MỘT NỀN TẢNG CỦA ĐỨC TIN: SỰ CẦU NGUYỆN

Sau khi lên các phương kế để dụ Tư Mã ý vào hang động Thượng Phương, Khổng Minh đã sai quân sĩ bịt kín cửa hang rồi dùng hoả công để tiêu diệt viên tướng tài của nước Nguỵ.  Đang nắm chắc kết quả, một kết quả có thể xoay đổi tình hình thế sự thời tam quốc phân tranh lúc bấy giờ, hầu đưa nhà Thục thống nhất đất nước, thì bỗng một cơn mưa bất chợt đổ xuống dập tắt đòn hoả công của Khổng Minh và cứu sống Tư mã Ý.  Khi ấy Khổng Minh đã than rằng: “Mưu sự tại nhân.  Thành sự tại thiên.” Hai từ “trời định” mà dân gian thường dùng nói lên quan niệm về ý định của trời xanh đã chi phối cuộc nhân sinh một cách nào đó.

Niềm tin Kitô giáo cũng có cái nhìn về thiên mệnh nhưng hoàn toàn không theo kiểu thụ động, yếm thế.  Chúng ta tin nhận thánh ý của Thiên Chúa, nhưng sự tin nhận này không loại bỏ vai trò của sự tự do mà Thiên Chúa tặng ban cho con người.  Thiên Chúa không phải là một vị thần chuyên chế quyết định mọi chuyện thành bại hay được thua của con người.  Cách riêng những sự tốt xấu theo chiều kích luân lý thì đều có sự tham gia của sự tự do của chính con người.  Giáo lý Công giáo dạy rằng chỉ có hành vi nhân linh nghĩa là những hành vi bao hàm sự hiểu biết và tự do thì mới có giá trị luân lý.  Tuy nhiên để đạt được những điều tốt đẹp, Kitô hữu tin rằng phải cần đến ân sủng của Thiên Chúa, Đấng là cội nguồn của mọi sự thiện hảo.  Chúa Kitô đề cập đến chân lý này qua hình ảnh cây nho, cành nho và Người đã khẳng định: “Không có Thầy anh em chăng làm gì được” (Ga 15,5).

Sách Xuất hành tường thuật cuộc chiến giữa quân Israel và quân Amalếch.  Trong khi tướng Giosuê đem quân đi giao chiến thì Môsê lên núi cầu nguyện.  “Khi nào ông Môsê giơ tay lên, thì dân Israel thắng thế; còn khi ông hạ tay xuống, thì Amalếch thắng thế” (Xh 17,11).  Dữ kiện này muốn nói rằng sự thắng thua của dân Israel là do bởi Thiên Chúa mà thôi.  Chính vì thế nhất thiết cần phải gắn bó với Thiên Chúa, đặc biệt bằng sự cầu nguyện.

“Luật của cầu nguyện là luật của niềm tin” (lex orandi, lex credendi).  Câu ngạn ngữ trên đã nói lên mối tương quan mật thiết giữa niềm tin với việc cầu nguyện, cầu nguyện riêng tư hay cầu nguyện công khai chính qua các cử hành Phụng Vụ.  Dĩ nhiên nếu hiểu văn phong dụ ngôn thì chúng ta sẽ nhận ra ý nghĩa chính của câu chuyện dụ ngôn Chúa Giêsu kể về “ông quan toà chẳng sợ Thiên Chúa mà phải chào thua sự lì lợm của một bà goá” (x. Lc 18,1-8).  Ý nghĩa của câu chuyện dụ ngôn đã được thánh sử Luca nói ngay đầu đoạn tin mừng đó là “để dạy các môn đệ phải cầu nguyện luôn, không được nản chí” và cái lý do được nêu lên ở câu cuối đó là lòng tin.

Một vấn nạn: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18,8).  Câu than thở của Chúa Kitô khiến chúng ta phải giật mình và cảnh tỉnh.  Khi nhân loại ngày càng văn minh tiến bộ, khi nền công nghệ ngày càng tinh xảo và tân kỳ, thì dường như sự tự cao tự đại đang ngày càng xuất hiện dưới nhiều hình thức.  Dù nhiều người với cái thói kiêu căng cho rằng ‘bàn tay ta làm nên tất cả…” đã từng “trắng mắt ra” khi đối diện với những nghịch cảnh vượt quá sức mình, thế nhưng vẫn còn đó những hình thái ngông nghênh cao ngạo bằng sự độc tôn, độc đoán, độc quyền, chuyên chế…  Những hình thức tự tôn vinh, thần thánh hoá bản thân hay tập thể của mình lên hàng muôn năm hay bất diệt vẫn còn nhan nhản đó đây.  Một khi sự tự tin đã biến thành sự tự tôn thì lòng tin vào Đấng Tối cao sẽ suy giảm và rồi sẽ biến mất.  Khi con người đã không còn tin vào Đấng Tối cao thì chắc chắn sẽ làm được sự gì tốt đẹp đúng nghĩa.  Như thế, lòng tin hay đức tin, nói theo ngôn ngữ Kitô giáo, chính là nền tảng của mọi thành quả tốt đẹp mà con người đạt được.

Kitô giáo luôn khẳng định rằng tin là đón nhận Thánh ý Thiên Chúa và dấn thân hết mình để sống theo thánh Ý đã lãnh nhận.  Hai mẫu gương lớn của lòng tin thường được giáo hội nói đến đó là Tổ phụ Abraham và Mẹ Maria.  Đang là người sinh sống bằng nghề chăn nuôi súc vật thế mà Abraham đã can đảm vâng nghe lời Thiên Chúa mời gọi lên đường đi đến nơi chưa từng biết.  Nếu nơi ấy là nơi thiếu cỏ hay thiếu nước thì việc chăn nuôi sẽ phá sản.  Tuổi đã cao, người phối ngẫu đã qua thời sinh nở thế mà Abraham vẫn vâng lệnh Thiên Chúa để hiến tế người con trai duy nhất, kẻ sẽ nối dõi tông đường, người sẽ giúp ông tránh được sự bất hiếu với tổ tiên.  Khi đón nhận và “xin vâng” như lời sứ thần truyền thì Mẹ Maria đã chấp nhận sự hiểu lầm của người bạn đời, Giuse và chấp nhận cả cái án hình bị ném đá theo luật bấy giờ.

Làm sao có thể đón nhận và thực thi Thánh ý Chúa nếu chúng ta không gặp gỡ và lắng nghe Người phán dạy?  Và làm sao chúng ta có thể gặp gỡ Thiên Chúa nếu không chuyên chăm cầu nguyện?  Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên, gặp gỡ Thiên Chúa, kết hiệp với Người, lắng nghe Người phán dạy để rồi can đảm thực thi.  Cầu nguyện là cách thế biểu lộ niềm tin và cũng là phương thế củng cố niềm tin.  Vì chúng ta tin nên chúng ta cầu nguyện.  Nhờ chúng ta cầu nguyện nên niềm tin của chúng ta được củng cố.

Ai có thể tự hào rằng mình đã vững vàng trong đức tin?  Ai có thể tự nhận rằng mình sẵn sàng hy sinh mạng sống để thực thi giới luật yêu thương Chúa Kitô truyền dạy?  Ngoại trừ các thánh nhân, có thể nói chúng ta, từ người giáo dân hèn mọn đến vị mục tử trọng chức, thảy đều non kém đức tin, chưa dám xả thân, hiến mình để sống yêu thương đến cùng.  Chính vì thế việc chuyên chăm cầu nguyện là điều như tất yếu.  Tuy nhiên cần khẳng định rằng cầu nguyện không phải là để bắt Chúa thực hiện ý muốn của chúng ta, nhưng là để chúng ta biết cách thực thi thánh ý Chúa, nghĩa là để sống đức tin.  Và xin đừng quên đức tin chính là chìa khoá dẫn chúng ta đến sự sống đời đời.

Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

CUỘC HOÁN CẢI NỘI TÂM CỦA THÁNH NỮ TERESA DE JESÚS THÀNH AVILA

Thánh nữ Têrêsa Chúa Giêsu (Teresa Jesús) thành Avila (tục danh là Teresa de Ahumada y Cepeda), (1515-1582) là một trong những vị thánh người Tây Ban Nha nổi tiếng thời phục hưng.

