KHÔNG GIAN CHỮA LÀNH CỦA THINH LẶNG

Quyển sách mới đây của Robyn Cadwallander, “Nữ ẩn sĩ” (The Anchoress) kể về Sarah, một phụ nữ trẻ chọn khép mình khỏi thế giới và sống như một ẩn sĩ (như Julian thành Norwich vậy).  Đây không phải là đời sống dễ dàng và cô sớm nhận ra mình phải đấu tranh với lựa chọn này.  Cha giải tội cho cô là cha Ranaulf, một tu sĩ trẻ, không nhiều kinh nghiệm.  Mối liên hệ giữa họ cũng không dễ dàng.  Cha Ranaulf là người ngại ngùng và ít nói nên Sarah thường thấy chán khi gặp cha, cô muốn cha nói thêm, muốn cha đồng cảm hơn và đơn giản muốn cha hiện diện rõ hơn với cô.  Họ thường xuyên bàn luận, hay ít nhất là Sarah thường cố moi thêm lời nói và đồng cảm từ cha Ranaulf.  Nhưng bất kỳ lúc nào cô cố gắng làm thế, cha Ranaulf đều gián đoạn buổi xưng tội và rời đi.

Một ngày nọ, sau một buổi xưng tội cực kỳ đáng chán khiến cha Ranaulf cứng lưỡi và Sarah giận dữ, cha chỉ đóng cánh cửa tòa giải tội, một phản ứng thông thường của cha khi căng thẳng, khi có điều gì đó trong cha không muốn cho cha bỏ đi.  Cha biết là mình phải cho Sarah một điều gì đó, nhưng cha không có lời lẽ nào để làm được.  Và, khi không có gì để nói ngoài cảm giác mình buộc phải rời đi, cha đơn giản là ngồi đó trong thinh lặng.  Ngược đời thay, sự bất lực câm nín của cha lại đạt được một điều mà những lời nói của cha không làm được, đó là một bước đột phá.  Lần đầu tiên, Sarah cảm thấy sự quan tâm và đồng cảm của cha, cũng như sự hiện diện của cha với mình.

Và lời văn của Cadwallander mô tả đoạn này như sau:

“Cha hít một hơi thật sâu rồi từ từ chậm rãi thở ra.  Cha không còn điều gì để nói, nhưng cha không để cô ấy ở đây một mình trong tâm trạng cay đắng được.  Vậy nên cha vẫn ngồi lại trong tòa giải tội, cảm nhận sự trống trải của phòng xưng tội quanh mình, cảm nhận sự thất bại của việc học, của những từ ngữ mà cha đã ghi khắc trong đầu, trang này đến trang khác, tầng này đến tầng khác.  Cha không thể mở miệng, nhưng cha có thể ở lại, và cha làm thế.  Cha bắt đầu cầu nguyện trong thinh lặng, nhưng không biết bắt đầu thế nào, không biết phải xin gì.  Cha bỏ cuộc, và thở chậm rãi từ từ.

Sự thinh lặng bắt đầu như một điều gì đó thật vụn vặt và đáng sợ, đậu trên rìa cửa sổ tòa giải tội, nhưng khi cha Ranaulf ngồi đó trong tĩnh mịch, nó dần dần, rất chậm rãi, lớn lên, và tràn khắp gian phòng, cuộn chặt quanh cổ và vòng lấy lưng cha, cuốn quanh đầu gối và đôi bàn chân cha, tràn lên các bức tường, lấp đầy các ngóc ngách, len lỏi vào cả các khe tường đá.…  Sự thinh lặng trườn qua các khe hở và len vào cả gian phòng bên trên.  Dường như nó thật êm ái mềm mại.  Nó tràn ra và vững vàng, nó chiếm lấy mọi khoảng không.  Cha Ranaulf ngồi bất động, không nhúc nhích, cha đã mất hết mọi khái niệm về thời gian.  Mọi sự cha biết là có một phụ nữ đang cách cha một sải tay, trong bóng tối, và đang thở.  Vậy là đủ.

Khi ánh nến trong gian phòng mờ dần đi, cha nhúc nhích, cha nhìn vào bóng tối.

‘Chúa ở cùng con Sarah.’  ‘Và ở cùng cha.’  Giọng của cô tươi sáng hơn, thân thiết hơn.”

Có một ngôn ngữ vượt ngoài ngôn từ.  Sự thinh lặng dành chỗ cho ngôn ngữ đó.  Đôi khi chúng ta cảm thấy bất lực không thể nói được gì có ý nghĩa, chúng ta phải đi trở vào sự vô tri và vô lực, nhưng khi ở lại trong tình trạng này, sự thinh lặng tạo một không gian cần thiết cho một điều thâm sâu hơn xuất hiện.  Nhưng thường, lúc đầu, thinh lặng thật không dễ dàng gì.  Nó bắt đầu “như một sự đáng sợ vụn vặt” và dần lớn lên thành hơi ấm xua tan đi căng thẳng.

Nhiều lần chúng ta không có lời nào đáng để nói.  Chúng ta, ai cũng cảm nghiệm việc đứng bên giường người hấp hối, tham dự một đám tang, đứng trước một tâm hồn tan vỡ, hay rơi vào thế bí khi cố gắng vượt qua tình huống căng thẳng trong quan hệ, lại thấy mình cứng lưỡi, không có từ nào để nói, rồi cuối cùng rơi vào thinh lặng, biết rằng nói bất kỳ điều gì cũng chỉ làm trầm trọng thêm nỗi đau đớn này.  Trong tình thế bất lực đó, bị hoàn cảnh làm câm nín, chúng ta học được một điều: Chúng ta không cần phải nói gì, chỉ cần ở đó.  Sự hiện diện thinh lặng, bất lực của chúng ta là điều đang cần.

Và tôi phải công nhận, đây không phải là điều dễ học đối với tôi, không phải là điều theo khuynh hướng của tôi, và thực sự nhiều khi tôi không làm thế khi đáng ra phải làm.  Cho dù tình thế có ra sao đi nữa, tôi luôn cảm thấy mình phải nói lên một điều gì đó có ích, một điều gì đó giúp giải quyết căng thẳng này.  Nhưng tôi đang học được rằng, hãy để sự bất lực lên tiếng, và cũng học được rằng điều này thật mạnh mẽ biết bao.

Tôi nhớ có lần, khi còn là một linh mục trẻ, đầy kiến thức học được trong chủng viện và háo hức chia sẻ kiến thức đó, tôi ngồi trước một người có tâm hồn đang bị tan vỡ, tôi cố gắng tìm câu trả lời và thấu suốt trong đầu mình, tôi không tìm thấy gì, cuối cùng tôi xin lỗi thú nhận sự bất lực của tôi với người đối diện.  Câu trả lời của cô làm tôi kinh ngạc, và dạy tôi một điều mà tôi không hề hay biết trước đây.  Cô đơn giản nói rằng: Sự bất lực của cha là món quà quý báu nhất cha có thể chia sẻ với con ngay bây giờ.  Con cám ơn cha.  Không một ai kỳ vọng bạn có chiếc đũa thần để chữa lành những phiền muộn của họ.

Đôi khi, thinh lặng lại thành một sự êm ái mềm mại len lỏi và chiếm lấy, lấp đầy mọi khoảng không.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CON ĐƯỜNG SỰ SỐNG

Chắc không ít người ngỡ ngàng khi Chúa Giêsu nói cho chúng ta biết là con đường dẫn tới sự sống đích thực và vĩnh cửu là con đường: “Vào qua cửa hẹp.”  Và ai biết tìm kiếm và chiến đấu để vào qua cửa hẹp thì được sự sống đời đời làm gia nghiệp.  Đó là điều Chúa Giêsu quả quyết cho tất cả chúng ta.  Vấn đề không phải là có bao nhiêu người được cứu độ vì “Nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở”; cũng không phải là chuyện ai được tiền định để hưởng sự sống đời đời “Không phải gọi Lạy Chúa!  Lạy Chúa là được vào Nước Trời đâu!”  Nhưng vấn đề là làm sao tìm thấy “con đường hẹp” và “vào qua cửa hẹp” cách anh hùng và trung tín.

Vấn đề đặt ra: “cửa hẹp là cửa nào?”  Làm sao để có thể tiến bước trong con đường mà cửa hẹp dẫn đưa qua?

