên Chúa dành cho Đức Mẹ.  Nhưng tại sao là Đức Maria mà không là người khác?  Tại sao chúng ta phải chịu hệ lụy của Tội Nguyên Tổ?  Tại sao Áp-ra-ham, Mô-sê hoặc Đa-vít được tuyển chọn mà không là người khác?

Theo Kinh Thánh, người được tuyển chọn luôn được chọn vì người không được chọn.  Như vậy, Áp-ra-ham được chọn để các quốc gia không được chọn trên trái đất sẽ được chúc lành qua ông.  Cũng vậy, Mô-sê và dân Ít-ra-en được chọn để họ có thể là dân tư tế vì các dân-tộc-không-được-chọn trên thế giới.  Đa-vít được chọn để con trai của ông có thể dẫn đưa các dân-tộc-không-được-chọn đến với Vương Quốc của Thiên Chúa.

Với Đức Maria cũng vậy.  Ơn Cứu Độ được Thiên Chúa hoàn tất qua Mẹ.  Ơn Cứu Độ hoàn toàn mang tính ngăn ngừa chứ không mang tính chữa trị, không là dấu chỉ loại trừ.  Đó là dấu chỉ về quyền năng cứu độ nơi Chúa Giêsu, dành cho chúng ta theo sự quan phòng mầu nhiệm của Thiên Chúa, để chúng ta chiến đấu với Tội Nguyên Tổ.  Vì Đức Mẹ là biểu tượng của Giáo hội và là thụ tạo đặc biệt trong các thụ tạo của Thiên Chúa, chính Đức Mẹ có thể đưa ra một ước lệ đối với sự kiêu ngạo và lời hứa giải thoát qua cuộc nổi loạn bằng cách cho chúng ta thấy rằng:

Con người là hình ảnh của Thiên Chúa.

Con người phát xuất từ Thiên Chúa và được tạo nên để kết hiệp với Ngài.

Quyền tha tội của Chúa Giêsu được biểu hiện trọn vẹn nơi Đức Mẹ, chúng ta có thể biết chắc rằng Ngài cũng có quyền tha tội của chúng ta, dù tội nặng tới mức nào.

Con người là sản phẩm tình yêu vô biên của Thiên Chúa.

Tội lỗi không là sự thật nền tảng, cũng không là nền tảng cuối cùng của con người.  Chính Chúa Giêsu mới là nền tảng.

Con người được xác định bởi tình yêu, chứ không bởi sự hận thù.

Con người được mời gọi yêu mến Thiên Chúa và tha nhân.

Con người phản ánh lý lẽ, trật tự và tình yêu của Thiên Chúa.

Con người tìm thấy sự sống khi mất sự sống và tiếp nhận tình yêu của Thiên Chúa.

Con người chỉ trở nên “người” hơn qua tình yêu, lòng khiêm nhường và lòng thương xót.

Con người lớn lên trong tình yêu bằng cách quan tâm “những người bé mọn” vì họ quý giá đối với Đức Kitô, Đấng đã tự hạ tới mức sinh nơi hang đá.

Con người nên tìm kiếm tình yêu tự dâng hiến ngay trên thế gian và phần thưởng trên trời, vì cuộc đời này không tồn tại mãi.

Chúng ta nên khiêm nhường vì chúng ta “được tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa”, và sự thật là thế. Khiêm nhường giúp chúng ta nhận biết mình cần có ơn Chúa.

Bản chất Thiên Chúa là tình yêu.  Chúng ta chỉ là thụ tạo, chúng ta không tìm thấy mình bằng cách tôn thờ bản chất đó mà bằng cách tôn thờ chính Thiên Chúa, Đấng tạo nên chúng ta và cứu độ chúng ta qua Đức Giêsu Kitô.