Ngài là nhà cải tổ dòng kín Cát Minh (Carmel) cùng với thánh Gioan Thánh Giá (Joao de la Cruz) và là một trong những nhà cải cách của Giáo Hội trong thế kỷ XVI như thánh Inhaxiô (Inhã/ Ignatius Loyola), thánh Cagiêtanô (Cajetan de Roma), thánh Philipphê Nêri (Philip de Néri) Vinhsơn Phaolô (Vincent de Paul), thánh Phanxicô đệ Salê (Francis de Sales), thánh Giáo Hoàng Piô V với công đồng Trente…

Người ta vẫn thường hay bàn về những đặc ân cao siêu Chúa ban cho thánh nữ.  Đó là những cảm nghiệm thiêng liêng thần bí trong những cuộc xuất thần (ectasy), những sách thiêng liêng có tính mô phạm của thánh nữ trong đời sống tâm linh.  Những tác phẩm của ngài trở thành những kiệt tác về đường thiêng liêng cho những ai khao khát sống đời chiêm niệm…  Người ta vẫn thường hay nói ngài là vị thánh của những cơn xuất thần liên tục, vì tình yêu mến Chúa Giêsu của ngài mãnh liệt… Người ta vẫn còn kể những lần ngài xuất thần trong khi… chiên cá, tay cầm chảo cá và từ từ bay bổng, hay những cuộc đàm đạo về Chúa Ba Ngôi với thánh Gioan Thánh Giá mà kết quả là hai vị đều bay bổng trên không trung…  Người ta cũng khâm phục thánh nữ vì đã thành lập 17 tu viện nữ Cát Minh và đứng đầu công cuộc cải tổ đầy khó khăn cho dòng này.

Nhưng thật ra, đọc lại tiểu sử của ngài, có lẽ chúng ta sẽ không chỉ thấy những điểm sáng này ngay lập tức trong đời sống của vị thánh.  Nói cách khác, Têrêsa không phải là một người đã “thánh thiện từ trong nôi!”  Dù trải qua một tuổi thơ đạo đức với những tâm tình đơn sơ thánh thiện nhưng cũng buồn cười của một trẻ nhỏ (vì muốn nên thánh nên ngài rủ anh mình bỏ nhà đi tìm người Hồi Giáo để chịu tử đạo nhưng bị ông cậu phát hiện và tóm cổ về nhà), tuy nhiên, từ lúc là một thiếu nữ 14 tuổi cho tới tuổi 40, đường thiêng liêng của ngài không phải là một đường thẳng tắp.  Ở tuổi thiếu niên, chịu ảnh hưởng của bạn bè và chị em họ hàng, vốn là một người ăn nói có duyên, có sắc đẹp và quyến rũ, Têrêsa bắt đầu chưng diện và làm dáng theo kiểu cách của tầng lớp quý tộc.  Tuy nhiên, những cơn bệnh khủng khiếp là một cách Thiên Chúa tách Têrêsa ra khỏi hư ảo của thế gian phù phiếm mau qua.  Vào nhà dòng lúc tròm trèm 20 tuổi, những ngày đầu sống đời dâng hiến với những an ủi khi cầu nguyện làm cho người nữ tu của chúng ta ngây ngất mê say.  Tuy nhiên thời gian trôi qua, khi những hương sắc của tình yêu thuở ban đầu đã qua đi, người nữ tu này đã bị cám dỗ an phận và bằng lòng với mức “đại khái” trong đời tu, để rồi sống hời hợt như một tu sĩ không nghiêm chỉnh gì cho mấy(!).  Như bao nữ tu khác, Têrêsa đã sống theo kỉ luật lỏng lẻo của các đan viện bấy giờ, vốn lìa xa tinh thần nguyên thủy của dòng là sống đời chiêm niệm.  Trong thời gian đó, Chúa vẫn nhiều lần mời gọi Têrêsa, nhưng người nữ tu này vẫn không quyết định dứt khoát hẳn với thái độ nửa vời.

Đời sống thiêng liêng của Têrêsa, trong khoảng hai mươi năm, cũng chỉ tỏ ra bình thường không có sự sốt sắng đặc biệt nào, cho tới mùa chay 1554, khi đọc quyển Tự Thú (Confessions) của thánh Augustinô và suy ngắm trước hình Chúa chịu đánh đòn, ngài đã hoán cải để bước vào một đời sống sốt mến nồng cháy.  Từ đó, tình yêu Thiên Chúa của Têrêsa sẽ trở thành một “ngọn lửa thiêu đốt.”  Sáu năm sau, “thị kiến” hoả ngục làm Têrêsa hiểu được giá trị của các linh hồn và mối nguy mất linh hồn.  Lúc ấy người nữ tu này quyết định làm mọi sự để cứu rỗi các linh hồn.  Thế là bắt đầu thời kỳ thứ hai của cuộc đời Têrêsa Chúa Giêsu.  Lúc ấy ngài 40 tuổi.[1]  Chúng ta hãy nghe ngài nói: “Tôi lênh đênh gần hai mươi năm trên biển cả giống tố này.  Sa ngã luôn luôn và rồi chỗi dậy, nhưng chẳng hy vọng gì là tôi sẽ không ngã lại.  Tôi yếu đuối đến nỗi tôi khó có thể giữ mình khỏi phạm tội nhẹ, còn tội trọng, dù có sợ, tôi cũng không sợ cho đủ như tôi phải sợ.  Vì tôi đã không tránh được những dịp đưa đến nguy hiểm sa ngã.  Tôi có thể quả quyết đây là một trong những nếp sống khốn khổ nhất mà tôi có thể tưởng tượng ra được.  Khi ở với Chúa, thì tôi bồi hồi xao xuyến vì những mối tình luyến ái ở thế gian.  Đây là một cuộc xung đột gay go tôi không biết làm sao có thể chịu được lấy một tháng thôi, nói chi tới là trong ngần ấy năm trời.”[2]

Ở một đoạn khác, ngài nói nỗi khốn khổ khi nghiêng ngửa trong lối sống này: “Đời tôi chất đầy những não nề, nhưng nhờ cầu nguyện mỗi ngày tôi biết rõ hơn về những lỗi lầm của tôi.  Một bên Chúa kêu gọi tôi, còn một bên tôi cứ theo thế gian.  Dường như tôi muốn dung hòa hai thái cực hoàn toàn mâu thuẫn này lại với nhau, đó là sự sống tinh thần và niềm hoan lạc với những vui thú và những lối tiêu khiển cho giác quan… Nhiều năm trôi qua đi như thế và bây giờ tôi ngạc nhiên làm sao con người có thể cứ ở trong tình trạng lưỡng vọng lâu như thế: không bỏ hẳn bên nào cả.  Tôi biết rõ là vào thời gian ấy tôi không thể bỏ cầu nguyện được nữa, vì để cho tôi thấy những hồng ân cao trọng hơn, thì chính Đấng đã dành lấy tôi cho một mình Người đã nâng đỡ tôi trong tay của Người.”[3]

Như vậy, chỉ tới khi cột mốc tuổi 40, Têrêsa mới thực sự quay lưng lại với thái độ chân trong chân ngoài, nghiêng ngửa trong đời tu của mình.  Và đây mới chính là cuộc hoán cải thiêng liêng sâu đậm và quyết định cho cuộc đời của Têrêsa.  Chính ngài viết: “Chúc tụng Thiên Chúa đời đời, Đấng trong giây lát đã ban sự tự do mà tôi đã cố gắng hết sức trong nhiều năm và đôi khi đã ức chế chính mình đến phương hại cho sức khỏe mà vẫn không bao giờ có thể đạt được.  Còn đây là công cuộc của Đấng toàn năng và là Chúa chân thật của mọi sự nên nó chẳng gây cho tôi đau khổ nào.”[4]  Một khi đã quay lưng với thế gian cách triệt để, Têrêsa mải miết bước những bước dài trong hành trình thiêng liêng.  Và ơn thánh Chúa biến đổi ngài cách lạ lùng, đến nỗi làm cho Têrêsa Chúa Giêsu thành một nhà cải cách mạnh mẽ về đời sống tận hiến ở thế kỉ XVI.  Têrêsa khao khát tinh thần về nguồn của dòng Kín Carmel không chỉ được tái lập ở tu viện nơi ngài sống, nhưng còn ở những nơi khác nữa.  Cùng với thánh Gioan Thánh Giá, và dĩ nhiên, với bao nỗi đắng cay và thử thách, ngài đã làm cho các đan sĩ Cát Minh trở về truyền thống linh đạo khởi thủy của mình.

Trong vườn hoa của Thiên Chúa, có muôn vàn bông hoa khác nhau.  Có những vị thánh đã thánh thiện từ nhỏ tới lớn như Aloysius (Louis) Gonzaga, Đaminh Saviô, Anê (Agnes) Montepulciano, có những vị chỉ được hoán cải nội tâm sau một cuộc đấu tranh dai dẳng.  Thánh Phanxicô thành Assisi, thánh Augustinô và nhiều vị thánh khác cũng có một quãng thời gian để hoán cải dài dẵng như thế đó.  Cái hay mà chúng ta thấy ở đây là ở chỗ này: Nếu Têrêsa đã là một vị thánh từ thuở ấu thơ như một số vị khác, có lẽ chúng ta khó bắt chước.  Nhưng chính ngài cũng đã biết bao lần thờ ơ trước lời mời gọi tiến sâu vào tình yêu Chúa Giêsu trong đời sống tận hiến.  Chính Têrêsa cũng bao lần giả điếc làm ngơ trước tiếng lương tâm của mình để sống trọn vẹn cho Chúa.  Chính thời gian dài thờ ơ nguội lạnh trong tâm hồn mà sau này ngài có vô vàn những kinh nghiệm để truyền lại cho những người đi sau ngài, để đừng rơi vào thái độ đó như ngài.

