CHẾT CHO ĐÚNG

Tôi không muốn chết vì bệnh, tôi muốn chết vì chết!

Ivan Illich đã viết thế.  Vậy nghĩa là gì?  Chẳng phải ta đều chết vì chết sao?  Dĩ nhiên, thực sự chúng ta đều chết vì chết, nhưng trong quan niệm của chúng ta, thường chúng ta chết vì bệnh, hay vì xấu số, do ung thư, bệnh tim, tiểu đường hay do tai nạn.  Đôi khi do cách nghĩ của mình, mà chúng ta thấy ta chết vì bệnh.

Đó là điều mà Ivan Illich đang cố nhấn mạnh.  Phải đối diện và tôn trọng cái chết như một cảm nghiệm nhân sinh bình thường, chứ không phải như một thất bại về mặt y khoa.  Chết là chuyện không thể nào tránh và phải hiểu đó là một mốc trưởng thành cần thiết, một sự mà chúng ta được định về mặt hữu cơ và tinh thần, chứ không phải là sự bừa bãi sai sót trong vòng đời, không phải là một sự bất thường có thể tránh được.  Chúng ta cần hiểu cái chết như người phụ nữ đang lâm bồn chờ đứa con ra đời, không phải một chuyện bất thường hay một can thiệp y khoa nguy hiểm mà là như một sự triển nở trọn vẹn của tiến trình sống.

Chúng ta trả giá cho quan niệm sai lầm của mình về cái chết, một cái giá đắt hơn chúng ta tưởng.  Khi xem cái chết là sự thất bại của y khoa hay một vận rủi, thì nó biến thành một bóng ma đe dọa, và một bóng tối đáng sợ mà chúng ta không dám đương đầu cách ý thức và không dám tìm hiểu nó.

Ernest Becker có nói về một thứ mà ông gọi là “chối bỏ cái chết” và cho rằng khi từ chối đối diện, và tôn trọng cái chết như một tiến trình tự nhiên thay vì một chuyện bất thường, là chúng ta đang tự bần cùng hóa mình vô cùng.  Khi sợ hãi một cách sai lầm đối với cái chết, thì ý thức mơ hồ về sự khả tử của chúng ta trở thành một góc tối mà chúng ta tránh xa.  Chúng ta phải trả giá cho điều này, ngược đời thay, khi sợ cái chết là chúng ta không thể sống cho đúng đắn.

Trong nhận thức về sự sống, Martin Heidegger cũng xác nhận như thế.  Ông cho rằng mỗi chúng ta là “hữu thể hướng đến cái chết”, nghĩa là từ lúc sinh ra chúng ta đã có một tình trạng mãn tính gọi là cuộc đời, và chúng ta chỉ có thể gạt đi nỗi sợ sai lầm kia nếu mình sống đời mình với sự thật không thể bàn cãi đó.  Chúng ta đang chết.  Cách nói của ông có thể khiến ta thấy phức tạp, nhưng như Illich, ông nêu ra một điểm tích cực.  Với Heidegger, xét cho cùng, chúng ta không chết vì bệnh hay vì vận rủi.  Chúng ta chết vì tự nhiên có tiến trình của nó, và tự nhiên điều hành tiến trình đó, và chúng ta sẽ tận hưởng cuộc sống của mình hơn nếu như biết tôn trọng tiến trình tự nhiên đó, vì khi chấp nhận là mình biết trân quý hơn các thời khắc sống và yêu.

Mỉa mai thay, việc trợ tử, với mọi luận điệu phức tạp của nó cho rằng nó giúp chúng ta kiểm soát cái chết, lại là thứ khiến chúng ta chết vì bệnh chứ không phải chết vì chết.

Dĩ nhiên, muốn chết vì chết chứ không phải vì bệnh, không có nghĩa là chúng ta không xem trọng y khoa, và tác dụng của nó với sức khỏe và cứu mạng cho mình.  Chúng ta bị cưỡng bách bởi bản chất, bởi những người thân yêu, bởi thường thức, và bởi một nguyên tắc không thể thay đổi trong luân lý, đòi chúng ta phải thực hiện mọi biện pháp y khoa thông thường có thể để gìn giữ sức khỏe.  Y khoa hiện đại thật tuyệt vời, và nhiều người trong chúng ta, kể cả tôi, được sống đến hôm nay chính là nhờ y khoa hiện đại.  Nhưng chúng ta cũng phải làm rõ rằng khi chúng ta chết, không phải vì thất bại y khoa, mà vì cái chết là cùng đích tự nhiên của chúng ta.  Khi vừa sinh ra khỏi lòng mẹ, là đã xác định sẽ có một lúc chúng ta cần được sinh ra lần nữa từ lòng đất.

Hơn nữa, đón nhận cái chết như thế không phải là kiểu khắc kỷ tiêu cực xóa bỏ mọi vui thú trong đời.  Ngược lại, như bất kỳ ai từng rơi vào tình trạng cận tử, họ sẽ cho chúng ta biết cái chết sẽ làm cho mọi thứ trong đời càng quý giá hơn bao giờ hết, bởi họ không còn xem chúng là thứ mặc nhiên.

Cần chú ý điểm này.  Không cần nói chuyện này với giới trẻ, những người chối bỏ cái chết dữ dội, và với nguyên do tốt.  Dù người trẻ không nên cố ý lờ đi sự khả tử hoặc sống như thể mình sẽ không bao giờ chết, nhưng người trẻ chưa nên tập trung vào cái chết.  Việc của họ là xây dựng tương lai cho mình và cho thế giới.  Họ có thể đối diện với cái chết sau.  Nói một cách ẩn dụ, là họ cần tập trung hơn vào việc nuôi dưỡng bào thai hơn là lo chuyện lâm bồn.

Và trong những lời dạy của Chúa Giêsu có một điều nghịch lý vô cùng.  Ai cố giữ mạng sống mình thì sẽ mất, và ai thí mạng sống mình thì sẽ tìm được nó.  Hẳn Ivan Illich sẽ đồng ý như thế.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

MẦU NHIỆM CÁNH CHUNG

Trong những Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ, Giáo hội mời gọi chúng ta suy nghĩ về cuộc sống mai sau, cuộc sống mà chúng ta đang vươn hướng tới.  Nghĩ về cái chết và cuộc sống mai hậu không phải là một thái độ mang vẻ bi quan, nhưng ngược lại, đây là cách thức để khơi dậy niềm hy vọng và giúp chúng ta sống cuộc sống hiện sinh cho thật ý nghĩa.  Chúng ta vẫn tuyên xưng đức tin khi đọc kinh Tin kính: “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau.”  Đó là niềm hy vọng cánh chung của mọi Kitô hữu, bởi vì chết không phải là hết.  Cái chết không kết thúc cuộc sống chúng ta một cách vô nghĩa, nhưng nó chính là cửa ngõ đưa dẫn chúng ta vào cuộc sống vĩnh hằng.  Đây cũng là sứ điệp mà các bài đọc Lời Chúa hôm nay gợi mở.

Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.

Trong bài Tin mừng hôm nay, Thánh Luca thuật lại cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và nhóm Saducêo.  Nhóm này không tin có sự sống lại.  Đối với họ, chết là một dấu chấm hết.  Những người Saducêo đưa ra câu chuyện giả định và có tính ngụy tạo về một phụ nữ có 7 đời chồng để gài bẫy Đức Giêsu.  Nếu Chúa trả lời có sự sống lại, thì không thể giải quyết vấn đề ai là chồng chính thức của người phụ nữ ấy trong cuộc sống mai sau, còn nếu Chúa trả lời không, đương nhiên họ có thêm một đồng minh.  Tình thế tiến thoái lưỡng nan.  Câu trả lời của Chúa Giêsu là một khẳng định chắc chắn mang tính thần khải về sự sống lại trong ngày sau hết.  Tuy nhiên Ngài không nói rõ cuộc sống ấy sẽ như thế nào, vì tâm địa hẹp hòi của người Do thái lúc bấy giờ chưa thể lãnh hội được chân lý của mầu nhiệm.  Ngài chỉ cho họ biết rằng trong đời sống mới, con người sẽ sống như các thiên thần, không còn chuyện dựng vợ gả chồng như cuộc sống hôm nay.  Chúa cũng từ từ vén mở cho chúng ta biết về thực tại cánh chung.  Trong cuộc sống mai hậu sẽ không còn khổ đau và chết chóc, bởi vì con người đi vào cuộc sống trường cửu.

Thời cựu ước, tư tưởng về cuộc sống mai sau rất mờ nhạt.  Sách Macabê là quyển sách đầu tiên nói về sự sống lại.  Bảy anh em nhà Macabê đã can đảm tiếp nhận cái chết với niềm tin tưởng này.  Trước khi lìa đời, họ đã nói với vua Antiôkhô: “Chúng tôi chết vì luật pháp của vua vũ trụ, nên Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời (2Mac 7, a)” hoặc “Thà chết vì tay người đời đang khi dựa vào lời Thiên Chúa mà hy vọng sẽ được Người cho sống lại.  Còn vua, vua sẽ không được sống lại để hưởng sự sống đời đời đâu” (c.14).  Sau này, khi Guiđa thắng trận và thu gom các tử thi, ông đã gom tiền gửi về Giêsusalem để dâng lễ tạ tội cầu cho những người đã chết.  Tác giả thư Macabê còn chú thích thêm: “Thật thế, nếu ông không hy vọng rằng những chiến binh đã ngã xuống sẽ sống lại, thì cầu nguyện cho kẻ đã chết quả là việc dư thừa và ngu xuẩn (2 Mac 12,44).  Niềm tin về sự sống lại mai sau được Đức Giêsu dần dần khai sáng.  Thánh Phaolô đã nhắc đi nhắc lại về niềm tin này, như trong Rm chương 8; Rm 6,8; 1 C 15,20-23; 2 C4, 14-15; Pl3, 20; 2Tm2,8-13 v.v…

Mọi người đều phải chết

Để chuẩn bị cho cuộc sống mai sau, chúng ta phải đi qua cái chết.  Đây là một thực tại mà không ai có thể trốn tránh.  Ngày xưa vua Tần Thủy Hoàng đã sai phái cả ngàn y sĩ tài giỏi đi khắp nơi săn lùng những thang thuốc quý để ông được trường sinh bất tử, nhưng cuối cùng ông cũng phải chết giống như mọi người.  Biết bao anh hùng hào kiệt đã lẫy lừng một thời, được mọi người ca tụng như những vĩ nhân ‘đời đời sống mãi’, nhưng tất cả cũng đều đã chết.  Xác của họ có đặt trong những lăng tẩm nguy nga để mọi người đến kính viếng, cũng chỉ là một nắm xương khô mà thôi.  Triết học kinh điển của Hy Lạp nổi tiếng với tam đoạn luận ‘Mọi người đều phải chết, Socrate là người, nên(ergo) Socrate cũng phải chết’.  Tam đoạn luận ấy cũng được ứng dụng cho mỗi người trong chúng ta.

Là Kitô hữu, chúng ta chuẩn bị đón nhận cái chết như thế nào.