Tóm lại, khi nhân loại tạo nên văn hóa sự chết, Chúa Thánh Thần đã đưa Giáo hội đến với Đức Mẹ, Đấng trung gian cầu xin Thiên Chúa cứu độ chúng ta.  Đức Mẹ là Đấng đầy ơn phúc, nhân chứng duy nhất về ơn cứu độ của Đức Kitô.  Là người che chở nhân loại, Đức Mẹ như hàng rào bao quanh sự thật về Ơn Cứu Độ của Đức Kitô.  Là Tông Đồ mẫu mực, Đức Mẹ cho chúng ta biết Ơn Cứu Độ vô biên của Đức Kitô có thể tẩy sạch tội lỗi của chúng ta và cho chúng ta biết sự xứng đáng về nguồn gốc của chúng ta từ Thiên Chúa.  Đức Mẹ là “máng chuyển” ơn Chúa, như Thánh Irênê nói: “Vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống viên mãn.”

Mark Shea
Trầm Thiên Thu, chuyển ngữ từ http://www.ncregister.com

CÁNH VẠC MÙA VỌNG

Khi đề cập sự mong chờ hoặc đợi chờ, người ta thường nhớ tới hình ảnh con vạc (cũng gọi là hạc – nycticorax).  Đó là sự mong đợi của hai người yêu nhau, nhưng chúng ta cũng có thể dùng hình ảnh con vạc để nói về nỗi lòng của chúng ta trong Mùa Vọng – khoảng thời gian chuẩn bị đón mừng Con Thiên Chúa giáng trần.

Mỗi loài đều có đặc tính riêng, nhưng có lẽ loài vạc có đặc tính “lạ” nhất.  Vạc là động vật có cánh, một loài chim thuộc họ diệc, kiếm ăn ban đêm và có tiếng kêu buồn thảm.  Tiếng kêu của loài Vạc nghe buồn thảm vì là tiếng lòng của kẻ lẻ bạn, đơn độc, một mình bay đi kiếm ăn ban đêm nhưng lòng vẫn thương nhớ khôn nguôi về người bạn tình phương xa.  Não nề lắm, da diết lắm!  Người ta gọi đó là “tiếng vạc kêu sương” – tiếng vạc kêu trong màn sương lạnh lùng của đêm tĩnh lặng thì chắc hẳn là u uẩn và buồn bã lắm!

TÌNH VỌNG

Điển tích xưa kể rằng: Thôi Hộ là danh sĩ đời Trung Ðường, diện mạo khôi ngô, thích làm bạn với sách vở và bút nghiên.  Trên đường lên kinh ứng thí giữa tiết Thanh Minh, mọi người đang vui hội Ðạp Thanh (giẫm lên thảm cỏ xanh).  Khi đi ngang qua vườn hoa đào tuyệt đẹp, chàng dừng lại ngắm và xin nước uống, một mỹ nhân duyên dáng ra mở cửa.  Nàng mời trà, chàng đón nhận.  Ðôi tay vô tình chạm nhau, nàng thẹn thùng cúi mặt, má ửng hồng, chàng cũng bồi hồi, ngượng nghịu.  Gặp nhau không lâu nhưng cả hai thấy tâm đầu ý hợp, quyến luyến nhau.  Thôi Hộ phải đi vì công danh sự nghiệp, Phụng Trinh đứng dưới gốc đào ngơ ngẩn nhìn theo…

Đến năm sau, vào ngày hội du xuân, chàng nho sinh nhớ người con gái đã khiến chàng dệt bao mộng đẹp.  Chàng tìm đến vườn đào để thăm.  Bước vội vã hân hoan của chàng khựng lại khi thấy cửa đóng then cài, cảnh cũ còn mà người xưa vắng bóng.  Chàng buồn bã nhìn hoa đào nở tươi trong gió xuân mà bùi ngùi niềm cô quạnh.  Chàng thờ thẫn đau lòng khi nghĩ nàng đã theo chồng.  Quá thất vọng, chàng thảo bốn câu thơ trên cửa cổng, ghi lại tâm tư sầu nhớ ngậm ngùi của mình.