Chúng ta chẳng cảm nghiệm những điều tương tự như vậy sao?  Thánh Têrêsa Avila đã đến với Chúa bằng tất cả con người mình, không bỏ mất chút gì trong những đức tính bẩm sinh: trí thông minh, lòng cương nghị, sự tế nhị và can đảm.  Dù đạt tới độ kết hợp với Chúa một cách phi thường, thánh nữ vẫn luôn luôn là một người phụ nữ dễ thương, duyên dáng, dung dị.  Ngài đã thuyết phục được phe chống đối đường lối cải cách của mình nhờ ơn Chúa và sự thánh thiện đã đành, nhưng cũng nhờ tính tình tự nhiên, tế nhị, dễ thương, khéo léo, kể cả óc hài hước, dí dỏm.  Điều đó chứng tỏ ân sủng không huỷ diệt, nhưng hoá giải và nâng cao bản tính tự nhiên của con người.  Nói cách khác, sự hoạt động của Thần Khí Chúa trong thánh nữ là rất mãnh liệt, nhưng không hề làm phai nhạt bản tính tự nhiên của ngài, mà là thúc đẩy cho sự tăng trưởng như những cành nho tươi tốt trổ sinh hoa trái màu mỡ nhờ dòng nhựa chan hoà sự sống từ thân cây nho.[5]

Thánh Têrêsa Chúa Giêsu dường như đoan chắc với chúng ta bất cứ ai cũng có thể trở nên “tuyệt vời”, nếu thực sự dâng trọn trái tim cho Chúa Giêsu để Ngài toàn quyền hoạt động.  Không phải ai cũng là người vĩ đại như ngài, nhưng ai cũng có thể trở nên tuyệt vời như ngài. Không phải ai cũng được những ơn cao siêu trọng đại như ngài vì Thánh Ý Chúa định cho mỗi người mỗi khác, nhưng ai cũng có thể phó thác và suy phục (surrender) hoàn toàn để Thánh Ý Chúa thể hiện trong đời mình.  Không phải ai cũng có thể có khả năng miêu tả những đặc ân và trạng thái trong đời sống thiêng liêng sâu sắc như ngài, nhưng ai cũng có thể có khả năng vươn tới tầm mức viên mãn thánh thiện nhất mà Chúa mong ước, một khi để cho Chúa hành động.  Bởi vì, “mỗi vị thánh đều có một quá khứ, mỗi tội nhân đều có một tương lai.” (Oscar Wilde)

Con chiên nhỏ
congiao.info

———————

[1] memaria.net

[2] THÁNH TÊRÊSA CHÚA GIÊSU, Tiểu sử Tự thuật, 1565, chương 8, số 2, trang 62

[3] THÁNH TÊRÊSA CHÚA GIÊSU, Tiểu sử Tự thuật, 1565, chương 7, số 17, trang 57

[4] THÁNH TÊRÊSA CHÚA GIÊSU, Tiểu sử Tự thuật, 1565, chương 24, trang 202-203

[5] JM. Lam Thy ĐVD, memaria.org

BÀI HỌC FATIMA CHO THÁNG MƯỜI

Chúng ta đang sống trong Tháng Mười, tháng biệt kính Đức Mẹ Mân Côi, chúng ta có thể nhớ lại những lần Đức Mẹ hiện ra và nói về Chuỗi Mân Côi.

Năm 1917, ba trẻ mục đồng ở Fatima, Bồ Đào Nha, đã được gặp Đức Mẹ tại Cova da Iria, nơi chúng đang chăn đàn chiên gần những ngọn núi gần nhà.  Lucia, Francisco và Jacinta đã đi vào lịch sử về lòng sùng kính các em dành cho Đức Mẹ vì sứ điệp mà các em có thể trao cho thế giới để cảm ơn Mẹ Thiên Chúa đã ưu tiên thăm viếng các em.  Đây là 10 bài học Đức Mẹ Fatima dạy về việc cầu nguyện bằng Kinh Mân Côi.

1. Cầu nguyện có chủ tâm

Khi Đức Mẹ gặp các em, chúng có thể nhận biết sức mạnh của lời cầu nguyện của chúng.  Khi người ta biết chuyện lạ, họ xin các em chuyển ý nguyện với Bà Đẹp mà các em gặp mỗi tháng vào ngày 13 tại Cova da Iria – từ tháng Năm tới tháng Mười.  Người ta trĩu nặng vì các vấn nạn của thế giới này, và luôn có nhiều ý nguyện để cầu xin.  Ba trẻ trở thành những chiến binh cầu nguyện thực sự, quyết tâm cầu nguyện cho người khác, kể cả các nhu cầu lớn lao của thế giới này.  Các em đặc biệt cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng, cho các linh hồn và xin hòa bình cho thế giới.

2. Kinh Mân Côi là cách tốt để suy niệm cuộc đời Đức Kitô

Mỗi ngày, một Kitô hữu có thể đọc Kinh Mân Côi và suy niệm về cuộc đời Đức Giêsu Kitô.  Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng, Kinh Sáng Danh và Lời Nguyện Fatima là nền tảng các mầu nhiệm về Sự Sống và Sự Chết của Đức Giêsu Kitô.  Bắt đầu mỗi chục kinh, một mầu nhiệm được chú ý để suy niệm, và chúng ta cùng sống mầu nhiệm của Đức Giêsu Kitô.

3. Bình thường nên đọc Năm Chục Kinh

Đức Mẹ yêu cầu các em đọc trọn terço – tiếng Bồ Đào Nha nghĩa là cả năm chục kinh Mân Côi.  Cảm ơn Thánh Gioan Phaolô II, vì chúng ta ngày nay có thêm Năm Sự Sáng, và cảm ơn Chân phước Bartolo Longo, tổng cộng có 20 mầu nhiệm Mân Côi.  Có thể người ta không đủ kiên nhẫn đọc 15 chục kinh hoặc 20 chục kinh, nhưng 5 chục kinh là mức trung bình mà đa số chúng ta có thể thực hiện.

4. Kinh Mân Côi là cách tốt để chống chiến tranh

Ba trẻ được gặp Đức Mẹ trong thời gian chịu nỗi thống khổ của Thế Chiến I.  Mặc dù các em không tiếp xúc với chiến tranh, nhưng các em được động viên cầu xin cho chấm dứt chiến tranh.  Các em nhận Chuỗi Mân Côi như một loại vũ khí khác để chấm dứt chiến tranh.

5. Kinh Mân Côi là cách tốt để xin hòa bình

Ngoài việc cầu xin cho chiến tranh chấm dứt, Kinh Mân Côi còn là phương cách để đạt được sự bình an riêng mỗi cá nhân.  Ba trẻ trở nên những tông đồ đích thực của Kinh Mân Côi và có thể đạt được bình an nội tâm, mặc dù các em phải chịu nhiều đau khổ vì ý kiến của người khác – xã hội và gia đình.

6. Kinh Mân Vôi là cách tốt để cứu các linh hồn

Lời nguyện Fatima sau Kinh Sáng Danh là lời nguyện cầu cho các linh hồn, lời nguyện này do chính Đức Mẹ dạy các em.  Lời cầu xin này thấm vào việc đọc Kinh Mân Côi thường xuyên, người ta trở nên quen cầu xin theo ý nguyện tốt lành: cầu xin Ơn Cứu Độ cho các linh hồn.

7. Kinh Mân Côi là cách đối thoại riêng

Kinh Mân Côi có ảnh hưởng sâu sắc tới ba trẻ.  Các em lãnh nhận nhiều ơn lành nhờ được gặp Đức Mẹ, nhưng các em cũng cũng được giới thiệu cách sống đời sống cầu nguyện thực sự để giúp các em bước đi trên con đường đối thoại riêng.  Việc cầu nguyện thường xuyên làm thay đổi thái độ và ước muốn trong cuộc sống.

8. Kinh Mân Côi là cách tốt để học cầu nguyện

Kinh Mân Côi ngắn gọn và dễ cầu nguyện.  Đó là cách tốt để học cầu nguyện.  Đó cũng là lời cầu nguyện vừa bằng lời nói vừa bằng tâm trí.  Sự lặp đi lặp lại các từ ngữ là lời cầu bằng lời nói và là cách cầu nguyện dễ dàng nhất.  Sự kết hợp với việc suy niệm các mầu nhiệm là lời nguyện tâm trí.  Như vậy, người đọc Kinh Mân Côi đi vào lời cầu nguyện, bắt đầu bằng những gì quen thuộc và chuyển tới những gì khó khăn hơn.

9. Kinh Mân Côi là cách tốt để cầu nguyện liên lỉ

Kinh Mân Côi có thể trở nên thói quen tốt trong cuộc sống hằng ngày, giúp các Kitô hữu đáp lại lời động viên của Thánh Phaolô về việc cầu nguyện không ngừng: “Anh em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng.  Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh.  Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu” (1 Tx 5:16-18).  Đức Mẹ không yêu cầu ba trẻ đọc Kinh Mân Côi hằng ngày, nhưng cầu nguyện luôn luôn.

