MỞ RỘNG TẦM NHÌN

“Tiên vàn hãy tìm Nước Thiên Chúa!”; “Ta sẽ ăn gì và mặc gì?”

“Tiền thường xen vào giữa Chúa và người.  Chỉ cần giữ hai xu nhỏ trước mắt, bạn sẽ không nhìn thấy những ngọn núi.  Cũng không cần một số tiền quá lớn xen vào giữa chúng ta với Chúa; chỉ một chút, đặt không đúng vị trí, hậu quả sẽ là mất tầm nhìn, và chúng ta không bao giờ thấy Ngài.  Hãy ‘mở rộng tầm nhìn’, đừng che khuất nó!”  Đó là nhận định thú vị của Cedric Gowler!

Kính thưa Anh Chị em,

“Chỉ một chút, đặt không đúng vị trí, hậu quả sẽ là mất tầm nhìn!”  Hôm nay, đầu Năm Mới, Lời Chúa mời gọi chúng ta “‘mở rộng tầm nhìn’, đừng che khuất nó!”  Nghe lời Chúa Giêsu, “Tiên vàn hãy tìm Nước Thiên Chúa!”; đừng lo lắng theo cách thế gian, “Ta sẽ ăn gì và mặc gì?”

“Tiên vàn hãy tìm Nước Thiên Chúa!”  Điều Chúa Giêsu dạy được thánh Ignatiô gọi là ‘dửng dưng’ đối với vật chất.  Rõ ràng, một số vật chất như bánh ăn, áo mặc và chỗ ở là cần thiết; nhưng thái độ ‘dửng dưng’ đối với chúng không phải là người đó không quan tâm, trái lại, đó là một người rất quan tâm!  Họ quan tâm có nhiều thứ và chỉ sử dụng chúng trong chừng mực cần thiết để yêu thương và phục vụ Thiên Chúa, phục vụ tha nhân vì lợi ích của Ngài.

Lo lắng về của ăn vì giờ này tôi đang đói, rất khác, so với việc liệu tôi sẽ có thức ăn vào tháng tới hay không; lo lắng về những gì đang xảy ra khi sức khoẻ tôi được chăm sóc tử tế, rất khác, so với việc tự hỏi sức khoẻ của tôi sẽ giữ được bao lâu trong những năm tới; băn khoăn vì không có tiền nhà để trả cho chủ tháng này, rất khác, so với việc tự hỏi, liệu khi nào tôi giàu!

Cũng thế, lo lắng và bận tâm về tương lai là lãng phí thời gian và năng lượng; ấy thế, chúng ta lại ‘say mê’ chúng!  Bởi lẽ, lo lắng không bao giờ rút bớt được nỗi buồn của ngày mai, nó chỉ đào huyệt chôn vùi niềm vui của ngày hôm nay.  Ngày đầu năm, Chúa Giêsu mời chúng ta ngước nhìn chim trời và những bông hoa đồng nội.  Chúng không làm gì ngoài việc trở nên chính mình, những con chim hồn nhiên bay lượn, những bông hoa xinh tươi trước Đấng chăm sóc chúng.  Những con chim thanh thoát và những cánh hoa ngu ngơ đẹp làm sao!  Khi thời gian của chúng đến, chúng qua đi, vậy thôi!  Đừng quên, Đấng chăm bẵm chúng là Đấng dựng nên trời đất, biển khơi và muôn loài trong đó như bài đọc Sáng Thế hôm nay nhắc nhở.

Vậy mà, chúng ta thường quá bận lòng để hối tiếc quá khứ hoặc trăn trở tương lai.  Thật phi lý!  Niềm vui và hạnh phúc chỉ có trong hiện tại.  Không ở đâu khác!  Nếu cứ nhìn về phía trước hay ngoái nhìn phía sau, sẽ không bao giờ tìm thấy hạnh phúc; vì lẽ, hạnh phúc đang ở đây, trong tầm tay vào mọi thời điểm.  Cha Mello nói, “Bạn có mọi thứ bạn cần ngay bây giờ để hạnh phúc!”  Cuộc sống sẽ thay đổi ra sao nếu chúng ta thực sự tin vào những gì chưa tới hay những gì đã qua!  Vì hạnh phúc chỉ có thể có trong giây phút hiện tại.  Hạnh phúc hôm qua không còn nữa; hạnh phúc ngày mai chưa tồn tại; nếu bây giờ bạn không hạnh phúc, bạn sẽ không bao giờ…!

Anh Chị em,

“Tiên vàn hãy tìm Nước Thiên Chúa!”  Ngày đầu năm, Giáo Hội muốn con cái định hướng cụ thể cho những tháng ngày sắp tới.   Chúng ta tìm gì? Hẳn ai cũng tìm điều cao quý nhất, vĩnh hằng nhất.  Nhưng tất cả “gì” của thế gian này đều ngắn ngủi, bèo bọt so với Nước Thiên Chúa.  Bởi lẽ tìm kiếm và sở hữu Nước Thiên Chúa là chính Chúa; có Chúa, có tất cả, không chỉ đời này mà cả thiên đàng đời sau.  365 ngày đang mở ra, chắc chắn vui và buồn, hạnh phúc và khổ đau sẽ đan xen.  Nhưng nếu biết ‘mở rộng tầm nhìn’ vào Cha trên trời như Chúa Giêsu đề nghị, chúng ta tin tưởng, an tâm vững bước.  “Tiên vàn hãy tìm Nước Thiên Chúa, mọi sự khác Ngài sẽ ban cho”, đó là một tầm nhìn và cách nhìn đúng đắn nhất.  Phaolô thật chí lý qua thư Philipphê hôm nay, “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa.  Tôi nhắc lại, vui lên anh em!”

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin ‘mở rộng tầm nhìn’ của con, hầu con có thể tự tin đi vào Năm Mới với đôi tay rộng mở để nhận và để trao!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

THÁNH LỄ GIAO THỪA (Mt 5, 1-10)

Thế là 365 ngày đã qua đi.  Đêm nay trời và đất như giao hòa, kết duyên.  Giây phút mà thi sĩ Hàn Mạc Tử đã nói: “Giây phút thiêng liêng đã khởi đầu.”  Giờ này, nhân loại, con người đối diện với Thiên Chúa, Đấng là chủ thời gian, là Chúa của vũ trụ, của nhân loại, của con người.  Vào phút giây huyền diệu này, thời gian cũ như ngừng lại, bàn giao cho một thời gian mới, một năm mới.  Con người chỉ còn biết dâng lên Thiên chúa, vua mùa xuân lời cảm tạ sâu xa và tha thiết xin Chúa giáng phúc lành cho năm mới được phúc lộc miên trường.

Giây Phút Linh Thiêng

Con người trong đêm thiêng liêng của sự giao hòa đất trời, luôn cảm nghiệm có một cái gì đó rất đời thường nhưng cũng vô cùng linh thiêng.  Cái giờ phút những ngày cũ của một năm cũ đã qua đi.  Thời gian như đi mãi, đi hoài và hầu như không dừng lại.  Nhưng giữa cái mốc điểm của đêm giao thừa huyền nhiệm: đêm đẩy lùi quá khứ hướng về tương lai, đêm linh thánh báo hiệu những ngày mới của một năm mới đã ló rạng.  Đêm mà con người đối diện với Thiên Chúa, Chúa của mùa xuân, Chúa của lịch sử, Chúa của loài người, đêm giao thừa, con người chỉ có thể khẩn cầu Thiên Chúa như thánh vịnh 133, 3 đã viết: “Cúi xin Đấng tạo thành trời đất, xuống cho đoàn con muôn ngàn phúc cả từ núi thánh Sion” và như ca nhập lễ đêm giao thừa đã thốt lên: “trong giờ phút giao thừa này, chúng con hướng tâm hồn lên Chúa.  Cúi xin Chúa rộng ban cho chúng con một năm dồi dào phúc lộc, và đầy lòng hăng hái làm việc lành để tôn vinh Danh Thánh.”  Đêm hôm nay, trong cõi u tịch của sự bàn giao thời gian, con người chỉ có thể hiểu được: Vũ Trụ, Xuân, Hạ, Thu, Đông luôn vần xoay, xoay chuyển và con người có là gì đều do Thiên Chúa.  Nên, tâm tình đầu tiên trong giây phút linh thánh của đêm giao thừa là sám hối, tạ ơn.  Sám hối để luôn đón nhận Chúa và tạ ơn để hiểu mọi sự đều bởi Chúa.  Sách dân số 6, 22-27 đã viết: “Khi chúc lành cho con cái Ít-ra-en, anh em hãy nói thế này: nguyện Đức Chúa ban phúc lành và gìn giữ anh em!  Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em và dủ lòng thương anh em!  Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em!”  Chúc như thế là đặt con cái Ít-ra-en dưới quyền bảo trợ của Danh Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng.  Đêm giao thừa trong giây phút thiêng liêng nhất: phút giây trời đất giao hòa, con người hãy hướng cả tâm hồn của mình lên Thiên Chúa, Chúa của mùa xuân vĩnh cửu để tạ ơn và xin Chúa chúc lành: “Nguyện Đức Chúa ban phúc lành và gìn giữ anh em, gìn giữ mọi người”(Dân số 6, 22-27).

Hãy Tạ Ơn Và Cầu Nguyện Không Ngừng 

Thánh Phaolô đã viết:” Anh em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng.  Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh”(1thes. 5, 16).  Con người và nhân loại trong giây phút thiêng liêng của đêm giao thừa hãy tạ ơn Chúa, kết hiệp mật thiết với Chúa bằng lời cầu nguyện liên lỉ.  Những ngày tháng năm cũ, chắc chắn có lúc ta gặp những điều thuận lợi, nhưng có nhiều lúc ta gặp những sự bất trắc, thử thách khó khăn.  Tất cả những điều đó là những thánh đố của mỗi người.  Con người dù có thêm tuổi, dù gánh nặng chồng chất trên vai, dù có sự thay đổi của tuổi tác, của trí tuệ, của khả năng, của sức khỏe.

Nhưng, tất cả đều là ân huệ của Chúa.  Tất cả đều làm vinh quang cho Ngài.  Và rồi, con người chỉ có thể đứng vững khi họ biết bước trên từng nấc thang của tám mối phúc thật.  Và như thế, con người sẽ vĩnh viễn ở trước mặt Chúa cho dù thời gian có đi qua.  Con người không chỉ sống đơn độc một mình, họ còn có một mái ấm gia đình.  Giờ phút linh thiêng của một năm mới đã khởi đầu: xin Chúa thánh hóa các gia đình và để các gia đình có thể gần gũi Chúa, phương thế các gia đình phải thực hiện là lần chuỗi mân côi.  Xin cho từng người và mọi người, mọi gia đình biết tạ ơn Chúa không ngừng và cầu nguyện liên lỉ để ý Chúa được thực hiện dưới đất cũng như trên trời.  Có như thế, thời gian sẽ trở thành vĩnh cửu và xuân sẽ là cái mốc cho con người càng lúc càng gần Thiên Chúa.

Lạy Chúa là Chúa xuân vĩnh cửu: “Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi, ơn phù hộ tôi đến tự nơi nao?  Ơn phù hộ tôi đến từ Đức Chúa là Đấng dựng nên cả đất trời” (Tv 120,1.).

Xin Chúa ban cho chúng con biết biến giây phút linh thiêng đêm giao thừa này trở nên lời ca ngợi tình thương vô biên của Chúa.

Lạy Chúa, xin nhìn đến lòng tin của chúng con mà luôn luôn che chở giữ gìn, hầu suốt cả năm nay chúng con được sống trong tình thương của Chúa (lời nguyện hiệp lễ, lễ giao thừa).

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi 

**********************

Lạy Chúa, đêm giao thừa đã gần kề,
trong một năm dường như mới
cách đây không lâu.

Lạy Chúa, năm cũ đã trôi qua,
và con đã sống như thế nào,
con đã sử dụng mười hai tháng qua như thế nào?

Con nhớ những lần
Chúa và con, chúng ta cùng đi dạo và nói chuyện với nhau.

Và con nhớ những lần,
một cách nào đó, con quên mất rằng
Chúa đang ở ngay bên cạnh con.

Con nghĩ đến những lần Chúa vui mừng trong con
và những lần con đã không thực hành lời Chúa
trong những gì con nói và những việc con làm

Vậy mà Chúa chưa bao giờ hết yêu thương con,
Chúa không bao giờ thôi tha thứ và xá tội cho con, lạy Chúa:
ân sủng của Chúa quá tinh khiết và luôn luôn trao ban cho con cách tự do.

Và đáp lại, con đến cùng Chúa với hai bàn tay trắng:
Con không có gì nhiều để dâng Chúa và tất cả những gì con có
trên hết đều là món quà của Chúa ban cho con.

Nhưng bây giờ một năm mới đang đến
và cùng với năm mới là lời cầu nguyện của con
để con được xứng đáng hơn với tình yêu của Chúa.

Lạy Chúa, trong năm mới này,
xin hãy làm cho con mạnh mẽ hơn trong đức tin
và tin tưởng hơn vào sự trợ giúp của Chúa.

Xin hãy nuôi dưỡng trong tâm hồn con một sự khao khát sự thật,
khát khao sự thánh thiện, khao khát sự khôn ngoan.

Lạy Chúa, xin hãy giúp con ổn định mọi sự
để không có gì mà không xuất phát từ trái tim của Chúa,
để hàn gắn và chữa lành vết thương của riêng con.

Đêm Giao Thừa đã gần kề,
trong một năm dường như mới
cách đây không lâu.

Lạy Chúa, xin hãy đánh thức trái tim con cho năm mới này,
và cho tất cả ân sủng và quà tặng của Chúa:
xin hãy ban cho con bình minh một ngày mới trong bình an. Amen!

Lời cầu nguyện này là một tuyển chọn từ Chào buổi sáng, Thiên Chúa tốt lành! Bởi cha Austin Fleming (The Word Among Us Press, 2015).
Chuyển ngữ: Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương

CẦU XIN CHẮC CHẮN ĐƯỢC NHẬN LỜI

Có nhiều đoạn trong Phúc Âm, Đức Giê-su bảo đảm với chúng ta rằng, nếu chúng ta xin điều gì đó nhân danh Người, chúng ta sẽ được nhận lời.  Chẳng hạn, trong Phúc Âm thánh Mát-thêu, Người nói: Hãy xin thì sẽ được, bởi vì ai xin thì đều sẽ được.  Trong Phúc Âm thánh Gio-an người hứa với chúng ta rằng, nếu chúng ta xin bất cứ điều gì nhân danh Người, Chúa Cha sẽ ban cho điều đó.

Tại sao không lúc nào nó được ứng nghiệm?  Đôi khi chúng ta cầu xin một điều gì đó nhân danh Đức Giê-su, và lời cầu xin không được nhận lời.  Đôi khi đúng là chúng ta đã kêu lên tới trời bằng lời cầu xin của mình và dường như tất cả đều không được đáp lại.  Phải chăng Đức Giê-su đã hứa vu vơ khi Người xác quyết với chúng ta rằng Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta bất cứ điều gì chúng ta xin, nhân danh Người?

Các tác giả thiêng liêng và các nhà biện giải đã đưa ra nhiều câu trả lời cho câu hỏi này: Có thể những lời cầu xin của chúng ta không được nhận lời vì chúng ta đã xin không đúng.  Một người mẹ yêu con sẽ không đưa dao cho con mình chơi, phải không?  Cũng có thể lời cầu xin của chúng ta được nhận lời, nhưng ở một tầng mức sâu đậm hơn và khi đến lúc chết chúng ta mới hiểu được câu trả lời.  C.S. Lewis từng nói rằng chúng ta sẽ dùng hầu hết đời sống vĩnh cửu của mình để cám ơn Thiên Chúa đã không đáp lại lời cầu xin của mình!

Các câu trả lời này đều có giá trị, dù không phải là những câu trả lời của Đức Giê-su.  Quả thật, khi Người hứa lời cầu xin của chúng ta sẽ được nhận lời, Người không nói thêm với điều kiện chúng ta chỉ xin những điều đúng.  Người mời gọi chúng ta xin bất cứ điều gì nhân danh Người.  Người không chỉ định đó phải là điều đúng.  Vậy thì tại sao những lời cầu xin của chúng ta không lúc nào được nhận lời?

Linh mục Jerome Murphy-O’Connor, một học giả Kinh Thánh nổi tiếng, gợi ý rằng, trong Phúc Âm thánh Mát-thêu, cũng như trong phần lớn Tân Ước, lời cầu xin luôn dính liền với các hoạt động bác ái cụ thể trong cộng đồng.  Vì vậy để thật sự cầu xin cho người nào thì phải cụ thể mở lòng ra để giúp người đó.  Để thật sự cầu xin cho hòa bình và công lý thì phải làm việc tích cực cho hòa bình và công lý.  Khi chúng ta cầu xin “qua Đức Ki-tô,” chúng ta không chỉ cầu xin qua Đức Ki-tô đã sống lại trên trời nhưng còn qua “Nhiệm Thể của Đức Ki-tô” trên mặt đất này, là chính chúng ta.  Chúng ta cần phải tự mình giúp cho lời cầu xin của chính mình.  Vì vậy khi lời cầu xin của chúng ta dường như không được nhận lời, thì có thể chúng ta, Nhiệm Thể của Đức Ki-tô trên mặt đất này, chưa dành hết tâm trí để cố gắng trả lời cho lời cầu xin của chính mình, chúng ta chưa thật sự cầu xin “qua Đức Ki-tô.”

Nhà thần học Karl Rahner, khi bình giải về lời hứa của Đức Giê-su trong Phúc Âm thánh Gio-an rằng bất cứ điều gì chúng ta xin Đức Giê-su nhân danh Người chúng ta sẽ nhận được, đã đưa ra suy tư này:

Cầu xin một điều gì đó nhân danh Đức Giê-su không có nghĩa xin bằng miệng mà tâm hồn thì rối bời, quả tim chia rẽ, thèm muốn cơn mê khốn cùng của chúng ta về mọi sự làm chúng ta khao khát.  Không, cầu xin nhân danh Đức Giê-su có nghĩa là đi vào trong Người, sống với Người, nên một với Người trong tình yêu và Đức tin.  Nếu Người ở trong chúng ta qua Đức tin, tình yêu, ân sủng, Thần Khí, thì khi đó sự cầu xin của chúng ta mới nảy sinh từ tâm điểm của sự sống, đó chính là bản thân Đức Giê-su, và chỉ khi tất cả lời cầu xin và ao ước của chúng ta hợp nhất nơi Người và Thần Khí của Người, thì khi đó Chúa Cha mới nghe lời cầu xin của chúng ta.  Khi đó lời cầu xin trở nên giản dị và thành thật, hài hòa, đúng mực, và khiêm tốn.  Khi đó những gì thánh Phao-lô nói trong thư gởi tín hữu Rô-ma có thể áp dụng cho chúng ta: Chúng ta không biết cách cầu xin theo cách chúng ta phải làm, nhưng chính Thần Khí của Đức Giê-su đã cầu bàu cho chúng ta, chỉ một lời cầu xin, “Áp-ba! Cha ơi!” Người khát khao điều đó từ khởi nguồn: Người khát khao Thiên Chúa, Người xin Thiên Chúa vì Thiên Chúa, Người cầu xin Thiên Chúa thay cho chúng ta.  Mọi sự đều bao gồm và chứa đựng trong lời cầu xin này.…  [Nếu chúng ta cầu xin theo cách này] chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa đang thật sự đáp lại lời cầu xin của chúng ta, bằng cách này hay cách khác.  Khi đó chúng ta sẽ không còn cảm thấy “cách này hay cách khác” là lời xin lỗi mong manh của  người ngoan đạo, và Phúc Âm là lời cầu xin không được đáp lại.  Không.  Lời cầu xin của chúng ta được nhận lời, nhưng chính vì đó là lời cầu xin nhân danh Đức Giê-su; và những gì cuối cùng chúng ta cầu xin cùng Thiên Chúa là để làm cho đời sống chúng ta được lớn lên, để lấp đầy đời sống chúng ta với Người, để chiến thắng, để cuộc đời phân rẽ của chúng ta được hợp lại thành một, để ngàn lẻ một ước muốn của chúng ta nên một với Người…  Cầu xin nhân danh Đức Giê-su là lời cầu được nhận lời, là đón nhận Thiên Chúa và ơn phúc của Ngài, và khi đó, dù trong nước mắt, đau đớn, khốn cùng, khi dường như chúng ta vẫn chưa được nhận lời, tâm hồn chúng ta đã được nghỉ ngơi trong Thiên Chúa dù chúng ta đang hành trình, dù chưa có niềm vui trọn vẹn của Thiên Chúa.

Nếu chúng ta chưa cầu nguyện như thế, thì Đức Giê-su vẫn còn nói với chúng ta: “Cho đến lúc này, con vẫn chưa cầu xin điều gì nhân danh Ta.  Con có thể đã cố gắng, con có thể có ý như vậy, nhưng con chưa làm cho Ta có sức mạnh và sức nặng trong lời cầu xin của con.”

Rev. Ron Rolheiser, OMI

MARTIN LUTHER KING – MỘT GIẤC MƠ CÒN XANH

Martin Luther King sinh ngày 15-1-1929 trong một gia đình có truyền thống làm mục sư cho nhà thờ Tin lành tại Atlanta.

Năm 1954, ông trở thành mục sư dòng Baptist của Nhà thờ Tin lành Dexter Avenue ở Montgomery, Alabama.  Một năm sau đó, ông lấy bằng tiến sĩ chuyên ngành Thần học.  Ông cưới Coretta Scott tại Boston và lần lượt chào đón bốn thành viên trong gia đình.

Mục sư Martin Luther King đi vào lịch sử với nhiều thành tựu nổi bật.  Trong đó nổi tiếng nhất phải kể đến bài diễn văn “Tôi có một ước mơ” được đọc ở Washington vào ngày 28-8-1963.

Một giấc mơ mà ở đó “những đứa trẻ da đen và những đứa trẻ da trắng cùng nắm tay nhau như anh em một nhà.”

Bài diễn văn lịch sử của Martin Luther King góp phần gây áp lực cho Quốc hội Mỹ thông qua Đạo Luật Dân quyền năm 1964, quy định phân biệt đối xử vì chủng tộc, màu da, tôn giáo hay giới tính là bất hợp pháp tại nước Mỹ.

Trong quá trình làm mục sư ở Montgomery, Martin Luther King lãnh đạo phong trào tẩy chay xe buýt sau khi một phụ nữ gốc Phi tên Rosa Park bị bắt vì từ chối không nhường chỗ cho một người đàn ông da trắng trên xe buýt theo quy định của luật Jim Crow, đạo luật cho phép kỳ thị, chống lại người Mỹ gốc Phi.

Trong suốt gần một năm của phong trào, Martin Luther King bị bắt giam và chỉ được thả khi Pháp viện tối cao Hoa Kỳ cho rằng quy định phân biệt chủng tộc trên tuyến xe buýt trong tiểu bang là vi hiến.  Sự kiện này cũng là sự kiện đặt nền móng cho những hoạt động chống phân biệt sắc tộc sau này của ông.

Chủ trương chính yếu mà Martin Luther King áp dụng trong các phong trào đấu tranh là bất bạo động, noi theo gương của lãnh tụ Ấn Độ Mahatma Gandhi.  Trong khoảng từ năm 1957 đến năm 1968, ông đã đi nhiều hơn, thực hiện hàng ngàn bài diễn thuyết, xuất bản nhiều bài báo và năm cuốn sách.

Sau nhiều tác động đáng kể mà mang lại cho xã hội, năm 1964, Martin Luther King trở thành người trẻ nhất được nhận giải Nobel Hòa Bình, qua đó gián tiếp khẳng định chiến lược phản đối phi bạo lực mà ông theo đuổi là con đường tốt nhất để đi đến hòa bình.

Một trong những đóng góp lớn khác của Martin Luther King là sự xóa bỏ các luật phân biệt chủng tộc Jim Crow.  Ông dẫn đầu một chiến dịch tẩy chay các doanh nghiệp địa phương tại Birmingham để gây áp lực buộc họ phải chấm dứt phân biệt chủng tộc.

Chiến dịch sau đó chuyển thành biểu tình ngồi và tuần hành kéo dài, có những nơi được ghi nhận xảy ra bạo lực.  Tuy nhiên, thành công đã mỉm cười với Martin Luther King khi trước sức ép quá lớn, các doanh nghiệp và nhà hàng công cộng đã mở cửa để phục vụ khách hàng người Mỹ gốc Phi.

Thiên tài thường bạc mệnh, tối ngày 4-4-1968, Martin Luther King bị ám sát bằng súng khi đứng trên ban công tầng hai Khách sạn Lorraine tại Memphis, Tennessee.  Trong thời gian này, ông đang lãnh đạo một cuộc tuần hành ủng hộ liên đoàn công nhân vệ sinh của người da màu tại Memphis.

Martin Luther King đã không thể qua khỏi và từ trần khi chỉ mới 39 tuổi.

Sự ra đi của Martin Luther King dẫn đến hàng loạt cuộc bạo động trên khắp nước Mỹ.  Ngày 7-4-1968, Tổng thống Mỹ lúc đó là Lyndon Johnson tuyên bố để quốc tang cho ông.  Lễ tang của Martin Luther King ở Atlanta đã thu hút hàng trăm ngàn người đến dự.

Tuy cuộc đời kéo dài vỏn vẹn 39 năm, mục sư Martin Luther King đã kịp để lại cho hậu thế nhiều giá trị đáng trân quý về dân quyền.

Dù cho sau này, nước Mỹ vẫn còn đó những bất công, nhưng nước Mỹ từ ngày có Martin Luther King đã không còn là nước Mỹ của trước đó, mà là một nước Mỹ hướng đến dân quyền, tự do, bình đẳng.

Nguồn: https://tuoitre.vn

ĐẤNG THIÊN CHÚA TUYỂN CHỌN

Chúng ta đã bước vào mùa Thường niên, cũng gọi là mùa Quanh năm.  Chúa nhật đầu của mùa Thường niên này, Phụng vụ giới thiệu với chúng ta dung mạo Chúa Giêsu ở nhiều khía cạnh rất phong phú.  Việc giới thiệu này giúp chúng ta hiểu biết Chúa Giêsu và nhờ đó, chúng ta kiên tâm trung tín trong ơn gọi đi theo Người.

Chúa Giêsu là Ánh sáng muôn dân.  Bài đọc I trích sách ngôn sứ Isaia, ở chương 49, còn được gọi là “ngôn sứ Isaia đệ nhị.”  Phần này cũng được gọi là “Sách an ủi” đối với người Do Thái đang sống trong cảnh lưu đày.  Vị ngôn sứ góp phần nuôi dưỡng đức tin của người lưu đày, hướng tâm hồn họ về lời hứa của Chúa trong tương lai.  Chúa sẽ can thiệp và giải phóng dân riêng của Ngài.  Những lời của vị ngôn sứ vừa nói với dân tộc Israel, vừa như với một cá nhân.  Nhân vật ngôn sứ loan báo Đấng Thiên sai sẽ đến trong tương lai.  Thiên Chúa sẽ đặt Người làm ánh sáng muôn dân, để chiếu soi mọi dân nước.  Đấng Thiên sai cũng là Đấng Cứu độ nhân loại.  Người sẽ làm cho tình thương của Chúa dạt dào như nước đại dương, và quy tụ muôn dân thành gia đình của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa.  Những gì ngôn sứ Isaia loan báo, theo nhãn quan Kitô giáo, đã được thực hiện cách viên mãn nơi Đức Giêsu.  Ông Gioan Tẩy giả xuất hiện và tiếp nối giáo huấn của các ngôn sứ thuở xưa.  Ông giới thiệu Đức Giêsu với các môn đệ của mình.  Tước hiệu “Chiên Thiên Chúa” gợi lại cho người Do Thái việc Thiên Chúa giải phóng dân tộc họ.  Tước hiệu này cũng tiên báo cuộc khổ nạn của Đức Giêsu.  Máu Người sẽ đổ ra, như máu chiên vượt qua, nhờ đó nhân loại được cứu thoát khỏi án phạt muôn đời.

Chúa Giêsu là Đấng được Thiên Chúa tuyển chọn.  Đây là lời chứng của ông Gioan Tẩy Giả.  Đây cũng là lời chứng của ngôn sứ Isaia.  Khái niệm “Đấng được Thiên Chúa tuyển chọn” cũng giống như “Đấng được Thiên Chúa sai đi”, hay “Đấng Thiên sai.”  Trong Tin Mừng, nhiều lần Đức Giêsu khẳng định Người được Chúa Cha sai đến trần gian.  Việc tuyển chọn này được chính Chúa Cha xác nhận, khi Đức Giêsu được ông Gioan thanh tẩy trong dòng sông Giordan.  Việc Chúa Cha sai Con của Ngài đến trần gian là bằng chứng tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại, như lời Chúa Giêsu nói với ông Nicôđêmô: “Thiên Chúa yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).  Như thế, sứ mạng của Chúa Giêsu là đến trần gian để quảng diễn tình yêu của Chúa Cha, đồng thời mời gọi mọi người nhận ra tình yêu ấy để sống tốt, đền đáp tình yêu thương của Chúa Cha.

Chúa Giêsu là Chúa của muôn người.  Thánh Phaolô đã khẳng định điều này trong thư gửi giáo dân Corintô (Bài đọc II).  Những ai tin vào Người sẽ được hiến thánh nhờ bí tích Thanh Tẩy.  Đây là huyền nhiệm của tình thương, do quyền năng của Thiên Chúa, Đấng yêu thương con người và muốn cho mọi người được cứu rỗi.  Như thế, người tín hữu được vinh dự lớn lao nhờ tin vào Chúa Giêsu.

Được trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu trong bí tích Thanh Tẩy, người tín hữu cũng trở nên những “người được Chúa Cha tuyển chọn.”  Ơn gọi và bổn phận của người tín hữu là giới thiệu Chúa Giêsu với mọi người, đồng thời phản ánh hình ảnh của Người qua chính cuộc đời thánh thiện công chính của mình, để rồi trong lời nói, tư tưởng cũng như việc làm, đều làm cho hình ảnh của Đức Giêsu hiển hiện.  Đó cũng là sứ mạng làm chứng cho Chúa trong cuộc sống hôm nay.

Trong những ngày này, chúng ta đang chuẩn bị đón xuân Quý Mão.  Năm cùng tháng tận là dịp chúng ta suy nghĩ về quỹ thời gian Chúa ban cho chúng ta.  Thời gian là vốn quý giá, mỗi người phải sử dụng nó một cách hữu ích cho bản thân và cho xã hội.  Đầu xuân là dịp chúng ta dâng lên Chúa những ước nguyện tốt lành.  Xin Ngài soi sáng và giúp chúng ta thực hiện được những dự tính trong năm mới.  Xin Chúa chúc lành và ban ơn bình an cho chúng ta.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

CÁC CÔNG THỨC TRONG KINH THÁNH VỀ THA THỨ

Không có gì quan trọng cho bằng tha thứ.  Tha thứ là chìa khóa mở ra cho hạnh phúc và là mệnh lệnh thiêng liêng quan trọng nhất cuộc đời chúng ta.  Chúng ta cần tha thứ, cần làm hòa với những tổn thương và bất công mình đã chịu để khỏi phải chết trong giận dữ và cay đắng.  Trước khi chết, chúng ta cần tha thứ, tha thứ cho người khác, cho bản thân, cho Chúa, vì mọi sự xảy ra trong cuộc đời chúng ta.

Nhưng không dễ để tha thứ, thật sự nhiều lúc không thể tha thứ nổi.  Cần phải nói rõ như thế, vì ngày nay, nhiều tác phẩm đủ thể loại, với ý định tốt, đem lại ấn tượng tha thứ chỉ là vấn đề có sẵn sàng và có bỏ qua hay không.  Cứ buông bỏ và đi tiếp!

Nhưng chúng ta đều biết, đâu có dễ như vậy!  Những vết thương hằn lên tâm hồn thì cần thời gian, có khi là một thời gian rất dài để chữa lành, và tiến trình đó vô cùng chậm rãi, một việc mà chúng ta không thể đi nhanh được.  Thật sự, chấn thương từ vết thương cảm xúc thường tác động lên sức khỏe thể xác chúng ta.  Chữa lành cần có thời gian.

Khi nhìn vào vấn đề chữa lành và tha thứ, chúng ta có một thấu suốt đầy giá trị nhưng lại lãng quên từ lâu linh đạo về ngày sa-bát trong Do Thái giáo và Kitô giáo.  Giữ ngày sa-bát không phải chỉ tôn vinh một ngày nhất định trong tuần, đó là một công thức của tha thứ.  Cách nó tiến hành như sau.

Thần học và linh đạo về ngày sa-bát dạy chúng ta, Thiên Chúa tạo dựng thế giới trong sáu ngày và ngày thứ bảy là ngày sa-bát, ngày Ngài nghỉ ngơi.  Hơn nữa, không chỉ Thiên Chúa nghỉ ngơi ngày sa-bát mà Ngài còn tuyên bố đó là ngày nghỉ ngơi cho tất cả mọi người đến muôn đời, và như thế, Thiên Chúa tạo một nhịp điệu nhất định cho cuộc sống chúng ta.  Nhịp điệu đó phải như thế này:

  • Làm việc sáu ngày, nghỉ một ngày.
  • Làm việc 49 (bảy lần bảy) năm, thì có năm đại xá, cả thế giới trải qua kỳ sa-bát.
  • Làm việc bảy năm, nghỉ một năm (kỳ nghỉ sa-bát).
  • Làm việc cả đời, rồi nghỉ kỳ sá-bat vĩnh hằng.

Nhịp điệu đó cũng nên áp dụng cho cách chúng ta tha thứ:

  • Chúng ta có thể giữ ác cảm nhỏ trong bảy ngày, nhưng rồi chúng ta phải buông bỏ nó.
  • Chúng ta có thể giữ ác cảm lớn trong bảy năm, nhưng rồi chúng ta cần buông bỏ nó. (Mức hạn định dựa trên điều này).
  • Chúng ta có thể giữ một vết thương khủng khiếp khắc sâu vào tâm hồn trong 49 năm, nhưng rồi chúng ta cần buông bỏ nó.
  • Chúng ta có thể giữ một vết thương làm cho tâm hồn chúng ta tan vỡ cho đến chết, nhưng rồi chúng ta cần buông bỏ nó.

Điều này nêu bật một chuyện vốn thường không xuất hiện trong giới tâm linh và trị liệu thời nay, đó là: chúng ta cần thời gian để có thể tha thứ, và thời gian đó tùy thuộc vào mức độ của vết thương.  Ví dụ như:

  • Khi bị đồng nghiệp xem thường trong cuộc họp, chúng ta cần chút thời gian để bực mình cho sự bất công này, nhưng thường thì một vài ngày là đủ để chúng ta hướng về phía trước và có thể buông bỏ nó.
  • Khi chúng ta bị đuổi việc một cách lạnh lùng bất công thì bảy ngày hay bảy tuần thường không đủ để chúng ta buông bỏ và tha thứ chuyện này. Có lẽ bảy năm thì thực tế hơn. (Xin lưu ý “mức hạn định” phỏng theo thấu suốt Kinh Thánh này).
  • Có những chấn thương chúng ta chịu đựng để lại vết thương sâu sắc hơn cả do bị đuổi việc bất công.

Có những vết thương chúng ta chịu do bị lạm dụng, thờ ơ, do nhiều năm cam chịu bất công, và chúng cần hơn bảy năm để chữa lành.  Có thể phải mất đến 49 năm, nửa thế kỷ, để làm hòa với những chuyện chúng ta bị bắt nạt khi còn nhỏ, hoặc bị lạm dụng về cảm xúc, tình dục khi còn niên thiếu.

  • Có những vết thương quá sâu sắc đễn nỗi phải đến giờ hấp hối, chúng ta mới chỉ có thể làm hòa với sự thật là chúng đã xảy ra với mình, buông bỏ chúng và tha thứ cho người hoặc nhiều người đã gây ra chúng.
  • Cuối cùng, có những vết thương quá sức sâu đậm, quá sức hủy hoại, quá sức đau đớn đễn nỗi chúng ta không thể xử lý trong đời này. Với chúng, may thay, chúng ta còn có cái ôm chữa lành nhân từ của Thiên Chúa sau khi chết.

Năng lực tha thứ dựa vào ân sủng hơn là ý chí.  Phạm lỗi lầm là thuộc tính con người, nhưng tha thứ là thuộc tính thần thánh.  Câu đơn giản này chứa đựng một sự thật thâm sâu hơn những gì chúng ta nắm bắt thoáng qua.  Điều làm cho tha thứ trở nên khó khăn và nhiều lúc bất khả thi, không phải chủ yếu do cái tôi của chúng ta bị bầm dập và tổn thương quá đỗi.  Đúng hơn, khó khăn thực sự chính là việc một vết thương của tâm hồn cũng như vết thương của thể xác, nó làm chúng ta suy yếu.

Điều này đặc biệt đúng với những chấn thương in sâu vào tâm hồn và làm tan nát tâm hồn, cần đến 49 năm hay cả đời để chữa lành, hoặc có lúc không thể chữa lành trong đời này.  Những vết thương như thế làm chúng ta cạn kiệt sức mạnh, nhất là khi đối diện với người đã gây cho chúng ta, làm chúng ta rất khó để tha thứ.

Chúng ta cần một linh đạo sa-bát để giúp đỡ cho mình.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

KHÁT KHAO NHỮNG GÌ ĐÁNG KHAO KHÁT NHẤT

“Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi!”

Hôm nay, thế giới vẫn hướng về Rôma, nơi vừa cử hành Lễ An Táng của Đức Bênêđictô, một triết gia, một nhà tư tưởng và nhà thần học.  Ấy thế, ngài còn được gọi là vị “Giáo Hoàng khiêm nhượng.”  Trong di chúc, ngài viết, “Từ tận đáy lòng, tôi cầu xin sự tha thứ của tất cả những ai tôi đã từng sai phạm cách nào đó.”  “Chúa Kitô thực sự là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống – và Giáo Hội, bất kể những khuyết điểm của mình, thực sự là Thân Thể của Ngài!”  Lời cuối cùng của ngài được ghi nhận là, “Lạy Chúa, con yêu mến Chúa!”  Khi nói, “Lạy Chúa, con yêu mến Chúa!”, Đức Bênêđictô đã tiết lộ nỗi ‘khát khao những gì đáng khao khát nhất’ của mình!

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay không nói đến một giáo hoàng, nhưng nói đến một vị tiền hô, cũng là một người yêu mến và khát khao Chúa Kitô hết lòng!  Gioan Tẩy Giả đêm ngày khao khát “Đấng đến sau” mà Gioan không xứng đáng cúi xuống cởi quai dép Ngài.  Như Gioan, như Đức Bênêđictô, bạn và tôi cũng hãy khao khát Chúa Kitô như ‘khát khao những gì đáng khao khát nhất!’

Gioan, con người của sứ mệnh!  Mọi khía cạnh cuộc đời của Gioan dành trọn cho việc dọn đường cho Đấng Thiên Sai; mọi thớ thịt của Gioan đều khao khát được thấy ngày Ngài đến.  Bằng việc ẩn mình trong sa mạc để sám hối, hay ra khỏi đó để kêu gọi ăn năn, Gioan đã làm tất cả những gì có thể để chuẩn bị cho người đương thời đón chào Chúa Cứu Thế.  Vì lòng khao khát Chúa Kitô, nên mọi hành động, mọi lời nói của Gioan đều phản ánh cơn khát cháy bỏng trong tâm hồn.  Và Gioan đã vui mừng biết bao, như Marcô viết, “Hồi ấy, Đức Giêsu từ Nazareth miền Galilê đến, và được ông Gioan làm phép rửa dưới sông Giorđan.”  Cuối cùng, ngày mà Gioan chờ mong cũng đã đến!  Thật tốt biết bao khi bạn và tôi, như Gioan, thực sự ‘khát khao những gì đáng khao khát nhất’, chính Chúa Kitô, và sau đó đạt được Ngài!

Hãy khao khát Chúa Kitô bước vào cuộc sống mình!  Thế nhưng, chúng ta không cần nhìn đâu xa.  Qua phép Rửa, Chúa Kitô đã nắm lấy tay chúng ta, bạn và tôi đã thuộc về Ngài!  Phép Rửa cho chúng ta xác tín rằng, Chúa Kitô ở đây, Ngài đã đến trong cuộc đời tôi, chiếm lấy linh hồn tôi và sẽ ở lại với tôi, trừ khi tôi cố tình quay lưng lại với Ngài khi phạm tội.  Thậm chí sau đó, Ngài vẫn chờ đợi và theo đuổi tôi để khôi phục lại tình bạn nghĩa thiết với Ngài.  Vậy tôi có đánh giá cao món quà Rửa Tội không?  Tôi có tích cực làm việc để hạt giống đó đơm hoa kết trái trong đời mình không?  Nói cách khác, tôi có ‘khát khao những gì đáng khao khát nhất’ không?

Khi chúng ta thực hiện những cam kết của phép Rửa, thế giới sẽ biến đổi!  Những ý thức hệ bạo lực, khuynh hướng tham ô, cơn đói quyền lực và của cải sẽ rơi rụng.  Thay vào đó, mắt chúng ta sẽ mở ra trước nhu cầu của người khác; họ cũng khao khát Chúa Kitô, ‘khát khao những gì đáng khao khát nhất!’  Món quà lớn nhất chúng ta trao cho họ, như Gioan, là chỉ cho họ Chiên Thiên Chúa, dẫn họ đến với Ngài – vì chỉ Ngài mới có thể thoả mãn cơn khát của mọi tâm hồn!

Anh Chị em,

“Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi!”  Ai trong chúng ta không muốn thấy cuộc đời mình được biến đổi bởi tình yêu và quyền năng của “Đấng đến sau” đó!  Ai trong chúng ta không muốn trở nên khí cụ bình an, lòng thương xót và sự công chính của Ngài!  Hãy xét xem sự khiêm nhường của chính Đấng ấy và cầu xin Thánh Thần rèn giũa trái tim bạn.  Một khi làm như thế, thiên đường cũng sẽ mở ra cho bạn.  Chúa Kitô sẵn sàng đổi mới chúng ta trong Thánh Thần của Ngài và xức dầu để chúng ta ra đi thi hành sứ mạng; Ngài đã làm điều đó ngày chúng ta lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy.  Vậy hãy ‘khát khao những gì đáng khao khát’ nhất, chính Chúa Kitô; và với Ngài, bạn cũng có thể chiếu toả niềm vui Tin Mừng cho những người khác!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khoảnh khắc con chịu phép Rửa là khoảnh khắc Chúa mở cửa thiên đàng cho con. Xin cho con một chỉ khao khát Chúa, “Lạy Chúa, con yêu mến Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

LÊN ĐƯỜNG

Trong lịch sử Cứu độ, có những biến cố xảy đến, thường được coi là ngẫu nhiên, nhưng thực ra là do Chúa Quan phòng định liệu, hầu cho lời ngôn sứ từ ngàn xưa được ứng nghiệm.  Con người được cộng tác để làm cho chương trình Cứu độ yêu thương của Chúa thành hiện thực.  Và như thế, cần có những cuộc lên đường.

Trước hết, đó là cuộc lên đường của cặp vợ chồng trẻ, là ông Giuse và bà Maria.  Ông Giuse quê ở Belem, miền Nam, nhưng lại đang sinh sống ở Nagiarét, miền Bắc.  Trong khi đó, lời ngôn sứ lại tiên báo Đấng Cứu thế sẽ sinh tại Belem.  Đấng Quan phòng đã soi sáng và thúc đẩy cho hoàng đế Augustô khởi xướng một cuộc tổng điều tra dân số, để rồi, ai quê hương ở đâu thì phải về đó để làm sổ kiểm tra.  Để thi hành bổn phận người công dân, ông bà phải lên đường về thành của vua Đavít.  Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ về nơi sinh của Đấng Cứu thế.  Khi lên đường, ông bà đã phải chấp nhận nhiều hệ luỵ, vì bà Maria đang mang thai gần đến ngày sinh.  Hơn nữa, thân phận nghèo nàn không thể có phương tiện hoặc những tiện nghi cho việc lưu trú.  Con Thiên Chúa đã chấp nhận cảnh nghèo nàn này, và đã sinh hạ tại nơi làm trú ngụ cho chiên bò vào ban đêm.

Đó cũng là cuộc lên đường của các mục đồng tại Belem.  Họ là những người dân quê nghèo nàn chất phác.  Tin Mừng Giáng sinh đã được loan báo cho họ trước hết, không phải do con người, mà do chính các sứ thần.  Họ đã tin ngay rằng Chúa đã nói với họ.  Những mục đồng bảo nhau: “Chúng ta hãy sang Belem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã cho chúng ta biết.”  Họ đã hối hả lên đường, theo chỉ dẫn của các thiên sứ.  Họ là những người đầu tiên chứng kiến Hài Nhi mới sinh.  Những người đơn sơ này sẵn sàng bỏ lại chiên bò, chấp nhận nhiều hệ luỵ có thể sẽ bị kẻ gian đánh cắp, để đến thờ lạy Đấng Cứu độ mới sinh.

Đó còn là cuộc lên đường của các nhà đạo sĩ.  Cũng có bản văn gọi họ là những nhà chiêm tinh.  Truyền thống vẫn cho là họ có ba người, nhưng Thánh Mátthêu chỉ ghi là “có mấy người chiêm tinh.”  Chuyên môn nghề nghiệp của họ là quan sát các vì sao để đoán vận mạng thế giới.  Các ông đã thấy ngôi sao lạ xuất hiện ở phương Đông và đã lên đường.  Chúng ta không biết hành trình của các ông mất bao nhiêu thời gian và vượt qua bao nhiêu cây số, nhưng chắc chắn đó là một hành trình dài.  Có lúc các ông không còn thấy ngôi sao nữa, nhưng không vì thế mà các ông nản lòng.  Việc dừng chân khảo sát tại Giêrusalem của các ông đã làm cho cả thành xôn xao, và làm cho vua Hêrôđê bối rối.  Ông bối rối và nghi ngờ, ghen tỵ vì nghĩ rằng vị vua mới sinh sẽ đoạt ngai vàng của mình.  Hành trình gian nan vất vả của các nhà chiêm tinh đã được thưởng công.  Cuối cùng, các ông cũng tới được Belem để thờ lạy Hài Nhi mới sinh, dâng lên Người những lễ vật mang tính biểu tượng của văn hoá đông phương: vàng, nhũ hương và mộc dược.

Cũng nên nhắc tới một cuộc lên đường khác, đó là cuộc lên đường của quân lính theo lệnh của ông vua gian ác đến sát hại các hài nhi mới sinh ở Belem và vùng phụ cận.  Cuộc lên đường này đằng đằng sắt khí, được thúc đẩy do sự ghen tương và thù hận.  Hệ luỵ của cuộc tàn sát này thật ghê rợn: bao trẻ thơ vô tội đã bị giết tang thương.  Các em đã chết vì Chúa Giêsu.

Những cuộc lên đường nhắc tới trên đây đều hướng về một nhân vật: đó là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người, Đấng Emmanuel.  Người là Vua các vua và là Chúa các chúa.  Lễ Hiển linh giới thiệu với chúng ta Đức Giêsu là Đấng Cứu độ và là Ánh sáng muôn dân.  Ba nhà chiêm tinh đại diện cho thế giới ngoài Do Thái giáo, cũng gọi là dân ngoại.  Ngôn sứ Isaia được chiêm ngưỡng thành thánh Giêrusalem tỏa sáng đến khắp cùng thế giới.  Mọi nguồn sung mãn đều quy hướng về đây.  Thành thánh Giêrusalem là hình ảnh của Giáo Hội.  Vì nhận từ Chúa Giêsu sứ mạng thánh hóa con người, Giáo Hội trở nên Ánh Sáng Muôn Dân, không phải nhằm mục đích quy hướng về chính mình, nhưng là để chiếu soi và dẫn đường cho nhân loại đến gặp Đức Kitô, Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.  Tiếp nối sứ mạng của Đức Kitô, Giáo Hội quy tụ mọi dân tộc, để “nhờ Tin Mừng, các dân ngọai được nên đồng thừa tự, đồng một thân thể và đồng thông phần với lời hứa của Người trong Chúa Giêsu Kitô” (Bài đọc II).

Mừng lễ Giáng sinh, mỗi chúng ta cũng được mời gọi lên đường.  Như các mục đồng, chúng ta lên đường để chiêm ngắm Chúa Hài Đồng để rồi sau đó trở về vui mừng kể lại cho những người xung quanh câu chuyện Chúa Giêsu.  Như các nhà chiêm tinh, chúng ta lên đường thờ lạy Vua các vua, tôn vinh Người là Đấng Cứu độ và là Đấng đang sống giữa chúng ta.  Cầu nguyện bên hang đá máng cỏ trong những ngày cuối mùa Giáng sinh, xin Chúa Hài Đồng ban cho chúng ta nghị lực kiên cường, để vững vàng trông cậy Chúa trong mọi hoàn cảnh, kể cả những lúc gian nan thử thách.  Chúa sẽ thưởng công xứng đáng cho những ai trung tín với Ngài.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

LỄ ĐÊM

Theo truyền thống từ rất lâu đời, lễ Giáng sinh được cử hành vào nửa đêm.  Việc cử hành lễ Giáng sinh vào lúc nửa đêm không nhằm diễn tả ý nghĩa lịch sử cho bằng ý nghĩa thiêng liêng.

Trong quan niệm thông thường, đêm là thời điểm chuyển giao giữa một ngày cũ và một ngày mới.  Đó là lúc ngày cũ qua đi và nhường chỗ cho một ngày mới bắt đầu.

Đêm cũng là thời điểm hoạt động của những hành vi ám muội, của phường trộm cắp hoặc những người làm điều xấu xa.  Vì vậy, đêm đen là tượng trưng cho tội lỗi hay một lối sống lầm lạc.

Đêm còn là hình bóng của sự chết, vì trong bóng đêm, người ta không nhìn thấy ánh sáng, như sống trong một nấm mồ.

Vì thế, lễ Giáng sinh được cử hành vào nửa đêm mang ý nghĩa thiêng liêng:

Như nửa đêm là thời điểm chuyển giao giữa một ngày cũ vừa kết thúc với một ngày mới vừa khởi đầu, Chúa Giêsu đến khai mở một kỷ nguyên mới.  Cuộc giáng sinh của Người đánh dấu một giai đoạn mới của lịch sử nhân loại và lịch sử cứu độ.  Vì vậy, những gì xảy ra trước Chúa Giáng sinh, chúng ta gọi là trước Công nguyên, và những gì xảy ra sau ngày Chúa Giáng sinh, chúng ta gọi là sau Công nguyên.  Tại một số quốc gia, nhất là Châu Âu và Châu Mỹ, người ta còn nói rõ: sự kiện xảy ra trước Chúa Giêsu hay sau Chúa Giêsu (sinh ra).

Sứ mạng của Chúa Giêsu là loan báo Nước Trời.  Đó là vương quốc của công chính, yêu thương và an bình.  Giáo huấn của Người nhằm đẩy lui ảnh hưởng của tội lỗi, mời gọi con người trở về với Chúa, sống trong sự thánh thiện và trong tình yêu thương đồng loại.

Nếu đêm dài là tượng trưng cho sự chết, thì Chúa Giêsu đến trần gian để giải phóng con người khỏi sự chết.  Trong khi thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng, Chúa Giêsu đã làm cho người chết sống lại.  Chính Người đã sống lại vinh quang, chiến thắng thần chết, chiến thắng tối tăm.  Đức Giêsu Phục sinh là niềm hy vọng của nhân loại.  Qua đó, Chúa khẳng định với chúng ta, nấm mồ không phải là điểm dừng vĩnh viễn của thân phận người, vì con người được tạo dựng để sống và hưởng tôn nhan Thiên Chúa.

Chúng ta hãy trở về với Lời Chúa của Thánh lễ đêm nay.  Ngôn sứ Isaia (sống ở thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên) đã diễn tả nhân loại đang bước đi trong u tối, đã thấy một ánh sáng bừng lên.  Bóng tối tượng trưng cho sự chết.  Ánh sáng bừng lên đem lại cho con người sự sống, hạnh phúc và niềm vui.  Vị ngôn sứ cũng diễn tả ngày Chúa đến là ngày chiến thắng đối với những ai trung thành và khiêm nhu.  Những kẻ kiêu ngạo sẽ bị diệt trừ.  Trẻ thơ sinh ra sẽ là một vị Cố vấn kỳ diệu và là Hoàng tử bình an.

Ánh sáng đã đến để chiếu soi thế gian.  Ánh sáng ấy khởi đi từ đồng quê Belem, trong một khung cảnh đơn sơ khiêm nhường.  Tác giả Luca đã kể lại việc Chúa Giêsu giáng sinh: Giuse và Maria là Cha và Mẹ của Hài Nhi, vì không tìm được quán trọ, nên phải tạm trú trong một chiếc hang đá giữa đêm đông giá lạnh.  Vị Thiên tử đã sinh ra trong cảnh nghèo nàn, như một thông điệp gửi đến cho nhân loại: Thiên Chúa yêu thương và chấp nhận trở nên một người nghèo giữa mọi người nghèo, để nâng đỡ và giúp họ bước đi, vượt qua những chông gai của cuộc sống.

Hài Nhi Giêsu sinh ra là niềm vui cho cả nhân loại.  Đó là lời Sứ thần loan báo với các mục đồng tại Belem. “Này đây tôi loan báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho cả thế giới: Đấng Cứu độ đã sinh ra trong thành của vua Đavít.  Người là Đức Kitô, là Đức Chúa.”  Hôm nay, Giáo Hội cũng loan báo cho cả thế giới tin mừng trọng đại này, đồng thời khẳng định: Thiên Chúa yêu thương con người.  Ngài muốn cho con người được hạnh phúc, bình an và được cứu rỗi.

Chúa Giêsu là Hoàng tử của hòa bình.  Người đến trần gian để mời gọi con người hãy sống trong hòa bình với Thiên Chúa Cha, là Thượng Đế và là Tạo Hóa.  Người cũng thiết lập vương quốc hòa bình và mời gọi mọi người cùng chung tay xây dựng hòa bình dưới thế.  Người chúc phúc cho những ai sống hòa bình và nhiệt thành nối kết bình an thân thiện, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.  Thông điệp mà ngày lễ Giáng sinh muốn gửi đến cho chúng ta, đó chính là thông điệp của hòa bình.  Hòa bình là niềm khát khao của con người mọi thời đại.  Hòa bình là lý tưởng phấn đấu của mỗi chúng ta.  Tuy vậy, hòa bình phải được khởi đi từ tâm hồn và đời sống cá nhân mỗi người.  Trong bài đọc II của Thánh lễ Đêm, thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy can đảm từ bỏ đời sống vô luân và những đam mê trần tục để xứng đáng đón nhận Chúa Giêsu đến trong đời.

Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho người thiện tâm

Lễ Giáng sinh là lời mời gọi mọi người hãy cùng nắm tay nhau xây dựng hòa bình, không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng, văn hóa.  Cũng như trái tim, hòa bình không mang một sắc màu riêng biệt cho từng quốc gia hay một ý thức hệ chính trị nào, nhưng bao gồm mọi gương mặt, mọi cuộc đời, với mục đích đem lại hạnh phúc cho mọi người.

Hãy sống với trái tim tốt lành để gặp Chúa Giêsu, Hoàng tử hòa bình, để đón nhận những lời khuyên, để sống tha thứ, bao dung, chân thành, quảng đại, trung thực, thân thiện và yêu thương.  Một khi đạt được tâm hồn hòa bình, chúng ta sẽ sống thân thiện với tha nhân và thân thiện với môi trường xã hội.

Nguyện xin sự bình an từ Hang đá Máng cỏ tuôn chảy đến mọi nẻo đường của cuộc sống, để những mơ ước của chúng ta được thực hiện.  Xin Chúa Giêsu là Vua hoà bình chúc lành cho chúng ta.  Amen.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Ý NGHĨA CỦA GIÁNG SINH, MỐI DÂY GIỮA MÁNG CỎ VÀ THẬP GIÁ

Trình thuật Tin mừng về việc Chúa Giêsu ra đời, không phải chỉ là kể lại những chuyện xảy ra ở Bê-lem.  Trong các bình luận về việc Chúa Giêsu ra đời, học giả kinh thánh lừng danh Raymond Brown, đã nhấn mạnh rằng các trình thuật này được viết rất lâu sau khi Chúa Giêsu chịu đóng đinh và trỗi dậy từ cõi chết, do đó các trình thuật Giáng sinh cũng mang sắc thái của cái chết và sự phục sinh.  Có thể nói, những trình thuật kể về việc Chúa Giêsu hạ sinh cũng giống như các trình thuật kể về cuộc thương khó và cái chết của Chúa vậy.  Khi các tác giả Tin mừng nhìn lại sự ra đời của Chúa Giêsu qua lăng kính phục sinh, họ nhìn thấy trong sự ra đời của Ngài đã có mẫu hình cho cuộc đời sứ mệnh, cho cái chết và sự phục sinh của Ngài rồi.  Thiên Chúa đến với thế gian và một số người tin và đón nhận Ngài, số khác thì thù ghét và loại trừ Ngài.  Với một số người, Ngài đem lại ý nghĩa, còn với số khác thì Ngài gây hoang mang và giận dữ.  Có một thông điệp trưởng thành về Chúa Kitô trong Giáng Sinh và về việc hiểu ý nghĩa của Giáng Sinh qua thập giá, cũng hệt như qua máng cỏ vậy.  Và còn cả những ánh đèn, những bài hoan ca, máng cỏ và ông già Noel nữa.

Cả chúng cũng có chỗ của mình.  Karl Rahner, không ngây thơ về những nhận định của Raymond Brown, đã lập luận rằng, Giáng Sinh vẫn mang ý nghĩa là hạnh phúc, và niềm vui đơn sơ của trẻ con thì diễn tả ý nghĩa Giáng Sinh chính xác hơn tính yếm thế của người lớn.  Rahner cho rằng, vào lễ Giáng Sinh, Chúa cho chúng ta một ưng thuận đặc biệt để hạnh phúc.  “Đừng sợ hạnh phúc, tiêu chuẩn của cuộc sống là niềm vui, hơn là lo âu và đau buồn của những con người không có hy vọng.…  Ta không xa rời thế gian, dù cho lúc này con không thấy Ta.…  Ta ở đó.  Giáng Sinh.  Hãy thắp lên những ngọn nến.  Ngọn nến đáng tồn tại hơn toàn bộ bóng đêm.  Giáng Sinh.  Giáng Sinh tồn tại mãi.”  Trong Giáng Sinh, máng cỏ thắng thập giá, dù cho thập giá không hoàn toàn biến mất.

Làm sao mà thập giá và máng cỏ hợp với nhau được?  Núi Sọ có phủ bóng muôn đời trên Bê-lem?  Giáng Sinh có khiến chúng ta phiền lòng hơn là an ủi chúng ta?  Liệu niềm vui đơn thuần của chúng ta trong Giáng Sinh có nhầm hay không?

Không.  Vui mừng là ý nghĩa của Giáng Sinh.  Những bài hoan ca đáng được cất lên.  Trong Giáng Sinh, Thiên Chúa cho chúng ta một ưng thuận đặc biệt để hạnh phúc, dù cho phải hiểu thật cẩn thận điều này.  Không có mâu thuẫn bẩm tại nào giữa niềm vui và đau khổ, giữa hạnh phúc và trải qua mọi nỗi đau cuộc đời đem lại.  Niềm vui không phải là khoái lạc không có đau khổ trong đời.  Niềm vui đích thực là một sự trường tồn luôn mãi, ở trong chúng ta qua suốt mọi cảm nghiệm trong đời, kể cả đau đớn và thống khổ.  Chúa Giêsu hứa với chúng ta “một niềm vui không ai lấy mất được.”  Rõ ràng điều này nghĩa là một sự gì đó không biến mất vì chúng ta đau bệnh, vì người thân yêu qua đời, vì bị bạn đời phản bội, vì mất việc làm, vì bị bạn bè loại trừ, vì bị đau đớn thân xác, hay vì buồn sầu.  Không một ai trong chúng ta thoát được đau đớn và khốn khổ.  Niềm vui có thể cộng sinh với chúng.  Thật vậy, niềm vui nghĩa là lớn lên sâu sắc hơn qua các cảm nghiệm đau đớn và đau khổ.  Chúng ta được định là những con người của vui mừng, dù sống trong đau đớn.  Đây là một lớp nghĩa, mà các tác giả Tin mừng, lấy từ nhận thức về cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, để đưa vào trình thuật Giáng Sinh.

Nhưng, tất nhiên, trẻ em không thấy được điều này khi chúng hòa trong bầu khí phấn khích của Giáng Sinh, và khi chúng nhìn vào Chúa Kitô Hài Đồng trong máng cỏ.  Niềm vui của trẻ em vẫn còn vô tội, được bảo vệ bởi sự ngây thơ, vẫn đang chờ một sự vỡ mộng, nhưng đó là niềm vui thật.  Niềm vui ngây thơ của một đứa trẻ, là thật, và thật sai lầm khi muốn viết lại chúng bằng sự vỡ mộng khi trưởng thành.  Những gì thật, là thật.  Những ký ức tươi đẹp chúng ta có khi chờ đợi và mừng Giáng Sinh lúc còn là đứa trẻ, vẫn không mất chút gì giá trị khi chúng ta biết là ông già Noel không có thực.  Giáng Sinh mời gọi chúng ta hãy vẫn “lao đầu vào chiếc bánh ngọt.”  Và bất chấp mọi vỡ mộng trong đời sống trưởng thành, Giáng Sinh vẫn cho chúng ta, những người trưởng thành bị khủng hoảng, một lời mời tuyệt diệu.

Ngay cả khi chúng ta không còn tin có ông già Noel, và khi tất cả các máng cỏ, đèn chớp, hoan ca, thiệp chúc, những tấm giấy gói sặc sỡ và các món quà Giáng Sinh không còn cho chúng ta những xúc động như xưa, thì lời mời đó vẫn còn.  Giáng Sinh mời chúng ta hãy hạnh phúc, và đòi chúng ta phải kiêng bớt thói yếm thế của người lớn, mà theo một niềm vui có thể nắm bắt được cả thập giá lẫn máng cỏ để chúng ta có thể sống trong một niềm vui mà không một ai, không một bi kịch nào có thể lấy của chúng ta được.  Điều này sẽ cho chúng ta, trong dịp Giáng Sinh, được như những đứa trẻ, đâm đầu vào chiếc bánh ngọt.

Giáng Sinh, đem lại cho cả trẻ thơ lẫn người lớn, một ưng thuận để hạnh phúc.

Rev. Ron Rolheiser, OMI