Triết gia Jean Guitton, bạn thân của Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô đệ nhị có kể lại một giai thoại.  Hồi còn bé, ban đêm ông ngủ bên mẹ.  Nhà hàng xóm bên cạnh có người chết.  Giữa đêm khuya vắng, có tiếng khóc não nuột vang lên.  Đứa bé sợ quá ôm chầm lấy mẹ.  Nó hỏi mẹ: “Mẹ ơi, chết là gì hả mẹ?”  Câu hỏi của đứa bé khiến bà mẹ trẻ lúng túng không biết trả lời làm sao.  Bà bật ngồi dậy vào bàn và mở Kinh Thánh ra đọc.  Trong Tin Mừng Gioan, bà đọc thấy đoạn viết: “Trước lễ Vượt qua, Đức Giêsu biết giờ của Ngài đã đến, Ngài phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha.  Ngài vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Ngài yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1).  Gấp sách lại, bà trở về giường nói với đứa trẻ: “Con ơi, chết là trở về với Chúa Cha và yêu thương đến cùng.”  Đây là khuôn mẫu từ cái chết của Chúa Giêsu để giúp chúng ta suy gẫm và chuẩn bị đón nhận cái chết nơi mình.  Khi mang thân phận con người, Chúa Giêsu đã từng run sợ khi đối diện trước cái chết.  Ngài sợ đến mức độ mồ hôi và máu toát ra.  Tác giả thơ Do Thái đã viết: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết.  Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ (Dt5,7).  Mọi người chúng ta cũng vậy, theo bản năng tự nhiên, ai cũng sợ hãi khi tiếp cận cái chết.  Nhưng với niềm tin và lòng yêu mến, chúng ta sẽ chiến thắng.  Thánh Phaolô đã khẳng quyết: “Tình yêu mạnh hơn sự chết’’ (Rm 8, 39).  Thánh nữ Têrêsatrên giường hấp hối đã nói với các chị em trong cộng đoàn: “Em sắp chết, nhưng không phải em chết mà em đang tiến về cõi sống.”  Mới đây người ta cho đăng hình một nữ tu rất xinh đẹp, lúc nào trên môi cũng nở nụ cười cho dầu đang phải chiến đấu chống lại những đau đớn do bệnh ung thư.  Vị nữ tu này khi chết, trên gương mặt xinh xắn vẫn nở một nụ cười rất tươi.  Người phụ nữ trẻ này đã an bình trở về với Chúa và kết thúc cuộc hành trình trần gian không một chút lưu luyến.

Kết luận:

Một linh mục nọ tổ chức tại giáo xứ một lễ an táng khá đặc biệt.  Ngài báo trước từ lâu để đông đảo mọi người đến tham dự.  Giữa nhà thờ ngài đặt một cỗ quan tài.  Theo truyền thống, trước khi đưa thi hài ra phần mộ, quan tài được mở nắp để từng người đến tiễn biệt người quá cố lần cuối.  Nhưng khi mọi người nhìn vào quan tài để xem người nằm trong đó là ai, họ không thấy gì, chỉ thấy một tấm gương lớn, phản chiếu chính khuôn mặt của họ.  Vị linh mục chú thích: “Mỗi ngày anh chị em hãy tự mai táng chính mình.”

Thiên Chúa là tình yêu.  Nếu chúng ta sống sung mãn trong tình yêu, chúng ta sẽ trở nên bất tử vì được thông dự vào bản tính củaThiên Chúa, là Đấng không bao giờ chết.  Đây là phương cách giúp chúng ta thực hành để đạt đến sự bất tử trong cuộc sống vĩnh hằng mai sau.

Lm. GB. Trần Văn Hào

NIỆM KHÚC NGHĨA TRANG

Mỗi lần viếng nghĩa trang, là một dịp nhắc nhớ cho mỗi chúng ta niệm khúc quí giá về tình người, về chữ hiếu, về cuộc sống đời này, về một niềm hy vọng vào đời sau.

Về tình người

Nơi nghĩa trang, bao người đã sống, nay đang nằm im lìm trong lòng đất.  Họ đã trở về tro bụi.  Trong số đó, có thể có những người đã sống một cuộc sống ý nghĩa, tốt đẹp trước mặt Chúa và mọi người.  Nhưng là con người, phàm ai không tội lỗi, không thiếu sót.

Đứng trước hàng dãy phần mộ của những người đã ra đi, chúng ta khiêm tốn nhận ra mọi người cùng là phận người mỏng dòn yếu đuối với nhau, gợi lên trong lòng chúng ta sự đồng cảm và thương xót: Đồng cảm thân phận yếu hèn, thương xót những con người đã ra đi khi còn vương mắc bao tội tình, lầm lỗi.  Tội với Thiên Chúa, lầm lỗi với con người.

Và, nơi nghĩa trang này, còn gợi lên trong chúng ta lòng thương xót cả những con người đã ra đi do tội của người khác: tội của cha mẹ giết con mình, tội của những người quyến rũ vào con đường trác táng, nghiện ngập, tội của người trả thù đâm chém nhau, tội của những người ghen tương không có lòng tha thứ, tội của những người dùng quyền lực áp bức bất công, tội của người thanh trừng nhau tranh quyền đoạt lợi, tội của những con người dửng dưng vô cảm mặc ai chết đói chết khát, bệnh hoạn chết dần chết mòn….

Thiết tưởng, từ nghĩa trang, lòng thương xót này không chỉ là một cảm xúc thoáng qua, nhưng sẽ lưu lại trong lòng và biến đổi cuộc sống chúng ta thành những con người sống có tình thương, có trái tim biết yêu và lòng quảng đại, không hơn thua, ganh ghét, nhưng là yêu thương chia sẻ cho nhau những gì là tốt đẹp nhất trong cuộc đời.

Về chữ Hiếu

Một người thân gửi thân xác nơi nghĩa trang, là một giao điểm linh thiêng cho tất cả những người còn sống trong tộc họ, giao điểm nối kết mọi tâm tư tình cảm, giao điểm gặp nhau đầy ý nghĩa huyết thống của mỗi người và cũng là giao điểm hóa giải bao bất ổn của họ tộc.  Nếu người thân là Đấng Sinh Thành, là Cha Mẹ, Ông Bà, thì ý nghĩa giao điểm linh thiêng kia càng rõ nét hơn.

Đứng trước mộ phần không chỉ

– với lòng ngưỡng mộ và biết ơn những công đức cao dày của Đấng Sinh Thành,

-với lòng sám hối vì những vô ơn bất hiếu khi chư vị còn sống,

-với lòng Mến, cùng với lòng Cậy nhờ Đức tin nguyện xin Chúa ban cho chư vị ơn Cứu Rỗi…

-mà còn nguyện hứa với chư vị rằng sẽ sống tình gia đình, tình huynh đệ càng lúc càng thắm nồng với nhau hơn.

Vâng, thực hành chữ Hiếu, hay đạo Hiếu không chỉ là những hình thức, những lễ nghi, mà là một biến đổi tận căn do ân sủng khi đi từ chữ Hiếu đến việc giữ luật Điều Răn thứ tư: Thảo Kính Cha Mẹ, điều răn của chính Thiên Chúa ban ra.

Về cuộc sống đời này

Với những tín hữu Phật Giáo, Ấn Độ Giáo hoặc Bàlamôn, và cả những người theo Khổng Giáo, Lão Giáo…. thì tư tưởng “sắc sắc, không không, có đó rồi lại không đó”, “cuộc đời là hư vô”, “mọi sự là hư vô” gần như mang một nỗi bi quan tuyệt vọng.  Nó dẫn con người ta đến một ngõ cụt của cuộc đời không lối thoát hiểm.  Không ai tránh được chỗ cùng tận là tro bụi, không ai thoát được nỗi phũ phàng là hư vô.  Bởi vậy, họ hoài mong một cuộc hóa thân, hóa kiếp, luân hồi.  Nỗi hoài mong nầy, họ dựa trên cách ăn nết ở của họ, dựa trên chính công nghiệp của họ.  Bởi vậy mới có những lời khuyên răn rất dân gian: “Ở hiền, gặp lành” hay “đời cha ăn mặn, đời con khát nước” ….

Còn sự sống đời này của những người công giáo chúng ta thì sao?  Hãy nghe sách Giảng Viên nói về cuộc đời: “Ông Cô-he-lét nói: “Phù vân, quả là phù vân.  Phù vân, quả là phù vân.  Tất cả chỉ là phù vân.” ( x. Gv 1, 2-9).  Nhưng từ chỗ phù vân ấy, Ông Cô-he-lét đã nhận ra: “Tôi nhận ra rằng mọi sự Thiên Chúa làm sẽ tồn tại mãi mãi.  Không có gì để thêm, chẳng có gì để bớt.  Thiên Chúa đã hành động như thế để phàm nhân biết kính sợ Người.” (Gv 3, 14).

Giáo lý công giáo dạy cho chúng ta biết rằng, mọi sự trên trần gian nầy phải đến chỗ phù vân ấy, hư vô ấy là do hậu quả của tội nguyên tổ.  Nhưng, tội nguyên tổ đã được xóa đi nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa, nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô.

Bởi vậy, biết cuộc đời là hư vô, Người Công Giáo vẫn không dừng lại ở chỗ bi quan tuyệt vọng vì thân phận phải trở về tro bụi của mình, cũng không dám tự sức mình có thể cứu vớt cho mình khỏi tình trạng bi đát ấy, nhưng người Công Giáo có đức tin vào Chúa Giêsu Kitô, và chỉ nhờ vào công nghiệp của Ngài mà họ được cứu sống: thoát cảnh hư vô, và sống cuộc sống vĩnh hằng trong Thiên Chúa.

Về cuộc sống đời sau

Vậy, khi tin vào Chúa Giêsu Kitô, thì dẫu biết “mọi sự là hư vô” nhưng vẫn có giá trị riêng của nó: hư vô ở đời này là khởi điểm ngưỡng vọng một cuộc sống đời sau hằng hữu.  Chính cái ý thức hư vô thôi thúc chúng ta buông bỏ cuộc đời tạm bợ, và bằng lòng trao phó cuộc đời này cho Đức Giêsu, để Ngài phục hồi từ hư vô thành hằng hữu.

–  Thân xác từ hư vô, nhờ công nghiệp cứu rỗi của Chúa Giêsu, đã được thánh hóa nên Cung Điện Chúa Thánh Thần, nên nhà tạm của Chúa Giêsu Thánh Thể, nên Đền Thờ cho Ba Ngôi Thiên Chúa ngự trị.

–  Của cải vật chất thế gian chắc chắn sẽ trở về hư vô, nhưng đang trở nên phương tiện cho chúng ta cộng tác với công nghiệp của Chúa Giêsu, nhờ biết cách sử dụng của cải thế gian mà mua lấy nước Thiên Đàng.

–  Quỹ thời gian của mỗi người sẽ cạn dần đi, sẽ ít đi, nhưng từng phút giây đang trở nên càng có giá trị cứu rỗi cho chính mình, nếu biết dùng mỗi phút giây hiện tại với lòng sám hối, lòng tạ ơn, với lời chúc tụng, và nên của lễ tận hiến cho vinh danh Chúa.