10. Sự lặp đi lặp lại trong Kinh Mân Côi là tặng phẩm

Một số người cho rằng sự lặp đi lặp lại trong Kinh Mân Côi gây nhàm chán.  Tuy nhiên, sự lặp lại này làm cho người ta suy niệm ý nghĩa của các câu chữ và có thời gian để cầu nguyện.  Trong một thế giới tìm cách xâm chiếm cả các ý tưởng riêng, sự lặp lại trong Kinh Mân Côi giúp tạo nên khiên thuẫn để bảo vệ đời sống nội tâm của chúng ta.  Điều quan trọng nhất khi đọc Kinh Mân Côi là chúng ta đối xử với Đức Maria là Mẹ Hiền của chính chúng ta.

Lạy Đức Mẹ Fatima, xin cầu cho chúng con.  Lạy Hiền Mẫu của chúng con, xin nguyện giúp cầu thay.

Lm. Nicholas Sheehy, L.C (Legionaries of Christ – Dòng Đạo Binh Chúa Kitô)
Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

ĐÓN NHẬN ƠN CỨU ĐỘ

Chúa Giêsu đang trên đường lên Giêrusalem để chịu khổ hình, hoàn thành việc cứu độ.  Chính lúc đi ngang qua Samaria, nhất là qua việc cứu chữa mười bệnh nhân phong, Chúa cho thấy một vài đặc điểm của ơn cứu độ.

Ơn cứu độ là phổ quát

Chúa muốn cứu độ hết mọi người không loại trừ ai.  Nên Chúa đi qua Samaria.  Samaria là vùng đất cấm kỵ đối với người Do Thái.  Đó là vùng đất ngoại đạo.  Đó là vùng đất ô uế.  Người Do Thái và người Samaria không giao thiệp với nhau.  Nhưng Chúa đã vượt qua ranh giới cấm kỵ đó.  Chúa muốn đem ơn cứu độ đến cho mọi người.  Tại Samaria Chúa còn gặp gỡ mười người phong cùi.  Lại một cấm kỵ nữa.  Người phong cùi vốn bị coi là hạng người tội lỗi, ô uế.  Ai gặp họ đều trở nên ô uế.  Họ bị loại trừ ra khỏi đời sống xã hội.  Tại Samaria, những người phong cùi là những người ở tầng lớp cuối cùng của xã hội.  Chúa đem ơn cứu độ cho mọi người, kể cả những người bị khinh miệt nhất, bị quên lãng nhất, bị hất hủi nhất.  Ơn cứu độ Chúa ban cho tất cả mọi người.  Trước mặt Chúa mọi người đều bình đẳng.

Ơn cứu độ là nhưng không

Không ai dám nghĩ đến việc mời Chúa xuống trần gian.  Không ai có công trạng gì khiến Chúa phải xuống trần gian để tưởng thưởng hay để đền đáp.  Chúa xuống trần gian hoàn toàn do lòng nhân từ yêu thương của Chúa.  Cũng thế, người Samaria hoàn toàn bất ngờ khi Chúa đến miền đất của họ.  Những người phong cùi lại càng không bao giờ dám mơ tưởng tới.  Bản thân họ đã bị lên án, bị loại trừ rồi.  Ngay việc gặp một người bình thường đã không được phép, huống chi là gặp gỡ Chúa.  Nhưng Chúa đã đến gặp gỡ họ, ban ơn cứu chữa họ.  Hoàn toàn nhưng không.  Họ chẳng có công gì.  Họ chẳng có quyền đòi hỏi gì.  Họ chỉ có nỗi đau khổ tột cùng.  Chính nỗi đau khổ đó đã khơi dậy lòng yêu thương của Chúa.  Vì Chúa là tình yêu thương.

Ơn cứu độ phải được đón nhận với niềm tin

Tuy ơn cứu độ được ban rộng rãi và nhưng không, nhưng để đón nhận đòi phải có niềm tin.  Những người phong cùi hôm nay đã bày tỏ niềm tin qua hai thái độ.  Thái độ thứ nhất là đồng thanh lớn tiếng kêu cầu danh Chúa Giêsu: “Lạy Thày Giêsu, xin cứu chúng tôi.”  Danh Thánh Giêsu có nghĩa là Thiên Chúa cứu.  Từ cùng tận nỗi đau khổ, những người phong cùi đã kêu van bằng tất cả tấm lòng tha thiết và với niềm tin vững chắc.  Chỉ có Chúa mới thương xót họ.  Chỉ có Chúa mới đủ quyền năng cứu chữa họ.  Thái độ thứ hai là đi trình diện với thày tư tế.  Chúa không chữa họ ngay nhưng bảo họ đi trình diện với thày tư tế.  Dù chưa được khỏi, nhưng họ vẫn tin tưởng lên đường.  Đang khi đi đường thì họ được khỏi.  Đức tin đã chữa họ.

Ơn cứu độ phải được đón nhận với niềm vui

Đây là niềm vui trong mối tương giao giữa Thiên Chúa với con người.  Cốt lõi của ơn cứu độ là thiết lập mối tương giao, cho con người được trở nên con cái Thiên Chúa, đồng hưởng hạnh phúc với Chúa.  Đó là cội rễ của niềm vui, niềm hạnh phúc.  Chín người bệnh không trở lại chỉ có niềm vui được khỏi bệnh, nhưng không có niềm vui trong mối tương giao với Thiên Chúa.  Họ có đức tin cầu xin nhưng thiếu đức tin gặp gỡ với Thiên Chúa.  Niềm vui được khỏi bệnh rồi cũng sẽ nhạt phai.  Chỉ có một người trở lại tạ ơn.  Anh trở lại vì mối tương giao.  Anh nhận biết nguồn gốc niềm vui của mình.  Anh sụp lạy Chúa vì biết nguồn gốc hiện hữu của mình.  Anh đã tìm thấy nguồn cội ý nghĩa đời mình.  Niềm vui của anh sẽ còn mãi mãi.  Đời anh sẽ là một đời tạ ơn không ngừng.

Lạy Chúa, xin cho con biết tìm đến gặp gỡ Chúa để tạ ơn Chúa.  Chính niềm vui tạ ơn này đem đến cho con hạnh phúc suốt đời.  Amen.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

GIÁO HOÀNG CỦA KINH MÂN CÔI

“Kinh Mân Côi là lời cầu nguyện tuyệt vời nhất và là phương cách hiệu quả nhất để đạt tới sự sống đời đời.  Đó là phương thuốc cho tội lỗi của chúng ta, là nguồn gốc phúc lành của chúng ta.  Không có cách cầu nguyện nào tuyệt vời hơn.” Đó là lời minh định của ĐGH Leo XIII, vị giáo hoàng thứ 256, triều đại từ 1878 tới 1903.

Ngài là vị giáo hoàng đại thọ nhất trong lịch sử Giáo Hội – qua đời lúc 93 tuổi.  Ngài là ngòi bút sắc bén, thi sĩ thông minh, thần học gia nổi trội, và người sáng lập Viện Giáo Hoàng Thánh Thomas Aquino năm 1879 – nay là Đại Học Giáo Hoàng Thánh Thomas Aquino, hoặc Angelicum.

Là mục tử và nhà thần bí, ĐGH Leo XIII rất quan tâm các vấn đề xã hội và luân lý, làm cho Giáo Hội có nhiều vũ khí tâm linh để chống lại các vấn đề đó.  Một hôm, khi đang dâng lễ, ngài thị kiến cuộc chiến tâm linh dữ dội và được gợi hứng viết kinh tổng lãnh thiên thần Michael.  Ngài cũng thúc đẩy việc sùng kính Đức Thánh Giuse, tận hiến thế giới cho Thánh Tâm Chúa Giêsu, thúc đẩy lòng sùng kính Ngày Thứ Sáu, và ấn định tháng Sáu là tháng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu.  Ngài là vị Giáo Hoàng mà cô bé Teresa 15 tuổi đã xin phép chuẩn vào Dòng Kín khi ngài tới Lisieux.  Ngài là Giáo Hoàng đầu tiên xuất hiện trên phim ảnh và tuyên chân phước cho linh mục Louis de Montfort năm 1888, và ĐGH Piô XII tuyên thánh cho linh mục Louis de Montfort năm 1947.

1. LÒNG SÙNG KÍNH ĐỨC MẸ

Từ hồi trẻ, ĐGH Leo XIII đã rất sùng kính Đức Mẹ.  Phát hiện các bài viết về Đức Mẹ của Thánh Louis de Montfort năm 1846, và điều tra các bài viết này vào án phong thánh cho linh mục Montfort, ĐGH Leo XIII đã ảnh hưởng nhiều với tư tưởng của thánh Montfort về Đức Mẹ.  Ngài rất sùng kính Đức Mẹ, ban ân xá cho những người tận hiến cho Đức Mẹ theo cách của Thánh Montfort.  Một nguồn gợi hứng khác về Đức Mẹ đối với ĐGH Leo XIII là công việc của Chân Phước Bartolo Longo ở Pompeii.

