CẬY TRỜI MÀ KHÔNG CẬY MÌNH

“Ông Noe được nghĩa trước mặt Chúa.”

Ngày kia, có một bánh xe gỗ, nó rơi mất một mảnh.  Khập khà khập khiễng, nó vụng về lăn qua các nẻo đường để tìm lại mảnh vỡ đã mất.  Ngạc nhiên thay!   Nhờ khiếm khuyết này, nó trở nên thân thiện với hoa lá và bạn bè hai bên đường. Cho đến một ngày, bánh xe tìm được mảnh vỡ, nó vui mừng và cố sức ráp lại; nó thấy mình tròn trịa duyên dáng.  Nhưng cũng từ đó, nó cảm thấy xa lạ và không còn thân thiện như trước.  Nó xé gió, lao đi vun vút; cỏ cây, chim chóc hai bên đường khiếp sợ.  Rồi một chiều, nó cảm thấy cô đơn.  Và rồi, nó dừng lại, quyết định tháo mảnh vỡ và ném nó thật xa.  Bánh xe trở nên chính mình trong dáng vẻ trước đó; lần thần, khiêm hạ.  Nhưng lạ thay, nó bình an; chim chóc, ong bướm, cỏ cây và mọi cảnh vật đang đón chờ nó.

Kính thưa Anh Chị em,

Trải nghiệm của bánh xe gỗ kia cũng có thể là trải nghiệm của mỗi người chúng ta; trải nghiệm về sự kiêu ngạo, trải nghiệm về sự khiêm nhường!  Sách Sáng Thế và Tin Mừng hôm nay nói đến một điều mà Thiên Chúa gớm ghiếc, đó là kiêu ngạo; loài người kiêu ngạo, các môn đệ kiêu ngạo; đó là những con người ‘cậy mình mà quên cậy Trời.’  Đang khi Thiên Chúa ưa thích những con người khiêm nhượng, những con người ‘cậy Trời mà không cậy mình!’

Bài đọc Sáng Thế nói, “Thiên Chúa thấy tội ác loài người lan tràn trên mặt đất, tư tưởng lòng người luôn hướng về đàng xấu; Ngài đau lòng mà nói, ‘Ta sẽ hủy diệt khỏi mặt đất loài người Ta đã dựng nên…  Ta lấy làm tiếc đã tạo dựng nó.’”  Giữa loài người kiêu căng, ai ai cũng ‘cậy mình mà quên cậy Trời.’  May thay, Thiên Chúa tìm thấy Noe, một người ‘cậy Trời mà không cậy mình’; ông cậy trông Thiên Chúa, tuyệt đối khiêm nhường và Ngài đã cứu cả gia đình ông.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy các môn đệ bài học khiêm nhường nhân việc họ quên mang bánh.  Phải chăng Ngài đã đọc được sự tự phụ nơi các học trò khi họ đổ lỗi cho nhau, “Tự mình không mang bánh”; hay phải chăng họ tự phụ ỷ lại việc đã có Thầy, một người đã từng nuôi đến mấy ngàn người với chỉ năm chiếc bánh và hai con cá; hay phải chăng lòng họ đã quá kiêu ngạo đến nỗi vô lo?  Vì thế, Ngài bảo, “Các con hãy coi chừng và giữ mình cho khỏi men biệt phái.”  Họ là những người coi mình tài giỏi, đạo đức; cho mình là may mắn hơn người bởi họ cầu nguyện nhiều, ăn chay nhiều và nhiệm nhặt giữ luật.  Đó là lý do để họ kênh kiệu, tự coi là công chính, và khinh dể kẻ khác; thậm chí, coi khinh cả thầy trò Chúa Giêsu.

Anh Chị em,

“Ông Noe được nghĩa trước mặt Chúa.”  Chớ gì, bạn và tôi là những người được nghĩa trước mặt Chúa. Để được vậy, điều quan trọng là chúng ta phải suy gẫm thường xuyên cùng với lòng biết ơn, “Bạn có gì mà đã không nhận được?” Hãy nhớ rằng, ngay cả việc nên thánh của mỗi người chúng ta cũng khởi sự từ Thiên Chúa.  Và nếu Ngài đã đưa chúng ta tiến xa đến mức này chỉ với ‘một lượng hợp tác’ khiêm tốn từ phía mỗi người, thì chúng ta có thể tiến xa hơn biết bao nếu cống hiến hết mình cho Ngài?  Bao điều tốt đẹp sẽ nảy nở trong cuộc sống!  Bao vấn đề sẽ được bàn tay Ngài định hình vì lợi ích của linh hồn mỗi người!  Đừng quên, Thiên Chúa yêu thích những con người khiêm hạ, họ là những con người ‘cậy Trời mà không cậy mình!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con hợm hĩnh ‘cậy mình mà quên cậy Trời’; cho con xác tín rằng, trong mọi việc, từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa, kể cả việc con nên thánh!” Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC VÀ THÁNH NỮ BERNADETTE

Lộ Đức là trung tâm hành hương quốc tế.  Cách đây mấy năm, tôi có đi hành hương Đức Mẹ Lộ Đức.  Từ Rôma qua hướng Tây Ban Nha, vượt đỉnh Pyrênê đến miền Nam nước Pháp.  Lộ Đức nằm ở một vị trí khá hẻo lánh, thuộc một tỉnh nhỏ.  Nơi đây, từng giờ từng phút, khách thập phương tấp nập đổ về để dâng lễ, cầu nguyện và xin ơn với Đức Mẹ.

Khi bước vào Vương Cung Thánh Đường Vô Nhiễm Nguyên Tội, tôi thấy bên phải, có phiến đá cẩm thạch ghi lời tuyên bố long trọng của Đức Giám Mục Laurence về những lần hiện ra của Đức Mẹ: “Chúng tôi tuyên bố rằng Đức Vô Nhiễm Nguyên Tội Maria, Mẹ Thiên Chúa, đã thực sự hiện ra với Bernadette Soubirous, ngày 11 tháng 02 năm 1858 và những ngày kế tiếp, tất cả là 18 lần, trong hang động Massabielle, gần thành Lộ Đức; rằng sự hiện ra này mang tất cả những tính cách của sự thật, và các giáo hữu đều đã tin là chắc chắn.  Chúng tôi xin dâng cách khiêm nhường sự phán đoán của chúng tôi cho Sự Phán Đoán của Đức Giáo Hoàng, Vị được giao trọng trách guồng lái Giáo Hội hoàn vũ.”

Đức Mẹ đã hiện ra 18 lần tại Hang đá Lộ Đức, từ ngày 11 tháng 02 đến ngày 16 tháng 07 năm 1858.

Ngày 28 tháng 07 năm 1858, Đức Giám Mục địa phận Lộ Đức đã thiết lập Ủy Ban Điều Tra về những lần Đức Trinh Nữ Maria hiện ra tại hang đá Massabielle.  Công việc điều tra kéo dài trong 4 năm.

Trang web: lourdes-france.com, cho biết công việc nghiên cứu điều tra tỉ mỉ và sự phân định sáng suốt, trong lời kinh nguyện.  Sau 4 năm, ngày 18 tháng 01 năm 1862, Đức Giám Mục, nhân danh Giáo Hội, nhìn nhận những lần hiện ra là đích thực.  Giáo Hội nhìn nhận chính thức những lần Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, dựa trên chứng từ xác quyết của cô Bernadette Soubirous.

Đức Thánh Cha Lêô XIII chấp thuận mừng lễ Đức Mẹ Lộ Đức và Đức Thánh Cha Piô X cho phép toàn thể Giáo hội mừng lễ này vào ngày 11.2 hàng năm.

Chúng tôi dâng lễ tại Hang đá nơi Đức Mẹ hiện ra.  Cạnh bàn thờ dâng lễ là mạch nước chảy không ngừng từ trong Hang Đá.  Ngày nay, mạch suối này được dẫn xuôi theo Nhà thờ tới chân tháp để khách hành hương tới lấy nước và uống nước suối này.  Tôi uống liền mấy ly và đem về 5 lít nước để tặng cho bà con giáo dân.

Hành hương về Lộ Đức, tôi được hiểu biết thêm nhiều về lịch sử và sứ điệp Đức Mẹ nhắn gửi qua thánh nữ Bernadette.

Bernadette là một cô bé 14 tuổi, không biết đọc, không biết viết, con một gia đình nghèo ở Lộ Đức.  Gia đình cô tạm trú tại một nơi trước kia dùng làm nhà giam.  Nơi tồi tàn này, cả gia đình gồm ông bà thân sinh và bốn chị em Bernadette làm nơi nương thân.  Đức Mẹ muốn chọn một cô bé nơi nghèo hèn để làm sứ giả của Mẹ.

Theo lời kể của Bernadette. Hôm đó là ngày thứ năm, 11.02.1858, được nghỉ học, Bernadette xin phép mẹ đi nhặt củi.  Bình thường theo dọc bờ sông Gave, có rất nhiều cành cây khô.  Nhưng suốt buổi sáng đó, dường như chị em của Bernadette không nhặt được bao nhiêu.  Bernadette mới tiến đến một hang động gần đó mà dân làng quen gọi là Massabielle.  Cô đang loay hoay nhặt củi, từ trong hang đá, một thiếu nữ diễm lệ xuất hiện và đứng trên một tảng đá, ánh sáng bao trùm cả hang Massabielle.  Theo lời mô tả của cô, thì người thiếu nữ chỉ trạc độ 16, 17 tuổi.  Bernadette tưởng mình như đang mơ.  Cô bước thêm bước nữa.  Người thiếu nữ diễm lệ chỉ mỉm cười.  Trong cơn xúc động, Bernadette lấy tràng chuỗi từ trong túi áo ra và bắt đầu đọc kinh Kính Mừng.  Khi Bernadette vừa lần xong chuỗi mân côi, người thiếu nữ làm hiệu cho cô tiến lại gần hơn.  Bernadette say sưa ngắm nhìn và tiếp tục đọc kinh cho đến khi ánh sáng bao trùm người thiếu nữ nhạt dần và tắt hẳn.

Cô về nhà kể lại biến cố ấy, nhưng chẳng ai tin cô.  Chính cha mẹ cô cũng không muốn cho cô trở lại hang đá nữa.  Nhưng như có một sức hấp dẫn lạ kỳ nào đó khiến cô vẫn trở lại hang đá ấy.

Sau lần này, cô còn được trông thấy “người thiếu nữ diễm lệ” hiện ra 17 lần nữa.

Khi hiện ra lần thứ ba, ngày 18.02.1958, người thiếu nữ ấy mới bắt đầu nói với cô: “Con có vui lòng đến đây liên tiếp 15 ngày nữa không?  Ta không hứa sẽ làm cho con được sung sướng ở đời này, nhưng là ở đời sau.”