Rồi chiều đến, nàng cùng cha trở về, chợt nhìn lên cổng thấy bốn câu thơ, nét chữ tinh xảo, ý thơ dồi dào, nàng xúc động khi biết rõ tình cảm nhớ mong của chàng ẩn chứa trong đó.  Nàng buồn bã hối tiếc không về kịp để gặp lại chàng.  Ngày qua ngày nàng tựa gốc đào tha thiết mong đợi và hy vọng nho sĩ phong nhã năm xưa trở lại.  Thời gian cứ trôi, cánh chim bạt gió cất tiếng kêu thảm thiết não nùng vì lẻ bạn khiến lòng nàng tê tái.  Cứ hết hè lại thu sang, đông qua rồi xuân về, nỗi nhớ nhung nung nấu khiến lệ trào khóe mắt, bóng chàng vẫn biền biệt.  Nàng tuyệt vọng, bỏ ăn, bỏ ngủ, thân xác tiều tụy, dung nhan võ vàng.

Thương con gái, người cha lo tìm thầy giỏi chữa trị cho nàng.  Mà làm gì có thuốc trị bệnh tương tư chứ?  Biết mình kiệt sức không sống được, nàng đành thuật lại tâm sự của mình cho cha nghe và xin cha tha tội bất hiếu.  Người cha xúc động thương cho phận bạc của con gái.  Nhìn con nằm lịm trên giường bệnh chờ đợi tử thần, ông nóng lòng đứng ngồi không yên.  Ông nghĩ đến chàng thư sinh, chỉ có người ấy mới có thể cứu sống con gái.  Vừa ra khỏi cổng, ông găp ngay một chàng thư sinh tuấn tú.  Thấy ông già đi như chạy, chàng vội thăm hỏi.  Ông kể lể sự tình…

Nhận ra nhau, hai người vội chạy vào nhà, nhưng cũng là lúc Phụng Trinh trút hơi thở cuối cùng.  Chàng xúc động quỳ xuống, cầm tay nàng, úp mặt vào mặt nàng vừa khóc nức nở vừa kêu tên nàng thảm thiết.  Tiếng kêu bi thương như lay hồn nàng thức tỉnh, và những giọt nước mắt nóng hổi của tình yêu nhỏ xuống mặt nàng khiến nàng hồi sinh.  Nàng mở mắt nhìn chàng và nở một nụ cười sung sướng.  Ðào Bạch Phụng bằng lòng cho Phụng Trinh và Thôi Hộ nên duyên cầm sắt.

Một câu chuyện tình buồn nhưng tình yêu chân thật đã lật ngược thế cờ, khối u tình mà lại có hậu.  Thật may mắn và hạnh phúc thay!  Thiên Chúa cũng sẽ biến đổi cuộc đời chúng ta nếu chúng ta thành tâm yêu mến và tín thác vào Ngài.  Lời cầu nguyện có sức biến đổi mọi sự, kể cả số phận của một con người.

HỒN VỌNG

Diễn tả nỗi mong đợi mà linh hồn hướng về Thiên Chúa, Thánh Vịnh gia thổ lộ: “Như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong, hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa!” (Tv 42:2).  Nỗi mong đợi luôn khiến người ta khắc khoải, bồn chồn, thao thức, và dù chẳng làm gì sai trái mà đôi khi như bị “dằn vặt” vậy vì muốn gặp gỡ cho thỏa lòng: “Linh hồn con khao khát Chúa Trời, là Chúa Trời hằng sống.  Bao giờ con được đến vào bệ kiến Tôn Nhan?” (Tv 42:3).  Người mong kẻ đợi không bao giờ an tâm, cũng có nghĩa là không cảm thấy hạnh phúc, nói thẳng ra là đau khổ lắm, đến nỗi mà Thánh Vịnh gia mô tả lương thực thế này: “Châu lệ là cơm bánh đêm ngày” (Tv 42:4).  Ôi chao, thật là buồn biết bao!