ĐGH Leo XIII cởi mở với các mặc khải tư.  Ngài thúc đẩy việc sùng kính Áo Đức Bà, thiết lập lễ Đức Mẹ Ảnh Phép Lạ (Our Lady of the Miraculous Medal), viết tông thư thức đẩy việc hành hương các Đền Đức Mẹ, đặc biệt là Đức Mẹ Lộ Đức, và công nhận thị kiến Đức Mẹ hiện ra tại La Salette, với hai trẻ Maximin Giraud và Mélanie Calvat.  Ngài yêu mến Đức Mẹ Lộ Đức đến nỗi cho xây dựng một hang Lộ Đức tại vườn Vatican.  Theo ý tưởng của thánh Bernard Clairvaux, ngài nói rằng các Kitô hữu cố gắng sống đức tin mà không có Đức Mẹ cũng như con chim cố gắng bay mà không có đôi cánh.  Trong nhiều bài viết về Đức Mẹ, ngài nhấn mạnh rằng Đức Mẹ có thể làm cho các tín hữu vâng lời Đức Giáo Hoàng.  Ngài là Giáo Hoàng đầu tiên được ghi âm tiếng nói, và khi ghi âm, ngài hát kinh Kính Mừng.

2. VÔ ĐỊCH KINH MÂN CÔI

ĐGH Leo XIII là nhà vô địch về kinh Mân Côi.  Ngài viết 11 tông thư về Kinh Mân Côi, và rất nhiều sứ điệp về kinh Mân Côi.  Các tông thư về kinh Mân Côi có phần tóm lược các câu của các vị tiền nhiệm về vai trò của thánh Đa Minh là người khởi xướng kinh Mân Côi và sáng lập hội Mân Côi.  Ngài nói rằng Đức Mẹ đã giao phó Chuỗi Mân Côi cho thánh Đa Minh, so sánh hội Mân Côi của thánh Đa Minh với đạo binh cầu nguyện và cuộc chiến thiêng liêng giành lại các linh hồn cho Đức Kitô.

ĐGH Leo XIII nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo huấn xã hội Công giáo qua Tông thư Rerum Novarum (Tân Sự – nói về đời sống của giới lao động nghèo), và nói rằng Kinh Mân Côi là một phần giải quyết các vấn đề xã hội thời đó.  Ngài không ngừng nói rằng kinh Mân Côi là phương cách hữu hiệu để mở rộng Vương Quốc của Chúa Giêsu Kitô trên thế gian này, đồng thời hữu ích cho cà cá nhân và xã hội.  Ngài khuyến khích mọi người đọc kinh Mân Côi hằng ngày, đặc biệt khuyến khích các linh mục và các nhà truyền giáo nói về kinh Mân Côi, vì đó là sức mạnh đẩy lui sự ác và chữa lành các vết thương lòng.

ĐGH Leo XIII ấn định tháng Mười là tháng Mân Côi, ban nhiều ân xá cho người đọc kinh Mân Côi, ủng hộ việc xây dựng Thánh Đường Mân Côi tại Lộ Đức, thêm danh xưng “Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi” vào Kinh Cầu Đức Bà, viết hiến chương cho hội Mân Côi, khuyến khích các tu sĩ Đa Minh truyền bá kinh Mân Côi, và ủng hộ hội Tông Đồ Mân Côi của chân phước Bartolo Longo tại nhà thờ Mân Côi ở Pompeii.  Ngài còn rút gọn kinh tổng lãnh thiên thần Michael mà ngày nay thường đọc khi lần chuỗi xong.  Các bài viết của ĐGH Leo XIII đề cao ơn lành của kinh Mân Côi: đọc kinh Mân Côi là cầu nguyện với các thánh thiên thần, vì chính sứ thần Gabriel là người đầu tiên nói lời kính chào Đức Mẹ.  Mãi mãi ĐGH Leo XIII là vị giáo hoàng của Kinh Mân Côi.

Lm Donald Calloway (Mic)
Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

MẸ ĐẦY ƠN PHÚC

Nhờ nhạc phẩm “Ave Maria”, tên tuổi của nhà soạn nhạc người Áo Franz Schubert được cả thế giới biết đến.  Tuyệt tác của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng.  Nhiều danh ca nhờ bài thánh ca này mà được nổi danh ở tầm mức quốc tế.  Thật tuyệt vời khi thấy Đức Trinh nữ Maria được ca tụng tôn vinh qua bài ca này.  Từ những đại nhạc hội hàng ngàn hàng vạn thính giả, đến những nghệ sĩ violon hát rong ngoài đường phố, tất cả đều ca lên lời chào Đức Trinh nữ Maria: Mẹ đầy ơn phúc.  Từ những tín hữu đạo đức đến những người vô tín ngưỡng, tất cả đều chăm chú cảm nhận những lời ca và âm điệu ngọt ngào của bài thánh ca để tôn vinh Mẹ Chúa Trời.

Ave Maria là lời chào của thiên sứ Gabrien khi đến gặp Đức Mẹ trong ngày truyền tin.  Thiên sứ từ trời cao, xuống trần để gặp một phụ nữ khiêm hạ.  Ave Maria vừa là lời chào, vừa là lời mời gọi hãy vui lên vì “Đức Chúa ở cùng Bà.”  Qua lời chào kính trọng ấy, thiên sứ tỏ bày sự cung kính trước người phụ nữ được Chúa chọn làm thân mẫu của Ngôi Lời nhập thể.  Khi muốn cứu chuộc con người, Thiên Chúa mời gọi sự cộng tác của một người phụ nữ.  Ngài đã chọn Đức Trinh nữ Maria như một “điểm đỗ” để Con của Ngài giáng trần.  Thánh Luca đã diễn tả cuộc gặp gỡ kỳ diệu ấy, là một cuộc gặp gỡ giữa trời với đất, giữa Thiên Chúa cao cả và con người phàm trần.  Trinh nữ Maria đã thưa lời “Xin vâng” để mở lòng đón nhận Ngôi Lời nhập thể.  Với lời thưa “Xin vâng” của Mẹ, Con Thiên Chúa đã đến thế gian, khởi đầu công cuộc cứu độ loài người.

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, trước hết là lời kinh ca ngợi.  Chúng ta hợp lời với sứ thần chào kính và ca tụng thiên chức cao cả của Đức Mẹ.  Mẹ là người được Thiên Chúa chọn lựa trong muôn người, để làm ngai tòa cho Đấng Cứu thế ngự khi đến trần gian, mặc lấy thân phận con người.  Lời Mẹ nói tiên tri về chính mình nay đã được thực hiện: “Từ nay, hết mọi đời, sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 2,48).  Qua cuộc đời của Mẹ, chúng ta ca tụng quyền năng vô biên của Thiên Chúa, đã thực hiện những việc lạ lùng.  Mẹ được tôn vinh làm Nữ Vương trời đất, cùng với Đức Giêsu là Vua Vũ trụ để chúc phúc cho muôn loài.

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, đó là lời kinh của niềm phó thác cậy trông.  Khi lần hạt Mân Côi, chúng ta xin Đức Mẹ cầu bầu cho chúng ta được những ơn lành phần hồn phần xác, nhất là được ơn trung thành như Đức Mẹ.  Lời kinh thấm nhập mỗi con tim, diễn tả tâm tư trìu mến của chúng ta dành cho Mẹ.  Lời kinh đem lại sự ngọt ngào mỗi khi chúng ta âu sầu đau khổ; đem lại hy vọng mỗi khi chúng ta gặp khó khăn thất bại; đem lại niềm vui mỗi khi chúng ta buồn bã; đem lại sức mạnh mỗi khi chúng ta yếu đuối; đem lại sự đỡ nâng mỗi khi chúng ta có nguy cơ gục ngã trên đường đời.  “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời”, đó là lời cầu nguyện của Giáo Hội, cũng là lời cầu nguyện của mỗi con tim, xin Đức Mẹ bầu cử cho chúng ta đang còn bước đi trong cuộc sống dương gian đầy gian nan thử thách.  “Kinh Mân côi không những kéo ơn trên trời xuống cho tội nhân, khiến họ mau mắn về với Mẹ, nhưng còn làm cho họ đứng vững trên con đường sùng kính mến yêu Mẹ.  Nơi nào đông người chuyên chăm lần hạt, nơi ấy giáo hữu tiến nhanh trên đường thánh thiện, trái lại nơi nào thờ ơ, giáo hữu sẽ lâm vào tình trạng hư hỏng” (Thánh Grignion de Monfort).

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, đó là lời kinh của tâm tình hiếu thảo chúng ta dâng lên Mẹ Thiên Chúa.  Có người thắc mắc tại sao phải lặp đi lặp lại nhiều lần kinh Kính mừng khi lần hạt Mân Côi.  Điều đó thật dễ hiểu!  Người con hiếu thảo nào cũng muốn nói ngàn lần lời yêu thương với cha mẹ mình mà vẫn chưa đủ.  Ngôn ngữ diễn tả tình yêu giống như dòng sông tuôn chảy mãi không dừng, cũng thế, những lời chào kính Đức Mẹ dù có lặp đi lặp lại là bằng chứng của tình mến chúng ta dành cho Đức Mẹ.  Kinh Mân Côi sẽ giúp khơi nguồn dòng chảy yêu thương từ nơi Đức Mẹ đến với chúng ta.