Trong 15 ngày tiếp đó, người thiếu nữ đã nhắn nhủ và truyền cho Bernadette nhiều điều.  Cô kể: “Bà dặn tôi nhiều lần rằng: Hãy sám hối, hãy nói với các linh mục xây một nhà nguyện ở đây, hãy đến uống và rửa ở suối này, phải cầu nguyện cho những người tội lỗi được ơn hối cải.  Trong vòng 15 ngày ấy, Bà còn nói với tôi 3 điều và dặn tôi không được nói với ai.  Tôi vẫn trung thành giữ kín.  Sau ngày thứ 15, tôi hỏi Bà 3 lần liên tiếp: Bà là ai?  Nhưng Bà chỉ mỉm cười.  Tôi đánh bạo hỏi thêm lần thứ tư.  Lúc ấy, Bà mới buông tay xuống, ngước mắt nhìn lên trời rồi vừa nói vừa chắp tay trước ngực: ‘QUE SOY ERA IMMACULADA COUNCEPTIOU.’”  Đó là thổ âm của vùng Lộ Đức lúc bấy giờ, được dịch ra tiếng pháp là: ‘Je suis l’Immaculée Conception’, và dịch sang tiếng Việt Nam là: ‘Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.’

Các bậc khôn ngoan chống đối, dân chúng xúc động, cảnh sát thẩm vấn Bernadette nhiều lần.  Cô bình thản trả lời và không hề nao núng trước những lời đe dọa.  May mắn là cô không bị vướng mắc vào những tiểu xảo của người thẩm vấn.  Các nữ tu dạy học cũng tỏ ra bất bình, còn Bernadette vẫn luôn giữ được thái độ khiêm tốn lịch sự.

Ngày 25/02/1858, một đoàn người cảm kích theo cô sau khi cầu nguyện, Bernadette đứng dậy, ngập ngừng tiến tới gần hang đá rồi quì xuống.  Theo lệnh của “người thiếu nữ diễm lệ”, cô cúi xuống lấy tay cào đất.  Một dòng nước vọt lên.  Dòng nước đó đến nay cứ chảy mãi, cứ 24 tiếng đồng hồ là có khoảng 120.000 lít nước chảy ra.

Ông biện lý cho gọi Bernadette tới.  Ông chế giễu, tranh luận và đe dọa cô nữa.  Cuối cùng ông kết luận:

– Cô hứa với tôi là sẽ không tới hang đá nữa chứ ?

Nhưng Bernadette bình tĩnh trả lời cách rõ ràng.

– Thưa ông, cháu không hứa như vậy.

Cha sở tỏ ra nghi ngại, ngài cấm các linh mục không được tới hang.  Khi Bernadette tới gặp ngài và thuật lại ““người thiếu nữ diễm lệ” nói: “Ta muốn mọi người tổ chức rước kiệu tại đây.”  Cha sở liền quở trách và gằn từng tiếng:

– Con hãy nói với bà ấy rằng, đối với cha sở Lộ Đức, phải nói cho rõ rệt. Bà muốn những buổi rước kiệu và một nhà nguyện à?  Trước hết Bà phải cho biết Bà tên là gì và làm một phép lạ đã chứ.

Dòng nước vẫn chảy thành suối.  Dân chúng vẫn lũ lượt kéo nhau tới, những kẻ hoài nghi phải chùn bước.

Đã có những phép lạ nhãn tiền:

  • Một người thợ đẽo đá mù lòa đã thấy được ánh sáng.
  • Một phụ nữ bại tay sáu năm nay bình phục.
  • Một em bé hai tuổi bệnh hoạn đang hấp hối trước những cặp mắt thất vọng của cha mẹ.  Họ nghèo lắm, bà hàng xóm đã dọn sẵn cho một một cái quách. Người cha thở dài: – Nó chết rồi.  Người mẹ chỗi dậy.  Không nói một lời nào, bà ôm đứa trẻ chạy thẳng ra hang đá, dìm nó vào trong dòng nước giá lạnh.  Dân chúng cho rằng bà khổ quá hóa điên.  Sau khi tắm cho bé khoảng 15 phút, bà ẵm con về nhà.  Sáng hôm sau, bé hết bệnh.  Ba bác sĩ đã chứng thực chuyện lạ này.

Báo chí công kích dữ dội và cho rằng đó chỉ là ảo tưởng.  Bernadette vẫn giản dị vui tươi tự nhiên.  Hàng ngày cô trở lại hang đá.

Ngày 25/03, cô quì cầu nguyện và khuôn mặt bỗng trở nên rạng rỡ.  Rồi cô quay lại nói với vài người có mặt:

– Bà nói: Ta là Đấng Vô Nhiễm nguyên tội.

Vài phút sau, lời Đức Trinh Nữ được truyền từ miệng người này sang người khác.  Đám đông cất cao lời cầu khẩn:

– Lạy Đức Mẹ Maria chẳng hề mắc tội tổ tông, xin cầu cho chúng con là kẻ chạy đến cùng Đức Mẹ.

Ngày 8.12.1854, Ðức Giáo Hoàng Piô IX tuyên bố tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội trong Hiến Chế Ineffabilis Deus.  Hơn ba năm sau, trong lần hiện ra ngày 25.3.1858, Đức Mẹ tự xưng là: “Ðấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Vào năm 1866, Bernadette được gửi vào dòng Nữ Tu Ðức Bà ở Nevers.  Ở đây, sơ trở nên một phần tử của cộng đoàn, và bị sơ giám đốc đệ tử đối xử rất tệ hại.  Sự bất nhẫn ấy chỉ chấm dứt khi họ khám phá rằng sơ Bernadette đang chịu đau khổ vì một căn bệnh bất trị.  Sơ từ trần ở Nevers vào ngày 15.4.1879, khi mới 35 tuổi.  Sơ Bernadette được phong chân phước năm 1925, và được Ðức Giáo Hoàng Piô XI phong thánh năm 1933.  Lễ kính thánh nữ vào ngày 16/04 hàng năm.

Lộ Ðức đã trở nên trung tâm hành hương và chữa lành, nhất là đức tin.  Ðối với những người có đức tin thì không có gì ngạc nhiên.  Ðó là sứ vụ chữa lành của Chúa Giêsu được tiếp tục thể hiện qua sự can thiệp của mẹ Người.

Nhiều người đến Lộ Ðức và trở về với một đức tin được đổi mới, sẵn sàng phục vụ Thiên Chúa trong các nhu cầu của tha nhân.  Tuy nhiên vẫn còn nhiều người nghi ngờ việc hiện ra ở Lộ Ðức.  Ðể nói với họ, có lẽ tốt hơn là dùng những lời mở đầu của cuốn phim “Song of Bernadette:” “Với những ai tin vào Chúa thì không cần giải thích.  Với những người không tin, thì chẳng sự giải thích nào đầy đủ.

Sứ điệp Đức Mẹ trao cho Bernadette có thể tóm lược trong ba lời mời gọi sau đây:

  1. Mời gọi cầu nguyện: Khi hiện ra lần thứ nhất, Mẹ đã dạy Bernadette làm dấu Thánh Giá và lần hạt cách sốt sắng.  Mỗi lần hiện ra Mẹ đều làm như vậy.  Mẹ còn dạy riêng cho Bernadette một kinh nguyện, rồi cuối cùng mới trao cho cô sứ điệp cầu nguyện: Con hãy cầu nguyện, hãy cầu nguyện cho kẻ có tội được ơn trở lại.
  2. Mời gọi sám hối:Đức Trinh Nữ lập lại với Bernadette ba lần: ‘Hãy sám hối, sám hối, sám hối.’  Ngày 25-2-1858, Mẹ nói với Bernadette: ‘Con hãy đến uống và rửa ở suối này.’  Mẹ chỉ cho cô tìm ra một dòng suối.  Suối nước này ban đầu rất đục, sau đó bùn lắng xuống rồi trở thành suối nước trong lành.   Đó là dấu hiệu cho sự sám hối. Nó tượng trưng cho sự lắng đọng trong tâm hồn tất cả những gì là vẩn đục hầu nên thanh sạch hơn.
  3. Mời gọi rước kiệu và xây nhà nguyện: “Con hãy nói với các linh mục xây nhà nguyện ở đây. Mẹ muốn người ta đến đây rước kiệu.”  Nhà nguyện là nơi dân Chúa tụ họp để nghe lời Chúa và cử hành nhiệm tích Thánh Thể. Để đáp lại nguyện vọng của Đức Maria mà ba đại giáo đường và 2 Nhà thờ khá lớn lần lượt được xây dựng ở đây. “Người ta sẽ xây nhà nguyện cho con, và xây rất lớn,” cha sở Lộ Đức Peyramale đã nói với Bernadette như thế khi cô đến trình bày về lời yêu cầu của Đức Mẹ, hẳn cha đã không ngờ rằng mình nói rất đúng.  Những Thánh đường này hằng ngày quy tụ từng đoàn người hành hương đến viếng thăm, chầu Thánh Thể và rước kiệu.  Chính tại nơi đây, Thánh lễ cũng như các buổi rước kiệu Thánh Thể luôn được cử hành rất long trọng.  Lộ Đức xứng với danh hiệu “Thành phố của nhiệm tích Thánh Thể.”

Hai buổi chiều, tôi dành thời giờ ngồi bên dòng sông Pau, đối diện với Hang Đá, ngắm nhìn Vương Cung Thánh Đường uy nghi xây vách đá, nơi Đức Mẹ hiện ra, nhìn dòng người không ngớt cầu nguyện dưới chân Mẹ.  Tôi hiểu tại sao Giáo hội, trong dọc dài thời gian hơn hai ngàn năm qua vẫn luôn vững bền và phát triển cho dù trải biết bao thăng trầm dâu bể của lịch sử nhân loại.  Nhờ Mẹ Maria luôn chở che Giáo hội như Mẹ đã bao bọc nâng đỡ các Tông Đồ sau Lễ Ngũ Tuần.  Mẹ là dòng sông tưới mát cho nhân loại đang trên hành trình tìm về nguồn hạnh phúc bên Chúa.

Lộ Đức là địa chỉ của tình thương, là điểm hẹn của bình an nội tâm.  Tạ ơn Đức Mẹ và xin Mẹ thương ban ơn cho các bệnh nhân.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

SỐNG THEO SỰ THẬT

Sống trên đời, lý tưởng và mẫu mực mà chúng ta chọn lựa không phải là một vĩ nhân nơi trần thế.  Lý tưởng sống của người tín hữu là chính Chúa Giêsu, Đấng đã tuyên bố: Ta là Đường, là Sự thật và là Sự sống.  Nhờ việc chuyên chăm thực hiện giáo huấn của Đức Giêsu, chúng ta có thể sống theo sự thật và nên hoàn hảo trong cuộc đời trần thế, là bảo đảm hạnh phúc Nước Trời.