Nhưng dù sao cũng phải kiên trì, và luôn tự nhủ: “Mong đợi Chúa, tôi hết lòng mong đợi, cậy trông ở lời Người.  Hồn tôi trông chờ Chúa, hơn lính canh mong đợi hừng đông” (Tv 130:5-6).  Trong nỗi mong đợi luôn “tiềm ẩn” niềm hy vọng – dù mạnh hay yếu, bởi vì có hy vọng mới kiên trì mọi người đợi.

Liên quan niềm hy vọng – đức cậy, có câu chuyện kể rằng…

Có bốn ngọn nến tượng trưng cho Hòa Bình, Niềm Tin, Tình Yêu, và Hy Vọng.  Thế giới hiếm khi không có chiến tranh, giữa người với người cũng vẫn thiếu sự hòa thuận, dù là những người trong cùng một gia đình.  Xung đột như vậy là dạng “chiến tranh nhẹ”.

Nhưng ngọn nến Hòa Bình cứ mờ dần, yếu dần, chỉ còn leo lét, rồi… tắt.  Cũng vậy, thế giới ngày nay đang mất dần niềm tin, coi niềm tin tôn giáo là xa xỉ phẩm, thậm chí còn phỉ báng hoặc bách hại những người có niềm tin tôn giáo – nhất là niềm tin vào Đức-Kitô-chịu-đóng-đinh.  Tiếp theo, ngọn nến Niềm Tin cũng cứ tắt dần, chỉ còn tỏa ra làn khói trắng luyến tiếc.  Người ta “vào hùa” với nhau về tình trạng mất niềm tin – không tin có điều tốt lành và không tin nhau nữa.  Tương tự, người ta cũng không cần ngọn nến Tình Yêu nên không muốn thắp sáng ngọn nến này nữa.  Ngay cả những người thân máu mủ ruột thịt với nhau mà còn thổi tắt ngọn nến này thì làm sao nó có thể tỏa sáng?  Cả ba ngọn nến kia đều tắt hết, và rồi chỉ còn ngọn nến Hy Vọng vẫn sáng, mặc dù ánh sáng của nó yếu ớt, le lói, lặng lẽ…!

Chút ánh sáng yếu ớt đó lại là thứ quan trọng, bởi vì ít ra cũng còn ngọn nến Hy Vọng.  Cuộc sống này luôn cần ngọn nến này, dù các ngọn nến Hòa Bình, Niềm Tin và Tình Yêu đã tắt lịm.  Tại sao vậy? Ngọn nến Hy Vọng cần thiết vì đó là ngọn nến Cậy Trông (đức Cậy), chính ngọn nến này sẽ đủ sức thắp sáng cho cả ba ngọn nến kia.  Quả thật, đó cũng là triết lý sống của Mùa Vọng, mùa đợi trông Đấng Cứu Thế.  Thánh linh mục Don Bosco: “Càng khốn khó thì càng phải tin cậy vào Thiên Chúa.”  Hãy cố gắng ghi nhớ và thực hành theo lời khuyên thánh nhân, không chỉ trong Mùa Vọng này, mà suốt cả cuộc đời Kitô hữu.

Lạy Thiên Chúa, xin thương xót chúng con, chúng con trông cậy vào Ngài.  Mỗi buổi sáng, xin Ngài dang cánh tay nâng đỡ chúng con; xin cứu độ chúng con trong lúc ngặt nghèo (Is 33:2).