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, mỗi lời kinh là một bước đường đời dẫn ta đến gần Chúa hơn, và giúp chúng ta nên giống Chúa.  Bởi lẽ kinh Kính mừng được đọc trong tâm tình suy niệm, chiêm ngắm những mầu nhiệm của cuộc đời Chúa Cứu thế, từ ngày Truyền tin cho đến khi Người sống lại và lên trời vinh quang.  Mỗi bước đường của chúng ta đều có Đức Mẹ đồng hành.  Mỗi lối đi dương thế đều có Chúa dẫn đưa.  Đó là giá trị của Kinh Mân Côi.

Kinh Mân Côi là hình thức cầu nguyện được chính Đức Mẹ khuyến khích.  Quả vậy, khi hiện ra ở Lộ Đức cũng như ở Fatima, Đức Mẹ đã cùng lần hạt với các thị nhân, trong tình thân thương trìu mến.  Vì thế, tượng Đức Mẹ được trình bày tại hai nơi thánh địa này đều có cỗ tràng hạt nơi tay của Đức Mẹ.  “Hãy siêng năng lần hạt”, đó còn là lệnh truyền của Đức Mẹ khi hiện ra với ba trẻ chăn chiên ở Fatima năm 1917.

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, ước chi lời kinh này luôn vang lên nơi môi miệng chúng ta, từ khi sinh ra cho đến lúc lìa đời, nhờ đó, chúng ta luôn được Đức Mẹ phù hộ độ trì.  Nhờ Mẹ và qua Mẹ, chúng ta sẽ gặp Đức Giêsu, và đạt được sự sống đời đời.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên

PHỤNG SỰ CHÚA CHO PHẢI ĐẠO LÀM TÔI

Với trí tưởng tượng phong phú kết hợp với tài nghệ văn chương tuyệt vời, nhà văn Đan-mạch Hans Christian Andersen đã dựng nên một nhân vật rất độc đáo là “Chiếc bóng.”

Ai cũng có chiếc bóng đi theo mình.  Chiếc bóng hoàn toàn lệ thuộc chủ: khi chủ đi, bóng đi theo, khi chủ chạy, bóng chạy; khi chủ dừng, bóng dừng; chủ đi đâu, bóng theo đến đó.

Vậy mà nhân vật “Chiếc Bóng” trong chuyện của Andersen lại tách ra khỏi người chủ của mình vốn là một nhà khoa học, để trở thành một nhân vật độc lập, đòi sống riêng không lệ thuộc chủ, rồi dần dà y dám gọi mày xưng tao với chủ… Một thời gian sau, y lên mặt sai khiến cả chủ của mình, và thật trớ trêu, y tự tôn mình lên làm chủ và bắt chủ phải làm “chiếc bóng” của y và cuối cùng, y lập kế tống giam chủ mình vào ngục và sát hại người chủ ngay trong tù.

Tương quan giữa con người với Thiên Chúa cũng như bóng với hình.  Thiên Chúa đã tạo dựng nên loài người và mọi người hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa, nhờ Chúa con người mới tồn tại được.  Chúa là Chủ, con người là tôi tớ.  Chúa là Hình, con người là bóng.  Vậy mà nực cười thay, một số người lại làm như nhân vật “Chiếc Bóng” trong tác phẩm của Andersen.  Họ đòi quyền làm chủ và bắt Thiên Chúa lệ thuộc họ.  Họ đòi Thiên Chúa đáp ứng những đòi hỏi của họ mà không nghĩ rằng họ phải đáp ứng những đòi hỏi của Thiên Chúa trước đã.

Chẳng hạn khi yếu đau, người ta yêu cầu Chúa chữa họ cho lành.  Khi túng thiếu, người ta đòi hỏi Chúa cho no đủ.  Khi gặp thất bại trong cuộc đời, người ta yêu cầu Chúa đem lại sự thành công…  Nếu Chúa không mau mắn làm theo yêu cầu, người ta sẽ trách móc Chúa, oán ghét Chúa, loại trừ Chúa ra khỏi đời mình!

Vì yêu thương loài người, Thiên Chúa sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu chính đáng của họ, nhưng không phải vì thế mà con người có quyền đòi Thiên Chúa phải luôn luôn phục vụ mình mà quên rằng mình là người tôi tớ của Thiên Chúa nên phải lo phụng sự và thực hiện ý Chúa trước đã.

Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu muốn đưa chúng ta trở về lại đúng vị trí của mình, vị trí của người tôi tớ, và nhiệm vụ của người tôi tớ là lo phục dịch hầu hạ chủ mình mà không được kể lể công lao.

Chúa nói: “Ai trong anh em có người đầy tớ đi cày hay đi chăn chiên, mà khi nó ở ngoài đồng về, lại bảo nó: “Mau vào ăn cơm đi”, chứ không bảo: “Hãy dọn cơm cho ta ăn, thắt lưng hầu bàn cho ta ăn uống xong đã, rồi anh hãy ăn uống sau?  Chẳng lẽ ông chủ lại biết ơn đầy tớ vì nó đã làm theo lệnh truyền sao?

Đối với anh em cũng vậy: khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi.”

Hai vị tôi tớ vĩ đại của Thiên Chúa

Một trong những nét đẹp của Mẹ Maria là Mẹ biết nhìn nhận mình là tôi tớ Thiên Chúa nên sẵn sàng vâng lệnh Chúa truyền.  Khi được sứ thần Gáp-ri-en cho biết Thiên Chúa muốn trao cho Mẹ một sứ mạng thật cao cả nhưng cũng đầy khó khăn, Mẹ sẵn sàng vâng phục vì ý thức mình chỉ là tớ nữ hèn mọn của Thiên Chúa.  Mẹ thưa với sứ thần: “Nầy tôi là tớ nữ của Chúa.  Tôi xin vâng như lời Chúa truyền.” Vì thế, Mẹ làm đẹp lòng Thiên Chúa và được Thiên Chúa nâng lên địa vị tối cao.

Ngay cả Chúa Giêsu, “vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa Cha, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ… Người lại còn hạ mình vâng lời Chúa Cha cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cây thập tự…” (Philip 2, 6-8).

Lạy Chúa Giêsu,

Chúa là Thiên Chúa quyền năng mà còn hạ mình làm tôi tớ, vâng phục Chúa Cha trong mọi sự cho dù phải chết trên thập giá và Đức Maria là hiền mẫu của Chúa, dù được diễm phúc làm Mẹ của Chúa, mà vẫn sẵn sàng phụng sự Thiên Chúa Cha như nữ tỳ khiêm tốn, thì xin cho chúng con là người phàm hèn mọn, luôn biết nhìn nhận mình chỉ là tôi tớ thấp hèn của Thiên Chúa và hết lòng phụng sự Chúa cho phải đạo làm tôi.

Lm. Ignatiô Trần Ngà

TÌNH YÊU THIÊN CHÚA

Thật khiêm tốn, tự đặt mình vào chỗ thấp nhất, làm những điều bình thường nhỏ bé bằng đường lối phi thường:

Với tất cả tình yêu thương Tư tưởng của Thánh Têrêsa

Một Cuộc Sống Rất Bình Thường

Sự thánh thiện của Thánh Têrêsa không phải từ hiện tượng phi thường nào.  Đây là vấn đề:” làm những điều bình thường bằng đường lối phi thường.”

Rất nhiều người khó có thể nhận thức rằng Therese Martin đã có một cuộc sống rất bình thường.  Bởi vì bây giờ Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, được cả thế giới biết đến và được vinh danh với nhiều tước hiệu: (Quan thầy các đoàn truyền giáo, Quan thầy thứ hai của nước Pháp, Tiến sỹ Giáo Hội v.v…) chúng ta quên rằng ngài đã ra đi không được chú ý trong gia đình ngài, giữa bạn hữu, trong tu viện Carmelite, ngay cả vị linh hướng của ngài cũng ít chú ý đến ngài.

Dù thế, Lisieux người ta đã nói với nhau rằng một cô gái đã dám nói với Đức Giáo Hoàng Leo XIII trong một cuộc triều kiến ở La Mã (một tờ báo quốc gia đã tường thuật truyện này).  Sau đó ngài vào tu viện Carmel ở khi được 15 tuổi 3 tháng.  Nhưng ngài qua đời âm thầm trong tu viện Carmelite và chỉ có khoảng 30 người hiện diện trong đám tang ở nghĩa trang thành phố Lisieux.  Đã có 500.000 người hiện diện trong buổi lễ phong thánh của ngài tại Nhà thờ Thánh Phê-rô ở La Mã ngày 17 tháng 5 năm 1925.

Vâng đó là một cuộc sống bình thường và âm thầm.