Tự bản chất, con người dễ dàng dối trá với người khác và dối trá với cả chính mình.  Vì dối trá, người ta sẵn sàng xúc phạm đến tha nhân, thậm chí xúc phạm cả Thiên Chúa.  Đức Giêsu dạy chúng ta trong Tin Mừng hôm nay: “Hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’; thêm thắt điều gì là do ác quỷ.”  Bài Tin Mừng hôm nay là tổng hợp nhiều nội dung giáo huấn, nhằm giúp con người sống ngay thẳng trước mặt Chúa và đối với anh chị em đồng loại.  Trong giáo huấn này, Chúa khuyên chúng ta, lòng bác ái trung thực đối với tha nhân còn quan trọng hơn của lễ dâng cho Chúa.  Chính vì vậy, khi dâng lễ, nếu trong lòng còn những uẩn khúc và mâu thuẫn đối với người khác, thì điều ưu tiên là hãy làm hòa với nhau, vì Chúa chỉ nhận của lễ dâng của người có tâm hồn bình an thanh thản.  Thông thường, người ta dễ dàng nói những lời hoa mỹ đối với Chúa, nhưng lại dùng những lời thô tục hoặc cứng cỏi với tha nhân.  Sống theo sự thật là tạo mối tương quan chân thành với Chúa cũng như với anh chị em mình.

Nhờ sống theo sự thật mà chúng ta dễ dàng thực thi Luật Chúa.  Chúa Giêsu giảng dạy như một nhà cải cách luật pháp.  Người không dừng lại ở chữ nghĩa hay những công thức lý thuyết khô cứng, nhưng chú trọng đến tinh thần, đến tâm hồn của người giữ luật.  Quả thật, người muốn nên hoàn thiện không chỉ giữ con mắt giác quan bề ngoài, nhưng còn giữ tâm hồn và ý tưởng của mình ngay thẳng trung thực.  Vì sống ngay thẳng, nên người ta không cần thề thốt.  Chúa Giêsu lên án những thói quen nơi người Do Thái bình dân thời bấy giờ.  Họ thường lấy Danh Thiên Chúa hoặc Đền thờ Giêrusalem để thề, để chứng minh cho sự trung thực của mình.  Chúa nói: đừng thề chi cả, nhưng có thì nói có, không thì nói không; thêm thắt đặt điều là do ác quỷ mà ra.  Quả vậy, trong con người chúng ta vẫn có “ác quỷ” tức là mầm mống của sự dối trá.  Bổn phận của người tin Chúa là phải làm sao để mầm mống của sự thật lớn lên và sinh hoa kết trái, đẩy lui ảnh hưởng của sự dối trá đang hủy hoại tâm hồn và làm cho con người lạc hướng.

Tác giả sách Huấn Ca dạy chúng ta hãy khôn ngoan trong cách sống và trong nhận định của mình.  Nhờ khôn ngoan mà chúng ta chọn lựa những gì ích lợi thiêng liêng và bền vững, đem lại hạnh phúc cho bản thân và cho những người xung quanh.  Ông đã dùng một hình ảnh đơn sơ dễ hiểu: Đức Chúa đặt trước mặt con người lửa và nước, nếu muốn gì thì giơ tay mà lấy; Đức Chúa đặt trước mặt họ cửa sinh và cửa tử…  Người không truyền cho ai ăn ở thất đức, cũng không cho phép ai phạm tội (Bài đọc I).  Như thế, Thiên Chúa ban cho con người có tự do để chọn lựa sự sống hay sự chết cho mình, để rồi họ phải lãnh trách nhiệm về những chọn lựa cũng như những hệ lụy của chọn lựa ấy.  Vì con người hay lạm dụng tự do, nên Chúa đã thiết lập lề luật làm nền tảng để lượng giá những hành động của họ.  Lề luật của Thiên Chúa là mẫu mực cho mọi lề luật của loài người, nên luật đó có giá trị ưu tiên.  Mọi dân luật đều phải dựa trên luật của Thiên Chúa đã khắc ghi vào lương tâm con người.

Nếu sự khôn ngoan là một chọn lựa và tìm kiếm để nên hoàn thiện, thì theo nhãn quan Kitô giáo, Chúa Giêsu chính là Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa Cha.  Đức Khôn Ngoan đã nhập thể, mang lấy thân phận con người để chung chia phận người với chúng ta.  Thánh Phaolô quả quyết: rao giảng Đức Kitô là rao giảng sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa.  Đón nhận sự Khôn Ngoan chính là đón nhận Thiên Chúa.  Chính vì vậy, lý tưởng của người Kitô hữu là chính Chúa Giêsu, là Sự Khôn Ngoan vĩnh cửu và là Đấng Cứu độ trần gian.  Thánh nhân cũng mời gọi chúng ta hãy hành xử theo sự khôn ngoan đích thực, chứ không phải lẽ khôn ngoan theo quan niệm thế gian.  Trong tiến trình tìm kiếm sự Khôn Ngoan, có Thần Khí giúp đỡ chúng ta, để chúng ta không nản chí và không thất vọng.

Hành trình đức tin là hành trình tiến theo Sự Thật và tìm kiếm sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa.  Xin Chúa cho chúng ta được ơn kiên trung, để mặc dầu giữa những biến động của trần gian, chúng ta vẫn luôn gắn bó với Chúa Giêsu, Đấng là Đường, là Sự thật và là Sự sống.  Một khi trung thành với Chúa, chắc chắn chúng ta sẽ dễ dàng sống trung thực đối với anh chị em mình.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

NGÀY MAI VÀ NGÀY MAI

Trong Tự thú của Thánh Augustinô, ngài mô tả việc trở lại đạo của ngài liên quan đến hai khoảnh khắc ân sủng riêng biệt, khoảnh khắc đầu tiên thuyết phục ngài về mặt trí tuệ, Kitô giáo là đúng, và khoảnh khắc thứ hai giúp ngài sống theo những gì ngài tin.  Phải mất gần chín năm trôi qua giữa hai lần trở lại này và trong chín năm này, ngài đã có lời cầu nguyện nổi tiếng: Lạy Chúa, xin Chúa làm cho con thành người tín hữu Kitô tốt và khiết tịnh – nhưng chưa phải bây giờ.

Thật lạ lùng, Thánh Ephraim người Syria (306-373), một người cùng thời với ngài cũng viết lời cầu nguyện tương tự: Hỡi người yêu dấu của tôi, mỗi ngày tôi làm sai rồi tôi lại ăn năn.  Trong một giờ tôi xây và giờ sau đó tôi phá những gì tôi đã xây.  Buổi tối, tôi nói, ngày mai tôi sẽ ăn năn, nhưng khi sáng mai đến, tôi vui vẻ lãng phí một ngày.  Rồi đến tối, một lần nữa tôi nói, tôi sẽ thức suốt đêm và tôi sẽ xin Chúa thương xót tội lỗi của tôi.  Nhưng khi đêm đến, tôi lại ngủ say.

Điều mà Thánh Augustinô và Thánh Ephraim mô tả là rõ ràng (không phải không có chút hài hước), một trong những khó khăn chúng ta thực sự gặp trong cuộc đấu tranh để lớn lên trong đức tin và trong sự trưởng thành của con người, là thói quen để cuộc đời qua đi khi nói: “Đúng, tôi cần phải làm tốt hơn.  Tôi cần phải chịu đựng và cố gắng khắc phục những thói quen xấu của mình, nhưng chưa phải bây giờ!”

Và thật an ủi khi chúng ta biết đã có những thánh đấu tranh vất vả trong nhiều năm với sự tầm thường, lười biếng, với thói hư tật xấu trong nhiều năm, họ cũng nhún vai chịu thua như chúng ta: “Ngày mai, tôi sẽ bắt đầu một khởi đầu mới!”  Trong vài năm, một trong những câu nói của Thánh Augustinô là, “ngày mai và ngày mai!”

“Đúng, phải thay đổi, nhưng chưa!”  Điều này nói lên con người của chúng ta như thế nào?  Tôi muốn là người tốt, là người tín hữu Kitô tốt.  Tôi muốn sống theo đức tin nhiều hơn, bớt lười biếng, bớt ích kỷ, độ lượng với người khác hơn, chiêm niệm hơn, bớt giận dữ, bớt cay đắng, hoang tưởng và phán xét người khác.  Tôi muốn dừng việc ngồi lê đôi mách và vu khống.  Tôi muốn đóng góp nhiều hơn vào công lý.  Tôi muốn có một đời sống cầu nguyện tốt hơn.  Tôi muốn dành thời gian cho mọi việc, dành nhiều thời gian hơn cho gia đình, thưởng thức hương hoa, lái xe chậm hơn, kiên nhẫn hơn và ít vội vã hơn.  Tôi có một số tật xấu cần phải thay đổi, tâm hồn tôi vẫn còn cay đắng, tôi đã lỗi lầm quá nhiều thứ, tôi thật sự cần phải thay đổi, nhưng chưa phải lúc này.

Trước tiên, tôi phải giải quyết một mối quan hệ cụ thể, tôi lớn lên, thay đổi công việc, kết hôn, nghỉ ngơi, có được sức khỏe, học xong, có thì giờ đi nghỉ hè vì rất cần thiết, để một số vết thương lành lại, để con cái tự lập, nghỉ hưu, dọn đến một giáo xứ mới, và thoát khỏi tình trạng này – sau đó tôi sẽ nghiêm túc xem lại việc thay đổi những chuyện xấu này.  Lạy Chúa, xin làm cho con trở nên người trưởng thành hơn và là một tín hữu Kitô, nhưng chưa phải lúc này!

Cuối cùng, đó không phải là lời cầu nguyện tốt.  Thánh Augustinô nói với chúng ta, trong nhiều năm, khi đọc lời cầu nguyện này, ngài đã hợp lý hóa sự tầm thường của mình.  Tuy nhiên, một trận đại hồng thủy bắt đầu dấy lên trong tâm hồn ngài.  Chúa đã vô cùng kiên nhẫn với chúng ta, nhưng sự kiên nhẫn của chúng ta với chính mình cuối cùng cũng cạn kiệt và đến một lúc nào đó, chúng ta không thể tiếp tục như trước nữa.

Trong quyển 8 của bộ sách Tự thú, Thánh Augustinô kể, một ngày nọ, khi đang ngồi trong vườn, ngài bị choáng vì sự thiếu trưởng thành và tầm thường của mình và “một cơn bão to lớn ập đến trong tôi, tôi bật khóc sướt mướt…  Tôi gieo mình xuống gốc cây vả và để cho nước mắt tuôn trào… tôi khóc trong nỗi đau khổ: ‘Cho đến lúc nào tôi vẫn còn nói ngày mai, ngày mai đây.  Tại sao không phải bây giờ?’” Khi ngài đứng lên, cuộc đời ngài đã thay đổi; ngài không còn chấm dứt lời cầu nguyện với câu “nhưng chưa” dù là manh nha trong đầu.

Chúng ta tất cả đều có một số thói quen nào đó trong cuộc sống mà chúng ta biết là xấu, nhưng vì nhiều lý do (lười biếng, nghiện ngập, thiếu sức mạnh tinh thần, mệt mỏi, tức giận, hoang tưởng, ghen tuông, bị áp lực của gia đình, của bạn bè) chúng ta không chịu ngưng.  Chúng ta cảm nhận sự tầm thường của mình, nhưng tự an ủi, cho rằng mọi người (trừ các thánh) thường tự bào chữa, nói ra hoặc không nói ra trong lời cầu nguyện của họ: “Đúng, thưa Chúa, nhưng chưa phải lúc này!”

Thật vậy, trong lời cầu nguyện này có một an ủi xác đáng, nó nhận ra một điều gì đó quan trọng bên trong sự hiểu biết và lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa.  Tôi ngờ rằng Chúa đối phó với những lỗi lầm của chúng ta tốt hơn là chúng ta đối phó với lỗi lầm của mình và những người khác đối phó với chúng ta.  Tuy nhiên, giống như Thánh Augustinô, ngay cả khi chúng ta nói, “ngày mai và ngày mai”, một cơn bão vẫn tiếp tục dấy lên trong lòng chúng ta, sớm hay muộn, sự tầm thường của chính chúng ta sẽ làm cho chúng ta phát điên lên để nói: “Tại sao không phải bây giờ?”

Khi tác giả Thánh vịnh viết: “Hãy hát lên một bài ca mới”, chúng ta tự hỏi, bài ca cũ là gì?  Đó là lời cầu nguyện kết thúc, Đúng, lạy Chúa, nhưng chưa phải bây giờ!

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CHÚT SUY TƯ VỀ THINH LẶNG

“Thiên Chúa, Người thầm lặng; tất cả những gì có giá trị trong thế giới đều chứa đầy thinh lặng.” – E.Mounier.

Trong thế giới ngày nay, tiếng ồn ào đã thâm nhập cuộc sống con người như một cơn sóng thần, âm thanh tràn ngập mọi ngóc ngách.  Phải công nhận rằng thời gian im lặng càng ngày càng trở nên hiếm hoi trong cuộc sống đời thường của đa số những con người ngày nay.  Họ hầu như bị chìm sâu trong làn sóng dư luận, bị chao đảo theo các ngọn gió tin tức truyền thông, rồi những tiếng ầm ầm của máy móc hay những âm thanh của máy vi tính, chuông điện thoại, tiếng ồn ào trong các quán ăn, nhà hàng… đã chiếm hết tâm trí của họ đến nỗi họ không còn biết mình từ đâu đến và sẽ đi đâu.  Sự hụt hẫng, trống rỗng, mà nhiều người ngày nay cảm nhận, chứng tỏ rằng họ đã bỏ sót một chiều kích của chính mình.[1]  Họ đã quên mất con đường về căn nhà lương tâm và về mảnh vườn nội tâm của lòng mình, nơi có thể nói cho họ biết tất cả…  Thiếu thinh lặng, con người đang sống ngoài lề của chính mình và thậm chí còn thu hẹp mọi tương quan với người khác.

Sự thinh lặng cần thiết biết bao!  Không biết có ai đã bao giờ tự hỏi rằng: Tại sao bản nhạc lại phải có dấu lặng?  Hay đã bao giờ có ai đọc một bài văn mà không hề có dấu chấm, dấu phẩy?

Nếu một bản nhạc không có dấu lặng, chúng ta sẽ chẳng bao giờ nghe được tiếng vọng của thanh âm, và những ngân nga của một giai điệu du dương.  Cũng vậy, nếu một bài văn không có dấu chấm dấu phẩy, chắc chắn là người đọc sẽ đứt hơi, hoặc sẽ chẳng thể hiểu được trọn vẹn bài văn ấy.  Thinh lặng cũng giống như một nốt lặng của bản nhạc, giúp ta nghe rõ hơn nốt trước và nốt sau đó, và cũng giống như dấu chấm dấu phẩy trong một bài văn, giúp người đọc hiểu trọn vẹn hơn ý nghĩa của bài viết.

Trên phương diện nhân bản, thì chỉ có sự thinh lặng mới giúp ta thực sự lắng nghe để thấu hiểu và đón nhận người khác một cách chân thực như chính họ, và giúp ta bước vào những mối tương quan bền vững hơn.  “Người ta sẽ tin bạn không phải vì bạn nói nhiều, nhưng vì bạn biết thinh lặng để lắng nghe”(Paul Xardel).  Còn trên phương diện tâm linh, thinh lặng càng cần thiết hơn, bởi vì tiếng ồn bên ngoài có thể gây biến động bên trong thay vì cho thấy những chiều sâu của tâm hồn[2].  Có sự thinh lặng trong tâm hồn ta mới có thể tiến tới đời sống tâm linh cao vượt mà con người hằng khát khao mong mỏi.  Sự thinh lặng ấy tạo điều kiện quân bình cho đời sống và sự tăng trưởng của cá nhân mỗi người.

Trong cái thế giới ồn ào ngày nay, thiết nghĩ, cần phải sống thinh lặng nhiều hơn, bởi vì sự thinh lặng rất cần thiết để mỗi người nhìn lại chính mình.  Trong sự thinh lặng ta dễ dàng làm chủ bản thân, làm chủ giác quan, và khi thinh lặng ta buộc phải đối diện với chính mình.  Từ đó, ta có cơ hội tìm về nội tâm, tìm về với chính con người thật của mình để nhìn lại, tìm hiểu và suy xét bản thân…

Nhưng cũng cần phân biệt: thinh lặng khác với im lặng.  Ta có thể im lặng bởi ta không thèm nói.  Hoặc ta có thể im lặng vì đang tức giận đến tột độ, hoặc đau khổ đến nỗi không thể thốt nên lời.  Nhưng thực ra, ngay lúc đang im lặng đó lại là những lúc ta đang “nói” nhiều nhất.  Thinh lặng là một trạng thái hoàn toàn khác, thinh lặng là khi mặt hồ của tâm hồn không hề gợn sóng, và thinh lặng là khi ta đang lắng nghe, đang đắm mình trong một không gian bình an, tĩnh tại, phẳng lặng và dịu êm.

Nói như vậy, cũng thật là khó để giữ thinh lặng trong chúng ta, vì cuộc sống đầy những ồn ào và lộn xộn.  Vì thế, muốn có được thinh lặng ta cần phải rất cố gắng.  Trước hết, ta cần học biết lắng nghe, lắng nghe tiếng lòng và lắng nghe tiếng Chúa.  Đồng thời, chúng ta hãy chiêm ngắm một gương mẫu tuyệt vời của sự thinh lặng, đó chính là Chúa Giêsu.  Người là Ngôi Lời Thiên Chúa trong xác phàm, đã im lặng ba mươi năm trong số ba mươi ba năm cuộc đời trần thế.  Người cũng đã thinh lặng bốn mươi ngày trong sa mạc trước khi bắt đầu cuộc đời công khai.  Và trong suốt cuộc đời, Người luôn sống trong thinh lặng.

Tất nhiên, Chúa Giêsu không tìm kiếm sự thinh lặng để mà thinh lặng[3] nhưng để thiết lập một mối tương quan mật thiết với Chúa Cha, và để mở lòng đón nhận chương trình yêu thương của Ngài.  Giờ đây, Chúa Giêsu cũng vẫn luôn hiện diện cách trọn vẹn trong thinh lặng và chờ đợi chúng ta trong thinh lặng.  Chính trong thinh lặng chúng ta sẽ được gặp Người và Người sẽ nói với tâm hồn chúng ta.  Tuy nhiên, để có thể lắng nghe Chúa nói, chúng ta cần có tâm hồn trong sạch, thành tâm ăn năn sám hối và trở lại với Người.

Thầy Giêsu ơi, con đang đi tìm thinh lặng nhưng chẳng thấy thinh lặng ở đâu hết.  Có lẽ bởi vì tâm hồn của con vẫn còn ồn ào quá!  Như con người ngày nay vẫn cứ chạy theo những ồn ào xao động đến điên cuồng ở ngoài kia mà cố tình bỏ quên mất cõi lòng mình.  Và con, phải chăng con vẫn còn là một kẻ như con người ngày nay ở ngoài kia…?

ĐS Vân Phong. CM

[1] Michel Hubaut, Những nẻo đường thinh lặng, NXB Tôn giáo, 2007, tr 8
[2] Lm. Thái Nguyên, Thinh lặng sống tâm tình mùa chay, 2006
[3] Mẹ Teresa, Trên Cả Tình yêu, NXB Văn Hoá Sài Gòn 2009,  tr 19

TỎA SÁNG GIỮA ĐỜI

Sống trên đời, mỗi người chúng ta giống như một ngôi sao trên bầu trời.  Triệu triệu ngôi sao trong dải ngân hà, không có hai ngôi sao giống nhau hoàn toàn.  Những ngôi sao khác nhau về kích cỡ, về cường độ ánh sáng và về tốc độ vận chuyển.  Thiên Chúa là Đấng “ấn định con số các vì sao, và đặt tên cho từng ngôi một” (Tv 147,4).  Thiên Chúa cũng biết mỗi người chúng ta, và Ngài khắc tên chúng ta trong bàn tay của Ngài.  “Ta đã gọi con bằng chính tên con.  Con là của riêng Ta” (Is 43,1).

Chúa Giêsu mời gọi những ai muốn theo Chúa phải tỏa sáng như những ngôi sao trên bầu trời.  Sống trên đời, mỗi người một tên gọi, một khuôn mặt, một cá tính, một nghề nghiệp và một sở thích.  Tuy vậy, lý tưởng chung của tất cả đều là sự hoàn thiện, mặc dù khái niệm “hoàn thiện” được hiểu khác nhau.

Tỏa sáng giữa đời, đó là sứ mạng của mỗi chúng ta.  “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.”  Đây vừa là lời mời gọi, vừa là một mệnh lệnh mà Chúa Giêsu đưa ra cho các môn đệ.  Chúa Kitô là ánh sáng thế gian.  Những ai đi theo Người cũng phải trở nên ánh sáng, vì tin vào Chúa là cố gắng nỗ lực mỗi ngày để trở nên giống như Người.  Lệnh truyền này không phải là lý thuyết, nhưng là những đề nghị thực hành cụ thể.  Đó là những việc thiện hảo mà người môn đệ thực hiện đối với những người xung quanh.  Những việc tốt lành này sẽ giúp người tín hữu toả sáng giữa đời.  Những người chưa tin Chúa sẽ nhận ra Người thông qua những cử chỉ tốt lành mà người môn đệ đang làm.