–   Sự chết không dẫn chúng ta về hư vô, nhưng là khởi điểm của một cuộc sống mới, vì chúng ta đã và đang cùng sống, cùng chết với Đấng đã sống, đã chết, và đã sống lại.

Như vậy, cuộc đời trần gian này “Mọi sự là hư vô.”  Nhưng Mọi Sự Trong Đức Giêsu Kitô đang trở nên phần rỗi cho chúng ta, đang chuẩn bị cho chúng ta một cuộc sống hằng hữu trong Thiên Chúa.

Thế thì:

Không còn niềm đau nào nơi “thành phố tro bụi”.
Không còn nỗi buồn nào nơi heo hút nghĩa trang.
Không còn hoang mang nào khi chiều vàng héo úa
Không còn khăn tang nào quấn trên đầu nhân gian
Chỉ còn một tình thương, một tình thương vĩnh cửu
Chỉ còn một niềm tin, Đấng Hằng Hữu vinh quang
Trong Ngài, ta sống và ta chết từng giây phút
Để trong Ngài, ta cùng sống cuộc sống mới hân hoan.

P.M. Cao Huy Hoàng

CHIA SẺ

Câu chuyện Giakêu quá quen thuộc, nhưng lại là một bức tranh sống động, phong phú, tinh tế và là lời chất vấn và mời gọi qua mọi thời đại.  Trong hành trình lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giêsu đi ngang qua Giê-ri-khô và xảy ra câu chuyện ông Giakêu với những nét tương phản hài hước và độc đáo.  Nhân vật chính được giới thiệu qua bốn chi tiết: (1) Tên gọi: Giakêu, (2) Nghề nghiệp: Đứng đầu những người thu thuế, (3) Địa vị xã hội: Người giàu có, (4) Ngoại hình: thấp bé, ngôn ngữ bình dân gọi là lùn.

Trong câu chuyện, nhân vật Giakêu có những nét tương phản vừa theo quan điểm người đời, vừa theo quan điểm tâm linh.  Theo người đời, Giakêu là người có địa vị, có quyền và có tiền, ba yếu tố này làm nên sức mạnh và uy thế của một con người.  Ông ở cao hơn những người bình thường, nhưng ông lại thua kém họ về chiều cao, nên tầm nhìn bị thu hẹp và bị hạn chế.  Ông muốn thấy Đức Giêsu, nhưng đám đông trở thành chướng ngại cho điều ông ước muốn.  Tuy nhiên, con người không hơn nhau ở chiều cao mà hơn nhau ở cái đầu; Giakêu quyết định thực hiện ước muốn thấy Đức Giêsu bằng cách trèo lên cây sung.  Quyết định này tạo nên tương phản giữa việc ông đạt được mục đích là thấy Đức Giêsu, nhưng phải hy sinh thể diện.  Một người có quyền hành và địa vị như ông mà lại leo lên cây sung, mượn cây sung để cải thiện chiều cao của mình, thì chẳng gì đề cao cái sự thấp bé của ông trước mọi người.

Đáng chú ý hơn là tương phản theo quan điểm tâm linh.  Ông Giakêu là người quyền thế trong xã hội, nhưng đám đông lại gọi ông là “người tội lỗi”, vì khi Đức Giêsu quyết định ở lại nhà ông, mọi người xầm xì: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!”  Câu kết của Đức Giêsu: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” đã xếp Giakêu vào loại những người đã mất, nhưng được Đức Giêsu cứu.

Tương phản trên bình diện tâm linh và cách xử sự của Giakêu để xem thấy Đức Giêsu đã được Người đánh giá cao.  Việc ông dám trở trên trò cười cho thiên hạ để tiếp cận được Đức Giêsu cho thấy thiện chí của ông.  Nhờ hành động này, ông trở thành nhân vật chính của câu chuyện với những chuyển biến tích cực và nhanh chóng.  Khi Đức Giêsu nhìn lên và nói với ông: “Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” (19, 5)  Bản văn chơi chữ khi viết Đức Giêsu nhìn lên và bảo ông xuống, nghĩa là trở về với chiều cao đích thực của mình, trở về với con người thực của mình, để không những thấy Đức Giêsu mà còn để đối thoại với Người, để quyết định bán nửa tài sản cho người nghèo và đền gấp bốn cho những ai mình đã làm họ bị thiệt.

Điều mới mẻ so với trình thuật người thu thuế Lê-vi ở chỗ Lê-vi đã bỏ nghề thu thuế và đi theo Đức Giêsu, còn ông Giakêu có bỏ nghề đứng đầu những người thu thuế hay không, bản văn không cho biết.  Trình thuật chỉ nhấn mạnh tấm lòng của ông đối với người nghèo và việc ông chú trọng sự công bằng.  Có thể hiểu Giakêu có thể tiếp tục đứng đầu những người thu thuế mà vẫn được cứu.  Điều quan trọng là ước muốn gặp Đức Giêsu, thực hiện ước muốn này, và khi gặp thì mừng rỡ đón tiếp Người.

Trình thuật nói đến sự gặp gỡ tốt đẹp giữa hai con người với hai sự tìm kiếm.  Giakêu tìm cách để thấy Đức Giêsu, còn Đức Giêsu đang tìm và cứu những gì đã mất.  Chính sự gặp gỡ giữa hai con người đang tìm kiếm này làm cho Giakêu trở thành người được cứu và làm tỏ lộ sứ vụ của Đức Giêsu.

Điểm độc đáo của bản văn ở ngay trong trong cách trình bày nhân vật Giakêu.  Ông là người vừa thấp vừa cao.  Cao về địa vị xã hội, nhưng thấp bé về chiều cao.  Thấp bé thể lý nhưng cao quý trong thiện chí tìm gặp Đức Giêsu.  Ông có quyền hành và giàu có trong xã hội nhưng bị coi là người tội lỗi, là người đã mất, cần được cứu.  Nhân vật Giakêu trở thành điển hình cho hành trình tìm kiếm và gặp gỡ Đức Giêsu là Người mang lại ơn cứu độ cho ông.

Đầu câu chuyện, Giakêu được giới thiệu như là người có mọi thứ: chức vị, tiền bạc và quyền hành; nhưng ông đang thiếu và đang đi tìm cái mà tiền bạc và chức quyền không đem lại cho ông.  Ông tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai, mục đích trước tiên là xem cho biết con người mà ông chưa biết.

Điểm độc đáo thứ hai là Đức Giêsu không dạy giáo lý cho Giakêu, Người không bày tỏ tư cách Con Thiên Chúa của Người.  Ngược lại Người chỉ nói một câu tỏ bày sự thân thiện và ưu ái của Người dành cho ông: “Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông.”

Bài học cho chúng ta hôm nay là liệu sự ở lại của Đức Giêsu có khả năng làm cho chúng ta hoán cải, có khả năng làm cho chúng ta thuộc về Người, làm cho chúng ta biết chia sẻ với người nghèo và tôn trọng sự công bằng hay không.  Câu chuyện Giakêu vẫn là lời chất vấn, lời mời gọi chúng ta trong cách chúng ta tìm gặp và đón tiếp Đức Giêsu, trong cách chúng ta sống niềm tin và thể hiện niềm tin của mình.

Lm Giuse Lê Minh Thông

CHÚNG TA CÓ NÊN THÁNH ĐƯỢC KHÔNG?

Hôm nay, cùng với toàn thể Giáo Hội mừng trọng thể lễ các thánh nam nữ.  Qua thánh lễ hôm nay, Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy biểu lộ niềm vui mừng, hãnh diện và hy vọng vào ơn cứu độ của Thiên Chúa dành cho chúng ta là những người cùng chung niềm tin vào Chúa như các thánh.

Tuy nhiên, hẳn mỗi người chúng ta nhiều khi tưởng tượng ra sự xuất sắc của các thánh như là những vĩ nhân, những người siêu quần bạt chúng, hay các ngài như là những người có một cuộc sống đặc biệt, khác thường nên mới trở nên những vị thánh!  Còn chúng ta, những người tầm thường, có lẽ niềm hy vọng nên thánh là điều khó có thể xảy ra!

Suy nghĩ như thế có đúng hay sai?  Và chúng ta có trở nên thánh trong thời đại hôm nay được hay không?  Giờ đây, chúng ta cùng nhau suy niệm về cuộc đời của các thánh, và từ đó, rút ra một giải đáp cho thắc mắc trên.  Trước tiên, chúng ta cùng nhau tìm hiểu xem: các thánh là ai?  Và các ngài đã sống như thế nào.

1. Các thánh là ai?

Khi đặt câu hỏi như thế, chúng ta có thể trả lời ngay rằng: các ngài là những Giáo hoàng, Hồng y, Giám mục, Linh mục, Tu sĩ và Giáo dân.  Các ngài là những người tri thức, nhưng cũng không thiếu những đấng bình dân học vụ.  Các ngài là những người có địa vị trong Giáo Hội và xã hội, nhưng cũng không thiếu những đấng thường dân.  Các ngài là những người được sinh ra nơi thành phố phồn hoa đô hội, nhưng cũng có vị hiện hữu nơi cuộc đời này trong cảnh màn trời chiếu đất, nơi thôn quê hẻo lánh…  Các ngài là những bác sĩ, kỹ sư, là những người giàu, nhưng cũng rất nhiều đấng suốt ngày bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, là những người nghèo, cảnh mẹ góa con côi…  Các ngài cũng là những người thánh thiện, tốt lành ngay từ nhỏ, nhưng cũng không thiếu đấng trước đó là kẻ rối đạo, chối đạo, sống cuộc đời bê tha và trác táng, nhưng chỉ được ơn sám hối, canh tân, tin tưởng, phó thác nơi Chúa trước khi nhắm mắt rời bỏ thế gian mà thôi…

Như vậy, các thánh thật đông đảo và các ngài từ mọi nơi, mọi miền và đủ mọi thành phần.  Chính thánh Gioan khi được thị kiến đã thốt lên: “… kìa một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ” (Kh 7, 9); và: “Một trăm bốn mươi bốn ngàn người được đóng ấn, thuộc mọi chi tộc con cái Itraen” (Kh 7, 4); các ngài “… là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao.  Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên” (Kh 7,14).

Nói chung, thế giới của các thánh gồm đủ mọi thành phần, và số lượng các thánh không ai đếm xuể.  Công việc của các ngài là tôn vinh, thờ phượng, cảm tạ Thiên Chúa và cầu thay nguyện giúp cho chúng ta.  Các ngài đang được sống một sự sống hạnh phúc nơi quê thật là Nước Trời.

Việc chúng ta ngưỡng mộ tài cao đức rộng, cuộc sống phi thường của các thánh hẳn không sai, nhưng không phải là tuyệt đối đúng, vì thực tế, trong số các thánh, nhiều đấng cũng không hơn gì chúng ta.  Có khi các ngài cũng là nhưng người tội lỗi một thời như Maria Mađalêna, Phêrô, người trộm lành, Phaolô, Augustinô…

Điều đáng nói ở đây chính là: các ngài thuộc những người đã trải qua kinh nghiệm về yếu đuối, sa ngã và tội lỗi, nhưng các ngài đã sám hối, ăn năm, canh tân đời sống theo ánh sáng Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô.  Các ngài là những người 99 lần ngã, nhưng lần thứ 100 thì đứng dậy và đứng luôn trong ân sủng.