Ở Alencon- Lisieux (1873-1888)

Trong một gia đình Thiên Chúa Giáo ở Alencon: Người cha là ông Louis Martin, một thợ làm đồng hồ và thợ kim hoàn, và người mẹ, bà Zelie Guerin, là thợ làm đăng ten.  Ông bà có 8 người con: bốn người con đã mất khi còn nhỏ.  Còn lại 4 chị em gái và bà mẹ lại mang thai lần nữa ở tuổi 40.

Therese sinh ngày 2 tháng 1 năm 1873.  Cô là một bé gái rất linh hoạt.  Cô về sống với gia đình một năm rưỡi sau đó sống với bà vú vì mẹ cô không thể cho cô bú.  Cô sống rất hạnh phúc trong gia đình với tình thương mến của bố mẹ và các chị.  Cô thừa hưởng một đức tin mạnh mẽ từ gia đình cô.  Mọi sự tốt đẹp cho đến khi biến cố đau lòng xảy ra: bà Zelie Martin qua đời vì bệnh ung thư vú vào năm 1877, lúc đó bé Therese mới 4 tuổi rưỡi.

Bé Therese bị xúc động mạnh.  Cô chọn chị Pauline là người mẹ thứ hai, nhưng vết thương quá sâu phải mất mười năm mới nguôi ngoai được.  Vì phải nuôi 5 cô con gái nên ông Martin đã theo lời khẩn khoản của người em trai rể dọn về Les Buissonets, Lisieux.

Bé Therese tìm thấy một không khí ấm cúng tại đây, tuy vậy 5 năm đi học tại trường Benedictine lại trở nên “buồn bã nhất trong đời.”  Bé là một cô học trò nhút nhát cho nên không chịu nổi cuộc sống ở trường học.  Khi chị Pauline rời nhà để nhập tu viện Carmel, vết thương của cô đau đớn trở lại.

Ở tuổi lên 10, Therese đã mang một căn bệnh trầm trọng.  Cô bị bệnh ảo giác.  Các bác sỹ đã bó tay.  Gia đình cô vào các nữ tu dòng Carmel cầu nguyện rất nhiều.

Vào ngày 13 tháng 5 năm 1883, bức tượng Đức Trinh Nữ đã mỉm cười với cô và cô đã khỏi bệnh tức thì.

Năm sau đó, vào ngày 8 tháng 6 năm 1885, Therese được Chịu Lễ lần đầu.

Từ đó cô đã nghĩ tới việc nhập dòng Carmel.  Sau đó người mẹ thứ ba là Marie lại nhập tu viện khiến cô lại một lần nữa khổ đau về sự chia lìa.

Cô đã phải vượt nhiều khó khăn trong việc đi tu.  Cô đã phải tranh đấu với ông chú, vị tu viện trưởng, vị Giám Mục địa phương, và ngay cả với Đức Giáo Hoàng Leo 13.  Cô đã cương quyết theo đuổi nguyện vọng được “yêu Chúa Giê-Su và làm cho Người được yêu.”

Được biết việc một kẻ giết người đã giết 2 người đàn bà và một bé gái 12 tuổi ở Paris, Therese đã cầu nguyện thật nhiều và làm nhiều việc nhân đức cho anh ta, cầu xin cho anh Henry Pranzini, kẻ giết người, được ơn cứu độ.  Anh ta đã bị xử trảm nhưng giây phút chót anh đã hôn tượng Chúa Chịu Nạn.

Therese đã khóc lên sung sướng, việc cầu nguyện của cô đã được nhậm lời, cô gọi anh Panzini là “đứa con đầu tiên.”

Trong một cuộc hành hương đi nước Ý, cô xin được có phép của Đức Giáo Hoàng để nhập tu viện ở tuổi 15.  Cô chỉ nhận được sự trả lời một cách thoái thác.  Dù vậy vào ngày 9 tháng 4 năm 1888 cô đã lìa xa cha, chị Celine, chị Leonie và con chó Tom mãi mãi.

Therese đã thật hạnh phúc nhập dòng Carmel mãi mãi, một “tù nhân” với Chúa Giê-Su và với 24 nữ tu khác.  Cô nhiệt thành chấp nhận cuộc sống cầu nguyện ở tu viện.

Sự đau khổ lớn nhất của Therese vào lúc đó là bệnh tình của cha cô, ông đã phải nhập viện tâm thần ở Caen.  Sau đó ông qua đời và người chị cô là Celine, người săn sóc ông đã cũng nhập tu viện, như vậy trong tu viện đã có 4 chị em: Therese, Leoni, Pauline, Celine.

Sau nhiều năm tìm kiếm Therese đã thấy được linh đạo.  Cuộc đời của cô đã đổi hẳn.  Cô nhận được ơn thông hiểu về Thiên Chúa.  Cuộc sống Ki-Tô hữu không gì khác hơn cuộc sống một em nhỏ với Người Cha Nhân Từ, bắt đầu từ Lễ Thanh Tẩy và tiếp tục trong sự phó thác trọn vẹn.”  Nếu anh em không trở nên như trẻ em thì anh em sẽ không được vào Nước Trời.”

Ngày 9 tháng 6 năm 1895 trong ngày Lễ Chúa Ba Ngôi, một linh cảm đột nhiên nổi lên trong Therese: cô phải tận hiến làm vật hy sinh toàn thiêu cho Tình Thương Xót Chúa.  Sau đó Therese bị bệnh lao, tuy vậy cô đã dùng hơi sức trong hai năm còn lại để dạy dỗ cho 5 tập sinh và linh hướng cho 2 sư huynh truyền giáo một ở nước Trung Hoa, một ở Phi Châu.

Therese lại bị kiệt sức về bệnh đau cuống họng, tuy vậy cô đã vâng lời viết những dòng hồi ký cuối cùng.

Therese đã viết: cô ngợi ca Tình Thương Xót Chúa trong cuộc sống ngắn ngủi của cô.

Cô đã cầu nguyện rằng: “sẽ làm điều tốt cho trái đất sau khi cô chết, cho tới ngày tận thế.”  Cô đã khiêm nhượng tiên tri rằng sứ mạng của cô sau khi chết là hướng dẫn Linh Đạo Nhỏ cho các linh hồn.  Cô qua đời ngày 30 tháng 9 năm 1897.

Cô đã viết rằng cô muốn trở nên: một linh mục, một phó tế, một tiến sỹ Hội Thánh, một nhà truyền giáo, một người tử đạo” có nghĩa là cô muốn tất cả.

Một năm sau khi cô qua đời, cuốn sách Một Tâm Hồn, trích đoạn những bài viết của Therese được phát hành.

Therese đã được phong Thánh ngày 17 tháng 5 năm 1925.

Sưu tầm

CÁC TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MICHAEL, GABRIEL, RAPHAEL

Trong kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng dựng nên muôn vật hữu hình cùng vô hình.  Các thụ tạo vô hình ở đây chính là chư vị thiên thần.  Chư vị này sống gần bên Thiên Chúa để phục vụ Ngài và nhân loại.  Hơn nữa, các thiên thần là những người đã phục vụ Đức Giêsu Kitô, từ khi Ngài chào đời đến khi Ngài quang lâm.

Sứ thần Gabrien được Thiên Chúa sai đến với trinh nữ Maria để loan báo về sự hạ sinh của Đấng Cứu Độ (Lc 1, 26).  Ta nghe tiếng ngợi khen của muôn vàn thiên binh cùng với sứ thần trong đêm Con Thiên Chúa giáng sinh trên trái đất (Lc 2, 13).  Ta cũng thấy các thiên thần hiện ra để phục vụ Đức Giêsu (Mt 4, 11), sau khi Ngài chiến thắng những cám dỗ của quỷ dữ nơi hoang địa.  Khi Đức Giêsu bị xao xuyến trước cái chết sắp đến, một thiên thần từ trời đã đến tăng sức cho Ngài (Lc 22, 43).  Ngài đã không tránh né cái chết bằng cách xin Cha cấp cho mình mười hai đạo binh thiên thần (Mt 26, 53).

Tin Vui Phục sinh được loan báo bởi các thiên thần từ mộ trống (Lc 24, 6).  Vào ngày tận thế, các thiên thần của Đức Giêsu sẽ đi theo Ngài khi Ngài trở lại trong vinh quang để phán xét cả thế giới (Mt 16, 27).  Đức Giêsu nay ngự bên hữu Thiên Chúa trên trời, trổi vượt trên các thiên thần và được các thiên thần thờ lạy (Dt 1, 4. 6).

Câu cuối của bài Tin Mừng hôm nay cũng nói đến tương quan giữa Đức Giêsu và các thiên thần.  Trong lần gặp gỡ với Nathanaen và các bạn của ông Đức Giêsu đã long trọng hứa là họ sẽ thấy trời rộng mở, và “các thiên thần lên lên xuống xuống trên Con Người” (c. 51).

Trong một giấc mộng, Giacóp đã chiêm bao thấy “một chiếc thang dựng dưới đất, đầu thang chạm tới trời, trên đó có các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống” (St 28, 12).

