MÁU CÙNG NƯỚC CHẢY RA

Status

Hôm đó là ngày áp lễ, người Do thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày sabát, mà ngày sabát đó lại là ngày lễ lớn.  Vì thế họ xin ông Philatô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh và lấy xác xuống.  Quân lính đến, đánh giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu.  Khi đến gần Đức Giêsu và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người.  Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người.  Tức thì, máu cùng nước chảy ra.  Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực; và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin.  Các việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập.  Lại có lời Kinh Thánh khác: Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.

Muốn nhìn thấy Trái Tim của Thiên Chúa, phải đến với Giêsu.  Muốn nhìn thấy Trái Tim của Giêsu, chúng ta có thể đứng từ nhiều vị trí.  Thấy Trái Tim ấy khi Giêsu cúi xuống trên những bệnh nhân và tội nhân, trên người thu thuế và gái điếm, trên phụ nữ và trẻ em.  Thấy Trái Tim ấy khi Giêsu nuôi dân ăn no, hay rửa chân cho các môn đệ.

Nhưng có một chỗ đứng đặc biệt để nhìn thấu Trái Tim của Giêsu, nhìn rõ Trái Tim đó vào lúc yêu bằng tình yêu lớn nhất, chỗ đó là Núi Sọ, lúc đó là buổi chiều thứ sáu, áp lễ Vượt Qua, khi đó Trái Tim ấy đã ngừng đập và bị đâm thâu.  Chỉ riêng Tin Mừng thứ tư kể lại chuyện Đức Giêsu bị đâm vào cạnh sườn, khi Ngài chịu đóng đinh trên thánh giá.  Có Mẹ của Ngài và người môn đệ Ngài thương mến đứng gần bên.  Chính người môn đệ này đã chứng kiến tận mắt và muốn làm chứng một cách nghiêm túc cho các môn đệ tương lai về điều đối với ông thật là quan trọng, để họ cũng tin như ông (c.35).

Câu chuyện xảy ra thật là đơn giản.  Người Do thái muốn hạ xác các người bị đóng đinh xuống, vì chiều thứ sáu là đã bắt đầu ngày sabát, cũng là ngày đầu tiên của tuần lễ Vượt Qua, một đại lễ trong năm.  Thấy Đức Giêsu chết rồi, lính đã không đánh giập ống chân nữa.  “Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người.  Tức thì, máu cùng nước chảy ra” (c. 34).

Làm sao máu có thể chảy ra khi tim đã ngừng bơm máu và xác đã chết?  Làm sao máu và nước có thể chảy ra một cách có vẻ biệt lập như vậy?  Nhiều nhà khoa học đã tìm cách giải thích hiện tượng này, và đối với họ điều này không phải là không có khả năng xảy ra, đối với một người mới chết, đang ở tư thế thẳng đứng.

Người môn đệ được Chúa mến thương đã chứng kiến cảnh tượng ấy, hẳn đã nhận ra và trân trọng ý nghĩa sâu xa của nó.  Giáo Hội vẫn coi các bí tích được sinh ra từ cạnh sườn bị đâm thâu.  Máu là máu của bí tích Thánh Thể, nước là nước của bí tích Thánh Tẩy.  Từ cạnh sườn Đức Giêsu chảy ra dòng nước mà Ngài đã hứa ban trước đây.  “Từ lòng Người sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống” (Ga 7, 38-39).  Dòng nước ấy là Thần Khí Ngài ban khi gục đầu tắt thở (Ga 19, 30).

Chính vào giờ Đức Giêsu chịu treo, người ta giết chiên Vượt qua để mừng lễ.  Đức Giêsu mới là Chiên Vượt qua đích thực (Ga 1, 29. 36).  Ngài chết như con chiên hiền lành bị đem đi giết, như người Tôi Trung (Is 53, 7).  Ngài chết như con chiên Vượt qua không bị đánh giập cái xương nào (c. 36).

Lễ Thánh Tâm cũng là ngày thánh hóa các linh mục.  Chúng ta cầu cho các linh mục có trái tim của Thầy Giêsu, trái tim bị đâm thâu, nên đã mở ra để đón mọi người chẳng trừ ai, trái tim yêu đến cùng, yêu bằng tình yêu lớn nhất, yêu đến hiến mạng.

*****************************************

Lạy Chúa Giêsu,
xin ban cho chúng con những linh mục
có trái tim thuộc trọn về Chúa, nên cũng thuộc trọn về con người.  Xin cho chúng con những linh mục có trái tim biết yêu bằng tình yêu hiến dâng, một trái tim đủ lớn để chứa được mọi người và từng người, nhất là những ai nghèo khổ, bị bỏ rơi.  Xin cho chúng con những linh mục biết cầu nguyện, có tình bạn thân thiết với Chúa để các ngài giới thiệu Chúa cho chúng con.  Xin cho chúng con những linh mục thánh thiện, có thể nuôi chúng con bằng tấm bánh thơm tho, tấm bánh Lời Chúa và Mình Chúa.  Cuối cùng, xin cho chúng con những linh mục có trái tim của Chúa, say mê Thiên Chúa và say mê con người, hy sinh đời mình để bảo vệ đoàn chiên
và dẫn đưa chúng con
đến với Chúa là Nguồn Sống thật.  Amen!

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

VƯƠNG QUỐC VÀ GIÁO HỘI

Một ngày kia, bé Sharon, năm tuổi, đến thăm bà ngoại.  Trong cuộc thăm viếng này, bà đã cho cháu một trái dưa leo lớn nằm trong lọ thuỷ tinh.

Bé Sharon rất ngạc nhiên và hỏi: “Ngoại ơi, làm sao trái dưa leo lọt được vào cái chai qua cái miệng nhỏ xíu này?”  Bà ngoại mỉm cười và nói:

“Cháu ơi, nếu bà nói cho cháu nghe bí mật này ngay lập tức, nó sẽ làm hư một bí mật lớn hơn mà bà muốn nói cho cháu nghe sau này.  Hãy suy nghĩ một chút xíu đi.

“Bà biết là cháu sẽ tìm ra câu trả lời.  Và lúc đó, bà sẽ nói cho cháu biết một bí mật lớn hơn.”

Khoảng một tuần sau, bé Sharon thơ thẩn hái bông trong khu vườn của bà ngoại.  Bỗng dưng, nó thấy một cái chai mà trong đó bà ngoại đã nhét vào một nhánh nhỏ với trái dưa leo chút xíu.  Bây giờ nó đã hiểu cách bà ngoại nó làm: bà nhét dưa leo vào cái chai khi nó còn nhỏ và để nó lớn lên ở trong đó.  Nó chạy đến bà ngoại, vừa nhảy nhót vừa nói, “Ngoại ơi, con biết bí mật đó rồi.  Bây giờ ngoại nói cho con biết bí mật lớn đi.  Con không chờ được nữa!”

Bà ngoại nó bắt đầu:

“Bí mật thì như thế này: một thói quen tốt mà cháu tập luyện bây giờ giống như trái dưa leo nhỏ trong cái chai.  Từ từ nó lớn lên và lớn hơn nữa bên trong con người cháu, như vậy khi cháu trưởng thành, không ai lấy đi được đức tính ấy.

“Và như vậy, điều bí mật là thế này: Nếu cháu muốn sau này hạnh phúc thì phải tập luyện một thói quen tốt ngay tự bây giờ.”

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Đức Giêsu kể cho chúng ta nghe một bí mật cũng giống như bí mật của bà ngoại cháu Sharon đã kể.

Đức Giêsu gieo một hạt cải nhỏ xíu của Nước Trời trong lòng mỗi người chúng ta.  Nó “đâm chồi và lớn lên” mà không ai biết.

Công việc của chúng ta là nuôi dưỡng nó với sự cầu nguyện và công việc lành cho đến khi nó lớn lên đến độ không ai có thể lấy đi khỏi chúng ta – dù là những tai hoạ, những bách hại, và ngay cả cái chết.

Ở đây, điều quan trọng cần để ý là sự lớn lên của Nước Trời trong mỗi người chúng ta thì từ từ, thay đổi dần dần.

Cũng giống như cần phải có thời gian để trái dưa leo nhỏ xíu lớn lên trong cái chai, Nước Trời cũng vậy.  Đây là lý do tại sao vẫn còn sự dữ bên trong tâm hồn chúng ta, và nhất là trong thế giới.

Hạt giống của Nước Trời đã được gieo xuống; nó đang mọc lên nhưng chưa đạt đến trọn vẹn.
Đây là lý do chúng ta xin cho “nước Cha trị đến” khi đọc kinh Lậy Cha.
Trong khi đó, “lĩnh vực của Satan” tiếp tục chiến đấu chống với Nước Trời.
Nói cách khác, vương quốc của Satan thì chỉ mới bị kết án tử hình.  Nó chưa bị tiêu diệt.  Và hậu quả là nó vẫn gieo rắc sự thù địch trong thế giới chúng ta.

Điều này đưa chúng ta đến điểm quan trọng thứ hai về Nước Trời.

Không giống như một cây rõ ràng xuất phát từ hạt giống nhỏ xíu, để mọi người đều thấy, Nước Trời thì vô hình và không thể thấy.  Nó là tinh thần.  Đức Giêsu nói:
“Nước Thiên Chúa không đến theo kiểu cách để được thấy.  Không ai có thể nói, ‘Kìa, nó ở đây!  Hay ‘Nó ở kia’; bởi vì Nước Thiên Chúa thì ở trong lòng anh em.” (Luca 17:20-21)

Điều này đưa chúng ta đến với vai trò của Giáo Hội.  Đức Giêsu đã thiết lập Hội Thánh để phục vụ hai mục đích.
Thứ nhất, nó phục vụ như một “hạt giống” mà từ đó Nước Trời sẽ xuất phát.  Thứ hai, nó là một “dấu hiệu” thấy được của vương quốc Thiên Chúa trong thế giới chúng ta.

Cũng giống như Đức Giêsu, Hội Thánh có hai chiều kích: chiều kích thiêng liêng và chiều kích nhân bản.
Chiều kích thiêng liêng thì vô hình.  Không có ai khác hơn là chính Đức Kitô, Người là đầu và là sự sống của Hội Thánh.
Ngược lại, chiều kích nhân bản thì hữu hình.  Đó là các phần tử của Hội Thánh.

Qua đời sống chứng nhân và phụng tự của chúng ta, là các phần tử của thân thể Đức Kitô, chúng ta làm cho Hội Thánh trở nên hữu hình và hoạt động trong thế giới.
Chiều kích nhân bản của Hội Thánh thì giống như bất cứ gì thuộc về con người; nó có khuyết điểm. Điều này không chỉ bao gồm các phần tử, nhưng còn cả giới lãnh đạo: các giám mục và linh mục của Hội Thánh.
Bởi vì có khuyết điểm, nó không luôn luôn trưng ra được “diện mạo của Đức Kitô” cho thế giới thấy như nó phải thi hành.
Nó cũng dễ sa ngã tội lỗi và vẫn phải tranh đấu để trở nên điều mà Thiên Chúa đã mời gọi.
Hậu quả là trong cuộc lữ hành trần thế của Hội Thánh, nó luôn luôn là một sự pha trộn giữa ánh sáng và bóng tối.
Sẽ luôn luôn có đủ ánh sáng cho những ai thành tâm muốn được thấy và cũng đủ tối tăm cho những ai không muốn.
Đây là điều nó phải như vậy.  Ánh sáng của Hội Thánh không bao giờ trùm lấp chúng ta.  Nó chỉ mời gọi chúng ta.
Nói cách khác: khi nói đến sự hiện diện của Hội Thánh, nó không bao giờ quá sáng tỏ đến độ chúng ta không cần phải thắc mắc gì cả.
Nó cũng không ẩn giấu quá kín đến độ người thành tâm muốn tìm kiếm phải lầm lạc.  Nó luôn luôn mở rộng cho cả hai điều khả dĩ.
Và đây là điều phải như vậy.  Đức Giêsu tôn trọng sự tự do con người.  Đức Giêsu không ép buộc chúng ta phải đi theo Người.
Hãy để tôi kết thúc với một đoạn trích từ bài thơ thật hay bởi một tác giả vô danh.
Nó hầu như tóm lược những gì mà chúng ta muốn nói.  Bài thơ viết:

Tôi nghĩ không bao giờ tôi thấy được một Giáo Hội đúng như tất cả những gì nó phải là:
Một Giáo Hội mà các phần tử không bao giờ lệch lạc khỏi con đường thẳng và hẹp.
Một Giáo Hội không còn hàng ghế trống trong nhà thờ, và cha xứ không bao giờ phải thất vọng.
Các Giáo Hội tuyệt hảo như thế có lẽ cũng có nhưng tôi chưa bao giờ được biết.
Tuy vậy, chúng ta sẽ làm việc và chơi đùa và hoạch định để làm cho Giáo Hội của chính chúng ta trở nên tốt nhất có thể.

Lm. Mark Link, S.J.

HENRI NOUWEN, MỘT VỊ THÁNH CỦA THỜI ĐẠI CHÚNG TA

Thời nay, làm thánh không thôi thì không đủ, chúng ta phải có sự thánh thiện mà thời điểm hiện tại đòi hỏi.

Triết gia Simone Weil đã viết câu đó, và bà đúng.  Chúng ta cần những vị thánh mà thời điểm hiện tại đòi hỏi và tôi muốn đề xuất một người mà tôi tin rằng phù hợp với mô tả này, đó là linh mục Henri Nouwen, ngòi bút thiêng liêng nổi tiếng đã qua đời năm 1996.  Sự thánh thiện của ngài là gì và tại sao nó đặc biệt thích ứng vời thời hiện tại?

Henri Nouwen được cho là ngòi bút thiêng liêng có sức ảnh hưởng nhất thế hệ chúng ta.  Tuy nhiên, linh đạo của ngài không phát xuất từ lòng sốt mến dễ dàng hay đức tin chưa qua thử thách.  Như tác giả Michael Higgins viết trong quyển tiểu sử Nouwen, ngài là “một thiên tài sinh ra từ thống khổ.”  Nouwen là vị thánh bị lo âu dày vò, một vị thánh lý tưởng cho một thời đại chìm trong lo âu.

Ngài là con người lo âu, đau đớn, phức tạp với một cá tính quá đỗi nhạy cảm.  Ngài có xu hướng ám ảnh trong các mối quan hệ thân thiết, có khi thể hiện những nhu cầu ấu trĩ như trẻ con và dù đã có được biết bao tình yêu thương, được đón nhận và thành công, nhưng ngài luôn mãi bị ám ảnh với ý thức, mình không được yêu thương thật sự và không có nơi nào là mái ấm cho mình.  Ngài còn nuôi dưỡng một vết thương trong lòng mà ngài không bao giờ giải thích cho người khác cũng như không hòa giải với chính mình.  Với biết bao chuyện như thế, ngài lại còn có tính khí của một nghệ sĩ, vừa là một ơn vừa là gánh nặng, và như nhiều nghệ sĩ khác, ngài phải đấu tranh để giữ sự bình thường, thiết thực và cân bằng khi sáng tạo, tận hưởng sự tỉnh táo thực tế và không vượt ra khỏi lời khấn khiết tịnh.  Vì thế, ngài có thể lên sân khấu, tỏa một sức sống mãnh liệt, rồi bước xuống sân khấu và vài phút sau đã bật khóc và xin người khác an ủi mình.  Về tính dục, dù đã có lời khấn độc thân khiết tịnh và vẫn giữ trọn lời khấn, nhưng có những lúc ngài yêu đến ám ảnh một ai đó, đến nỗi ngài chỉ có thể giữ trọn lời khấn và sự tỉnh táo bằng cách tìm đến bác sĩ chuyên khoa.

Đây không phải là những điều mà bạn thường đọc thấy nơi cuộc đời các thánh, ít ra là những thánh đã được chính thức phong thánh và được xem là gương mẫu của thánh thiện, nhưng thật ra, nó chính là chất liệu của sự thánh thiện.  Triết gia Soren Kierkegaard, người mà linh mục Nouwen ái mộ, đã định nghĩa một vị thánh như sau: thánh là người chỉ muốn một điều.  Đó là một việc không dễ dàng gì.  Không phải vì chúng ta khó mong muốn điều đúng đắn, nhưng vì chúng ta còn muốn nhiều điều khác nữa.  Thánh Tôma Aquinô đã xác nhận, mọi lựa chọn là một sự từ bỏ.  Nói thế là nói ngắn gọn.  Mọi lựa chọn là một loạt những từ bỏ, và chính vì thế mà lựa chọn và thánh thiện đều là việc khó khăn.

Trong nhật ký của mình, linh mục Nouwen mô tả sự đấu tranh của mình như thế này.  Tôi muốn làm một vị thánh vĩ đại, nhưng tôi còn muốn trải nghiệm mọi cảm giác mà những người tội lỗi cảm nghiệm.  Tôi muốn rút lui vào thinh lặng của cầu nguyện, nhưng tôi không muốn bỏ lỡ bất kỳ điều gì trên đời.  Tôi muốn chôn mình trong vô danh sống giữa người nghèo, nhưng tôi cũng muốn viết sách, muốn người ta biết đến, muốn đi đây đó, gặp mọi người và làm những việc thú vị.  Đó là những điều mà ngài đã phải đấu tranh, cũng như chúng ta vậy, nhưng cuối cùng, ngài đã tìm được cách để chỉ muốn một điều.

Ngài làm bằng cách nào, làm sao bất chấp tất cả mọi chuyện này, ngài đã trở nên một vị thánh?  Ngài làm được nhờ sự chân thật khiêm hạ không bao giờ chối bỏ những đấu tranh vật lộn của mình.  Ngài làm được như thế nhờ ngài chấp nhận sự phức tạp của mình, bằng cách quỳ gối trong những lời cầu nguyện bất lực, khi sức của ngài không đủ, và bằng cách để người nghèo yêu mến mình.  Và ngài làm như thế bằng cách chia sẻ những vết thương của mình với mọi người, bằng cách tìm sự giúp đỡ của chuyên gia khi suy sụp, bằng cách học lấy từ mọi nỗi đau, ám ảnh và đau lòng, rằng, đến tận cùng, trái tim chúng ta mạnh hơn những vết thương và vì thế chúng ta có thể giữ được những cam kết và cuối cùng có được bình an trong phức tạp, cám dỗ và đấu tranh.

Chắc chắn các vị thánh thời xưa đã có những đấu tranh của riêng họ khi cố gắng chỉ muốn một điều, cố gắng dẫn truyền sinh lực bất kham của họ và phó mình trong tay Thiên Chúa.  Tuy nhiên, những câu chuyện chúng ta nghe về cuộc sống các ngài lại có khuynh hướng làm nổi bật những nhân đức hơn là đấu tranh.  Ví dụ Mẹ Têrêxa cũng là vị thánh của thời đại chúng ta, là vị thánh đã tạo nhiều cảm hứng tích cực.  Với nhiều người chúng ta, cuộc đời và nhân đức của Mẹ dường như quá xa vời với những đấu tranh rối ren và trần tục của chúng ta, đến nỗi chúng ta xem Mẹ như một vị thánh để ngưỡng mộ chứ không phải để noi gương.  Dĩ nhiên như thế là không đúng.  Mẹ cũng có những đấu tranh, và là đấu tranh cực lớn. N hưng khi kể lại chuyện đời của Mẹ, những đấu tranh đó lại không thường được nêu bật.

Câu chuyện của linh mục Henri Nouwen và các tác phẩm của ngài, lại nêu bật những đấu tranh, chứ không chỉ nhân đức và sự khôn ngoan của ngài.  Biết được sự trần tục trong những đấu tranh của ngài, có thể gây nên ấn tượng rằng nơi ngài có ít điều đáng ngưỡng mộ hơn Mẹ Têrêxa.  Có lẽ thế. Nhưng, nơi cha Nouwen, chúng ta thấy một người mà chúng ta dễ noi gương hơn.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

TÂM HỒN CAO THƯỢNG

Năm 1886, cuốn “Tâm Hồn Cao Thượng” của Edmondo De Amicis ra đời; nguyên tác là “Cuore,” nghĩa là “Trái Tim.”  Hơn 130 năm, tác phẩm đã chinh phục hàng triệu trái tim độc giả trên thế giới.  “Cuore” viết theo thể nhật ký thông qua lời kể của Enrico, một cậu bé 10 tuổi, xuất thân từ tầng lớp thượng lưu đang hoà nhập cùng bạn bè thuộc giới lao động.  Đó là những câu chuyện nhỏ, diễn ra suốt năm học lớp 3, dưới góc nhìn của cậu bé.  Thế giới trẻ thơ ấy có những va đập, bất đồng liên tục.  Thế nhưng, thật bất ngờ, sau những va đập đó, là những mảnh vỡ nhặt được, lại lóng lánh bao giá trị sống; đó là lòng yêu nước, sự chân thành và hơn cả, lòng tốt của mỗi con người.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho chúng ta mục kích những “tâm hồn cao thượng” không phải vào thời Enrico, nhưng những “tâm hồn cao thượng” thời Cựu Ước và cả thời Tân Ước.  Thế nhưng, Tin Mừng không chỉ dành cho trẻ em, mà còn cho cả người lớn; nên bên cạnh đó, Chúa Giêsu không ngại chỉ ra những tâm hồn rất ít cao thượng; đó là những luật sĩ mà Ngài phải nặng lời khi nói về họ.

Trước hết, những “tâm hồn cao thượng” thời Cựu Ước, đó là cha con ông Tôbia.  Họ đã bàn bạc với nhau, “Chúng ta phải tặng cái gì cho người thánh thiện đã đi với con?”  Rồi cả hai cha con gọi thiên thần đến, đưa người ra chỗ riêng và xin người vui lòng nhận một nửa những gì đã mang về.”  Thật thú vị, bà Tôbia và cô dâu Sarah không được nghe!  Và nếu chúng ta tò mò muốn biết “những gì đã mang về” ấy, thì sách Tôbia cho biết, có đến 300 ký bạc, chưa nói số lãi trong 20 năm; đó là cả một gia tài.  Và ở đây, chúng ta không thể bỏ qua “tâm hồn cao thượng” của Gabael, người giữ số bạc cho Tôbia, ông sẵn sàng trao lại những gì đã giữ theo khế ước.  Chuyện như mơ đối với người thời nay!  Và này, một “tâm hồn cao thượng” khác đã kịp được tiết lộ trước khi sách Tôbia khép lại; đó là Raphael, Tổng lãnh thiên thần, bạn đồng hành của “Tôbia con.”  Bấy giờ, Raphael mới tỏ lộ danh tánh, tỏ lộ sứ vụ trợ giúp gia đình Tôbia; và rồi, không lấy một xu, vì thiên thần đâu cần tiền như chúng ta!  Ngài nói, “Vậy đã đến lúc tôi phải trở về cùng Đấng đã sai tôi; còn các người, hãy chúc tụng Thiên Chúa và cao rao mọi việc kỳ diệu của Ngài!”  Tâm tình ngợi khen đó được nhắc đi nhắc lại trong câu đáp ca, “Chúc tụng Thiên Chúa, Đấng muôn đời hằng sống!”

Với bài Tin Mừng, thật đặc biệt, đó là “tâm hồn cao thượng” của một bà goá thời Tân Ước.  Bên hòm dâng cúng, Chúa Giêsu đã nhìn thấy bà bỏ nhiều hơn ai hết; Ngài nói, “Bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống.”  “Để nuôi sống” chính là sự sống, là máu.  Chúa Giêsu nhìn thấy những gì không ai khác nhìn thấy, Ngài nhìn thấy bà, một người gần như bị mọi người phớt lờ; Ngài còn nhìn thấy đó là một hành động nhân đức ngời sáng; tính xác thực của món quà bà dâng gấp đôi.  Bà lặng lẽ đưa ra, mà không hề nghĩ đến việc giành được lời khen ngợi; món quà của bà chỉ dành cho một mình Thiên Chúa.  Và những gì bà cho đi tuy thật nhỏ bé, nhưng thực chất là tất cả của bà.  Bác ái thuần tuý được thực hiện cho Thiên Chúa liên quan đến sự dâng hiến toàn bộ bản thân chúng ta; đó là một sự hiến dâng không dè giữ, sẵn sàng yêu thương, phục vụ; bất cứ ai, bất cứ ở đâu, bất cứ khi nào.  Đó là bác ái đích thực của một “tâm hồn cao thượng!”

Ngoài những “tâm hồn cao thượng” đáng ngưỡng mộ trên, chúng ta còn chứng kiến những tâm hồn ít cao thượng mà Chúa Giêsu chỉ ra; đó là các luật sĩ giả hình đang “biểu diễn” trước mặt mọi người.  Áo xống họ thùng thình gây sự chú ý; những chức danh, tước vị đi liền sau tên họ, xem ra đang tặng cho họ những giá trị bản thân.  Vị trí lãnh đạo của họ đặt lên vai họ một trách nhiệm lớn lao; tuy nhiên, khác xa với những điều tốt đẹp họ có thể làm, họ đã sử dụng nó để lợi dụng người khác.  Họ không biết họ sống vì ai?  Họ dạy dỗ, cốt để gây ấn tượng; họ cho đi, cốt để tạo danh tiếng; họ cầu nguyện, cốt để biện minh cho tất cả những gì họ đã lấy trộm của người nghèo.  Họ không phải là những con người xấu xa; họ là những “quý ông tốt,” nhưng đã bị cuốn hút bởi việc tìm kiếm hư danh và yêu bản thân.  Điều này giải thích tất cả những gì họ đã làm; ngay cả khi họ tình cờ làm một điều gì đó, giá trị của nó cũng trống rỗng, vì cái họ tìm kiếm là tôn vinh chính mình.

Anh Chị em,
Có tâm hồn nào cao thượng bằng tâm hồn của Thiên Chúa; “tâm hồn cao thượng Giêsu” đã chết, đã sống lại và giờ đây đang âm thầm hiến mình trên các bàn thờ, trong các nhà chầu.  Ước gì lòng bác ái của chúng ta luôn được lặng lẽ kín đáo như Ngài; và sự hiến dâng của chúng ta cũng là một điều gì đó mà chỉ một mình Thiên Chúa biết.  Bởi lẽ, việc tìm kiếm chính mình sẽ giết chết giá trị của sự hiến dâng, ám sát những nỗ lực hình thành các nhân đức, và bóp nghẹt trái tim của một con người hầu kìm hãm, không cho nó có khả năng vươn tới một “tâm hồn thuộc cõi trên.”

Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, xin đừng để của cải chiếm hữu con nhưng cho con biết cách sở hữu của cải; xin giết chết thói hư danh nơi con, hầu con có một “tâm hồn cao thượng.”  Xin làm im tiếng sự cho đi của con, để phần thưởng của con chỉ được tìm thấy nơi một mình Chúa”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

TRAO BAN ĐẾN TẬN CÙNG

Tình thương là động cơ chính thúc đẩy người ta ban tặng cho nhau.
Vì tình yêu thương có nhiều cấp độ hơn kém khác nhau nên việc trao ban cũng có nhiều mức độ nhiều ít khác nhau.

1. Trao ban những thứ dư thừa

Khi gặp một người ăn xin xa lạ trên đường phố chìa tay tìm sự giúp đỡ, khách bộ hành dừng lại, tần ngần mở ví, tìm đồng tiền nhỏ nhất trao cho người ấy.  Khi gặp người lỡ bước không chỗ tạm trú qua đêm, người chủ của căn nhà sang trọng chỉ nhường cho người đó một xó nhỏ ngoài hành lang nhà mình.  Khi có nạn nhân những vùng bị lũ quét cuốn trôi hết gia tài sản nghiệp, người dư ăn dư mặc chỉ chia sẻ cho họ những bộ áo quần cũ kỹ, mặc không vừa ý…  Vì tình thương đối với những người hoạn nạn ấy rất nhỏ nhoi nên người ta chỉ trao tặng họ những của dư thừa.

2. Trao ban những điều cần thiết

Khi tình yêu dành cho người khác lớn hơn, người ta sẽ ban tặng cho họ những thứ cần thiết hơn.  Hai người bạn tù thương mến nhau đang sống trong cảnh tù đày thiếu đói, người nầy sẵn sàng bẻ đôi miếng bánh đang ăn để chia sớt cho người kia cùng chịu cảnh tù tội đói khát với mình.

3. Trao ban cả bản thân

Cao cả hơn hết là trao ban chính bản thân mình.  Đó là khi người có đôi mắt tinh tường sẵn sàng hiến một con mắt của mình cho người bị nạn hỏng cả hai mắt; người có hai quả thận hoạt động tốt, hiến cho người bị hư thận hoàn toàn một quả; người có hai lá phổi lành lặn, hiến cho người bị ung thư hai buồng phổi một lá; người có hai cánh tay khoẻ mạnh tình nguyện hiến nguyên cả một cánh tay của mình cho người bị tai nạn nghề nghiệp đứt lìa hai chi trên.

Chỉ khi nào người ta yêu mến nạn nhân hết lòng hết sức, yêu nạn nhân còn hơn cả bản thân mình, người ta mới hiến tặng những chi thể trong thân mình cho họ.  Vì thế, những nghĩa cử cao đẹp đó rất hiếm hoi trên cõi đời ô trọc nầy.  Chỉ có Chúa Giêsu mới trao ban cả thân xác và mạng sống của Người cho chúng ta.

Người đời nghèo thiếu tình yêu nên cũng rất bủn xỉn trong việc trao ban.  Chúa Giêsu yêu thương chúng ta hết lòng, hết sức, trên hết mọi sự nên Người trao ban cho chúng ta tất cả không tiếc nuối điều gì, thậm chí còn ban cả bản thân và mạng sống của Người cho chúng ta.

Khi nhân loại ngụp lặn trong đại dương chết chóc mong ước có một “Tấm Phao” thần diệu cứu họ khỏi đắm chìm trong biển chết hãi hùng, Chúa Giêsu từ trời gieo mình xuống và trở nên “Phao Cứu Sinh” cho họ.  Khi nhân loại khao khát thứ bánh thần thiêng mang lại sự sống đời đời, Chúa Giêsu hiến ban Thân Mình Người làm bánh trường sinh mang lại sự sống vĩnh cửu cho thế nhân.  Khi loài người cần máu của Con Thiên Chúa đổ ra tẩy rửa tội lỗi ngút ngàn của họ, Chúa Giêsu sẵn sàng trút máu mình ra không tiếc nuối.  Khi con người cần sinh mạng của Ngôi Hai Thiên Chúa để đổi mạng cho mình, Chúa Giêsu vui lòng dâng hiến mạng sống mình chết thay cho muôn dân…

Chúa Giêsu luôn đáp ứng tất cả những nhu cầu sâu xa nhất, bức thiết nhất của chúng ta cho dù Người phải thiệt mất mạng sống.  Chúa Giêsu trao ban hết tất cả những gì Người có và ban chính bản thân Người vì yêu thương chúng ta.  “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình” (Ga 15,13).

Lạy Chúa Giêsu,
Không ai trên cõi đời nầy yêu thương chúng con bằng Chúa.
Dù chúng con có phản bội, có thờ ơ hờ hững với Chúa thì Chúa vẫn trọn đời yêu quý chúng con.
Vậy mà tiếc thay, nhiều người trong chúng con không nhận ra tình yêu cao vời ấy.
Xin đừng để chúng con trở nên người bội bạc vong ân vì không cảm nhận được tình yêu của Chúa và không biết đáp đền tình yêu trời bể Chúa dành cho chúng con.

Lm. Ignatiô Trần Ngà

MARIA Ở LẠI ĐỘ BA THÁNG

Từ Nadarét, Chị Maria đã phải đi 160 cây số để đến nhà ông bà Dacaria.  Ngày nay, người ta cho rằng nhà của ông bà tư tế này là ở En Kerem, một ngôi làng nằm trên đồi, vây bọc bởi những cây ô liu và vườn nho, cách Giêrusalem 6 cây số về hướng tây.  Cuộc hành trình vất vả, dài như cuộc hành hương lên Đền Thánh.  Chị Maria không đi một mình, chắc Chị đi với một người bà con.  Hơn nữa, chị đi với Giêsu đang lớn lên trong lòng Chị.

Khi nghe sứ thần nói bà chị họ Êlisabeth già nua đang mang thai, Maria thấy mình có bổn phận phải vội vã lên đường.  Chị muốn đem đến cho bà Êlisabeth sự hiện diện của Chị.  Một sự hiện diện khiêm tốn và lịch sự.  Chị đã mở lời chào khi vừa bước vào nhà ông bà tư tế Dacaria.  Chúng ta không rõ Maria đã chào như thế nào, nhưng lời chào của Chị đã làm bật dậy nơi bà Êlisabeth một chuỗi những âm vang mạnh mẽ và bất ngờ.

Tai vừa nghe lời chào của cô em Maria, Êlisabeth thấy thai nhi trong lòng mình nhảy lên vì vui sướng (cc. 41, 44).  Lập tức bà được đầy tràn Thánh Thần.  Thánh Thần đã khiến bà nhận ra những mầu nhiệm lớn lao đang diễn ra trong cuộc hạnh ngộ ở đây, vào giây phút này.  Êlisabeth lớn tiếng ca ngợi Maria là người phụ nữ diễm phúc nhất.

Maria có phúc vì được chọn làm Mẹ sinh ra Đấng Cứu độ (c. 42), và vì đã tin Chúa sẽ thực hiện những gì Người nói với mình (c. 45).  Ngỡ ngàng và ngây ngất trong hạnh phúc, Êlisabeth kêu lên: “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa của tôi đến với tôi thế này?” (c. 43).  Như thế mầu nhiệm ẩn kín nơi Chị Maria, bà Êlisabeth đã biết.

Ngược lại, khi thấy bà chị họ của mình mang thai, Maria xác tín hơn vào những lời sứ thần đã nói với mình.  Một sự hiện diện mang tính phục vụ.  Maria đã ở với bà Êlisabeth độ ba tháng để giúp bà trong lúc sinh nở.  Tất cả những việc trong nhà, hẳn chị Maria đã tận tâm chu tất.

Khi Chị nhận mình là nữ tỳ của Chúa (Lc 1, 38), khi bà Êlisabeth gọi Chị là Mẹ của Chúa tôi (c. 43), thì Chị lại trở nên nữ tỳ phục vụ bà chị họ cao niên.  Sự hiện diện của Chị đem lại cho cả nhà niềm vui và hạnh phúc.  Giêsu vẫn lớn lên từng ngày trong Chị, và Chị cảm nhận điều đó.  Lời ca Magnificat chẳng phải chỉ được cất lên một lần.  Lời ngợi khen ấy thấm nhuần cuộc sống của Chị.  Mãi mãi Chị là nữ tỳ hèn mọn được Thiên Chúa cúi xuống (c. 48).  Và Chị biết mình cũng phải cúi xuống để phục vụ tha nhân.

Mọi cuộc gặp gỡ của chúng ta hằng ngày đều có tính linh thánh.  Trong niềm vui của Thánh Thần, ta vừa cho đi, vừa nhận lãnh, vừa ngợi khen Chúa, vừa phục vụ con người.  Ước gì chúng ta thấy mình lớn lên nhờ dám mở ra để gặp gỡ.

Lạy Mẹ Maria, khi đọc Phúc Âm, lúc nào chúng con cũng thấy Mẹ lên đường.  Mẹ đi giúp bà Isave, rồi đi Bêlem sinh Đức Giêsu.  Mẹ đưa con đi trốn, rồi dâng Con trong đền thờ.  Mẹ tìm con bị lạc và đi dự tiệc cưới ở Cana.  Mẹ đi thăm Đức Giêsu khi Ngài đang rao giảng.  Và cuối cùng Mẹ đã theo Ngài đến tận Núi Sọ.  Mẹ lên đường để đáp lại một tiếng gọi âm thầm hay rõ ràng, từ ngoài hay từ trong, từ con người hay từ Thiên Chúa.  Chúng con thấy Mẹ luôn đi với Đức Giêsu trong mọi bước đường của cuộc sống.  Chẳng phải con đường nào cũng là thảm hoa. Có những con đường đầy máu và nước mắt.  Xin Mẹ dạy chúng con đừng sợ lên đường mỗi ngày, đừng sợ đáp lại những tiếng gọi mới của Chúa dù phải chấp nhận đoạn tuyệt chia ly.  Xin giữ chúng con luôn đi trên Đường-Giêsu để chúng con trở thành nẻo đường khiêm hạ đưa con người hôm nay đến gặp gỡ Thiên Chúa. Amen.

Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

LÝ GIẢI TAM VỊ NHẤT THỂ

Các Kitô hữu có khó tưởng tượng có Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần là Một Chúa mà lại có Ba Ngôi?

1. Đó là vấn đề

Câu trả lời không dễ, thế nên việc đầu tiên của chúng ta là giải thích lý do tại sao đáng để tìm hiểu. Trước tiên, niềm tin của chúng ta tìm cách hiểu.  Aristotle nói: “Mọi người đều muốn biết” (metaphysics – siêu hình học).  Tuy nhiên, đó không chỉ là niềm tin tìm cách hiểu, đó cũng là lòng yêu mến của chúng ta.  Khi yêu mến ai, người ta muốn biết mọi thứ về người đó.  Quan trọng nhất là người ta muốn biết điều gì làm cho người đó chính là người đó.  Lòng yêu mến của chúng ta dành cho Thiên Chúa mời gọi chúng ta nhận biết Ngài sâu sắc đến tận cùng.

Lý do thứ hai là sự hiểu biết như vậy có sức mạnh giúp chúng ta giải thích niềm tin của chúng ta cho người khác hiểu.  Thứ ba, đào sâu bí ẩn về Thiên Chúa không giúp đỡ nhưng khơi dậy sự thắc mắc của chúng ta và làm cho chúng ta ngạc nhiên về sự uy nghi của Thiên Chúa.  Thần học có thể trợ giúp chúng ta chiêm ngưỡng.  Thứ bốn, cách đánh giá về vẻ đẹp của chân lý sẽ làm sâu sắc lòng yêu mến của chúng ta dành cho Thiên Chúa.

2. Giáo lý về Chúa Ba Ngôi

Điều chúng ta đang tìm hiểu là giáo lý khá đơn giản: Một Thiên Chúa có Ba Ngôi.  Tín điều Công Đồng Nicê nói: “Chúng tôi tin kính một Thiên Chúa.  Với lời xác định đó, chúng ta đặt niềm tin vào Ba Ngôi: Ngôi Cha, Ngôi Con, và Ngôi Thánh Thần.  Điều này hoàn toàn có trong Kinh Thánh. Ví dụ:

– Tôi và Chúa Cha là một (Ga 10:30).
– Nơi Đức Kitô, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể (Cl 2:9).
– Chúa Giêsu bảo các môn đệ ra đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần (Mt 28:19).

Hãy mở rộng một chút.  Chúng ta tuyên xưng có một Thiên Chúa, không có ba Thiên Chúa.  “Ba” đó không là ba bản thể mà là ba ngôi vị.  Có một Thiên Chúa, mỗi ngôi hoàn toàn là Thiên Chúa.  Chúa Cha là Thiên Chúa hoàn toàn, Chúa Con là Thiên Chúa hoàn toàn, Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa hoàn toàn.

Điều này có vẻ rắc rối hoặc nghịch lý đối với một số người.  Thế là thế nào?

3. Giải thích không tác dụng

Một trong những cách giải thích hay nhất trong lịch sử Giáo Hội khả dĩ giúp tìm ra điều không tác dụng.  Cách nói ẩn dụ nổi tiếng của Thánh Patrick về cây lá chụm hoa (three-leaved shamrock – cây có ba lá hoặc cây me đất, người Ai-len lấy hình cụm ba lá của cây này làm quốc huy) không còn là nó bởi vì mỗi lá trong cụm ba lá đó tách rời nhau.  Chúa Cha không hiện hữu tách rời với Chúa Con hoặc Chúa Thánh Thần.

Một cách ẩn dụ phổ biến là nước.  Chúng ta có thể nói có một chất nước hiện hữu trong ba trạng thái – băng, lỏng, và khí.  Nhưng cách ẩn dụ này không đạt bởi vì nước không bao giờ hoàn toàn vừa là tảng băng, vừa là chất lỏng, và vừa là chất khí cùng một lúc.  Nhưng Thiên Chúa luôn là Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.  Ngài không là Chúa Cha vào một lúc nào đó, Chúa Con lúc khác, và Chúa Thánh Thần lúc khác.  Tách ba ngôi như vậy là tà thuyết Cách Tân (Modalism, cũng gọi là Sabellianism vì do Sabellius khởi xướng hồi thế kỷ II), cho rằng các ngôi vị không là thực thể, mà chỉ là “cách thức” Thiên Chúa hiện ra cho chúng ta.

Một cách ẩn dụ khác là sự sống động của một khối cầu kim loại chiếu sáng.  Nó có một chất – chính kim loại đó.  Nhưng có ba thứ cùng chia sẻ trong chất đó.  Thứ nhất, có trạng thái tròn. T rạng thái tròn đó là thứ bao quanh toàn bộ khối cầu.  Thứ nhì, có màu sắc.  Chúng ta hãy tưởng tượng đó là màu đồng xám mà chúng ta có khi chà xát dầu trên ngón tay.  Toàn bộ khối cầu là màu sắc này.  Thứ ba, khối cầu rất bóng láng.  Giống như hình dạng và màu sắc, sự bóng láng là thứ áp dụng đối với cả chất liệu của khối cầu.  Chúng ta có thể nói rằng có một khối cầu bằng kim loại, tròn, màu đồng xám, và bóng láng.

Nhưng cách ẩn dụ này không còn nữa.  Điều chúng ta đang nói đến là đặc tính của khối cầu, chứ không là bản chất.  Chúng ta có thể vẽ nó bằng màu khác.  Chúng ta có thể đập nó lõm vào, bớt phần trơn láng.  Chúng ta có thể dùng búa lớn để làm cho nó không còn tròn trịa nữa.  Nó là vật chất, có thể thay đổi, và có thể phân chia – khác với Thiên Chúa.

4. Giải thích Thiên Chúa là một và ba

Thánh giáo phụ Augustino có cách giải quyết vấn đề ẩn dụ về Tam Vị Nhất Thể.  Nhìn sâu vào thế giới vật chất, nhìn vào trong trí tuệ phi vật chất.  Ngài hỏi rằng trong chúng ta, có ai thấy cái gì là một và là ba cùng một lúc không?  Thánh Augustino tìm ra câu trả lời là trí tuệ có trí nhớ, kiến thức, và tình yêu của chính nó.

Trí nhớ của trí tuệ là nguồn gốc của kiến thức.  Khi tự ghi nhớ, trí tuệ sinh ra sự hiểu biết về chính nó.  Và khi nó thấy chính nó là gì, thì ở một con người lành mạnh, trí tuệ sẽ yêu quý chính mình.

Toàn bộ trí tuệ ở trong mỗi cái ba này.  Mọi thứ nó là, nó nghĩ, và nó làm bao gồm trong trí nhớ của nó.  Cũng vậy, khi tự nhận biết, nó biết toàn bộ chính nó.  Theo ý nghĩa nào đó, chúng ta có thể nói rằng toàn bộ trí tuệ bao gồm trong sự nhận biết của nó về chính nó.  Nó là toàn bộ chính nó mà nó yêu và bao gồm trong tình yêu đó.

Thánh Augustinô chú giải rằng có những cái ba này – trí nhớ, kiến thức, và tình yêu.  Nhưng không có ba trí tuệ, chỉ có một.  Thế nên trí tuệ vừa là một vừa là ba.  Đó là một – trí tuệ, nhưng cũng là ba – trí tuệ, kiến thức, và tình yêu.

Ghi chú: Tôi đơn giản hóa và kết hợp những gì thực sự là hai điều tương tự mà Thánh Augustino đề cập.  Phiên bản đơn giản hóa này cũng được Thánh Thomas Aquino sử dụng.  Cũng có thể đọc tác phẩm “On Trinity” (Về Tam Vị Nhất Thể) của Thánh Augustino, và tác phẩm “Summa Contra Gentiles” của Thánh Thomas (tác phẩm “Summa Contra Gentiles” còn gọi là “Liber de veritate catholicae fidei contra errores infidelium” – Sách về Chân lý Đức tin Công giáo chống lại sai lầm của những người không tin, gồm 4 cuốn, viết trong thời gian 1259-1265).

Chúng ta có thể thấy sự rõ ràng song song giữa trí tuệ và Tam Vị Nhất Thể.  Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần tượng tự trí nhớ của trí tuệ, kiến thức, và tình yêu của chính nó.

Giáo lý Công giáo gọi Chúa Cha là “nguồn gốc và căn nguyên của thần tính” – giống như cách mà trí nhớ của chúng ta là nguồn gốc của kiến thức và tình yêu của chính nó.  Chúa Con kết hiệp với sự tự nhận biết của Thiên Chúa, đó là lý do mà Ngài cũng được gọi là Ngôi Lời và Sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa (x. Ga 1:1 và 1 Cr 1:24).  Cuối cùng, Chúa Thánh Thần kết hiệp với tình yêu của Thiên Chúa (x. Rm 5:5).

Vì thế, sự tương tự của trí tuệ không chỉ giải thích điều có vẻ nghịch lý về cách thức của điều gì đó (hoặc người nào đó) có thể là một và ba, điều đó cũng giải thích cái ba mà chúng ta hiểu – Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.

5. Giải thích lý do có Ba Ngôi

Có hai vấn đề chưa được trả lời.  Bởi vì chúng ta ở ngoài không gian, các câu trả lời ngắn cũng đủ.  Thứ nhất, tại sao cái ba nơi Thiên Chúa gọi là các ngôi vị?

Hãy nhìn điều này: Thánh Thomas Aquino nói rằng một ngôi là “một thực thể riêng của một bản chất hợp lý.”  Mới đầu nghe có vẻ khá hay.  Nhưng khoan đã!  Có điều gì đó không ổn trong chúng ta khi nghĩ về các cá nhân trong Thiên Chúa.  Chắc chắn Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần không là ba ngôi riêng biệt có cùng bản thể Thiên Chúa theo kiểu nói rằng John, Joe, và James là ba con người có cùng một nhân tính.

Thánh Thomas nhận thấy điều bất ổn này.  Ngài nói rằng “cá tính” chỉ xảy ra khi chúng ta nói về vấn đề mà chúng ta có, nhưng Thiên Chúa thì không.  Vì thế, khi nói về Thiên Chúa, chúng ta phải nhận biết rằng chúng ta sử dụng chữ “ngôi” với ý nghĩa khác so với khi chúng ta nói về con người.  Khi nói về Thiên Chúa, Thánh Thomas nói rằng chúng ta phải sử dụng cách định nghĩa của Richard of St. Victor về ngôi vị là “sự hiện hữu không thể hiểu của thần tính” (incommunicable existence of the divine nature).

Nói cách khác, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần thực sự hiện hữu, và Ba Ngôi có thể phân biệt với nhau.  Chúa Cha là Thiên Chúa, Chúa Con là Thiên Chúa, và Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa.  Nhưng Chúa Cha không là Chúa Con, và Chúa Con không là Chúa Thánh Thần.

Theo cách nào đó, ví dụ về John, Joe, và James có thể giúp chúng ta hiểu điều này.  Nếu một người hoài nghi hỏi làm sao có thể có ba ngôi của một bản chất hợp lý thì hãy nói rằng bạn và bạn của bạn, và người thứ ba đang sống để chứng tỏ điều có thể.  Sự khác nhau nhiều giữa Thiên Chúa và nhân loại là “không có các cá nhân.”  Bạn càng hiểu sự thật đó thì bạn càng có thể hiểu rằng Thiên Chúa chỉ có một và có ba ngôi.

Có thể có sự khôn ngoan trong cách nhượng bộ của Thánh Augustino, rằng chúng ta thực sự không thể biết ngôi vị có nghĩa gì khi áp dụng cho Thiên Chúa: “Khi hỏi ‘ba cái gì?’ thì ngôn ngữ loài người gặp khó khăn vì thiếu từ ngữ.  Cho nên chúng ta nói ba ngôi vị, chứ không nói chính xác, mà là để im lặng.

6. Tại sao có Ba Ngôi?

Vấn đề thứ hai là lý do có ba ngôi.  Tại sao không là bốn hay năm?  Trong tác phẩm “Summa Contra Gentiles”, Thánh Thomas chỉ ra sự tương tự về trí tuệ của Thánh Augustino để trả lời.  Khá đơn giản. Không hơn ba lý do là Thiên Chúa nhớ, biết, và yêu chính Ngài.  Không cần bất kỳ ai khác.

Do đó, tín điều Chúa Ba Ngôi là điều chúng ta có thể hiểu được.  Nhưng cách hiểu của chúng ta khá hạn chế, và không thể tránh có lúc chúng ta lặng lẽ thắc mắc về mầu nhiệm cao cả này.

Stephen Beale
Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

 CHÚC TỤNG THIÊN CHÚA BA NGÔI

“Chúc tụng Chúa Cha,
Chúa Con và Chúa Thánh Thần,
Vì Chúa đã tỏ lòng từ bi đối với chúng ta.”

Đó là mở đầu thánh lễ mừng kính Chúa Ba Ngôi.  Các bản văn phụng vụ không nhằm giải thích tại sao một Thiên Chúa duy nhất mà lại có Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần.  Mạc khải trọn vẹn về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi đã được hoàn tất nơi Chúa Giêsu Kitô, nhưng cả khi mạc khải cho các môn đệ về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, Chúa Giêsu cũng đã không giải thích tại sao Thiên Chúa duy nhất mà lại có Ba Ngôi.

Chúa Giêsu đã mạc khải cho các tông đồ, nhất là trong bài diễn văn từ biệt dài trong bữa Tiệc Ly về sự hiện diện và tác động của từng ngôi: Cha, Con và Thánh Thần, và về mối tương quan hiệp nhất giữa Ba Ngôi mà không giải thích lý do tại sao.  Các tông đồ lúc đó cũng đã không thắc mắc tại sao như vậy, nhưng các ngài đã yêu mến, chấp nhận và sống mầu nhiệm với hết lòng chân thành.

“Ta và Cha Ta, Chúng ta chỉ là một.  Ai tuân giữ giới răn Ta truyền thì Chúng ta sẽ đến ngự trong người đó.”  Trong Phúc âm thánh Gioan được dùng trong thánh lễ kính Chúa Trời Ba Ngôi là những lời của Chúa Giêsu mạc khải về mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa: Cha, Con và Thánh Thần.  Chúa Giêsu đã mạc khải cho các môn đệ như sau: “Thầy còn nhiều điều phải nói với các con, nhưng bây giờ chúng con không thể lĩnh hội được.  Khi Thần Chân Lý đến, Người sẽ dạy chúng con biết tất cả sự thật, vì Người không tự mình mà nói, nhưng Người nghe gì thì sẽ nói như vậy và Người sẽ dạy bảo các con biết những việc tương lai.  Người sẽ làm vinh danh Thầy, vì Người đã lãnh nhận từ nơi Thầy mà loan truyền cho các con.  Tất cả những gì Cha có đều là của Thầy, vì thế Thầy đã nói là Người sẽ lãnh nhận nơi Thầy mà loan truyền cho các con.”

Đó là những lời trích từ bài diễn văn dài được ghi lại nơi ba chương của Phúc âm thánh Gioan, từ chương XIV-XVI, trong đó mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi được Chúa Giêsu nhắc đến mà không giải thích cho các tông đồ.  Vấn đề quan trọng nhất không phải là biết hết tất cả mọi sự về Thiên Chúa mà là sống mầu nhiệm Thiên Chúa.  Sự hiểu biết của con người tuy có thể đạt được phần nào về Thiên Chúa nhưng không thể nào biết trọn được cả.

Sự việc đã xảy ra cho thánh Augustinô khi thánh nhân suy nghĩ về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi còn là một lời dạy cho chúng ta ngày nay.  Trí khôn con người hữu hạn làm sao có thể hiểu hoàn toàn về Thiên Chúa vô cùng, nếu muốn hiểu thì chẳng khác nào muốn đem nước của đại dương mênh mông mà đổ vào trong một lỗ nhỏ như trò đùa của em bé mà thánh Augustinô gặp nơi bờ biển.

“Thầy con nhiều điều phải nói với chúng con, nhưng bây giờ chúng con không thể lĩnh hội được.  Khi Thần Chân Lý đến, Người sẽ dạy chúng con biết tất cả sự thật, Ngài sẽ đưa các con vào trong trọn cả sự thật.”  Mỗi ngày chúng ta cần lớn lên trong tương quan với Thiên Chúa, cần được Chúa Thánh Thần soi sáng, hướng dẫn chúng ta tiến sâu vào trong mầu nhiệm bao la của Thiên Chúa Ba Ngôi.  Đây là một sự khám phá vô cùng và mãi không bao giờ ngừng, cả cho đến khi chúng ta được đối diện với Thiên Chúa trong cõi đời đời.

Mỗi ngày chúng ta càng được hướng dẫn hay để cho mình được hướng dẫn tiến sâu vào trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi thì chúng ta càng trưởng thành trong đức tin, đức cậy và đức mến, càng được thần thiêng hóa trở nên giống Thiên Chúa hơn và đối xử với anh chị em xung quanh như chính Thiên Chúa muốn.

Càng được thấm nhuần trong mầu nhiệm Thiên Chúa bằng đời sống cầu nguyện, kết hiệp thân tình với Thiên Chúa thì chúng ta càng có tâm hồn quảng đại, mở rộng đón nhận anh chị em xung quanh và phục vụ họ trong mọi hoàn cảnh cụ thể.  Đây là kinh nghiệm sống đức tin của những vị thánh mà không chứng minh hay giải thích nào của lý trí có thể đủ sức trình bày.

Nguyện xin Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần, mà dấu thánh giá chúng ta mang lấy hy sinh mình hàng ngày trước mỗi công việc quan trọng ban cho chúng ta được mỗi ngày một tiến sâu vào trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, được ẩn mình trong Thiên Chúa, được biến đổi trong Thiên Chúa để sống trọn cuộc sống con người của mình trên trần gian này và mãi mãi trong cõi vĩnh phúc mai sau.

R. Veritas
Trích trong “Mỗi Ngày Một Tin Vui”

KIÊN NHẪN VỚI THIÊN CHÚA 

Có một câu cách ngôn nói rằng người vô thần đơn giản chỉ là người không thể hiểu hình ảnh ẩn dụ.  Thomas Halik, nhà văn người Séc, thì cho rằng người vô thần là người không đủ kiên nhẫn với Thượng đế.

Câu đó có nhiều phần đúng.  Lòng kiên nhẫn với Thượng đế có lẽ là cuộc chiến đấu đức tin lớn lao nhất của chúng ta.  Dường như Thượng đế chẳng bao giờ vội vã vì thế chúng ta sống với lòng kiên nhẫn, nó có thể thử thách đức tin mạnh mẽ nhất và trái tim kiên cường nhất.

Như tất cả chúng ta đều có thể chứng thực, cuộc sống không phải không có các nỗi chán chường cay đắng và đau đớn dày vò trái tim.  Tất cả chúng ta đều sống với nhiều nỗi đau và căng thẳng không giải quyết được.  Ai trong chúng ta mà không từng nếm qua đau ốm bệnh tật, thất bại nhiều kiểu khác nhau về mặt cá nhân cũng như công việc, một kiểu sỉ nhục nào đó, một biểu đạt không đầy đủ của bản thân, những nỗi mất mát người thân làm khô héo tâm hồn, một kiểu khát khao trong thất vọng, và nỗi đau bứt rứt vì bất toàn của cuộc sống?  Trong cuộc sống này, chẳng hề có niềm vui trong trẻo, thuần khiết; đúng hơn mọi thứ đều đi kèm với bóng đen của nó.  Thật sự trong chừng mực nào đó, chúng ta sống trong thung lũng nước mắt.

Chúng ta được tạo ra để tìm hạnh phúc, nhưng hạnh phúc thuần khiết chẳng bao giờ tìm tới chúng ta.  Dường như công lý cũng thế.  Chúa Giêsu hứa rằng ai theo Người sẽ được phần thưởng nhưng dường như phần lớn không được như vậy.  Những người hung hăng nhất trong số chúng ta thường tin vậy.  Có một phim hoạt hình khét tiếng về Ziggy có cảnh Ziggy đang cầu nguyện với Thượng đế như sau: tôi chỉ muốn Ngài biết là những kẻ nhu mì vẫn bị đánh tơi tả dưới này.  Dường như thường thường là như vậy.  Vậy thì Chúa ở đâu?  Đâu là sự thật trong lời Chúa hứa ai theo Người sẽ được phần thưởng trên trái đất này?

Trước sự bất công dai dẳng trên toàn cầu, chúng ta hoặc sống trong nỗi kiên nhẫn chịu đựng với Chúa hoặc chúng ta đi đến chỗ tin rằng những lời hứa của Chúa lẫn sự tồn tại của Chúa đều là những điều không đúng sự thật.

Khi Chúa chết trên thập giá, một số người đứng xem châm chọc Người và thách thức thông điệp của Người với lời lẽ như sau: Nếu ngươi là con Thiên Chúa, thì để Thiên Chúa đến cứu ngươi đi!  Về căn cốt, điều đó nghĩa là: nếu Thiên Chúa là có thật và nếu thông điệp của ngươi là chân thật, thì hãy chứng minh ngay bây giờ đi!  Điều này cũng đúng với Chúa Giêsu trước cái chết của ông Ladarô.  Căn cốt, Người đang bị thách thức: nếu ngươi sở hữu quyền năng của Thiên Chúa trên thế gian này và ngươi thương yêu người đàn ông này, thì tại sao ngươi không cứu ông ta khỏi chết?  Chúa Giêsu để Ladarô chết!  Và cộng đoàn tín đồ đầu tiên, ngay sau lễ Chúa về trời, đã đau đớn đấu tranh với câu hỏi đó – Giêsu là Chúa và là người thương yêu chúng ta – vậy tại sao Người để chúng ta chết?

Mỗi người trong chúng ta đều đặt câu hỏi đó theo cách riêng của mình, vì điều chúng ta muốn là một vị Chúa cứu nạn cho chúng ta, can thiệp tích cực vì công lý và điều thiện trên thế gian này, người hành động một cách có thể nhận thấy được trong cuộc sống này, và người không để chúng ta đau ốm và chết đi.  Không ai trong chúng ta muốn một vị Chúa đòi hỏi chúng ta sống trong kiên nhẫn cả đời, dựa trên lời hứa rằng cuối cùng, dù đó là khi nào đi chăng nữa, tình yêu và công lý cũng sẽ chiến thắng, mọi nước mắt sẽ khô, và mọi chuyện cuối cùng đều tốt đẹp.  Chúng ta muốn sự sống, tình yêu, công lý và sự hưởng thụ ngay bây giờ, không phải ở một tương lai xa xôi và chỉ sau khi đã sống một cuộc đời đầy đau thương.  Chúa, như một câu ngạn ngữ cổ Do Thái đã nói, không bao giờ vội vàng!

Và thế là chúng ta sống với nỗi nôn nóng với Chúa, cả bộc lộ ra lẫn không được bộc lộ ra.  Có vẻ như, những người vô thần, ở một thời điểm nhất định, chỉ đơn giản là từ bỏ cuộc chơi, và, về căn bản, họ nói thế này: tôi đã thấy đủ rồi; tôi đã chờ đợi đủ rồi; mà như vậy lại chưa đủ!  Tôi sẽ không bao giờ đợi Chúa nữa!  Nhưng nếu vô thần chỉ là một cách khác để nói rằng tôi không bao giờ đợi Chúa nữa, thì điều ngược lại cũng đúng: Đức tin chỉ là một cách nói khác: Tôi sẽ chờ đợi Chúa.  Nếu vô thần là thiếu kiên nhẫn, thì đức tin là kiên nhẫn.

Tác giả thiêng liêng người Ý, Carlo Carretto, sau khi dành trọn hai mươi năm đi tu trong cô độc ở sa mạc Sahara, khi hỏi ông điều gì là điều duy nhất ông cảm thấy Chúa hay nói với ông trong im lặng lâu dài và sâu sắc, ông nghe thấy Chúa nói gì với thế giới?  Câu trả lời của ông là: Chúa bảo chúng ta cứ chờ đợi, cứ kiên nhẫn!

Tại sao lại cần lòng kiên nhẫn lớn lao như vậy?  Chẳng lẽ Chúa muốn thử chúng ta?  Chẳng lẽ Chúa muốn xem chúng ta thật sự có đức tin xứng đáng với phần thưởng lớn lao hay không?  Không.  Chúa chẳng cần phải bày ra trò chơi đó, và chúng ta cũng không cần.  Không phải là Chúa muốn thử thách lòng kiên nhẫn chúng ta.  Sự cần thiết cho lòng kiên nhẫn phát sinh từ những giai điệu bẩm sinh bên trong bản thân cuộc sống và bản thân tình yêu thương.  Chúng cần mở ra, như những bông hoa và cuộc thai nghén, theo nhịp bẩm sinh riêng của chúng và theo thời gian phù hợp riêng của chúng.  Chúng ta không thể vội vàng trong những chuyện đó, cho dù nỗi thiếu kiên nhẫn hay nỗi khó chịu của chúng ta lớn như thế nào đi nữa.

Chúng ta cũng không thể vội vàng với Chúa bởi vì chính lịch thời gian của Người bảo vệ chúng ta, để chúng ta không bị sinh non trên con đường tăng trưởng tình yêu và cuộc sống vĩnh cửu.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

MUỐN ĐI XA HƠN

“Khi con già, người khác sẽ thắt lưng cho con, dẫn con đến nơi con không muốn”.

“Ben-Hur”, một tác phẩm sử thi kinh điển, một cuốn phim giành 11 giải Oscar.  Đó là một câu chuyện cao ngất tình Chúa, cao thượng tình người và là sự miêu tả tinh tế về quyền năng, ân sủng và tình yêu.  Thế nhưng, “phần còn lại” nào mấy ai biết!  Đó là khi tác giả Lew Wallace, một người vô thần, bắt đầu nghiên cứu cuộc đời Chúa Giêsu, nhằm viết một điều gì đó để phủ nhận Ngài; thì lạ thay, càng đi sâu vào nghiên cứu, tác giả càng choáng ngợp trước các bằng chứng.  Sau đó, thay vì viết một cuốn sách chứng minh Ngài không phải là Thiên Chúa, ông viết “Ben-Hur”, chứng tỏ Ngài là Chúa Trời, Đấng ‘muốn đi xa hơn’, biến ông thành môn đệ, rao giảng Ngài suốt quãng đời còn lại.

Kính thưa Anh Chị em,

Một điều gì đó tương tự xảy ra nơi Phêrô, khi Chúa Giêsu cũng ‘muốn đi xa hơn’ trong tình yêu ông dành cho Ngài.  Bên bếp lửa hồng, đêm Ngài bị nộp, Phêrô chối Thầy ba bận; bên một bếp lửa hồng khác, ngày Ngài hiện ra sau phục sinh, Phêrô bày tỏ yêu mến Thầy ba lần.  Thật thú vị!  Ngọn lửa thứ nhất chứng kiến sự vỡ vụn của tình yêu Phêrô đối với Thầy; ngọn lửa thứ hai chứng kiến sự tròn đầy của tình yêu Thầy dành cho Phêrô, cũng như sự thanh khiết của tình yêu Phêrô dành cho Thầy mình.  Vậy mà không dừng lại ở đó, tình yêu Chúa Giêsu dành cho Phêrô còn ‘muốn đi xa hơn’, “Khi con còn trẻ, con tự thắt lưng lấy và đi đâu mặc ý, nhưng khi con già, con sẽ giang tay ra, người khác sẽ thắt lưng cho con và dẫn con đến nơi con không muốn.”

Câu chuyện Tin Mừng hôm nay xảy ra trên bờ hồ Tibêria; ở đó, Gioan ghi lại ba lần Chúa Giêsu hỏi Phêrô, “Con có yêu mến Thầy không?”; và ông đã trả lời ba lần, “Thầy biết, con yêu mến Thầy!”  Câu hỏi của Chúa Giêsu không phải là, “Tại sao con chối Thầy?”, nhưng là “Con có yêu mến Thầy không?”  Ngài không tập trung vào quá khứ nhưng tập chú vào hiện tại.  Quá khứ là quá khứ; hiện tại mới là vấn đề!  Hiện tại là lòng yêu mến; là chiên con, chiên mẹ và cả đoàn chiên Ngài trao.  Thế nhưng, chưa đủ, Chúa Giêsu ‘muốn đi xa hơn’ khi nói đến những gì sẽ xảy ra lúc Phêrô về chiều, “Con sẽ giang tay ra, người khác sẽ thắt lưng cho con và dẫn con đến nơi con không muốn.”  Thánh Gioan thật nhạy bén khi viết, “Chúa nói thế, có ý ám chỉ Phêrô sẽ chết cách nào.”  Truyền thống cho biết, cuối cùng, Phêrô đã bị đóng đinh; và theo yêu cầu, Phêrô xin được đóng đinh lộn ngược, để mắt dễ hướng lên trời; hơn nữa, vì cảm thấy mình không xứng đáng được chết như Thầy.  Hẳn chính Phêrô cũng ‘muốn đi xa hơn’, xa tận trời, vì Phêrô biết, “Chúa đặt ngai báu trên trời cao thẳm” như Thánh Vịnh đáp ca hôm nay tuyên bố; vì thế, không lạ, chân Phêrô dốc ngược, hướng thẳng lên trời!

Một sự trùng hợp thú vị ở đây, bài đọc Công Vụ Tông Đồ hôm nay cho thấy Phaolô cũng ‘muốn đi xa hơn’ khi nại đến hoàng đế Rôma, vì chính Chúa Giêsu, Đấng sai ông, cũng đã tiết lộ ý muốn ấy, “Con đã làm chứng về Ta tại Giêrusalem thế nào, thì cũng phải làm chứng về Ta tại Rôma như vậy!”

Ở đây, chúng ta sẽ rất ngạc nhiên khi khám phá ra rằng, cách hiểu của Chúa Giêsu về tình yêu rất khác với cách hiểu của con người.  Với Chúa Giêsu, đau khổ không đối nghịch với tình yêu khi nó được ôm lấy một cách tự do vì một mục đích cao cả hơn.  Chịu đau khổ và đau khổ tự nó không có giá trị gì, nhưng một khi đau khổ được đón nhận trong hy sinh vì tình yêu dành cho người khác, thì nó có khả năng mang một sức mạnh lớn lao đến kỳ diệu!  Và khi Chúa Giêsu nói đến sự nâng đỡ của Ngài dành cho Phêrô, “Simon, Simon, Thầy đã cầu nguyện cho con, để con khỏi mất đức tin!” thì Ngài vẫn ‘muốn đi xa hơn’, khi nhắm đến phần thưởng đời đời mà Phêrô sẽ giành được nhờ chính thập giá của mình.  Việc Chúa Giêsu không né tránh sự đau khổ trong tương lai cho Phêrô là một trong những dấu hiệu rõ ràng nhất, cho thấy tình yêu hoàn hảo hơn Ngài dành cho ông.

Anh Chị em,

Ai trong chúng ta cũng ‘muốn đi xa hơn’, xa hơn trong bổn phận, xa hơn trong sự thánh thiện…  Hôm nay, Chúa Giêsu cũng đang hỏi mỗi người đến ba lần, “Con có yêu mến Thầy không?”  Ngài ước muốn tình yêu chúng ta dành cho Ngài thật tinh tuyền, trọn vẹn; Ngài không chấp nhận một trái tim bị phân chia vì bất cứ lý do nào.  Bởi chỉ với tình yêu hoàn hảo, chúng ta mới có thể tận tình chăn dắt và dám hy sinh cho đoàn chiên, chiên mà Chúa đã mua bằng chính máu Ngài.  Như thế, nhờ tình yêu thuần khiết, mỗi người chúng ta mới có thể đi xa hơn trong ơn gọi của mình như Chúa mong muốn.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con ‘muốn đi xa hơn’ trong việc nên thánh, trong bổn phận; xin Thánh Thần Chúa thanh luyện cho trí lòng con tinh tuyền, sạch trong; đồng thời, đốt cháy trong tim con lửa yêu mến”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế