XOÁ BỎ HẬN THÙ

Thánh Gio-an là tác giả duy nhất tường thuật cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ Sa-ma-ri bên bờ giếng Giacóp.  Trình thuật này mang nhiều ý nghĩa.  Chúng ta đã biết về hình ảnh người Samari nhân hậu chăm sóc người bị nạn được ghi lại trong Tin Mừng theo Thánh Lu-ca.  Hôm nay, chúng ta lại thấy một người phụ nữ Sa-ma-ri.  Chị là đại diện cho những người đang đi tìm Chân lý và đang khao khát những giá trị thiêng liêng vĩnh cửu.

Như nội dung trình thuật cho thấy, Chúa Giêsu đã chủ động “bắt chuyện” với người phụ nữ, khi chị này đến giếng để múc nước.  Trong đời thường, không bao giờ một người Do Thái lại nói chuyện với một người Sa-ma-ri.  Vì thế, người phụ nữ vẫn luôn giữ khoảng cách và cảnh giác.  Dưới ngòi bút tài tình của tác giả Gio-an, nội dung cuộc đối thoại này diễn biến từng bước, để rồi từ bầu khí nghi ngờ trở thành sự thân thiện; từ một người bất mãn trở thành một người lạc quan; từ một người vô tín, trở thành một tín hữu; và nhất là từ một người dửng dưng, nay trở thành một nhân chứng năng động nhiệt thành giới thiệu Chúa Giêsu cho những người đồng bào.

Qua cuộc đối thoại với người phụ nữ Sa-ma-ri, Chúa Giêsu khẳng định: Thiên Chúa là Cha của mọi người.  Giáo huấn này không chỉ được thể hiện trong câu chuyện người phụ nữ Sa-ma-ri, mà được dàn trải trong suốt Tin Mừng.  Chúa Giêsu đến để nói với con người về dung mạo đầy lòng thương xót của Chúa Cha.  Chính Người là hình ảnh sống động của Chúa Cha.  Qua đời sống và sứ vụ của mình, Đức Giêsu minh chứng Chúa Cha là Đấng nhân hậu.  Những ai thờ phượng Chúa, cũng phải thờ phượng trong tinh thần và Chân lý.  Việc thờ phượng Chúa không bị tuỳ thuộc vào một không gian, như ở Giê-ru-sa-lem hay ở trên đồi Ga-ri-zim, nhưng bất cứ ai kêu cầu Thiên Chúa với trái tim chân thành, dù ở nơi đâu, đều được Chúa nhận lời.  Sau này, thánh Phê-rô can đảm tuyên bố trong bài giảng tại nhà ông Cornêliô: “Quả thật, tôi nghiệm biết rằng Thiên Chúa không thiên tư tây vị, nhưng ở bất cứ xứ nào, ai kính sợ Người và thực hành sự công chính, đều được Người đón nhận.  Thiên Chúa đã sai Lời Người đến cùng con cái Israel, loan tin bình an, nhờ Chúa Giêsu Ki-tô là Chúa muôn loài” (Cv 10,34-36).  Lưu ý là ông Phê-rô tuyên bố những lời này sau khi được thấy thị kiến về một tấm khăn lớn từ trời thả xuống, trong đó có đủ mọi loài sinh vật.  Đây là hình ảnh diễn tả tính phổ quát của ơn cứu độ mà Thiên Chúa thực hiện trong Đức Giêsu.  Điều này ngược lại với quan niệm truyền thống của người Do Thái, vì họ cho rằng chỉ có dân riêng Chúa chọn mới được hưởng ơn cứu độ của Ngài.

Trong Mùa Chay, phụng vụ nhắc chúng ta: Chúa Giêsu là suối nguồn ơn phúc.  Bài Tin Mừng cũng chứng minh cho thấy niềm khát vọng vô biên của con người.  Một xã hội phát triển và giàu có về vật chất, chưa hẳn đã là hạnh phúc.  Ngoài những nhu cầu vật chất, con người còn cần đến những nhu cầu tinh thần.  Người phụ nữ Sa-ma-ri đã năm đời chồng, nhưng vẫn không thấy hạnh phúc.  Điều đó chứng minh sự dồi dào về vật chất và buông thả về luân lý không phải bao giờ cũng đem lại cho con người niềm vui.  Chị vẫn đang trăn trở đi tìm ý nghĩa của cuộc đời.  Khởi đi từ nước giếng, là nước thường dùng trong cuộc sống thường ngày, Đức Giêsu đã từng bước giúp chị hiểu nước của ân sủng, nước thiêng liêng.  Đó chính là giáo huấn và ơn cứu độ mà Đức Giêsu mang đến cho nhân loại ở mọi nơi mọi thời.

Bài đọc I kể cho chúng ta về một sự kiện liên quan đến nước.  Trong cuộc lữ hành sa mạc, dân Israel đã kêu cầu Chúa, và Ngài đã làm phép lạ để nước chảy ra từ tảng đá.  Nước sa mạc vừa nhắc nhở lòng thương xót của Chúa, và cũng như một kỷ niệm buồn, vì dân phản loạn kêu trách Chúa.  Thiên Chúa nhân hậu bao dung.  Ngài không chấp tội con người.  Ngài sẵn sàng tha thứ những lỗi phạm, và sửa dạy họ, để họ nên tốt hơn.

Những người dân thành Samari đóng vai trò “diễn viên phụ”, nhưng cũng rất quan trọng.  Thánh Gioan đã viết: “Số người tin vì lời Đức Giêsu nói còn đông hơn nữa.  Họ bảo người phụ nữ: Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin.  Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng: Người thật là Đấng cứu độ trần gian” (Ga 4, 41-42).  Cuộc trò chuyện thân thiện giữa Chúa Giêsu với người phụ nữ đã đem lại những kết quả không ngờ.  Qua hình ảnh mùa gặt, Đức Giêsu nói với chúng ta: xung quanh chúng ta, rất nhiều người có trái tim chân thành.  Họ như những mảnh đất tốt sẵn sàng đón nhận hạt giống Lời Chúa và làm cho Lời ấy nảy mầm, đâm bông kết trái.  Trình thuật của thánh Gio-an đã chứng minh điều đó.

Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa.  Người phán: “Các ngươi chớ cứng lòng như tại Mê-ri-ba, như ngày ở Ma-xa trong sa mạc.”  Hành trình mùa Chay nhắc lại cuộc lữ hành trong sa mạc của dân Israel tiến về đất hứa.  Trong hành trình này, nhiều người đã ngã gục, vì kiêu ngạo, tội lỗi, bất trung hoặc vì thiếu nghị lực, không có lòng cậy trông.  Đức Giêsu là Đấng dẫn đường về đất hứa vĩnh cửu, tức là Quê Trời.  Thánh Phaolô khẳng định: theo lẽ thường, hầu như không ai chết vì người công chính, thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.  Noi gương Chúa Giêsu bên bờ giếng Gia-cóp, chúng ta hãy cố gắng thực thi những việc thiện, trân trọng và bác ái với những người xung quanh, để dỡ bỏ khoảng cách, kết nối yêu thương và xây tình huynh đệ.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

ĐỪNG CHẠY TRỐN THẬP GIÁ

Một trong các diện mạo nổi bật của Cuộc Khổ Nạn là Chúa Giêsu đơn độc dữ dội trong những giờ phút cuối cuộc đời Ngài trên thế gian.  Đa số các môn đệ, những người theo Ngài và là bạn hữu của Ngài, đều trốn Ngài và bỏ rơi Ngài trong lúc cấp bách nhất.  Thánh Phêrô còn cả gan dám chối bỏ Ngài tới ba lần để tránh liên lụy tới Ngài – người mà ông đã mạnh mẽ tuyên xưng là Con Thiên Chúa (Mt 16:16).  Có vài người tận tình theo sát Ngài, đó là Đức Mẹ và Thánh Gioan, những người đứng bên chân Thập Giá và chứng kiến Chúa Giêsu bị đóng đinh, rồi cùng đưa Ngài đi an táng.

Khi đi qua Mùa Chay Thánh này, chúng ta cần suy tư về những lần chúng ta đã chạy trốn thập giá và chạy trốn Chúa Giêsu.  Chúng ta đã từng làm điều đó, bằng cách này hay cách khác.  Đó là những lúc chúng ta trốn tránh đau khổ của chính mình, của người thân, của người lân cận, hoặc của những người mà chúng ta gặp trong cuộc sống hằng ngày.  Nhưng “chạy trời không khỏi nắng”, bởi vì chúng ta không thể trốn tránh đau khổ về thể lý – như bệnh tật, mất người thân, mất việc làm, bị tổn thương, hoặc các dạng đau khổ khác, kể cả những điều trái ý trong cuộc sống.  Khi đau khổ xảy ra, chúng ta thường tránh né bằng cách xem ti-vi, lướt internet, ăn uống thứ gì đó, uống rượu, sử dụng ma túy, xem phim ảnh đen, v.v…  Rất đa dạng.  Chúng ta tìm cách làm bất cứ thứ gì để tránh đối mặt với thực tế của cuộc sống: thập giá.  Thật vậy, chúng ta luôn tìm cách chạy trốn thập giá!

Chạy Trốn Đau Khổ Của Người Khác

Đây là điều rất thật, đó là khi chúng ta gặp đau khổ của người khác.  Người ta rất ưa chủ nghĩa cá nhân.  Đây là đặc điểm đối lập với cách hiểu của Công giáo về Nhiệm Thể Đức Kitô.  Chúng ta là một cộng đồng.  Chúng ta được liên kết với nhau qua Chúa Thánh Thần ở mức độ sâu xa nhất của chính con người chúng ta.  Chúng ta là các chi thể của Đức Giêsu Kitô trên thế gian này.  Chúa Giêsu là Đầu.  Khi một chi thể của Nhiệm Thể bị đau, tất cả chúng ta cũng bị đau.  Chúng ta không biết thực tế này nên chúng ta có thể làm ngơ, nhưng đó là sự thật minh nhiên.