Khi nói “Hãy phấn đấu vào qua cửa hẹp”, chắc chắn Chúa Giêsu không nói đến vấn đề rộng hẹp theo nghĩa vật chất, nhưng mang nghĩa tinh thần và thiêng liêng.  Nhìn vào chính cuộc sống và chọn lựa của Chúa Giêsu, ta có thể thấy được một vài đặc tính của con đường hẹp:

Con đường hẹp là con đường của sự từ bỏ: từ bỏ những gì đi ngược lại với phẩm giá và lương tâm của con người dù nó có lợi lộc nhiều đến mấy đi nữa!  Từ bỏ những quyến luyến hay việc tôn thờ lệch lạc như thần tài, bói toán, sắc dục …

Con đường hẹp là con đường của hy sinh: sẵn sàng chịu mất giờ, mất công sức, mất tiền của vì hạnh phúc của anh chị em mình; vui lòng nhường nhịn với những tranh chấp nhỏ nhen vì muốn gây tinh thần hoà thuận với mọi người…

Con đường hẹp là con đường của yêu thương và tha thứ: con đường của tình yêu và tha thứ là con đường đẹp nhất, nhưng cũng là con đường nhiều chông gai nhất.  Bởi lẽ, yêu thương vô vị lợi là cúi mình xuống tận cùng để nâng người khác lên, là sẵn sàng nhận lãnh lấy những chỉ trích, những hiểu lầm của người khác.  Cái chết nhục nhằn của Chúa Giêsu trên Thập giá đã cho chúng ta thấy rõ điều đó.

Con đường hẹp là con đường vâng phục Thánh ý Chúa Cha Thánh ý Chúa trong cuộc đời ta thường rất khác với ý ta muốn.  Chấp nhận thánh ý Chúa trong cuộc đời ta cũng có nghĩa là chấp nhận bỏ mình, trở nên không không để Chúa tự do hành động trong đời ta, và ta sẵn sàng bước theo Chúa trên những con đường mới lạ, gập ghềnh và chẳng mấy ai đi!  Nhưng Chúa sẽ đưa ta vào con đường huyền nhiệm của yêu thương và sự sống.

Tóm lại con đường hẹp là con đường Thập giá mà Đức Giêsu đã đi.  Nhưng xem chừng, con đường hẹp như thế này không mấy hấp dẫn đối với nhiều người hôm nay, nhất là khi cuộc sống của họ đã quá đầy đủ và giàu sang!  Theo lẽ thường, ai cũng thích bước đi trên con đường rộng rãi, phẳng phiu và dễ dãi.  Đó là con đường tự do để hưởng thụ, tự do làm những gì mình thích bất chấp hậu quả.

Trong Tin mừng theo Thánh Matthêu, Chúa Giêsu đã cảnh tỉnh với mọi người rằng: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong mà nhiều người lại đi qua đó” (Mt 7,13).  Chúa để cho chúng ta tự do để chọn lấy cho mình một con đường.  Trước mắt chúng ta luôn có hai con đường mở ra: con đường hẹp với những hy sinh, chịu đựng, nhịn nhục nhau vì yêu và một con đường rộng thênh thang với đầy dẫy sự hưởng thụ và hấp lực trần gian.

Có một câu chuyện rất hay sau đây tôi xin được kể như một kết thúc: “Một thanh niên giàu có than phiền với bạn: “Người ta không thích tôi.  Họ cho rằng tôi ích kỷ và keo kiệt.  Nhưng tôi đã hứa là sau khi tôi qua đời, tôi tặng tất cả những gì tôi có cho một tổ chức từ thiện.”

Bạn anh nói: “Ồ, câu chuyện của bạn làm tôi liên tưởng đến cuộc trò chuyện giữa Bò và Heo.  Heo đến phàn nàn với Bò: ‘Người ta luôn nói tốt về bạn.  Vâng, điều đó là sự thật, vì bạn cho họ sữa.  Nhưng họ nhận nơi tôi nhiều hơn: dăm bông, thịt muối, mỡ và có khi họ nấu cả chân tôi.  Chẳng ai giống tôi.  Nhưng đối với họ, tôi chỉ là một con lợn, một con lợn để làm thịt.  Tại sao thế?’

Bò suy nghĩ một lát và nói: ‘Có lẽ điều đó đúng.  Nhưng bạn chỉ cho thịt khi bạn chết rồi; còn tôi, tôi cho sữa ngay lúc tôi còn sống.”

Sưu tầm

TRÀN ĐẦY TÌNH YÊU VÀ HY VỌNG SAU TAI NẠN

Tôi là một thanh niên Ý 22 tuổi, hiện đang nằm nhà thương.  Không hiểu sao tôi bỗng nảy ra ý nghĩ lấy giấy bút viết cho bạn mấy dòng này.  Hy vọng bạn dành ra ít thời giờ đọc nó.

Tôi tên Marco và để tóc dài.  Tôi là một trong vô số người trẻ mà bạn trông thấy, những người trẻ chạy môtô hết tốc lực như điên trên các đường phố.  Có lẽ đôi lần bạn trông thấy tôi, nhưng không kịp quan sát tôi thật kỹ, bởi lẽ, lúc nào tôi cũng như người luôn vội vã, không có thì giờ dừng lại, hỏi thăm hoặc chuyện trò vui vẻ.

Đèn xanh, đèn đỏ, đèn vàng, đối với tôi chẳng có kílô gì cả.  Tôi chẳng thèm quan tâm sự hiện diện của chúng.  Tôi chỉ biết chạy hết tốc lực, chạy như điên như cuồng.  Một ngày đang chạy môtô vùn vụt như thế, tôi bị một chiếc xe hơi chạy chậm trước mặt cản đường.  Tôi nhất định vượt qua.  Và chuyện gì phải đến đã đến.

Ngày hôm sau, khi hồi tỉnh, tôi thấy mình nằm ở nhà thương, cụt một tay, một chân.  Trong vòng hai hay ba tiếng đồng hồ, tôi tìm cách tự trấn an: đây chỉ là một giấc mơ!  Nhưng vô hiệu.  Thực tế quá phũ phàng.  Tôi nhận chân sự thật rõ ràng: Tôi chỉ còn một tay và một chân.

Nhưng điều kỳ lạ xảy ra.  Lúc đó, đáng lẽ tôi buồn rầu thất vọng mới phải, thì trái lại, tôi cảm thấy niềm an bình khôn tả đang chiếm ngự hồn tôi.  Tôi tự nhủ: bị một tai nạn khủng khiếp như thế mà mình vẫn còn sống sót thì quả là điều thật may mắn.  Sự sống trước đây tôi vẫn khinh thường, giờ đây, nhờ tai nạn tôi mới biết đánh giá cao.  Trước kia, tôi lê lết trong các phòng trà, các hộp đêm, tôi xem ra tận hưởng cuộc đời, nhưng kỳ thật tôi giết chết cuộc đời.  Tôi chỉ là cái xác không hồn.  Tôi sống, nhưng thực tế, tôi đã chết.

Bạn có biết không?  Từ trên giường nơi bệnh viện, tôi ngắm nhìn ánh sáng mặt trời chiếu sáng qua cửa sổ, và trong lòng dâng lên niềm cảm tạ THIÊN CHÚA.  Tôi cám ơn Chúa cho tôi có đôi mắt để ngắm nhìn kỳ quan trong vũ trụ.  Từ 22 năm qua, tôi dùng đôi mắt để nhìn, nhưng tôi không hề biết cám ơn Chúa, cũng không bao giờ ý thức mình may mắn có đôi mắt trong sáng lành lặn.  Giờ đây tôi khám phá ra thế giới tôi đang sống, mà lúc trước, tôi không hề để ý.  Chưa hết, tôi còn khám phá ra một thế giới khác: thế giới của đau khổ.  Tôi hiểu thấm thía thế nào là bị đau và phải nằm bệnh viện.

Tháng ngày trong bệnh viện mang đến cho tôi niềm an bình sâu xa và dạy cho tôi bài học vô cùng quý giá: bài học YÊU THƯƠNG.  Tôi bắt đầu chú ý đến người khác.  Tôi tìm cách giúp đỡ và an ủi người khác, những người còn kém may mắn hơn tôi gấp trăm ngàn lần.

Chẳng hạn hôm nay, tôi vỗ về lau khô nước mắt cho một thiếu niên vừa mất mẹ.  Rồi tôi trìu mến vuốt ve một em bé bị bệnh.  Tôi mỉm cười với cụ già, lẻ loi một mình, không ai thăm viếng chăm sóc.  Tất cả cử chỉ nhỏ nhặt ấy lấp đầy khoảng trống vắng trong lòng tôi.  Tôi thành thật thú nhận với bạn rằng, chưa bao giờ như chính lúc này đây, tôi cảm thấy nhu cầu yêu thương, ca hát và cảm tạ THIÊN CHÚA vì hồng ân sự sống Ngài ban cho tôi.

Nếu thư này đến tay bạn, thì tôi xin phép hỏi bạn một điều: bạn vẫn còn hai tay hai chân và thân mình lành lặn phải không?  Nhưng có thực sự bạn đang sống bình thường không?  Bạn dùng hai chân để đi đến nơi nào?  Bạn dùng hai tay để làm việc gì?  Hạnh phúc cho bạn, nếu bạn biết dùng đôi chân để viếng thăm người cô đơn, kẻ góa bụa, mồ côi!  Hạnh phúc cho bạn, nếu bạn biết dùng đôi tay để lau khô những giọt nước mắt cho những ai đang khóc lóc.  Tôi cũng cầu chúc bạn biết nhìn thế giới bạn đang sống với đôi mắt mới mẻ.