Đức Giêsu nhận mình chính là chiếc thang đó, là Đấng Trung Gian nối đất với trời, nối Thiên Chúa với nhân loại.  Các thiên thần cũng phải qua Ngài mà đến phục vụ con người.  Các thiên thần cũng là những đấng trung gian được sai đi, nhưng họ phải qua Đấng Trung Gian duy nhất và đích thực, vì Đấng đó vừa trọn vẹn là người, vừa trọn vẹn là Thiên Chúa.

Lên lên xuống xuống trên thang Giêsu là việc của các thiên thần.  Lên với Thiên Chúa để dâng cho Ngài nỗi thống khổ của nhân loại.  Xuống với nhân loại để mang cho họ ân lộc và sứ điệp từ trời.  Thiên thần vừa gần với con người, vừa gần với Thiên Chúa, vừa tựa trên đất, vừa đụng tới trời, nên kéo trời xuống đất và đưa đất lên trời.

Xin được quyền năng của Sứ thần Micae: Ai bằng Thiên Chúa.
Xin được sức mạnh của Sứ thần Gabrien: Thiên Chúa hùng dũng.
Xin được ơn lành mạnh của Sứ thần Raphaen: Thiên Chúa chữa lành.
Kitô hữu là người hạnh phúc vì biết mình được nâng đỡ chở che.

Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ

**************************************

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi là Đấng con tôn thờ, xin giúp con quên mình hoàn toàn để ở lại trong Chúa, lặng lẽ và an bình như thể hồn con đã sống trong vĩnh cửu.  Lạy Đấng thường hằng bất biến, mong sao không gì có thể khuấy động sự bình an của con, hay làm cho con ra khỏi Chúa; nhưng ước chi mỗi phút lại đưa con tiến xa hơn vào chiều sâu của mầu nhiệm Chúa!  Xin làm cho hồn con bình an thanh thản, xin biến hồn con thành chốn trời cao, thành nơi cư ngụ dấu yêu của Chúa, nơi Chúa nghỉ ngơi.
Ước chi con không bao giờ để Chúa ở đó một mình nhưng con luôn có mặt, với trọn cả con người, với thái độ nhạy bén trong đức tin, cung kính tôn thờ và phó mình cho Chúa sáng tạo. 

Lời nguyện của chân phước Elisabeth de Trinité

HỐ NGĂN CÁCH GIẦU NGHÈO

Chương 16 câu 26 của Tin Mừng Lu-ca khảng định: có một cái hố ngăn cách “Giữa chúng ta đây và các anh có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các anh cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta cũng không được.”  Một trong các mục tiêu của dụ ngôn “ông phú hộ sang giầu và tên La-da-rô nghèo khổ” là: cho thấy cái hố này sâu tới mức nào.  Cái hố ngăn cách giầu nghèo được đề cập tới trong câu truyện dụ ngôn này không thể được hiểu theo định hướng kinh tế xã hội, cách mạng chính trị, ý thức hệ, thậm chí theo nội dung luân lý đạo đức.  Ở đây liên tục với nội dung trước đó của chương 16, Lu-ca muốn diễn đạt ý nghĩa Tin Mừng là điều duy nhất Đức Giêsu muốn rao giảng.

Khác hẳn với luật lệ của Cựu Ước nặng tính luân lý và đạo đức, trong đó quan trọng nhất là việc trung thành giữ luật, thì theo Tin Mừng Tân Ước, mạc khải tình yêu nhân hậu tha thứ của Thiên Chúa mới là điều quan trọng nhất cần phải là được đón nhận.  Theo Cựu Ước, thiên đàng – hỏa ngục là phần thưởng – hình phạt dành cho người tốt / kẻ xấu, người trung thành giữ luật / kẻ bất trung phá luật, người đạo đức / kẻ khô khan, người thánh thiện / phường tội lỗi.  Còn theo Tân Ước, được vào Nước Trời là được hưởng trọn tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa từ nhân (“La-da-rô trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham” là một điển hình), sẽ dành cho những ai đã từng biết đón nhận khi còn sống; còn bị loại ra khỏi Vương Quốc tình yêu đó (bị cực hình, bị lửa thiêu đốt) là số phận của những ai khi sống đã từ chối đón nhận tình yêu tha thứ này.  Khi Đức Giêsu tuyên bố: “phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó vì Nước Thiên Chúa là của anh em… khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói” (Lc 6:20.25) chắc hẳn Người đang công bố nội dung Tin Mừng này.

Như vậy, cái vực thẳm lớn vĩnh viễn ngăn cách việc tiếp nhận hay khước từ Tin Mừng cứu độ chỉ có thể xuất hiện sau khi chết; “người nghèo này chết…  ông nhà giầu cũng chết”; thế nhưng, ngay từ cuộc sống trần thế, nó đã khởi sự được hình thành; “người nghèo khó… nằm trước cổng ông nhà giầu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no.”  Cái hố ngăn cách của tiếp nhận hay chối từ Tin Mừng cứu độ được hình thành và phát triển dựa vào định hướng trái chiều giữa giầu và nghèo trong nội dung Tin Mừng.  Đó là lý do khiến Đức Giêsu nhiều lần lên tiếng cảnh giác sự giầu sang đồng thời tôn vinh nghèo khó, Người hoàn toàn trung thành với viễn cảnh đón nhận Vương Quốc tình yêu cứu độ.

Trong dụ ngôn, nếu ông nhà giầu chỉ “mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình”, thì đâu ông có làm gì nên tội để đáng bị cực hình thiêu đốt; cũng vậy, nếu La-da-rô chỉ “nghèo khó… mụn nhọt đầy mình…” thì đâu có làm nên công trạng gì để đáng được “thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham.”   Chi tiết mô tả ông nhà giầu gợi ta nhớ đến cái cảnh “được no nê” thỏa mãn đâu cần được ai thương xót; còn người nghèo khó “thèm được những thứ trên bàn ăn rớt xuống… chó đến liếm ghẻ chốc” chính là thái độ mong đợi, cầu xin được xót thương.  Đối với Tin Mừng, giá trị đích thực của giầu nghèo là ở chỗ đó: sống giầu dễ đưa tới tự mãn để không cần tới lòng xót thương (khốn cho), còn sống nghèo tạo điều kiện tự nhiên để mở ra đón nhận lòng thương xót (phúc thay).  Nếu cứ tiếp tục “sống giầu” như thế (trường hợp ông nhà giầu), và nếu cứ tiếp tục “sống nghèo” như thế (trường hợp La-da-rô) thì việc bị loại khỏi hay được đón nhận vĩnh viễn vào Nước Trời sau khi chết sẽ chỉ là chuyện đương nhiên.  Lúc đó cái hố ngăn cách giầu nghèo sẽ không còn gì có thể lấp đầy được (vẫn theo nghĩa Tin Mừng); “vực thẳm lớn đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được.”

Giầu – nghèo, trong học thuyết Tin Mừng của Đức Giêsu, chỉ là hoàn cảnh / điều kiện nghịch hay thuận để đón lấy Nước Trời cứu độ; do đó “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.”  Đức Giêsu sống thân phận nghèo khó như “con cáo có hang, chim trời có tổ, Con Người không có lấy hòn đá gối đầu” là để Người rộng mở hoàn toàn cho Vương quốc của Cha.  Và Người kêu gọi bất cứ ai muốn theo Người cũng hãy “bán đi hết những gì mình có và bố thí cho kẻ khó…” để có điều kiện thuận lợi mở tâm hồn đón nhận lòng thương xót cứu độ của Thiên Chúa.  Ki-tô hữu, vì là người của Tin Mừng, phải luôn cảnh giác với cuộc sống giầu sang vì mối nguy cơ nó tiềm ẩn, nhưng phải vui mừng ôm ấp sự nghèo hèn đói khát chính vì thuận lợi Tin Mừng nó cống hiến.  Nếu họ có giầu, thì chí ít họ cũng biết nhận ra “con đã nhận được phần phước của con”, tức là hồng ân của lòng từ bi Chúa, để biết khiêm tốn tạ ơn; còn nếu nghèo khổ “suốt một đời chịu toàn những bất hạnh… thì được an ủi nơi đây”, để vui mừng và hy vọng.

Đó chính là Tin Mừng đích thực đang được rao giảng cho những người nghèo khó!

Lạy Thiên Chúa là Cha!  Đức Giêsu đã dạy chúng con cầu nguyện cùng Cha.  Những điều con cầu xin Cha có thể là vô vàn và rất khác nhau vì con có quá nhiều nhu cầu cả về phần xác lẫn phần hồn, tuy nhiên con biết rất rõ: điều chính yếu trong cầu nguyện chính là tư thế khó nghèo của con.  Xin Cha nhận lời cầu nguyện của con, không phải để thỏa mãn những điều con xin, nhưng là chấp nhận thân phận đớn hèn con mong hướng về Cha.  Và xin Cha gìn giữ con luôn mãi trong sự nghèo hèn của mình để không ngừng hướng lòng con về tình nhân ái Cha.  Amen.

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty