VỊ CỨU TINH NHÂN HẬU

Đến với miền đất bị xa lánh

Sau những công việc tại Giêrusalem – xua đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ, đàm đạo với Nicôđêmô về cuộc sống mới – Đức Giêsu lên đường trở lại miền Galilê.

Trong cuộc hành trình này, Đức Giêsu đã không theo con đường người Do-thái vẫn đi là tránh băng qua miền Samari.  Từ thời đế quốc Át-xy-ri, người Do-thái và người Samari vẫn kình địch nhau, không giao du với nhau, mỗi miền có đền thờ riêng.  Đức Giêsu biết điều đó và việc Người có mặt tại miền Samari không phải là chuyện tình cờ.  Người có sứ mạng đến với mọi dân, mọi nước để đưa họ về với Thiên Chúa.  Người là Đền Thờ mới, và Đền Thờ này được dành cho tất cả mọi người.  Người là Đấng quy tụ nhân loại, nên chính Người sẽ phá vỡ những rào cản đang phân rẽ nhân loại.  Tình yêu cao cả đã buộc Đức Giêsu phải có mặt tại Samari, miền đất thù nghịch với người Do-thái.

Đức Giêsu đã đến Samari như một người thừa sai, một người luôn có những ý nghĩ tốt đẹp về người khác.  Như vậy, không một miền đất nào bị bỏ quên; không một người nào lại không được Người nhớ đến, dù kẻ đó có thế nào chăng nữa.

Để hiểu rõ điều này, có thể so sánh thái độ của Đức Giêsu với thái độ của các môn đệ.  Một làng thuộc Samari từ khước tiếp nhận Đức Giêsu vì Người đang hành hương lên Giêrusalem.  Thấy thế, Gia-cô-bê và Gio-an đã bày tỏ phản ứng của “con sấm sét”: “Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó không?” (Lc 9,54).  Đức Giêsu lập tức quay lại và khiển trách các ông.  Người đã tránh sang một làng lân cận.  Người muốn đánh dấu lần Người đi qua cõi thế này bằng những hành vi nhân hậu, chứ không phải bằng những lần nổ bùng lòng báo thù, và Người tìm cách ghi khắc cách xử sự này vào lòng các môn đệ.

Quả thế, Đức Giêsu đã đến trần gian để tạo nên một sự gắn bó, để kéo nhân loại và vũ trụ đến với Người.  Đức Giêsu đi bước trước, nhưng Người không xuất hiện với những nét của một kẻ chinh phục đến thiết lập sự thống trị của mình, hoặc của một kẻ tuyên truyền rêu rao để áp đặt những ý tưởng của mình.  Điều Đức Giêsu trao ban trước tiên, đó là trái tim, và Người muốn nhận lại trái tim của người khác.  Người đến với tư cách là một người bạn, một Đấng Cứu Thế, chứ không phải với tư cách quan tòa đến xử án (xem Ga 3,17; 12,47).

Những tiến trình gặp gỡ

Cuộc nói chuyện dài giữa Đức Giêsu và người phụ nữ Samari là những cấp độ tiến triển về mặc khải, về thiêng liêng mà điểm kết thúc là người phụ nữ nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu Tinh.

Phản ứng đầu tiên của người phụ nữ khi nhìn thấy Đức Giêsu bên bờ giếng, nghe Người xin nước uống, là câu nói về dòng giống.  Nhưng câu trả lời của Đức Giêsu cho chị hiểu rằng, ngay vào lúc này, Người là Đấng ban ơn chứ không phải là người nhận ơn.  Chính chị mới là kẻ cần đến sự giúp đỡ của Người (x. Ga 4,10-11).

Khởi đầu, người phụ nữ chỉ coi Đức Giêsu như một người bộ hành mệt nhọc, đang cần nước uống, chứ không thấy được con người sâu xa của Người: chị thấy Đức Giêsu là người Do-thái, không biết Người là Con Thiên Chúa; chị thấy một con người mỏi mệt chứ không phải là người nâng đỡ những tâm hồn yếu nhược; chị nhìn thấy con người đang cần nước chứ không biết rằng chỉ mình Người có khả năng làm dịu cơn khát của trần gian.

Sau khi nghe câu trả lời của Đức Giêsu, tuy chưa hiểu rõ hơn về Người, nhưng chị cũng tỏ lòng kính trọng.  Chị đổi cách xưng hô: “Thưa Ngài.”  Tâm trí chị chưa vượt qua khỏi những quan niệm bình thường, chị vẫn nghĩ đến thứ nước uống tự nhiên, và mong muốn người đang đối thoại với chị cho chị thứ nước ấy, để chị khỏi phải đi múc.

Đến đây, Đức Giêsu đề cập đến điều bí ẩn nhất của tâm hồn chị.  Người gợi lại đời sống của chị, không phải với cái nhìn từ trên cao hay với ánh mắt coi rẻ như một số người đàng hoàng trong đám dân Samari vẫn dành cho chị, nhưng là với tấm lòng muốn hòa giải chị với người chồng, và giúp chị tiếp tục lại cuộc sống chung với chồng.  Chỉ khi ấy chị mới có thể lãnh nhận nước trường sinh, và thay vì phải nô lệ một tình yêu bị cấm đoán, chị dấn thân vào tình yêu cao cả, và nhận được vẻ kiều diễm Đức Giêsu muốn ban cho chị.  Cần phải thay đổi nếp sống, phải dẹp bỏ mọi trở ngại, phải chân thành mới có thể đón nhận ơn cứu độ.

Một lần nữa, người phụ nữ lại đổi cách xưng hô với Đức Giêsu; chị coi Người là ngôn sứ.  Đồng thời, chị đổi sang đề tài tôn giáo.  Và với vấn đề này, Đức Giêsu cũng đưa chị đến nguồn mạch sâu xa, đến vương quốc sự thật rất rộng lớn.  Để đáp lại câu nói của người phụ nữ về Đấng Mê-si-a, Đức Giêsu đã xác nhận: “Đấng ấy chính là Ta, người đang nói với chị đây.” (Ga 4,26).

Từ nay, trung tâm của việc tế tự không phải là Giêrusalem, cũng không phải là núi Ga-ri-zim, nhưng chính là Đức Kitô.

Và giai đoạn cuối cùng đã đến.  Người phụ nữ nói với người khác về Đức Giêsu, chị nhận Người là Đức Kitô.  Chị không hề kể cho những người đồng hương về vấn đề thờ phượng Thiên Chúa, nhưng chị nói rõ những điều Người đã nói về đời sống của chị, cả những tội lỗi còn giấu kín.  Chị nói lên điều mà người ta nghĩ rằng chị nên giấu đi.  Người phụ nữ Samari thực là một trong những người truyền giáo đầu tiên của Kitô giáo.  Nhiều người đã tin lời chị.

Người phụ nữ đến giếng để múc nước, nhưng khi tìm được Nguồn mạch đích thực, chị đã bỏ lại vò nước, như các môn đệ đã từng bỏ lại lưới và thuyền.

Từ một người xa lạ, chị đã trở thành môn đệ của Đức Kitô.  Từ nhận xét ban đầu: người ngồi bên bờ giếng là người Do-thái, chị đã nhận ra người ấy là Đức Kitô, là Đấng Cứu Tinh.

Một kinh nghiệm cho mọi người

Người phụ nữ Samari đã nhận ra Đức Giêsu.  Ở đây không phải là một phép lạ có tính cách hữu hình; không là việc chữa lành bệnh, không là việc làm cho sáng mắt.  Điều kì diệu đã xảy ra nơi tâm hồn tội lỗi của người phụ nữ.  Qua việc giải thoát tâm hồn khỏi tội lỗi, Đức Giêsu đã nhận được tước hiệu vinh quang, mặc dù Người chưa chịu treo trên thập giá.

Tước hiệu vinh quang: “Vị Cứu Tinh của trần gian” không phải chỉ là cảm nghiệm riêng của người phụ nữ, nhưng còn là của cả một đám đông dân chúng.  Họ đã nghe câu chuyện người phụ nữ thuật lại và họ đã đến gặp Đức Giêsu, đã nghe lời Người giảng dạy và đã tin.

Như vậy, cây thập giá vẫn hiện diện trong suốt cuộc đời Đức Giêsu, và đã đem lại hậu quả trước khi Người bị treo lên.

Và Đức Giêsu đã quên hẳn cơn khát, quên cả sự mệt nhọc.  Người đã bắt đầu chu toàn sứ mệnh của Người khi hướng dẫn người phụ nữ tội lỗi đến đức tin, thay đổi lối sống: đưa về cho Chúa Cha những người biết thờ phượng theo thần khí và sự thật.  Hình ảnh đám đông người Samari đến gặp Đức Giêsu lại không phải là hình ảnh báo trước rằng Tin Mừng sẽ được loan báo đến tận cùng cõi đất?

Đức Giêsu đã có mặt tại Samari với tư cách của một Vị Cứu Tinh đầy nhân hậu.  Người đã đến để cứu vớt, để xoá bỏ những hận thù, để mặc khải những điều sâu xa.  Tại đó, Người đã kiên nhẫn thuyết phục người phụ nữ phóng túng về hạnh kiểm.  Trong câu chuyện này, lòng nhân hậu của Người thật là một an ủi, một nguồn mạch dịu mát cho tất cả những ai đang mang trong lòng những phiền muộn, những thất bại và cay đắng.

Hãy đến gặp Đức Giêsu
hãy thưa chuyện với Người
để thấy rằng mình được yêu thương.
Người đang chờ…
Hãy nghe lời Người nói:
Nếu anh, nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban

Lm. Nguyễn Cao Luật

KHI BẠN CẦU NGUYỆN: NÂNG NHAU LÊN TRONG MÙA CHAY

Một người vợ chẩn đoán bị ung thư.  Một người con rời khỏi Giáo Hội.  Một đồng nghiệp bị nhập viện sau một cú va chạm trên xa lộ.  Một người thân cận mất việc làm.  Hàng triệu người ngủ mà không có của ăn, không được chăm sóc y tế, và không nhà cửa.  Hàng ngàn phụ nữ trẻ bị buộc lao vào tình trạng nô lệ tình dục.  Một đất nước từ chối quyền sống của một thai nhi.  Toàn thể người dân chịu sự thống trị của một bạo chúa.

Có quá nhiều nỗi thống khổ trên thế giới tưởng chừng như không thể vượt thắng được.  Nhưng rồi Kinh Thánh lại dạy chúng ta hãy có niềm hy vọng vì điều dường như không thể đối với chúng ta lại có thể đối với Thiên Chúa (Lc 18:27).  Đây rõ ràng là lý do vì sao việc cầu nguyện chuyển cầu lại trở nên quá giá trị.  Và đây là lý do vì sao chúng ta muốn nhìn đến lời chuyển cầu trong Mùa Chay này.

Giá Trị Của Sự Chuyển Cầu

Chuyển cầu không giống với việc thờ phượng, việc soi sáng thiêng liêng, hay tạ ơn.  Đó không chỉ là việc cầu nguyện cho những người đang cần giúp đỡ.  Chuyển cầu là một sự kết hợp của việc xin Thiên Chúa đi vào một hoàn cảnh khó và việc tin rằng Chúa sẽ giải quyết gian khó ấy.

Bạn có muốn biết việc cầu nguyện chuyển cầu quan trọng thế nào đối với Thiên Chúa không?  Chỉ cần nhìn vào Kinh Lạy Cha có lẽ là tất cả mọi điều bạn cần.  Trong lời kinh ấy, Chúa Giêsu dạy chúng ta xin nhiều điều quan trọng: cho người ta thấy vinh quang của Thiên Chúa và thờ phượng Người; cho người ta được đón nhận kế hoạch của Thiên Chúa; để Thiên Chúa ban cho chúng ta lương thực hằng ngày, tha thứ tội lỗi, và bảo vệ chúng ta khỏi sự dữ.  Còn gì nữa, theo Thánh Luca, Chúa Giêsu đính kèm với lời cầu nguyện này bằng lời hứa là nếu chúng ta xin, thì chúng ta sẽ nhận lãnh (Lc 11:9).

Việc chuyển cầu là quá giá trị đến nỗi chính Chúa Giêsu cũng cầu nguyện cách này.  Trong Bữa Tiệc Ly, chỉ vài giờ trước khi Ngài chịu chết, thì Ngài đã cầu nguyện cho các tông đồ của Ngài và cho chúng ta: bảo vệ chúng ta, ân sủng để chiến thắng cơn cám dỗ, thánh hoá chúng ta, và sự hiệp nhất của chúng ta (Ga 17:9-21).

Rõ ràng, lời cầu nguyện chuyển cầu không phải là một việc thiêng liêng hạng hai.  Đặc biệt là trong mùa đầy ân sủng như Mùa Chay, chuyển cầu có thể là một vũ khí mạnh mẽ chống lại tội lỗi, và sự sợ hãi ở nơi những người thân yêu của chúng ta và trong thế giới.

Sự Kiên Định

Sự kiên định là trung tâm của việc cầu nguyện chuyển cầu.  Người liên lỉ sẽ dành được sự chú ý của Thiên Chúa.  Chẳng phải đây là điều mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta qua dụ ngôn người bạn kiên định sao (Lc 1:5-13)?  Vào giữa đêm, một người thân cận đến xin giúp đỡ, nhưng người kia thì không muốn đi ra khỏi giường.  Bất chấp sự kháng cự của ông, cuối cùng thì người kia cũng ra khỏi giường và giúp người hàng xóm của ông – vì sự kiên định của người hàng xóm của ông.  Cùng một cách, Chúa hứa rằng nếu chúng ta kiên định trong việc cầu nguyện chuyển cầu của chúng ta, thì Thiên Chúa sẽ đáp trả.

Hai câu chuyện khác từ Kinh Thánh cũng dạy cùng một thông điệp tương tự.  Một là câu chuyện dụ ngôn về một bà góa đã đến khẩn xin ông thẩm phán cho đến khi ông ta chấp nhận yêu cầu của bà thì thôi.  Chúa Giêsu nói với những người nghe Ngài rằng ông quan tòa không nhất thiết phải quyết định theo hướng có lợi cho bà vì bà đúng; mà chỉ vì bà ấy làm cho ông ta mỏi mệt (Lc 18:1-8).

Câu chuyện còn lại là một cuộc gặp gỡ thật sự mà Chúa Giêsu có với người phụ nữ Ca-na-an (Mt 15:21-28).  Con gái của bà đang cần chữa lành, nhưng vì bà là một người dân ngoại, nên Chúa Giêsu gần như là không sẵn lòng giúp.  Bất chấp việc nghe thấy Chúa Giêsu coi dân của bà như những con chó, bà vẫn kiên định.  Bà đã không bị từ chối.  Sau cùng, Chúa Giêsu đồng ý “Này bà, niềm tin của bà mạnh thật!” (15:8).  Những câu chuyện này thật đơn giản nhưng rõ ràng: hãy nhẫn nại!

Chúa Giêsu Chuyển Cầu Cho Chúng Ta

Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Ngài rằng các ông sẽ bỏ Ngài trong giờ Ngài cần giúp đỡ.  Rồi Ngài quay sang Phê-rô và nói, “Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin.  Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho các anh em của anh nên vững mạnh” (Lc 22:32).  Ngài biết Phê-rô sẽ cần đến sự trợ giúp của Thiên Chúa sau khi ông từ chối là biết Chúa Giêsu, và Ngài đã cầu nguyện cụ thể cho sự trợ giúp ấy.

Chúa Giêsu không chỉ cầu nguyện cho Phê-rô hay các tông đồ.  Trong Thư Gửi Tín Hữu Do Thái, chúng ta đọc thấy rằng Ngài “sống mãi mãi để chuyển cầu” cho mỗi người chúng ta (7:25).  Hãy ghi lại hình ảnh này: Chúa Giêsu, giờ đây đã sống lại trong vinh quang và vẻ đẹp của Thiên Đàng, đang dành toàn bộ thời gian của Ngài – mãi mãi – để cầu nguyện cho chúng ta.  Ngay bây giờ, Ngài đang cầu nguyện cho bạn và cho những người thân yêu của bạn.

Theo cùng một cách thế, chúng ta là những người Công Giáo được dạy ngay từ rất sớm là hãy xin Mẹ Maria “chuyển cầu cho chúng con trong giờ lâm tử.”  Chúng ta tin rằng Đức Đồng Trinh Maria có một vai trò chuyển cầu đặc biệt trên thiên đàng.  Giống như bất cứ một người mẹ tốt lành nào, Mẹ có thể bước vào căn phòng của con trai mình bất cứ lúc nào và xin sự trợ giúp của Ngài.  Mẹ biết những thách đố và những vết thương và những nhu cầu của con cái Mẹ, và Mẹ hằng tiếp tục cầu nguyện cho họ.  Và giống như bất cứ một người mẹ tốt lành nào, Mẹ an ủi chúng ta khi chúng ta cầu nguyện cho những người thân yêu của chúng ta.  Mẹ tái đảm bảo với chúng ta rằng Mẹ ở cùng chúng ta, cầu nguyện ngay cạnh chúng ta.

Đây không phải là những sự thật ủi an sao?  Chúa Giêsu đã hứa rằng nếu chúng ta xin, thì chúng ta sẽ lãnh nhận.  Ngài đã hứa rằng nếu chúng ta kiên định trong việc cầu nguyện của chúng ta, thì chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa hành động.  Và Ngài hứa rằng Ngài sẽ cùng chúng ta, cùng với Mẹ của Ngài, trong việc cầu nguyện cho hết mọi nhu cầu và bận tâm mà chúng ta dâng lên Ngài.  Chúng ta không bao giờ đơn độc trong cầu nguyện!

Ý Muốn Nhiệm Mầu Của Thiên Chúa

Nhưng chúng ta sẽ nói, “Tôi kiên định.  Nhưng tại sao một số lời cầu nguyện của tôi lại không được đáp trả?”  Đây là một trong những mầu nhiệm lớn lao của niềm tin nơi chúng ta.  Chúng ta biết rằng Chúa Giêsu luôn yêu thương chúng ta.  Chúng ta biết rằng Ngài không muốn thấy bất cứ ai đau khổ.  Nhưng chúng ta không luôn thấy những đáp trả cho những lời nguyện cầu của chúng ta, bất luận là ý hướng tốt lành thế nào và chúng ta đang kiên định cỡ mấy.  Câu trả lời tốt nhất chúng ta có thể mang lại là Thiên Chúa luôn đáp trả lời cầu nguyện của chúng ta, nhưng chúng ta không luôn biết cách nào và khi nào.

Joe Difato, nhà xuất bản của tạp chí này, là một gương của sự nhẫn nại.  Ông có một cô con gái lớn bị mù kể từ khi cô bé lên bốn.  Joe cầu nguyện thường xuyên cho con gái mình được chữa lành.  Giống như bất cứ người cha mẹ nào, ông muốn con gái ông sáng mắt.  Đồng thời, ông thấy chính bản thân mình bị thoái lui vào khả năng là con gái ông sẽ luôn mù.  “Tôi tin rằng Chúa Giêsu muốn chữa lành con gái tôi, và tôi cầu xin điều này”, ông nói.  “Nhưng con gái tôi vẫn cứ mù.  Đôi khi tôi mất niềm hy vọng là con gái tôi sẽ sáng mắt.  Đôi khi tất cả mọi điều tôi có thể làm là nỗ lực kiên định bất chấp sự hoài nghi của tôi.”

Bốn Mươi Ngày Cầu Nguyện

Trước sự bất lực của chúng ta để hiểu trọn vẹn ý muốn của Thiên Chúa, thì cách duy nhất là chúng ta tiếp tục tiến bước trong niềm tin của mình bằng việc kiên định.  Cách duy nhất để tiến bước là tin rằng Thiên Chúa sẽ đáp trả lại lời cầu nguyện của chúng ta theo sự khôn ngoan của Ngài và theo thời gian của Ngài.

Vì thế, khi Mùa Chay bắt đầu, tại sao lại không đặt ra một danh mục cầu nguyện của riêng chúng ta?  Hãy nghĩ về những người mà bạn biết là đang đau đớn, bất luận về thể lý hay tinh thần.  Hãy nghĩ về một hoặc hai hoàn cảnh trên thế giới đang lôi cuốn sự chú ý của bạn nhất – nạn dịch virus corona – và thêm chúng vào danh mục của bạn.  Rồi hãy nhìn vào danh mục mỗi ngày và cầu nguyện cho những nhu cầu này.

Chớ gì tất cả chúng ta “cầu nguyện không ngừng” trong Mùa Chay này (1 Tx 5:17).  Ai mà biết?  Có khi vào Chúa Nhật Phục Sinh, Thiên Chúa sẽ cho chúng ta một câu trả lời đặc biệt cho một trong những lời cầu nguyện sâu thẳm nhất của chúng ta cho ai đó trên danh mục của chúng ta!

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ The Word Among Us)

NÚI TABOR HÔM NAY

Chúa Giêsu dẫn các môn đệ đi Giêrusalem.  Trên đường, Chúa lên một ngọn núi để cầu nguyện.  Có lẽ đó là núi Tabor ở Galilê.  Có ba môn đệ thân tín theo Chúa.  Chúa đã hiển dung trước mặt các ông.

Trước núi Tabor, Chúa Giêsu đã từng lên hai ngọn núi khác.  Trước hết là Chúa giảng Hiến Chương Nước Trời trên núi quen gọi là núi Bát Phúc.  Sau khi cho hoá bánh ra nhiều nuôi dân, họ muốn tôn Chúa làm vua, Chúa đã lên núi cầu nguyện một mình.  Sau núi Tabor, Chúa cũng lên hai ngọn núi khác: núi Sọ là nơi Chúa chịu chết trên thập giá và núi Ôliu là nơi Chúa từ biệt các môn đệ mà lên trời.  Có thể nói núi Tabor đã được chuẩn bị bằng hai ngọn núi trước và chuẩn bị cho hai ngọn núi sau.  Hiển Dung là cao điểm của cuộc đời rao giảng và là khởi điểm của cuộc Vượt Qua.

Người xưa tin rằng Thiên Chúa ở trên trời; núi cao, nên gần trời; vì thế người ta lên núi sẽ dễ gặp Chúa hơn.  Tổ phụ Abraham lên núi hiến tế Isaac.  Ông Môsê lên núi nhận bia giao ước.  Ngôn sứ Êlia lên núi gặp Thiên Chúa.  Thực tế là lên núi dễ gặp Chúa hơn thật:

– Thanh vắng, yên tĩnh, xa gia đình, bạn bè, phố chợ;

– Trên cao, thấy rõ công trình của Thiên Chúa trong thiên nhiên hùng vĩ hơn: mặt trời, bầu trời, trăng sao, núi sông, bình minh, hoàng hôn…

– Trên cao, thấy công trình của con người nhỏ bé hơn, vì thế dễ từ bỏ hơn.

Lên núi là điều không dễ, nhưng đem lại cho chúng ta những niềm vui mà chỉ những ai lên núi mới cảm nghiệm được.  Hôm nay Chúa Giêsu vẫn mời gọi chúng ta lên núi để chiêm ngắm Chúa hiển dung: ngay bên cạnh chúng ta, Chúa vẫn đang yêu thương người đau khổ, tha thứ cho kẻ tội lỗi, hy sinh cho người mình yêu.  Đồng thời Chúa cũng mời gọi chúng ta trở nên núi Tabor mới để Chúa hiển dung.  Thánh Phaolô kêu gọi các tín hữu mặc lấy Đức Kitô, trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô.  Trong cuộc Vượt Qua, khuôn mặt thể lý của Chúa không còn hình dạng con người, nhưng khuôn mặt của Thiên Chúa tình yêu lại chói sáng trước mắt mọi người trong mọi thời đại.

Một thường dân Nhật Bản được Nhật Hoàng mời vào hoàng cung dùng cơm chung vì đã lấy máu mình vẽ chân dung Nhật Hoàng.  Chúa Giêsu lấy máu mình để vẽ chân dung Thiên Chúa và được hưởng vinh quang Phục Sinh.  Xin Chúa giúp chúng ta dùng cuộc sống của mình để vẽ chân dung Chúa trong thế giới hôm nay.

ĐGM Cosma Hoàng Văn Đạt

KÍN ĐÁO ĂN CHAY VÀ CẦU NGUYỆN

Triết gia David Hume từng phân biệt giữa cái ông gọi là đức hạnh chân thật, và cái ông đặt tên là đức hạnh giống tu sĩ.  Ông nói, đức hạnh chân thật là những phẩm chất bên trong chúng ta mà có ích cho người khác và bản thân chúng ta.  Còn các đức hạnh giống tu sĩ là những phẩm chất không nâng cao đời sống con người, đối với xã hội cũng như bản thân người thực hành những phẩm chất đó.  Ông liệt kê các đức hạnh giống tu sĩ như việc sống độc thân, ăn chay, sám hối, hành xác, tiết dục, nhún nhường, thinh lặng và cô tịch.  Ông chứng minh những điều đó chẳng đóng góp gì cho xã hội và thậm chí còn làm giảm đi sự tốt lành thịnh vượng của con người.  Do vậy, ông quả quyết rằng những điều đó bị chối bỏ bởi “những người hiểu biết.”  Điều này xem ra khó nghe đối với người có đạo.

Nhưng những gì tiếp theo đó còn khó nghe hơn.  Những người thực hành những đức hạnh giống tu sĩ phải trả một giá đắt, ông nói, sức khỏe của họ không tốt và họ bị loại ra khỏi cộng đồng con người: con người nhiệt tình nông nổi và ảm đạm đó, sau khi chết, có thể có tên ghi trong cuốn lịch, nhưng khi còn sống thì khó có thể được ai chấp nhận vào vòng thân thuộc và vào xã hội, trừ những người cũng mê sảng và chán ngắt như vậy.

Mặc dù điều này nghe tàn nhẫn, nhưng nó mang một lời cảnh cáo lành mạnh, nhắc lại rõ ràng điều Chúa Giê-su đã nói khi người cảnh cáo chúng ta phải kín đáo ăn chay, cầu nguyện, đừng có mang bộ mặt ảm đạm tu hành khổ hạnh, bảo đảm rằng lòng mộ đạo của chúng ta không quá lộ liễu trước đám đông.  Nếu Chúa Giê-su có nói rõ ràng về điều gì, thì đây chính là điều người đã nói rõ.

Tại sao?  Tại sao chúng ta phải tránh mọi việc phô diễn trước đám đông về việc ăn chay, tu hành khổ hạnh, và cầu nguyện riêng tư của chúng ta?

Một phần cảnh cáo của Chúa Giê-su là chống thói đạo đức giả và giả dối, nhưng còn hơn vậy nữa.  Vấn đề là việc bên ngoài chúng ta trông như thế nào và chúng ta được cảm nhận ra sao.  Khi chúng ta bộc lộ sự khổ hạnh và mộ đạo trước đám đông, dù có chân thành đi nữa, thì điều chúng ta muốn toát ra và điều người khác cảm nhận về chúng ta (mà không chỉ là những David Humes của thế giới này) là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.  Chúng ta có thể bày tỏ đức tin vào Chúa và sự trung tín đối với những gì vượt xa hơn kiếp sống này, nhưng những người khác dễ dàng diễn giải quan điểm và hành động của chúng ta như một tình trạng yếu đuối, u sầu, phiền muộn, khinh khi những chuyện thông thường, và là một sự bù đắp chẳng-đáng-kể-gì cho việc phải mất đi sức sống.

Và đó chính xác là điều ngược lại với những gì chúng ta cần tỏ ra.  Tất cả các đức hạnh giống tu sĩ (mà chúng là những đức hạnh thật sự) nhằm làm cho tâm hồn chúng ta mở ra để tiếp cận thân mật sâu sắc hơn với Chúa và vì vậy, nếu lời cầu nguyện và tu hành khổ hạnh là lành mạnh, thì những gì chúng ta sẽ tỏ ra chính là an mạnh, vui vẻ, thương yêu thế giới này, và cảm nhận những niềm vui bình thường của cuộc sống là phước lành Chúa ban.

Nhưng không dễ gì làm được điều đó.  Chúng ta không toát ra được đức tin của mình nơi Chúa và toát ra là đang an mạnh bằng cách chấp nhận một cách không suy xét hay hô hào cổ vũ mọi nỗ lực để vui vẻ của thế giới này, cũng không phải bằng cách gượng cười giả tạo trong khi sâu thẳm bên trong chúng ta đang khó lòng kiểm soát được trầm uất.  Chúng ta toát ra đức tin nơi Chúa và an mạnh qua việc toát ra tình thương, bình an và thanh thản.  Và chúng ta không thể làm điều đó nếu toát ra sự khinh khi đối với cuộc sống hay đối với cái cách những con người bình thường kiếm tìm hạnh phúc trong cuộc sống này.

Và đó là một thách thức khó khăn, đặc biệt ở thời buổi này.  Trong một nền văn hóa như nền văn hóa này, chúng ta dễ dàng nuông chiều bản thân mình, thiếu hiểu biết sâu sắc về sự hy sinh, đắm chìm trong đời sống và bản thân đến mức đánh mất tất cả ý thức về cầu nguyện, và sống không hề tiết dục chút nào, đặc biệt về mặt tình cảm.  Bên cạnh những chuyện khác, chúng ta còn thấy điều đó trong căn bệnh bận rộn của mình, trong tình trạng mất khả năng duy trì đời sống cầu nguyện riêng tư, ngày càng mất đi năng lực trung tín với những gì mình cam kết, và với những nỗ lực gắng gỗ chống lại mọi thể loại nghiện ngập: thức ăn, rượu chè, tình dục, thú vui giải trí, công nghệ thông tin.  Khiêu dâm trên internet đã là bệnh nghiện lớn nhất của toàn thế giới.  Cầu nguyện và ăn chay (ít nhất trong tình cảm) đang thiếu hụt.  Những đức hạnh giống tu sĩ giờ đây đang cần có hơn bao giờ hết.

Nhưng chúng ta phải thực hành các đức hạnh đó mà không phô diễn trước đông người, không khinh khi tính chất tốt lành vốn được Chúa ban cho trong mọi thứ của thế giới này, không ám chỉ rằng sự thánh thiện riêng tư là quan trọng đối với chúng ta và với Chúa hơn những điều tốt lành thông thường của thế gian này, và không ngụ ý rằng Chúa không muốn chúng ta vui vẻ với tạo vật của Người.  Thực hành khổ hạnh và cầu nguyện của chúng ta phải thực chất, nhưng chúng phải toát ra sự an mạnh, chứ không phải là sự bù đắp cho việc không an mạnh.

Và như vậy, một sự an mạnh chứng tỏ sự tốt lành của Chúa, chính xác là điều tôi thấy ở những ai thực hành các đức hạnh giống tu sĩ theo cách lành mạnh.  Cầu nguyện và ăn chay, nếu làm đúng đắn, sẽ toát lên sự an mạnh, không phải là khinh khi.  Nếu David Hume đã chứng kiến sự an mạnh và tình thương yêu của Chúa Giê-su trong việc cầu nguyện và thực hành khổ hạnh của ông thì hẳn là, tôi nghĩ, ông đã viết khác đi về đức hạnh giống tu sĩ.

Vì vậy chúng ta cần xem xét nghiêm túc hơn lời dạy của Chúa Giê-su rằng việc thực hành khổ hạnh và cầu nguyện riêng tư phải được làm “trong kín đáo”, đằng sau cánh cửa đóng kín, để vẻ mặt chúng ta bộc lộ ra trước đông người toát lên an mạnh, vui vẻ, thanh thản và thương yêu những điều tốt lành Chúa đã tạo ra, người mà cầu nguyện và thực hành khổ hạnh đã đưa chúng ta đến gần hơn.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

THIÊN CHÚA VÀ CON NGƯỜI – HAI LỐI NHÌN

Mỗi năm khi bước vào mùa Chay với thứ Tư lễ tro thì Giáo Hội lại một lần nữa nhắc nhở cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa luôn luôn nhìn vào những gì bên trong được phát xuất từ trái tim, chứ không phải những gì từ bên ngoài của mỗi người chúng ta.

Chúa Giêsu đang nhắc nhở cho chúng ta về một bài học rất khó khăn và thách đố qua bài Phúc Âm của thánh Mát-thêu (Mt 6, 1-6. 16-18) ngày thứ Tư lễ tro.  Ngài nói rằng chúng ta hãy dừng lại, và đừng là những kẻ đạo đức giả nữa.  “..khi làm việc từ thiện, các con đừng thổi loa báo hiệu, như những người giả hình làm nơi hội đường và trên hè phố để cho người ta khen… Và khi cầu nguyện, các con đừng làm như những người giả hình vẫn thường làm nơi hội đường và trên hè phố, cốt cho người ta thấy…” (MT 6:2,5).

Mùa Chay cũng là dịp tốt để cho chúng ta có thể tháo bỏ đi những cái “mặt nạ” là những cái nhìn “thánh thiện” gần giống như người Kitô hữu bên ngoài, khi mà chúng ta tự cho mình là “nhân vật chính” là “trung tâm điểm, vì cái kiêu ngạo, tự cao và tự đại” ở bên trong.  Cái từ “đạo đức giả” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “diễn viên.”  Các diễn viên giả vờ là một người mà họ phải làm, phải đóng vai trong các vở phim, vở kịch, cải lương, v.v…  Điều này có thể ổn thoả trên sâu khấu, nhưng chúng không thể chấp nhận được trong cuộc sống thực tại ngoài đời, nhất là đối với đời sống Đạo, đời sống tâm linh của một người tín hữu Công Giáo.  Qua bài Phúc Âm của Thánh Mát-thêu, Chúa Giêsu đang khuyến khích chúng ta hãy vất bỏ những cái mặt nạ mà mỗi người chúng ta đang mang.  Ngài kêu mời chúng ta hãy sống đúng với bản chất thật của mỗi người, “…các con đừng làm như những người giả hình vẫn thường làm…” (MT 6:5) ngõ hầu ân sủng của Thiên Chúa có thể chữa lành cho những yếu đuối của chúng ta.

Việc mời gọi “sống thật”, vất đi cái “mặt nạ” này của Chúa Giêsu có thể nói là một thách đố rất lớn lao cho mỗi người chúng ta vì hai lý do như dưới đây:

Thứ nhất, chúng ta không muốn thừa nhận rằng đôi khi mỗi người chúng ta có những hành động yếu đuối tự lừa dối những người chung quanh và chính mình.  Lý do chính là do “CÁI TÔI” to lớn, tự ái, tự cao và gia trưởng, v.v… của mỗi người chúng ta.  Có lẽ đây là cái lý do tại sao chúng ta cố bám chặt lấy những cái “mặt nạ” và hành động như kẻ đạo đức giả.  Nói cho cùng thì mỗi người chúng ta đều là những kẻ đạo đức giả “pha-ri-siêu” bằng một cách thức nào đó trong đời sống cả Đạo lẫn đời.

Lý do thứ hai làm chúng ta không dám tháo cởi cái “mặt nạ” là vì chúng ta sợ bị từ chối.  Đương nhiên không một ai thích mình bị từ chối, đây là một điều tâm lý chung của con người.  Nhưng qua Kinh Thánh Chúa Giêsu đã cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa biết tất cả mọi “bí mật” của mỗi người chúng ta từ trong tư tưởng đến hành động. “Đấng ngự nơi bí ẩn, và Cha con thấu suốt mọi bí ẩn” (MT 6:4).  Thiên Chúa thấu hiểu và cảm thông với những yếu đuối của mỗi người.  Do đó Thiên Chúa luôn yêu thương và ao ước chúng ta đến với Ngài để Ngài có thể giúp chúng ta vượt qua những yếu đuối này; ngõ hầu chúng ta được sống gần gũi và mật thiết với Ngài mỗi ngày trong cuộc sống.  Đây là một niềm hy vọng rất lớn lao của mỗi người chúng ta.

Ao ước rằng trong mùa Chay Thánh năm nay mỗi người chúng ta hãy dành thời giờ mỗi ngày để tâm tình với người Thầy Giêsu thân yêu bằng những lời trong bài cầu nguyện của Michel Quoist, để xin Thiên Chúa giúp chúng ta có can đảm dám vất đi, cởi bỏ cái mặt nạ mà mỗi người chúng ta đang cưu mang trong người.

Lạy Chúa, xin cất khỏi con mọi lo lắng bề ngoài.
Xin tha thứ cho con
vì đã quá bận tâm
đến những điều mình nói,
đến ảnh hưởng của mình,
đến những điều người ta nói và nghĩ về con.

Xin tha thứ cho con
vì muốn nên giống kẻ khác
mà quên mất chính mình,
vì khao khát có được những đức tính của họ,
mà quên phát triển bản thân.

Xin tha thứ cho con
vì đã mất nhiều thời gian
cho việc phô trương
hơn là cho việc xây dựng bản thân.

Xin cho con biết cởi mở với anh em;
nhờ đó, Chúa có thể đến với con
như đến với một người bạn.

Và Chúa sẽ làm cho con trở nên “người”
mà Chúa mong muốn trong tình yêu của Ngài
vì con là con của Chúa
và là anh em của mọi người.

                    (Michel Quoist)

Phó-tế Giuse Nguyễn Xuân Văn

SA MẠC – NƠI GIÚP KHÁM PHÁ SỰ THẬT

Trong cuộc đời làm người ai ai cũng phải trải qua những giây phút khủng hoảng.  Trong những lúc đó tất cả mọi chuyện to nhỏ đều trở thành một vấn nạn.  Kẻ đó tìm một câu trả lời trước khi lựa chọn, quyết định cho tương lai đời mình.  Giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi ấu thơ sang tuổi thành niên là một giai đoạn quan trọng trong đời người.  Tuổi dậy thì chứa đầy hỗn loạn.  Thân xác bỗng dưng biến đổi và phát triển khác thường.  Con người bị ép buộc tham dự vào một cuộc phiêu lưu để khám phá ra mình là ai.  Nhiều chuyện thần thoại đã mô tả về giai đoạn này.  Dĩ nhiên, nhân vật chính luôn là một chàng trai.  Anh phải từ giã mái ấm gia đình, chấp nhận mạo hiểm một mình tiến vào rừng sâu nước độc, nơi chứa đầy cạm bẫy của yêu tinh quỷ nữ!  Anh ta phải vượt qua mọi thử thách từ bên trong lẫn bên ngoài.  Anh ta được tôi luyện.  Khi trở về, anh giống như được đầu thai làm một con người hoàn toàn mới, đủ tài trí và khả năng gánh vác những trọng trách được giao phó.

Bài Phúc âm hôm nay cũng nói về thời gian thử thách tương tự của Đức Giêsu.  Ngài được Thánh Thần dẫn đưa vào hoang địa, giang sơn của quỷ dữ.  Ngài ăn chay hãm mình, sống trong cô tịch, hoàn toàn không có gì để đề phòng âm mưu của kẻ xấu luôn bám sát, chờ cơ hội thuận lợi để thu thập.  Thử thách làm nảy sinh một hoài nghi cơ bản: Những gì từ trước tới nay tôi cho là tốt đẹp bây giờ có vẻ vô nghĩa.  Những gì tôi cho là tội lỗi xấu xa giờ đây hình như chứa đầy hứa hẹn.  Khi đối diện đương đầu với dụ dỗ Đức Giêsu dần dần khám phá ra mình là ai, đâu là sứ mạng của mình.  Thời gian sống trong sa mạc là giai đoạn quan trọng trong đời của Đức Giêsu.  Trong thời gian này Ngài cảm nhận một cách sâu xa sự mỏng dòn trong thân phận con người.  Mặc khác, Ngài đã sống mật thiết thân tình với Chúa Cha, giúp Ngài ý thức về trọng trách được Chúa Cha giao phó.  Ngài trở nên chín chắn trưởng thành, có thể bước vào cuộc đời công khai, công bố Tin mừng cứu độ.  Bởi vậy, sa mạc không phải chỉ là nơi chết chóc, tăm tối mà còn là nơi gặp gỡ chính Thiên Chúa.

Trong sa mạc Đức Giêsu hiểu thấu những yếu đuối cơ bản của con người.  Cám dỗ đầu tiên nhắm vào sự đói khát.  Có đầy đủ của ăn là một nhu cầu căn bản của cuộc sống con người.  Thân xác đòi hỏi quyền lợi của nó, và sẽ trở nên kiệt quệ nếu như nhu cầu này bị cự tuyệt, không được đáp ứng.  Dĩ nhiên chúng ta ăn để sống, nhưng chúng ta sống không phải chỉ để ăn, để uống.  Do đó, con người giống như bị tà nhập khi nghĩ rằng, ý nghĩa của cuộc sống con người chỉ đặt trên cơ bản của vật chất và sự hưởng thụ.  Con người chia sẻ những nhu cầu thuộc thân xác với tất cả mọi sinh vật khác, nhưng khát vọng của con người còn trổi vượt hơn, đi ra ngoài giới hạn này.  Chính vì thế chúng ta có thể nói rằng, nhu cầu lớn nhất của con người thuộc về đời sống tâm linh: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.”  Đời sống con người không phải là một cuộc sống no say nhưng là một cuộc đời sung mãn về mọi mặt.

Thử thách thứ hai nhắm vào khát vọng quyền lực.  Bởi vì muốn chứng tỏ quyền lực của mình, bảo đảm chỗ đứng của mình, kẻ ấy ra sức tìm cách hạ bệ kẻ khác, ra sức chèn ép, trèo lên đầu lên cổ người khác và nếu cần sẵn sàng bước qua xác chết!  Tranh đấu quyền lực là chuyện xảy ra như cơm bữa từ trong gia đình đến ngoài xã hội, đặc biệt trong môi trường chính trị và kinh doanh…  Đức Giêsu không đầu hàng dụ dỗ.  Ngài sẵn sàng từ bỏ quyền thế và bạo lực.  Ngài chọn con đường yêu thương vô vị lợi.

Dụ dỗ thứ ba nhằm chối bỏ Thiên Chúa là Đấng sáng tạo càn khôn.  Đặc biệt con người ngày nay nghĩ rằng, mình có thể đạt được tất cả mà không cần đến sự trợ giúp của Thiên Chúa.  Tất cả đều dựa vào khả năng của bản thân.  Ngày Chúa nhật không đi lễ nhà thờ chẳng thấy mình mất mát gì!  Nhìn nhận giới hạn của mình, nhìn nhận thân phận thụ tạo của mình là một điều không dễ dàng.  Thiên Chúa đòi hỏi con người tin vào Ngài, mặc dầu không ai có thể chứng minh và nhìn thấy Thiên Chúa.

Mùa chay chính là một lời mời gọi sáng tạo một mảnh sa mạc trong cuộc đời mình, mời gọi xa rời cảnh huyên náo, bon chen, xô bồ để có thể gặp gỡ Thiên Chúa, lắng nghe tiếng Ngài trong cô tịch.  Bởi vì sa mạc, đối với Đức Giêsu cũng như mỗi người chúng ta, là nơi giúp khám phá sự thật, nơi chúng ta có thể đối diện với chính mình để nhận biết mình là ai và Thiên Chúa muốn gì nơi tôi.

Lm. Phêrô Trần Minh Đức

MÙA THUẬN TIỆN

Mùa Chay được gọi là “thánh” vì mang một ý nghĩa thiêng liêng đối với mỗi người tín hữu, đồng thời là điểm nhấn quan trọng trong đời sống đức tin.  Tại các giáo xứ truyền thống, Mùa Chay luôn mang một bầu khí đặc biệt, thấm đượm tinh thần cầu nguyện, được thể hiện qua cách trang trí nhà thờ, những nghi thức ngắm nguyện, những buổi tĩnh tâm dành cho các hội đoàn và các giới.  Bầu khí đạo đức của Mùa Chay phù hợp với lời khẳng định của thánh Phaolô: “Đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ” (Bài đọc II).

Dĩ nhiên, Thiên Chúa không chỉ tha thứ và ban ơn cứu độ trong một khoảng thời gian nhất định, nhưng ơn cứu độ của Ngài tràn trề, mênh mông như biển cả.  Tuy vậy, như lời kinh nguyện ngắm của Mùa Chay còn được đọc nơi một số giáo phận đã diễn tả: “Như con chim biết mùa làm tổ…”  Mùa Chay đối với tín hữu là thời điểm nhận ra lòng thương của Chúa thật mênh mông cao vời, mà chúng ta vô tình tệ bạc trước tình thương ấy.  Tội lỗi chính là sự tệ bạc, bội nghĩa vong ân đối với Thiên Chúa.  Câu chuyện người cha nhân hậu trong Tin Mừng thánh Luca đã phản ánh rõ giáo huấn về tội lỗi và ân sủng, về tình thương của Thiên Chúa và sự lầm lạc của con người, về sự cần thiết phải trở về để nối lại tình xưa giữa Thiên Chúa với tâm hồn mỗi người chúng ta.

Chúa Giêsu, trong Tin Mừng hôm nay đã đề cập đến ba thực hành quan trọng: Làm phúc, cầu nguyện và ăn chay.  Dựa trên giáo huấn của Lời Chúa, ba thực hành này đã trở nên cốt lõi của đời sống đức tin nói chung và của Mùa Chay nói riêng.  Tuy vậy, điều mà Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh, đó là tâm tình và ý thức của người tín hữu thể hiện qua những thực hành này.  Ai trong chúng ta đã không có lần làm phúc và cầu nguyện?  Ai trong chúng ta mà không ăn chay mỗi khi Mùa Chay về?  Mùa Chay là thời điểm để chúng ta xét lại những thực hành này, để rồi, chúng không chỉ được thực hành một cách chiếu lệ, nhưng được thúc đẩy bởi đức tin, đức cậy, đức mến.  Ý thức mình đang sống dưới cái nhìn yêu thương của Chúa, Đấng ngự nơi bí ẩn, đó là điều Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta.  Vì chỉ như thế, những gì chúng ta làm mới mang tinh thần siêu nhiên.  Xung quanh chúng ta, có rất nhiều người làm từ thiện.  Trong xã hội hôm nay, có nhiều người ăn chay vì lý do sức khỏe hoặc để tạo một đời sống thanh tịnh.  Điều khác biệt nơi người Kitô hữu, đó là làm phúc, ăn chay, cầu nguyện với ý thức về một Đấng Vô Hình, đang hiện diện trong tâm hồn họ, để rồi những gì họ làm cho những người bất hạnh khó nghèo là làm cho Chúa, Đấng đã hóa thân nơi người cùng khổ đang hiện diện hàng ngày xung quanh chúng ta.

Vì vậy, khi thực hành những đạo đức kể trên, người tín hữu không chờ mong lời khen của người đời.  Chúa Giêsu đã diễn tả qua việc xức dầu thơm khi ăn chay và mang bộ mặt vui vẻ hòa nhã.  Chúa cũng dặn, đừng khoe khoang việc từ thiện mình đã làm, hoặc đừng phô diễn khi cầu nguyện.  Giáo huấn này hoàn toàn khác với thói quen nơi một số người biệt phái trong xã hội đương thời.  Qua những chỉ dẫn trên, Chúa muốn chúng ta đi vào tinh thần nội tâm của đời sống Kitô hữu, ở những lãnh vực khác nhau, nhằm diễn tả một đức tin trưởng thành và một đời sống chân chính.

Giữa dòng đời trôi nổi ồn ào, chúng ta có nguy cơ bị lạc hướng, để mình trôi theo những tham vọng trần tục.  “Mùa thuận tiện” đưa chúng ta trở về với Chúa, với tha nhân và với chính mình.  Về với Chúa để nhận ra thân phận hèn yếu lỗi lầm, tái lập mối tương giao cha-con với Ngài; về với tha nhân để nhận ra họ là hồng ân Chúa ban tặng (Sứ điệp Mùa Chay 2017); về với chính mình để nhận ra mình đang ở đâu trong cơn lốc cuộc đời, để không bị đánh mất mình trong biển đời hỗn độn mênh mông.

Lời kêu gọi trở về, được ngôn sứ Giôen diễn tả, vừa đanh thép quyết liệt, vừa tha thiết dịu dàng.  Đây là một lời “hiệu triệu” thôi thúc con tim mỗi người hãy gác lại những bận rộn âu lo của cuộc sống để thành tâm trở về với Chúa, như một ưu tiên quan trọng của cuộc đời.  Lời kêu gọi sám hối được gửi đến mọi người, già trẻ, gái trai, tân lang tân nương, tư tế phục dịch trong Đền thờ.  Mùa Chay là mùa thuận tiện đối với hết mọi người chúng ta.

“Hãy xé lòng, đừng xé áo.”  Lời ngôn sứ mời gọi chúng ta hãy sống Mùa Chay cách chân thành và hiệu quả, chứ không dừng lại ở những nghi lễ bên ngoài.  Hãy can đảm và trung thực đặt mình trước mặt Chúa, nhận ra những thiếu sót của mình để sám hối canh tân.  Đây là mùa thuận tiện giúp chúng ta đến gần Chúa và đến gần anh chị em mình hơn.  Mùa Chay cũng giống như mùa cây thay lá, cởi bỏ những tán lá đã già cỗi để nhường chỗ cho những mầm non sẽ mọc lên.  Sau mùa lá rụng là mùa đâm chồi nảy lộc.  Màu tím của Mùa Chay không chỉ diễn tả lòng sám hối đau buồn, mà còn mang sứ điệp hy vọng vào tình thương của Chúa, Đấng không vui gì khi con người phải trầm luân, nhưng muốn cho mọi người được ơn cứu độ và được sống muôn đời.

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

BÀI HỌC TỪ TRONG NỖI CÔ ĐƠN

Nhiều năm trước, tôi có khuyên một thanh niên, anh có cuộc đấu tranh chống lại nỗi cô đơn gần như ngược đời.  Thay vì cố gắng thoát ra, anh lại sợ mất nó.  Anh khoảng hơn hai mươi tuổi, yêu một cô gái trẻ tuyệt vời, nhưng cảm thấy bị giằng xé về việc cưới cô ấy, vì anh sợ hôn nhân gây trở ngại cho sự cô đơn của anh, và theo lời anh, nó sẽ làm cho anh trở thành “người hời hợt hơn và mất đi những gì có thể dâng tặng Chúa và thế giới này.”

“Tôi bước vào một căn phòng,” anh nói, và “một cách phản xạ, tôi nhìn quanh để tìm một gương mặt buồn rầu, tìm một người nào đó có dáng vẻ gợi cho thấy cuộc sống có nhiều điều hơn là tiệc tùng và những tin tức nóng hổi về những người nổi tiếng.”  Sẽ nguy hiểm nếu ngắn gọn xem trạng thái nặng nề là biểu hiệu của sâu sắc, nhưng trong trường hợp của anh thì điều đó không đúng.

“Có hai hình ảnh đôi co trong lòng tôi,” anh nói.  “Cha tôi mất khi tôi mười lăm tuổi.  Gia đình tôi sống ở miền quê, ông bị lên cơn đau tim.  Chúng tôi vội vàng đưa ông lên xe, mẹ tôi ngồi ôm ông ở băng ghế sau, còn tôi lái xe, mới mười lăm tuổi, và sợ run lên.  Cha tôi mất trên đường tới bệnh viện, nhưng ông chết trong vòng tay mẹ tôi.  Mặc dù chuyện đó rất buồn, nhưng có một cái gì đó rất đẹp.  Lúc nào tôi cũng muốn chết theo kiểu đó, được người tôi yêu ôm trong vòng tay.  Dù hình ảnh đó hút tôi một cách mạnh mẽ về phía hôn nhân, nhưng tôi cũng nhìn hình ảnh chúa Giê-su chết đơn độc, bị ruồng bỏ, chẳng trong vòng tay của ai, chỉ trong vòng một điều gì đó cao hơn, và tôi cũng bị thu hút về hướng đó.  Hình ảnh đó có một vẻ thanh cao mà tôi không muốn từ bỏ.  Đó cũng là một cách chết hay.

Anh sợ sẽ mất đi sự cô đơn của mình dù anh khao khát một cách lành mạnh tình cảm thân mật.  Anh không thể nào lý giải được trọn vẹn tại sao anh bị thu hút trước sự cô đơn của chúa Giê-su trên thập giá, trừ việc cảm thấy rằng điều này cách nào đó là một điều cao đẹp, một điều sâu sắc, và là điều sẽ đem lại cho anh chiều sâu và thanh cao.

Trước anh, cũng có nhiều người khác có kinh nghiệm này, kể cả chúa Giê-su.  Chẳng hạn triết gia Soren Kierkegaard, khi còn trẻ, cũng với lý do lo sợ như người bạn trẻ của tôi, ông từ chối hôn nhân.  Dù đúng dù sai, anh cảm thấy những gì anh có để mang tặng cho thế giới này bắt rễ sâu thẳm trong nỗi đau cô đơn của mình, và chỉ có thể tỏa ra từ cốt lõi đó mà thôi, và, nếu anh bớt cô đơn, thì anh cũng sẽ bớt đi những gì có thể trao tặng.  Liệu anh có đúng không?

Hoa trái của đời một người, ví dụ những người như cha Henri Nouwen, rút ra sức mạnh và khả năng hồi phục từ những tác phẩm của họ, xác nhận cho sự thật của trực giác của họ.  Nhìn hoa trái của họ, bạn sẽ hiểu họ.  Kierkegaard là vị thánh bảo trợ cho những người cô đơn.  Nhưng, như anh bạn trẻ của tôi, ông cũng bị giằng xé bởi những gì điều đó gây ra cho ông.  Quá ít người hiểu được, và điều này dìm ông vào “nỗi buồn của việc đã hiểu ra một điều gì đó chân thực – và rồi thấy mình bị hiểu lầm.”  Ông cũng tự nhận là ông sống trong lời thề “không bao giờ cho phép ai đi vào sâu thẳm trong nội tâm và kết hợp nội tâm sâu sắc với tôi.”  Thomas Merton, khi bàn về vấn đề này, đã nói rằng sự thiếu vắng tình cảm thân mật của đời sống hôn nhân trong đời ông đã tạo thành “một khiếm khuyết trong sự khiết tịnh của tôi.”  Loại sâu sắc này có được cũng bắt nguồn từ một cái giá nào đó.

Tại sao, bất chấp bất lợi rõ ràng như vậy, mà cô đơn vẫn thu hút nhiều người như Kierkegaard của thế giới chúng ta, với niềm tin rằng đó là chìa khóa dẫn tới sự sâu sắc, lòng lân mẫn, và minh triết?  Cô đơn làm gì cho chúng ta?

Điều mà cô đơn làm cho chúng ta, đặc biệt nỗi cô đơn tột cùng, là lay chuyển bản ngã và khiến bản ngã mong manh đến mức không thể duy trì chúng ta theo cách thông thường được nữa.  Những gì xảy ra sau đó là chúng ta bắt đầu buông bỏ, cảm thấy chúng ta trở nên không còn vướng mắc, hiểu ra sự nhỏ bé của mình, và biết từ trong sâu xa của bản thể rằng chúng ta cần phải kết liên với một điều gì đó lớn lao hơn chính bản thân mình thì mới sống sót.  Nhưng đó là một trải nghiệm rất đau đớn, và chúng ta có khuynh hướng trốn chạy khỏi nó.

Tuy nhiên, và đây chính là nghịch lý to lớn, trải nghiệm nỗi cô đơn tột cùng này là một trong những đặc cách để tìm ra câu trả lời sâu thẳm cho cuộc đi tìm bản thể và ý nghĩa của chúng ta.  Bởi vì nó lay chuyển bản ngã và khiến chúng ta mất phương hướng, nỗi cô đơn khiến chúng ta chạm đến những gì nằm bên dưới bản ngã, đó là tâm hồn, bản thể sâu sắc nhất của chúng ta.  Hình ảnh Chúa và sự tương đồng với Chúa nằm ở đó, cũng như năng lượng thanh cao nhất và thiêng liêng nhất của chúng ta cũng ở đó.  Đó chính là sự thật trong niềm tin rằng trong nỗi cô đơn có chiều sâu.

Và như thế, bài học là, dù lập gia đình hay không: Đừng chạy trốn cô đơn.  Đừng coi đó là kẻ thù.  Đừng tìm kiếm ai khác để chữa chạy nỗi cô đơn của mình.  Hãy coi nỗi cô đơn là đặc cách dẫn tới chiều sâu và lòng lân mẫn.

Đây là lời khuyên của Hafiz, một nhà thơ Ba-tư xưa:

Đừng hàng phục nỗi cô đơn
Nhanh đến vậy
Hãy để nó cứa sâu hơn
Để nó ủ men và thêm hương vị
Vì rất ít người phàm
Và ngay cả hương vị thần thánh làm được
Điều trái tim tôi thiếu vắng đêm nay
Đã làm đôi mắt tôi thêm dịu dàng
Giọng nói tôi
thêm trìu mến,
Nhu cầu có Chúa của tôi
Tuyệt đối
Rõ ràng.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

YÊU THƯƠNG KẺ THÙ

Một câu chuyện vui kể rằng, trong buổi hội thảo giao lưu với đề tài tha thứ tại một giáo xứ nọ, vị Linh mục hỏi những người có mặt, ai trong số họ sẵn sàng tha thứ cho kẻ thù.  Tất cả mọi người đều giơ tay, trừ một ông lão ngồi bên dưới.

– Chẳng lẽ cụ không thể tha thứ cho kẻ thù của mình ư?

– Tôi không có kẻ thù.

– Thật là đức độ.  Thế cụ bao nhiêu tuổi rồi?

– 90 tuổi.

– Cụ hãy cho mọi người biết bí quyết sống đến 90 tuổi, mà không có một kẻ thù nào.

– Ông lão cao giọng nói: “Chỉ có một cách là phải tiêu diệt hết lũ chúng nó mà thôi!”

Sống trên đời, giữa chúng ta có nhiều khác biệt về tuổi tác, sở thích, quan điểm.  Cuộc sống trần gian cũng là một mớ hỗn độn những cạnh tranh, bon chen, tính toán.  Sự cạnh tranh bon chen trở nên nghiệt ngã, tới mức người ta loại trừ nhau.  Trong lãnh vực thương mại ngày nay, người ta hay nói: “Thương trường là chiến trường.”  Tưởng chừng đơn giản, nhưng đó là một thứ lý luận nguy hiểm, cho thấy sự ích kỷ tới mức hoang dã.  Vì trong chiến trường, người lính phải đối diện với quân thù.  Họ buộc phải giết đối phương để sống, vì không còn chọn lựa nào khác.  Tuy vậy, trong thương trường, mưu mô gài bẫy để hủy diệt và loại trừ người khác là một thứ thương mại vô đạo đức.  Danh từ “kẻ thù” được dùng để chỉ những người đối nghịch với mình.  Người bị gọi là “kẻ thù”, tức người đó trở nên mối nguy hiểm cho người khác.  Trong quan niệm thông thường, người ta chủ trương “không đội trời chung” với kẻ thù.

Nhưng, không kể nơi chiến trường máu lửa, thì kẻ thù là ai?  Suy cho cùng, kẻ thù là người không đồng quan điểm với chúng ta.  Sự khác biệt nơi những cá nhân đáng lẽ tạo ra một cuộc sống phong phú đa dạng, thì trong nhiều trường hợp lại là nguyên cớ dẫn tới đối nghịch, hiềm thù.  Kết án một người là “kẻ thù” nhiều khi do chủ quan và do cái nhìn phiến diện.  Nhiều người coi mình là mẫu mực, là tiêu chuẩn cho cách đối nhân xử thế, nên người nào không giống mình thì họ kết án là “kẻ thù.”  Do quan niệm này, trong xã hội của chúng ta, biết bao mâu thuẫn và thậm chí có những án mạng đã xảy ra.  Có những người coi nhau như kẻ thù, khi đang cùng nhau ngồi trên bàn nhậu, hay khi cùng tham dự một tiệc cưới, và vì một câu nói hay một mâu thuẫn nhỏ đã trở thành sát nhân, lấy đi mạng sống của người đồng bàn.  Sự ích kỷ tham lam đã biến các thành viên trong cùng một gia đình thành kẻ thù không đội trời chung.  Những anh chị em cùng máu huyết, chỉ vì vài mét vuông đất, hoặc vì không hài lòng do việc chia tài sản thừa kế, đã coi nhau như kẻ thù.  Họ kiện nhau ra tòa án và không còn muốn nhìn mặt nhau.  Trong bối cảnh xã hội hôm nay, người ta dễ quên tình huynh đệ, bằng hữu, làng xóm thân cận, để biến thành kẻ thù.

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đã mời gọi chúng ta, không chỉ yêu mến những ai làm ơn cho mình, nhưng còn yêu thương và tha thứ cho kẻ thù.  Đọc Phúc Âm, chúng ta thấy, Chúa Giêsu có những đối phương.  Đó là một số người biệt phái và luật sĩ.  Họ là những người luôn dò xét để chỉ trích cách sống của Chúa, nhất là tương quan của Người với các tội nhân.  Tuy vậy, mặc dù lên án họ với những lời nói gắt gao, không bao giờ Chúa coi họ là những kẻ thù.  Chúa muốn chỉ cho họ thấy quan niệm cực đoan của họ.  Người cũng mời gọi họ có cái nhìn thiện cảm với các tội nhân.  Bởi lẽ, là con người, không ai hoàn thiện.  Chúa cũng muốn cho họ hiểu sứ mạng của Người khi đến trần gian là để cứu vớt các tội nhân, như thày thuốc chăm sóc và giúp cho bệnh nhân được lành.  Người kêu gọi: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù.  Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.  Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,44-45).  “Yêu thương kẻ thù” là nét ưu việt của Kitô giáo.  Trong Cựu ước, người Do Thái áp dụng luật “mắt đền mắt, răng đền răng”, tức là được phép làm cho người khác đúng như mức độ họ đã gây ra thiệt hại cho mình.  Khái niệm “đồng loại” trong luật Cựu ước có ý chỉ người Do Thái, còn những người khác thì không phải đồng loại.  Lời giáo huấn của Chúa Giêsu làm thay đổi quan niệm truyền thống này, đồng thời hướng tới sự tha thứ không giới hạn.  Chính Chúa đã thực hiện điều Người rao giảng, khi chịu treo trên thập giá.  Trong hơi thở yếu ớt lúc sắp lìa trần, Người xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ hành hình mình, vì họ không biết việc họ làm (x. Lc 23,34).  Noi gương Chúa Giêsu, Thánh Têphanô Phó tế, vị tử đạo tiên khởi của Kitô giáo, cũng đã cầu nguyện cho những kẻ ném đá mình (x. Cv 7,60).  Lời cầu nguyện ấy nói lên sự tha thứ mà vị tử đạo dành cho những người giết hại mình.  Sự tha thứ ấy đã đem lại cho vị tử đạo sự bình an và thanh thản tâm hồn.

Cầu nguyện và tha thứ cho những người làm hại mình, chúng ta cũng nỗ lực để đừng trở nên “kẻ thù” của những người xung quanh.  Có những người đã trở nên nỗi ám ảnh đối với môi trường sống, ví dụ hiện tượng ngày càng nhiều thanh niên “ngáo đá” do dùng ma túy.  Họ trở nên nỗi sợ cho gia đình và làng xóm, khu phố.  Nhiều người khác, do lối sống thực dụng, dùng mưu mô mánh lới lừa đảo, bất chấp danh dự và quyền lợi của người khác, sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để chiếm đoạt tài sản, lỗi đức công bằng.  Họ đang biến mình thành “kẻ thù” của những người xung quanh.

Để sống một cuộc đời bình an, Ông Bà chúng ta dạy: hãy thêm bạn bớt thù.  Đáng tiếc, trong bối cảnh xã hội hôm nay, người ta đang có khuynh hướng làm ngược lại.  Thay vì hợp tác huynh đệ để cùng nhau giảm thiểu tội ác, chung sống hòa bình, thì người ta muốn hủy diệt và loại trừ nhau.  Ông cụ 90 tuổi trong câu chuyện ở đầu bài viết không có kẻ thù, không phải vì ông quảng đại tha thứ, nhưng nếu ai làm mất lòng ông thì ông sẵn sàng giết họ.

Lấy oán hận đáp lại oán hận, thì hận thù sẽ chồng chất.  Giáo lý Phật giáo cũng dạy: “Hận thù diệt hận thù.  Đời này không có được.  Không hận, diệt hận thù.  Là định luật ngàn thu” (Tức là đem hận thù diệt hận thù hay lấy oán trả oán thì oán càng thêm.  Còn không đem oán trả oán thì đó mới là định luật ngàn thu).  Quảng đại tha thứ, từ bỏ hận thù, chung sống huynh đệ, đó là điểm gặp gỡ chung giữa Kitô giáo và Phật giáo.

Thánh Phanxicô đã cầu nguyện với Chúa: “Xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa” (Kinh Hòa bình).  Ước chi mỗi Kitô hữu chúng ta trở nên những khí cụ bình an trong cuộc sống chao đảo và đầy bạo lực này.  Trước khi trở nên khí cụ bình an, mỗi chúng ta phải cảm nghiệm sự bình an tâm hồn qua việc sẵn lòng tha thứ cho anh chị em mình.

“Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).  Đó là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trên thập giá.  Ước chi đó cũng là lời cầu nguyện của chúng ta, mỗi khi chúng ta bị xúc phạm hoặc khinh chê.  Chúng ta chỉ có thể thốt lên lời cầu nguyện này, nếu cuộc sống chúng ta thấm đượm tinh thần của Tin Mừng, và Lời Chúa luôn cư ngụ dồi dào trong tâm hồn chúng ta, nhờ đó, chúng ta có cái nhìn yêu thương như cái nhìn của Chúa và trái tim quảng đại như trái tim của Người.

ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

HẠNH PHÚC LÀ MỘT SỰ LỰA CHỌN

Chúng ta thường có suy nghĩ rằng hạnh phúc là kết quả của bánh xe số phận đã an bài vào đúng thời điểm.  Bạn bước xuống phố, nhìn thấy tờ năm trăm ngàn, nhận được lời khen từ một người xa lạ, gặp được một chàng trai hay một cô gái hoàn hảo (và dĩ nhiên không phải là tự lừa dối bản thân), tới cửa hàng yêu thích của mình và nhận được giảm giá 50%…

Thật dễ dàng cảm thấy hạnh phúc khi mà mọi thứ dường như đi theo đúng hướng mà bạn nghĩ, nhưng nếu định nghĩa hạnh phúc theo cách đó, chúng ta sẽ làm giảm đi ý nghĩa của nó, rằng nó là sản phẩm phụ của sự may mắn hay theo cách khác đó là một sự ngẫu nhiên.  Trên thực tế, người ta thậm chí từng cho rằng may mắn mới là sản phẩm phụ của hạnh phúc, nếu như bản thân đang trong tâm trạng hết sức tồi tệ.

Hạnh phúc không hẳn là ngẫu nhiên

Luôn có những ngày tươi đẹp, nhưng cũng có những ngày bình thường hay những ngày quá tồi tệ và chính trong những ngày đó, bản chất thật sự của hạnh phúc sẽ được hé lộ.  Đã bao giờ bạn gặp một người luôn giữ tinh thần lạc quan, bất kể họ đang có một ngày thật tồi tệ, và mọi thứ sai lầm như đang theo chiều hướng tiếp tục sai?  Nếu như bạn cũng đang có một ngày tồi tệ, chỉ cần ở cạnh những người như vậy cũng có thể làm bạn cảm thấy phấn chấn lên (mặc dù với nhiều người đó là sự phiền toái, nhưng những điều đó thường bắt nguồn từ sự ghen tị).

Những người có thể cười trong các hoàn cảnh khó khăn nhất đều học được bài học quan trọng, chính là bài học mà chúng ta đã khẳng định ở trên: hạnh phúc không hẳn là điều ngẫu nhiên đâu!

Hạnh phúc là sự lựa chọn

Đúng vậy, sự lựa chọn.  Không phải là sự ngẫu nhiên, cũng không phải là món quà từ trên trời rơi xuống. Dĩ nhiên sẽ thật tuyệt nếu nhận được những món quà và bạn dễ dàng cảm nhận được hạnh phúc khi có được nó, nhưng hạnh phúc là những gì thuộc về lựa chọn để thấy được sự phiêu lưu khám phá trong từng khoảnh khắc, chọn để hiểu rằng luôn luôn có ánh sáng nơi cuối đường hầm, rằng luôn luôn thấy được điều tốt trong mọi tình huống và trong mỗi con người bất kể mọi thứ có khủng khiếp đến mức nào.

Đó là chìa khóa cho hạnh phúc: hãy chọn nó. Dĩ nhiên không phải lúc nào cũng dễ dàng để lựa chọn, và đôi khi nó là điều bạn muốn làm sau cùng. Những khi đau buồn, hoặc khi bạn không thể có thời gian nghĩ cho chính mình, đôi khi bạn chỉ muốn hờn dỗi, và buồn bã để nỗi buồn kéo dài. Đó là một phản ứng tự nhiên, nhưng nó cũng đòi hỏi cách bạn ứng xử, đó là sự lựa chọn. Và chọn cách hạnh phúc sẽ làm bạn thấy tốt hơn, mạnh mẽ hơn, khôn ngoan hơn và kiên cường hơn.

Chúng ta luôn có quyền lựa chọn để được hạnh phúc

Học cách thay đổi thái độ là một điều khó khăn nhưng cuối cùng nó rất xứng đáng. Khi chúng ta chọn cách để hạnh phúc, mọi thứ có xu hướng làm việc thuận theo ý muốn và may mắn dường như luôn bên cạnh chúng ta; và thậm chí nếu mọi thứ không xảy ra theo cách mà bạn mong đợi, thì nếu bạn chọn để hạnh phúc, bạn có thể chấp nhận mọi tình huống bất kể nó là gì và tận hưởng cuộc sống bất chấp nó đối xử với bạn thế nào.

Lesong, từ diendan.thienantech.com – Theo: Ephata