Sau cùng, tôi cầu chúc bạn mọi điều an lành may mắn trong cuộc đời.

Chào tạm biệt.
Ký tên: Marcô.

… “Suy nghĩ lo toan là việc của con người, còn nói câu trả lời là do THIÊN CHÚA.  Con người cho lối sống của mình là trong sáng, nhưng THIÊN CHÚA thấu suốt mọi tâm can.  Hãy ký thác việc bạn làm cho THIÊN CHÚA, dự tính của bạn ắt hẳn thành công…  Nhờ nhân nghĩa tín thành mà tội được xóa bỏ, nhờ kính sợ THIÊN CHÚA mà tránh được sự dữ…  Thà ít của cải mà sống công chính hơn nhiều huê lợi mà thiếu công minh.  Tâm trí con người nghĩ ra đường lối còn THIÊN CHÚA hướng dẫn từng bước đi” (Sách Châm Ngôn 16,1-9).

(Il Seme”, 1-3/1994, trang 94)
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

BI KỊCH THẬT SỰ CỦA TỘI LỖI

Bi kịch thật sự của tội lỗi thường là người bị tội lỗi chống lại, cuối cùng lại trở thành tội nhân, họ giáng xuống người khác điều mà họ từng phải gánh chịu.  Có những điều nghịch lý trong chúng ta, bằng cách nào đó khi chúng ta bị tội lỗi chống lại, chúng ta thường có khuynh hướng tiếp nhận tội lỗi, cùng với sự yếu đuối nơi tội lỗi phát ra, sau đó là cuộc chiến đấu để không hành động cùng một cách thức sai phạm như vậy.  Thắng lợi chủ yếu nhất của tội lỗi là lần đầu tiên bị tội lỗi chống lại, chúng ta thường trở thành những tội nhân.

Chúng ta hiểu điều này, ở dạng sơ đẳng nhất, họ bị ảnh hưởng từ những “nghi thức chào đón” tàn bạo nào đó (chào đón thành viên mới, sinh viên mới) mà họ đã trải qua.  Từ đội bóng trường cấp ba, liên đoàn trường cao đẳng đến một số trường huấn luyện quân sự nào đó, chúng ta thấy nghi thức chào đón tàn bạo được dùng như nghi lễ khởi đầu.  Điều thú vị là những người đã trải qua điều đó thường không thể chờ đến lúc họ giáng xuống người khác điều đó.  Đã chịu đựng những điều tàn bạo, bạo tàn sẽ nảy sinh trong họ.

Có một chân lý trong các trường tâm lý học cho rằng, mọi kẻ ngược đãi đều từng bị lạm dụng trước đó.  Hầu hết đều đúng vậy.  Những kẻ bắt nạt là những người đã bị bắt nạt, người tàn bạo đều đã từng là những nạn nhân, người ngoài cuộc gay gắt xa lánh (trong sự kiêu ngạo, chúng ta gọi họ là “kẻ thua cuộc”) chính là người đã bị loại trừ một cách bất công.  Điều gì tạo ra một người ngoài cuộc?  Việc gì làm nên một kẻ hung tàn?  Thực tế, điều gì tạo thành một kẻ giết người hàng loạt?  Phải có điều gì đó đã xảy ra với trái tim họ, khiến họ trở thành một chiến binh mệt mỏi cầm lấy khẩu súng tấn công, và bắt đầu bắn vào những đứa trẻ không nơi nương tựa?

Bệnh tâm thần thường là một yếu tố, không nghi ngờ gì, nhưng có nhiều yếu tố khác mà phần lớn trong đó, chúng ta không đủ can đảm để thành thật đối diện.  Sự phán xét tức thời của chúng ta về thủ phạm của cuộc bắn phá hàng loạt, hay vụ khủng bố bom cách tự nhiên nhất thường thể hiện theo cách này: “Tôi hi vọng hắn bị thiêu trong địa ngục!”  Điều sai với phản ứng đó, là không hiểu rằng người ấy đã bị thiêu trong những địa ngục cá nhân, và hành động khủng khiếp này là một nỗ lực để thoát khỏi địa ngục hoặc ít nhất là đẩy nhiều người như ông cùng vào địa ngục.  Cái mà phần lớn các thủ phạm của bạo lực muốn làm là phá hủy thiên đường đối với những người khác, kể từ khi họ cảm thấy mình đã bị tước mất thiên đường một cách không công bằng.  Dĩ nhiên không phải lúc nào điều đó cũng đúng, vì bệnh tâm thần và mầu nhiệm tự do của con người cũng được sử dụng, nhưng nó đúng đủ để thách thức chúng ta tìm kiếm sự hiểu biết rõ ràng hơn về lý do tại sao có những người lại mang một trái tim gay gắt, bạo lực trong khi những người khác lại nhã nhặn, yêu thương.  Điều gì nắn đúc nên một trái tim?  Điều gì làm con người ta nên gay gắt hay nhã nhặn?

Tội lỗi và ân sủng hình thành nên tâm can con người, trước hết làm biến dạng và sau đó lại chữa lành.  Tội lỗi, những điều riêng của chúng ta không ít hơn những người khác, gây tổn thương người khác và bảo vệ chính mình khỏi những bệnh hoạn bên trong bởi vì chúng ta đã đổ lên người khác bệnh tật của chúng ta, làm người đó trở nên yếu đuối.  Ân sủng thì ngược lại.  Nó giải phóng người khác khỏi những đau yếu mà họ phải chịu đựng cách bất công, giúp họ từ gay gắt trở nên hiền hòa, xoa dịu tận gốc rễ những tổn thương của họ.

Vì vậy, chúng ta cần ngưng hành động phân cấp mọi người là “người chiến thắng” hay “người thua cuộc” như thể họ phải chịu trách nhiệm một mình về sự thành công hay thất bại của họ.  Không có nhiều Mẹ Têrêxa, tôi nghi ngờ đã bị lạm dụng cách tổn thương khi còn trẻ.  Không có nhiều Thánh Phanxicô đã chịu đựng sự nhạo báng làm suy nhược như những đứa trẻ nhỏ đã bị “ném đá” trên Facebook hay nhạo cười vì sự xuất hiện của chúng.  Sự tàn ác hay ân sủng như Leonard Cohen đưa ra, cả hai đều đến với chúng ta cách không xứng đáng.  Và sau đó chúng in dấu vào tâm lý và thậm chí cả cơ thể chúng ta nữa.  Làm thế nào chúng ta tự mang mình, hình dáng cơ thể chúng ta.  Làm thế nào chúng ta lan tỏa tinh thần, sự tự tin, nỗi xấu hổ, lòng quảng đại hay tính nhỏ nhen, khả năng thể hiện yêu thương hay sự kháng cự tình yêu, bao nhiêu lời chúc phúc, bao nhiêu điều chúc dữ của chúng ta… phụ thuộc rất nhiều vào ơn lành bất xứng hay sự nguyền rủa chúng ta đã lãnh nhận.  Điều đó thể hiện những ân sủng bất xứng hay những bạo tàn mà chúng ta đã trải qua.

Phải thú nhận rằng, điều này vẫn mang màu sắc của mầu nhiệm sự tự do của con người.  Một vài việc Mẹ Têrêxa làm xuất phát từ nền tảng việc lạm dụng, và một số điều Thánh Phanxicô đã chịu đựng tính bạo lực và bị bắt nạt khi còn là một đứa trẻ và chưa trở thành một trong hàng triệu người chữa lành thương tích, đã biến những tội lỗi của chính họ thành ân sủng chữa lành mạnh mẽ.  Đáng tiếc thay, họ là ngoại lệ chứ không phải thường lệ, và sự vĩ đại của họ, hơn bất kỳ điều gì khác, nằm trong những thành tựu đúng đắn đó.

Có nhiều thách thức đối với chúng ta trong vấn đề này: Trước hết, chúng ta không được để cảm xúc lôi kéo chúng ta vào việc xét đoán điều mà chúng ta mong muốn thấy ai đó bị “thiêu trong ngục.”  Thứ hai, chúng ta nên giảm bớt sự tự mãn, tính kiêu căng của mình đối với những người mà chúng ta gọi là “kẻ thua cuộc.”  Tiếp đến, chúng ta cần phải học biết rằng thử thách căn bản của nhân tính và tinh thần là không để người khác vì chúng ta mà phải chịu đựng những gì chúng ta đã trải qua do lỗi lầm và bạo lực mà một vài người nào đó đã gây ra cho chúng ta.  Cuối cùng, hiểu một cách sâu xa về những gì trong cuộc sống không dẫn chúng ta đến việc biết ơn một cách sâu sắc hơn đối với Chúa và với tất cả mọi người, những người xứng đáng cũng như không xứng đáng có tình yêu và khả năng thiên bẩm của chúng ta.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

LỬA TRÊN MẶT ĐẤT

Tin Mừng hôm nay là lời tâm sự của Đức Giêsu, Ngài khẳng định mục đích của đời mình là ném lửa trên mặt đất và Ngài mong muốn phải chi lửa ấy đã bùng lên.  Lửa Đức Giêsu mang lại là lửa nào?  Phải chăng là thứ lửa trời đã thiêu hủy Sôđôma, hay thứ lửa mà Giacôbê và Gioan định sai xuống để thiêu hủy một ngôi làng Samari (Lc 9,55)?  Phải chăng là thứ lửa mà cây không trái (Mt 3,10), hay những cành nho khô héo bị quăng vào (Ga 15, 6)?  Lửa này có phải là lửa kinh khủng của ngày phán xét?

Trong cái nhìn của thánh Luca, lửa mà Đức Giêsu muốn làm bùng lên trên toàn cầu, chắc là thứ lửa của Phép Rửa trong Thánh Thần (Cv 1,5).  Lửa này đã ngự xuống từng người vào lễ Ngũ Tuần (Cv 2,3).  Lễ Ngũ Tuần quả là Phép Rửa trong lửa, nhưng đó mới chỉ là một khai mở ban đầu.  Còn cần vô số những lễ Ngũ Tuần khác trên thế giới.

Trái đất này càng lúc càng nóng lên.  Nhưng lòng con người lại nguội lạnh như hai môn đệ Emmau.  Chúng ta cần cảm thấy chút lửa ấm (Lc 24,32) của người đồng hành xa lạ, nói cho ta về Lời Chúa.  Chúng ta cần cảm thấy ngọn lửa trong tim như Giêrêmia, thúc bách ông phải nói Lời Chúa dạy (x. Gr 20,9).

Đức Giêsu đã bắt đầu nhóm lửa trên địa cầu.  Đừng làm tắt đi ngọn lửa ấy, nhưng hãy để nó lan ra.  Lửa thiêu hủy những cằn cỗi.  Lửa thanh lọc những ô nhơ.  Lửa làm ấm lại cõi lòng băng giá.  Lửa sáng soi trên bước đường kiếm tìm sự thật. Chúng ta cần làm cho mong muốn của Đức Giêsu thành tựu.  Nhưng trước hết chúng ta phải là người mang trong tim ngọn lửa của Thánh Thần tình yêu.

Đức Giêsu chia sẻ cho ta điều đang đè nặng trên Ngài.  Ngài linh cảm về thử thách lớn lao Ngài sắp chịu.  Đúng là Ngài đang lên đường đi gặp nó.  Ngài gọi đó là Phép Rửa mà Ngài phải chịu.  Đức Giêsu can đảm đón nhận Phép Rửa đáng sợ này.  Ngài thấy mình sẽ bị nhận chìm thật sâu trong đó.

Đức Giêsu tiếp tục nói điều phải nói, làm điều phải làm.  Ngài dám trả giá cho sự trung tín của mình.  Nỗi khổ đau và cả cái chết là điều không thể tránh khỏi, nhưng điều đó chẳng làm Ngài chùn bước.

“Các anh có thể chịu Phép Rửa mà Thầy sẽ phải chịu không?”  Ngài đã hỏi các con ông Dêbêđê như thế (Mc 10,38), và Ngài cũng hỏi từng người chúng ta như thế.

Chẳng có Phép Rửa nào khác ngoài Phép Rửa Ngài đã chịu.  Chẳng có con đường nào khác ngoài con đường Ngài đã đi.  Tin Mừng Đức Kitô dành cho người hiền hòa, chứ không nhu nhược.  Chúng ta phải có cùng một mong muốn và khắc khoải như Giêsu.

****************************

Lạy Chúa Giêsu,

Xin cho chúng con ngọn lửa trong Trái Tim Chúa, ngọn lửa của tình yêu Cha và nhân loại.
Xin làm tim con ấm lại mỗi ngày, nhờ được nghe Chúa nói như hai môn đệ về Emmau, và được Chúa nuôi bằng bánh ban sự sống.
Xin soi sáng chúng con bằng ngọn lửa rực rỡ mỗi khi chúng con cầu nguyện hay quyết định.
Xin thanh luyện chúng con bằng ngọn lửa hồng của những thất bại đắng cay trên đường đời.
Ước gì chúng con luôn có lửa nhiệt thành để hết lòng phụng sự Nước Chúa, lửa tình yêu để vượt qua những hận thù đố kỵ.
Lạy Chúa Giêsu, thế giới hôm nay vẫn bị tối tăm, lạnh lẽo đe dọa.
Xin ban cho chúng con những lưỡi lửa để chúng con đi khắp địa cầu loan báo về Tình Yêu và gieo rắc Tình Yêu khắp nơi.  Amen!

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J (Trích từ ‘Manna’)

ĐỂ LÊN TRỜI CẦN BẮT CHƯỚC CÁC NHÂN ĐỨC CỦA MẸ

Sống trên đời ai cũng có một người mẹ.  Người mẹ đó không chỉ sinh ra chúng ta mà còn yêu thương và nuôi dạy chúng ta lớn lên thành người.  Vì vậy, qua mọi thời, con người không ngớt lời ca ngợi công ơn sinh thành dưỡng dục của người mẹ.  Con dân Nước Việt cũng có nhiều câu ca dao tục ngữ, để nói lên tình yêu vô bờ bến của người mẹ:

Đôi vai mẹ một gánh đầy huyền thoại, tình yêu thương hào phóng đến khôn cùng;
Mênh mông bát ngát đại dương, Cũng không sánh được tình thương mẹ hiền.
Nhưng cho dầu có dùng hết ngôn ngữ trần gian để ca tụng tình mẹ, thì cũng không thể nào diễn tả hết:
Ngôn ngữ trần gian khờ dại quá. Đựng sao đầy hai tiếng: Mẹ ơi!

Trong đức tin Công giáo, mỗi người kitô hữu chúng ta có chung một người Mẹ, đó là Đức Maria.  Công ơn của Mẹ Maria đối với mọi người không những không thua kém người mẹ trần thế mà còn gấp ngàn lần.  Mẹ là Mẹ Đức Giêsu, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Hội Thánh và là Mẹ của mỗi người chúng ta.  Nhờ Mẹ, chúng ta có Đức Giêsu là Đấng Cứu Chuộc loài người.  Nhờ Mẹ chúng ta có tất cả trong đức tin: Được làm người Công giáo, được lãnh nhận các Bí tích, được có nhiều cơ hội để lo phần rỗi hầu ngày sau được về Thiên đàng.

Mẹ được Thiên Chúa ban cho 4 đặc ân cao cả: Đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, đặc ân Đồng trinh trọn đời, đặc ân làm Mẹ Thiên Chúa và đặc ân Hồn Lẫn Xác Lên Trời.  Đối với đặc ân Hồn Xác Lên Trời đã được truyền thống Giáo hội và các Kitô hữu tôn kính từ xa xưa, nhưng mãi tới ngày 01 tháng 11 năm 1950, Đức Giáo hoàng Piô XII mới tuyên bố thành tín điều.  Mặc dầu trong Kinh Thánh không có chỗ nào nói rõ về đặc ân này, nhưng nếu chúng ta để ý thì chúng ta vẫn thấy đặc ân Mẹ Lên Trời cả hồn lẫn xác ẩn chứa trong nhiều đoạn Kinh Thánh.  Chẳng hạn, lời thiên thần chào Mẹ “Kính chào Bà đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng bà, bà có phúc lạ hơn mọi người phụ nữ.” Hay lời ca tụng của bà Êlizabét: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc” (Lc 1, 42).  Rồi, lời ca tụng Thiên Chúa của Đức Mẹ trong bài Magnificat: “Từ nay muôn đời sẽ khen rằng tôi có phúc, bởi Đấng toàn năng đã làm cho tôi những điều cao cả.” (x. Lc 1,48-49).  Mặt khác, bình thường chúng ta cũng có thể dễ chấp nhận đặc ân này.  Bởi vì, thân xác chết là do tội lỗi.  Nhưng Đức Maria không hề mắc tội Tổ tông truyền và tội riêng.  Do đó, thân xác Mẹ không bị hủy hoại tiêu tan.

Hơn nữa, các thánh và nhiều bậc thông thái trong Giáo hội cũng đã từng quả quyết về việc Đức Mẹ được đặc ân lên trời cả hồn lẫn xác.  Thánh Đamascênô tiến sĩ quả quyết: “Vì Đức Mẹ đã được sinh con mà vẫn trinh nguyên, thì cần thiết là sau khi qua đời, xác Đức Mẹ cũng phải được bảo tồn nguyên vẹn.”  Cha Ađômêô thì nói rằng: “Thân xác Đức Mẹ không hề bị hư nát vì đã kết hợp với linh hồn và đã được đầy ơn.”

Ngày lễ hôm nay, cùng với Giáo hội, chúng ta tuyên xưng niềm tin hồn xác lên trời của Mẹ.  Đồng thời, chúng ta cùng cảm tạ Thiên Chúa vì đã thưởng công Mẹ hồn xác lên trời.  Mặt khác, đây là dịp nhắc nhở chúng ta rằng, quê hương chúng ta ở trên trời.  Mẹ đã lên trời, đó là niềm hy vọng để mỗi người chúng ta tiếp bước theo sau.  Nhưng để được lên trời với Mẹ chúng ta phải cố gắng sống như Mẹ, đi con đường Mẹ đã đi.  Sống như Mẹ, đi con đường Mẹ đã đi đó chính là noi gương bắt chước các nhân đức của Mẹ:

Thứ nhất, chúng ta bắt chước nhân đức khiêm nhường của Mẹ: Sau lời sứ thần truyền tin, Đức Mẹ đã khiêm tốn thưa với Thiên thần rằng: “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền.” (Lc 1,38).  Từ đó, Mẹ sống tinh thần khiêm nhường thẳm sâu trước mặt Chúa và mọi người: Khi Bà Êlizabét ca ngợi Mẹ, Mẹ đã qui hướng tất cả những gì mình có là do tình thương và sự quan phòng của Thiên Chúa: “Đấng toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn;”(Lc 1,49).  Mẹ sống âm thầm trong vai trò làm vợ và làm mẹ tại mái ấm gia đình Nagiarét đến nỗi không ai biết Mẹ là Mẹ của Thiên Chúa; Khi Đức Giêsu được nổi danh do lời giảng dạy và các phép lạ Ngài làm, Đức Mẹ vẫn sống âm thầm và ẩn danh… Tất cả điều đó cho chúng ta thấy nhân đức khiêm nhường của Mẹ.  Đó là mẫu gương cho tất cả mỗi người chúng ta noi theo.

Thứ hai, chúng ta bắt chước Mẹ sống tin tưởng và phó thác vào Chúa: Sau khi thưa xin vâng, Mẹ trở thành Mẹ của Chúa Giêsu.  Bào thai trong cung lòng của Mẹ ngày càng lớn lên.  Nhưng không ai hiểu về nguyên nhân, kể cả Thánh Giuse.  Bằng chứng là Thánh Giuse định tâm bỏ Mẹ mà trốn đi.  Rồi, người thân và làng xóm láng giềng, chắc chắn không thiếu những lời đàm tiếu, thị phi.  Vậy mà Mẹ vẫn tin tưởng phó thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa.  Đúng như lời bà Thánh Êlizabét ca tụng Mẹ: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,45).  Sự tin tưởng và phó thác vào Chúa của Mẹ là mẫu gương cho tất cả mỗi người chúng ta noi theo.

Thứ ba, chúng ta bắt chước Mẹ để sống hiền lành và nhịn nhục: Từ khi cưu mang Đức Giêsu cho đến khi Con Mẹ chịu chết treo trên thập giá, Đức Mẹ phải đối diện với biết bao đau khổ: Đau khổ khi nghe ông Simêon nói tiên tri về Mẹ và Hài Nhi; Đau khổ khi đưa Hài Nhi trốn sang Ai Cập khỏi tay Hêrôđê lùng bắt; Đau khổ khi lạc mất Con ở Jêsusalem trong ba ngày; Đau khổ khi gặp Đức Giêsu vác Thập giá trên đường đến Núi Sọ; Đau khổ khi thấy Đức Giêsu bị đóng đinh; Đau khổ khi chứng kiến việc tháo xác Đức Giêsu xuống khỏi thập giá; Đau khổ khi phải chứng kiến việc chôn xác Đức Giêsu trong mồ.  Nhưng trong khi chịu đựng những đau khổ đó, Đức Mẹ không hề trách móc kêu la một lời nào.  Sự hiền lành và nhịn nhục của Mẹ là mẫu gương cho tất cả mọi người chúng ta noi theo.

Thứ tư, chúng ta bắt chước Mẹ để hết lòng yêu mến Chúa: Lòng yêu mến Chúa của Mẹ được thể hiện qua những việc tiêu biểu như:  Ba tuổi Mẹ đã dâng mình trong đền thờ; Khi Thiên thần đến truyền tin cũng là lúc Mẹ đang đắm chìm trong lời kinh nguyện; Mẹ thưa “Xin Vâng” để cộng tác với chương trình cứu độ của Thiên Chúa; Hơn ba mươi năm Mẹ nuôi nấng chăm sóc Đức Giêsu; Mẹ chạy đôn đáo tìm cho bằng được khi Đức Giêsu đi lạc trong đền thờ…  Tất cả những thái độ trên đều thể hiện một lòng yêu mến Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự của Mẹ.  Đó là mẫu gương cho tất cả mỗi người chúng ta noi theo.

Thứ năm, chúng ta bắt chước Mẹ để sống yêu thương hết mọi người: Vì yêu thương nhân loại nên Mẹ đã chấp nhận làm Mẹ Thiên Chúa, nhờ đó nhân loại được cứu chuộc.  Vì yêu thương nên Mẹ đã vội vã lên đường thăm bà Êlizabét để chia sẻ niềm vui có Chúa và để giúp đỡ bà chị họ trong những ngày thai nghén sinh nở.  Vì yêu thương nên Mẹ đã cầu bầu cùng Đức Giêsu làm phép lạ biến nước thành rượu ngon để cứu gia chủ khi họ hết rượu.  Vì yêu thương nên khi đã về trời Mẹ vẫn hiện ra đây đó trên thế giới để ủi an nâng đỡ con cái loài người…  Đó là mẫu gương yêu người cho tất cả mỗi người chúng ta noi theo.

Như vậy, Đức Mẹ được lên trời cả hồn lẫn xác không chỉ nhờ những đặc ân Thiên Chúa ban mà còn nhờ những nhân đức mà Mẹ ra sức rèn luyện.  Chúng ta muốn được lên Thiên đàng phải đi con đường Mẹ đã đi, phải sống như Mẹ đã sống, đó là biết noi gương bắt chước các nhân đức của Mẹ.

Lạy Thiên Chúa là nguồn Tình Yêu, Chúa đã cho Mẹ hồn xác lên trời.  Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ, xin giúp chúng con biết sống làm sao để một ngày kia cũng được hưởng hạnh phúc trên Trời với Mẹ.  Amen.

Lm. Anthony Trung Thành

KHÔNG CHẠY THEO ĐÁM ĐÔNG

Trong Phúc âm, từ “đám đông” gần như luôn luôn được sử dụng với ngụ ý chê bai, thường xuyên đến mức lúc nào nhắc tới nó thì bạn liên tưởng đến tính từ “vô tâm.”

Đám đông không có tâm trí.  Họ được châm ngòi và thôi thúc bởi bất kỳ loại năng lượng gì đang phổ biến, đang phóng đại, thói thời thượng, đua đòi theo ý thức hệ, hay trong cơn cuồng loạn.  Trong Phúc âm, loại năng lượng này được gọi là “sự kinh ngạc.”  Rất nhiều trường hợp khi Chúa Giê-su nói hoặc làm điều gì gây ngạc nhiên cho đám đông, thì hầu như bao giờ cũng có câu này theo sau: “và đám đông kinh ngạc.”  Hiếm khi đó là một điều hay.

Tại sao?  Có vấn đề gì sai trái hay nguy hiểm về năng-lượng-đám-đông này?

Năng-lượng-đám-đông nguy hiểm bởi vì, trong hầu hết mọi trường hợp, nó không suy nghĩ.  Nó chỉ đơn thuần là dẫn và truyền đi năng lượng chứ không suy xét và chuyển hóa năng lượng.  Một hình ảnh minh họa thích hợp cho năng-lượng-đám-đông, sự kinh ngạc theo nghĩa trong kinh thánh, là sợi dây điện.  Sợi dây điện đơn thuần là để tải năng lượng đi qua.  Nó không phân biệt loại năng lượng đó tốt lành hay có tính hủy diệt.  Nó là vật dẫn thuần túy.  Bất cứ cái gì đi vào thì chính cái đó đi ra.

Các đám đông có xu hướng hành xử giống nhau.  Họ để năng lượng đi qua mình mà không phân biệt và suy xét năng lượng đó tốt hay xấu.  Ví dụ, chúng ta thường nói bị/được cuốn theo vào một loại năng lượng nào đó.  Đôi khi đó là năng lượng tốt, khi đám đông được cuốn theo một loại năng lượng tích cực, giúp xây dựng cộng đồng.  Ví dụ, trong mấy tuần qua, dân chúng trên thế giới cuốn theo cuộc giải cứu những người thợ mỏ bị mắc kẹt dưới hầm mỏ ở Chi-lê, và năng lượng chung đó đã giúp tạo ra một cộng đồng xuyên qua ranh giới các quốc gia, sắc tộc, tôn giáo và chính trị.  Chúng ta cũng thấy hầu hết các năng-lượng-đám-đông tích cực xung quanh các sự kiện thể thao chẳng hạn như Giải Vô địch Bóng đá Thế giới World Cup, giải Vô địch Bóng chày Thế giới World Series of Baseball, hay nhiều giải quần vợt.

Nhưng hầu hết năng lượng của đám đông mang tính cách tiêu cực, năng lượng của ý thức hệ, của chủ nghĩa nguyên giáo, phân biệt chủng tộc, thói thời thượng, và sự phóng đại.  Năng-lượng-đám-đông là năng lượng thúc đẩy cưỡng bức tập thể.  Đó cũng là năng lượng đằng sau việc Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập giá.  Vấn đề sáng tỏ khi nhìn đám đông đó trước và trong cuộc đóng đinh trên thập giá.  Năm ngày trước khi bị đóng đinh, Chúa Giê-su bước vào thành Jerusalem và đám đông cuồng nhiệt hô vang lời tán tụng, muốn tôn người lên làm vua của họ.  Năm ngày sau, hầu như chẳng có gì thay đổi, cũng cùng đám đông đó la hét: “Đóng đinh hắn vào thập giá!  Đóng đinh hắn vào thập giá!”  Đám đông hay thay đổi vì đám đông không suy nghĩ.  Họ chỉ đơn thuần truyền tải bất cứ năng lượng gì đang bao phủ họ.

Phúc âm kể câu chuyện người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình và bị đám đông nhiệt tình dẫn đến gặp Chúa Giê-su, ở đây chúng ta thấy một minh họa trọn vẹn nhất cho loại năng lượng không suy xét, nguy hiểm của đám đông tương phản với loại năng lượng có suy xét của cá nhân.  Câu chuyện kể đám đông dẫn người phụ nữ tới trước mặt Chúa Giê-su và yêu cầu Ngài phải đồng ý với họ về mặt luân lý rằng phải ném đá bà ta cho đến chết.  Nhưng Giê-su, với lời thách thức nổi tiếng, bảo họ rằng: “Ai thấy mình không có tội thì ném trước.”  Phản ứng của họ là: “Họ bỏ đi, từng người một, đầu tiên là người lớn tuổi nhất.”  Một đám đông vô tâm, bị cuốn theo cơn bốc đồng về luân lý, đã đem người phụ nữ tới trước mặt Chúa Giê-su.  Nhưng họ bỏ đi với tư cách cá nhân, từng người một, không còn bị cuốn đi trong cơn bốc đồng kinh ngạc đó nữa.

Tuy nhiên, cần phân biệt hết sức rõ ràng giữa kinh ngạc với ngưỡng mộ (wonder) và thán phục (awe).  Ngưỡng mộ và thán phục là phản đề của kinh ngạc.  Trong kinh ngạc, năng lượng chảy xuyên qua bạn. Trong ngưỡng mộ và thán phục, năng lượng làm bạn sững sờ, tê liệt, và giữ chặt bạn lại.  Danh hài George Carlin châm biếm một cách sắc sảo về sự khác biệt này: Khi giải thích tại sao ông vốn nghi ngờ phần lớn những người “tái sinh”, Carlin đã châm chọc như sau – rất nhiều người biết đến lời nổi tiếng này: “Tôi không tin những người tái sinh vì họ nói quá nhiều.  Khi tôi sinh ra tôi choáng váng tới mức không thể nào nói được gì trong hai năm liền!  Khi một người có một trải nghiệm tâm linh đủ mạnh mẽ để khiến họ im bặt trong vài năm, thì tôi mới tin họ!”

Có một thách thức trong những lời đó: Hãy ý thức về loại năng lượng phát ra từ đám đông.  Hãy ý thức về các thói thời thượng.  Hãy ý thức về mọi thể loại cường điệu.  Hãy ý thức về những người cổ vũ cho cả phe tự do lẫn phe bảo thủ.  Hãy ý thức về bất cứ đám đông nào muốn ném đá một ai đó cho tới chết nhân danh Chúa.

Hãy nghĩ lại tất cả những lần đóng đinh người khác trên thập giá mà bạn đã tham gia, và hãy nhớ lại, sau đó, khi tỉnh táo và nhìn nhận rõ ràng trong một bầu không khí khác, bạn đã tự hỏi mình: Làm sao mình lại có thể sai lầm đến vậy?  Tàn nhẫn đến vậy?  Ngu dại đến vậy?  Hãy đọc lại những câu chuyện trên báo chí và trên internet về những thanh niên có tâm tốt, đàng hoàng, bị cuốn theo năng lượng đám đông, đã tấn công qua mạng (cyber-bully) một người nào đó đến mức người đó phải tự vẫn.  Hãy suy nghĩ, trong mỗi trường hợp, nhiều người có trách nhiệm cuối cùng đã bỏ đi như thế nào, từng người một, tỉnh táo hơn nhiều và suy xét chín chắn hơn nhiều so với khi họ bị cuốn đi trong năng lượng vô tâm của đám đông.

Sau đó, có lẽ, một cách nhẹ nhàng hơn, bạn hãy bày ra những bức ảnh cũ chụp các kiểu tóc, kiểu áo quần của bạn qua nhiều năm, thì bạn sẽ có tất cả những lời nhắc nhở cần thiết rằng năng lượng của phút giây đó dễ thay đổi và vô tâm đến như thế nào.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

LINH ĐẠO LỮ HÀNH

Cuộc đời quá vắn vỏi.  Phải chăng phải lo tận hưởng lạc thú thế trần?

Những người đang trên đường

Đức Giêsu nói: “Đừng tích trữ những gì có thể mục nát hay trộm cướp có thể lấy đi được, nhưng hãy tích trữ những gì không hư nát và không thể bị đánh cắp.”  Cái mình cho là quý, mình luôn bận tâm và hướng lòng về đó.  Cái mình cho là quý, có thực sự là những điều trường tồn?  Tiêu chuẩn nào giúp mình nhận ra cái có giá trị thực sự?  Cái chết giúp con người nhận ra, mình chỉ là lữ khách.

Cái chết đến với mình lúc nào mình đâu có biết!  Một tai nạn giao thông có thể xảy ra ai lường trước được.  Mình đâu có thể mang tài sản vật chất đi với mình được.  Cuộc đời này qua mau.  Ai hành động như thể sống vĩnh viễn trên cõi đời này, là người không khôn ngoan.  Giờ chết đến, tôi sẽ ra đi tay trắng, và chỉ mang theo chính mình, ngay cả thân xác này cũng không thể mang theo được.

Đức Giêsu đã dùng dụ ngôn người đầy tớ chờ chủ về để dạy thái độ phải có khi sống trên dương thế này.  “Sẵn sàng.”  Phải tỉnh thức vì không biết giờ nào chủ về đến.  Cái chết là chung cho tất cả mọi người, cho cả các tông đồ và dân chúng.  Cách đối xử của Thiên Chúa với mọi người đều như nhau, dù ở bất cứ địa vị hay bậc sống nào.  Sự trung thành không hệ tại ở chức vụ nhưng qua cuộc sống, nơi việc làm.

Đức tin giúp sống linh đạo lữ hành

Chính đức tin giúp mỗi người sống linh đạo lữ hành trong đời trần thế này.  Vì tin vào Lời Chúa, mà Noê đã đóng tàu khi tất cả dường như rất bình yên.  Vì tin mà Abraham đã bỏ quê cha làng xóm để đi đến phương trời xa, đi theo lời mời gọi vừa chắc chắn vừa rất xa vời.  Ngay cả khi chết Abraham vẫn còn phải tin rằng mình sẽ có con cháu đông như sao trên trời như cát dưới biển, vẫn phải tin rằng Thiên Chúa sẽ ban cho mình và con cháu đất để sở hữu và canh tác (vì khi vợ Abraham là Sara chết, Abraham phải mua đất chôn vợ).  Vì tin mà bao nhiêu người đã dám hy sinh mạng sống để trung thành với Thiên Chúa.

Nếu không có đức tin, Noê, Abraham, và các anh hùng tử đạo đã không hành xử như vậy.  Nếu không có đức tin, các tín hữu đã chẳng sống nghèo và giúp đỡ những người khốn khổ.  Nếu không có đức tin, chắc người ta đã sống phóng đãng và bất chấp tất cả, cốt sao để được lợi trước mắt.

Đức tin giúp con người hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại, chấp nhận những điều không vừa ý một cách can đảm và anh hùng, cũng như giúp con người sống hạnh phúc trong những điều kiện mà người ta tưởng rằng không có thể.

Linh đạo lữ hành

Khi coi cuộc sống trần gian như cuộc lữ hành, không có nghĩa, coi thường cuộc sống trần thế, nhưng muốn nói, cuộc sống trần thế là thời gian dẫn ta tới sự sống vĩnh cửu.

Cuộc sống trần thế này rất quan trọng, nếu ta không tận dụng hoặc không sống nó một cách trọn vẹn, ta không thể dễ dàng tới đích ở cuối đường đời.  Cuộc đời chóng qua, nhưng rất quan trọng.  Cũng tương tự dùng máy bay để đi tới một nơi nào đó, tuy dù chỉ bay trong mấy giờ nhưng rất quan trọng, nếu không dùng thời giờ đó một cách đúng đắn nghiêm chỉnh, người ta không đi được tới nơi người ta muốn.  Đời tạm dẫn ta về quê trời, nếu không sống trọn vẹn đời tạm, e rằng khó đạt đến quê trời.

Đức tin giúp người ta nhận biết đúng thực tại, và Thiên Chúa luôn luôn ban ơn giúp người ta sống với Ngài ngay trong cuộc sống đời tạm này.  Thiên Chúa làm tất cả cho ta.  Hãy tin tưởng và vui sống, ngay cả trong “biển đời” này.

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

LÀM VIỆC QUÁ MỨC, MỚI ĐẦU LÀ TỐT LÀNH, KẾT CUỘC LÀ CHẠY TRỐN 

Có những mối nguy hại khi làm việc quá mức, dù việc làm hay động cơ của nó có cao đẹp thế nào đi chăng nữa.  Các hướng dẫn thiêng liêng, bắt đầu từ Chúa Giêsu, đã luôn luôn cảnh báo về những nguy hại của thói tham công tiếc việc.  Biết bao nhiêu bà vợ, trẻ con trong gia đình, biết bao nhiêu bạn bè, biết bao nhiêu người trong cộng đồng mong muốn người họ yêu thương chú tâm đến họ nhiều hơn thay vì cứ mải vùi đầu vào công việc.

Nhưng thật khó để tránh cho mình không rơi vào cảnh bận bịu quá mức và lao tâm khổ trí vì công việc, đặc biệt trong những năm tháng chúng ta dồi dào sinh lực, có những trách nhiệm nuôi nấng con cái, trả các khoản vay, điều hành giáo hội cũng như các tổ chức, đang ngày càng đè nặng hơn trên đôi vai chúng ta.  Nếu bạn là một người nhạy cảm, bạn sẽ đấu tranh không ngừng để những áp lực này không đè nặng trên bạn.  Về điểm này, Henry Nouwen mô tả đời sống của chúng ta như cái vali bị nhồi nhét quá nhiều.  Luôn luôn có việc phải làm, luôn luôn phải gọi điện thoại, phải gặp một ai đó, phải trả biên lai, phải kiểm tra một cái gì đó trên internet, phải đi khóa vòi nước bị hở, phải tuân theo thêm một đòi hỏi từ giáo hội hay xã hội, phải đi mua thêm thứ đồ gì đó.  Các đòi hỏi của đời sống cứ triền miên không dứt và chúng ta luôn nhận thấy vẫn còn có môt trách nhiệm gì đó mà chúng ta cần phải thực hiện.  Một ngày của chúng ta quá ngắn để làm cho hết những việc đó.

Và rồi chúng ta lao vào công việc.  Khởi đầu là một ý muốn tốt đẹp và vô hại, nhưng rồi nó biến qua thành một thứ khác.  Đầu tiên, chúng ta làm hết mình vì những đòi hỏi của cuộc sống buộc chúng ta phải làm như vậy, nhưng dần dần chúng ta gắn chặt với chúng, phục vụ tha nhân ngày càng ít mà thỏa mãn cá nhân ngày càng nhiều.

Đầu tiên, chúng ta thường mù quáng về điểm này, công việc sớm trở thành như một lối thoát.  Chúng ta luôn bận tâm bận trí, chúng ta có đủ lời để bào chữa và lý luận cố hữu sao cho khỏi đối diện với các mối quan hệ trong gia đình, giáo hội hay với Thiên Chúa.  Áp lực liên tục của công việc và trách nhiệm là gánh nặng nhưng lại là tấm chắn tối hậu của chúng ta.  Chúng ta không thấy được hương hoa cuộc sống nhưng cũng không đối diện với những điều sâu sắc nơi phần chìm của bề mặt cuộc sống.  Chúng ta có thể tránh né những vấn đề chưa giải quyết trong các mối quan hệ và trong tâm hệ mình.  Chúng ta có một lời bào chữa hoàn hảo!  Đó là chúng ta quá bận rộn.

Thường thì xã hội lại cổ võ cho xu hướng thoát ly này của chúng ta.  Với những thói nghiện khác, hẳn chúng ta đã phải đi gặp bác sĩ rồi, nhưng với thói nghiện công việc, thường thường chúng ta lại được ngưỡng mộ nếu nghiện nặng và được tuyên dương vì chính sự ích kỷ này: Nếu tôi ăn uống quá độ, nghiện chất kích thích, tôi bị người ta khó chịu và thương hại, nhưng nếu tôi làm việc quá độ đến đỗi thờ ơ với những cấp bách lớn lao và quan trọng của cuộc sống, người ta lại nói với tôi: “Hẳn bạn thật tuyệt vời!  Bạn tận tụy quá mức!”  Hội chứng nghiện công việc là một thói nghiện mà nhờ nó chúng ta được tuyên dương.

Ngoài việc nó cho chúng ta một lối không lành mạnh để thoát khỏi những vấn đề quan trọng mà đáng ra chúng ta phải giải quyết, thói làm việc quá mức còn gây nên một mối nguy lớn khác.  Chúng ta càng vùi đầu vào công việc thì càng dấn sâu vào mối nguy xem ý nghĩa đời sống dựa trên công việc hơn là dựa trên các quan hệ của mình.  Khi càng chìm đắm trong công việc, thì các mối quan hệ của chúng ta càng sứt mẻ nhiều hơn, và rồi ý nghĩa đời sống ngày càng phụ thuộc vào công việc hơn là quan hệ.  Vô số cây bút thiêng liêng đã nêu lên các mối nguy trong thói tham công tiếc việc, một điểm không nhỏ trong số đó là càng ngày chúng ta càng khó tìm ra ý nghĩa đời sống ở bất cứ nơi nào khác ngoài công việc.  Những thói quen cũ rất khó bị phá vỡ.  Nếu chúng ta đã dành nhiều năm để xây dựng bản sắc của mình qua cách làm việc cật lực và được yêu mến do tính cách nhà nghề hay lòng tận tụy của mình, thì thật khó để chúng ta thay đổi và tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời từ bất cứ điều gì khác.

Các ngòi bút thiêng liêng kinh điển đều nhất loạt lưu ý về mối nguy trong sự làm việc quá mức và thói tham công tiếc việc.  Thật vậy, Chúa Giêsu đã lưu ý Martha khi cô mải mê với những việc cần làm để dọn bữa ăn rồi phàn nàn Maria không chịu giúp cô.  Câu trả lời của Chúa thật bất ngờ, thay vì trách Maria lười biếng và khen Martha tận tụy, Chúa Giêsu lại nói Maria đã chọn phần tốt hơn, và rồi trong lúc đó và trong bối cảnh đó, tính lười biếng của Maria lại thắng sự bận rộn của Martha.  Tại sao vậy?  Bởi đôi khi trong đời sống có những điều quan trọng hơn cả công việc, cho dù đó là công việc cao quý và cần thiết để thể hiện lòng hiếu khách và để chuẩn bị bữa ăn cho mọi người.

Thói lười biếng hẳn là do ma quỷ, nhưng bận rộn không phải lúc nào cũng là một đức tính tốt.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CHẤP NHẬN ƠN RIÊNG ĐỂ PHỤNG SỰ THIÊN CHÚA

Trưởng thành tâm linh là nhận biết sức mạnh và sự yếu đuối của mình.  Chúng ta bắt đầu nhận thấy các lĩnh vực cho phép chúng ta yêu mến và phụng sự Thiên Chúa – và tha nhân, đồng thời chúng ta cũng nhận thấy nơi nào chúng ta có thể làm việc, và chấp nhận rằng chúng ta có thể thiếu các tặng phẩm nào đó mà người khác lại có.  Chúng ta là những cá nhân, mặc dù chúng ta được liên kết với nhau trong Nhiệm Thể Đức Kitô.