Khi yêu thương nhau với tư cách là môn đệ của Đức Kitô, chúng ta được mời gọi đi vào trong nỗi đau khổ của những người lân cận.  Điều này không dễ, nhưng không có gì về Thập Giá cho chúng ta biết đời sống tâm linh và con đường nên thánh sẽ dễ dàng.  Chúa Cứu Thế Giêsu đã chết trên Thập Giá và Ngài cho chúng ta biết rằng chúng ta PHẢI theo Ngài.  Có một Thập Giá cuối cùng dành cho mỗi chúng ta là chúng ta chắc chắn sẽ phải đối mặt trước khi chúng ta có thể bước vào đời sống vĩnh hằng: TỬ THẦN ĐANG ĐỢI TẤT CẢ CHÚNG TA.  Thập Giá đến trước khi ngôi mộ trống.  Cuộc sống này là những chuỗi thập giá dẫn chúng ta tới chung một số phận như Đức Chúa của chúng ta.  Dù vậy, chúng ta vẫn hy vọng nhờ những gì xảy ra phía sau Thập Giá.

Khi Chúa Giêsu thiết lập Giáo Hội trên thế gian, Ngài muốn kết hiệp toàn nhân loại qua dấu chỉ hữu hình đối với thế giới thực tế về bản thể học (ontological reality) trong tính liên kết của nhân loại và tặng phẩm Ơn Cứu Độ.  Đức Kitô đã mặc xác phàm, điều này liên kết Ngài với chúng ta trong tình đoàn kết và liên kết chúng ta với nhau.  Đó là nhờ mối liên kết sâu xa mà Ngài truyền lệnh cho chúng ta là phải yêu thương người lân cận.  Yêu thương đòi hỏi lòng ước muốn trong chúng ta về điều tốt lành đối với người lân cận.  Điều đó có nghĩa là chúng ta phải cầu xin Chúa Thánh Thần trợ giúp chúng ta có sức chịu đựng, bởi vì tình yêu đòi hỏi sự hy sinh: vác thập giá.  Chúng ta cần can đảm chung phần đau khổ với tha nhân, nhưng tình yêu thương thúc giục chúng ta thể hiện sự công bình.  Chúng ta làm nhẹ gánh nặng của người khác và mở rộng khả năng yêu thương khi chúng ta chấp nhận đồng hành với những người đau khổ ở xung quanh chúng ta.  Đi vào nỗi đau khổ của người khác không chỉ là phong cách của Mẹ Thánh Teresa Calcutta, mà còn phải là của mỗi chúng ta.

Đi Vào Nỗi Đau Khổ Của Người Khác Bằng Cách Nào?

Đa số chúng ta không được mời gọi từ bỏ mọi thứ để sống trong những khu nhà ổ chuột và dành trọn thời gian để phục vụ người nghèo.  Chúng ta có trách nhiệm gia đình, đó là ơn gọi của chúng ta.  Thập giá của người khác có thể ở nhiều dạng, và chúng ta phải tập thói quen nhận ra nhu cầu của những người ở xung quanh chúng ta.  Chúng ta phải mang sức nặng thập giá của chính mình, đồng thời cũng tìm cách làm nhẹ gánh nặng của người khác.  Bắt đầu có thể là thăm viếng bệnh nhân hoặc người già nào đó, an ủi người sầu khổ, nâng đỡ người thất vọng, giúp đỡ người cô thân, chia sẻ lương thực với người nghèo khó, gọi điện thăm hỏi ai đó, chia sẻ với người vô gia cư…  Hãy nhìn họ là hình ảnh của Thiên Chúa.  Cứ thế và cứ thế…  Cái nghèo đáng sợ nhất là cái nghèo về tinh thần: sự cô đơn.  Khi nào chúng ta thôi chạy trốn thập giá?  Đó là lúc chúng ta không ngừng yêu thương người lân cận, bởi vì không có cách nào có thể chấm dứt đau khổ trên thế gian này!

Chúng Ta Có Tiếp Tục Chạy Trốn?

Bạn có chạy trốn thập giá?  Mỗi chúng ta có thể trả lời “có” với câu hỏi này.  Chắc chắn tất cả chúng ta đều đã từng làm ngơ trước nỗi đau khổ của người khác.  Vào một lúc nào đó, tất cả chúng ta đã tránh né thập giá của chính mình bằng cách nào đó.  Chúa Giêsu đã dùng chính các thập giá này để làm tăng khả năng yêu thương ở chúng ta, Ngài muốn làm chúng ta nên thánh.  Thật là không hề dễ chút nào.  Đau khổ rất mạnh mẽ khiến người ta có thể cảm thấy không thể sống sót, nhưng Thiên Chúa vẫn có thể mở rộng tâm hồn chúng ta qua những nỗi đau khổ đó.  Ngài cũng mở rộng tâm hồn yêu thương của chúng ta qua đau khổ chúng ta chịu hằng ngày.

Chúng Ta Nghĩ Về Thiên Đàng Như Thế Nào?

Thiên Đàng là sự liên kết những con người đã được định hình theo tình yêu của Chúa Ba Ngôi chí thánh.  Đó là mối liên kết được nhận biết trọn vẹn, là SỰ QUÊN MÌNH HOÀN TOÀN, là sự liên tục yêu thương qua hành động – như việc các thánh cầu thay nguyện giúp cho chúng ta.  Đó là sự bước vào thập giá của người khác cho tới tận thế.  Yêu thương đòi hỏi thập giá.  Một trong các cách Thiên Chúa chuẩn bị Nước Trời cho chúng ta là dạy chúng ta đi vào nỗi đau khổ của tha nhân.  Thập giá có tính biến đổi, có thể làm chúng ta nên thánh.  Mùa Chay này, chúng ta hãy cầu xin cho có sức mạnh và biết cách đi vào Cuộc Khổ Nạn cùng với Chúa Giêsu và tha nhân để chúng ta có thể trưởng thành trong tình yêu thương và sự thánh thiện.

Constance T. Hull
Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

VƯỢT NGOÀI THẦN NGHIỆM

“Tôi là nhà thần nghiệm thực hành!”  Vài năm trước, một cô đã nói như thế trong lớp tôi dạy và khiến nhiều người cau mày.  Tôi đang dạy một lớp về thần nghiệm và hỏi các sinh viên vì sao họ lại có hứng thú với môn thần nghiệm.  Mỗi người trả lời một kiểu.  Có người đơn giản thấy hấp dẫn với khái niệm này, người khác là những người linh hướng muốn có thêm thấu suốt về những cảm nghiệm thần nghiệm, và một số thì theo học vì cố vấn học tập khuyên họ nên vào lớp này.  Nhưng có một cô trả lời: “Vì tôi là nhà thần nghiệm thực hành!”

Ai đó có thể là nhà thần nghiệm thực hành sao?  Có thể, nếu hiểu cho đúng cả hai từ này, thần nghiệm và thực hành.

Vậy thần nghiệm nghĩa là gì?  Trong quan điểm phổ thông, thần nghiệm thường được gắn với cảm nghiệm tôn giáo khác thường và huyền bí, cụ thể là những thị kiến, mặc khải, sự hiện ra, đại loại như thế.  Thật sự, nhiều lúc đúng là thế, như với những nhà thần nghiệm vĩ đại như Julian thành Norwich và Teresa thành Avila, nhưng cũng có những ngoại lệ.  Kiểu thần nghiệm theo quan niệm của ta không phải là quy tắc.  Thường thì cảm nghiệm thần nghiệm rất bình thường, không thị kiến, không có sự hiện ra, không xuất thần, chỉ là một cảm nghiệm thường nhật, nhưng có một sự khác biệt.

Ruth Burrows, nhà thần nghiệm lừng danh người Anh thuộc dòng Carmel đã mô tả thần nghiệm như thế này: Cảm nghiệm thần nghiệm là được Thiên Chúa chạm đến ở một mức độ thâm sâu hơn lời lẽ, suy nghĩ, hình tượng và cảm giác.  Chúng ta có cảm nghiệm thần nghiệm khi nhận thức về bản thân và thế giới một cách rõ ràng, dù chỉ là trong thoáng chốc.  Điều này có thể đi kèm những điều khác thường, như thị kiến hay sự hiện ra, nhưng thường thì không như thế.  Thường thì cảm nghiệm thần nghiệm không phải là khoảnh khắc một thiên thần hay một thần linh hiện ra với bạn, cũng không phải là lúc có chuyện huyền bí xảy ra với bạn.  Cảm nghiệm thần nghiệm là khác thường, nhưng khác thường vì nó rõ ràng một cách độc nhất vô nhị, vì trong khoảnh khắc ấy chúng ta quy hướng một cách khác thường, và vì trong khoảnh khắc ấy chúng ta cảm thức một cách vô thức, mơ hồ, và lộn xộn, cảm thức vượt ngoài từ ngữ và hình tượng, cảm thức được điều mà các nhà thần nghiệm gọi là ký ức không phai về nụ hôn của Chúa trên linh hồn chúng ta, ký ức nguyên sơ về lần mình từng cảm nghiệm tình yêu hoàn hảo khi còn ở trong lòng Chúa trước lúc ta ra đời.  Bernard Lonergan, dùng một thuật ngữ khác, gọi đây là dấu ấn của những nguồn gốc đầu tiên lên linh hồn chúng ta, dấu ấn bẩm tại của những yếu tố siêu việt thuộc về Thiên Chúa, là Duy nhất, Chân, Thiện, Mỹ, ở trong chúng ta.

Chúng ta có cảm nghiệm thần nghiệm khi liên kết với phần linh hồn mà chúng ta từng được Chúa chạm đến trước khi chúng ta ra đời, phần linh hồn chúng ta vẫn mang theo dù trong vô thức, phần ký ức đã được Chúa chạm đến.  Henri Nouwen gọi đây là ký ức mơ hồ về “tình yêu đầu tiên” về một thời chúng ta được nâng niu bởi đôi bàn tay trìu mến hơn bất kỳ lần nào chúng ta có trong đời này.

Tất cả chúng ta đều có cảm nghiệm này ở một mức độ nào đó.  Tất cả chúng ta đều có những cảm nghiệm thần nghiệm, dù không phải ai cũng là nhà thần nghiệm.  Vậy đâu là điểm khác biệt giữa có cảm nghiệm thần nghiệm và là nhà thần nghiệm?  Nó cũng là điểm khác biệt giữa có cảm nghiệm mỹ thuật và là nghệ sĩ.  Tất cả chúng ta đều có cảm nghiệm mỹ thuật và nhiều lần thấy được mỹ thuật đánh động sâu sắc, nhưng chỉ có một số ít người trở thành nghệ sĩ lớn, nhà soạn nhạc lớn, không hẳn bởi họ có cảm nghiệm sâu sắc hơn chúng ta, nhưng bởi họ có thể cho cảm nghiệm của họ một biểu lộ mỹ thuật đặc biệt.  Biểu lộ mỹ học luôn luôn có sự hòa hợp nhất định.  Do đó bất kỳ ai cũng có thể trở thành nghệ sĩ thực hành, dù cho không phải nghệ sĩ chuyên nghiệp.

Về thần nghiệm cũng thế.  Nhà thần nghiệm là người có thể đem lại biểu lộ có ý nghĩa cho cảm nghiệm thần nghiệm của họ, cũng như một nghệ sĩ là người có thể đem lại biểu lộ thích đáng cho cảm nghiệm mỹ thuật của họ.  Bạn có thể là một nhà thần nghiệm thực hành, tương tự như là một nghệ sĩ thực hành.  Như một nghệ sĩ đầy nỗ lực, bạn có thể dốc sức để đem lại một biểu lộ có ý nghĩa và có ý thức cho những vận động thâm sâu mà bạn cảm nhận được trong linh hồn mình, và như một nghệ sĩ nghiệp dư thôi, bạn sẽ không là một Rembrandt hoặc Picasso trong đời sống thiêng liêng, nhưng những nỗ lực của bạn có thể hữu ích vô cùng khi bạn làm rõ những vận động trong linh hồn và tâm thần mình.

Vậy cụ thể, làm sao để bạn làm một nhà thần nghiệm thực hành trong thực tế?  Bằng cách làm bất kỳ điều gì giúp bạn liên hệ cách có ý thức với những vận động thâm sâu trong linh hồn, và bằng cách làm những điều giúp bạn vững vàng và tập trung vào linh hồn mình.

Ví dụ như, khi nỗ lực liên kết với linh hồn mình, bạn có thể làm nhà thần nghiệm thực hành bằng cách viết nhật ký, đọc sách thiêng liêng, xin linh hướng, làm những việc linh thao chẳng hạn như bài Linh Thao của thánh Inhaxiô, và cầu nguyện dưới bất kỳ hình thức nào.  Khi quy hướng vào và làm vững vàng linh hồn mình, bạn có thể là một nhà thần nghiệm thực hành, khi dốc hết bản thân một cách ý thức hơn và chủ tâm hơn, vào việc sống ngày Xa-bat và làm những việc quy hướng về linh hồn chẳng hạn như làm vườn, đi bộ đường dài, nghe nhạc, đối ẩm với người thân và bạn bè, yêu vợ hoặc chồng mình, bồng một đứa bé, thăm người bệnh, hay thậm chí chỉ cần làm việc mình thích và có khoảng nghỉ lành mạnh tránh những ám ảnh của bận tâm thường nhật.

Đấy chính là những cách để làm nhà thần nghiệm thực hành, thậm chí chẳng cần phải theo học lớp chính thức về thần nghiệm.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

TIẾNG GỌI

Sống trong cuộc đời, chúng ta thường được nghe biết bao tiếng gọi.  Có những tiếng gọi giúp ta hạnh phúc an bình, nhưng cũng có những tiếng gọi làm ta sa ngã bất trung.  Gọi ai là muốn cho người đó đến gần, có thể với ước mong kết thân tình nghĩa, nhưng đó cũng có thể là một mưu chước dối gian.  Mùa chay giúp người tín hữu phân định, đâu là lời mời gọi giúp ta nên thánh, đâu là lời mời gọi làm cho ta lạc lối sai đường.

Bài sách thánh thứ nhất kể lại việc Chúa gọi ông Abraham.  Sự kiện này được các nhà nghiên cứu lịch sử và các nhà chú giải Thánh Kinh xác định ở khoảng thế kỷ 18 trước Công nguyên.  “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi.”  Theo tiếng gọi của Chúa, ông Abraham đã bỏ tất cả mọi sự, kể cả những mối liên hệ thiêng liêng như cha mẹ họ hàng.  Vào thời chưa có điện thoại và các phương tiện liên lạc và di chuyển như bây giờ, việc bỏ quê hương và người thân để lên đường, là một chuyến ra đi mãi mãi.  Abraham không biết mình sẽ đi đâu, nhưng ông xác tín vững vàng vào Thiên Chúa, Đấng đã gọi ông.  Ông tin rằng, bao giờ Chúa cũng sẽ làm cho ông những điều tốt lành và mang lại thiện ích cho ông trong hiện tại cũng như trong tương lai.  Tác giả sách Sáng thế diễn tả sự lên đường của ông Abraham như một quyết định dứt khoát, với niềm xác tín và hân hoan.  Sau này, tác giả thư gửi tín hữu Híp-ri đã suy tư về cuộc lên đường của ông như sau: nhờ tin vào lời Chúa, Abraham đã trở thành cha của nhiều dân tộc.  Ông là người công chính và là gương mẫu cho tất cả những người tin.

Tuần trước, Phụng vụ mời gọi chúng ta vào sa mạc với Chúa Giêsu, để sống tinh thần chay tịnh, chiến thắng cám dỗ.  Chúa nhật này, Phụng vụ lại mời gọi chúng ta lên núi cao, để chứng kiến Chúa Giêsu biến hình.  Trong truyền thống Thánh Kinh, núi cao là nơi con người gặp gỡ Thiên Chúa.  Chúa đã ban luật Giao ước cho dân Israel trên núi Sinai sau khi dân ra khỏi Ai Cập.  Như người leo núi phải bỏ bớt hành lý cồng kềnh, hành trình leo núi thiêng liêng buộc chúng ta phải bỏ lại những tham lam tính toán thấp hèn, để sống cao thượng và thanh thoát hơn.

Theo Tin Mừng thánh Matthêu, việc Chúa Giêsu biến hình (còn gọi là hiển dung) được trình bày trong bối cảnh các môn đệ đang hoang mang lo lắng, vì các ông thấy Thày mình loan báo cuộc thương khó mà Người sẽ trải qua.  Khi nghe Chúa nói về việc Người sẽ bị giết chết và sẽ sống lại, ông Phêrô bàng hoàng.  Ông kéo Thày riêng ra một chỗ và trách Thày.  Chúa Giêsu đã mạnh mẽ phê phán Phêrô và gọi ông là Satan (x. Mt 16,21-23).  Để giúp các môn đệ có một nhãn quan khác về sứ vụ thiên sai của Người, Chúa Giêsu đã biến hình trước mặt ba môn đệ là ông Phêrô, Giacôbê và Gioan.  Ông Phêrô trước đó mấy ngày đã can gián và trách Chúa, nay lại xin làm ba lều cho Chúa, cho ông Môisen và ông Êlia.  Các ông cảm nhận được niềm vui ngây ngất khi thấy Chúa biến đổi hình dạng.  Tâm trạng các ông đã được thay đổi, kể cả khi Chúa nói với các ông: ‘Con Người từ cõi chết trỗi dậy.’

Đâu là tiếng gọi của Chúa trong cuộc sống cụ thể hôm nay?  Bài Tin Mừng cho chúng ta thấy, trước hết là lời mời gọi hãy lắng nghe lời Chúa Giêsu.  Đây là lời mời gọi từ đám mây, tức là tiếng nói của Chúa Cha.  Chúa Cha công nhận và giới thiệu với thế giới, Đức Giêsu là Con yêu dấu của Ngài.  Ngài muốn cho chúng ta nghe lời của Chúa Giêsu, là lời đem lại sự sống và hạnh phúc bình an.  Chính Đức Giêsu là Lời của Thiên Chúa.  Lời đã nhập thể, đã làm người để ở với chúng ta và để kể cho chúng ta nghe về tình thương Thiên Chúa.  Ai đón nhận Lời Chúa, tức là đón nhận Chúa Giêsu vào cuộc đời và vào tâm hồn mình, nhờ đó mà tìm được sức mạnh siêu nhiên, để vượt lên những gian nan thử thách và những chông gai của cuộc đời.

“Trỗi dậy đi, đừng sợ!”  Đó là lời mời gọi thứ hai của Chúa.  Thế giới của chúng ta có biết bao điều sợ hãi.  Con người bị bóng tối sợ hãi bủa vây xung quanh.  Đó là bạo lực, chia rẽ, hận thù.  Đó còn là bệnh tật, tai nạn, thiên tai, nhân tai.  Đó còn là những cạm bẫy đến từ sự gian xảo của lòng người.  Chúa Giêsu đã trấn an ba môn đệ trong lúc các ông kinh hoàng: Đừng sợ.  Lời này cũng nhằm khích lệ các ông trước nỗi sợ của cuộc khổ nạn, mà Chúa Giêsu đã loan báo trước đó.  Hôm nay Chúa vẫn đang nói với chúng ta những điều ấy.  Những ai cậy trông tín thác vào quyền năng và tình yêu thương của Chúa thì không còn sợ hãi bất cứ điều gì.  Chúa khẳng định với chúng ta như thế.

Mùa Chay giúp chúng ta nhận ra đâu là tiếng gọi của Chúa, giữa một đại dương âm thanh hỗn tạp ồn ào.  Hãy đọc Tin Mừng để nhận ra tiếng Chúa.  Hãy suy niệm Lời Chúa để sống theo thánh ý của Người.  Tiếng gọi của Chúa bao giờ cũng nhằm tới thực thi đức bác ái yêu thương.  Thái độ hận thù nhỏ nhoi không bao giờ đến từ Thiên Chúa, bất kỳ dưới góc độ nào.  Thánh Phaolô (Bài đọc II) khuyên người môn sinh của mình là Timôthê hãy nhận ra kế hoạch và ân sủng của Đức Kitô.  Người là Đấng Cứu độ chúng ta.  Người đã tiêu diệt thần chết và ban cho chúng ta phúc trường sinh bất tử.

Trong sứ điệp truyền thống đầu mùa Chay năm 2023 này, Đức Thánh Cha Phanxicô đã dựa trên trình thuật Chúa Giêsu biến hình để mời gọi các tín hữu sống tinh thần mùa Chay.  Với chủ đề: “Khổ chế mùa Chay và lộ trình hiệp hành,” Đức Thánh Cha so sánh việc ba tông đồ chiêm ngắm Chúa biến hình trên núi như một cuộc tĩnh tâm.  Tĩnh tâm là lên núi cao để gặp gỡ Chúa, để chiêm ngưỡng vinh quang của Người.  Tĩnh tâm cũng là nhìn lại chặng đường mình đã đi, để nhận ra những yếu kém, những bất toàn của mình, rồi từ đó thiện chí sửa chữa, canh tân.  Đức Thánh Cha viết: “Vào cuối cuộc leo núi, khi đang ở trên đỉnh núi với Chúa Giêsu, ba môn đệ được ơn nhìn thấy Người trong vinh quang, chói ngời ánh sáng siêu nhiên.  Một ánh sáng không đến từ bên ngoài, nhưng tỏa ra từ chính Chúa.  Vẻ đẹp thiêng liêng của thị kiến này vượt xa những nỗ lực mà các môn đệ đã cố gắng khi lên Núi Tabor.  Như trong bất kỳ chuyến leo núi gian nan nào, đang khi leo, chúng ta phải chăm chú nhìn vào con đường; nhưng bức tranh toàn cảnh mở ra ở cuối lộ trình gây bất ngờ và đền đáp cho chúng ta bởi sự kỳ diệu của nó.”  Trong lộ trình tiến tới Thượng Hội đồng Giám mục thế giới, Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta leo núi để gặp Chúa Giêsu, nhờ đó mà chúng ta sống tinh thần hiệp hành, cùng nhau xây dựng Giáo Hội và cùng nhau loan báo Đức Giêsu cho thời đại chúng ta.

Khi chiêm ngưỡng Chúa Giêsu biến hình, chúng ta nhìn thấy tương lai của chính chúng ta. Quả vậy, những ai tin vào Chúa Giêsu và chuyên tâm thực hành lời Người dạy, sẽ được vinh quang sáng láng như Người.  Cuộc biến hình trên núi vừa khẳng định sứ vụ thiên sai của Đức Giêsu, vừa như một lời hứa hẹn với các tông đồ: nếu các ông trung thành với Chúa, các ông cũng sẽ được hưởng vinh quang và triều thiên Chúa ban.  Nhờ được chiêm ngưỡng Chúa biến hình, các ông kiên vững một niềm tin và trở thành chứng nhân can đảm của Thầy.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết nhận ra tiếng Chúa gọi, để nhiệt thành theo Chúa và thực thi những gì Người truyền dạy, nhờ đó chúng con tìm được hạnh phúc và bình an.  Amen!

TGM Vũ Văn Thiên

TĨNH LẶNG VÀ HOA TRÁI CỦA NÓ

“Như mưa tuyết từ trời rơi xuống, không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất!”

Trong “Thoughts in Solitude”, bản Việt ngữ, “Hoa Trái Thinh Lặng”[1] do người viết dịch, Thomas Merton nhận xét, “Cuộc sống của con người là lắng nghe, cuộc sống của Chúa là dạy bảo!  Lắng nghe, đáp trả là việc của con người; nhờ đó, nó được cứu độ.  Vì thế, con người cần lặng thinh!”

Kính thưa Anh Chị em,

“Cuộc sống của con người là lắng nghe, cuộc sống của Chúa là dạy bảo!”  Với Thomas Merton, Lời Chúa hôm nay nói đến ‘Lời của Chúa và lời của người,’ vốn sản sinh từ một chuyển động kép: một từ trời xuống, Lời Thiên Chúa; một từ đất lên, lời con người!  Lời ân sủng của Ngài lặng lẽ thấm xuống đất, mạnh mẽ và hiệu năng; lời “Kinh Lạy Cha” của con người thì thầm dâng lên, hiệu năng và mạnh mẽ.  Đó là một chuyển động thuộc về sự ‘tĩnh lặng và hoa trái của nó!’

Qua bài đọc thứ nhất, chỉ vỏn vẹn hai câu, Isaia mô tả tuyệt vời Lời kỳ vĩ của trời, “Như mưa tuyết từ trời rơi xuống, không trở lên trời nữa; cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả.”  Lời Chúa, Lời nuôi dưỡng, Lời trấn an, Lời biến đổi và củng cố hy vọng! Thánh Vịnh đáp ca thật sâu sắc, “Chúa cứu người hiền đức khỏi mọi nỗi âu lo.”

Với “Kinh Lạy Cha”, Chúa Giêsu dạy các môn đệ cầu nguyện mà không ồn ào, lải nhải.  Đức Thánh Cha Phanxicô nói, “Kinh Lạy Cha là ‘ma trận’ của mọi lời cầu nguyện Kitô giáo, tất cả lời cầu của con người đều được biểu hiện trong Kinh Lạy Cha.”  Cầu nguyện là hoa trái của thinh lặng; vậy mà, xem ra không ít người bỏ qua điều này!  Họ thích nói, muốn được nghe, nhưng không có sở thích ‘lắng nghe’; hơn nữa, họ thường không thể lắng nghe, vì không quen tĩnh lặng!  Mẹ Têrêxa viết, “Cầu nguyện là ‘hoa trái của thinh lặng.’”  Đúng thế, Chúa Giêsu muốn chúng ta hiểu, cầu nguyện là để lắng nghe hơn là để nói.  Khi ở với một người hiểu biết, bạn hạn chế đặt câu hỏi và dành bản thân để lắng nghe; vì thế, Chúa Giêsu phải là mối quan tâm hàng đầu của chúng ta trong cầu nguyện.  Hãy hỏi Ngài về Chúa Cha; và chuyên tâm lắng nghe!

Chúa Giêsu cho biết, Thiên Chúa là Cha yêu thương, Ngài biết bạn và tôi cần gì trước khi chúng ta cầu xin; tuy nhiên, chúng ta cần hỏi Ngài, bởi khi hỏi, chúng ta ý thức rằng, có những nhu cầu mà chỉ một mình Thiên Chúa, Cha của chúng ta, mới có thể ban cho.  Hãy học cách hỏi Chúa Giêsu về điều gì chúng ta cần nhất cho sự cứu rỗi đời đời của mình!  Cầu nguyện với “Kinh Lạy Cha” nhắc chúng ta rằng, Thiên Chúa là Cha của mọi người; và mọi người thực sự là anh em của nhau. Để được vậy, bạn cần biết sự cần thiết của ‘tĩnh lặng và hoa trái của nó’.

Anh Chị em,

“Cuộc sống của con người là lắng nghe, cuộc sống của Chúa là dạy bảo!”. Thiên Chúa không ngừng nói qua Lời Ngài, qua những con người, qua các biến cố. Ngài ước mong mỗi sứ điệp của Ngài như mưa tuyết từ trời thấm vào ‘đất lòng chúng ta’ và trổ sinh hoa trái. Hoa trái đầu tiên Ngài chờ mong là bạn và tôi biết im bặt để lắng nghe; nghe tiếng thì thầm của Thánh Thần Ngài; nghe với đôi tai của trái tim, để sau đó, vượt lên chính mình, và làm theo lời dạy. Tiếng Ngài dạy chúng ta yêu thương, đón nhận anh chị em mình như con cái cùng một Cha! Đây là một hành trình không bao giờ ngưng nghỉ; làm theo tiếng nói ấy chính là biến đổi! Cầu nguyện không chỉ là lắng nghe, nhưng còn là biến đổi, biến đổi nên những con cái đích thực của Cha! Bấy giờ, chúng ta mới có thể hiểu được giá trị của sự ‘tĩnh lặng và hoa trái của nó’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, nhiều lúc kinh nguyện của con rộn ràng nhưng hời hợt, ồn ào nhưng vô hồn; xin dạy con biết yêu quý sự ‘tĩnh lặng’ hầu con cũng có thể hái được ‘hoa trái’ của nó!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

[1] Quý Anh Chị có thể đọc toàn bộ tác phẩm “Hoa Trái Thinh Lặng” tại đây: https://bit.ly/3IWvpO8

MÙA CHAY LINH THIÊNG

Mùa Chay là thời gian linh thiêng đong đầy tình yêu để cầu nguyện, để ăn năn sám hối và để hy sinh hãm mình, nhờ đó mà canh tân bản thân mình ngày mỗi hoàn thiện hơn.  “Mùa Chay mời gọi các Kitô hữu thể hiện mầu nhiệm Vượt Qua cách sâu sắc và cụ thể hơn trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội của họ, trên hết qua việc ăn chay, cầu nguyện và bố thí.” (Sứ điệp Mùa Chay năm 2019, số 3).

1. Mùa Chay linh thiêng

Mùa Chay linh thiêng lại về với đời sống tín hữu Công giáo.  Mùa Chay là thời gian 40 ngày dọn lòng mừng lễ Phục Sinh, trải dài từ Lễ Tro cho đến Tuần Thánh, lặp lại thời gian 40 ngày chay tịnh của Chúa Giêsu năm xưa khi chuẩn bị bước vào đời công khai rao giảng Tin Mừng (Mt 4,2).  Con số 40 còn lặp lại nhiều biến cố khác trong lịch sử cứu độ như 40 ngày của Êlia trên núi Horeb dọn mình thực thi sứ vụ Chúa trao (1 V 19,8), như 40 ngày của Môsê trên núi Sinai chuẩn bị đón nhận thập điều Chúa dạy (Xh 34,28), và như 40 năm dân Chúa lưu lạc trong hoang địa dọn lòng đặt chân vào đất hứa.  Mùa Chay như vậy là thời điểm thuận lợi để sống mầu nhiệm Tử Nạn của Chúa Kitô thông qua việc chay tịnh để sẵn sàng mừng lễ Phục Sinh.  Nhưng Mùa Chay không chỉ là việc chay tịnh, cho dẫu khởi đầu và kết thúc Mùa Chay được diễn ra bằng việc buộc ăn chay và kiêng thịt thứ tư Lễ Tro và thứ sáu Tuần Thánh.  Mùa Chay còn là mùa xuân tâm hồn với những sinh hoạt đổi mới đời sống đức tin.

Cầu nguyện, canh tân, chia sẻ: đó là ba sinh hoạt mỗi người chúng ta cố gắng thực hiện trong Mùa Chay năm nay, cũng là ba chiều kích với Chúa, với mình, với tha nhân dệt nên nhịp sống Giáo Hội.

Mùa Chay là thời gian đặc biệt như lời Thánh Phaolô nói: “Đây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu độ” (2 Cr 6,2).  Đây là thời gian thuận tiện để mỗi người quyết tâm hoán cải, tăng cường việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện, thống hối, mở rộng tâm hồn đón nhận thánh ý Chúa, quảng đại giúp đỡ tha nhân.

2. Mùa Chay là mùa tình thương

Hành trình thiêng liêng của Mùa Chay bắt đầu từ tình thương: cầu nguyện, chay tịnh để sống đức ái chia sẻ.

Mùa Chay với hành trình bốn mươi ngày là “thì mạnh” của Năm Phụng Vụ, là “thời Thiên Chúa thi ân và là ngày Thiên Chúa cứu độ” (2Cr 6,2).  Bước vào Mùa Chay, Giáo Hội nhấn mạnh đến những cách thế hy sinh hãm mình để qui hướng về Thiên Chúa, tôn vinh Người, đồng thời cũng qui hướng về tha nhân, để lưu tâm giúp đỡ, sống tình bác ái huynh đệ.

Mùa Chay là thời điểm mà Chúa Giêsu Kitô tuôn đổ muôn vàn ân sủng cho Giáo Hội qua mầu nhiệm Thánh Giá.  Mùa Chay thúc đẩy mỗi tín hữu sống tinh thần hy sinh, sám hối và hòa giải cách chân thành và triệt để hơn, theo đúng tinh thần Tin Mừng.

Ngay đầu Mùa Chay, Phụng vụ đã nhắc nhở ta cần phải trầm tư để chiêm niệm về thân phận: “Hỡi người, hãy nhớ mình là bụi tro và sẽ trở về tro bụi.”  Ý nghĩa của Lời Chúa quá rõ ràng: mọi người sẽ phải chết.  Vậy ta lao tâm khổ trí, vất vả ngược xuôi, ganh đua tranh dành để tìm kiếm của cải, danh vọng, thú vui…, ta nỗ lực học hỏi, tìm tòi, phát minh, xây dựng… nhưng khi cái chết đến, ta mang theo được thứ gì, tất cả có nghĩa gì cho ta?  Cuối cùng thì cái gì là đáng quan tâm nhất trong đời?  Ðâu là bậc thang giá trị đời ta?

Xin đừng sống dửng dưng, thờ ơ, khép kín trước người nghèo.  Hãy luôn chạnh lòng xót thương như Chúa Giêsu đã thương những người cùng khốn.  Hãy sống quảng đại cho đi, vui vẻ chia sớt, không chỉ của cải vật chất mà có khi chỉ là một nụ cười thân thiện, một cái bắt tay khích lệ, một lời nói an ủi đỡ nâng, một lần viếng thăm, một cuộc gặp gỡ kiến tạo sự hiệp nhất bình an.  Khi chia nụ cười, ta sẽ nhận về vô số niềm vui.  Khi chia vòng tay, ta sẽ nhận về mênh mông ấm áp.  Khi chia quan tâm, ta sẽ nhận về bao la yêu thương.  Khi chia yêu thương, ta sẽ nhận về rất nhiều hạnh phúc.

3. Mùa Chay và các việc đạo đức

Ba việc đạo đức được nhắc nhở rất nhiều trong Mùa Chay là: bác ái, ăn chay và cầu nguyện.  Đây là ba vũ khí tuyệt hảo để chống lại sự tấn công của ma quỷ và đền bù tội lỗi mình.  Những việc lành phúc đức này, khi được thi hành thì hãy làm với tất cả tấm lòng của mình; không làm để khoe khoang.  Chỉ cần Thiên Chúa thấu hiểu và biết cho chúng ta là đã đủ rồi.  Đừng làm để được người đời khen và vì thế mà chúng ta mất đi lời khen tặng của Thiên Chúa. (x.Mt 6,1-6).

Ăn chay và kiêng thịt, chịu tro chỉ là hình thức bên ngoài mà thôi.  Canh tân nội tâm vẫn là trọng tâm của Mùa Chay.  Kiêng bớt các tội là điều mà Thiên Chúa mong muốn.  Sửa đổi tính nết để trở thành người tốt hơn, đạo đức hơn, thánh thiện hơn.  Bớt nói hành, giảm nói xấu, siêng năng việc đạo đức.

Trong sứ điệp Mùa Chay 2019, Đức Thánh cha Phanxicô đề nghị những việc làm cụ thể để những thực hành Mùa Chay truyền thống này mang một ý nghĩa mới: “Ăn chay có nghĩa là học để thay đổi thái độ của chúng ta đối với người khác cũng như đối với mọi loài thụ tạo: từ cơn cám dỗ muốn “ngấu nghiến” mọi thứ để thỏa mãn sự thèm muốn của mình, đến chỗ có khả năng hy sinh vì tình yêu, và khả năng lấp đầy sự trống rỗng của con tim chúng ta.  Cầu nguyện để học biết cách khước từ sự sùng bái thần tượng cũng như tự mãn về cái tôi của mình, đồng thời thú nhận rằng, chúng ta cần tới Thiên Chúa và Lòng thương xót của Ngài.  Chia sẻ bác ái để tự giải thoát khỏi tính ngông cuồng, khiến chúng ta chỉ sống cho mình, với ảo tưởng rằng mình sẽ có được một tương lai bảo đảm, trong khi tương lai đó không thuộc về chúng ta” (số 3).

Theo lời dạy của Đức Thánh Cha, chúng ta sống Mùa Chay năm nay trong niềm vui bằng việc ăn chay và cầu nguyện được liên kết với việc làm phúc bố thí.  Qua đó chúng ta đem niềm vui có Chúa đồng hành đến với người nghèo, làm cho họ nhận ra sự hiện diện của một vị Thiên Chúa tình yêu luôn quan tâm săn sóc họ và còn tự đồng hóa với họ qua Con yêu dấu của Ngài là Đức Giêsu Kitô.

Tình yêu là một đề tài vừa phong phú, vừa hấp dẫn của văn chương, nghệ thuật, phim ảnh… và luôn mang tính thời sự.  Thử hỏi thế nào là yêu thương thì quả thật không dễ trả lời cách rõ ràng và có tính thuyết phục.  Ngay cả những việc to lớn như “đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí hay nộp cả thân xác để chịu thiêu đốt” thì cũng chưa hẳn là đã yêu thương (x.1Cor 13,3).

Tình yêu là huyền nhiệm vì “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4,8).  “Tình yêu cốt ở điều này: Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,10).  Như thế, có thể nói yêu thương là thực hiện điều tốt đẹp nhất cho người mình yêu.

Yêu thương thể hiện bằng hành vi cụ thể, thực tế.  Đã yêu là yêu đến cùng.  Hoa trái của tình yêu là kết quả của nhiều nỗ lực hy sinh, quên mình.  Yêu thương cách đích thực thì sẵn sàng hiến dâng cả mạng sống (x.Ga 15,13).

Ngôi Lời nhập thể là cách Thiên Chúa diễn tả tình yêu của Người đối với nhân loại.  Tình yêu Thiên Chúa đã bước xuống, chấp nhận nhập thể để làm người.  “Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,7).  Tình yêu được diễn tả như vậy nói lên sự từ bỏ mình vì yêu thương.  Sự từ bỏ mình như thế là chọn lựa rất tự do của Thiên Chúa toàn năng, vô cùng khôn ngoan, vô cùng sáng suốt, vô cùng thông hiểu.  Chính vì thế, mà chọn lựa ấy là vô cùng cao quý.

Mùa Chay giúp ta sống hy sinh từ bỏ, thực hành yêu thương.

Tình yêu đích thực là tình yêu dâng hiến, tình yêu hy sinh quên mình, tình yêu sẵn sàng chết cho kẻ mình yêu.  Tình yêu chân chính đòi hỏi phải chết đi mỗi ngày cho tính ích kỷ và sự hẹp hòi nơi bản thân.  Hôm qua cầm trái cây, thấy đẹp cắt ra, bị sâu bên trong.  Hư cả trái phải vất bỏ.  Ích kỷ, chỉ nghĩ tới mình, chỉ lo cho mình: đó là con sâu nằm trong quả ngọt tình yêu, đục khoét tình yêu.  Đức Thánh Cha Phanxicô viết: “Trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng, tôi đã tìm cách mô tả những dấu hiệu rõ nhất về những dấu hiện thiếu vắng tình yêu này: ích kỷ và tinh thần lười biếng, bi quan vô ích, cám dỗ chỉ quan tâm đến mình, chiến tranh liên lỉ giữa chúng ta và tinh thần thế gian khiến chúng ta chỉ quan tâm đến vẻ bề ngoài, và do đó giảm đi lòng nhiệt thành truyền giáo của chúng ta” (Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng, 76-109).

“Chúng ta đừng để mùa hồng ân này trôi qua vô ích!  Chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta cất bước trên con đường hoán cải thực sự.  Chúng ta hãy bỏ lại sau lưng tính ích kỷ và sự tự hấp thụ vào chính mình, nhưng hướng đến sự Phục sinh của Chúa Giêsu.  Chúng ta hãy đứng bên cạnh những anh chị em đang túng thiếu của chúng ta, chia sẻ những của cải tinh thần và vật chất của chúng ta với họ” (Sứ điệp Mùa Chay 2019).

Thánh Phaolô nói đến những đặc tính của tình yêu là: nhẫn nhục, hiền hậu, khiêm nhường, không ghen tương, không nóng giận, không tìm tư lợi, luôn tin tưởng nhau, chịu đựng nhau và tha thứ cho nhau (x.l Cr 12,31-13,8).

Mùa Chay thêm đức tin cho những ai sống yêu thương.  Đặc biệt các đôi bạn trẻ bước vào đời sống hôn nhân.  Tình yêu phải có niềm tin.  Tin nhau để trao tay cho nhau, thề hứa chung thủy trọn đời trước mặt Thiên Chúa.  Gởi ai một đồ quý giá là đã tin tưởng người ấy.  Tin yêu là đôi mắt cho đôi bạn nhìn thấu lòng nhau.  Tin yêu là đôi chân giúp đôi bạn vượt qua mọi khó khăn.  Tin và yêu là đôi cánh giúp đôi bạn nắm tay nhau bay vào bầu trời hạnh phúc.  Yêu thì phải tin.  Tin sẽ càng yêu.  Không tin sẽ khó mà yêu.  Không yêu thì không thể tin được.

Tin Chúa đôi bạn sẽ biết tin nhau vì Chúa là Sự Thật, là sự Trung Tín.  Tin Chúa đôi bạn sẽ tránh xa những giả tạo và ích kỷ.  Yêu Chúa đôi bạn sẽ biết yêu nhau, vì Chúa là Tình Yêu, một tình yêu lớn lao đến nỗi đã hy sinh mạng sống cho người mình yêu.  Yêu Chúa đôi bạn sẽ biết hy sinh quên mình quảng đại trong một tình yêu chân thực.

Mùa Chay thiêng liêng là mùa xuân tâm hồn cho những ai sống vững vàng trong đức tin và dạt dào lòng yêu mến.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

CÁM DỖ

Sống trong cuộc đời, dù ở bậc sống nào đi nữa, chúng ta không thể thoát khỏi thử thách cám dỗ.  Các vị thánh là những người đã can đảm đối diện và chiến thắng cám dỗ.  Nếu đọc tiểu sử của các vị thánh như Thánh Antôn ẩn tu, Thánh Phanxicô Assidi, Thánh Catharina de Siena, Thánh Têrêsa Avila… chúng ta sẽ thấy các ngài là những người đã trải qua những cơn cám dỗ khốc liệt.  Như vậy, ta có thể định nghĩa: các thánh là những người đã chiến thắng cám dỗ để trung thành với Chúa cho đến cùng.

Lời Chúa từ sách Sáng thế cho ta thấy cám dỗ là vấn đề “xưa như trái đất.”  Cám dỗ đã hiện hữu ở đầu lịch sử, khi con người còn trong trắng và thân tình với Chúa.  Bà Evà, với sự ngây thơ “nữ nhi thường tình” đã mắc mưu con rắn tinh quái và làm trái với lời dặn của Chúa.  Cùng với việc ăn trái cấm, bà nghi ngờ lòng tốt của Chúa và phủ nhận những gì Ngài đã làm cho bà.  Bà muốn lên ngang hàng với Chúa là Đấng đã tạo dựng nên bà từ bùn đất.  Sau khi ăn trái cấm, mắt ông bà đã mở ra.  Ông bà thấy nhãn tiền sự dối trá của con rắn.  Ông bà cũng thấy rõ hậu quả của sự bất tuân: đó là sự trần truồng.  Trước đó ông bà vẫn trần truồng, nhưng không xấu hổ.  Nay, thay vì “nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” như lời dụ dỗ của con rắn, thì ông bà lại thấy sự yếu hèn đáng thương của mình.  Câu chuyện này làm chúng ta liên tưởng đến một số mánh lới tiếp thị quảng cáo để lừa đảo trong xã hội hôm nay.  Dù đã được cảnh báo, vẫn có nhiều người như con thiêu thân lao vào với hy vọng kiếm lời nhanh chóng và họ đã phải trả giá.

Những cám dỗ đến với ta chưa hẳn phải là tội.  Chúng giống như những lời quảng cáo chào mời, nếu chúng ta khôn ngoan khước từ, thì không bị mắc bẫy.  Chúng ta chỉ phạm tội khi chấp nhận hành động theo cám dỗ.  Thánh Phanxicô đệ Salê đã giải thích về cám dỗ như sau: “Hỡi Thiên Kính, hãy tưởng tượng một vị nữ hoàng được lang quân hết tình yêu mến, bỗng có kẻ hư thân kia muốn quyến rũ và làm cho vị nữ hoàng ra nhơ uế, thì nó sai một sứ giả của tình yêu xấu xa đến thương lượng với nữ hoàng về ý định khốn nạn của nó.  Trước hết, kẻ sứ giả kia nêu lên ý định của chủ, rồi đến vị nữ hoàng lấy làm vui lòng hay khó chịu với lời đề đạt kia, hoặc vị nữ hoàng ưng theo hay từ chối.  Ma quỷ, thế gian, xác thịt thấy một linh hồn được kết hôn cùng Con Thiên Chúa, cùng dùng những cám dỗ và khêu gợi linh hồn ấy” (Dẫn vào đời sống trọn lành, Phần IV, Chương III).  Vị nữ hoàng trong giải thích của tác giả có tự do để tuân theo hay khước từ những đề nghị khiếm nhã của “tên cám dỗ.”  Bà chỉ phạm tội khi đồng lòng chấp nhận làm theo lời cám dỗ.  Đối diện với cám dỗ cũng là dịp để nữ hoàng chứng minh lòng chung thủy với hôn phu của mình.  Cũng thế, mỗi chúng ta hằng ngày bị biết bao cám dỗ lôi kéo để đi ngược với giáo huấn của Chúa.  Cám dỗ vừa là một “phép thử” lòng trung thành, vừa là cơ hội để chúng ta chứng tỏ mình “ghét tội,” không khuất phục trước lời dụ dỗ ngon ngọt của ba thù, tức là ma quỷ, thế gian và xác thịt.

Chúa Giêsu đã chiến thắng cám dỗ.  Các tác giả Tin Mừng nhất lãm đều thuật lại việc Chúa chịu cám dỗ trong hoang địa trước khi khởi đầu sứ vụ công khai.  Phải chăng đó là một lời khẳng định cho chúng ta thấy, để thi hành sứ vụ làm chứng cho Chúa, chúng ta phải được tinh luyện, thử thách như vàng thử lửa, nhờ đó chúng ta có đủ sức kiên trì và vững vàng trước những cám dỗ đang vây quanh chúng ta.  Nếu ông Ađam và bà Evà đã ngây thơ ngã quỵ trước lời dụ dỗ ngon ngọt của con rắn, thì Chúa Giêsu lại can đảm chiến thắng trước cơn cám dỗ của ma quỷ.  Đây cũng là lời khẳng định của thánh Phaolô, trong thư gửi tín hữu Rôma (Bài đọc II).  Ađam là nguyên nhân sa ngã và kéo theo tội lỗi cho nhân gian; Chúa Giêsu là nguyên nhân ơn cứu độ đem hạnh phúc cho con người.  Ađam đã sa ngã trước cám dỗ của con rắn; Chúa Giêsu đã chiến thắng cám dỗ của ma quỷ.

Như trên đã nói, cám dỗ luôn tồn tại.  Ai ai cũng cảm nhận được điều ấy.  Những cám dỗ của ma quỷ trong sa mạc vẫn đang hoành hành nơi cuộc sống của chúng ta.  Đó là tiền bạc, quyền lực và sự lỗi phạm đức tin.  Để trung thành với Chúa và để sống một cuộc sống thanh liêm ngay thẳng, chúng ta phải biết can đảm nói “không” với những chào mời bóng bẩy mà chứa nọc độc chết người.  Cùng với những cám dỗ của ma quỷ, còn có những cơn cám dỗ đến từ chính con người chúng ta.  Đó là những tham vọng, sự ghen ghét thù hằn, sự ích kỷ đố kỵ và biết bao nết xấu khác.  Mùa Chay là thời điểm hồi tâm để chiến thắng chính bản thân, hướng mọi hành động, tư tưởng và việc làm tới những điều thiện hảo như Chúa muốn.

Xin Chúa giúp chúng ta sức mạnh để chiến thắng cám dỗ đang bao bọc vây quanh chúng ta, để sống giữa trần gian, mà lương tâm chúng ta vẫn thanh thoát, tâm hồn chúng ta vẫn gắn bó với Chúa trọn đời.  Amen.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

TRO MÙA CHAY

Chúng ta bước vào mùa Chay bằng cách rắc tro lên đầu.  Việc này tượng trưng cho điều gì?  Có lẽ chuyện này hiểu bằng tấm lòng thì tốt hơn là bằng trí óc, bởi vì giáo dân đi nhà thờ ngày thứ Tư Lễ Tro nhiều hơn bất kỳ ngày nào khác trong năm, nhiều khi còn hơn cả lễ Giáng Sinh.  Dòng người đi nhận tro trong các nhà thờ dài bất tận.  Tại sao lại thế?  Tại sao mọi người xem trọng chuyện xức tro nhiều như thế?  Tôi cho rằng lý do vì đây là một biểu tượng, tro là thứ thô sơ, nguyên thủy, nguyên hình, và nói lên tiếng nói của tâm hồn.

Chúng ta biết chính xác trong lòng vì sao chúng ta đi xức tro.  Không cần đến lời giải thích cao siêu hàn lâm gì cả.  Tro là bụi, là đất, là bùn, là khiêm hạ tận cùng khiêm hạ.  Tro luôn là biểu tượng lớn trong mọi tôn giáo.  Xức tro lên đầu, ngồi trong đống tro, là nói với tất cả mọi người và nói với bản thân, chúng ta đang sám hối, đây không phải là “thời gian thông thường” của chúng ta.  Xức tro lên mình là nói rằng, đây không phải là lúc ăn mừng, rằng trong lòng chúng ta đang nghiêm túc, và nói lên rằng chúng ta đang ở trong khối tro than của một ngọn lửa đang tắt, chờ đợi một sự viên mãn hơn trong đời.

Tất cả những ý nghĩa này có những nguồn gốc thâm sâu.  Trong linh hồn con người có gì đó bẩm tại hiểu được rằng thỉnh thoảng chúng ta phải đi xuống, phải chìm xuống, phải mất đi hào quang và chờ đợi để tro bụi thực hiện công việc thầm lặng của nó.  Mọi truyền thống cổ xưa, dù là trong tôn giáo hay thần bí hoang đường, đều có nhiều câu chuyện về việc ngồi trong đống tro.  Ví dụ, chúng ta ai cũng biết chuyện Cô bé Lọ Lem Cinderella.  Đây là câu chuyện đã có từ bao nhiêu thế kỷ trước, đầy khôn ngoan, nói lên giá trị của tro bụi trong đời sống.  Cái tên Cinderella tự nó đã thể hiện đủ.  Theo nghĩa đen, Cinderella là “thiếu nữ ngồi trong đống tro than.”  Hơn nữa, như câu chuyện mở ra, trước khi mang đôi giày pha lê, trước khi có bộ váy lộng lẫy, trước khi dự dạ hội, trước khi khiêu vũ với hoàng tử rồi kết hôn với chàng, phải có một thời gian cô ngồi trong tro than, khiêm hạ, hèn mọn, kiên nhẫn chờ đợi dù trong lòng đã sẵn sàng cho niềm vui tột cùng và sự viên mãn.  Trong câu chuyện Cô bé Lọ Lem, chúng ta có thể thấy được tinh thần của mùa Chay.

Truyền thống người bản địa châu Mỹ cũng luôn có một vị trí đặc biệt cho tro.  Trong một số cộng đồng Da Đỏ, có khái niệm rằng thỉnh thoảng người ta sẽ ngồi trong tro một thời gian.  Không ai biết tại sao người nào đó thấy cần phải ngồi trong tro, nhưng ai cũng biết, đây là một điều rất tự nhiên, biết rằng tro có tác động quan trọng lên linh hồn, và cuối cùng, người đó sẽ trở lại cuộc sống bình thường và trở nên tốt hơn nhờ đã có thời gian ngồi trong tro.

Tôi xin kể rõ thêm về chuyện này.  Có một vài cộng đồng Da Đỏ sống trong nhà dài.  Nhà dài là tòa nhà chung, nhà của cả cộng đồng.  Nhà dài hình chữ nhật dài, với mái nghiêng, phần đỉnh mái thường để mở như lỗ thoát khói.  Lửa được đốt liên tục ở trung tâm nhà dài để nấu ăn và giữ ấm.  Người dân quy tụ lại đó, gần bên ngọn lửa để nấu, ăn, và gặp gỡ nhau, nhưng họ ngủ xa đống lửa, dưới các mái hai bên nhà.  Thường xuyên, có một người, đàn ông hay phụ nữ, vì lý do gì đó mà họ không cần giải thích, sẽ không làm theo thông lệ đó.  Thay vào đó, họ im lặng, ngồi ngay sát bếp lửa, trên đống tro, ăn qua loa, không tiếp chuyện, không ra ngoài, không tắm rửa và không đi ngủ với những người khác, cứ ngồi đó giữa đống tro.

Ngày nay, chúng ta sẽ xem chuyện này như là trầm cảm lâm sàng và tức tốc lôi người đó đi khám.  Nhưng người Da Đỏ thời xưa thì không hoảng lên như vậy.  Họ thấy đây là chuyện bình thường, một chuyện mà ai cũng được kêu gọi thực hiện lúc này hay lúc khác trong đời.  Họ cứ để người đó ngồi trong tro cho đến một ngày nào đó người này đứng dậy, rũ sạch tro và bắt đầu sống lại đời sống thường lệ.  Họ tin rằng tro, hay thời gian ngồi thinh lặng, đã có tác động quan trọng, không thể thấy được bên trong con người.  Ta ngồi trong tro để được chữa lành.

Giáo hội cũng dựa vào những nguồn khôn ngoan thâm sâu này khi cử hành nghi thức xức tro lên trán chúng ta vào đầu mùa Chay.  Mùa Chay là mùa để mỗi người chúng ta ngồi trong tro, dành thời gian như Cinderella để nuối tiếc về những gì chúng ta đã làm sai, kiềm chế bản thân khỏi vũ hội, từ chối làm việc như thường lệ, để kiên nhẫn trong thinh lặng chờ đợi sự tăng tiến diễn ra trong con người mình.  Mùa Chay là thời gian để tĩnh lặng hầu cho tro có thể làm việc của nó trên con người chúng ta.

Và chúng ta không cần hiểu chính xác tro hoạt động thế nào trên mình.  Tro đã kiên nhẫn nâng đỡ chúng ta suốt bao đời nay rồi.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

TIẾN VỀ PHÍA TRƯỚC

“Thần câm điếc kia, Ta truyền cho ngươi: ra khỏi đứa bé, và không được nhập vào nó nữa!”

Một nhà tu đức nói, “Tội lỗi sẽ đưa bạn đi xa hơn bạn từng nghĩ bạn sẽ đi lạc.  Tội lỗi sẽ khiến bạn lạc lối, bạn nghĩ rằng bạn sẽ không bao giờ tìm thấy con đường của mình.  Tội lỗi sẽ giữ bạn lâu hơn bạn nghĩ bạn sẽ ở lại.  Tội lỗi sẽ khiến bạn phải trả giá đắt hơn những gì bạn từng nghĩ mình phải trả.  Và tội lỗi sẽ kìm hãm ý chí của bạn đến mức bạn nghĩ sẽ tuyệt vọng, không bao giờ ‘tiến về phía trước.’”

Kính thưa Anh Chị em,

“Tội lỗi sẽ kìm hãm ý chí của bạn đến mức bạn nghĩ sẽ tuyệt vọng, không bao giờ ‘tiến về phía trước.’”  Ý tưởng của nhà tu đức trên sẽ được gặp lại trong Tin Mừng hôm nay.  Sau khi ra lệnh cho quỷ “ra khỏi đứa bé,” Chúa Giêsu bảo, “đừng bao giờ nhập vào nó nữa!”  Trong đời sống thiêng liêng, lời này có nghĩa là đừng sợ, cứ ‘tiến về phía trước!’

Mệnh lệnh kép của Chúa Giêsu đáng cho chúng ta suy gẫm.  Chắc chắn, việc cứu đứa bé khỏi sự chiếm hữu của quỷ là điều quan trọng; nó sẽ thay đổi cuộc đời cậu.  Nhưng hành động thương xót này, cuối cùng, sẽ kết thúc trong thảm kịch nếu quỷ lại nhập vào nó sau khi Chúa Giêsu rời đi.  Do đó, mệnh lệnh thứ hai, cấm quỷ trở lại, cũng là một hành động rất nhân từ.

Hành động này nói với chúng ta rằng, chiến thắng cái ác là không đủ!  Tại sao?  Bởi lẽ, những cám dỗ và áp bức đến từ quân đoàn các cơ binh là liên tục và không ngừng.  Điều thường xảy ra là, khi một người tìm được tự do khỏi ảnh hưởng của ma quỷ và một tội lỗi nào đó, thì họ lại sa vào tội lỗi ấy và trở nên buông thả hơn.  Vì vậy, hãy nhớ rằng, một khi đã chiến thắng tội lỗi, một cám dỗ hay áp bức nào đó, chúng ta phải luôn cảnh giác để không sa vào những tệ nạn cũ.  Việc liên tục cảnh giác là điều cần thiết nếu chúng ta muốn tiếp tục vững chắc đi trên con đường dẫn đến nhân đức và thánh thiện.  Khiêm tốn nhìn nhận sự bất lực của mình, để chỉ một cậy trông vào Chúa là điều kiện tiên quyết để chúng ta mãi ‘tiến về phía trước.’

Hãy suy gẫm về bất kỳ cám dỗ nào mà bạn đã chịu đựng và vượt qua, chỉ để lại rơi vào nó.  Đặc biệt, suy gẫm về tầm quan trọng của sự cảnh giác cần thiết, để không những kiềm chế không tái phạm tội cũ mà còn tiến tới trong sự thánh thiện và nhân đức.  Đừng quên, ma quỷ không bao giờ nương tay, nhưng Thiên Chúa lại càng không khoan nhượng trong lòng trắc ẩn và ân sủng của Ngài.  Hãy tiếp tục tiến bước để không bao giờ trượt ngã và tái phạm tội lỗi trước đây.

Anh Chị em,

“Hãy ra khỏi đứa bé, và không được nhập vào nó nữa!”  Sống trong một thế giới mà xem ra, thần dữ đang thống trị, Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta trở nên khiêm nhượng và hiền lành.  Khiêm nhượng không hệ tại ở việc hạ thấp bản thân, mà ở chỗ nhận ra thực tế tiềm năng cũng như sự khốn khổ của mình.  Bắt đầu từ sự khốn cùng của bản thân, sự khiêm tốn khiến chúng ta rời mắt khỏi chính mình để ‘tiến về phía trước,’ nghĩa là hướng mắt về Thiên Chúa, Đấng Khôn Ngoan, nguồn mạch khôn ngoan, như sách Huấn Ca hôm nay tiết lộ; cũng là Đấng có thể làm tất cả và thậm chí đạt được cho chúng ta những gì chúng ta không thể tự mình đạt được.  Chúa Giêsu từng nói, “Hãy đến với Tôi, tất cả những ai mang gánh nặng nề, Tôi sẽ bổ sức cho!”  Vậy, bạn và tôi đừng cậy sức mình, một cậy vào Ngài!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giúp con luôn ‘tiến về phía trước’ và không bao giờ lơ là trong hành trình đức tin của mình!”, Amen

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

NÊN THÁNH BẰNG YÊU THƯƠNG

Ngay từ thời đầu của Giáo Hội, những tín hữu Kitô đã được gọi là “các thánh.”  Chính Thánh Phaolô đã dùng danh xưng này để chỉ những người đã gia nhập Giáo Hội qua bí tích Thanh Tẩy.  Khi gọi họ là “các thánh,” chắc hẳn vị Tông đồ vừa muốn diễn tả đời sống tốt lành của các tín hữu, đồng thời muốn nhấn mạnh tới lý tưởng, mục tiêu mà các tín hữu phải đạt tới.  Kitô hữu là người đang cố gắng để thánh hóa bản thân, làm cho mình trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu Kitô, để rồi lời nói của chúng ta là lời của Chúa, việc làm của chúng ta là việc làm của Chúa, chúng ta hiện diện nơi đâu là có Chúa hiện diện ở đó.

Như vậy, nên thánh không phải chỉ là tình trạng thiên đàng sau khi chúng ta đã chết, mà là một quá trình biến đổi để hoàn thiện chính mình, để rồi ngay khi còn đang sống ở đời này, chúng ta đã được nếm hưởng hạnh phúc vĩnh cửu, qua việc được chiêm ngưỡng Chúa bằng đức tin và tình mến.  Nên thánh cũng không phải ảo tưởng hay giấc mơ về một thế giới xa vời, như để quên đi những đau khổ hiện tại.

Khái niệm nên thánh như đã nêu trên làm cho đời sống tín hữu không khô cứng, vô vị, nhưng luôn sống động và vươn lên không ngừng.  Người ước ao nên thánh là người muốn sống ngày hôm nay tốt hơn hôm qua, và ngày mai tốt hơn ngày hôm nay.  Họ không dừng lại ở một cuộc sống đơn điệu, nhưng luôn khám phá ra niềm vui của đức tin và sự tốt lành của Chúa.  Cuộc sống mà dừng lại sẽ giống như ao tù.  Con người không lý tưởng sẽ giống như ngõ cụt.  Họ không biết mình sống cho ai và để làm gì.

Nên thánh là một lệnh truyền của Thiên Chúa cho dân riêng của Ngài.  Lời Chúa phán với ông Môisen cho chúng ta thấy rõ: “Hãy nói với toàn thể con cái Israen: ‘Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ta là Đấng Thánh” (Bài đọc I).  Lý do của ơn gọi nên thánh là: vì Chúa là Đấng Thánh.  Ai muốn thuộc về Chúa thì phải nên giống như Ngài.  Thánh thiện chính là được san sẻ một phần vinh quang của Chúa, để rồi ngay khi sống ở trần gian, chúng ta đã tỏa sáng trong cuộc đời qua những cử chỉ tốt đẹp của mình đối với đồng loại.  Sau khi nhắc lại lệnh truyền nên thánh, tác giả sách Lêvi quảng diễn chi tiết về khái niệm thánh: đó là yêu thương anh chị em, đừng quở trách họ.  Không được trả thù, không được oán hận.  Trái lại phải yêu mến người khác như chính bản thân mình.

“Thương người như thể thương thân.”  Đó là nét đẹp truyền thống ngàn đời của người Việt Nam.  Nét đẹp này đã gặp gỡ lời dạy “Yêu đồng loại như chính mình” của Cựu Ước và còn hơn thế nữa, là lời dạy “yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đãi mình” của Tân Ước.  Để có thể yêu thương kẻ thù, mỗi người phải vượt lên chính mình, để chiến thắng thù hận và chấp nhận mọi thị phi.  Yêu thương kẻ thù là một nhân đức anh hùng, là bằng chứng của sự từ bỏ chính bản thân và là tình yêu thương ở mức tuyệt hảo.  Cầu nguyện cho kẻ ngược đãi mình, đó là bằng chứng của lòng bao dung và tha thứ trọn vẹn.

Nên thánh không dừng lại ở một khái niệm lý thuyết, nhưng phải được thể hiện cụ thể trong việc làm và lối sống.  Nên thánh trước mặt Chúa là có một lối sống ngay thẳng chân thành.  Tuy vậy, sự ngay thẳng chân thành ấy phải được kiểm chứng qua mối tương quan hằng ngày với tha nhân.  Một cách rất cụ thể, Chúa Giêsu nói đến luật yêu thương và những lời khuyên để đem luật đó vào cuộc sống.  Đức yêu thương Chúa Giêsu truyền dạy ưu việt hơn những lệnh truyền của Cựu Ước.  Vì vậy, Chúa nói: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng….  Còn Thầy, Thầy bảo anh em…”.  Qua những lời tuyên bố trên, Đức Giêsu chứng tỏ Người có sứ mạng kiện toàn lề luật.  Người dựa trên nền tảng Luật Cựu ước, đồng thời mặc cho Luật ấy một giá trị cao siêu hơn, hoàn hảo hơn.  Tình yêu thương Chúa dạy không chỉ được thực hiện nơi người đồng bào, người cùng phe cánh hay người làm ơn cho chúng ta mà thôi, nhưng là hết mọi người không phân biệt.  Luật mới của Chúa không chỉ bao gồm những điều cấm đoán, nhưng khuyên dạy làm những điều tích cực cho tha nhân.  Chính điều này làm cho lối sống của người tín hữu khác với những thực hành của những người thu thuế và người biệt phái.  Đối với người tín hữu, không có ai là kẻ thù hay người ngoại, vì hết thảy mọi người trên trái đất đều là anh chị em của cùng một Cha trên trời.  Mức độ thánh thiện của một người được lượng giá qua tình bác ái mà họ thực hiện đối với người xung quanh.  Một người sống khép kín, dửng dưng trước nỗi đau của người bên cạnh, không thể nên thánh.

Thánh thiện còn là nhận ra phẩm giá cao quý của mình trong cuộc đời này.  Mỗi người chúng ta không hiện hữu như một đồ vật vô tri vô giác, nhưng là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần (Bài đọc II).  Biết được phẩm giá của mình để tôn trọng thân xác và trau dồi bản thân trong những lãnh vực khác nhau.  Chỉ những ai biết yêu mến trân trọng bản thân mình, thì mới có thể yêu mến trân trọng tha nhân.  Tác giả thư gửi giáo dân Côrinhtô cũng chỉ rõ đâu là điều quan trọng đích thực mà chúng ta tìm kiếm: đó là Đức Kitô.  Người là lý tưởng và mẫu mực cho chúng ta trong hành trình nên thánh.  Một khi quy hướng về Đức Kitô, sẽ không còn chia rẽ và ganh tỵ bè phái như thực trạng của cộng đoàn Côrinhtô lúc bấy giờ, tức là người thì cho mình thuộc về Phaolô, người thì thuộc Apôlô, người thì thuộc Kêpha.

Nên thánh bằng yêu thương.  Đó là thông điệp mà Lời Chúa muốn thông truyền cho chúng ta.  Hai ngàn năm nay, Giáo Hội đã thực hiện lời mời gọi của Chúa, cổ võ tình yêu thương, phá bỏ những ngăn cách, hòa giải những bất hòa và nâng đỡ người bé mọn.  Chúng ta mỗi người đều là chi thể của Giáo Hội, chúng ta có ý thức được lời mời gọi nên thánh qua việc thực thi đức yêu thương không?

“Ai không có sức mạnh để tha thứ, cũng không có sức mạnh để yêu thương” (Martin Luther King Jr.).

TGM Giuse Vũ Văn Thiên