Một cách cụ thể hơn, ngôn sứ Isaia đã diễn giải những việc làm giúp chúng ta tỏa sáng giữa đời: đó là cảm thông, chia sẻ và giúp đỡ những người cô thế cô thân, những người đau khổ bần hàn.  Vị ngôn sứ viết: “Bấy giờ ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông, vết thương ngươi sẽ mau lành…”  Những việc làm nhân ái có tác động thật diệu kỳ: khi giúp đỡ ai, thì vết thương nơi mình được chữa lành.  Khi thương người nghèo, thì lời cầu nguyện lên Chúa được Ngài nhận lời.  Khi cho đi, là khi nhận lãnh.  Khi quên mình, thì gặp lại bản thân.  Đó là sự kỳ diệu của sẻ chia và phép lạ của lòng nhân ái.  “Nếu ngươi nhường miếng ăn cho kẻ đói, làm thỏa lòng người bị hạ nhục, thì ánh sáng của người sẽ chiếu tỏa trong bóng tối, và tối tăm của ngươi chẳng khác nào chính ngọ.”  Thiên Chúa là Đấng rộng rãi quảng đại.  Ngài sẽ ban lại gấp trăm cho những ai từ tâm chia sẻ với tha nhân.

Tác giả Thánh vịnh cùng chung một cảm nhận: Ánh sáng sẽ bừng lên nơi người từ bi nhân hậu và công chính.  Ánh sáng ấy vừa là ánh sáng thần thiêng đến từ Thiên Chúa, vừa là ánh sáng tỏa lan nơi tâm hồn người thánh thiện.  Quả vậy, những ai bao dung quảng đại sẽ cảm nhận được sự an bình và niềm vui đến từ Thiên Chúa.

Nhân loại vừa trải qua thời kỳ khó khăn.  Con virus Côrôna nhỏ bé đã làm đảo lộn thế giới.  Hệ luỵ của đại dịch Covid-19 sẽ còn tồn tại nhiều năm.  Trong những thời khắc của đại dịch, người ta được chứng kiến những nghĩa cử cao đẹp thấm đậm tình người.  Cũng trong thời đại dịch, nhiều người lợi dụng để trục lợi trên đau khổ của đồng bào.  Họ mượn chức danh của mình để vơ vét không thương tiếc, miễn sao thu lợi thật nhiều.  Thế mới thấy, lòng tham của con người là vô đáy, và sự vô cảm của con người thật khủng khiếp.  Người ta bất chấp lương tâm, bất chấp sự đau khổ của tha nhân, miễn là thu tích được nhiều tiền cho bản thân và cho gia đình.  Những người này, không chỉ bị pháp luật lên án, mà còn bị lương tâm cắn rứt suốt đời vì sự bất công tham lam và ăn chặn của người nghèo.

“Anh em là muối cho đời.”  Ai trong chúng ta cũng biết tác dụng và ích lợi của muối.  Thiếu muối, mọi đồ ăn đều trở nên vô vị.  Vào thời Chúa Giêsu, khi chưa có tủ lạnh như hiện nay, muối không chỉ để nêm vào món ăn, mà còn là chất liệu bảo quản thực phẩm.  Chúa muốn những ai tin vào Người phải trở nên muối ướp trần gian, tức là làm lan tỏa xung quanh sự thánh thiện, mặc dù đời còn đầy bóng tối của bất công và ghen ghét hận thù.

Làm sao có thể trở thành muối và ánh sáng giữa một cuộc sống đầy cạnh tranh và mưu mô tính toán.  Thánh Phaolô trả lời: nhờ Đức Giêsu Kitô (Bài đọc II).  Đối với thánh nhân, Đức Giêsu là lý tưởng duy nhất.  Mối bận tâm lớn nhấn của thánh Phaolô là làm sao để trung thành với Đức Giêsu.  Trọn cuộc đời của thánh nhân là dành cho Chúa.  Dù gông cùm, tù đầy, đòn vọt và sự khinh bỉ của người đời, vị Tông đồ dân ngoại vẫn không hề nao núng, vì “chiều cao hay vực thẳm, hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8,39).  Thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy cậy dựa vào lẽ khôn ngoan của Thiên Chúa, chứ đừng dựa vào người phàm.  Nhờ đó, chúng ta có đức tin chân thật và vững chắc.

Chúng ta đang sống trong những ngày đầu xuân Quý Mão.  Nắng ấm của mùa xuân làm cho lòng người ấm áp, cây cối đâm chồi nảy lộc.  Xin cho mỗi chúng ta cũng trở nên như nắng xuân, đem sức sống, sự bình yên và niềm vui cho mọi người.  Nguyện xin Chúa Xuân chúc phúc cho mỗi chúng ta.  Amen.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

SÁU TRỰC GIÁC CỦA THÁNH GIOAN BOSCO

Thánh Gioan Bosco, linh mục người Ý xuất thân trong một gia đình khiêm tốn hai trăm năm trước và được phong thánh năm 1934, ngài là nhà giáo đầu tiên của trẻ em đường phố.  Ngài đã biến giấc mơ tuổi trẻ của mình thành hiện thực để giúp các trẻ em kém may mắn.  Ngày hôm nay chúng ta vẫn còn học hỏi ở ngài rất nhiều điều.
  1. Ngăn ngừa, không trấn áp

Ở giữa thế kỷ 19, thời của tác phẩm Những kẻ khốn cùng (Les Misérables) của văn hào Victor Hugo với nhân vật Jean Valjean, giáo dục dựa trên “cây roi” và các trẻ em không ‘thẳng thớm’ được sửa trị ngay.

Năm 1850, linh mục người Ý 35 tuổi đã can đảm lên án cách giáo dục trấn áp truyền thống đối với các em “bụi đời,” ngài chống lại lối giáo dục xưa cổ “vâng lời trước, thương yêu sau.”

Linh mục Jean-Marie Petitclerc dòng Salê giải thích: “Đây là sai lầm của lối giáo dục Pháp, đã đào tạo các cô thầy trấn áp thay vì yêu thương học sinh.  Thánh Gioan Bosco đã tái lập thương yêu, ngài giải thích, đơn giản là phải học cách quản lý nó.”

Thánh Gioan Bosco chiến đấu để những người chung quanh mình tôn trọng trẻ em, lắng nghe trẻ em, làm cho các em tin tưởng và giao trách nhiệm cho các em.

Ngài nói, “vì sao chúng ta lại muốn thay thế bác ái bằng sự lạnh lùng của luật lệ.”  Theo ngài, phải có tình thương thật sự với những người mà mình nhìn họ như đi ngược với mình.  Ngài tin ở một “phương pháp phòng ngừa, linh động và được hỗ trợ bởi một tình yêu nhân từ.”  Năm 1844 ngài nhanh chóng thành lập Nhà nguyện Valdocco, một khu phố nghèo ở thành phố Turin.  Ngài có trực giác, các em bé nổi loạn này không nên ở với nhau mà nên hòa chung với các em bé khác.

Linh mục Petitclerc giải thích: “Thánh Gioan Bosco nuôi các học sinh miền quê đã nhận một giáo dục tốt trong môi trường gia đình của các em,” như thế ngài đã có sáng kiến một xã hội hòa trộn trước thời.

  1. Đội ngũ làm nên sức mạnh

Dựa trên sức mạnh của riêng mình để tạo đường hướng gần gũi và khuyến khích các em gặp khó khăn là chuyện không tưởng.

Sẽ là nguy hiểm!

Ở Valdocco, Thánh Gioan Bosco cho các em nhà ở, giải trí, đào tạo các em nổi loạn ở ngoại ô thành phố Turin, ngài nhanh chóng thành lập nhóm với các em trẻ ngài đã huấn luyện.  Các em có trách nhiệm, đến lượt các em, các em đào tạo lại các em khác.  Điều này làm chúng ta nhớ lời của Cha Phêrô: “Bạn không giúp tôi một tay để tôi giúp các người trẻ này sao?” 

  1. Dịu dàng và kiên nghị

Thánh Gioan Bosco không tình cờ chọn dòng “Salê”: ngài vinh danh Thánh Phanxicô Salê, nổi tiếng về đức tính dịu dàng và bác ái.  Nhưng vì sao ngài không gọi đó là những “người Bosco?”

Linh mục Petitclerc cho biết: “Đó là dấu hiệu khiêm tốn của ngài.  Ngài giao công việc của mình cho Thánh Phanxicô Salê, để nhớ vị thánh lớn ở thời đối thoại khi có căng thẳng những người công giáo và tin lành năm 1595.”

Nhà dòng Ý nhanh chóng gọi đây là “bầu khí salê.”  Một liên kết giữa tình yêu và lý trí, giữa dịu dàng và kiên nghị.  Ở đây có tình gia đình thân yêu, các em có được “an toàn nhưng không khép kín,” các em cũng có các “hụt hẫng nhưng không bị bỏ rơi trước các lo âu của mình.”

“Bầu khí salê” là làm vui lòng nhau, chứng tỏ qua việc chia sẻ trong khi chơi cũng như khi gặp khó khăn.  Như Thánh Gioan Bosco nói: “Đó là loại bỏ hàng rào nghi kỵ chết người.”

Chính trong bầu khí này, Thánh Gioan Bosco vun trồng bằng cách “nói nhỏ vào tai” mỗi em và “lời nói vào buổi tối” này giúp các em xem lại ngày sống của mình, khuyến khích các em, vừa từng em, vừa cả nhóm. 

  1. Mọi người cùng hòa mình với nhau!

Khái niệm mới trong tương quan giữa nhà giáo và học sinh là không còn khoảng cách giữa thầy giáo “trên cao” và học sinh “không biết gì.”

Khái niệm này mở đầu cho một sư phạm liên minh, nơi mọi người có một khoảng cách phù hợp.  Nhà giáo phải ở giữa học sinh của mình: Ai muốn được yêu thì phải chứng tỏ mình yêu thương.

“Phải yêu thương người trẻ trong những gì các em thích,” có nghĩa là phải quan tâm đến sở thích của các em.  Phải nhất quán giữa lời nói và việc làm: “Chúng ta không thể cự lại sự hội tụ của đức tin và việc làm,” Linh mục nhà giáo cho các trẻ em đường phố Guy Gilbert cũng đã nói như vậy.

Nó áp đặt sự tôn trọng đi đôi với thẩm quyền trên các trẻ em đã mất phương hướng.  Đối với Thánh Gioan Bosco, thẩm quyền cũng như tình yêu: một quan hệ không thể làm bằng chỉ huy. 

  1. Ước mơ điều tốt nhất

Điều Thánh Gioan Bosco dạy chúng ta còn tinh tế hơn, người có tầm nhìn không phải là người mơ mộng dịu dàng.  Hơn mọi thánh khác, Thánh Gioan Bốt-cô “dựa trên các trực giác lớn của mình qua các giấc mộng ban đêm mà Đức Giáo hoàng Piô  IX đã xin ngài ghi lại, các giấc mộng này là động lực hành động của ngài.

Như mục sư Martin Luther King đã tuyên bố: “Tôi có một giấc mơ…”, Linh mục Petitclerc giải thích, Thánh Gioan Bosco đã đi theo giấc mơ của mình và làm cho các giấc mơ thành công việc cụ thể.”

Thánh Gioan Bosco đã đi tới đàng trước qua các giấc mơ liên tiếp từ năm 9 tuổi, chúng ta tự hỏi ngài có tự cao hay hoang đường không.  Nhưng nhìn kết quả thì chúng ta thấy giấc mơ đã được thực hiện.

Linh mục Petitclerc giải thích, khi Thánh Gioan Bosco nói: “Tôi mơ” thì điều này không thể bàn cãi.  Chính Đức Giáo hoàng cũng đã chú tâm nghe ngài…  Toàn bộ “hệ thống” giáo dục mà chúng ta mơ ước có được hiệu quả của nó là do ngài đã xem trọng các giấc mơ ban đêm của mình.

  1. Mở ra với thế giới

Sức mạnh – ngày nay vẫn còn – của Thánh Gioan Bosco là ngài mang lại sự đảo ngược này trong tâm trí của thời bài-giáo sĩ mà toàn bộ xã hội đã bị ngả ngiêng từ thôn quê đến đô thị kỹ nghệ hóa.

Giai đoạn đột biến mất phương hướng này nhắc lại thời buổi chúng ta, thời buổi người trẻ khó hướng về tương lai.  Thánh Gioan Bosco đã xoay sở và làm được, ngài thoát ra khỏi khuôn khổ nghiêm ngặt của tôn giáo để làm cho các chính trị gia “thế tục” hiểu được.

Là linh mục, ngài đã in dấu ấn của mình trong việc phòng ngừa nạn phạm pháp nơi các em vị thành niên, và đã làm cho các chính trị gia rất bài tôn giáo thời đó ngạc nhiên.

Năm 1857, bộ trưởng Ý Urbano Rattazzi khuyên ngài thành lập một dòng của các “tu sĩ theo con mắt của Giáo hội và các công dân tự do theo con mắt của Quốc gia.”

Văn hào chống giáo sĩ Victor Hugo, chính ông cũng ngạc nhiên về Thánh Gioan Bốt-cô và ông đã gặp ngài nhiều lần.

Lời khuyên cuối cùng của Thánh Gioan Bosco: nhà giáo sẽ thành công khi đưa ra một nền giáo dục toàn bộ, giảng dạy mở ra với người khác và với thế giới.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

NOI GƯƠNG CÁC VỊ THÁNH NHƯ THÁNH THOMAS AQUINAS

Có rất nhiều vị thánh – đủ mọi độ tuổi – đáng để chúng ta noi gương.

Thật là một lợi ích tuyệt vời mà tất cả chúng ta có được trong đại gia đình trên trời, sự hiệp thông vinh quang của các thánh mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta, qua việc họ sẵn sàng hiến thân cho Ngài.  Với đức tính anh hùng lấy Đức Kitô làm trung tâm, các thánh có thể truyền cảm hứng và dạy dỗ tất cả chúng ta.  Sự tự kỷ luật đáng kinh ngạc mà rất nhiều vị thánh đã thể hiện và những thử thách bên ngoài mà họ phải chịu đựng sẽ đặt vào góc nhìn thích hợp về những sự bất tiện và sự thiếu thốn nho nhỏ mà chúng ta phải trải qua để theo đuổi việc học hỏi.

Trong số những người cao quý nhất và thánh thiện nhất mà chúng ta nên cố gắng noi gương là Thánh Tôma Aquinô về cách noi gương Chúa Kitô.  Thánh Tôma đã hết lòng thi hành tài năng tuyệt vời mà Thiên Chúa ban cho.  Ngài là tu sĩ linh mục thuộc Dòng Thuyết Giáo của Thánh Đa Minh, dòng này có phương châm Veritas (chân lý, sự thật), được duy trì bằng việc nghiên cứu như một trong bốn trụ cột (các thứ khác là cầu nguyện, cộng đồng và rao giảng).  Đặc sủng Đa Minh, với xu hướng trí tuệ, đã gần gũi nhất với trái tim và khối óc của tôi từ khi tôi được các Nữ tu Đa Minh dạy dỗ ở trường học.

Tuy nhiên, tôi tạ ơn Chúa vì những đặc sủng và món quà tuyệt vời của tất cả các dòng tu thánh thiện và các thánh mà các dòng đã sản sinh.  Khó mà không được thôi thúc bởi cuộc sống vinh quang và những việc làm yêu thương của Thánh Biển Đức và các tu sĩ dòng Biển Đức, Thánh Phanxicô và các tu sĩ dòng Phanxicô, Thánh Inhaxiô và các tu sĩ Dòng Tên, và rất nhiều dòng khác được hình thành tại nhiều quốc gia qua nhiều thế kỷ.

Dĩ nhiên, các vị thánh vĩ đại không chỉ là thành viên của các dòng tu.  Trên thực tế, có những vị thánh vĩ đại từ mọi thời đại kể từ khi Đức Kitô thiết lập Giáo Hội, từ hầu hết mọi quốc gia, cả nam và nữ, và từ hầu hết mọi nghề nghiệp và địa vị trong cuộc sống.  Hơn nữa, có những vị thánh đã chịu đựng và chiến thắng hầu như mọi khó khăn, đau khổ, bệnh tật, hoặc rối loạn mà bạn và tôi có thể phải đối mặt.

Có những lý do rất đúng để chúng ta có thể tìm một vị thánh bảo trợ cho hầu hết mọi thứ.  Theo Thánh Tôma, điều quan trọng nhất là chúng ta phải theo dõi họ, tìm ra những bài học và nguồn cảm hứng mà họ giữ cho chúng ta.  Chúng ta có thể học hỏi rất nhiều điều từ các vị thánh mà chúng ta có thể xác định gần gũi và đôi khi là những người có vẻ rất khác với chúng ta.

Nếu tôi có thể đưa ra một ví dụ cá nhân, tôi thường say mê nghiên cứu các bài viết của Thánh Albertô Cả và Thánh Tôma Aquinô, hai trong các bộ óc uyên thâm nhất trong lịch sử.  Vài năm trước, khi tôi được yêu cầu thuyết trình về Thánh Martin de Porres (1579–1639) cho một nhóm tu sĩ Đa Minh.  Tôi biết vị thánh này sống ở Peru, và tôi biết rằng trong khi Thánh Albertô và Thánh Tôma thường được mô tả cầm một quả địa cầu hoặc một nhà thờ, hoặc một cuốn sách đồ sộ trên tay, thì Thánh Martin thường được mô tả cầm một cây chổi.  Tôi không chắc mình sẽ mong đợi điều gì khi tìm hiểu sâu về cuộc đời của vị thánh này, nhưng những gì tôi khám phá ra vượt quá những ước mơ mạnh mẽ nhất của tôi.  Vị thánh vĩ đại có chủng tộc hỗn hợp này là nhà vô địch trong việc thu hút người giàu, người nghèo, người trung lưu, nô lệ Phi châu, các nhà cai trị Tây Ban Nha và các dân tộc bản địa của Peru.  Lòng yêu động vật của ngài đem lại niềm vui cho bất kỳ vị thánh nào thuộc dòng Phanxicô hoặc người Ai-len.  Trong khi vui vẻ quét nhà, ngài cũng rất thành thạo với con dao mổ của bác sĩ phẫu thuật mà các tổng giám mục đã mời ngài tới khi ốm đau.

Có lẽ điều ngạc nhiên lớn nhất của tôi về Thánh Martin vì ngài khiêm tốn, yêu thương, cũng yêu mến Thánh Tôma, và rất thông thạo các bài trong bộ Tổng Luận Thần Học, đôi khi cung cấp các trích dẫn hoặc giải thích cho các sinh viên chủng viện khi ngài thảo luận về sự bối rối của họ trong lúc ngài vẫn dọn dẹp hoặc quét các tầng lầu.

Cũng như Thánh Martin về một số phương diện, một vị thánh khác mà tôi yêu mến là Thánh Têrêsa Lisieux (1873–1897), Bông Hoa Nhỏ khiêm nhường và yêu thương.  Đáng chú ý là nữ tu này qua đời khi còn quá trẻ mà được tôn vinh giống như Thánh Albertô và Thánh Tôma, trong số vài chục tiến sĩ hoặc những người thầy vĩ đại của Giáo Hội.  Thánh Catarina Siena (1347–1380) cũng vậy, mặc dù bà không được giáo dục chính thức và thậm chí mãi tới lúc 12 tuổi mới học đọc, học viết.

Quả thật, các thánh là sự giúp đỡ lớn cho Thánh Tôma, theo những cách nổi bật nhất.  Người bạn Reginald, và là thư ký của Thánh Tôma, đã báo cáo rằng có lần Tôma cảm thấy bối rối suốt nhiều ngày về việc giải thích một đoạn văn trong sách Isaia khi viết bình luận về sách đó.  Một đêm nọ, khi thức ở trong phòng để cầu nguyện, Reginald nghe thấy Tôma nói lớn như đang nói với mình, với những người khác trong phòng, mặc dù Tôma không phát ra tiếng nói.

Ngay sau khi tiếng nói ngừng lại, Tôma gọi: “Reginald, hãy đứng dậy và mang cho tôi ánh sáng với lời bình luận về Isaia; tôi muốn anh viết cho tôi.”  Reginald đứng dậy và bắt đầu viết theo lời Tôma đọc, lời lẽ rõ ràng đến mức như thể đang nhìn vào sách mà đọc vậy.

Khi Reginald liên tục hỏi Tôma về những giọng nói đã nghe thấy, Tôma trả lời: “Thánh Phêrô và Thánh Phaolô được cử đến gặp tôi và nói với tôi tất cả những gì tôi muốn biết.”

Dĩ nhiên, lý do chính mà chúng ta nên noi gương các thánh là tất cả họ đều trở nên thánh thiện nhờ noi gương Đức Kitô.  Trước hết, chính là Đức Kitô , Đấng mà họ giúp chúng ta noi gương, bằng cách cho thấy một cuộc sống tập trung vào Đức Kitô có thể thực hiện được như thế nào ở mọi nơi trên thế giới vào bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử.

Thánh Phêrô đã trả lời khi Đức Kitô hỏi ông có bỏ Ngài không, ông nói: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?  Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” (Ga 6:68)  Thánh Phaolô đã tuyên bố: “Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá.  Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” (Gl 2:19-20)  Bạn sẽ nhớ lại rằng chính Đức Kitô là Đấng mà Thánh Tôma gọi là người vĩ đại nhất trong tất cả những người thầy, người dạy dỗ qua lời nói và việc làm.  Tất cả chúng ta đều được mời gọi noi gương Ngài trước hết.

Trong tuyệt phẩm Summa Theologica – Tổng Luận Thần Học, Thánh Tôma cẩn trọng cân nhắc các lời tuyên bố của nhiều vị thánh vĩ đại ở Tây phương và Đông phương, từ Thánh Augustinô đến Thánh Giêrônimô, Thánh Giáo Hoàng Grêgôriô Cả đến Thánh Gioan Chrysostom, Thánh Athanasiô, Thánh Grêgôriô Nazianzen, và nhiều vị thánh khác.  Hơn nữa, ngài tìm kiếm sự thật và những viên ngọc của sự khôn ngoan trong các bài viết của những người mà ngài biết không có đầy đủ chân lý của Giáo Hội Công giáo.  Những người này bao gồm các nhà tư tưởng như người ngoại giáo Aristotle của Hy Lạp, người ngoại giáo Cicero và Seneca của La Mã, và nhiều người khác nữa; Maimonides của Do Thái; Averroes và Avicenna của Hồi giáo Ả Rập.  Thánh Tôma trân trọng những sự thật ở bất cứ nơi nào chúng có thể được tìm thấy, và thực sự đây là một dấu ấn của Giáo Hội Công giáo.  Sự mặc khải sợ hãi không có sự thật của lý trí, vì chỉ có một sự thật.

Gần với thời đại của chúng ta, Thánh Gioan Phaolô II đã nêu ra ý chính trong châm ngôn của Thánh Tôma một cách trang nhã nhất:

“Nghiên cứu kỹ lưỡng hơn cho thấy rằng ngay cả trong tư duy triết học của những người đã giúp thúc đẩy niềm tin và lý trí xa nhau hơn, đôi khi người ta vẫn tìm thấy những hiểu biết quý giá và tinh tế, nếu được theo đuổi và phát triển với tâm trí và con tim được điều chỉnh đúng cách, có thể dẫn đến việc khám phá ra con đường sự thật.

Một số thần học gia thời Thánh Tôma đã phê phán việc sử dụng triết học của ngài nói chung, và của Aristotle nói riêng, để phục vụ thần học.  Họ cho rằng ngài đang pha loãng rượu của tri thức thần thánh với nước của tri thức nhân loại.

Tuy nhiên, Thánh Tôma biết rằng chỉ có một sự thật và sự thật của đức tin không bao giờ có thể mâu thuẫn với lý trí, nhưng lý trí có thể giúp lôi kéo một số người đến với đức tin và giúp làm sáng tỏ các nguyên tắc thần học cho các tín hữu.  Ngài không tin rằng triết lý cao quý của những người cao quý đã làm loãng đức tin, nhưng đúng hơn, những ai sử dụng các học thuyết triết học trong Kinh Thánh để phục vụ đức tin thì không được pha nước với rượu, nhưng thay nước bằng rượu.”

Cầu mong chúng ta, giống như Thánh Tôma, khát nước trong veo và lấp lánh của lý trí, làm cho rượu của tri thức thần thánh và rượu trên các loại rượu trở thành chính Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể!

Đây là hai điều để các vị thánh có thể đi vào linh hồn bạn:

  1. PHẢN ÁNH

Bạn có một dòng tu yêu thích mà đặc sủng của họ kêu gọi bạn?  Nếu có, bạn đã xem xét việc tham gia với tư cách là hội viên?  Bạn có một số vị thánh yêu thích?  Nếu có, gần đây bạn đã làm gì để noi gương họ, đặc biệt là đối với việc họ theo đuổi chân lý?  Nếu không, bạn có thể cân nhắc tìm kiếm một số vị thánh mới để học hỏi và cầu xin sự chuyển cầu của họ?  Thế giới của chúng ta đang rất cần các vị anh hùng thánh thiện.

2. ĐỌC SÁCH

Gần đây, bạn có dành thời gian để đọc tiểu sử của một vị thánh không quen thuộc với bạn hoặc một cuốn sách mới về một vị thánh bạn yêu thích?  Có rất nhiều tiểu sử để lựa chọn.  Nếu bạn có xu hướng về tiểu thuyết, tôi nhận thấy các tác phẩm của Louis de Wohl cũng khai sáng và truyền cảm hứng cũng như mang tính giải trí.  (Sách yêu thích của tôi?  Chắc bạn có thể đoán, đó là cuốn The Quiet Light (Ánh Sáng Tĩnh Lặng, nói về Thánh Tôma Aquinô.)  Gần đây, bạn có đọc các tác phẩm của chính các vị thánh – chẳng hạn Thánh Tôma, hoặc tất cả thế giới của những người khác?  Gần đây bạn có đọc Phúc Âm hoặc sách hay về Chúa Giêsu Kitô?

Nếu bạn muốn noi gương Chúa Kitô, một trong các tác phẩm kinh điển về tâm linh nhất thế giới là cuốn Imitation of Christ (Gương Chúa Giêsu) của tác giả Thomas à Kempis. Sách đã được tái bản rất nhiều lần qua nhiều thế kỷ, mới đây có phiên bản được bổ sung và sống động hơn với các tập được nghiên cứu kỹ lưỡng và viết kỹ về cuộc đời của Thomas à Kempis, với các tình tiết xung quanh việc tạo ra cuốn sách sùng kính đơn giản nhưng sâu sắc này.  Tác phẩm mới này của Timothy E. Moore.

Tiến Sĩ Kevin Vost
Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
Kính mừng Thánh Tiến Sĩ Tôma Aquinô – 2021

LÒNG TÍN TRUNG

Bài Tin Mừng Chúa nhật thứ bốn thường niên thường được gọi là “Tám mối phúc thật.”  Đây là phần mở đầu của “Bài giảng trên núi”, theo Tin Mừng thánh Matthêu.  Có thể nói, bài giảng này tóm lược những nét chính trong toàn bộ giáo huấn của Chúa Giêsu.  Bài giảng này cũng phác họa chân dung của Chúa, như mẫu mực để mọi tín hữu noi theo, nhờ đó mà đạt được hạnh phúc vĩnh cửu.

Trước hết, bài giảng “Tám mối phúc thật” phác họa chân dung của Chúa Giêsu.  Đức Giêsu không chỉ giảng dạy bằng những công thức hoặc lý thuyết, nhưng bằng chính cuộc đời của Người.  Tám mối phúc cũng là tám nét diễn tả cuộc đời và sứ mạng của Chúa: Chúa trở nên khó nghèo cho chúng ta được giàu sang; Chúa hiền lành và khiêm nhường trong lòng; Chúa rơi lệ trước nỗi thống khổ của nhân gian; Chúa khao khát sự công chính cho loài người; Chúa là Đấng diễn tả lòng thương xót của Chúa Cha; Chúa là Đấng có trái tim trong sạch; Chúa đến để thiết lập vương quốc hoà bình; Chúa bị bách hại và chấp nhận khổ hình thập giá để làm chứng cho Chân lý.

Tất cả những gì Chúa Giêsu làm và gánh chịu, đều vì nhân loại.  “Vì loài người chúng ta, và để cứu rỗi chúng ta, Người đã từ trời xuống thế.”  Đó chính là ý nghĩa và mục đích của những công việc Chúa Giêsu đã làm trong cuộc đời dương thế.  Mở đầu “Bài giảng trên núi,” Chúa Giêsu kêu gọi những ai muốn theo Người, thì phải thực hiện những mối phúc mà Người rao giảng.  Những mối phúc này cũng phác họa chân dung của người môn đệ đích thực.  Không ai có thể mang danh Đức Kitô (Kitô hữu), mà lại khước từ những đề nghị của Người.

Chấp nhận làm môn đệ Đức Giêsu, đôi khi bị coi là điên dại dưới cái nhìn của người trần thế.  Thánh Phaolô đã quảng diễn cho chúng ta thấy, sự “điên dại” của Thiên Chúa, đúng hơn là sự điên dại theo cái nhìn của loài người, lại khôn ngoan gấp trăm lần sự khôn ngoan theo lẽ thế gian.  Quả vậy, thập giá đối với người Do Thái là sự hèn hạ, đáng khinh bỉ, nhưng đối với các Kitô hữu thì đó lại là trường dạy sự khôn ngoan và là niềm tự hào.  Chính Chúa Kitô là sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa.  Ai trung tín theo Người thì sẽ trở nên những người khôn ngoan.  Bởi lẽ trong Người mà chúng ta được vinh quang.  Người là niềm tự hào của chúng ta.

Hành trình đức tin là một hành trình dài.  Đó cũng là một hành trình có nhiều gian nan khốn khó.  Vì vậy, những ai theo Chúa, phải trung thành bền bỉ.  Chúa Giêsu không phải là một “hiện tượng” hay một “nhân vật của công chúng” nổi lên nhất thời, và được các “fan” hâm mộ tung hô, sau đó rơi vào quên lãng.  Người là Đấng đang sống và là nguồn nghị lực cho mọi thời đại, mọi nền văn hoá và cho tất cả những ai thiện chí muốn nên hoàn thiện.

“Phúc cho những ai…”  Người Do Thái quan niệm rằng ơn Cứu độ chỉ dành cho dân tộc mình, tức là dân được tuyển lựa.  Với lời tuyên bố của Chúa Giêsu, những ranh giới giữa các dân tộc không còn nữa.  Quả vậy, mọi người bất kỳ thuộc nền văn hóa hay nguồn gốc nào, nếu thành tâm thực hiện những gì Chúa dạy trong bài giảng trên núi, thì sẽ được hạnh phúc.  Hạnh phúc Chúa hứa không chỉ là ở tương lai đời sau, mà ngay ở đời này.  Những phần thưởng Chúa ban là được Chúa ủi an; được Chúa cho thoả lòng; được Chúa xót thương; được nhìn thấy Thiên Chúa; được gọi là con Thiên Chúa và nhất là được Nước Trời làm gia nghiệp.  Như thế, những ai nỗ lực cố gắng thực hiện các mối phúc, thì sẽ được những ơn lành Chúa ban ngay ở đời này, và sẽ được phần thưởng đời sau nơi Thiên quốc.

Theo quan niệm thông thường, những ai bé nhỏ nghèo hèn dễ bị khinh bỉ, thậm chí bị bạc đãi.  Dưới cái nhìn của ngôn sứ Sôphônia, những người bé nhỏ nghèo hèn sẽ là “số sót lại” của Israel.  Thành ngữ “số sót lại” trong truyền thống Kinh Thánh nhằm diễn tả những người trung thành với Chúa trong gian nan thử thách.  Những kẻ bất trung sẽ nhanh chóng bỏ Chúa khi gặp khó khăn.  Những ai trung thành với Ngài sẽ bền bỉ trong mọi hoàn cảnh.  Như thế, người bé nhỏ nghèo hèn không chỉ là những người nghèo về vật chất.  Họ cũng không phải là những người có địa vị hèn kém trong xã hội.  Đó là những người tin tưởng và phó thác cuộc đời mình trong cánh tay quan phòng yêu thương của Chúa, với niềm xác tín rằng, Thiên Chúa là Đấng Tín trung.  Hãy trung thành với Chúa, đó là lời mời gọi được gửi đến mỗi người chúng ta.

Chúng ta đang sống trong những ngày đầu xuân Quý Mão.  Trong những ngày này, khi gặp gỡ nhau, chúng ta thường có thói quen cầu chúc cho nhau những điều tốt đẹp về sức khoẻ, học vấn, gia đình và sự nghiệp.  Lời chúc của Chúa Giêsu có phần khác với những lời cầu chúc của chúng ta, nhưng chắc chắn chúng ta sẽ được muôn điều tốt đẹp khi cố gắng thực hiện những lời cầu chúc ấy.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

THÁNH HÓA LAO ĐỘNG

Ngày mồng ba Tết, chúng ta cầu nguyện cho việc làm ăn trong năm mới được thịnh đạt, đồng thời cũng xin Chúa thánh hóa chúng ta qua cuộc sống lao động hằng ngày.

Nhưng tại sao chúng ta lại phải cầu nguyện cho việc làm ăn?

Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nhiều người tưởng rằng mình đã chiếm được chỗ đứng của Thiên Chúa.  Có một thời chúng ta thường nghe thấy người ta nói: “Thằng trời xếp lại một bên, để cho nông hội tiến lên làm Trời!  Hoặc những câu như biến sỏi đá thành cơm gạo, thay trời làm mưa.

Thế nhưng kinh nghiệm cho chúng ta thấy nếu Chúa không cho thì chúng ta chẳng làm được gì. Cơn động đất và sóng thần cũng như dịch cúm gà vừa qua là bài học rất quí giá cho chúng ta.  Chính vì thế mà người xưa đã có câu: mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.  Người nông dân ý thức được thân phận của mình nên đã cầu xin: “Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơmlấy rơm đun bếp.

Về vấn đề này thánh Phaolô viết rất hay: “Phaolô trồng, Apolô tưới, nhưng chính Thiên Chúa mới làm cho mọc lên. Vì thế ngày mồng ba tết chúng ta cầu nguyện cho việc cày cấy làm ăn là phải lẽ, vì không có Thiên Chúa thì: “người lính canh đêm cũng hoài công.

Một vị linh mục nọ qua đời, và được đưa đến trước mặt thánh Phêrô để làm một thẩm tra.

Thánh Phêrô hỏi:

– Ở dưới thế cha làm được điều gì?

Vị linh mục nhanh nhẹn và tự hào trả lời:

– Thưa thánh Phêrô, con xây được một ngôi thánh đường lớn.

Thánh nhân lấy bút ghi trên giấy: Một điểm.

– Cha còn làm được gì nữa?

– Dạ, con còn xây một trường học cho một ngàn học sinh.

Thánh Phêrô ghi tiếp: một điểm.

– Và gì nữa?

Vị linh mục bắt đầu suy nghĩ, rồi trả lời:

– Dạ, con công tác nhiều vào các công việc xã hội, từ thiện.

Thánh Phêrô ghi thêm: một điểm.

– Còn gì nữa? Thánh Phêrô hỏi tiếp.

Lần này vị linh mục lo lắng hỏi thánh Phêrô:

– Dạ thưa thánh cả Phêrô, được bao nhiêu điểm thì vào thiên đàng?

Thánh Phêrô vui vẻ trả lời: một ngàn điểm.

Nghe nói thế, vị linh mục bỗng chột dạ, nghĩ thầm: “Chết mình rồi, làm sao có được chừng ấy điểm đây?”  Nếu có moi óc kể tất cả các sự việc mình làm ở dưới thế e cũng không đủ…”

Và vị linh mục bắt đầu lo sợ, rồi thất vọng, không còn tự tin.

Trong lúc đó, thánh Phêrô nhắc lại:

– Cha còn làm được điều gì nữa, cứ kể hết đi!

Với giọng nói nhuốm màu sắc khiêm tốn và lo sợ, vị linh mục nói:

– Thưa thánh cả, NHỜ ƠN CHÚA con cũng làm được đôi ba việc nhỏ.

Nghe vậy, thánh Phêrô lấy bút ghi ngay: một ngàn điểm.

Ngài nói:

– Thế là cha được một ngàn lẻ ba điểm rồi đấy. Cha đã dư được ba điểm.  Mời cha vào!

Phải! Tất cả là nhờ ơn Chúa.

Những giá trị của lao động.

Chúa Giêsu đã nói: Cha Ta hằng làm việc, và Ta cũng vậy.  Khi quả quyết như thế Chúa Giêsu muốn cho chúng ta hiểu rằng: lao động làm việc là qui luật của tình yêu và cũng là qui luật của sinh tồn.

  •  Làm việc là qui luật của Tình yêu

Thiên Chúa đã không dựng nên một vũ trụ hoàn hảo mà Người đã chỉ dựng nên một vũ trụ còn dang dở.  Người muốn con người cộng tác với Người để làm cho công trình của Người càng ngày càng hoàn hảo hơn.  Trong bài đọc (sách sáng thế), tác giả nói: “Sau khi dựng nên con người, Thiên Chúa đã đặt nó trong vườn địa đàng, không phải chỉ để hưởng thụ, mà còn để canh tác giữ vườn.”  Như thế làm việc là sứ mạng cao cả Thiên Chúa đã giao cho con người ngay từ khi mới tạo dựng nên nó, và khi làm việc là con người thể hiện tình yêu của mình đối với Thiên Chúa.

Nếu con người không làm việc thì quả họ đã không chu toàn được sứ mạng của mình.  Điều này chính mỗi người phải quyết định cho mình.  Nếu không muốn làm việc thì con người có muôn vàn cái cớ để thoái thác.  Nhưng nếu đã muốn làm việc thì họ chẳng sợ bất cứ một trở ngại nào.

Một ông chủ kia giao cho bảy người thợ cưa, mỗi người phải cưa một khúc cây.

Người thứ nhất nói: khúc cây của tôi còn tươi quá, không khéo lưỡi cưa sẽ mắc trong đó.  Tôi chờ cho đến khi khúc cây đó khô rồi tôi mới cưa, thế là anh ta nghỉ.

Người thứ hai: lưỡi cưa của tôi cùn quá, tôi chờ ông chủ đổi cho tôi lưỡi cưa khác bén hơn rồi tôi mới cưa.  Và anh ta cũng nghỉ.

Người thứ ba: khúc cây này cong bên này cong bên kia.  Tôi chờ ông chủ đổi cho tôi khúc cây khác thẳng hơn.  Anh cũng đi nghỉ.

Người thứ bốn: khúc cây của tôi quá cứng, cứng gấp hai lần khúc cây thường.  Tôi chờ có khúc khác mềm hơn.  Anh ta cũng nghỉ.

Người thứ năm: hôn nay trời nóng quá, đợi ngày nào mát trời hãy cưa.  Anh ta cũng nghỉ.

Người thứ sáu: hôm nay tôi nhức đầu đợi tới khi nào khỏi tôi mới cưa.  Và anh ta cũng nghỉ.

Người thứ bảy cũng nhận một khúc cây còn tươi, nó cũng cong bên này cong bên kia, thịt nó cũng rất cứng, lưỡi cưa của anh cũng cùn, trời hôm đó cũng nóng và anh đó cũng nhức đầu.  Nhưng anh đi mài lưỡi cưa và bắt tay vào việc.  Nhờ lưỡi cưa đã được mài, khúc cây đã được cưa xong, do trời nóng và do làm việc, anh ta đổ mồ hôi ra và hết nhức đầu.  Anh sung sướng vì hoàn thành công tác được giao.  Hôm sau anh xin ông chủ cho anh một khúc cây khác để cưa. (A.R Wells)

Vâng!  Dù ở vườn địa đàng, Ađam cũng vẫn phải “canh tác.  Cuộc sống ở địa đàng rất hạnh phúc, nhưng cái hạnh phúc ấy con người phải “canh tác, nghĩa là phải ra tay kiến tạo.  Chính trong lúc làm việc con người mới cảm thấy hạnh phúc.  Ngôi vườn hạnh phúc con người phải “giữ gìn” bằng việc làm của mình.

  • Đàng khác làm việc còn là qui luật của sinh tồn

Lao động ngoài mục đích giúp ta thánh hóa cuộc sống, nó còn có mục đích giúp bảo tồn cuộc sống của chúng ta.

Trong Kho tàng những câu chuyện ngụ ngôn người ta đọc được câu chuyện này: Một người nông dân nọ có một con lừa già.  Một hôm con lừa bị rơi xuống giếng và đau đớn kêu la thống thiết.  Sau khi cẩn thận đánh giá tình hình, dù rất thương cảm cho con lừa, nhưng người nông dân cũng phải quyết định nên nhanh chóng giúp nó kết thúc sự đau đớn.  Anh gọi thêm mấy người hàng xóm để cùng lấp đất chôn con lừa với ông.

Lúc đầu con lừa bị kích động vì những gì người ta đang làm đối với nó.  Nhưng khi từng xuổng từng xuổng đất tiếp theo nhau rơi trên vai nó, một ý nghĩ chợt lóe lên:

Cứ mỗi lần xuổng đất rơi xuống đè lên vai, mình sẽ lắc cho đất rơi xuống và bước lên trên.

Và nó đã làm như vậy, từng chút từng chút một. Hất nó xuống và bước lên trên, hất nó xuống và bước lên trên, hất nó xuống và bước lên trên – con lừa lặp đi lặp lại để tự cổ vũ mình.

Mặc cho sự đau đớn phải chịu sau mỗi xuổng đất.  Mặc cho sự bi đát cùng cực của tình huống đang gánh chịu, con lừa liên tục chiến đấu chống lại sự hoang mang, hoảng sợ, và tiếp tục theo đúng phương châm “hất nó xuống và bước lên trên.”

Không mất nhiều thời gian, cuối cùng con lừa già, dù bị bầm dập và kiệt sức, đã hoan hỉ và đắc thắng bước ra khỏi cái giếng.  Những gì tưởng như sẽ đè bẹp và chôn sống nó, trên thực tế đã cứu sống nó… đều là nhờ cái cách mà con lừa đối diện với nghịch cảnh của mình.

Cuộc sống là như vậy đó.  Nếu chúng ta đối mặt với những vấn đề của mình một cách tích cực, khước từ sự hoảng loạn, sự cay đắng và sự thương hại…, những nghịch cảnh tưởng như chôn vùi chúng ta sẽ tiềm ẩn trong chính nó những phần thưởng không ngờ tới.  Hãy “Hất nó xuống và bước lên trên,” để bước ra khỏi cái giếng mà bạn đang gặp phải.  (Nước Biếc)

Cuộc đời đâu phải là thiên đàng.  Đâu có phải lúc nào cuộc đời cũng trải thảm đỏ để chào đón chúng ta.  Cuộc đời là một bãi chiến trường.  Nó đang chờ đợi chúng ta bước tới với tinh thần chiến đấu.  Hãy can đảm đối đầu với mọi khó khăn trong cuộc sống đừng lẩn tránh.  Thái độ lẩn tránh chẳng khác gì thái độ đầu hàng.  Khi nói về việc Giêsu vác Thánh Giá lên đỉnh đồi Golgotha, một nhà văn hào của Pháp đã nói: Đồi Calvê ở đầu đường và vinh quang cũng xuất hiện ở đó.”  Hãy hất xuống và bước lên trên cuộc sống của chúng ta sẽ tốt đẹp hơn.  Amen!

Lm. Giuse Đinh Tất Quý