Thật vậy, sau khi sa ngã, các ngài đã nhận được ân sủng và tình thương lớn lao của Thiên Chúa dành cho mình, nên các ngài đã tin tưởng, phó thác và yêu mến Thiên Chúa hết lòng, yêu thương anh chị em tha thiết.  Như thế, có thể nói: các thánh đều là những người đã nếm mùi đau khổ thử thách ở trần gian như chúng ta, xong, các ngài vẫn giữ được lòng trung thành với Thiên Chúa và kiên trì tuân giữ Giới Luật của Người cũng như thi hành xuất sắc Tám Mối Phúc Thật.

Cuộc đời hy sinh, đòn vọt, bắt bớ vì Chúa và tâm tình sám hối, canh tân để trở nên ngày càng đồng hình đồng dạng với Đức Kitô nơi các thánh được ví như một cuộc thanh luyện và cố gắng liên lỷ.

2. Các thánh là những người trung thành với Hiến Chương Nước Trời

Tất cả các thánh, không ai là người sống ngoài bản Hiến Chương Nước Trời mà Tin Mừng hôm này thuật lại.  Các ngài luôn coi bản Hiến Chương Nước Trời như là khuôn vàng thước ngọc cho cuộc đời mình.  Qua bản Hiến Chương này, các ngài đã sống tinh thần nghèo khó, không bị lệ thuộc vào vật chất, sống hiền lành và bao dung, quảng đại, tha thứ.  Cuộc đời các ngài luôn khao khát sự sống công chính, mong muốn sống trong sạch, yêu thương, chăm sóc những người đau khổ, luôn kiến tạo hòa bình và khước từ hận thù, xây dựng tình huynh đệ, hiệp nhất, yêu thương.  Các thánh còn là những người vì yêu mến Chúa trên hết mọi sự, nên chấp nhận mọi sự hiểu lầm, đòn vọt, bắt bớ, gươm đao và ngay cả cái chết để được mối lợi tuyệt đối là Đức Kitô, vì người, các ngài đành mất hết (x. Pl 3, 8).  Các ngài được ví như những người lái buôn, đã đánh đổi tất cả một khi đã tìm được Kho Tàng, Viên Ngọc Quý.  Vì thế, đối với các ngài: “…sống là Ðức Kitô, và chết là một mối lợi” (Pl 1, 21), nên không có gì tách các ngài ra khỏi tình yêu của Đức Kitô.

Mừng lễ các thánh nam nữ hôm nay, chúng ta có niềm an ủi thật lớn lao, đó là: các thánh không phải là người xa lạ với chúng ta.  Các ngài là những người có cùng niềm tin, là tổ tiên, là cha ông, là những người thân của chúng ta.

Có những vị thánh nổi tiếng, nhưng cũng không thiếu những vị thánh bình thường, vô danh.  Đường lối nên thánh cũng không phải chỉ có một con đường độc điệu, mà là nhiều con đường khác nhau…

Như thế, các thánh là những người rất gần gũi với cuộc sống thực tế của chúng ta.  Bởi vậy, mỗi người đều có quyền hy vọng rằng: “Ông nọ bà kia nên thánh được, còn tôi, tại sao không?” (Thánh Augustino).

3. Hãy trở nên thánh vì ta là Đấng Thánh

Lời mời gọi nên thánh vẫn luôn là một điều gì đó mới mẻ và hấp dẫn đối với chúng ta.  Tuy nhiên, để sống được lời mời gọi này, chúng ta phải lội ngược dòng, phải lột xác và chấp nhận sự nghịch lý của Tin Mừng, bởi lẽ, chúng ta đang sống trong một xã hội thực dụng, thỏa mãn xác thịt, ham muốn điều bất chính, gây bất hòa, chia rẽ, vô cảm, dửng dưng với đau khổ của anh chị em, gây nên những bạo lực, đau khổ, sống dối trá, giả hình, bóc lột, bất công…!  Trong khi đó, Lời Chúa và những giá trị của Chân Lý luôn nhắc nhở và mời gọi chúng ta ý thức rằng: hạnh phúc đích thực của chúng ta ở nơi Thiên Chúa và quê hương chúng ta ở Trên Trời, chứ không phải ở những thứ chóng tàn, mau qua sớm hết nơi trần gian này…  Vì thế, muốn đạt được Nước Trời làm gia nghiệp, chúng ta phải chiến đấu liên lỷ để biện phân và lựa chọn giữa tốt và xấu, giữa thiện và ác, giữa cuộc sống tạm bợ và cuộc sống vĩnh cửu. Chấp nhận đi theo con đường hẹp của Tin Mừng.  Được hạnh phúc hay bất hạnh là do sự lựa chọn của chúng ta.

Mừng kính lễ các thánh nam nữ hôm nay, chúng ta cùng nhau tạ ơn Chúa đã ban cho Giáo Hội những gương sáng ngang qua cuộc đời của các thánh, từ đó trở thành động lực cho mỗi chúng ta phấn đấu trên con đường nên thánh.  Đồng thời, mỗi khi mừng kính các thánh, chúng ta cũng tạ ơn Chúa đã ban nhiều ơn thánh trợ giúp, để: con cháu, anh chị em, cha mẹ, ông bà, tổ tiên… chúng ta đã thành công trên con đường tiến đức và nay đang diện kiến tôn nhan Chúa.

Mặt khác, qua việc mừng lễ này, sứ điệp Lời Chúa và Giáo huấn của Giáo Hội mời gọi chúng ta tái khám phá và làm mới lại sự quyết tâm trong việc: nghĩ thánh, hành động thánh và sống thánh trong cuộc sống thực tại hôm nay.

Lạy các thánh nam nữ trên trời, xin chuyển cầu cùng Chúa cho chúng con. Amen.

Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển

CHÚA DỰNG NÊN MA QUỶ HỒI NÀO?

 

Mỗi năm, vào đầu Chúa Nhật Mùa Chay, chúng ta nghe đọc bài Phúc âm nói về việc Chúa Giêsu bị ma quỷ cám dỗ.  Ma quỷ từ đâu tới vậy?  Chúa dựng nên ma quỷ từ hồi nào, bởi vì khi sách Sáng thế nói tới việc tạo dựng trời đất, không thấy đả động tới ma quỷ?

Trước khi đi thẳng vào các câu hỏi vừa nêu, thiết tưởng chúng ta nên lưu ý về từ ngữ và hình thù của ma quỷ.  Chúng ta mang trong đầu nhiều bức tranh vẽ ma quỷ như là một con thú đen đủi, có cánh có đuôi, thè cái lưỡi đỏ lòm, thấy mà tởm!  Nhưng trong tiếng Việt, có lẽ ma quỷ không xấu xí dữ dằn đến thế.  Nếu tôi không lầm “ma” chỉ có nghĩa là hồn của người chết (cái thây ma).  Từ đó chúng ta đi đưa đám ma.  Còn tiếng “quỷ” có lẽ chỉ muốn nói tới tính cách nhanh nhảu, ranh mãnh; nó có ý nghĩa xấu khi đi kèm với “quyệt” (quỷ quyệt).  Dù sao, có lẽ cổ nhân không sợ hãi ma quỷ cho lắm.  Chúng nó chỉ nghịch ngợm phá phách chơi, chứ không làm hại ai cả: “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò.”  Đó là bàn về từ ngữ ở trong Việt ngữ, và tôi xin thú nhận là không được rành cho lắm.  Bây giờ bước sang từ ngữ trong Kinh thánh.  Trong tiếng Do thái của Cựu ước, Satan chỉ có nghĩa là người “tố cáo”, “đối thủ” (theo nghĩa chính trị hay quân sự).  Khi dịch sang tiếng Hy-lạp, từ Satan được chuyển nghĩa là diabolos, có nghĩa là thù địch, người tố cáo, hay là người quyến rũ, phân ly.  Chúng ta nên lưu ý là trong Kinh thánh, không phải lúc nào Satan cũng có nghĩa xấu.  Như vừa mới nói, Satan chỉ có nghĩa là người tố cáo hay là đối phương.  Trong những bản văn cổ điển của Cựu ước, Satan không phải là đối thủ của Thiên Chúa mà chỉ là đối thủ của loài người.  Thậm chí, có thể nói được là hắn đóng vai trò công an mật vụ, đi dò xét công ăn việc làm của người thế để về báo cáo với Thiên Chúa như chúng ta đọc thấy trong sách của ông Gióp (chương 1, câu 6-12; chương 3 câu 17), hay là sách Dakaria (chương 3, câu 1-3).

Ma quỷ cũng mang tên là Luxipher nữa, phải không?

Chúng ta phải phân biệt: Luxipher là một tên có trong Kinh thánh, nhưng không phải ám chỉ ma quỷ.  Trong tiếng La-tinh, Lucipher có nghĩa là “người mang ánh sáng”, và được dùng để dịch tiếng “Sao Mai” áp dụng cho vua Babylon, dựa theo sách Isaia (chương 14 câu 12).  Về sau, các giáo phụ áp dụng cho tướng quỷ, khi giải thích sự sa ngã của nó, đó là vì thấy mình sáng láng (Lucifer: mang ánh sáng) cho nên đâm ra kiêu ngạo.

Bây giờ, xin cha đi thẳng vào câu hỏi: Chúa dựng nên Satan hồi nào vậy?

Xin lỗi, tôi chưa thể trả lời ngay được, bởi vì cần phải bổ túc thêm về vấn đề từ ngữ đã.  Như đã nói, Satan tự nó chỉ có nghĩa là “đối thủ.”  Trong những tác phẩm cổ điển của Cựu ước, Satan chỉ có nghĩa là đối thủ của con người.  Vào những thế kỷ cuối của thời Cựu ước và bước sang Tân ước thì Satan ám chỉ đối thủ của Thiên Chúa, và như vậy mang nghĩa xấu.  Hắn cám dỗ con người phạm tội, chống lại Thiên Chúa.  Satan trở thành biểu tượng của Sự Dữ.  Và Đức Kitô đã đến đương đầu với nó, đập tan những ảnh hưởng ác ôn của nó, đặc biệt là tội lỗi và sự chết.  Nhờ Thập giá và Phục sinh, Đức Kitô đã giải thoát con người khỏi tội lỗi và sự chết, nghĩa là đã đập tan thế lực của Satan.  Như vậy, khi muốn tìm hiểu nguồn gốc của Satan, cần phải xác định: chúng ta hiểu Satan theo nghĩa nào?  Hiểu theo nghĩa là đối thủ của con người, hay là theo nghĩa đối thủ của cả Thiên Chúa nữa?

Nếu chỉ hiểu Satan theo nghĩa là đối thủ của con người, thì nó được tạo dựng từ hồi nào?