Một sai lầm chúng ta thường mắc phải là so sánh mình với người khác.  Chúng ta có thể tập trung quá nhiều vào các tặng phẩm mà người khác có chứ không chấp nhận chính mình.  Người trưởng thành tâm linh là người nhận thấy mình thiếu khả năng hoặc tài năng về lĩnh vực nào đó.  Điều này không có nghĩa là chúng ta yếu kém, mà vì Thiên Chúa có con đường khác dành cho chúng ta khác với con đường của người khác.

Chúng ta không được yêu cầu bước đi trên con đường của người khác, mà được yêu cầu bước đi trên con đường mà Thiên Chúa đã đặt ra trước mặt chúng ta.  Ngài tạo nên mỗi chúng ta và Ngài biết rõ chúng ta có thể hoàn thiện theo cách nào.  Nếu chúng ta cầu xin Ngài và cứ để Ngài hành động, Ngài sẽ làm cho chúng ta nên thánh.  Điều đó có nghĩa là tự so sánh mình với người khác là ghen tỵ, mà đố kỵ với người khác là lãng phí thời gian.  Thiên Chúa muốn mỗi chúng ta sử dụng các tặng phẩm Ngài đã ban cho chúng ta để làm theo mục đích của Ngài chứ không theo mục đích riêng của chúng ta.  Đấng đáng kính Hồng Y Fulton Sheen giải thích: “Thiên Chúa trao ban các tặng phẩm khác nhau cho những con người khác nhau.  Không có nền tảng để cảm thấy thua kém người có tặng phẩm khác.  Khi nhận biết rằng chúng ta sẽ bị xét xử theo tặng phẩm mình đã nhận, chứ không phải là tặng phẩm mình không nhận, người ta sẽ hoàn toàn thoát khỏi cảm giác thua kém.”

Nhận biết Thiên Chúa mong muốn chúng ta là người mà chúng ta là, hoặc không đi cùng con đường như người khác thì chúng ta sẽ cảm thấy tự do.  Khi chúng ta không tự so sánh mình với người khác hoặc mong muốn những điều của chính mình, chúng ta có thể sống theo ý Chúa và theo kế hoạch Ngài đã dành cho cuộc đời của chúng ta.  Ngài muốn mỗi chúng ta nên thánh theo ý Ngài muốn với những gì là của chúng ta – mối quan tâm, năng lực, sức mạnh, sự yếu đuối, và sai lầm của riêng mình.  Dĩ nhiên Ngài muốn chúng ta tiếp tục hành động để vượt qua sự yếu đuối và sai lầm của mình.

Sự tự do này cũng có thể giúp chúng ta vượt qua thói ghen tỵ, đố kỵ, và ngồi lê đôi mách, hết chuyện nhà ra chuyện người – ngày nay gọi là dạng “bà tám.”  Đó là mối nguy hiểm, đặc biệt đó là thói xấu dễ dàng dẫn tới việc vu khống.  Tán gẫu nhiều sẽ dẫn tới ghen ghét hoặc thù hận.  Trước tiên chúng ta nhìn vào tặng phẩm của người khác – dù về thể lý, trí tuệ, tinh thần…  Chúng ta thường hủy bỏ bất cứ điều tốt nào mà chúng ta cảm thấy không an toàn vì mình thiếu điều tốt đó.  Điều này thường xảy ra trong môi trường công việc, nhưng cũng thường xảy ra trong các giáo xứ hoặc cộng đoàn.

Chúng ta biết rằng người nào đó làm điều gì đó mà chúng ta không thể làm được và chúng ta cảm thấy bị đe dọa, rồi chúng ta hành động trong nỗi lo sợ đó.  Chính nỗi lo sợ đó khiến chúng ta tin rằng chúng ta thua kém hoặc không được quý mến như người có khả năng kia.  Kẻ thù muốn dẫn chúng ta tới sự bất an và không tin tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta.  Lúc đó, chúng ta quên rằng mặc dù chúng ta không xứng đáng với tình yêu của Thiên Chúa, Ngài vẫn đại lượng trao ban cho chúng ta tình yêu thương vô hạn của Ngài.  Không có sự so sánh giữa bạn và tôi, bởi vì tình yêu Thiên Chúa dành cho mỗi chúng ta là tình yêu sâu thẳm nhất và trọn vẹn nhất, chúng ta không được phép lo sợ về sự yếu đuối của chúng ta, bởi vì đó là điều Thiên Chúa đã biết.  Tặng phẩm của chúng ta khác nhau.

Một dạng ngồi lê đôi mách khác do lòng thù hận.  Có thể ai đó làm điều gì đó mà chúng ta không thích hoặc tính cách người đó không hợp với mình, thế nên chúng ta “nói nhỏ” với người khác để làm cho chúng ta cảm thấy thoải mái hoặc làm hại người khác.  Chính những lúc đó Thiên Chúa yêu cầu chúng ta yêu thương cả những người chúng ta cảm thấy khó ưa hoặc những người phản bội chúng ta.  Là Kitô hữu và có nền tảng yêu thương, chúng ta được mời gọi yêu thương cả kẻ thù.  Nghĩa là chúng ta phải chấm dứt bàn ra tán vào, tránh xa những người lắm mồm nhiều chuyện.  Đó là do tức giận hoặc thù hận, nguyên nhân thường là do tính đố kỵ.

Để sống vì Nhiệm Thể Đức Kitô trong thế giới ngày nay, chúng ta phải sống theo kế hoạch của Thiên Chúa dành cho mỗi chúng ta để chúng ta có thể cùng phục vụ với các anh chị em khác trong Đức Kitô.  Nghĩa là chúng ta phải loại bỏ sự bất an và nỗi lo sợ về tình trạng mình không đủ tốt để chấp nhận và nghỉ ngơi trong tình yêu mà Thiên Chúa dành cho mỗi chúng ta.  Các con đường của chúng ta đều khác nhau.  Các tặng phẩm Thiên Chúa ban cho mỗi chúng ta cũng khác nhau.  Hãy nhìn vào cách khác nhau mà các thánh đi theo con đường riêng, sứ vụ riêng, tặng phẩm riêng, và tính khí riêng.  Thánh Teresa Calcutta có sợ Thánh Thomas Aquinô không?  Không.  Các ngài sống theo con đường nên thánh riêng mà Thiên Chúa đã mời gọi, các ngài phục vụ Thiên Chúa và Giáo Hội cũng hoàn toàn theo tính cách khác, kinh nghiệm khác, trí tuệ khác, và các nhiệm vụ rất khó.  Chúng ta không được mời gọi giống như các ngài, nhưng chúng ta được mời gọi giao lại các tặng phẩm của mình cho Thiên Chúa theo mục đích của Ngài.

Một trong những điều bất công mà chúng ta làm cho nhau là muốn con đường của người khác cũng như con đường của mình.  Chúng ta sai lầm khi tin rằng cách của chúng ta là cách duy nhất đúng đắn bởi vì kinh nghiệm của mình cũng phải là cách đối với người khác.  Thiên Chúa không có nhiệm vụ chung cho tất cả chúng ta, thế nên nếu chúng ta tin rằng cách của mình là cách duy nhất, chúng ta sẽ đối lập với Thiên Chúa.  Chúng ta phải nhớ rằng mỗi chi thể trong Nhiệm Thể đều phải hướng về cùng một mục đích, nhưng không cùng một con đường.  Có vô số con đường tới Giêrusalem, nhưng đích đến luôn luôn giống nhau.  Điều này cũng đúng đối với Thời Cánh Chung của chúng ta.

Có sự tự do lớn lao khi nhận biết sức mạnh và sự yếu đuối của mình.  Điều đó cho phép chúng ta ấp ủ con đường riêng mà Thiên Chúa kêu gọi mỗi chúng ta bước đi.  Điều đó dạy chúng ta cẩn thận và giúp chúng ta biết khi nào nói “có” và khi nào nói “không”.  Có nhiều điều mà người khác có thể làm tốt hơn chúng ta bởi vì họ có tặng phẩm đặc biệt mà Thiên Chúa ban cho họ, giống như chúng ta đặt các tặng phẩm dưới chân Chúa để phục vụ Giáo Hội và thế giới.  Khi chúng ta đón nhận các tặng phẩm đó, chúng ta sẽ giảm bớt xét đoán người khác vì con đường của họ khác với con đường của chúng ta và chúng ta cũng sẽ thấy dễ dàng tránh né những cuộc tán gẫu.   Tất cả chúng ta đều phải tìm kiếm đường lối của Thiên Chúa dành cho chúng ta, chứ không phải con đường của chính chúng ta.  Yêu thương nhau như anh chị em trong Đức Kitô là nhận biết các tặng phẩm riêng ở mỗi người.  Khi làm vậy, chúng ta sẽ có thể kết hợp các tặng phẩm của chúng ta để chúng ta có thể đưa thế giới sa ngã này về với Đức Kitô.

Constance T. HullTrầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)