Trầm Thiên Thu – Khởi đầu Mùa Vọng, Năm Phụng Vụ C – 2019

TỈNH THỨC ĐI VÀO THẾ GIỚI MỚI

Thật ngạc nhiên.  Ta cứ tưởng trong mùa Vọng, phải có những bài sách Thánh báo tin Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra.  Nhưng không ngờ những bài sách thánh và đặc biệt bài Tin Mừng hôm nay lại báo tin Chúa sẽ đến trong ngày phán xét.  Tại sao thế?  Thưa vì Giáo Hội muốn cho ta hiểu ý nghĩa thần học của việc chờ mong Chúa đến.  Hàng năm vào mùa Vọng, Giáo Hội mời gọi ta chuẩn bị tâm hồn để đón Chúa đến.  Thực ra Chúa đã đến rồi khi sinh ra tại hang đá Bêlem cách nay hơn hai ngàn năm.  Tuy nhiên ta vẫn luôn chờ mong vì Chúa đến hằng ngày với ta.  Và nhất là Chúa sẽ đến trong ngày phán xét.  Việc Chúa đến lần thứ hai đưa ra những hướng dẫn quan trọng cho cuộc đời chúng ta.

Hướng dẫn thứ nhất: Có hai thế giới.  Thế giới hiện tại và thế giới tương lai.  Thế giới hiện tại sẽ qua đi.  Vạn vật có khởi đầu và có kết thúc.  Con người có sinh có tử.  Đó là định luật tự nhiên.  Không chỉ những gì yếu đuối, bé nhỏ mới qua đi.  Cả những gì lớn lao, mạnh mẽ, có vẻ bền vững nhất như mặt trời, mặt trăng cũng qua đi.  Điều quan trọng nhất là chính ta cũng sẽ qua đi.  Khi thế giới này qua đi, một thế giới mới sẽ bắt đầu: thế giới vĩnh cửu.

Hướng dẫn thứ hai: Chúa làm chủ lịch sử.  Sở dĩ thế giới cũ tan biến đi vì Chúa đã định cho nó một thời hạn.  Khi thế giới đến ngày cùng tháng tận, Chúa sẽ đến.  Quyền uy của Chúa thể hiện qua việc Chúa xét xử thế giới cũ và khai sinh thế giới mới.  Sau cảnh tan vỡ kinh hoàng của thế giới cũ sẽ là một khởi đầu mới đem đến niềm hy vọng mới cho con người.  Có thể nói thế giới không chấm dứt nhưng biến đổi.  Từ một thế giới mong manh mau tàn đến một thế giới vững bền vĩnh cửu.  Từ một thế giới tương đối đến một thế giới tuyệt đối.

Hướng dẫn thứ ba: Ta tự quyết định vận mệnh đời mình.  Thế giới này sẽ qua đi.  Thế giới mới sẽ xuất hiện.  Ta sẽ bị hủy diệt cùng với thế giới cũ.  Hay sẽ được hạnh phúc trong thế giới mới?  Điều đó tùy thuộc bản thân ta.  Chúa đưa ra những chỉ dẫn rõ ràng.  Thế giới cũ sẽ suy tàn.  Nên ai quá gắn bó với nó sẽ khổ sở.  Thế giới mới sẽ tới.  Ai biết chuẩn bị chờ đón sẽ được hạnh phúc.  Phải làm gì?  Thưa phải tỉnh thức và cầu nguyện.

Tỉnh thức không “chè chén say sưa”, tức là không quá mê mẩn những đam mê hưởng thụ đời này.  Tỉnh thức không “lo lắng sự đời”, nghĩa là không quá mê say danh, lợi, thú, là những giá trị đời này.  Tỉnh thức là biết chuẩn bị cho đời sau bằng cách vươn tâm hồn lên những chân trời cao thượng.  Tỉnh thức tuy còn sống ở đời này nhưng tâm hồn đã hướng về những giá trị tinh thần vĩnh cửu đời sau.

Cầu nguyện vì tinh thần mau mắn nhưng xác thịt nặng nề.  Cầu nguyện để biết tỉnh thức.  Vì khi cầu nguyện ta tách ra khỏi sự ràng buộc của thế giới vật chất để vươn tới thế giới tâm linh.  Nhất là cầu nguyện để xin ơn Chúa giúp.  Con người phàm trần xác thịt nặng nề luôn bị trần gian lôi kéo.  Chỉ với ơn Chúa giúp ta mới thoát ra khỏi vòng giam hãm của vật chất để vươn tâm hồn lên thế giới thiêng liêng.

Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới khao khát Chúa đến.  Có tỉnh thức cầu nguyện, khi Chúa đến ta mới đứng dậy và ngẩng cao đầu lên.  Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới gặp được Chúa.  Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới được vào thế giới mới với Chúa.  Tỉnh thức cầu nguyện, ta có thể gặp Chúa ngay bây giờ trong ngày hôm nay.  Tỉnh thức cầu nguyện ta sẽ gặp được Chúa trong ngày lễ Chúa Giáng Sinh.  Tỉnh thức cầu nguyện chắc chắn ta sẽ được gặp Chúa trong ngày cùng tận của thế giới.  Chúa sẽ đón ta vào hưởng hạnh phúc trong một thế giới mới hạnh phúc tuyệt đối và không bao giờ tàn lụi.

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến cứu con. Amen.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

KHOẢNH KHẮC AN BÌNH

‘‘Trong đời, có hai ngày không nên quá lo âu, đó là ngày hôm qua và ngày mai  ’’.

Tôi đọc dòng suy tư ấy từ một mảnh giấy vất trên bàn học trong thư viện sáng nay.  Không biết ai là tác giả của một tâm tình đơn sơ mà sâu sắc quá.  Nhẹ nhàng mà mãnh liệt biết bao!  Khát vọng sống trọn giây phút hiện tại của một ai đó đã để lại trong tôi một niềm an ủi sâu lắng.  Nó đong đầy cả một chân lý sống:  sống cho hiện tại, sống với món quà Thượng đế trao ban trong giây phút này.  Ngày hôm qua đã thuộc về lịch sử, và ngày mai thì vẫn luôn là bí ẩn.  Rồi sẽ có một ngày trong đời không có ngày mai!

Tôi không thể thay đổi quá khứ, tôi cũng chẳng có thể sống cho ngày mai.  Một quá khứ hạnh phúc, làm tôi nuối tiếc.  Một quá khứ tội lỗi khiến tôi băn khoăn.  Một tuơng lai mù tối, làm tôi lo âu.  Một tương lai hứa hẹn, khiến lòng mình xôn xao.  Quá khứ hay tương lai đều không cho tôi hạnh phúc trọn vẹn.  Chỉ có ngày hôm nay, giây phút này, tại địa điểm này, và công việc này mới là sứ mạng đích thực, mới là lời mời gọi và đáp trả trong yêu thương.

Tôi gặp nơi mảnh giấy ấy cùng một tâm tình của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận lúc Ngài còn ở tù.  Cảm nghiệm sâu sắc của phút giây hồng ân, Ngài viết lên những tâm tình thiết tha như thế:  ‘‘Giây phút đẹp nhất là giây phút hiện tại.  Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài. Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống.  Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp.  Sống mỗi phút cho tốt đời sẽ thánh.   Đường hy vọng do mỗi chấm hy vọng.  Đời hy vọng do mỗi phút hy vọng’’ (Đường Hy Vọng)

Cả hai tâm tình ấy đến với tôi khi cả nước đang xôn xao về cuộc khủng bố tuần qua.  Mở một trang báo hôm nay, lắng nghe một mẫu tin từ truyền hình, tôi băn khoăn tự hỏi: Không biết cuộc chiến tranh đang diễn ra hôm nay rồi sẽ ra sao?  Người ta đang đe dọa một cuộc chiến tranh hoá học trên đất nước này.  Đất Mỹ có còn là nơi an toàn cho cuộc sống?

Có người thì hớn hở cho cuộc đánh trả ở Trung đông.  Người khác thì lại lo âu cho một tương lai ảm đạm, hậu quả của trả thù trong nay mai.  Nhiều người chuẩn bị, mua sắm thức ăn và nhiên liệu cần thiết dự trữ.  Mẹ tôi cũng vội vã mua sắm những thức ăn cần thiết, chuẩn bị như cuộc chiến mùa Xuân 75 ở Việt Nam.  Bà con ở quê nhà thì gọi phone khuyên mẹ nên về quê hương một thời gian cho an toàn.

Ai cũng mong an toàn.  Nhưng ở đâu là an toàn?  Đã có lần tôi ra đi khỏi đất nước để mong có chút an toàn.  Bây giờ người ta khuyên trở về nơi đó để tìm sự an toàn.  Mâu thuẫn quá!  Nó giống câu chuyện hài hước của một Cha dòng Tên Ấn độ mà tôi vẫn mãi tâm đắc.  Ngài kể :

Người đàn ông hối hả bước lên xe Bus.  Vừa ngồi xuống, anh đặt ngay cái hộp lên đùi của mình.  Thấy thế,  anh tài xế hỏi ngay:

–      Cái hộp gì trên đùi của anh vậy ?

Anh ta ngây thơ đáp:

–     Dạ trái bom chưa nổ ạ .

Người tái xế tái mặt, mắng anh:

–      Sao anh khờ vậy!  Đừng để nó trên đùi.   Dấu nó ngay dưới ghế đi … lẹ lên !!!

Cất trái bom  dưới ghế, mong được an toàn.

Một an toàn tưởng tượng quá!  Một an toàn đánh lừa!  Thực tại của cuộc sống không cho tôi sự an toàn tuyệt đối.  Dù đó là quê hương hay đang sống tha phương.  Đời lữ hành không bảo đảm cung cấp nơi dừng chân an toàn mãi mãi.  Sống là đi!  Đi mới mong có sự sống.  Đời là một chuỗi ngày du mục.  Dù đi trong hy vọng, hay đi trong lo âu, tôi luôn phải đi.

–    Nhưng đi đâu bây giờ? Tôi tự hỏi.

–    Đi cho trọn ngày hôm nay !

–    Thế còn ngày mai ?

–    Đức Kitô đã bảo đảm ngày mai cho tôi:

‘‘Lòng anh em đừng xao xuyến!  Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.. . Thầy sẽ không để anh em mồ côi.  Thầy đến cùng anh em’’ (Ga :14,18).

Đức Kitô đã đi qua những ngày bất an của thân phận làm người, và Ngài đọc được trong tôi những nỗi niềm băn khoăn.  Tôi dường như tìm được niềm an bình từ lòng yêu thương săn sóc ấy. Trong dòng suy tư, tôi chợt thoáng nhớ những lời khôn ngoan trong kho tàng Ấn giáo mà các Guru dạy cho môn sinh của họ rằng:

Khi bạn hít một hơi thở dài, hãy ý thức mình đang hít một hơi thở dài.  Khi bạn hít một hơi thở ngắn, hãy ý thức  mình đang hít một hơi thở ngắn.  Khi bạn hít một hơi thở vừa vừa, hãy ý thức  mình đang hít một hơi thở vừa vừa.  Luôn ý thức mình đang ở trong hiện tại’’

Những tâm tình ấy giúp tôi trở về với hiện tại.  Đón nhận những gì mình đang có hôm nay.  Hít thở cái bầu khí hôm nay như một hồng ân, và dâng trao ngày mai cho Đấng đang làm chủ tương lai. Rồi trong niềm tin tưởng phó thác, tôi mượn lời kinh xin ơn bình an để thì thầm trong Chúa:

Chúa ơi, xin ban cho con ơn bình an để chấp nhận những gì con không thể thay đổi – đó là thời tiết, thiên tai, là chiến tranh, là già nua bệnh tật, là mất mát rủi ro, v.v… Cho con ơn can đảm để sửa đổi những gì con có thể đổi thay – như lòng ích kỷ, như đố kị ghen tương, như lười biếng ươn hèn hay đời sống tội lỗi với những đam mê, v.v… Nhưng cũng xin cho con ơn khôn ngoan để  phân biệt điều gì con có thể thay đổi, và điều gì con không thể thay đổi, để rồi sống từng ngày, từng phút giây – an vui và trọn vẹn.

Nguyễn Thảo Nam