Chúng ta nên biết rằng Kinh thánh không phải là một pho bách khoa từ điển, trong đó chúng ta có thể lục lọi tìm thấy tất cả các chi tiết liên can tới mọi sự trên trời dưới đất này.  Có thể ví Kinh thánh như là một cuốn chuyện tình, mối tình giữa Thiên Chúa và nhân loại.  Trọng tâm của Kinh thánh là mối tình đó; còn những chuyện khác thì không đếm xỉa tới.  Vì thế, ai tò mò đi lật Kinh thánh để tra cứu xem Thiên Chúa dựng lên Hỏa tinh lúc nào, và có loài sinh vật nào trên đó hay không, thì họ sẽ tốn thời giờ uổng công.

Từ tiền đề đó, chúng ta phải thú nhận rằng không thể biết được Satan đã được tạo dựng vào lúc nào, cũng như chúng ta không biết được các thiên thần đã được tạo dựng vào lúc nào.  Dù sao, chúng ta đừng nên quên rằng các tác giả Cựu ước có một quan niệm về Thiên Chúa hơi khác với chúng ta ngày nay.  Thời xưa, bất cứ cái gì dù tốt dù xấu cũng là do Chúa làm hết: giặc giã, bệnh tật, dịch tễ, tất cả đều do Chúa gửi đến, để phạt con người.  Vì thế không lạ gì mà kể cả Satan cũng do Chúa sai đến để thử thách dò xét con người, để xem chúng ta trung thành với Chúa đến đâu.

Còn nếu hiểu Satan theo nghĩa là đối thủ của chính Thiên Chúa, thì hắn được dựng nên vào lúc nào?

Câu hỏi này vừa dễ vừa khó trả lời.  Nó dễ trả lời theo nghĩa là Thiên Chúa không thể nào dựng lên một đối thủ của mình được.  Thiên Chúa là sự Thiện tuyệt đối.  Thiên Chúa không thể nào dựng lên sự Ác được.  Nếu Thiên Chúa tốt lành mà lại dựng nên sự Ác thì chẳng khác nào tự hủy diệt mình.  Nhưng mà đến đây, chúng ta lại thấy câu trả lời trở nên khó khăn.  Nếu Satan không do Chúa tạo dựng thì do ai dựng nên?  Lịch sử thần học đã ghi nhận ba câu trả lời khác nhau.

1/ Câu trả lời thứ nhất của phái nhị nguyên.  Nhị nguyên có nghĩa là hai nguyên ủy.  Ngay từ muôn thuở, đã có hai nguyên ủy Thiện với Ác đối lập với nhau.  Ta gọi Thiên Chúa là nguyên ủy của sự Thiện; còn Satan là nguyên ủy của Sự Ác.  Hai nguyên ủy ấy là đầu mối của mọi sự Thiện và Ác ở trên đời này.  Loài người chúng ta là nạn nhân của cuộc giao tranh giữa hai lực lượng đó, và như tục ngữ đã nói: “trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết.”  Thuyết nhị nguyên bắt đầu từ Ba tư, và đã ảnh hưởng trên các thuyết Manikê thời các giáo phụ, thuyết Albigensê thời Trung cổ.

2/ Câu trả lời thứ hai thì chối phăng sự hiện hữu của Ma quỷ.  Theo họ, ma quỷ chỉ là hình ảnh biểu tượng của sự dữ.  Sự dữ không phải là một thực thể hiện hữu, nhưng nó nằm ở trong chính lòng dạ của con người.  Chính con người phạm tội, và là đầu mối của mọi sự gian ác trên đời này: bóc lột, hận thù, chiến tranh, v.v…  Con người cần phải lãnh trách nhiệm của mình chứ không nên đổ tội cho ma quỷ, bởi chẳng có quỷ ma nào hết.  Phải nhận rằng, thuyết này có phần đúng của nó, và các nhà chú giải Kinh thánh cũng gặp khó khăn khi đứng trước một vài đoạn Kinh thánh.  Một thí dụ cụ thể là quyển sách ông Gióp.  Ngày nay các nhà chú giải xếp nó vào loại sách Khôn ngoan, chứ không phải vào loại sách lịch sử.  Nói khác đi, ông Gióp không phải là một nhân vật lịch sử, nhưng chỉ là một nhân vật điển hình suy tư về nguồn gốc đau khổ trên đời này.  Tác phẩm không thuộc thể văn lịch sử, vì vậy mà vai trò của Satan xuất hiện ở những chương đầu cuốn sách cũng chỉ là nhân vật văn chương mà thôi.

3/ Học thuyết thứ ba cho rằng Thiên Chúa không dựng nên ma quỷ.  Thiên Chúa chỉ dựng nên các thiên thần tốt lành.  Nhưng do sự sa ngã, các thiên thần đã trở thành ma quỷ.  Đây là giáo huấn của Hội thánh, được định tín tại công đồng Lateranô IV (năm 1215), chống lại thuyết nhị nguyên của nhóm Albigensê.  Công đồng không đi xa hơn. T hế nhưng, các nhà thần học cũng như nhân dân ưa tò mò, muốn biết thêm các thiên thần đã phạm tội gì vậy.  Thời các giáo phụ, đã có người cho rằng họ phạm tội dâm dục, ra như đây là tội này khủng khiếp nhất trên đời này.  Tuy nhiên, từ thế kỷ IV trở đi, các giáo phụ đều nhất trí rằng họ đã phạm tội kiêu ngạo.  Nhưng mà kiêu ngạo như thế nào?  Đến đây, các nhà thần học lại đưa ra nhiều ý kiến.  Có người cho rằng Lucifer thấy mình sáng láng quá cho nên đâm ra kiêu ngạo, không chịu phục tùng Thiên Chúa, và đã lôi kéo một số đồng nghiệp theo mình.  Trên đây, tôi đã nói là tên Lucifer được dùng trong Cựu ước để ám chỉ vua Babylon, chứ chẳng phải là tướng quỷ nào hết.  Một ý kiến nữa thì cho rằng khi Thiên Chúa ngỏ ý cho Ngôi Hai xuống thế làm người, thì một số thiên thần đã nổi lên phản đối, bởi vì như vậy họ phải phụng thờ một con người, thuộc hàng thấp kém hơn họ.

Thực ra, tất cả đều là giả thuyết, chứ không dựa trên bằng cớ nào hết, và Giáo hội cũng chẳng tuyên bố gì về điều này.  Thiết tưởng, có một điều đáng cho chúng ta phải suy nghĩ hơn, đó là: tại sao các thiên thần lại có thể sa ngã phạm tội được?  Loài người chúng ta phạm tội là tại vì u mê dốt nát, không biết đâu là đường ngay nẻo chính, vì thế mà đâm ra làm bậy.  Còn các thiên thần thông minh sáng suốt, đã biết rõ đâu là sự thực, đâu là hạnh phúc chân chính, thế mà còn phạm tội được thì qủa thực là lạ!  Dù sao, đây là cả một mầu nhiệm của tự do, mà Thiên Chúa đã muốn tôn trọng.  Ngài tôn trọng ý chí tự do của thiên thần, cũng như Ngài tôn trọng ý chí tự do của con người, kể cả tự do khước từ Đấng đã dựng nên mình.

Tóm lại, Thiên Chúa không dựng nên ma quỷ, nhưng Ngài chỉ dựng nên thiên thần, và vì tội lỗi, họ trở thành ma quỷ.  Nhưng chúng ta không thể nào biết được Thiên Chúa đã dựng nên các thiên thần lúc nào.  Mặt khác, chúng ta cũng đừng trút tất cả trách nhiệm cho ma quỷ; đừng đổ tội cho ma quỷ về những hành vi xấu xa mà chúng ta đã làm.  Không phải trăm tội tại qủy đâu.  Tội bắt nguồn ngay từ thâm tâm ích kỷ của chúng ta.

Phan Tấn Thành
Nguồn http://daminhvn.net

MỘT TRÁI TIM BẰNG THỊT

Lòng trắc ẩn của Chúa Giêsu đã biến đổi trái tim tê liệt của tôi trong một nhà nguyện của bệnh viện.

Một bảng hiệu đơn sơ với tên gọi là “Nhà thờ Thánh Thể” được dán trên một cánh cửa gỗ ngay hành lang bệnh viện nơi tôi làm việc như là trợ lý bác sĩ.  Mặc dù tôi là một người Công giáo chính thống, nhưng tôi không hề chú ý tới nó trong nhiều tháng trời.

Tôi làm việc ở Khoa Cấp cứu, và tôi có thói quen đi làm sớm, uống một ly cà phê trước khi bắt đầu công việc.  Tôi không cố tình tránh bước vào nhà nguyện, nhưng sâu bên trong tôi sợ bị người khác nhìn thấy tôi đang cầu nguyện trong một nơi không thánh thiêng.  Tôi sợ phải giải thích và có thể phải bảo vệ niềm tin tôn giáo của mình.  Tôi đã không quan tâm đến việc làm chứng cho Chúa Kitô, và với lý do đó cho phép tôi phớt lờ bước vào nhà nguyện, thay vào đó đi thẳng tới nơi uống cà phê.

Tuy nhiên, trong một khoảng thời gian, tôi cảm thấy khó chịu về sự tê liệt ngày càng tăng mà tôi cảm thấy.  Bệnh nhân của tôi đã trải qua những thảm kịch như ung thư, sẩy thai hoặc lạm dụng thể chất, nhưng tôi không thể khiến bản thân cảm thấy phiền muộn cho họ.  Một ngày nọ, tôi đi xưng tội và nói với vị linh mục về việc này.  Nhẹ nhàng nhưng chắc chắn, ngài nói với tôi rằng có lẽ tôi đã được gọi là Chúa Kitô cho các bệnh nhân của tôi theo một cách âm thầm nào đó.  Tôi tự nghĩ: Chắc chắn, Chúa Kitô sẽ cảm nhận nỗi đau của mỗi người và cố gắng làm giảm bớt nỗi đau ấy – về mặt thể lý cũng như cảm xúc.

Chúa Giêsu với Người Bệnh.  Trong vài tuần kế tiếp, tôi cầu nguyện về cách Chúa Giêsu đáp ứng với bệnh tật, sự buồn bã và bạo lực.  Trong mắt tôi, tôi thấy Người đang đi trên đường phố với những đám đông đang quây quần xung quanh Người.  Người biết những gì đang xảy ra trong lòng mỗi người, tốt và xấu.  Người biết tội lỗi của họ và Người biết rằng chính Người một ngày nào đó sẽ vượt qua họ.  Cách tôi hình dung ra điều đó, có một biển vô tận của bệnh tật và thương tích tất cả xung quanh Chúa Giêsu.  Vô số người bệnh gọi Người.  Chúa Giêsu biết không có cách nào tốt hơn là đi vào trái tim của ai đó hơn là qua sự chữa lành thể xác.  Vì vậy, Người đã đặt tay trên họ, cầu nguyện cho họ, chữa lành thể xác họ và tha thứ tội lỗi cho họ.  Người ban cho họ được cảm nếm trước sự phục sinh thể xác của họ và cho họ thấy rằng Người muốn họ được bình an và được chữa lành trong mọi chiều kích của cuộc đời họ.

Như Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói, “Tôi thấy Giáo Hội như một bệnh viện dã chiến sau trận chiến.  Thật vô dụng khi hỏi một người bị thương nặng không biết anh ta có bị cholesterol cao…  Bạn phải chữa lành vết thương của anh ta.  Sau đó chúng ta có thể nói về mọi thứ khác”.

Ngay cả khi tôi thực hiện những kết nối này trong lời cầu nguyện, tôi vẫn không cảm thấy có nhiều thay đổi trong công việc.  Sự hỗn loạn của “trận chiến” hàng ngày tại bệnh viện khiến tôi khó tập trung vào những vết thương của bất kỳ cá nhân nào.  Tất cả những gì tôi có thể thấy là sự chiến đấu xung quanh tôi.

Phía Sau Cánh Cửa Gỗ.  Rồi một ngày, tôi đến nhận ca sớm và không có gì để làm.  Khi tôi đi qua cánh cửa gỗ ở hành lang, dấu hiệu nhà nguyện thu hút sự chú ý của tôi.  Có lẽ do Chúa Thánh Thần thúc đẩy, tôi quyết định đi vào bên trong.  Tôi mở cửa và thấy một nhà tạm vàng trên một chiếc bàn nhỏ.  Bên cạnh đó là bức ảnh Chúa Thương Xót với những lời “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa” và một tấm ảnh của Đức Mẹ.  Một cây nến điện chạy bằng pin cho thấy sự hiện diện của Chúa chúng ta vì ngọn lửa thật bị cấm trong bệnh viện.

Khi tôi ngồi và bắt đầu cầu nguyện với Kinh Mân Côi, tôi nghĩ về việc căn phòng nhỏ này đã được biến thành một nhà nguyện.  Bị che khuất trong một hành lang bệnh viện, nó biểu lộ sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu Kitô, Vua của các vị vua, Chúa trời và đất.  Và tôi là người duy nhất ở trong phòng với Người!

Trước khi tôi đến đó, Chúa Giêsu ở trong phòng một mình – một vị Vua cầm quyền trên một ngai vàng mà không có ai trong tòa.  Bên ngoài cửa tôi nghe mọi người thảo luận về kế hoạch cuối tuần và những rắc rối với đồng nghiệp.  Tôi nghe tiếng còi xe cứu thương và tiếng rít của xe lăn điện.  Hành lang rất bận rộn, và những người trong đó bận rộn với cuộc sống của chính họ.

Vị “Vua bị Quên lãng”.  Tôi bắt đầu dừng lại trong nhà nguyện để cầu nguyện trước và sau mỗi ca làm việc.  Một lần, một người đàn ông mở cửa, thấy mình lầm phòng, anh ta nhanh chóng rời đi.  Tôi không thấy ai khác cố tình vào.  Tôi bắt đầu tự hỏi tại sao.  Trong một bệnh viện đầy bệnh tật thể xác và tâm thần, nghiện ngập, những ảnh hưởng lâu dài của chiến tranh và bạo lực, vô gia cư và bị bỏ rơi, tại sao tôi — hoặc bất kỳ ai khác — không đến thăm Chúa chúng ta?  Cứ như thể Chúa là một vị Vua bị lãng quên, cầm quyền trên một ngai vàng bị bỏ qua.

Hôm nay, cũng giống như khi đi vòng quanh Galilee, Chúa Giêsu đang được người ta cần đến rất nhiều.  Hai nghìn năm trước, mọi người đã xô đẩy Chúa trên đường phố với hy vọng Chúa ban cho phép lạ.  Tôi thường nghĩ về người phụ nữ bị bệnh xuất huyết chỉ muốn chạm vào Chúa.  Bà biết bằng cách nào đó Người sẽ chữa lành cho bà.  Bà đã mất niềm tin vào y học hiện đại trong thời của bà, nhưng bà vẫn tin vào sự chữa lành thần thánh.  Ở đây trong bệnh viện này, nó không khác nhiều lắm.  Có rất nhiều phiền não mà y học hiện đại tốt nhất không thể chữa lành được.  Nhưng Đức Kitô vẫn còn ở đây, sẵn sàng tặng ban nhưng không lòng thương xót có sức chữa lành.  Người chỉ đang đợi chúng ta đến với Người.

Trở Nên Giống Chúa Giêsu.  Khi tôi đến với Chúa Giêsu trong nhà nguyện, Người bắt đầu chữa lành trái tim tôi khỏi sự tê liệt đã bọc nó lâu nay.  Thời gian của tôi ở đó đã bắt đầu thay đổi cách tôi nhìn vai trò của mình như một nhà cung cấp dịch vụ y tế.  Thay vì chỉ làm giảm bớt các đau đớn về thể lý, tôi muốn cho bệnh nhân cảm nhận được sự hiện diện của Chúa Kitô.

Điều này xảy ra theo những cách đơn giản: đặt ra cho một bức ảnh với một cậu bé có vết mổ mà tôi đã khâu và nghe những từ “cháu rất vui vì bác ở đây”; vui mừng với một người phụ nữ biết rằng cô đang mang thai – không chỉ bệnh tật – sau mười năm cố gắng thụ thai; nói với một người đàn ông lớn tuổi rằng chứng ho của bác ấy thực sự là do một khối u phổi ác tính, nhưng làm như vậy với lòng tốt dịu dàng.

Tôi đã nhận ra rằng cách tốt nhất để trở thành một sự hiện diện giống như Chúa Kitô là phải dành thời gian với Chúa Kitô trong việc cầu nguyện và trong sự Tôn Thờ.  Một khi tôi thực sự biết Chúa Giêsu, tôi thấy dễ dàng hơn để cho tình yêu của Người tỏa sáng qua tôi.

Alexander Lee, Washington DC.

Theo the Word Among us – The Issue June 2018
Chuyển ngữ: Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương, OP

MŨI NHỌN XUNG KÍCH

Phúc Âm hôm nay là một dụ ngôn sống động và mang tính khái quát.  Rất gọn về số câu, số chữ nhưng lại rất rộng về hàm ý nội dung.  Chỉ có hai nhân vật với vài nét chấm phá sơ sài nhưng cũng đủ khái quát cho mọi tầng lớp dân chúng.  Chỉ là một thoáng lên Đền cầu nguyện nhưng lại biểu trưng cho mọi sinh hoạt tôn giáo.  Chỉ quanh quẩn trong chu vi Đền Thánh nhưng lại điển hình đến nỗi có thể nới rộng ra cả cuộc đời.

Nhưng điều làm cho dụ ngôn sống động đến hôm nay thiết tưởng không những vì tính khái quát ấy mà đáng lưu ý hơn, theo ngôn từ báo chí, còn vì “tính xung kích” với những mũi nhọn không thể tránh né của nó.

Đẹp lắm nhưng cũng đau lắm.  Khéo léo lắm nhưng cũng nhức nhối không kém.  Xin chia sẻ về tính xung kích ấy.

1. Mũi nhọn thứ nhất: tố giác một não trạng tôn giáo đầy ảo tưởng

Đối với người Do Thái, luật Thiên Chúa là trên hết, đời sống của họ được khuôn đúc theo lề luật, xã hội của họ gắn liền với tôn giáo nên cũng được tổ chức theo lề luật.  Đã có những thành phần ưu tuyển chuyên viên về lề luật được gọi là Luật sĩ, và cũng có những thành phần khác chú tâm đến việc thi hành luật đến độ tỉ mỉ, đó là mấy ông biệt phái.  Luật lệ là khuôn vàng thước ngọc cho đời sống.  Quan điểm ấy không có gì đáng phàn nàn nếu qua lề luật người ta nhận ra bàn tay và tấm lòng của Thiên Chúa luôn dẫn đưa và giáo hóa con người.  Nhưng quan điểm ấy trong thực tế đã không giữ được vẻ tinh ròng của nó mà đã bị biến chất dần dà theo năm tháng để trở thành một thái độ tôn giáo kệch cỡm, di căn trong nếp nghĩ, và đồng thời méo mó trong thực hành.  Và đây là một thực trạng nguy hiểm mà Chúa Giêsu gọi là “men Biệt phái” cũng là điều dụ ngôn hôm nay tố giác.

Nguy hiểm nhất là tất cả đã bị đảo lộn: luật lệ thay vì là phương tiện đã được nâng lên hàng mục đích và Thiên Chúa thay vì là cùng đích lại bị xếp xuống hàng phương tiện.

Nguy hiểm thứ hai là tất cả đã trở thành máy móc: làm như cứ chu toàn một số khoản luật là tức khắc người ta trở thành công chính, và có quyền đòi hỏi Thiên Chúa phải ký tên đóng dấu chứng thực cho sự công chính này, giống như kiểu chấm công, và báo công trong các xí nghiệp trước đây đã bị báo chí phê bình gay gắt.  Chấm công thì rất nhiều nhưng việc chẳng chạy bao nhiêu, ấy là chưa nói tới việc công, việc tư, lẫn lộn và thế là vỡ nợ thất bại.

Và nguy hiểm hơn hết là tất cả đã làm thành một ảo tưởng dầy đặc về quá khứ công trạng để rồi thành chuẩn mực phủ định những người không thuộc về phe cánh mình, không giống như mình, không đúng ý mình, kể cả Thiên Chúa nữa.

Ông Biệt phái trong dụ ngôn đã rơi vào cái ảo tưởng mà Chúa Giêsu muốn tố giác này:

Lời kinh của ông khởi đầu bằng tâm tình tạ ơn rất đẹp, nhưng đã nhanh chóng trở nên xấu bởi có ý đồ níu kéo Thiên Chúa thỏa hiệp với lối sống vụ luật “trên mức bó buộc” của ông.  Có biết đâu ông đã ảo tưởng.  Thiên Chúa vì yêu thương tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài, nhưng chính ông lại xây dựng một Thiên Chúa theo hình ảnh của ông.

Và lời kinh của ông còn tồi tệ hơn khi tự hào cho mình là công chính để so sánh mình với đời sống bên ngoài của những người khác.  “Đứng thẳng nguyện thầm” có vẻ tốt đấy, nhưng kênh kiệu làm sao và cũng ảo tưởng biết bao.  Khẳng định mình đúng cách là tốt, nhưng khẳng định mình bằng cách phủ định kẻ khác, bằng cách dèm pha nói xấu bôi nhọ khinh chê người ta thì quả thật là trơ trẽn.

Và nguy hiểm cuối cùng đến từ những mối nguy hiểm trên là chính mình không còn cảm thấy nỗi hiểm nguy nào nữa, thành ra khô đạo mà tưởng mình sống đạo, phá đạo mà tưởng mình xây đạo, bài tôn giáo ngay giữa lòng tôn giáo, và bóp nghẹt Thiên Chúa trong khi tưởng như mình vẫn tôn thờ Ngài, làm lu mờ Danh Chúa mà tưởng như mình đang làm sáng danh Ngài.

2. Mũi nhọn thứ hai: xây dựng một thực chất tôn giáo

Nếu qua hình tượng ông biệt phái, dụ ngôn muốn tố giác một thứ đạo đức ảo tưởng đầy nguy hiểm, thì ngược lại qua ông thu thuế, dụ ngôn lại nhắm một mục đích tích cực nhưng cũng không kém phần xung kích, đó là xây dựng một nền đạo đức đích thực tôn giáo.

Nền đạo đức đích thực ấy dựa trên những thái độ cơ bản là không phải chỉ tin có Thiên Chúa mà phải tới chỗ tin vào Ngài.  “Tin có” và “tin vào” là hai động từ gói ghém những thái độ khác nhau lắm dẫu ở đó đều hiện diện chữ “tin.”  Không ít người tin có Thiên Chúa, nhưng để gọi được là tin vào Thiên Chúa thì còn phải hạ hồi phân giải tùy theo chất lượng chứng minh của cuộc sống.  Ông biệt phái tin có Thiên Chúa quá đi chứ, nhưng nếu hỏi “ông có tin vào Ngài chưa?” thì phải trả lời là chưa, mà ngược lại, thay vì tin vào Ngài, đời sống ông lại cho thấy chỉ tin vào mình, cậy dựa vào sức mình để kèn cựa sao cho người khác xem mình là công chính.

Còn ông thu thuế, dẫu không cầu nguyện dài lời cũng cho thấy ông là người đã tới mức tin vào Thiên Chúa và phó thác hoàn toàn cho Ngài.  Bởi thấy mình quá lem luốc theo mắt nhìn thành kiến của người đương thời, nên ông chỉ có thể đợi chờ một sự gột rửa trong mắt nhìn của Thiên Chúa; bởi thấy mình đã bất chính trong vòng quay nghiệt ngã của nghề nghiệp, nên con người ông nếu có cái gì phải tiến dâng thì đó chính là cuộc đời tội lụy của tấm lòng tan nát khiêm cung cúi đầu đấm ngực xin ơn tha thứ.  Và bởi thấy mình chỉ đáng tội nên Thiên Chúa lại thấy ông chỉ đáng thương, nên bằng tình thương, Ngài đã ban ơn cho ông theo như ông tin vào Ngài.

Rõ ràng là tình thương Thiên Chúa ban cho con người như nước chảy về chỗ trũng, chỉ khi gặp tâm hồn khiêm tốn khai hoang, tình thương ấy mới có thể đổ vào tràn đầy chan chứa.  Hay nói cách khác, tình thương Thiên Chúa là một “tình cho không biếu không”, nhưng chỉ những ai đã gạt bỏ ảo tưởng về mình để nhìn nhận mình là không, người ấy mới có thể nhận được tình thương của Thiên Chúa.

Tin vào Thiên Chúa sẽ gặp được tình thương của Ngài, còn chỉ tin vào mình rốt cuộc lại gặp chính mình trong những ảo tưởng chất chồng.  Nhưng cũng phải thưa ngay rằng: luôn luôn có một sự quân bình giữa một đàng là tình thương Thiên Chúa và đàng khác là cố gắng của con người.  Chỉ ỷ lại vào tình thương Thiên chúa cũng sẽ rơi vào ảo tưởng như là chỉ ỷ y vào sức mình.  Thế nên, đạo đức đích thực chính là dung hòa giữa nỗ lực và cậy trông.  Xin mượn kiểu chơi chữ của thánh Augustinô để minh họa.  Ngài bảo ai càng cảm nhận về sự khốn cùng của mình, người ấy càng gặp được sự khôn cùng của tình thương Thiên Chúa.  Ai sống hết mình với cái miseria của mình, người ấy cũng biết cách để tiếp nhận cái misericordia của Thiên Chúa.  Giống như người say rượu một khi biết tật của mình mới hết khướt say.

3. Mũi nhọn thứ ba: cật vấn hôm nay

Với hai mũi nhọn trên, dụ ngôn đã trở thành sống động và sở dĩ còn sức sống đến hôm nay là vì mũi nhọn thứ ba: dụ ngôn là lời cật vấn gởi đến mọi kẻ tin, ngân vang tới mọi sinh hoạt tôn giáo và len lỏi vào mọi ngõ ngách của cuộc sống đời thường.  Thế nên vấn đề được đặt ra ở đây trên bình diện cá nhân cũng như tập thể với những thích ứng cần thiết là hãy thử nhận diện cuộc sống của mình và của cộng đoàn mình.

Có thể ta không gặp sừng sững một ông Biệt phái lộ liễu ngất ngưỡng ở trong lối sống đạo của ta, nhưng biết đâu cái ảo tưởng an toàn khi chu toàn các bổn phận trong đạo như ông biệt phái lại chẳng lây lan len lỏi lập lòe trong tâm thức của mình?  Biết đâu lúc này khác hơn một lần ta đã tự ru mình vào giấc ngủ “tự hào” khi bằng lòng với cách thể hiện đức tin hiện tại?  Biết đâu đó đây trong ngày sống ta đã chiều theo ý nghĩ so sánh đời ta với đời người khác về phương diện đạo đức, theo kiểu “Trông lên mình chẳng bằng ai, nhưng khi trông xuống chẳng ai bằng mình?”  Xưa Chúa Giêsu gọi đó là “men Biệt phái”, nay có lẽ nên gọi là “virus BP” xin tránh xa.  Nếu “virus BP” mà giống “dầu nhớt BP liên tục phát triển” như quảng cáo trên tivi thì nguy quá!  Trượt té dài dài.

Có thể ta thấy mình bỗng dưng gần gũi với ông thu thuế vì đời ta vương nhiều tội lụy, vì ta đi lễ thích đứng cuối nhà thờ, và vì ta cầu nguyện chỉ mong thật ngắn chẳng thích dài lời như Phúc Âm kể: “Ông thu thuế đứng đàng xa, không dám ngước mặt, vừa đấm ngực vừa cầu nguyện: Lạy Chúa xin thương con là kẻ tội lỗi.”  Nhưng chưa chắc đâu, bởi ông thu thuế khiêm tốn hết mình để được thứ tha hết tình, còn ta có khi chỉ là khiêm tốn nửa mùa tưởng bở, như thoáng thấy qua trang Nhật Ký của Đức Gioan XXIII ngày nào: “Tôi tưởng mình là cậu bé Séraphim nhưng nhìn kỹ tôi lại thấy mình là một chú Lucife nhỏ”.

Và vượt lên tất cả chính là lời thầm nhủ: hãy tin vào tình thương của Chúa mà sống tốt cuộc sống Ki-tô của mình.  Với người này có thể trút bỏ những ảo tưởng tự hào, với người kia có thể là nhen lên lòng sám hối khiêm cung.  Riêng cá nhân tôi nhân ngày tròn bảy năm linh mục, cùng với lời tạ ơn Thiên Chúa, lời cảm tạ cha sở và cộng đoàn, cũng sẽ là một lời kinh âm thầm xin được luôn tin vào tình thương Thiên Chúa.

Chiều qua khi đang sắp xếp lại sách vở, nghe cassette nhà ai mở bài “L’amour c’est pour rien” với lời hát “Tình cho không biếu không chớ nên mua bán tình yêu”, bất giác tôi nghĩ về tình thương Thiên Chúa: một tình thương luôn sẵn cho đi, một tình thương chẳng chờ đợi gì, một tình thương không mong đáp trả, một tình thương mãi mãi thứ tha.

Cầu chúc mọi người luôn tin vào tình thương Thiên Chúa để mãi vươn lên trong mọi cảnh ngộ cuộc đời, bởi xét cho cùng mỗi cảnh ngộ cũng là một dụ ngôn sống động ẩn chứa những mũi nhọn xung kích mời ta khám phá không ngừng.

ĐGM Giuse Vũ Duy Thống

MÙI HƯƠNG CỦA ĐỨC KHIÊM NHƯỜNG

Mùi hương của đức khiêm nhường Theo Isaac người Syria, giám mục và là nhà thần học nổi tiếng ở thế kỷ thứ 7, một người thực sự khiêm nhường là người tỏa ra một hương thơm nhất định nào đó mà người khác sẽ cảm nhận được và ngay cả động vật cũng cảm nhận đến mức mà các động vật hoang dã kể cả rắn cũng bị thu hút và không bao giờ dám làm hại người này.

Và đây là lập luận của ngài, ngài tin rằng một người khiêm nhường tìm thấy được mùi hương của thiên đàng, khi đứng trước một người như vậy, chúng ta không cảm thấy mình bị phán xét, không có gì để sợ, và điều này đúng với cả động vật.  Họ cảm thấy an toàn bên cạnh người khiêm nhường và bị người đó thu hút.  Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy những người như Thánh Phanxicô Assisi có thể nói chuyện với chim muông và kết bạn với chó sói.

Dù đẹp như thế nào, có phải đây là câu chuyện cổ tích ngoan đạo hay đây là một ẩn dụ phong phú và nguyên mẫu?  Tôi thích nghĩ đây là ẩn dụ phong phú và có thể có một cái gì còn hơn nữa.  Quả vậy, đức khiêm nhường có một mùi hương, mùi của đất mùn, đất thó, mùi của thiên đàng.

Nhưng như thế nào?  Bằng cách nào mà một đức tính thiêng liêng lại tỏa ra một mùi hương vật lý?

Chúng ta có tâm thế, là những tạo vật vừa có thể xác vừa có tâm linh.  Vì thế trong chúng ta, thể chất và tâm linh là một phần của một và cùng một thực thể mà nó không thể nào tách cái này ra khỏi cái kia.  Cơ thể và tâm hồn chúng ta cũng giống như đường có màu trắng và có vị ngọt, độ trắng và độ ngọt không thể nào tách riêng ra được.  Cả hai có bên trong đường.  Chúng ta là một thực thể, không thể tách rời, là thể xác và tâm hồn, như thế luôn vừa là thể lý vừa là tâm linh.  Vì vậy, trên thực tế, chúng ta cảm nhận những chuyện về thể chất một cách thiêng liêng, cũng như ngửi những chuyện thiêng liêng qua các giác quan thể lý của mình.  Nếu điều này đúng, thì quả thật khiêm nhường tỏa ra mùi hương có thể cảm nhận được về mặt thể xác và khái niệm của Isaac người Syria không chỉ là một ẩn dụ.

Nhưng nó cũng là một ẩn dụ: chữ khiêm nhường có nguồn gốc từ tiếng la-tinh là mùn (humus) có nghĩa là đất: nếu chúng ta chấp nhận định nghĩa này thì người khiêm nhường mà chúng ta biết là người sát đất nhất, và người có nền tảng nhất.  Người khiêm nhường có bàn chân đạp đất, là tiếp xúc với đất, mang mùi đất.  Hơn nữa, khiêm nhường là lấy chỗ hợp pháp như một mảnh nhỏ của đất, chứ không phải như một con người hay một cái gì đó tách khỏi đất.

Nhà thần nghiệm và khoa học gia nổi tiếng Pierre Teilhard de Chardin đôi khi đã diễn tả điều này trong lời cầu nguyện của ngài.  Trong nhiều năm, với tư cách là nhà cổ sinh vật học, ngài làm việc một thời gian dài trong các sa mạc hẻo lánh ở Trung quốc, có khi ngài soạn các lời cầu nguyện cho Chúa dưới hình thức mà ngài gọi đó là Thánh lễ cho thế giới.  Nói chuyện với Chúa trong tư cách linh mục, ngài kết hiệp tiếng nói của mình với chính tiếng nói của đất, nơi sự sáng tạo vật lý chính là đất, nền của đất, để có thể mở ra và nói chuyện với Chúa.  Là linh mục, ngài không nói cho đất; ngài nói như là đất, cho đất một tiếng nói, với những chữ có tác động:

Lạy Chúa, con đứng trước mặt Chúa như một sinh linh bé nhỏ của đất, để cho đất có tiếng nói: xin Chúa nhìn đến sự mở lòng ra của con, sự mở lòng ra của thế giới, sự bất trung của con, sự bất trung của thế giới; trong sự chân thành của con, sự chân thành của thế giới, trong đạo đức giả của con, trong đạo đức giả của thế giới; trong sự quảng đại của con, sự quảng đại của thế giới, trong sự quan tâm của con, sự quan tâm của thế giới, trong sự xao lãng của con, sự xao lãng của thế giới; trong ước muốn ca ngợi Chúa của con, trong ước muốn ca ngợi Chúa của thế giới, trong lợi ích riêng của con, trong sự quên lãng Chúa của thế giới.  Vì con là đất, là chút đất nhỏ, chút đất mở ra hoặc khép lại qua cơ thể của con, tâm hồn và tiếng nói của con.

Đây là khiêm nhường, một biểu hiện của khiêm nhường đích thực.  Khiêm nhường không bao giờ được nhầm lẫn với hình ảnh bản thân bị tổn thương như chúng ta thường thấy, với sự dè dặt quá mức, với sự rụt rè và sợ hãi hay với một nhận thức quá nhạy cảm về mình.  Thường thường khái niệm một người khiêm nhường là khái niệm về người nhận lỗi khi mình có lỗi, người không nhận lời khen (dù mình xứng đáng), người quá rụt rè để không thể thân tình tin tưởng thổ lộ, hay người quá sợ hãi hoặc tự ti ý thức, lo lắng sợ xấu hổ để không bao giờ mở lòng đi tới trước, và tặng cộng đoàn món quà của mình.  Những điều này có thể là những điều của người hiền lành và quên mình, nhưng do chúng ta chê chính mình khi phủ nhận tài năng của mình, đây là khiêm nhường giả tạo và xét cho cùng, chúng ta biết điều này, vì vậy điều này thường làm cho một người nào đó che giấu sự giận dữ của mình sẽ dễ trở thành người gây hấn thụ động.

Người khiêm nhường nhất mà các bạn biết là người vững chãi nhất, có nghĩa là người biết họ không phải là trọng tâm của trái đất nhưng cũng biết họ không phải là một mẫu vụn đất hạng hai.  Và người đó sẽ tỏa ra một mùi hương mang cả hương thơm của thiên đàng (món quà thần thánh) cũng như mùi hương của trái đất.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO: VAI TRÒ CỦA MỖI KITÔ HỮU

Từ ngày lãnh bí tích Thanh Tẩy, người Kitô hữu nhận trong mình 3 sứ vụ: tư tế – ngôn sứ và vương đế.  Một trong ba sứ vụ đó – ngôn sứ – mỗi người được mời gọi cũng như phải có trách nhiệm với ơn gọi của mình.  Và, nhất là trước khi về Trời, Chúa mời gọi: “Các con hãy đi loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.”  Với lời này, mọi người phải nhớ nhiệm vụ loan báo Tin Mừng là không phải của riêng ai.  Có người thầm nghĩ là của giám mục, linh mục, tu sĩ hay người thuộc Ban Truyền Giáo…  Và như thế, cần phải cân chỉnh lại cách nhìn và nhất là cân chỉnh đời sống của mình.

Người ta vẫn thường nói có đạo rồi phải giữ đạo và chuyện này rất quan trọng.  Hay hơn thế nữa khi ta nghe nói “tin đạo chứ đừng tin người có đạo.”  Thật đau lòng và suy nghĩ cho những người có đạo.  Những người có đạo có thật sự giữ đạo hay không và có để người khác tin rằng mình có đạo hay không?  Hay mình chỉ là người đóng mác nhãn Kitô mà thôi, còn trong người mình chả có một chút gì Kitô cả.

Ngày nay, hơn bao giờ hết, sứ mạng truyền giáo vẫn là sứ mạng căn cốt của người Kitô hữu.  Chả phải cứ lên đường loan báo Tin Mừng hay dự các hội thảo hội nghị, hay ra định hướng là truyền giáo.  Chuyện cần thiết nhất là phải sống cùng, sống với, và sống cho người khác như Đức Kitô thì mới gọi là truyền giáo.

Nếu nhắc đến truyền giáo mà không nhắc đến Đức Kitô quả là điều thiếu sót thật lớn và coi như chả có gì để nói.  Đơn giản vì chính Đức Kitô đã được Thiên Chúa, vì yêu thế gian đã ban cho con người để con người được cứu độ ngang qua cuộc đời hay nói đúng hơn là ngang qua đau khổ – cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô.

Đức Kitô đã đến thế gian này và đón nhận kiếp người cũng như sống chết với con người với ơn gọi phục vụ ơn cứu độ.  Cái chết trên cây thập tự chính là lễ tế cuối cùng và tuyệt hảo nhất mà Chúa Giêsu đã dâng cho Chúa Cha để đền tội cho nhân loại hững hờ.  Cả cuộc đời Chúa Giêsu, đến thế gian không phải để được phục vụ nhưng đã phục vụ và làm giá chuộc cho nhân loại.  Nếu như Đức Kitô chỉ nhập thể nhưng không nhập thế thì coi như không hoàn thành sứ mạng và có thể xem ra vô ích.  Đức Kitô đã nhập thể và nhập thế.  Thật vậy, cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc (với các môn đệ), cùng đồng thân đồng phận với con người và nhất là đồng thân đồng phận trong con người tội lỗi để nâng người tội lỗi lên tầm cao mới là không chỉ sạch tội mà được ơn cứu độ.

Nhìn lại cuộc đời của nhà truyền giáo vĩ đại nhất mọi thời đại ta thấy Đức Giêsu đã vùi đời mình trong thân phận làm người và gần gụi con người đến mức không còn mức nữa.  Chúa Giêsu đã cúi xuống để rửa chân cho các môn đệ và đã hủy đời mình ra không.  Chính vì như hạt lúa gieo vào lòng đất đó mà 12 hạt lúa khác và hàng ngàn, hàng vạn hạt lúa khác đã thối đi và sinh nhiều bông hạt.

Và ta thấy, công cuộc loan báo Tin Mừng mãi mãi là sự giằng co của biết bao nhiêu người khi đứng trước sứ mạng to lớn ấy.  Tôi phải làm gì?  Tôi phải sống như thế nào?  Tôi không có tiền thì sao truyền giáo?  Tôi không tri thức sao truyền giáo?  Tôi không có sức khỏe sao truyền giáo?  Có khi do suy nghĩ quá mà người ta đâm ra rối loạn tâm thần.

Ta cứ nhìn lại hành trình của những hạt lúa đã gieo vào lòng đất ít nhiều ta thấy cuộc đời của các Đấng như thế nào?  Một Têrêsa Hài Đồng Giêsu chỉ với 4 bức tường nhưng đã trở thành bổn mạng của các xứ truyền giáo.  Một Gioan Maria Vianney đã hy sinh cả đời mình để phục vụ trong sứ mạng mục tử.  Một Phanxicô Xavie đã dong duỗi trên mọi nẻo đường…  Mỗi người một cách thế nhưng rồi có một cách thế chung là rập đời mình theo mầu nhiệm Thánh Giá Chúa.

Còn nếu nói phải nói gì thì hẳn ta nhớ Thánh Phaolô: “Khi tôi đến với anh em, tôi đã không nói những lời hoa mỹ nhưng đến với anh em bằng cả tấm lòng.”  Vâng!  Nếu dựa vào tiền bạc vật chất hay tài vặt để truyền giáo e rằng cần phải xem lại.  Khi ta vịn vào vật chất hay tài năng thì khi ấy ta đã lạc đường mất hướng.  Người ta sẽ không theo và tin anh khi anh giàu có ở giữa người nghèo đâu.  Người ta cũng chả tin anh khi anh nói hoa mỹ nhưng không sống như những gì anh nói.  Và nhất là ngày hôm nay người ta sợ anh định hướng lắm rồi hay không dám nói là người ta ngán ngẩm những con người định hướng.

Khi và chỉ khi anh sống với người ta và cùng ăn cùng uống, cùng làm việc với người ta thì khi ấy anh mới nói cho người khác về một Đức Kitô khác đang sống trong anh.  Không khéo thì anh sẽ sống khác Đức Kitô chứ không phải là một Đức Kitô khác.

Thực trạng đáng buồn là ngày hôm nay người ta nói nhiều quá và nói hay quá nhưng lại không sống.  Hội thảo, hội nghị người ta nói nhiều quá, người ta định hướng nhiều quá nhưng chưa bao giờ đưa ngón tay lay thử.  Ngày nay, người ta không cần định hướng nữa mà ngày nay người ta cần những người sống và chứng nhân.

Thật thế, ta thấy Hội Nghị có mở ra, Hội Thảo có bàn thảo và định hướng cứ đánh máy thì cũng chẳng làm được gì khi không thấy nhân chứng sống.  Ngày xưa, Đức Kitô hình như không ngồi bàn giấy để định hướng loan báo Tin Mừng.  Ngày xưa, chính Đức Kitô đã sống định hướng của mình bằng chính đời sống thật của mình.

Và như thế, nhân dịp Giáo Hội nhớ và mừng ngày khánh nhật truyền giáo, mỗi người chúng ta được dịp nhắc nhở chính mình về sứ mạng mà Chúa mời gọi.  Ta tự trả lời trước mặt Chúa về sứ mạng và ơn gọi của chúng ta.

Nếu như không có sức lực và hạn chế về mọi mặt, Lời Kinh Mân Côi trong tháng truyền giáo ngoại thường này chắc chắn sẽ là sức hút mãnh liệt cho công việc loan báo Tin Mừng đã đang và sẽ đến với những vùng anh chị em chưa biết Chúa.  Nếu như còn sống và sinh hoạt với cộng đồng thì chính lời ăn tiếng nói, cách sống của mỗi người sẽ minh chứng cho người khác biết mình là ai.  Khi thật sự mình sống trong tư cách một người có Chúa thật thì khi ấy lực hút người khác vào Đức Kitô sẽ khác.

Vẫn là những con người mong manh, mỏng dòn và yếu đuối, ta lại xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để trong hoàn cảnh sống, môi trường sống, ta hãy là người sống cùng, sống với, và sống cho người khác như Đức Kitô vậy.  Có như thế thì lời mời gọi truyền giáo trở nên sống động ngay trong chính cuộc đời của chúng ta.

Người Giồng Trôm