CÂU CHUYỆN CỦA THÁNH VALENTINE

Có thể bạn đã từng nghe câu chuyện này, nhưng chắc rằng không phải tất cả mọi người đều biết hết về câu chuyện của thánh Valentine, nếu các bạn muốn nghe câu chuyện này thì hãy để trí tưởng tượng của bạn bay bổng theo câu chuyện do chính thánh Valentine kể cho các bạn về điều gì đã xảy ra với ngài và tại sao trên khắp thế giới người ta lại kỷ niệm ngày lễ của Tình Yêu.

Tôi xin được tự giới thiệu về mình.  Tên của tôi là Valentine, là Giám mục sống ở Rome vào thế kỷ thứ 3.  Vào thời đó, Rome nằm dưới sự cai trị của Hoàng đế Claudius.  Tôi không thích Hoàng đế Claudius và mọi người dân thành Rome cũng không thích ông hoàng Claudius.

Vào thời đó, Hoàng đế Claudius muốn xây dựng một đội quân hùng mạnh.  Ông muốn tất cả đàn ông phải tham gia vào đội quân.  Nhưng đa số người dân không muốn chiến tranh, họ không muốn phải chém giết lẫn nhau và phải rời xa gia đình mình.  Và như các bạn có thể đoán, rất nhiều người đã không nhập ngũ.  Điều này làm Hoàng đế Claudius rất giận dữ.  Ông ta cho rằng nếu những người đàn ông không lấy vợ thì họ sẽ không phản đối việc tham gia vào quân đội.

Thế là, ông Hoàng Claudius quyết định không cho phép bất cứ một người đàn ông nào được kết hôn.  Những thanh niên trai tráng rất tức giận với cái luật mới này của ông ta.  Tôi cũng không ủng hộ luật này.  Bởi vì, các bạn có biết không, tôi là một linh mục và công việc yêu thích nhất của tôi là se duyên cho các cặp tình nhân đấy.  Vậy là, sau khi Hoàng đế Claudius ban hành điều luật của ông ta thì tôi vẫn tiếp tục đứng ra tổ chức các đám cưới và tất nhiên là một cách bí mật.  Mà điều này lại dường như là rất thú vị. Các bạn hãy tưởng tượng xem trong một không gian nhỏ với một cây nến chỉ có cô dâu, chú rể và tôi.  Tôi thì thầm đọc những lời nguyện cho đám cưới trong những tiếng bước chân rình rập của những tên lính.

Và một đêm khi đang làm đám cưới cho một đôi tình nhân tôi nghe thấy tiếng bước chân.  Thật là kinh hoàng.  Nhờ ơn Chúa, đôi tình nhân đã kịp trốn thoát, nhưng tôi đã bị bắt (có lẽ tại bước chân của tôi đã không còn nhanh nhẹn như trước đây).  Tôi bị đưa ra toà và bị kết án tử hình.  Những ngày còn lại trong tù chờ án tử hình tôi cố gắng sống một cách vui vẻ.  Các bạn có biết điều gì xảy ra với tôi không? Mọi việc thật là tuyệt vời.  Rất nhiều thanh niên đã đến nhà tù để thăm tôi.  Họ ném hoa và những lá thư qua cửa sổ cho tôi.  Họ muốn tôi biết rằng họ sẽ luôn luôn tin vào tình yêu.  Một cô gái em của người cai tù được anh trai cho phép cô vào nhà tù thăm tôi.  Chúng tôi đã ngồi và nói chuyện với nhau hàng giờ liền.  Cô gái đã giúp tôi luôn giữ vững tinh thần.  Vào ngày tôi phải lên đoạn đầu đài, tôi đã chuyển một lá thư cảm ơn đến cô gái vì tình bạn và lòng trung thành mà cô gái đã dành cho tôi, và tôi ký dưới bức thư dòng chữ: “Tình yêu của Valentine dành cho con.”  Tôi tin rằng lời nhắn ấy đã dẫn đến phong tục trao đổi những bức thông điệp tình yêu vào ngày Valentine.

Bức thông điệp của tôi được viết vào ngày 14 tháng 2 năm 269 sau Công nguyên.  Giờ đây, hàng năm vào ngày này mọi người lại tưởng nhớ tôi, nhưng tôi cho rằng điều quan trọng nhất là mọi người luôn nghĩ về tình yêu và tình bạn vào ngày này.  Và mọi người nghĩ đến Hoàng đế Claudius, người đã cố sức ngăn cản tình yêu nhưng tình yêu đã luôn luôn chiến thắng.  Khoảng hai thế kỷ sau đó, vào năm 496 sau Công nguyên, Giáo Hoàng Gelaius đã quyết định lấy ngày 14-2 là ngày lễ cho các cặp tình nhân gặp gỡ và tìm bạn trăm năm và ông đã chọn một Thánh để đại diện cho những người yêu nhau.  Giám mục Valentine đã được chọn là Thánh quan thầy của Lễ hội này.  Bây giờ bạn đã biết được câu chuyện về ngày Thánh Valentine.  Và nếu bạn không biết làm gì vào ngày này, thì có lẽ bạn có thể kể câu chuyện về Thánh Valentine cho bạn bè của bạn, gia đình hoặc một người nào đó bạn muốn gây ấn tượng.

Hải Âu

TỰ DO VÀ TRÁCH NHIỆM

Tự do lựa chọn một quyết định và gánh trách nhiệm về quyết định của mình, đó là đặc tính căn bản làm cho con người khác biệt với mọi loài tạo vật khác.  Thiên Chúa sáng tạo con người không giống như một chiếc máy cho ra lò hàng loạt sản phẩm cùng một mẫu mã như nhau.  Ngài tạo dựng con người mỗi cá nhân đều khác biệt và cho họ có tự do để lựa chọn giữa điều tốt và điều xấu. Tác giả sách Huấn Ca đã dùng một hình ảnh đơn sơ dễ hiểu: Đức Chúa đặt trước mặt con người lửa và nước, nếu muốn gì thì giơ tay mà lấy; Đức Chúa đặt trước mặt họ cửa sinh và cửa tử…  Người không truyền cho ai ăn ở thất đức, cũng không cho phép ai phạm tội (Bài đọc I).

Nếu Thiên Chúa ban cho con người có tự do, là để họ dùng tự do ấy một cách đúng mức và để họ có trách nhiệm về những việc mình làm.  Vì con người hay lạm dụng tự do, nên Chúa đã thiết lập lề luật làm nền tảng để lượng giá một hành động của họ.  Lề luật của Thiên Chúa là mẫu mực cho mọi lề luật của loài người, nên luật đó có giá trị ưu tiên.  Mọi dân luật đều phải dựa trên luật của Thiên Chúa đã khắc ghi vào lương tâm con người.

Chúa Giêsu đã quả quyết, luật căn bản nhất mà con người phải tuân giữ, đó là luật yêu thương.  Bài Tin Mừng hôm nay chứa đựng giáo huấn rất phong phú về nội dung này.  Không thể viện cớ một luật lệ hay một tập quán thế tục để hành động ngược với giới luật yêu thương.  Khởi đi từ luật yêu thương này, người ta mới có thể xây dựng tình bằng hữu, đạo gia đình và tình nghĩa phu phụ.

Chúa Giêsu đến để kiện toàn lề luật của Cựu Ước.  Hơn thế nữa, Người mặc cho lề luật một giá trị cao siêu hơn.  Nếu luật Cựu Ước quy định kẻ sát nhân phải ra tòa, thì luật Tân Ước, những ai giận ghét anh chị em mình hoặc chửi mắng rủa xả họ với những lời thóa mạ, thì đã đáng hình phạt hỏa ngục trầm luân.  Những quy định của luật Tân Ước nhằm bảo vệ và cổ võ thực thi bác ái giữa những người đồng loại.  Trong Giáo huấn của Chúa Giêsu, luật yêu thương không chỉ dừng lại ở những cấm đoán, nhưng còn tiến xa hơn bằng những lời khuyên làm việc tốt cho tha nhân, đến mức yêu tha nhân như chính mình.  Để giáo huấn của mình có độ xác tín, Đức Giêsu đã làm gương cho chúng ta noi theo qua việc rửa chân cho các môn đệ và nhất là qua cái chết trên thập giá.

Để có thể hành động đúng với ý Chúa và để có thể thực thi được đức bác ái hoàn hảo, một điều kiện căn bản là mỗi chúng ta phải khiêm tốn nhìn nhận vị trí và khả năng của mình trong cuộc sống hiện tại.  Nghịch lại đức khiêm tốn là kiêu ngạo.  Người kiêu ngạo thường lấy mình làm tiêu chuẩn để xét đoán người khác.  Họ coi mình là trung tâm vũ trụ, nên hành động và quyết định mà không nghĩ đến quyền lợi và phẩm giá của anh chị em mình.  Kiêu ngạo bao nhiêu cũng chẳng đủ; khiêm tốn bao nhiêu cũng chẳng thừa.  Lối sống khiêm hạ là phương pháp Đức Giêsu đã dùng để cứu độ trần gian.  Đối với mỗi tín hữu chúng ta, khi khiêm nhường là chúng ta nên giống Đức Giêsu và như thế chúng ta có thể sống đức yêu thương như Người truyền dạy.

Sống như một người có trách nhiệm cần phải có ơn Chúa, nhất là ơn khôn ngoan.  Thánh Phaolô mời gọi chúng ta hãy hành xử theo sự khôn ngoan đích thực, chứ không phải lẽ khôn ngoan theo quan niệm thế gian.  Lẽ khôn ngoan này là chính Đức Giêsu, Đấng đã đến để chỉ cho chúng ta con đường về quê trời.

“Hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’; thêm thắt điều gì là do ác quỷ.”  Một điều xem ra quá đơn giản và dễ dàng mà chúng ta không phải lúc nào cũng áp dụng được.  Cuộc sống này vẫn còn những tranh cãi bất hòa và căng thẳng, vì chúng ta thường có khuynh hướng nói ngược lại: ‘có’ lại nói ‘không’ và ‘không’ lại nói ‘có’.

Con người không phải là một ốc đảo trong đại dương mênh mông là cuộc đời này.  Mỗi cá nhân là một người có tự do và có trách nhiệm.  Nên thánh chính là biết sống quân bình giữa tự do và trách nhiệm trong mối tương quan với Chúa và với anh chị em.  Xin Chúa cho chúng ta biết sử dụng tự do để lo phần rỗi bản thân và góp phần đem lại hạnh phúc cho đồng loại.

ĐGM Giuse Vũ Văn Thiên

NGOẠI ÐẠO

Lạy Chúa, con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ngự trên cao.

Là người ngoại đạo sao lại tin có Chúa ngự trên cao?  Ðã tin Chúa ngự trên cao là có đạo rồi.  Nếu tin Chúa ngự trên cao mà vẫn ngoại đạo chỉ có nghĩa là có đạo mà không vào đạo thôi.

Nhiều người có đạo nhưng không vào đạo.  Cũng như nhiều người vào đạo nhưng không có đạo.  Thơ Nguyên Sa bảo rằng nắng Saigon tôi đi mà chợt mát vì em mặc áo lụa Hà Ðông.  Cũng nắng Saigon tôi đi, nhưng sẽ chẳng chợt mát khi lòng tôi không có áo-lụa-em bay.  Áo lụa cũng phơi bên sân hiên nhà ai.  Dưới ngõ trúc cũng là áo lụa ai đi về.  Cũng là áo lụa đó, nhưng vẫn là khác.  Phải là áo-lụa-em bay lòng anh mới chợt mát.

Như thế, xem ra, cái gần gũi không gian có là gần mà vẫn là xa.  Cái lòng mình chợt mát phải là cái gì thiêng liêng hơn, nó ở trong hồn ta chứ không ở ngoài ta.  Nếu nó ở ngoài ta thì bất cứ áo lụa nào lòng tôi cũng chợt mát, bất cứ nắng nào cũng được chứ không phải nắng Saigon.  Cái nắng Saigon, con đường Duy Tân lá đổ, hàng me già công viên, tự nó chỉ là me, là nắng, là lá đổ mà thôi cho những ai đi giữa Saigon mà không có Saigon với áo-lụa-em trong hồn mình.  Còn ai có áo-lụa-em thì nắng là chợt mát, lá đổ là muôn chiều dư âm.  Ðạo cũng thế, chỉ khi nào đạo ở trong tôi mới là có đạo, mới là “chợt mát”, là ơn cứu độ.

Thủa xưa cũng đã có một chuyện tình.  Ngày đó, sau khi phạm tội, Ađam cùng Evà đi “trong địa đàng” nhưng vẫn là rũ úa giữa địa đàng.  Như thế, “tôi ở trong địa đàng” vẫn là thống khổ, chỉ khi “địa đàng ở trong tôi”, lúc đó tôi mới “có địa đàng”, bấy giờ mới là gió lụa, mới là nắng hoa, mới là lòng mình chợt mát.

Nói về có đạovào đạo thì Phúc Âm có nhiều biến cố tường thuật về những người ngoại đạo nhưng lòng họ thì lại có đạo.

Một người ngoại đạo

Kết thúc cuộc đời rao giảng của Chúa là khúc đường vác thập giá lên Núi Sọ.  Nếu Chúa vác không nổi mà chết trên đường đi thì hành trình cứu chuộc có dang dở không?  Ðó là câu hỏi giả sử mà thôi.  Thực tế, hành trình cứu chuộc đã không dang dở.  Chúa đã không kiệt sức mà chết trên đường đi vì đã có người vác đỡ.  Kẻ vác đỡ thánh giá là ông Simon, người xứ Kyrênê, ông là một người ngoại giáo (Lc. 23:26).

Một người ngoại giáo nữa

Trong quãng đời mục vụ của Chúa, Tin Mừng thánh Matthêu có kể câu chuyện đức tin của một người như thế này:

Khi Ngài vào Carphanaum, thì một viên bách quản đến gặp Ngài, van xin: “Thưa Ngài, tên hầu của tôi nằm liệt bất toại ở nhà, phải đau đớn dữ lắm.”  Ngài nói: “Ta phải đến chữa nó?”  Viên bách quản thưa lại: “Thưa Ngài, tôi không đáng được Ngài vào mái nhà tôi.  Song Ngài hãy phán một lời mà thôi, thì tên hầu tôi sẽ khỏi, vì tôi đây tuy là thuộc hạ, thế mà có lính tráng dưới quyền tôi, tôi bảo người này: “Ði đi!” là nó đi; và bảo người khác: “Ðến!” là nó đến; tôi bảo tôi tớ của tôi: “Làm cái này” là nó làm”.  Nghe vậy Ðức Kitô ngạc nhiên và nói với các kẻ theo Ngài: “Quả thật, Ta bảo các ngươi, ta chưa hề gặp được lòng tin lớn như thế nơi một người nào trong Israel” (Mt. 8:5-10).

Lại một người ngoại giáo nữa

Câu chuyện trên là chứng nhân của niềm tin.  Câu chuyện dưới đây nói về tâm tình biết ơn, cũng lại là một người ngoài.

Nhằm lúc Ngài vào một làng kia, thì mười người phung hủi đón gặp Ngài.  Ðứng đàng xa, họ gióng tiếng lên mà rằng: “Lạy Thầy Yêsu, xin thương xót chúng tôi!”  Thấy vậy, Ngài bảo họ: “Hãy đi trình diện với hàng tư tế.” Và xẩy ra là trong lúc họ đi, thì họ đã được sạch.  Một người trong bọn thấy mình được lành thì quay lại lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa, và sấp mặt dưới chân Ngài mà tạ ơn.  Người ấy là một người Samari.  Ðức Yêsu cất tiếng nói: “Không phải là cả mười người được sạch cả sao?  Chín người kia đâu?  Không thấy họ quay lại mà chúc vinh Thiên Chúa, trừ có người ngoại bang này?” (Lc. 17:11-18).

Rồi lại một người nữa ngoại giáo

Thánh Luca thuật lại câu chuyện như sau: “Một người ở thành Yêrusalem xuống Jêrico, giữa đường bị kẻ cướp bóc lột hết và đánh nhừ tử, đoạn chúng bỏ người ấy nửa sống nửa chết mà đi.  Tình cờ một trưởng tế đi qua đấy, ông thấy người ấy song tránh một bên mà đi.  Lại có một thầy Lêvi cũng qua lối ấy, thấy người ấy song cũng tránh một bên mà đi.  Một người Samari nọ, nhân đi đường, cũng đến nơi ấy, thấy thế thì chạnh lòng thương, tiến lại đổ dầu và rượu, ràng buộc thương tích người ấy, đoạn vực người ấy lên lừa của mình mà đưa đến quán trọ, và săn sóc người ấy (Lc. 10:29-37).

Thầy tư tế và Lêvi chẳng những là người trong đạo mà còn hơn nữa, họ là kẻ giảng về đạo.  Họ ở trong đạo nhưng lại không có đạo.  Kẻ sống đạo lại là người ngoại đạo.

Rồi những người ngoại giáo nữa

Vào đêm Chúa sinh ra, trên bầu trời Belem năm ấy có một vì sao lạ.  Cả triều đình và bao nhiêu pho Kinh Thánh, với những kinh sư chuyên môn cắt nghĩa ngôn sứ, mà họ chẳng biết gì, họ phải đợi cho tới khi những kẻ ngoại giáo từ phương xa tới hỏi: Ðấng Cứu Thế đã sinh ra ở đâu? (Mt. 2:1-12). Trên bầu trời Belem năm ấy, vâng: Con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên cao.

******************

Lạy Chúa,

Nói về niềm tin thì các môn đệ khẳng định Thầy đâu có sống lại (Mc. 16:11, Yn. 20:25). Trong khi người có niềm tin mà tìm hết dòng dõi nhà Israel cũng không thấy lại là một người bên ngoài.

Kẻ vác đỡ thánh giá cho Chúa trên những bước chân xiêu té cuối đời cũng lại là người ngoại.

Nói về lòng biết ơn thì ít quá.  Trong cái ít ỏi ấy lại cũng là một người bên ngoài.

Nói về lòng bác ái thương người thì cũng không phải là tư tế hay các vị chức sắc trong đạo mà lại là người Samari, một kẻ ngoại giáo.

Băn khoăn một chút thế nào là “người bên ngoài”, thế nào là “người bên trong”, thế nào là “ngoại đạo” và “có đạo”, con thấy một lần Chúa nói: “Ta bảo các ngươi, nhiều kẻ tự phương Ðông, phương Tây mà đến và được dự tiệc với Abraham, Isaac và Yacob trong Nước Trời, còn chính con dân trong Nước lại sẽ bị đuổi ra bên ngoài tối tăm” (Mt. 8:11-12).

Con không muốn là con dân trong Nước nhưng bị loại ra ngoài.  Làm kẻ từ mười phương mà được Nước Trời thì vẫn tốt hơn.  Nếu thế thì con phải hiểu ÐẠO là gì.  Con phải băn khoăn thế nào là “vào đạo” và thế nào là “có đạo”.  Trời chiều nay rộng quá, mênh mông như ÐẠO không bến bờ.  ÐẠO mênh mông lắm, làm sao con có thể đem ÐẠO vào một định nghĩa chật hẹp được.  Làm sao con có thể nhốt ÐẠO vào nhà thờ, vẽ chân dung ÐẠO bằng tờ giấy rửa tội. Ðã nhiều lần con loại bỏ những ai không cùng tôn giáo với con là người “ngoại đạo”.

Bỏ cái chật hẹp của lòng mình, con thấy ý nghĩa lời kinh kia quá đỗi thênh thang. Nếu những giải mây ngang đời trôi về vùng trời bao la không biết đâu là bờ bến thì ý nghĩa của lời kinh ấy cũng mênh mông không biết đâu là bến bờ. Lời kinh đó là:

Lạy Chúa, con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ngự trên cao.

Nguyễn Tầm Thường – (Trích tập Con Biết Con Cần Chúa)

SATAN ẨN TRONG CHIẾC GƯƠNG

Tôi lớn lên với “năng khiếu mua sắm” đối với phụ nữ.  Khi tôi tới siêu thị, bảo tàng viện, hoặc thậm chí là nhà thờ, tôi thường theo bản năng “mua sắm” bằng cách chú ý tới điểm nào đó ở các phụ nữ khác (dù quen hay lạ) thay vì chú ý tới mình.  Ôi, khuôn mặt, đôi tay, chiều cao và điều cuối cùng là…

Nhưng chúng ta biết rằng điều kế tiếp sẽ là điều cuối cùng, đó là chúng ta tìm kiếm vẻ đẹp ngoài Đức Kitô.  Tôi không bao giờ thỏa mãn vì lý tưởng của tôi không thật, đó là sự kết hợp của các khuyết điểm mà tôi muốn sửa.  Tưởng tượng luôn khác với thực tế.  Ước vọng của tôi không an toàn, các hình ảnh nối kết trong đầu không hề thực tế, và tôi không thể biến nó thành hiện thực.

1. THIÊN CHÚA CÓ LÀM CHO NÓ SAI?

Khả năng phức tạp và kiến thức bản chất về việc liên kết con người là điều thuộc về Thiên Chúa mà thôi.  Nền tảng của tội về sự thiếu tự tin là KHÔNG tin rằng Thiên Chúa làm cho nó thành đúng.

Khi chúng ta làm như vậy, chúng ta cụ thể hóa chị em và bạn bè của chúng ta bằng cách làm họ giảm giá trị mà lại kết hợp các nét thể lý khiến chúng ta ghen tỵ và xoi mói từng chi tiết.  Kiểu này không là yêu thương những người trước mặt mình, chắc chắn như thế cũng không thể tuyên xưng Thiên Chúa cao cả và vinh quang.

Khi làm như vậy, chúng ta tuyên bố với Ngài và thế giới rằng Ngài tạo dựng sai nên chúng ta nghĩ rằng:

  • “Người ấn định con số các vì sao, và đặt tên cho từng ngôi một” (Tv 147:4), ôi lạy Chúa, nhưng Ngài tạo nên họ kỳ cục lắm.
  • “Ngay đến tóc trên đầu anh em cũng được đếm cả rồi” (Lc 12:7), nhưng Ngài cho họ màu da không đẹp.
  • Ngài “tạo ra núi non, dựng nên gió bão” (Am 4:13), nhưng Ngài lại không cho cơ thể con cân đối.

Thật là kiêu ngạo!  Chúng ta không nhớ rằng cơ thể của chúng ta được tạo dựng theo ý muốn của Thiên Chúa.  Ngài không làm sai hoặc lỡ tay.  Ước muốn của chúng ta sai lầm.  Chúng ta nên vâng theo ý Ngài và nhận biết rằng ngoại hình không bao giờ thỏa mãn tham vọng của chúng ta.

2. ĐƯỢC TẠO DỰNG CHO VẺ ĐẸP CAO CẢ

Thực sự chúng ta không xinh đẹp nhất bởi vì chúng ta không được tạo dựng để làm đẹp, nhưng để phục vụ Thiên Chúa.  Chúng ta nhẹ gánh “vẻ đẹp” khi thế giới nhìn thấy, bởi vì chấp nhận ngoại hình là “tỏa sáng” mãi mãi.  Có sự bình an ngoài thế gian có thể tìm thấy không là vẻ đẹp theo tiêu chuẩn của xã hội trần gian – chiều cao, số đo ba vòng…  Cũng chẳng sao khi cơ thể chúng ta KHÔNG HOÀN HẢO.  Đặc tính của chúng ta là khiếm khuyết, bất toàn, thế nên chúng ta phải hướng tới sự hoàn hảo của Thiên Chúa – Đấng tạo dựng muôn loài.

Điều đó không có nghĩa là chúng ta không chăm sóc thân xác chúng ta như đền thờ của Thiên Chúa (1 Cr 6:19).  Nếu tinh thần của Đức Kitô sống trong chúng ta, thân xác chúng ta không thuộc về chúng ta để mà ích kỷ hoặc lạm dụng nó (1 Cr 6:20).

Chúng ta không cần có cơ thể hấp dẫn để “tỏa sáng” làm mãn nhãn người khác.  Con mắt của Chúa luôn nhìn chúng ta, Ngài vui mừng khi chúng ta không “nổi loạn” nhưng Ngài buồn khi chúng ta chăm chú vẻ quyến rũ của xác thịt – kể cả việc ước muốn như người khác (bất kỳ ai) mà không chấp nhận vóc dáng Ngài đã ban cho để yêu mến và tôn vinh Ngài.

3.  SỰ DỐI TRÁ TRONG CHIẾC GƯƠNG

Tôi mới 24 tuổi mà các vết nhăn mờ đã xuất hiện trên khuôn mặt.  Tôi chưa có con, vậy mà cơ thể tôi đã sa sút, thị lực tôi cũng kém.  Từ nhỏ, tôi đã cảm thấy không vui khi nhìn mình trong gương.  Tôi là một phụ nữ và xác định rằng tôi sống độc thân bởi vì chẳng một đàn ông nào muốn có một người như tôi.

Ngày xưa, Chúa Giêsu đã từng đặt vấn đề: “Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay?” (Mt 6:27).

Thiên Chúa không thuộc về thế gian và không lệ thuộc vẻ đẹp thế tục.  Ngài gọi chúng ta là “người yêu” vì Đức Kitô (Rm 9:25).  Thánh Phaolô nhắc lại lời Kinh Thánh: “Như đã chép: Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người” (1 Cr 2:9), và chẳng có gì hơn khiêm nhường.  Trong Đức Kitô, chúng ta có thể gạt đám mây đen thiếu tự tin sang một bên và hướng tới ánh sáng của đức khiêm nhường tập trung vào Đức Kitô.  Điều đó không dễ chút nào, thế nên chúng ta cần phải biết “đóng đinh” cơ thể hoàn hảo của mình.  Tác giả Isaac Ambrose viết: “Vẻ đẹp thể lý mà không có Đức Kitô thì chỉ là cỏ xanh mọc trên ngôi mộ thối rữa.”

4. TÔI NHỎ LẠI ĐỂ NGÀI LỚN LÊN

Sự thiếu tự tin là con quái vật mà chúng ta phải can đảm chiến thắng.  Chúng ta không muốn gọi đó là tội vì đó là “vùng nhạy cảm” trong nhiều người, nhưng điều đó không gì hơn là tính kiêu ngạo tiềm ẩn.  Chúng ta càng tập trung vào tình trạng thiếu thốn của mình thì càng ít có thể đón nhận sự đầy đủ của Đức Kitô.  Chúng ta càng tập trung vào những gì mình muốn thì càng muốn trở thành con người theo ý mình.  Chúng ta càng tập trung vào việc ghen tỵ với người khác thì càng có xu hướng nô lệ cho họ.

Sự thiếu tự tin không nên coi nhẹ hoặc làm ngơ, bởi vì “ai cũng phải đấu tranh với nó.”  Cùng với Đức Kitô, chúng ta nên cầu nguyện và chiến đấu với Ngài và trong Ngài.

Xã hội thay đổi.  Danh tiếng tàn phai.  Thân xác hư nát.  Nhưng Thiên Chúa xác định: “Ta là Đức Chúa” (Ml 3:6), “những chuyện xảy ra sau, Ta báo trước từ đầu, những gì chưa thể hiện, Ta đã báo từ lâu.  Ta phán: Điều Ta dự tính sẽ thành tựu, Ta sẽ thi hành điều Ta ưa thích” (Is 46:10).  Và “ngay cả khi đồi núi chưa được dựng nên, địa cầu và vũ trụ chưa được tạo thành, Ngài vẫn là Thiên Chúa, từ muôn thuở cho đến muôn đời” (Tv 90:2).  Rồi lần tới, Satan sẽ lại nói dối với bạn ở trong tấm gương, hãy nhìn ra chỗ khác và mở sách Kinh Thánh ra để đọc Lời Chúa.  Hãy hướng tới vẻ đẹp cao cả hơn và thỏa mãn hơn: CHĂM CHÚ NHÌN VÀO ĐỨC KITÔ.

Mụ phù thủy xấu xa đã “hỏi ép” chiếc gương thế này: “Gương kia ngự ở trên tường – Nước này ai đẹp được dường như ta?”  Đó là bài học về thói kiêu ngạo và đề cao vẻ đẹp của mình, chỉ là ảo tưởng.  Tiền nhân đã rất thâm thúy khi xác định: “Cái nết đánh chết cái đẹp” hoặc “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”.

Calley Sivils – Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ DesiringGod.com)

GẦN ĐÈN THÌ RẠNG!

Thi sĩ Xuân Ly Băng (Đức Ông JB Lê Xuân Hoa) viết bài thơ “Đừng thích làm mặt trời.”  Lời thơ thật nhẹ nhàng mà sâu lắng.  Nhiều hình ảnh so sánh rất gần gũi thân thương của đời thường.

Khoan mộng làm mặt trời.
Đừng mơ làm sao sáng.
Hãy cố gắng con ơi.
Làm những điều nhỏ mọn
Chỉ vì mến Chúa thôi.
Tặng người con không thích
Một nụ cười thế thôi.
Đôi mắt nhìn trìu mến
Để chia sẻ tâm tình
Với một người đau khổ.
Viếng thăm và giúp đỡ
Người bệnh tật già nua.
Đừng ngại nắng ngại mưa.
Thấy Chúa trong người họ
Không mắng la nạt nộ.
Đừng giận dữ một ai.
Chút mật bắt nhiều ruồi
Hơn giấm chua từng hũ.
Hiền lành và tha thứ
Biết rộng rãi khoan dưng.
Theo Chúa ở khiêm nhường
Và sẵn sàng phục vụ.
Việc làm tuy bé nhỏ
Giá trị thật vô cùng
Làm mặt trời đừng mong.
Cũng đừng mơ làm sao sáng…

Đọc thơ, tôi liên tưởng đến hình ảnh Muối và Ánh Sáng của Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay.

Khoan mộng làm mặt trời.
Đừng mơ làm sao sáng.
Chỉ mong làm muối đất.
là ánh sáng Chúa thôi.

Hiến chương Nước trời được Chúa Giêsu công bố trong Tin mừng Chúa nhật vừa qua.  Tiếp theo bài giảng trên núi, Chúa Giêsu xác định sứ mạng của các môn đệ: “Anh em là muối cho đời… anh em là ánh sáng thế gian.”

1. Anh em là muối cho đời, một định nghĩa tuyệt vời về Kitô hữu.

Sử gia Pliny viết: “Không gì bằng hữu dụng bằng muối và ánh sáng.”  Không có ánh sáng, cỏ cây sẽ úa tàn.  Không có muối, sơn hào hải vị cũng sẽ ra nhạt phèo.  Chúa Giêsu ví các môn đệ của Ngài như muối đất và ánh sáng của trần gian.  Đây là một vinh dự cho các môn đệ vì họ được mời gọi tham dự vào sứ mệnh làm muối đất, ánh sáng của Chúa Kitô.

Chúa Giêsu Kitô chính là Ánh Sáng soi chiếu trần gian u mê (Mt 4,16; Pl 2,15; Ep 5,8).  Ngài đến để giảng dạy cho thế gian biết đâu là hạnh phúc chân thật: “Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14,6).  Chúa Giêsu đã chữa lành những kẻ bị tật nguyền, xoa dịu những tâm hồn đau khổ.  Như muối đất, tình yêu của Ngài được biểu lộ qua những nghĩa cử bác ái và cái chết, đã làm cho trần gian tẻ nhạt và khổ đau thêm mặn mà, ý vị.

“Muối đất.”  Muối được dùng để khử trùng, gìn giữ thức ăn và để nêm vào các món ăn cho thêm hương vị mặn mà.  Nếm một món ăn thiếu muối sẽ thấy nhạt nhẽo.  Nhưng chỉ cần thêm vài hạt muối, món ăn trở nên đậm đà và dễ ăn.  Người bị bệnh cao huyết áp phải ăn lạt nên thường ăn mất ngon.  Người Việt thường dùng nước mắm để nêm các món ăn, nhưng vẫn phải thêm muối, món ăn mới hấp dẫn.

Vào thời Chúa Giêsu, muối tượng trưng cho tính hiếu khách.  Khách đến nhà thường được tặng bánh mì và muối, biểu hiệu sự tiếp đón nồng hậu.

Ngày xưa, khi chưa khám phá ra phân bón hóa học, người ta dùng muối để làm đất đai thêm phì nhiêu.  Khi chưa có tủ lạnh, muối còn được dùng để ướp cá, thịt và thức ăn, cất giữ được lâu ngày hơn.  Chúa Giêsu sai các môn đệ đến trong thế gian như người ta nêm muối vào thức ăn để thêm hương vị và giữ được lâu.  Vị mặn của muối là yếu tố quan trọng.  Mặn thuộc về bản chất của muối.  Vị mặn, đó là lòng yêu mến Chúa mặn nồng.  Vị mặn là tình yêu tha nhân mặn mà.  Yêu Chúa mặn nồng, yêu tha nhân mặn mà, đời sống Kitô hữu sẽ ướp hương vị tình yêu mặn mòi cho cuộc đời.

2. Anh em là ánh sáng cho trần gian, một định nghĩa quá cao trọng về Kitô hữu.

Chỉ Thiên Chúa mới là Ánh Sáng (1Ga1,5), chỉ Đức Giêsu mới dám nhận mình là Ánh Sáng (Ga 8,12).  “Anh em là ánh sáng” vì anh em gần Thầy “gần đèn thì sáng.”

“Ánh sáng thế gian.”  Một hình ảnh rất quen thuộc với người Việt đó là đèn dầu.  Một căn nhà có đèn sáng báo hiệu đang có người ở, có sự sống.  Một người đi lạc trong đêm tối hẳn sẽ rất sung sướng khi thấy có ánh đèn.  Ánh đèn đem lại niềm vui và thu hút mọi người.  “Các con là ánh sáng thế gian,” đây là lời mời gọi truyền giáo, qua đời sống, qua lời nói và hành động, Kitô hữu được mời gọi làm ánh sáng hy vọng cho những ai đang lần bước trong bóng tối tuyệt vọng, dẫn dắt họ đến với Chúa.  Trong bóng đêm mịt mùng, một ánh lửa nhỏ cũng có thể được nhìn thấy từ xa.

Chúa Giêsu không nói: các con hãy cố gắng làm muối đất và trở nên ánh sáng cho thế gian nhưng lại nói: “Các con là muối đất và là ánh sáng thế gian”, bởi vì các con là môn đệ của Thầy, vì các con đã lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy.

“Các con là sự sáng thế gian”, sự sáng này không phải do chúng ta tạo nên, nhưng phát xuất từ Chúa Kitô: “Ta là sự sáng thế gian” (Ga 8,12).  Chúa Giêsu muốn chúng ta như tấm gương phản chiếu ánh sáng của Ngài, cho mọi người và cho mọi nơi.  Do đó, ánh sáng được chiếu tỏa không phải cho chúng ta được vinh danh, nhưng cho vinh quang của Chúa: “Sự sáng của các con phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời.”

Muối đất, sự sáng thế gian: hai hình ảnh cùng diễn tả một lời mời gọi.  Tiên tri Isaia, trong Bài đọc 1 đưa ra những phương cách để giữ muối khỏi “lạt” và ngọn đèn luôn chiếu sáng.  Đó là sống bác ái, chia cơm sẻ bánh cho người nghèo đói, tiếp đón những kẻ bất hạnh vô gia cư, cho quần áo những người không đủ mặc…  Khi ấy, “ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên trong bóng tối và bóng tối sẽ trở thành như giữa ban ngày.”

Có lẽ nhiều người sẽ tự nhủ: làm sao mình có khả năng và xứng đáng làm muối đất và sự sáng cho mọi người?  Nắm muối gồm những hạt muối nhỏ dồn lại, đèn sáng được nhờ những giọt dầu góp lại.  Những hạt muối nhỏ đó, những giọt dầu đó là những việc bé nhỏ mà chúng ta thực hiện trong đời sống hằng ngày: những nụ cười, lời nói lịch thiệp, những cử chỉ bác ái khiêm nhường, thái độ biết lắng nghe, sống tha thứ biết nghĩ đến người khác…

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay nhấn mạnh đến chứng từ muối đất và ánh sáng trần gian của Kitô hữu.  Nếu chúng ta thương yêu nhau như Chúa đã yêu thương thì chính đời sống, việc làm, việc bác ái sẽ mang lại hương vị cuộc đời, hương thơm cho mọi người, chiếu tỏa ánh sáng giúp nhiều người đến với Chúa là “nguồn ánh sáng và ơn cứu độ” (Tv 2,1).  Kitô hữu tiếp nhận ánh sáng từ Chúa Giêsu để rồi chiếu lên làn ánh sáng hy vọng, ánh sáng tin yêu, ánh sáng công bình bác ái.  Những chứng tá đức tin cậy mến, những gương sáng đời sống gia đình, những nỗ lực thực thi các giá trị Phúc Âm chính là muối thêm hương vị đức ái cho đời, là những ánh sáng đức tin soi đường truyền giáo.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

CẦU NGUYỆN NHƯ CHÚA DẠY

Làm sao có thể cầu nguyện như Chúa Giêsu?  Chắc chắn không có cách nào hơn tiêu chuẩn chính Chúa Giêsu đưa ra: KINH LẠY CHA.  Và chúng ta cũng không thể bỏ qua lời cầu nguyện của Ngài trước khi chịu khổ hình – Ga 17:1–26.

Vì không có nên mới “xin”, nhưng có khi chúng ta đã có mà vẫn phải xin: Xin lỗi.  Thật vậy, “một lời xin lỗi vụng về vẫn tốt hơn là im lặng” (Stephen Gosson, 1554-1624, văn sĩ trào phúng người Anh).  Nói đến động thái xin lỗi thì không thể không nhắc tới động thái tha thứ.

Xin lỗi và tha thứ là hai động thái luôn cần thiết và cấp bách, vì đó là động thái của tình yêu thương, của lòng trắc ẩn, của lòng thương xót, đặc biệt là luôn phải sống LÒNG THƯƠNG XÓT.

Nhân vô thập toàn.  Ai cũng là tội nhân, ai cũng cần xin lỗi, và tất nhiên ai cũng cần tha thứ.  Vả lại, tất cả chúng ta đều là huynh đệ trong Đại Gia Đình của Thiên Chúa, không thể không yêu thương hoặc không tha thứ.

Tại sao phải xin lỗi?  Người ta đưa ra 10 lý do:

  1. Vì những lúc tôi hứa mà không thực hiện cho tha nhân.
  2. Vì những lúc tôi thờ ơ, vô cảm với nỗi đau của tha nhân.
  3. Vì những lúc tôi ích kỷ, vụng về, hiểu lầm nên làm phiền tha nhân.
  4. Vì những lời nói, hành động của tôi, dù vô tình hay cố ý, đã làm tổn thương tha nhân.
  5. Vì những lúc tôi không giúp đỡ tha nhân, và vì những điều tôi muốn mà hèn nhát, không dám làm.
  6. Vì những mối bất hòa, cãi vã, mâu thuẫn… với tha nhân.
  7. Vì những lúc tôi làm cho chính mình đau khổ và nghĩ xấu về tha nhân.
  8. Vì những lúc tôi cố gắng mà vẫn chưa làm được điều tốt đẹp cho cuộc đời và xã hội.
  9. Vì những lúc tôi đã làm cho tha nhân thất vọng, hụt hẫng, mệt mỏi…
  10. Vì những lúc tôi đã thay đổi thất thường, đòi hỏi người khác phải theo ý mình.

Tại sao phải tha thứ?  Người ta cũng đưa ra 10 lý do:

  1. Tha thứ cho người khác về điều dối gian mà họ dành cho tôi.
  2. Tha thứ cho người khác về những gì xấu xa nhất mà họ nghĩ về tôi.
  3. Tha thứ cho người khác vì họ đã làm tôi phải khóc, đau lòng.
  4. Tha thứ cho người khác về sự không chân thành, lãnh đạm, xa lánh… mà họ dành cho tôi.
  5. Tha thứ cho người khác về sự vô tâm của họ trước những nỗi khó khăn của tôi.
  6. Tha thứ cho người khác về sự giả dối, chỉ giả vờ quý mến tôi mà thôi.
  7. Tha thứ cho những lỗi lầm của tha nhân để có thể cùng nhau sống tích cực và hướng tới điều tốt đẹp hơn.
  8. Tha thứ cho bất cứ ai làm tôi tổn thương, tự giải thoát mình để có thể sống thanh thản.
  9. Tha thứ cho chính mình, vì đôi khi chính mình sống thật tồi tệ.
  10. Tha thứ cho mọi người, bất kỳ ai, về bất cứ lỗi lầm nào.

Đôi khi “xin” có thể là năn nỉ hoặc mặc cả.  Trình thuật St 18:20-32 cho biết về việc Tổ Phụ Ápraham “mặc cả” với Thiên Chúa vì lòng thương xót tha nhân.

Chính Thiên Chúa đã lên tiếng: “Tiếng kêu trách Xơ-đôm và Gô-mô-ra thật quá lớn!  Tội lỗi của chúng quá nặng nề!  Ta phải xuống xem thật sự chúng có làm như tiếng kêu trách đã thấu đến Ta không.  Có hay không, Ta sẽ biết.”

Ông Áp-ra-ham thưa với Đức Chúa: “Chẳng lẽ Ngài tiêu diệt người lành một trật với kẻ dữ sao?  Giả như trong thành có năm mươi người lành, chẳng lẽ Ngài tiêu diệt họ thật sao?  Chẳng lẽ Ngài không dung thứ cho thành đó, vì năm mươi người lành trong đó sao?  Ngài làm như vậy, chắc không được đâu!  Giết chết người lành một trật với kẻ dữ, coi người lành cũng như kẻ dữ, chắc không được đâu!  Đấng xét xử cả trần gian lại không xét xử công minh sao?”  Đức Chúa đáp: “Nếu Ta tìm được trong thành Xơ-đôm năm mươi người lành, thì vì họ, Ta sẽ dung thứ cho tất cả thành đó”.

Ông Áp-ra-ham “mặc cả” với Thiên Chúa, ông hạ từ năm mươi người lành xuống còn bốn mươi lăm người, rồi bốn mươi người, ba mươi người, hai mươi người, thậm chí chỉ còn mười người.  Dù là con số ít ỏi, Thiên Chúa vẫn chấp nhận mà không nỡ phá huỷ thành Xơ-đôm.  Vâng, Thiên Chúa luôn nhẫn nại và muốn tha thứ.  Thế nhưng cả thành phố đó cũng không có được mười người lành.  Nhân loại vẫn bướng bỉnh, cố chấp, ỷ lại và làm ngơ với lòng thương xót của Ngài.  Làn ranh giữa “mặc cả” và “lợi dụng” rất mong manh.  Chắc chắn ông Áp-ra-ham không có ý lợi dụng Lòng Chúa Thương Xót, nhưng chúng ta phải lưu ý: Đừng bao giờ lợi dụng Lòng Thương Xót của Thiên Chúa!

Ma quỷ rất ranh mãnh, sợ nhất là nó cám dỗ chúng ta ảo tưởng về sự thánh thiện của mình.  Thật vậy, Thánh Tiến sĩ Têrêsa Hài Đồng (1873-1897) cho biết: “Ma quỷ thường hay đánh lừa những linh hồn quảng đại bằng cách thúc đẩy họ bước vào những hy sinh thái quá, vừa làm hại sức khỏe vừa khiến họ không thể chu toàn bổn phận, đồng thời lại lấy đó làm tự mãn.”  Kinh khủng thật!  Thế nên Thánh Phaolô đã cảnh báo: “Đừng để ma quỷ thừa cơ lợi dụng!” (Ep 4:27).

Ước gì chúng ta khả dĩ cảm nghiệm được Thiên Chúa như tác giả Thánh Vịnh để có thể thân thưa chân thành: “Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ, Ngài đã nghe lời miệng con xin.  Giữa chư vị thiên thần, xin đàn ca kính Chúa, hướng về đền thánh, con phủ phục tôn thờ.  Xin cảm tạ danh Chúa, vì Ngài vẫn thành tín yêu thương, đã đề cao danh thánh và lời hứa của Ngài trên tất cả mọi sự.  Ngày con kêu cứu, Chúa đã thương đáp lại, đã gia tăng nghị lực cho tâm hồn” (Tv 138:1-3).

Thiên Chúa thấu suốt mọi sự (Sbn 28:9; Gđt 8:14; Et 5:1; 2 Mcb 7:35; 2 Mcb 9:5; 2 Mcb 12:22; 2 Mcb 15:2; G 28:27; Tv 139:2; Cn 16:2; Cn 21:2; Cn 24:12; Kn 1:6; Kn 7:23; Hc 23:19; Hc 42:20; Gr 11:20; Gr 20:12; 1 Cr 12:4-6), không gì có thể che giấu Ngài, dù là điều nhỏ nhoi nhất và tinh vi nhất.  Ngài biết chúng ta vốn dĩ xấu xa (x. Lc 11:13) nhưng Ngài vẫn đại lượng: “Chúa tuy thật cao cả, nhưng vẫn nhìn đến kẻ thấp hèn; đứa ngạo mạn ngông nghênh, từ xa Ngài đã biết.  Cho dù con gặp bước ngặt nghèo, Chúa vẫn bảo toàn mạng sống con.  Địch thù đang hằm hằm giận dữ, Ngài ra tay chận đứng, lấy tay uy quyền giải thoát con” (Tv 138:6-7).  Ngài luôn quan phòng, che chở, giữ gìn chúng ta dù có lúc chúng ta không nhớ đến Ngài.  Nếu Ngài nhắm mắt làm ngơ chúng ta chỉ trong giây lát thôi, chúng ta sẽ không thể sống nổi.  Thế mà chúng ta vẫn luôn muốn nổi loạn!

Hôm nay và bây giờ, hơn bao giờ hết, chúng ta hãy cùng nhau thân thưa với Ngài: “Việc Chúa làm cho con, Ngài sẽ hoàn tất; lạy Chúa, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.  Công trình do tay Ngài thực hiện, xin đừng bỏ dở dang” (Tv 138:8).

Thánh Phaolô nói rõ về thân phận của chúng ta: “Anh em đã cùng được mai táng với Đức Kitô khi chịu phép rửa, lại cùng được trỗi dậy với Người, vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết.  Trước kia, anh em là những kẻ chết vì anh em đã sa ngã, và vì thân xác anh em không được cắt bì, nay Thiên Chúa đã cho anh em được cùng sống với Đức Kitô: Thiên Chúa đã ban ơn tha thứ mọi sa ngã lỗi lầm của chúng ta” (Cl 2:12-13).

Thiên Chúa vô cùng đại lượng, cao thượng, từ bi và nhân hậu, chúng ta chỉ là những “con nợ”, chúng ta chưa mở miệng cầu xin mà Ngài đã tha thứ rồi, tha thứ vô điều kiện: “Người đã xoá sổ nợ bất lợi cho chúng ta, sổ nợ mà các giới luật đã đưa ra chống lại chúng ta.  Người đã huỷ bỏ nó đi, bằng cách đóng đinh nó vào thập giá” (Cl 2:14).  Vì thế, chắc chắn chúng ta cũng phải sẵn sàng tha thứ cho nhau, không còn cách nào khác.

Cầu xin là điều cần thiết, cầu nguyện là lương thực hằng ngày.  Có một lần, sau khi Đức Giêsu cầu nguyện xong, có một môn đệ nói xin Ngài dạy cách cầu nguyện, và Ngài đã dạy Kinh Lạy Cha (Lc 11:2-4; Mt 6:9-13).  Đó là “Đệ Nhất Kinh”, là lời kinh cao cả được chính Chúa Giêsu truyền dạy.  Chúng ta vô cùng diễm phúc, vì chỉ là tội nhân khốn nạn mà hằng ngày chúng ta nhiều lần được tôn xưng Thiên Chúa là Cha: “Lạy Cha chúng con ở trên trời…”.

Để minh họa lòng thương xót, Ngài kể cho họ nghe câu chuyện về “người bạn quấy rầy và việc cầu xin.”  Ngài nói với họ: “Ai trong anh em có một người bạn, và nửa đêm đến nhà người bạn ấy mà nói: ‘Bạn ơi, cho tôi vay ba cái bánh, vì tôi có anh bạn lỡ đường ghé lại nhà, và tôi không có gì dọn cho anh ta ăn cả’; mà người kia từ trong nhà lại đáp: ‘Xin anh đừng quấy rầy tôi: cửa đã đóng rồi, các cháu lại ngủ cùng giường với tôi, tôi không thể dậy lấy bánh cho anh được.  Thầy nói cho anh em biết: dẫu người kia không dậy để cho người này vì tình bạn thì cũng sẽ dậy để cho người này tất cả những gì anh ta cần, vì anh ta cứ lì ra đó.”

Chỉ là tội nhân, là phàm nhân mà người ta còn thế, huống chi Thiên Chúa.  Thật vậy, Chúa Giêsu đã xác định: “Anh em cứ XIN thì sẽ ĐƯỢC, cứ TÌM thì sẽ THẤY, cứ GÕ cửa thì sẽ MỞ cho.  Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho.”  Nhưng cũng cần lưu ý: Đừng lải nhải, chớ lẻo mép, lắm lời! (x. Mt 6:7).

Và để tái xác nhận, Chúa Giêsu nói thêm: “Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, thay vì lấy cá lại lấy rắn mà cho nó?  Hoặc nó xin trứng lại cho nó bò cạp?  Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?”  Tin sao, được vậy (x. Mt 8:13; Mt 9:29).  Đó là hệ lụy tất yếu vậy.  Đúng như Thánh LM Don Bosco (1815-1888) xác định: “Chính đức tin hoàn thành tất cả mọi sự.”

Cuối cùng, hãy nghe Thánh Faustina tiết lộ cách cầu nguyện hiệu quả và đẹp lòng Thiên Chúa: “Khi cầu nguyện, chúng ta ĐỪNG NÀI ÉP CHÚA ban cho điều chúng ta muốn, mà chúng ta NÊN TUÂN PHỤC Thánh Ý Ngài” (Nhật Ký, số 1525).

Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, xin giúp con biết vững tin khi cầu xin, và luôn biết mau mắn tha thứ cho người khác.  Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại.  Amen!

Trầm Thiên Thu

NỖI LO SỢ KHÔNG TÊN

Chuyện kể rằng, một người nọ sau khi từ giã cõi đời và được về bên Thượng Đế, anh ta mạo muội xin phép Thượng Đế cho anh ta được sống lại một vài giai đoạn trong đời anh ta.  Sau khi suy nghĩ và thấy anh này cũng có một đề nghị hơi lạ, Thượng Đế đã đồng ý.  Anh ta xin tiếp, “Thưa Ngài, sau mỗi quãng đời, xin cho con được dừng lại và về gặp Ngài để hỏi một vài thắc mắc có được không?” Thượng Đế cũng tỏ vẻ vui lòng ưng thuận.  Vậy là người này trở lại kiếp người.

Anh ta làm lại một cậu học trò với bao bận rộn với việc học hành, nhưng cũng không ít vui chơi hồn nhiên giải trí.  Nhưng khi phải vượt qua những kỳ thi, thì cậu học trò lại tỏ ra lo sợ.  Cậu ta lo sợ bị thi rớt, sợ bị điểm thấp, sợ bị chúng bạn chê cười…  Cậu ta xin dừng cuộc đời lại đó và đi hỏi Thượng Đế.  “Thưa Ngài, tại sao con phải lo sợ những chuyện thi cử?”  “Con lo sợ chúng vì con đã nhìn cuộc đời của con như thể chỉ có chuyện thi cử mà quên đi những chuyện khác xung quanh con.”  Thượng Đế trả lời.

Anh ta trở lại dương thế và tiếp tục làm người.  Giai đoạn này, anh ta có người yêu, lập gia đình, có con, và tưởng chừng như anh ta đã vượt qua những nỗi lo sợ của thời trẻ con.  Thế nhưng, anh ta vẫn lo sợ.  Anh sợ vợ anh phản bội, con anh không đủ sức khỏe, công việc làm ăn không ổn định.  Anh dừng cuộc đời lại và đi hỏi thượng đế.  “Thưa Ngài, dù biết rằng con đã không nhìn cuộc đời như trước đây nữa, nhưng sao con vẫn lo sợ?”  Thượng Đế đáp, “Con lo sợ vì con muốn sở hữu chúng vĩnh viễn; con không muốn bị mất chúng.  Con nên nhớ, điều gì con càng muốn nắm giữ, thì con càng lo sợ chúng bị mất đi.”

Trở lại cuộc sống dương thế lần thứ ba, giờ đây ở tuổi cao niên, sau bao tháng ngày sợ hãi, lo lắng, ông già trông bình an và chấp nhận hơn.  Ông không lo sợ bị mất vợ và lo lắng cho con cái như trước đây.  Nhưng trong tâm thức ông, một nỗi lo âu, sợ hãi vẫn ám ảnh ông.  Nỗi lo sợ của ông không còn là nỗi lo liên quan đến “cơm áo, gạo tiền” như trước đây, nhưng ông lại sợ bị lãng quên những công trạng của thời trai trẻ; ông lo những thành quả ông góp cho đời sẽ bị mất dấu tích.  Kỳ lạ thay, ông lại lo không còn được cảm nếm những nỗi lo sợ của thời học trò, của thời thiếu niên, của người thanh niên mà ông đã trải qua.  Ông quá tò mò nên quay về hỏi Thượng Đế, “Thưa Ngài, tại sao những điều lúc trước làm con lo sợ, thì bây giờ con lại sợ không còn được cảm nếm những nỗi sợ ấy nữa?”  Thượng Đế đáp, “Con yêu! Chừng nào con còn sống trong quá khứ, muốn quay trở lại quá khứ; và chừng nào con còn lo nghĩ về tương lai, muốn làm chủ lấy tương lai, thì con còn sống trong sợ hãi.  Cha không có quá khứ, Cha không có tương lai.  Cha chỉ có hiện tại.  Nơi nào không có hiện tại, nơi đó không có bình an.”
 

*******************************

Quí bạn thân mến, mẩu chuyện tưởng tượng trên cho ta thấy rằng, đời con người xem chừng như cứ bị bao trùm hết nỗi lo sợ này đến nỗi lo sợ khác: Nỗi lo sợ của đứa trẻ mới bước vào đời, nỗi lo sợ của người thanh niên về tương lai, và nỗi lo sợ của vị cao niên về quá khứ của mình bị đánh mất.  Vậy nỗi lo sợ ấy đến từ đâu, và lý do gì mà ta lo sợ?

Suy gẫm thấu đáo ta có thể nhận thức rằng, hoàn cảnh “đáng sợ” không thực sự đáng sợ như ta tưởng, nhưng điều làm ta lo sợ chính là ta lo sợ điều chưa xảy ra.  Chúng ta thường sợ điều chưa xảy đến hơn là điều đã xảy đến.  Nếu quí bạn có dịp trò chuyện với các bệnh nhân mang những căn bệnh nan y, thì có rất nhiều người cho rằng, điều đáng sợ của họ bây giờ không phải là căn bệnh họ đang mang, mà là những điều khác.  Nỗi sợ của họ bây giờ không còn là căn bệnh nữa, nhưng là sợ bị bỏ rơi, bị cô đơn, bị quên lãng, và biết bao nhiêu nỗi sợ không tên khác.  Kỳ thực thay, dù ai trong chúng ta cũng đã không ít một lần bị bỏ rơi, cũng đã không ít có một lần kinh nghiệm cô đơn, và bị người đời quên lãng; biết là như thế và đã trải qua kinh nghiệm nhiều lần như thế trong đời rồi, nhưng con người vẫn lo sợ chúng; con người vẫn rối lên khi đối diện chúng.

Thưa bạn, bạn cũng như tôi đã trải nghiệm những lo sợ mà có lúc đã làm chúng ta mất ăn mất ngủ ở lứa tuổi học trò, ở tuổi xuân, ở những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất (người thân ra đi, bị tù đày tra tấn….)  Xét cho cùng, cuối cùng nỗi lo sợ này cũng chỉ có thế thôi, có phải không?  Thế thì những nỗi sợ hôm nay – giây phút này – ngay lúc này, cũng chỉ là một phần của kiếp làm người của chúng ta mà thôi.  Hãy nhìn chúng như là một phần đời của chúng ta để giúp chúng ta nâng cao giá trị đời mình, chứ đừng để chúng trở thành nỗi ám ảnh bao trùm những vẻ đẹp của giây phút hiện tại.

Thưa bạn, hôm nay tôi mời gọi bạn hiểu sâu hơn ý nghĩa thực của giây phút hiện tại.  Vì thực ra cuộc đời của bạn chỉ có hôm nay, giây phút này chứ không phải hôm qua hay ngày mai.  Và dù bạn có lo sợ điều gì lớn lao đến mấy đi chăng nữa, mỗi ngày bạn cũng phải đi qua 1440 phút.  Vậy bạn muốn sở hữu 1440 khoảnh khắc bình an, tự tại hay là 1440 nỗi âu lo, sợ hãi???

Br. Huynhquảng

*******************************

Lạy Chúa, 
hôm nay con bỗng sợ nhiều thứ
sợ thời gian, sợ chặng đường phía trước…
Con sống trong tâm trạng hoang mang
thấy bóng tối cứ bao phủ lấy con.
Con vùng vẫy và muốn tìm lối thoát
thực sự là con rất sợ!

Chúa biết con đã cố gắng nhiều và đã yêu mến nhiều
đã vui nhiều và cũng đã buồn nhiều
thất bại nhiều và khờ dại cũng nhiều…
Nhưng Chúa biết, trong mọi sự con đều cố gắng với tình yêu
Khoác trên mình chiếc áo dòng, con muốn làm Vinh Danh Chúa
Muốn làm một tu sĩ đích thực của Chúa.

 Lạy Chúa, 
nhưng hình như con đã quy chiếu quá nhiều về mình
hình như trong con vẫn còn quá nhiều ngạo nghễ.
Con muốn học thật tốt và sống thật tốt,
con muốn mình làm gì thì kết quả cũng phải thật tốt.
Con muốn làm vinh danh Chúa,
nhưng hình như con cũng muốn làm vinh danh con…
Thế nên những thất bại làm con đau đớn ê chề
và những long đong vô định làm con sợ hãi.

Xin dạy con sống Thánh, bằng việc sống tốt giây phút hiện tại
và vượt qua sợ hãi, bằng việc không quá bận lòng về tương lai.
Xin cho con có sức mạnh của Chúa
để không khó khăn nào có thể khuất phục được con
Xin cho con luôn vững tin vào Chúa
rằng trong Chúa mọi sự đều có thể.
Và xin cho mỗi bước con đi, mỗi việc con làm
đều in đậm Tình Yêu nhưng không của Chúa.

 Quỳnh Trâm

KHÓ NGHÈO

Phật Thích Ca đã xác quyết trong bài thuyết pháp đầu tiên tại Bênarét bằng câu: Vạn sự vô thường, vạn sự khổ.  Nghĩa là mọi sự đổi thay không ngừng, nên mọi sự chỉ là khổ đau.  Sinh, bệnh, lão, tử.  Con người sinh ra để rồi ốm yếu, già lão và cuối cùng là chết chóc.  Rõ thật đời là bể khổ mà mỗi người là một cánh bèo trôi dạt trên đó.

Năm trăm năm sau, Đức Kitô xuất hiện trên đất Palestin, đã tuyên bố trong bài giảng đầu tiên: Phúc cho ai có tâm hồn khó nghèo, vì Nước Trời là của họ.

Một người bị mang tiếng là bi quan yếm thế, còn người kia thì lại bị coi là không tưởng, lạc quan thái quá.  Một bên coi đời là bể khổ, còn một bên lại nhìn thấy màu hồng trong cái thanh bạch trống trơn.  Người ta đã tốn khá nhiều giấy mực và thời giờ cũng như sức lực để nghiên cứu, suy tư và bàn cãi về hai bài giảng đầu tiên của Đức Phật và của Chúa Giêsu.  Đã có cả những luận án trình bày và so sánh về hai bài giảng đó.  Tuy nhiên, chẳng mấy ai hiểu được chính xác nội dung ý nghĩa của hai bài giảng có tính cách tiên tri ấy.  Vì thật ra, cả Đức Phật lẫn Chúa Giêsu, đều không chủ ý đề ra một lý thuyết về vấn đề hạnh phúc và đau khổ, mà chỉ chia sẻ cho anh em nhân loại của các Ngài chính kinh nghiệm sống của mình.

Kinh nghiệm của Đức Phật là kinh nghiệm của một người đã đạt tới chân nhu, vượt ra ngoài thế giới vô thường của những đam mê mù quáng, của sự phân chia đối kháng.  Còn kinh nghiệm của Chúa Giêsu là kinh nghiệm của một người thấy được sự tồn tại trong cái mất, và sự sống trong cái chết.  Đức Phật chỉ nói lên cái lý do, cái nguyên nhân làm cho người ta khổ, nhưng Ngài không bao giờ lên án cuộc đời, cho nó chỉ là bể khổ.  Chúa Giêsu cũng không bảo rằng muốn hạnh phúc thì phải là kẻ khố rách áo ôm.  Do đó, thánh Matthêu đã có lý khi thêm ba chữ “có tâm hồn” vào trong câu nói của Chúa, để xác định cho rõ cái nghèo nào mới thực sự đem lại hạnh phúc cho con người.  Trong cuộc đời, xưa cũng như nay, vào thời con người còn ăn lông ở lỗ cũng như trong thời ở khách sạn năm sao, vẫn luôn diễn ra những cảnh trái khoáy và ngược đời: nhiều người có đủ điều kiện để hạnh phúc mà thực tế lại đau khổ khôn lường.  Còn những kẻ xem ra bần cùng tăm tối, lại tràn trề hạnh phúc.

Thực ra, ai cũng biết rằng nghèo không đương nhiên là khổ, đã đành rằng nghèo và khổ thường đi đôi với nhau.  Trái lại, giàu có cũng không tất nhiên đem lại hạnh phúc.  Vấn đề hạnh phúc chủ yếu ở tại cái Tâm.  Bởi thế các bậc thánh nhân, bằng những ngôn ngữ khác nhau, nhưng hầu như đều nhất trí trong việc đề cao đời sống tâm linh.  Đó chính là lý do tại sao Chúa Giêsu đề cao tâm hồn nghèo khó, hiền hậu, dám chấp nhận đau khổ, yêu thích sự chính trực, thương xót anh em đồng loại, trong sạch và xây dựng hoà bình.

Thực vậy, những đức tính trên đây là những đức tính người nghèo của Thiên Chúa, theo truyền thống Kinh Thánh.  Người nghèo của Thiên Chúa không phải là người có đời sống vật chất khó khăn túng quẫn, mà là kẻ luôn tin tưởng phó thác nơi Chúa, biết sống cho Ngài và cho anh em đồng loại.  Lấy Chúa làm gia nghiệp và luôn sống trong tình liên đới với anh em.  Thực thi điều răn quan trọng nhất là mến Chúa và yêu người.

Nói theo tư tưởng Đông phương, thì hạnh phúc chủ yếu ở chỗ thực hiện được sự hoà điệu giữa lòng mình với lòng trời, giữa lòng mình với lòng người, nghĩa là sống cho hợp lòng người và lấy lòng trăm họ làm lòng mình.

Trong tám mối phúc thật, Chúa Giêsu cho thấy hạnh phúc của chúng ta tuỳ thuộc vào mối tương quan ba chiều giữa chúng ta với Thiên Chúa, và giữa chúng ta với anh em đồng loại.

Sưu tầm

*******************************************

Lạy Chúa, xin cho con luôn vui tươi.  Dù có phải lo âu và thống khổ, xin cho con đừng bao giờ khép lại với chính mình; nhưng biết nghĩ đến những người quanh con, những người – cũng như con – đang cần một người bạn.

Nếu như con nên yếu đuối, thì xin cho con biết yêu thương và sáng suốt hơn, thông cảm và nhân từ hơn.
Nếu bàn tay con run rẩy, thì xin giúp con luôn biết mở ra và cho đi.
Khi lâm tử, xin cho con biết đón nhận khổ đau và bệnh tật như một lời kinh.
Ước chi con sẽ chết trong khiêm hạ và tín thác, như một lời xin vâng cuối cùng.
Và con về nhà Chúa, để dự tiệc yêu thương muôn đời.  Amen!

CHÚA QUAN PHÒNG

Người ta hay kể câu chuyện sau đây để nói về sự quan phòng của Thiên Chúa:

Có hai người bộ hành lên đường đi đến một phương xa.  Họ dùng một con lừa để chuyên chở hành lý, và mang theo một chú gà cồ làm bạn.  Ban đêm đến họ đốt đuốc để soi đường.

Một trong hai người là một tín hữu rất đạo đức, luôn miệng nói: “Chúa là Ðấng tốt lành quan phòng mọi sự.”  Người kia thì cứng lòng tin.  Ông rất bực mình mỗi khi nghe người bạn đồng hành hơi một tí là cầu nguyện “phó thác cho Chúa lòng lành.”  Trước khi mặt trời lặn, họ đến một ngôi làng nhỏ.  Họ tìm một nơi để qua đêm.  Họ gõ cửa khắp nơi, nhưng không có ai đón tiếp họ.  Cuối cùng họ đành phải ra khỏi làng và tìm đến bìa rừng để qua đêm.  Trong cảnh màn trời chiếu đất, người bạn không có lòng tin mới thốt lên: “Nào, Chúa tốt lành của anh ở đâu rồi?”  Người kia bình tĩnh đáp lại: “Ðây là chỗ tốt nhất Chúa dành cho chúng ta ngủ qua đêm này.”

Ðêm đó, họ nằm ngủ dưới một gốc cây lớn nằm sát bìa rừng.  Họ cột chú lừa vào một gốc cây gần đó. Họ chưa kịp đốt lên ngọn đuốc thì một tiếng động mạnh từ xa vang lại.  Thì ra, chỉ trong chớp nhoáng, một chú sư tử đã đến cắn xé con lừa và mang đi.  Vừa thương tiếc cho chú lừa, vừa lo sợ cho thân phận của mình, hai người bộ hành chỉ còn biết leo lên cây để tránh tai họa.  Vừa tức giận, vừa mỉa mai, người bạn cứng lòng mới thốt lên: “Nào, Chúa quan phòng của anh còn tốt nữa không?”  Người tín hữu ngoan đạo dõng dạc tuyên bố: “Nếu con sư tử không bắt gặp con lừa trước, thì chắc chắn nó đã bổ nhào trên chúng ta rồi.  Tạ ơn Chúa là Ðấng tốt lành.”

Một vài phút sau, con gà cồ bỗng kêu la thất thanh.  Hai người bộ hành mới trèo cao hơn.  Họ nhận ra con gà cồ đang nằm trong nanh vuốt của một chú mèo rừng.  Họa vô đơn chí!  Chỉ vài phút sau đó, một cơn gió mạnh ùa đến, ngọn đuốc bỗng tắt ngụm đưa hai người vào trong cảnh tối tăm ghê rợn.  Lần này, người tín hữu ngoan đạo chỉ biết giữ thinh lặng trước lời xiên xỏ của người bạn không tin Chúa của mình.

Sáng hôm sau, hai người mon men trở lại làng để mua thức ăn.  Họ mới hay biết rằng đêm hôm đó một băng cướp đã đột nhập vào làng cướp của giết người.  Nhìn cảnh tượng hoang tàn của ngôi làng, người có lòng tin mới giải thích cho người bạn như sau: “Anh đã chứng kiến từ đầu đến cuối.  Giá như đêm hôm qua, chúng ta thuê được một chỗ trọ trong làng, thì có lẽ chúng ta cũng không thoát khỏi tay của bọn cướp.  Nếu cơn gió lớn không làm tắt ngọn đuốc của chúng ta, thì hẳn bọn chúng đã nhìn thấy chúng ta.  Bạn thấy chưa, trong tất cả mọi sự, Thiên Chúa luôn là Ðấng quan phòng tuyệt hảo.”

Thiên Chúa không muốn cho chúng ta gặp phải sự dữ.  Trong Cựu ước sự kiện thiên thần Raphael phù hộ cho ông Tobia trên đường đi cưới vợ, hay là Thiên Chúa có thể biến sự dữ thành điều lành cho chúng ta như trường hợp ông Giuse bị bán sang Ai Cập, tất cả nói lên sự quan phòng của Thiên Chúa.  Chúa Giêsu dùng hình ảnh con chim sẻ chẳng đáng mấy đồng, hay bông huệ ngoài đồng nay còn mai mất mà vẫn được Thiên Chúa chăm sóc, huống hồ là con người chúng ta…

Ngày đầu năm mới, người ta thường cầu chúc cho nhau mạnh khỏe, bằng an, hạnh phúc…  Những gì người ta đã có thì không cần chúc nữa.  Vậy thì khi cầu chúc cho người khác điều gì là cũng hàm chứa một chút lo lắng trong đó.  Chúng ta lo ngại người thân có thể gặp rắc rối vì bệnh tật nên mới chúc “mạnh khỏe.”  Vì chưa giàu đủ nên mới chúc “Phát tài”, sợ tai nạn hay chuyện này chuyện nọ xảy ra nên mới chúc “bình an.”  Mỗi lời chúc đều hàm chứa một phần sự thiện mà chúng ta ao ước và đồng thời cũng hàm chứa một “nỗi lo.”  Tuy nhiên lời Chúa hôm nay lại là tin vui cho chúng ta.  Bởi vì Chúa Giêsu cho chúng ta biết chúng ta có một người Cha là Thiên Chúa rất quyền năng mà lại nhân lành luôn quan tâm đến mỗi người đến độ một sợi tóc trên đầu rụng xuống Chúa cũng tính cả rồi.  Như vậy thì chẳng việc gì phải lo những chuyện không đâu, như là lo động đất, lo thiên thạch lao vào trái đất, lo tận thế…

Chớ lo lắng về ngày mai không có nghĩa là cứ nằm chờ sung rụng.  Các nhà tu đức dạy rằng: Cầu nguyện mà không hành động là sự xúc phạm đến Thiên Chúa.  Cũng như một người bị bệnh cầu xin Chúa chữa lành cho mình mà không thèm sử dụng những phương thế y học mà Thiên Chúa đã ban cho con người khám phá ra…

Tin vào Chúa quan phòng, chúng ta yên tâm mạnh dạn sắp xếp chương trình sống cho gia đình của mình trong đó ưu tiên cho việc kiếm tìm Nước Thiên Chúa.  Ưu tiên cho việc cầu nguyện và các việc đạo đức thay vì dành hết tất cả thời gian cho công việc làm ăn mà thôi.  Ưu tiên cho việc kiếm tìm Nước Thiên Chúa cũng có nghĩa là chúng ta phải dám hy sinh chấp nhận một phần thiệt thòi nào đó về vật chất, dành một phần kinh phí cho việc đạo thay vì sợ tốn tiền xăng rồi không dám đi lễ…

Để kết thúc, chúng ta tin tưởng nhắc lại lời Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI trong phần mở đầu sứ điệp Hòa Bình: “Năm mới luôn mang lại cho chúng ta niềm hy vọng về một thế giới tốt đẹp hơn.  Trong ánh sáng này, tôi nguyện xin Thiên Chúa, là Cha của nhân loại, ban cho tất cả chúng ta sự hoà thuận và bình an để những khao khát của chúng ta về một đời sống hạnh phúc và thịnh vượng có thể được thành tựu.”

Lm. Giuse Nguyễn Văn Khánh

 ********************************************

Lạy Chúa, xin Chúa hướng dẫn chúng con trong năm mới này.  Xin cho chúng con tìm thấy niềm vui thay vì thất vọng, tìm thấy bình an trong công việc bận rộn, tìm thấy hy vọng trong thất bại, tìm thấy giải pháp cho vấn đề của chúng con. 

Xin cho chúng con trong năm mới này: khám phá ra ý nghĩa mới trong công việc, tìm được ý hướng cao quý trong mục tiêu và có hướng đi kiên định trong đời sống. 

Xin cho chúng con: khởi đầu năm mới cùng với Chúa, biết dùng thời gian như món quà quý giá Chúa dành cho con, biết sử dụng mỗi ngày của năm mới này để nhiệt tình phục vụ anh chị em con.  Amen!

 HIẾU THẢO VỚI ĐẤNG SÁNG TẠO

Hôm nay là ngày đầu năm, mọi người đều vui mừng phấn khởi chào đón ngày Xuân Mới.  Giờ đây chúng ta, các tín hữu của Chúa, dành giây phút đầu tiên của Năm Mới, để thể hiện lòng hiếu thảo đối với Đấng đã sáng tạo Vũ trụ vạn vật, cho chúng ta.

Các bài Thánh Kinh trong ngày đầu năm hôm nay, nhắc nhở chúng ta: Hãy thể hiện lòng hiếu thảo với Đấng Sáng Tạo bằng cách: Tạ ơn Chúa thường xuyên và sống một đời sống mới.

Trước hết, chúng ta hãy tạ ơn Chúa vì Ngài đã dựng nên Mặt Trời, Mặt Trăng và các vì Sao để phân rẽ ánh sáng và bóng tối, ngày và đêm.  Tất cả các tạo vật Chúa dựng nên, đều nhằm mục đích là phục vụ và nuôi sống loài người chúng ta.  Việc tạ ơn là cử chỉ không thể thiếu được của những người con hiếu thảo đối với Đấng sáng tạo.  Tạ ơn Chúa cũng là thái độ của những người biết “Uống nước nhớ nguồn” theo bản sắc đạo đức của người Việt Nam.

Tiếp theo, chúng ta hãy nghe lời Thánh Phao lô nói với tín hữu ở Philipphê: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa.  Tôi nhắc lại: Vui lên anh em!  Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa, rộng rãi, Chúa đã gần đến.  Anh em đừng lo lắng gì cả.  Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giải bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện:”

Bởi vì “Bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Kitô Giêsu.

Ngoài ra, thưa anh em, những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy để ý” (Pl 4, 4-9).

Để tạ ơn và tỏ lòng hiếu thảo với Thiên Chúa, anh chị em hãy sống chân thật và công bằng chính trực trong mọi hoàn cảnh.  Đồng thời làm trong sáng cho mọi người chung quanh bằng lời nói và việc làm.  Hãy sống đức hạnh và giữ vững phẩm giá cao quý của người Kitô hữu, là môn đệ của Chúa Kitô, Đồng thời, anh chị em hãy ghi nhớ, suy niệm và thực hành lời Chúa Kitô:

“Đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc.  Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao, nhưng “trước hết hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.  Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo” (Mt 6, 25-34).

Chúa Kitô muốn tất cả anh chị em hãy tin tưởng tuyệt đối vào tình thương vô biên của Thiên chúa; tin vào sự quan phòng của Ngài.

Trong thực tế, nhiều người ngày nay chưa hiểu biết, nên chỉ đón nhận của ăn vật chất, mà không đón nhận của ăn tinh thần.  Vì quá chú trọng của ăn vật chất, nên đã dành cả cuộc đời để lo tích lũy kho tàng dưới đất, mà không lo tích lũy kho tàng trên trời.  Họ đã quá lo lắng về của cải vật chất, nên đã dùng mọi mưu chước, gian dối, lừa lọc, bất công, bóc lột người khác để làm giầu, hầu bảo đảm cho cuộc sống thể xác ở đời này.  Trong khi đó, của ăn vật chất chỉ nuôi đời sống thể xác chúng ta trong khoảng 100 năm; còn của ăn tinh thần thì nuôi sống chúng ta trường sinh trong Nước Trời.

Trong giờ phút linh hiêng của ngày đầu năm, chúng ta tham dự Bữa tiệc thánh để đón nhận của ăn tinh thần do Chúa tặng ban: Đó là Ơn Chúa, Lời Chúa và Mình Máu Chúa.

Chúng ta hãy biết quý trọng của ăn tinh thần hơn của ăn vật chất; hãy thường xuyên tham dự Thánh lễ để đón nhận của ăn tinh thần.  Đồng thời anh chị em hãy tin tưởng, ghi nhớ và thực hành Lời Chúa dạy trong suốt cuộc đời: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6, 33).

Cầu chúc anh chị em luôn tạ ơn Thiên Chúa và giữ trọn lòng hiếu thảo với Ngài, biết lắng nghe và thực hành Lời Ngài dạy, để được Ngài ban tràn đầy hạnh phúc trong năm mới.

Lm. Giuse Hoàng Kim Đại