HIỂU VÀ SỐNG MÙA VỌNG

Năm Phụng vụ bắt đầu với Mùa Vọng, chuẩn bị chúng ta mừng đại lễ Giáng Sinh, một lễ tưng bừng nhất trong năm, xét về mặt xã hội, không những trong đạo mà cả “ngoài đời” nữa.  Tôi luôn luôn biết ơn và cảm phục Giáo Hội, người mẹ hiền của chúng ta.  Giáo Hội thật khôn ngoan, biết rõ lòng người.  Con người có nhu cầu vui chơi và mừng lễ.  Trong đời sống xã hội có biết bao nhiêu là ngày lễ, biết bao nhiêu mùa lễ và cao điểm.

Và ai cũng biết: các ngày lễ, các mùa lễ như thế không chỉ có mục đích giải trí, vui chơi mà thôi.  Trong năm Phụng Vụ, Giáo Hội cũng cho ta sống nhiều mùa đại lễ, nhiều cao điểm Phụng vụ, để bồi dưỡng tinh thần chúng ta, giúp ta sống bởi sự sống của Thiên Chúa cách dồi dào, phong phú hơn.  Đức Kitô tự ví mình như cây nho và chúng ta là cành.  Cây nho này lại phải nẩy sinh thêm những cành mới, lại phải trở nên xanh tươi và sinh hoa kết quả qua các mùa Phụng vụ: Mùa Vọng và Giáng sinh, Mùa Chay và Phục sinh, rồi đến Mùa Thường niên.

Năm Phụng Vụ nhắc lại lịch sử Dân Chúa trong Cựu ước hoặc làm sống lại những biến cố lớn trong cuộc đời Chúa Giêsu, hoặc gợi lại gương sáng của Đức Mẹ và các thánh, nhưng đó không phải là do lòng sùng bái quá khứ, thích thú những chuyện đã qua rồi.  Điều Phụng Vụ nhắm tới không phải là quá khứ nhưng là hiện tại, là đời sống ân sủng của chúng ta hôm nay.  Bốn mùa xuân, hạ, thu, đông nối tiếp nhau không phải chỉ là lặp lại y nguyên một vòng tròn, song là điều kiện cho con người trưởng thành và sung mãn.  Cũng vậy, người Kitô hữu phải chờ đợi nơi năm Phụng Vụ sự sống của Chúa ngày càng dồi dào hơn trong mình, sự sống mà họ đã nhận lãnh như một mầm mống trong Bí tích Thánh Tẩy.

Các mùa Phụng Vụ đều nhắm cùng một mục đích như nhau nhưng theo những cách thức khác nhau, cũng như tứ thời bát tiết đều là những mùa của trời đất xoay vần song không giống nhau.  Vậy Mùa Vọng có gì đặc trưng?  Chúng ta cử hành gì trong mùa này?

Một Chút Lịch Sử.

Cho đến thế kỷ thứ IV, Giáo Hội Tây phương mừng một đại lễ duy nhất là lễ Phục Sinh.  Tất nhiên là có một số lễ khác song tất cả đều qui về Phục Sinh và không bao giờ long trọng bằng Phục Sinh.  Đến thế kỷ thứ IV, Tây phương mới bắt đầu mừng lễ Chúa Giáng sinh vào ngày 25 tháng 12.  Theo thời tiết, thì đó là kỳ đông chí, lúc mà đêm ngắn lại và ngày bắt đầu dài thêm.  Vào dịp này, người ngoại giáo cử hành lễ mừng Ánh sáng.  Giáo Hội đã đặt lễ Giáng sinh vào đúng ngày đó để công bố rằng chính Đức Giêsu Kitô mới thực là Ánh sáng, là Mặt trời soi sáng thế gian.

Nhưng lúc đầu Giáng sinh cũng chỉ là lễ thường thôi.  Mãi đến thế kỷ thứ VI mới trở thành một đại lễ, và cũng kể từ đó, người ta mới tổ chức một thời gian chuẩn bị tương đương với Mùa Chay trước Phục sinh, và được gọi là mùa Adventô tức là Mùa Vọng như ta quen gọi ngày nay.  Năm Phụng Vụ được tổ chức thành 2 chu kỳ xoay quanh 2 trung tâm là Phục sinh và Giáng sinh.  Chu kỳ Giáng Sinh vươn lên từ đêm tối đến ánh sáng (như mùa đông qua mùa xuân) còn Phục Sinh thì đầm đìa trong ánh sáng chan hòa.

Tinh thần và Ý Nghĩa của Mùa Vọng.

Vọng là trông mong.  Trong thời gian Mùa Vọng, Giáo Hội muốn chúng ta sống mãnh liệt hơn tâm tình khát mong Chúa đến.  Nhưng Chúa đến lúc nào?  Ta biết Chúa đã đến cách nay 2000 năm, trong thận phận làm người.  Mùa Vọng có mục đích đầu tiên là chuẩn bị tâm hồn ta mừng lễ Giáng sinh, tức là kỷ niệm biến cố Ngôi Hai xuống thế làm người tại Bêlem xưa.  Nhưng ta cũng tuyên xưng Người sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét thế gian và hoàn thành công cuộc cứu độ không những đối với loài người mà còn đối với toàn thể vũ trụ nữa.

Mùa Vọng mời gọi chúng ta sống tích cực hướng về ngày đó mà giáo lý quen gọi là ngày cánh chung.  Giữa hai lần Chúa đến ấy, còn có thể nói tới một lần nữa, đó là cuộc Chúa ngự đến cách nhiệm mầu trong tâm hồn chúng ta bằng ân sủng, như lời Kinh thánh: “Ai yêu mến Ta, thì Cha Ta sẽ yêu mến người ấy và chúng ta sẽ cư ngụ trong người ấy.”  Như vậy Mùa Vọng cử hành ba cuộc ngự đến.  Cần nhớ tới cả ba nếu chúng ta muốn hiểu rõ nội dung của các bản văn Kinh thánh và Phụng vụ của mùa này và có được những tâm tình thích hợp.  Hồng Y Newman đã viết: “Trong linh đạo Mùa Vọng, Đức Kitô xuất hiện như một người đã có mặt đó rồi, và đồng thời vẫn không ngừng được chờ mong.  Và Kitô hữu sống linh đạo này như một người chờ đợi Đức Kitô.”

Có thể nói chúng ta càng sống càng tiến về phía trước.  Mùa Vọng đến nhắc nhở chúng ta rằng cuộc đời ta còn dang dở và quê hương thật của ta ở trên trời.  Mùa Vọng mời gọi ta nhổ trại lên đường tiến về Ngày của Chúa, ngày Chúa đến làm cho cuộc đời chúng ta cũng như toàn thể lịch sử nên sung mãn.  Chính ngày đó đem lại cho cuộc sống hiện tại một hướng đi và một ý nghĩa cao cả.  Vì thế nỗi chờ mong của ta cũng là một niềm hy vọng.  Chúng ta chờ đợi với sự tin tưởng và nôn nóng như người vợ hiền chờ đợi người chồng mà bà đã biết, mà bà yêu mến và được yêu mến.  “Đức Kitô về trời mang theo trái tim của Hội thánh.  Tất cả đời sống của Hội thánh chỉ là một hành vi khao khát, hy vọng, cầu nguyện và đợi chờ” (Jean Daniélou).  Lời cầu nguyện kết thúc toàn bộ Kinh thánh mà thánh Gioan Tông đồ đã đặt vào miệng Giáo Hội đang bị bách hại là: Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến !

Ba Thái Độ Sống Cụ Thể.

Theo tinh thần Mùa Vọng, sống hướng về ngày Chúa đến có thể được diễn tả trong ba thái độ cụ thể.  Trước tiên là tương đối hóa hiện tại.  Mọi giá trị ở đời này như của cải, danh vọng, tình yêu, gia đình, khoa học, kỹ thuật, văn hóa v.v… là những điều tốt lành mà chúng ta phải ra sức thực hiện theo thánh ý của Chúa trong hoàn cảnh sống cụ thể của mình, nhưng đó chưa phải là những cái tuyệt đối đáng cho ta coi là mục đích phải gắn bó và đeo đuổi với bất cứ giá nào.  Trái lại, chúng chỉ tìm được trọn vẹn giá trị khi đối chiếu với cùng đích tối hậu, đích thực của đời ta.

Thái độ sống này làm cho ta nên khôn ngoan, sáng suốt, chừng mực và tự do.  Sống hướng về ngày Chúa đến còn đòi hỏi nơi ta một thái độ thứ hai là phải cương quyết chống lại tội lỗi và sự ác nơi mình và chung quanh mình, nơi gia đình và trong xã hội.  Đó là dọn đường cho Chúa ngự đến, như chúng ta thường hát trong Mùa Vọng theo lời Kinh Thánh: “Quanh co uốn cho ngay, Gồ ghề san cho phẳng, Hố sâu lấp cho đầy, Nơi cao phải bạt xuống.”

Sau hết, sống hướng về ngày Chúa đến buộc ta phải tỉnh thức và luôn luôn sẵn sàng như người tôi trung: hết lòng với nhiệm vụ được trao phó, tận dụng mọi khả năng của mình để hoàn thành mọi việc theo ý chủ nhà hiện đang vắng mặt và mau mắn mở cửa đón chủ về bất cứ lúc nào.

Lm. Nguyễn Hồng Giáo OFM – Viết theo J. Daniélou:Le Mystère de l’Avent, Paris 1948

ĐỪNG ẢO TƯỞNG

Vào dịp cuối năm, Lu-xi-phe triệu tập đại hội đồng quỷ sứ để kiểm điểm tình hình hoạt động suốt năm qua.

Quỷ già, quỷ cái, quỷ con đều họp mặt đông đủ và báo cáo cho Quỷ Vương Lu-xi-phe biết tình hình cám dỗ của toàn bầy quỷ sứ.  Nói chung, hoạt động cám dỗ không đạt kết quả như chỉ tiêu đã đề ra và tỉ số người phải xuống hoả ngục xem ra không gia tăng đáng kể.

Vì thế, khi bước qua phần hai của chương trình thảo luận, Quỷ Vương Lu-xi-phe kêu gọi hội đồng quỷ hãy đề ra những chiêu thức cám dỗ hữu hiệu hơn, liệu sao để lôi kéo được nhiều linh hồn sa hoả ngục hơn.  Các quỷ tham gia tranh luận sôi nổi, bày ra nhiều mưu chước nhằm làm cho loài người sa vòng tội lỗi.  Ý kiến thì nhiều, nhưng chỉ nêu ra đây một số ý kiến tiêu biểu.  Có quỷ đề nghị hãy cám dỗ các bạn trẻ rằng: “Không có Thiên Chúa, không có thiên đàng hoả ngục.  Thiên đàng là ảo tưởng do Giáo Hội bày ra để dụ khị loài người; hoả ngục chỉ là sản phẩm do Cha Cố thêu dệt để hù dọa những người yếu bóng vía.  Đừng dại dột tin vào Thiên Chúa, vào sự sống đời sau mà phí cả cuộc đời!”  Mưu chước nầy cũng chưa thuyết phục nên không được đa số chấp nhận.  Có quỷ thì hiến kế nên thuyết phục người ta biết rằng Đức Giêsu chỉ là hạng phàm phu tục tử, Phúc Âm của Ngài gồm toàn những chuyện bịa đặt viển vông…” nhưng rồi ý kiến nầy cũng không được hưởng ứng.

Cuối cùng có lão quỷ già có tiếng là đa mưu túc kế lên tiếng: “Theo tôi, chúng ta nên cám dỗ thế nầy: “có Thiên Chúa, có thiên đàng hoả ngục, có linh hồn, có sự sống đời sau… (mình phải nói như vậy để người ta tin mình đã, rồi ta sẽ thêm) nhưng bạn hãy nhớ rằng: Đời bạn còn dài mà, bạn chưa chết đâu!  Vậy hãy vui hưởng lạc thú đời nầy đi!  Đợi đến khi già yếu rồi ăn năn sám hối cũng chưa muộn.”

Một tràng pháo tay giòn vang tán thưởng diệu kế của lão quỷ già thâm độc.  Thế là hội nghị nhất trí với phương thức cám dỗ được xem là sẽ rất kiến hiệu của lão quỷ già đa mưu.

********************

Hiện nay, hầu như mọi người đều tin theo lời cám dỗ độc hại ấy.  Ai cũng tin rằng đời mình còn dài, chưa đến lúc phải ăn năn hối cải.  Ngày mai, ngày mốt, ngày kia, ta sẽ sám hối, sẽ cải thiện cuộc đời, còn hôm nay, thì…

Qua bài trích thư gởi tín hữu Rô-ma trích đọc hôm nay (Rm 13, 11-14) thánh Phaolô kêu gọi chúng ta hãy mau quay về với Chúa, hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, đừng mơ tưởng đời còn dài rồi cứ đắm mình trong lạc thú:  “Đêm sắp tàn, ngày gần đến.  Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu.  Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương.  Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng.”

Và Lời Chúa trong Tin Mừng cũng kêu gọi chúng ta hãy tỉnh thức vì giờ Chúa đến thật bất ngờ; vì như “Thời ông Nô-ê thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy.  Vì trong những ngày trước nạn hồng thuỷ, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu.  Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thuỷ ập tới cuốn đi hết thảy.  Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy.”

“Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến.  Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu.  Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.”

Nếu hôm nay, lúc còn an bình khoẻ mạnh, ta không tưởng gì đến Chúa; đợi đến lúc lâm nguy rồi mới chạy đến với Ngài thì chúng ta xem Chúa có khác gì chiếc phao.  Bình thường khi trời quang mây tạnh, mọi sự an lành thì không ai thèm ngó lại chiếc phao, xem nó như cái gì thừa thãi vô tích sự, có thấy nó nằm giữa lối đi thì người ta cũng đá nó sang một bên, không ai thèm đoái hoài.  Nhưng khi gặp phong ba bão táp, nguy khốn đến nơi thì tranh nhau giành lấy phao cho bằng được!

Lạy Chúa, Chúa là Chúa Tể quyền năng, là Thiên Chúa tối cao mà chúng con phải phụng thờ suốt đời, ngay cả bây giờ, chứ không phải là chiếc phao cứu mạng chỉ cần dùng lúc gặp gian nguy khốn khó.  Xin cho chúng con đừng khờ khạo tin rằng đời còn dài, hãy tận hưởng đời và mê đắm trong tội mà lãng quên phần rỗi đời đời của chúng con.

Lm Ignatiô Trần Ngà

LỜI KINH TẠ ƠN

Thông thường khi ta muốn cám ơn ai cách đặc biệt, ta thường mang theo món quà thường gọi là tạ ơn.  Món quà nhỏ hay lớn tùy theo điều ta được đón nhận, hoặc có khi vì quá thân thiết không khách sáo ta đến với tấm lòng tri ân là đủ.  Khi ta tạ ơn Chúa Cha, ta được mời gọi thông hiệp vào hy lễ của Chúa Giêsu, là hy lễ tạ ơn vẹn toàn.

Tạ ơn có một ý nghĩa đặc biệt trong phụng vụ Kitô giáo.  Lời tạ ơn này bắt nguồn từ việc kính nhớ Con Chúa chịu chết và sống lại.  Khi Chúa Cha ban cho nhân loại Chúa Con là Đấng Cứu Thế, như Phúc Âm Thánh Gioan viết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.  Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.” (Ga 3, 16 – 17).  Quà tặng Chúa Cha ban cho nhân loại không phải là món quà tinh thần hay vật chất mà là chính Người Con của Chúa Cha.  Một Người Con đầy quyền năng đã vâng phục Cha hoàn toàn như Thánh Phaolô tuyên xưng: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.” (Pl 2, 6 – 7).

Quà tặng Chúa Cha ban cho nhân loại là một Thiên Chúa làm người ở giữa nhân loại.  Người là Đấng vô tội đã mang lấy tội lỗi của nhân loại và chết cho tội lỗi nhân loại.  Qua sự chết của Người mà nhân loại được giải thoát khỏi tội, khỏi sự chết.  Thánh Phaolô viết: “Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5, 8).

Ơn đặc biệt nhân loại được nhận, đó là được cứu thoát khỏi tội, khỏi sự chết nhờ Chúa Giêsu chịu chết và sống lại.  Ta có thể dâng gì để tạ ơn Chúa Cha, nếu không phải là ta được mời gọi thông hiệp hy sinh nhỏ bé của ta vào trong hy lễ vẹn toàn của Chúa Giêsu.  Kinh nguyện Tạ Ơn II dâng lên: “Vì vậy, lạy Chúa, khi kính nhớ Con Chúa chịu chết và sống lại, chúng con dâng lên Chúa bánh trường sinh và chén cứu độ để tạ ơn Chúa, vì Chúa đã thương cho chúng con được xứng đáng hầu cận trước Tôn Nhan và phụng sự Chúa.”  Không phải vì ta được xứng đáng tạ ơn Chúa Cha, mà vì Chúa Cha đã thương cho ta được thông hiệp cùng Chúa Con dâng lên Chúa Cha lời tạ ơn thanh sạch, trang trọng, vẹn toàn nhất.

Tạ ơn không phải là mang theo món quà vật chất mà tạ ơn bằng chính đời sống “Này con xin đến để thi hành theo ý Chúa.”  Của lễ tạ ơn, Chúa không đòi ta đổ máu hy sinh cho bằng vâng theo ý Chúa qua đời sống hằng ngày vì khi tạ ơn, kinh nguyện đã thưa: “Chúng con tha thiết nài xin Chúa cho chúng con khi thông phần Mình và Máu Ðức Ki-tô, được quy tụ nên một nhờ Chúa Thánh Thần.”

Thánh Phaolô viết: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Chúa Kitô ư?  Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao?  Bởi vì chỉ có một Tấm Bánh và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể (1 Cor 10, 16 – 17).

Lời kinh tạ ơn dâng lên Chúa Cha chỉ trong Chúa Giêsu Kitô nhờ Chúa Thánh Thần mà ta được xứng đáng.  Khi ta dự lễ ta hãy sống với hết tâm tình nguyện dâng: “Vì vậy, lạy Chúa, khi kính nhớ Con Chúa chịu chết và sống lại, chúng con dâng lên Chúa bánh trường sinh và chén cứu độ để tạ ơn Chúa, vì Chúa đã thương cho chúng con được xứng đáng hầu cận trước Tôn Nhan và phụng sự Chúa.  Chúng con tha thiết nài xin Chúa cho chúng con khi thông phần Mình và Máu Ðức Ki-tô, được quy tụ nên một nhờ Chúa Thánh Thần.”

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

TẠI SAO THÁNH CECILIA TRỞ THÀNH BỔN MẠNG CỦA CÁC NHẠC SĨ?

Được mừng lễ vào ngày 22 tháng 11, Thánh Cecilia, vị thánh bổn mạng của các nhạc sĩ, đã được tôn kính ở Rôma từ cuối thế kỷ thứ V.  Việc tôn kính ngài dường như đã lan rộng ở vùng Albigeois từ đầu thời Trung cổ.  Vị thánh được các Kitô hữu cầu khấn và là thánh bổn mạng của Nhà thờ chánh tòa Albi này là ai?

Câu chuyện về cuộc đời của Cecilia được mượn từ cuốn Các Cuộc Thương Khó tập hợp cuộc đời của các vị tử đạo trong các thế kỷ đầu tiên.  Người ta lấy cảm hứng từ đó cho các vị thánh mà người ta mong muốn tôn vinh.  Jacques de Voragine, giám mục của Genoa, Dòng Đa Minh, đã mượn cho cuốn Légende dorée của mình (khoảng 1261-1266) từ truyện thánh Cecilia (khoảng 500).

Thánh Cecilia hẳn đã sống vào khoảng đầu từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 3, và đã chết vì đạo vào khoảng năm 223.  Thuộc gia đình quý tộc lừng danh Caecilii, được lớn lên trong đức tin Kitô giáo, thánh nữ, ngay từ khi còn rất trẻ, đã quyết định dâng hiến đời mình cho Chúa và tuyên khấn đồng trinh.  Bị buộc phải kết hôn với Valêriô, thánh nữ thuyết phục anh tôn trọng sự trong trắng của mình và hoán cải anh sang Kitô giáo.

Tiburce, em trai của Valêriô, cũng trở lại và hai anh em từ chối hiến tế các vị thần.  Họ làm việc để chôn cất các vị tử đạo, bị hành quyết vì đức tin Kitô giáo của họ.  Hai anh em bị tố cáo và chặt đầu.  Khi họ qua đời, Thánh Cecilia tiếp tục loan báo Tin Mừng và cải đạo cho những người ngoại giáo, cho đến ngày thánh nữ bị bắt, bị kết án tử hình rồi bị chặt đầu.  Sau ba nhát rìu, Thánh Cecilia vẫn sống, nhưng vì luật cấm đánh quá ba nhát trong một cuộc hành quyết nên người ta đã để cho ngài hấp hối trong ba ngày.

Nhà thờ đầu tiên dưới sự bảo trợ của thánh nữ

Theo truyền thuyết, thánh nữ phân phát tất cả tài sản của mình cho người nghèo và giới thiệu với Đức Giám mục Urbain tất cả những tín hữu mà thánh nữ đã cải đạo, và đồng thời nói rằng: “Con đã cầu xin Chúa cho ba ngày trì hoãn này để khuyên Đức Cha lần cuối và để xin Đức Cha cung hiến một nhà thờ trên địa điểm ngôi nhà mà con qua đời.

Hài cốt của thánh nữ, được tìm thấy vào năm 821 trong hầm mộ Thánh Callixtô, đã được chuyển đến Trastevere, một quận của Rôma, nơi mà theo mong muốn của ngài, một nhà thờ đã được xây dựng để đón nhận lăng mộ của ngài.  Nhà thờ này vẫn còn tồn tại, đó là nhà thờ Sainte-Cécile-du-Trastevere.  Trong cuộc khai quật phục hồi năm 1599, thi thể được tìm thấy nguyên vẹn.  Sự kiện này đã góp phần tạo nên danh tiếng cho ngài.

Tại sao ngài là thánh bổn mạng của các nhạc sĩ?

Nguồn gốc của việc ngài là thánh bổn mạng của các nhạc sĩ xuất phát từ một điệp khúc được sáng tác vào thời Trung Cổ cho phụng vụ mừng lễ ngài mà, do giải thích sai, đã khiến người ta nghĩ rằng ngài là một nhạc sĩ.  Việc phổ cập sự bảo trợ của các vị thánh, những biến đổi sâu sắc về lý thuyết, sáng tác và thực hành âm nhạc sẽ làm phần còn lại, đến mức từ hậu bán thế kỷ 16, Thánh Cecilia đã trở thành vị thánh bảo trợ không thể tranh cãi của âm nhạc và các nhạc sĩ.  Nhiều ban nhạc kèn đồng ở Pháp cho đến ngày nay vẫn được đặt dưới sự bảo trợ của thánh nữ.

Việc sùng kính Thánh Cecilia ở Albi

Việc sùng kính Thánh Cecilia hẳn đã được đưa vào Albi bởi những người Wisigoths từ Rôma đến Gaule narbonnaise vào năm 413, phụng vụ của họ dành một vị trí đáng chú ý cho việc sùng kính Thánh Cecilia.

Sự hiện diện của thánh tích của Thánh Cecilia ở Albi được chứng thực lần đầu tiên vào khoảng năm 1130 – hài cốt và vải lanh liên quan đến thân xác của ngài.  Năm 1468, thánh tích mới được Đức Giáo hoàng Phaolô II trao tặng cho Đức Hồng y Jean Jouffroy, Giám mục giáo phận Albi lúc bấy giờ.  Những thánh tích này – xương quay của cánh tay trái và hàm dưới của thánh nữ, một mảnh vải tạo thành một phần trang phục của ngài, một mảnh vải liệm được Thánh Giáo hoàng Urbain I quấn quanh thi thể của ngài – được bảo quản trong một hòm thánh tích được thực hiện vào năm 1887.  Hòm thánh tích này vẫn còn được rước trong thánh lễ Thánh Cecilia, vào ngày Chúa nhật gần nhất với ngày 22 tháng 11.

Geneviève Pasquier
Chuyển ngữ: Tý Linh
Theo: La Croix

TÊN TRỘM VÀ NGƯỜI CHỦNG  SINH

Tập san Catholic Digest có mục thường xuyên được gọi là “The Open Door” (Cửa Rộng Mở). Trong mục này thường có hai hay ba câu chuyện do độc giả gởi đến. Những câu chuyện này kể lại sự hoán cải trở lại đạo Công Giáo của độc giả.

Có một câu chuyện thật cảm động về chàng thanh niên lớn lên trong một gia đình Công Giáo, từng tích cực hoạt động trong Giáo Hội, và sau đó gia nhập chủng viện.

Rồi đến những năm đầy xáo trộn thời chiến tranh Việt Nam. Trong thời gian này, ba sinh viên ở một đại học Ohio bị giết trong lúc biểu tình phản đối chiến tranh. Những cuộc dấy loạn về sắc tộc như xé nát nhiều thành phố trong nước Mỹ. Các nhà lãnh đạo quốc gia bị ám sát. Mọi sự bỗng dưng trở nên rời rạc.

Chàng thanh niên này rời chủng viện, tham gia phong trào chống chiến tranh, từ bỏ Giáo Hội, và chế nhạo đức tin mà trước đây anh từng ấp ủ.

Gia đình anh bàng hoàng vì sự thay đổi này. Và khi thái độ của anh ngày càng thù nghịch với tôn giáo, họ đã hoàn toàn tuyệt vọng.

Sau đó là Tuần Thánh và trong Thứ Sáu Tuần Thánh năm 1970, chàng thành niên, lúc ấy 22 tuổi, lái xe ngang qua một nhà thờ Công Giáo. Anh nhận ra tên của cha xứ trên tấm bảng trước nhà thờ. Đó là vị linh mục anh rất kính trọng. Điều gì đó đã thúc đẩy anh dừng xe và đi vào nhà thờ.

Khi bước vào cửa, nghi thức Tôn Kính Thánh Giá bắt đầu. Anh ngồi ở hàng ghế cuối cùng. Anh theo dõi dân chúng xếp hàng lên hôn thánh giá, trong khi ca đoàn hát bài “Were You There When They Crucified My Lord?” (Bạn có ở đó khi họ đóng đinh Chúa không?)

Và rồi điều gì đó thật lạ lùng đã xảy ra. Anh viết:

“Trong con người tôi, điều gì đó đột ngột xảy ra và tôi bắt đầu khóc. Sau khi dằn được xúc động, tôi nhớ lại sự bình an mà từ lâu tôi đã bỏ lại nơi nhà thờ. Đức tin đơn sơ mà giờ đây tôi đang chứng kiến thì dường như có ý nghĩa hơn là điều tôi tuyên xưng. Tôi bước ra khỏi ghế và quỳ xuống hôn Thánh Giá. Vị linh mục nhận ra tôi, ngài đến ôm lấy tôi.”

“Từ ngày đó trở đi,” anh cho biết, “tôi trở nên một người Công Giáo tái sinh.”

Anh kết thúc với nhận xét sau: “Tại sao tôi dừng xe ở nhà thờ đó vào ngày hôm ấy, cho đến giờ tôi vẫn không hiểu, nhưng tôi biết rằng tôi thật sung sướng với các kết quả.”

****************

Tôi thích câu chuyện này vì nó thích hợp với các bài đọc trong ngày lễ “Chúa Giêsu là Vua” hôm nay.

Vì bài Phúc Âm diễn tả một thanh niên vô tôn giáo cách đây hai ngàn năm, Anh là một tên trộm cướp, với đầy giận dữ trong lòng nhưng anh đã hoàn toàn thay đổi cuộc đời vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh đầu tiên ấy.

Và điều thay đổi cuộc đời của người thanh niên này cách đây hơn hai ngàn năm cũng chính là điều thay đổi anh chủng sinh trong câu chuyện trên đây.  Đó chính là việc đóng đinh Đức Kitô.

Và điều mà Đức Kitô trên thập giá đã nói với người trộm thì Người cũng nói với anh chủng sinh: “Ta hứa với con là hôm nay con sẽ ở với Ta trên thiên đàng.”

Thật khó có bài đọc nào thích hợp hơn để kết thúc năm phụng vụ.  Bài đọc đã tóm lược lý do tại sao Chúa Giêsu đến trong thế gian.  Chính là để tha thứ cho tội nhân, như tên trộm-và như anh chủng sinh.

Và điều này đưa chúng ta đến việc áp dụng tất cả những điều này vào thực tế đời sống chúng ta.  Đó là:

–  Điều Chúa Giêsu đã làm cho người trộm lành và anh chủng sinh, Người cũng muốn làm cho mỗi người chúng ta.

–  Người muốn tha thứ tội lỗi chúng ta, bất kể có to lớn đến đâu và lâu đời đến đâu.

–  Người muốn nói với chúng ta điều mà Người đã nói với tên trộm và anh chủng sinh:
Ta hứa với con là hôm nay con sẽ ở với Ta trên thiên đàng.”

Đây là tin mừng khiến chúng ta quy tụ nơi đây để mừng lễ Chúa Kitô Vua.

Đây là tin mừng mà Chúa Giêsu muốn đi vào cuộc đời chúng ta và thi hành cho chúng ta điều mà Người đã làm cho tên trộm và anh chủng sinh.

Đây cũng là tin mừng mà Thánh Phaolô đã diễn tả  trong bài đọc thứ hai của Chúa Nhật hôm nay:

[Thiên Chúa] đã cứu chúng ta khỏi quyền lực tối tăm và đưa chúng ta một cách bình an đến vương quốc của Con yêu dấu của Người, mà nhờ Người chúng ta được tự do, đó là, chúng ta được tha thứ mọi tội lỗi.

LM. Mark Link, S.J.

ĐÓI GIÊSU

“Vì Người sắp đi qua đó!”

“Của cải có thể khiến một người nghèo trở nên giàu; nhưng một trái tim đói khiến một người giàu trở nên nghèo!” – Benjamin Franklin.

Kính thưa Anh Chị em,

Câu nói của Franklin được chứng thực qua Tin Mừng hôm nay.  Giàu sang không làm Giakêu hạnh phúc; quyền lực không khiến ông được tôn trọng.  Trong sâu thẳm, ông mang một ‘cơn đói không tên,’ không gì lấp đầy – ‘đói Giêsu!’

Chức vụ trưởng quan thuế đem lại cho ông nhiều thứ, nhưng lại lấy đi những gì cần thiết nhất: ánh mắt chấp nhận, lời gọi yêu thương, sự nâng đỡ của một người hiểu tận lòng mình.  Nghe Chúa Giêsu sắp đi qua, cơn đói ấy trỗi dậy mãnh liệt.  Ông chạy lên trước, leo lên một cây sung, “vì Người sắp đi qua đó!”  Không chỉ leo lên một cành cây; ông leo lên nỗi trống rỗng của mình.  Khi trái tim đã ‘đói Giêsu,’ nó sẽ làm những điều không giống ai để chạm Ngài; mọi trái tim thiếu thốn đều tìm một ‘nơi cao’ để không nghẹt thở.  “Nghèo khó khủng khiếp nhất là cô đơn và cảm giác không được yêu thương!” – Mẹ Têrêxa.

Và rồi khoảnh khắc ấy đến.  Chúa Giêsu dừng lại.  Một trái tim đói gặp một Trái Tim biết mọi cơn đói của nhân loại.  Ánh mắt Ngài không chỉ nhìn Giakêu; nó như muốn nói, “Ta biết con đang đói một Ai đó đến mức nào!”  Rồi Ngài gọi, “Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay, tôi phải ở lại nhà ông!”  Điều kỳ diệu xảy ra!  “Khi ai đó thật sự lắng nghe bạn, điều ấy giống như một phép lạ!” – Carl Rogers.  Giakêu lập tức tụt xuống – như một cuộc thoát xác.  Khi một trái tim chạm vào tình yêu thật, nó không còn tính toán: Giakêu cho đi một nửa tài sản, đền bù gấp bốn cho ai đã thiệt hại.  Sự quảng đại – đúng hơn, hoán cải – bất ngờ chỉ có thể diễn ra khi một người đã được Ai đó chạm đến tận sâu thẳm linh hồn mình.

Hình ảnh Giakêu phản chiếu hình ảnh cụ già Êlêazarô, người có một cơn đói tương tự – đói sự thánh khiết, đói trung tín – bài đọc một.  Cụ không thoả hiệp chỉ để giữ mạng sống; nhưng chọn sống chân thật trước mặt Chúa, cả khi trả giá đắt.  Ai biết mình đói, và sống thật với cơn đói ấy, sẽ tìm được tự do.  Thật ý nghĩa, “Có Chúa nâng đỡ tôi!” – Thánh Vịnh đáp ca – Chúa luôn nâng đỡ những ai nhận mình yếu đuối, thiếu thốn.  “Sức mạnh thật sự đến từ việc ôm lấy chính sự yếu đuối của mình!” – Paulo Coelho.

Anh Chị em,

Hôm nay, Chúa Giêsu đi ngang qua linh hồn chúng ta, Ngài cảm nhận điều gì?  Ngài có tìm thấy trong bạn và tôi một trái tim biết mình nghèo, cần Ngài – nói cách khác, một trái tim ‘đói Giêsu?’  Mỗi ngày, Chúa vẫn “đi qua đó”: qua Lời, qua Thánh Thể, qua những con người.  Nếu chúng ta dám ‘leo lên’ khỏi những bận rộn, vỏ bọc, hay cái tôi cồng kềnh – như Giakêu – có lẽ bạn và tôi cũng sẽ nghe những gì Ngài nói, “Hôm nay, Ta phải ở lại nhà con!”  Và khi ấy, không chỉ trái tim chúng ta được no thoả, nhưng chính Ngài – Đấng từng nói “Ta khát” – cũng được no thoả. “Sự hiện diện thật sự nuôi dưỡng cả người trao và người nhận!” – Parker Palmer.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con đói một điều chi ngoài Chúa.  Hãy đến với con và con cũng tạo nên một sự khác biệt – hoán cải!” Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

TỬ ĐẠO, MỘT CHỌN LỰA CỦA LÒNG TIN

Hôm nay, chúng ta hân hoan cùng với toàn thể Giáo Hội Việt Nam mừng kính trọng thể lễ các thánh Tử Đạo tại Việt Nam.  Đây là một ngày vui mừng chung của tất cả chúng ta, những Kitô hữu mang trong mình dòng máu con Rồng, cháu Tiên.  Cách đây gần 400 năm, hay đúng hơn từ lễ Phục sinh năm 1615, khi cha Bugiơmi, dòng Tên, người Ý dâng thánh lễ đầu tiên tại Hội An, Đà Nẵng bây giờ, đạo Công giáo đã được chính thức khai nguyên và lập cơ sở ở Việt Nam.  Hạt giống Tin mừng đã được gieo vãi trên mảnh đất hình chữ “S” thân yêu này.  Cha ông chúng ta những con người có tâm hồn hiền hậu, chất phác đã đón nhận và sẵn sàng dùng chính mạng sống mình để làm chứng cho Tin mừng đó.

Thật vậy, “Tử Đạo” theo nguyên ngữ là “Martyr” có nghĩa là “làm chứng.”  Vậy thì việc cha ông chúng ta, từng lớp lớp người sẵn sàng bỏ tất cả vinh hoa, phú quý, vợ con để chết đi làm chứng điều gì?  Chắc chắn việc các ngài sẵn sàng chết không phải vì các ngài không muốn sống, nhưng là để làm chứng rằng, sự sống nơi trần thế này không phải là tuyệt đối, và mọi vinh dự ở đời này không phải là vĩnh cửu.  Với cái chết của mình, cha ông chúng ta đã cho thấy rằng: chết chưa phải là hết, nhưng là cửa ngõ để đi vào một đời sống vĩnh cửu đúng như tâm thức từ bao đời nay trong lòng người dân Việt: “sống gởi, thác về.”  Và chính dòng máu nóng của các ngài đổ ra trên mảnh đất này, đã làm phát sinh một Giáo Hội Việt Nam hôm nay, như lời Đức Kitô: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình, còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.”

a. Chọn lựa của dân Do thái:

Tuy nhiên, để có thể sẵn sàng đổ máu để làm chứng cho Tin mừng, cha ông chúng ta đã phải làm một cuộc chọn lựa thật quyết liệt trong tâm hồn.  Bởi vì, trong thực tế, hạnh phúc đời sau thì bây giờ chúng ta không thấy, còn tiền của, danh vọng cùng với những vinh hoa phú quý của nó, thì lại nằm ngay trước mắt.  Chính dân Do Thái khi bước vào được Đất Hứa, sau cuộc hành trình 40 năm trong sa mạc, cũng đã phải làm một cuộc chọn lựa cơ bản này.  Ông Môisê đã nói với họ: “Coi đây, hôm nay tôi đưa ra cho anh em chọn: hoặc là được sống, được hạnh phúc, hoặc là bị chết, bị tai họa.”  Khi dân Do thái chọn lựa “yêu mến Đức Chúa,… và gắn bó với Người,” thì không phải vì trước mắt họ nhận được một cuộc sống sung sướng, dễ dãi.  Họ chọn lựa Thiên Chúa chỉ vì họ tin tưởng vào tình yêu của Giavê Thiên Chúa, Đấng đã từng giải thoát họ thoát ách nô lệ Ai Cập, kết ước với họ, để họ được làm dân của Ngài.  Đồng thời, còn ban cho họ Đất Hứa làm gia nghiệp.

b. Chọn lựa của cha ông chúng ta:

“Trung thành với Thiên Chúa” cũng chính là chọn lựa, mà cha ông chúng ta ngay từ những ngày đầu đón nhận Tin mừng đã quyết định.  Một cuộc chọn lựa nhìn bên ngoài có vẻ đơn giản: đó là bước qua thập giá hay không bước qua.  Bước qua thì có ngay tiền bạc, vinh hoa phú quý, còn như không bước qua thì có thể lập tức lãnh lấy cái chết.  Đứng trước thập giá, đã có người bước qua, nhưng cũng đã có nhiều người không bước qua, không quá khoá (không nhảy qua thập tự).  Đã có người được khiêng qua thánh giá, nhưng đã co chân lên như thánh Antôn Nguyễn Đích.  Đã có người bước qua thánh giá, nhưng sau lại hối hận: đó là trường hợp của ba vị thánh Augustin Phan Viết Huy, Nicôla Bùi Đức Thể, và Đaminh Đinh Đạt.  Vua quan đã bày ra trước mặt các ông mười nén vàng, một tượng Chịu Nạn và một thanh gươm rồi nói: “Cho bay tự ý chọn, bước qua tượng thì được vàng, bằng không thì gươm sẽ chặt đôi người bay ra, xác sẽ bị bỏ trôi ngoài biển.”

Đúng đây là một chọn lựa nghiêm chỉnh, chọn lựa này đụng đến tương lai và sinh mạng của chính mình.  Chọn lựa này bày tỏ thái độ của bản thân tôi đối với Đức Giêsu.  Tôi chọn Ngài hay tôi chọn tôi.  Thánh Anrê Kim Thông nói với quan tỉnh: “Thánh giá tôi kính thờ, tôi giẫm lên sao được.”  Còn Thánh Têphanô Ven, một linh mục trẻ, chỉ mới 31 tuổi, thuộc Hội Thừa Sai Paris đã bày tỏ chọn lựa của mình một cách thật dứt khoát, khi trả lời cho viên quan bảo ngài bước qua Thánh giá: “Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo thập giá, nay tôi lại đạp lên thập giá thế nào được?  Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quí hoá đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua!”  Một chọn lựa có thể nói là đầy bấp bênh theo cái nhìn tự nhiên của con người.  Chính vì bấp bênh như thế mà những chọn lựa này trở nên có giá trị, vì nó đúng là một chọn lựa của lòng tin.

Vâng, mỗi người chúng ta chỉ nhờ có lòng tin chứ không phải nhờ bất cứ điều gì khác, mới có thể giúp mỗi người chúng ta lãnh nhận ơn cứu độ.  Ý thức điều đó, thánh Phaolô mời gọi tín hữu thành Côlôsê và cũng là lời nhắc nhở từng người chúng ta: “Anh em chỉ cần giữ vững đức tin, cần được xây dựng vững chắc kiên quyết, và đừng vì nao núng mà lìa bỏ niềm hy vọng anh em đã nhận được khi nghe loan báo Tin Mừng.”  Đức tin này mỗi người chúng ta đã được lãnh nhận khi chịu phép Rửa, nhưng như thế thì chưa đủ.  Đức tin đó còn phải được minh chứng bằng chính cuộc sống hàng ngày của mỗi người chúng ta.  Nhiều vị tử đạo đã được mời giả vờ bước qua thánh giá, để quan có cớ mà tha, còn đức tin bên trong thì quan không đụng đến.  Đây là một cám dỗ khá tinh vi và hấp dẫn, có vẻ như được cả hai, đời này và đời sau.  Nhưng liệu tôi có thể bên ngoài chà đạp một Đấng mà bên trong tôi tôn thờ không?  Đứng trước thánh giá là đứng trước một chọn lựa dứt khoát, không có giải pháp dung hoà hay lập lờ.  Không ai có thể làm tôi hai chủ (x. Mt 6, 24), điều này vẫn đúng cho những chọn lựa mỗi ngày của các Kitô hữu chúng ta qua mọi thời đại.

c. Chọn lựa của chúng ta hôm nay:

Mừng lễ các thánh Tử Đạo tại Việt Nam hôm nay, lời Chúa một lần nữa mời gọi mỗi người chúng ta xét lại chọn lựa của mình.  Chọn lựa này không phải chỉ một lần là xong, nhưng cần đựơc lập lại mỗi ngày.  Tôi đang chọn Chúa hay tôi chọn tôi?  Và nếu tôi chọn Chúa, tôi đã làm gì để chứng minh cho lựa chọn của mình?  Chọn lựa của chúng ta hôm nay, có thể không đòi chúng ta phải đổ máu để làm chứng cho Chúa, nhưng tôi thiết nghĩ, cũng không kém phần gian khó.  Đứng trước những bất công, tôi có dám bênh vực, hay tôi sợ phiền hà rồi im lặng?  Trước một trận bóng đá, một bộ phim hay, một giấc ngủ ngon, một lời rủ đi chơi của bạn bè và tiếng mời gọi của Chúa nơi ngôi Thánh đường này, tôi chọn điều gì?

Chớ gì, nhờ lời cầu bầu của các thánh Tử Đạo tại Việt Nam và nhất là sức mạnh của Thánh Thể, quý ông bà anh chị em và tôi đủ sức thực hiện những chọn lựa của mình.  Nhờ đó, vào ngày sau hết, tất cả chúng ta sẽ cùng được đoàn tụ với cha ông chúng ta như lời hứa của Đức Giêsu: “Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy, và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó.”  Amen!

Lm. Đaminh Xuân Trường, GP.Bắc Ninh

GIỮ LINH HỒN

“Các con cứ bền đỗ, các con sẽ giữ được linh hồn các con.”

 Vào khoảng năm 538 trước Công nguyên, sau khi được Hoàng đế Ba tư là Kyrô ban sắc chỉ ân xá, con cái Israen rời đất lưu đày Babylon, tiến về thánh điện, khởi công tái thiết quê hương xứ sở giữa muôn vàn gian nan khốn khó.

Đứng trước cảnh đổ nát hoang tàn của đền thờ, đất đai bị ngoại bang lấn chiếm, tinh thần của dân Do thái hồi hương không khỏi lao đao.  May nhờ có sự hỗ trợ của Ezra và Nêhêmia là hai người giàu có, thế lực dưới triều vua Artaxerxes, dân Israen đã xây lại được một phần nhỏ đền thờ Giêrusalem và thánh hiến nó vào koảng năm 516 trước Công nguyên (BC).

Thế nhưng, chưa hưởng trọn niềm vui tự trị và tự do, người Do thái lại bị các quốc gia hùng mạnh như Ai cập và Hy lạp quấy phá.  Đến năm 169 BC, người Xyria do vua Anticô II dẫn đầu, đã tiến vào đánh chiếm cướp phá đền thờ.  Một lần nữa đền thánh Giêrusalem lại rơi vào cảnh hoang tàn đổ nát.

Mãi đến năm 63 trước Công nguyên, sau khi người Rôma chiếm đóng Palestine và đặt Hêrôđê làm quan tổng trấn cai trị vùng đất Giuđê, đền thờ mới được tái thiết nguy nga và được thánh hiến vào năm 19 BC.

Biết bao cẩm thạch, vàng bạc, gỗ quí, và công sức được đổ ra cho việc xây cất một đền thờ lộng lẫy, làm nên niềm tự hào và sức sống của cả dân tộc Israen.  Trong cuốn sách “Những Cuộc Chiến của Người Do Thái”, sử gia Josephus đã mô tả về “niềm tự hào” đó như sau: “Mặt tiền của Đền thờ đủ làm choáng ngợp tâm trí và đôi mắt người ta.  Nó được bọc bằng những miếng vàng lớn.  Khi ánh thiều dương vừa tỏa sáng ở chân trời, thì cả đền thờ rực lên bởi những tia sáng phản chiếu, khiến những ai muốn nhìn thẳng vào đó cũng bị lóa mắt, đến nỗi họ phải quay đi.  Đối với khách lạ, thì từ đàng xa, Đền thờ nổi bật lên như một núi tuyết trắng xóa.  Không có phần nào mà không được chạm trổ hay bọc vàng.”

Đứng trên núi Cây Dầu nhìn xuống đền thờ rực rỡ trong ánh nắng huy hoàng, các môn đệ không khỏi buông lời trầm trồ khen ngợi.  Nhưng, thay vì hòa điệu với những rung cảm trước vẻ hoa lệ của Đền thờ, Đức Giêsu lại tiên báo về một sự sụp đổ không tránh khỏi.  Những gì thế gian cho là vững chắc và xinh đẹp chỉ là những thứ mỏng dòn và tạm bợ.  Tất cả sẽ bị tàn phá.  Ngay như công trình và “niềm tự hào” của Israen đây cũng sẽ bị sụp đổ, “không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào” (Lc 21:6).  Đức Giêsu đã tiên báo như thế.

Và sự gì đã xảy ra?

Năm 70 sau khi Chúa Giêsu sinh ra, tướng Titô đem đại quân Rôma đến vây hãm thành Giêrusalem.  Dân chúng bị đói khát đến nỗi phải ăn thịt lẫn nhau.  Kẻ nào tìm cách trốn khỏi vòng vây đều bị giết chết.  Tính ra số người bỏ mạng lên đến 1.100.000, và số người bị bắt sau khi thành thất thủ là 97.000.  Đền thờ bị lính Rôma phóng hỏa tan tành.  Tướng Titô chỉ cho chừa lại một mảng tường thành để sau này con cháu Israen đến đó mà than khóc.  Như thế, lời tiên báo của Chúa Giêsu đã ứng nghiệm.

Nhưng sự sụp đổ của thànnh Giêrusalem chỉ là hình bóng của ngày thế tận.  Rồi đây, sẽ chẳng còn thứ gì tồn tại.  Thời gian sẽ hủy diệt tất cả.  Sự sống, sắc đẹp, sức lực, sung sướng…  của cuộc đời này đều mỏng dòn và ngắn ngủi.  Mọi sự đều tiến về cái chết, dù nhanh hay chậm.

Vì thế, thánh Anphong từng nhắc đi nhắc lại: “Chỉ có một việc ta phải lo là việc rỗi linh hồn, vì mỗi người chỉ có một linh hồn mà thôi.” Thánh Phanxicô Saviê cũng nói: “Mỗi người chỉ có một linh hồn.  Nếu được rỗi thì được hưởng thiên đàng, nếu bị mất thì phải sa hỏa ngục.”  Xưa Vua Đavít suy về điều này mà thốt lên lời nguyện cầu: “Tôi chỉ ước trông một điều, đêm ngày tôi khấn xin, là cho tôi được vui sống trong nhà Chúa trọn đời” (Tv 26:4)

Nhưng để được ở trong nhà Chúa, tức là để chiếm được Nước Trời, người ta phải nỗ lực chiến đấu.  Chính Đức Giêsu đã nói: “Nước Trời ở dưới sức cường bạo, và những kẻ cường bạo chiếm đoạt lấy” (Mt 11:12).  Không gắng công chống trả ba thù, thiếu quyết tâm đi vào cửa hẹp, làm sao có thể tìm được thiên đàng đích thực.

Lạy Chúa, xin trợ lực chúng con chống trả ba thù, kiên vững niềm tin, hầu mai kia được hưởng niềm vui trường sinh trong Nước Chúa.  Amen.

Lm.  Bùi quang Tuấn

BÀI HỌC TỪ NHỮNG CUỘC RA ĐI

TGPSG — Sáng thứ Năm ngày 30-10-2025, tôi nhận được tin Linh mục Phêrô Nguyễn Thái Của về với Chúa.  Tin ấy khiến tôi thật bất ngờ.  Ngài còn trẻ, mới 40 tuổi, 4 năm trong thánh chức linh mục, và 12 năm sống đời thánh hiến trong Dòng Chúa Thánh Thần.

1. Nhớ về người đã khuất

Hình ảnh của cha vẫn còn đó nơi tâm trí nhiều người.  Năm ngoái, cũng vào ngày lễ Các Đẳng Linh Hồn (02-11-2024), cha còn dâng lễ tại nhà an nghỉ của giáo xứ Hòa Hưng với lời giảng nhắc nhở chúng tôi một câu rất quen thuộc: “Quên lãng người đã khuất là ta coi họ như chết đi lần thứ hai.”

Nhiều lần có công việc liên hệ với ngài, tôi nhận thấy nơi cha là một vị mục tử hiền lành, vui tươi, năng nổ trong công việc.  Sự ra đi của ngài khiến nhiều người thương tiếc.  Thế nhưng, khi nhìn về cuộc đời của một con người vừa khép lại, ta lại có dịp để khám phá ý nghĩa của cuộc sống và được mời gọi sống tỉnh thức, sẵn sàng cho ngày cuối của đời mình.

Mỗi ngày trôi qua trong cuộc đời là một hồng ân Chúa ban, để nhờ đó chúng ta sống thật ý nghĩa.  Đến khi cuộc đời kết thúc, ta được hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa trên quê trời.

2. Niềm tin giữa đau thương và mất mát

Trước những biến cố của cuộc đời, khi đau bệnh hay đối diện cái chết của người thân, ta cứ lần giở từng trang Tin Mừng, chính Đức Giêsu nói với mỗi người như từng nói với chị Matta (Ga 11, 1-44): “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống.  Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.  Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết…  Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?”

Và quả thật, Đức Giêsu đã cho anh Ladarô sống lại bước ra khỏi mồ.

Có thể nói, đứng trước cái chết của người thân, ai trong chúng ta cũng đau buồn, tiếc thương.  Có khi ta thốt lên như cô Matta: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết.”  Trong cuộc sống, chúng ta vẫn thường nói như chị Matta như thế: “Giá mà… Giá mà ”  Thậm chí, ta còn đi tìm nguyên nhân, oán trách cuộc đời, trách Chúa, trách người khác, cho rằng cuộc đời thật phi lý: “Tại sao người này, người kia phải chết?  Anh ấy còn trẻ, còn có thể cống hiến cho Giáo Hội, giúp cho gia đình mà!”

Nhưng khi nhìn vào cuộc đời của một người vừa ra đi, ta lại được mời gọi sống tích cực hơn, biết yêu quý những người mình gặp gỡ, trân trọng những gì đang có, và cố gắng làm việc để mang lại những điều tốt đẹp cho cuộc đời.  Để trong mọi sự, ta luôn biết tạ ơn Chúa và chuẩn bị cho cùng đích cuộc đời mình.

3. Sống ý nghĩa giữa đời tạm

 Cách đây vài tháng, mạng xã hội đưa tin về sự ra đi của ông Hoàng Nam Tiến – một doanh nhân, diễn giả trong lĩnh vực công nghệ.  Ông qua đời đột ngột vào ngày 31/7/2025, hưởng dương 56 tuổi.  Người ta nhắc nhiều đến những lời khuyên ông dành cho giới trẻ: hãy tận hưởng cuộc sống, hãy “chill”, có những trải nghiệm cuộc đời, làm điều có ích cho xã hội, học hỏi để thăng tiến bản thân.  Sự ra đi của ông khiến nhiều người bất ngờ.

Trên YouTube, người ta cảm thấy ông nói rất hay, rất đúng, truyền cảm hứng cho các bạn trẻ – nhưng ông ra đi đột ngột lại khiến người ta bàng hoàng.  Nhiều bạn trẻ say mê nghe ông diễn thuyết, để học hỏi về công nghệ, đặc biệt là lĩnh vực AI và lý tưởng cuộc sống thành đạt.

Nhưng qua tất cả những chuyện đó, ta học được rằng: trước cái chết của một người, điều quan trọng là biết sống hơn.  Cuộc sống không được đo bằng chiều dài năm tháng, hay bằng việc ta giỏi giang hơn người khác, mà bằng những gì ta trao ban, những việc tốt lành đã làm cho người thân yêu.

4. Kitô hữu sống niềm hy vọng đời sau

Tháng 11 đang về, mời gọi chúng ta tưởng nhớ và cầu nguyện cho những người đã ra đi.  Đây cũng là dịp nhắc ta rằng: ai rồi cũng sẽ chết – nay người, mai ta.

Nhưng với niềm tin Kitô giáo, cái chết không phải là kết thúc cuộc đời này cách vô nghĩa, nhạt nhẽo, mà là một chuyển biến để ta được gặp gỡ Thiên Chúa.  Thật vậy, chính Đức Giêsu Kitô đã đi qua cái chết và sống lại vinh quang, mở đường cho chúng ta vào hạnh phúc Nước Trời.

Chúng ta xác tín rằng Đức Giêsu Kitô là sự sống và sự sống lại, để khi còn sống nơi trần thế, ta sống thật ý nghĩa, luôn thực thi Lời Chúa dạy, và tích lũy cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau.

Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa.  Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.” (Cl 3,1–2).  Bởi vì “Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta.” (Pl 3,20)

“Phúc thay những người đã chết mà được chết trong Chúa!  Phải, họ sẽ được nghỉ ngơi, không còn vất vả nhọc nhằn nữa, vì các việc họ làm vẫn theo họ.” (Kh 14,13)

5. Sống khôn ngoan và cảm tạ trong Thánh Thần

Trong tháng 11, chúng ta được mời gọi hiệp thông trong lời cầu nguyện.  Ngày 1 tháng 11, chúng ta hướng lòng về quê trời, nơi các thánh nam nữ đã cùng với Đức Kitô chiến thắng vinh quang, xin các ngài cầu bầu cho chúng ta trên hành trình trần thế.  Đồng thời, ta cũng không quên cầu nguyện cho những người đã ra đi, đang cần lời cầu nguyện của chúng ta (ngày 2 tháng 11).

Bên cạnh đó, mỗi người được nhắc nhở hãy sống sao cho xứng đáng với quê trời, tràn đầy đức ái và lòng tin.

“Anh em hãy cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời buổi hiện tại, vì chúng ta đang sống những ngày đen tối.  Vì thế, anh em đừng hóa ra ngu xuẩn, nhưng hãy tìm hiểu đâu là ý Chúa.

Chớ say sưa rượu chè, vì rượu chè đưa tới trụy lạc, nhưng hãy thấm nhuần Thần Khí.  Hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa.  Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha.” (Ep 5,15–20).

Như thế, trong tháng 11 và suốt hành trình cuộc đời, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc tưởng nhớ và cầu nguyện cho những người đã khuất, nhưng còn được mời gọi sống sao cho đẹp lòng Chúa và đem lại niềm vui cho tha nhân.  Ước chi con cháu luôn biết trân trọng và tiếp nối những giá trị đạo đức cha ông truyền lại, để vun đắp một cuộc sống chan hòa yêu thương, đượm hương Tin Mừng giữa dòng đời hôm nay.

Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đã cho con được làm người, làm con Chúa, chứ không để con “không đời đời.”  Xin cho chúng con biết sống cuộc đời này thật ý nghĩa, nhất là khi chia tay một người thân yêu, chúng con biết sống mỗi ngày thật hiền hòa, yêu thương, bao dung và tha thứ hơn, để chúng con xây dựng cuộc sống mai sau.

Xin Chúa thương xót, tha thứ mọi lầm lỗi và đón nhận linh hồn cha Phêrô cùng các linh hồn thân yêu của chúng con vào Thiên Đàng.  Amen!

Martinô Lê Hoàng Vũ (TGPSG)

SUY NGHĨ NHẸ NHÀNG HƠN VỀ MỘT CHỦ ĐỀ NẶNG NỀ

Vài năm trước đây, một cô bạn của tôi đang phải đối diện với việc sinh đứa con đầu lòng.  Mặc dù rất vui vì sắp được làm mẹ nhưng cô thú nhận cô rất sợ tiến trình sinh nở này, những cơn đau, những nguy hiểm, những điều chưa biết.  Cô tự an ủi, hàng trăm triệu phụ nữ đã đi qua con đường này và đã vượt qua được.  Chắc chắn, cô cảm thấy mình cũng sẽ vượt qua được.

Đôi khi tôi lấy kinh nghiệm này để áp dụng vào bối cảnh cái chết.  Cái chết là chủ đề đáng sợ, khó chịu và nặng nề nhất, dù chúng ta thường nói một cách giả tạo.  Khi chúng ta nói mình không sợ chết thì phần lớn chúng ta đang huýt sáo trong bóng tối và cả ở đó, líu lo thì dễ dàng hơn khi cái chết của chính mình vẫn là một ý tưởng trừu tượng, một điều gì đó trong tương lai không xác định.  Nói lên trọn vẹn suy nghĩ của tôi về cái chết chắc chắn phù hợp với mô tả đó, huýt sáo trong bóng tối.  Nhưng tại sao không?  Chắc chắn là huýt sáo trong bóng tối tốt hơn là tự hành hạ mình bằng nỗi sợ hãi không cần thiết.

Vì vậy, tôi dùng phương pháp của bạn tôi khi cô muốn có thêm can đảm để đối diện với việc sinh con và điều chưa từng biết này.  Một cách đơn giản, hàng triệu triệu người đã vượt qua được quá trình chết, vì vậy tôi cũng phải vượt qua được!  Hơn nữa, không giống như việc sinh con, chỉ ảnh hưởng đến một nửa nhân loại, còn cái chết thì ảnh hưởng đến toàn nhân loại, kể cả tôi đều sẽ đi qua.  Một trăm năm nữa, những ai đang đọc bài này sẽ vượt qua cái chết của mình.

Vì vậy, đây là cách để nhìn nhận về cái chết của chính chúng ta: hàng tỷ tỷ người đã vượt qua được điều này, đàn ông, phụ nữ, trẻ em, kể cả trẻ sơ sinh.  Một số người đã già, một số người còn trẻ; một số đã chuẩn bị, một số thì không; một số đón nhận, một số cay đắng phản kháng; một số chết vì nguyên nhân tự nhiên, một số chết vì bạo lực; một số chết trong vòng tay yêu thương, một số chết cô đơn không có vòng tay yêu thương nào chung quanh; một số chết trong thanh thản, một số chết trong tiếng khóc vì sợ hãi; một số người chết khi đã già, một số ở tuổi thanh xuân; một số bị bệnh mất trí vô nghĩa trong nhiều năm làm cho những người chung quanh hỏi vì sao Chúa và thiên nhiên lại tàn nhẫn khi giữ họ sống; lại có những người khỏe mạnh có đầy đủ để sống nhưng họ lại tự tử; có những người chết trong đức tin và hy vọng, có những người chỉ thấy bóng tối và tuyệt vọng; một số khi chết có lòng biết ơn, một số khi chết lòng đầy oán giận; một số chết trong vòng tay tôn giáo và nhà thờ, một số hoàn toàn ở ngoài vòng tay này; một số chết như Mẹ Têrêxa, một số lại như Hitler.  Nhưng tất cả họ đều làm được điều đó, điều vô danh vĩ đại, điều vô danh vĩ đại nhất.  Có vẻ như có thể làm được.

Hơn nữa, không ai trở về từ thế giới bên kia với những câu chuyện kinh dị về cái chết, như thế cho thấy tất cả những bộ phim kinh dị của chúng ta về việc bị hành hạ sau khi chết, bị ma quỷ và những ngôi nhà ma ám đều hoàn toàn hư cấu.

Tôi nghĩ ai cũng có trải nghiệm như tôi khi nghĩ về người chết, đặc biệt là những người tôi biết đã chết.  Nỗi đau buồn và sự mất mát ban đầu của họ cuối cùng cũng qua đi và được thay thế bằng một cảm giác mơ hồ rằng mọi chuyện vẫn ổn, rằng họ ổn, và rằng cái chết theo một cách kỳ lạ nào đó đã rửa sạch mọi thứ.  Cuối cùng, chúng ta có một cảm giác khá tốt về những người thân yêu đã khuất của mình và về những người đã khuất nói chung, ngay cả khi sự ra đi của họ không hề lý tưởng, khi họ chết trong tức giận, thiếu chín chắn, hoặc vì họ đã phạm tội, hoặc tự tử.  Bằng cách nào đó, cuối cùng tất cả đều được rửa sạch và những gì còn lại là một cảm giác mơ hồ, một trực giác vững chắc, rằng bất kể họ đang ở đâu, họ đều ở trong một vòng tay tốt hơn và an toàn hơn chúng ta.

Khi còn là chủng sinh trẻ, chúng tôi phải dịch chuyên luận của tác giả cổ đại Cicero về tuổi già và về cái chết từ tiếng La-tinh sang tiếng Anh.  Khi đó tôi mười chín tuổi, nhưng rất ấn tượng với những suy nghĩ của Cicero về lý do vì sao chúng ta không nên sợ chết.  Ông là người theo phái khắc kỷ nổi tiếng; nhưng, cuối cùng, việc ông không sợ chết cũng giống như cách bạn tôi đối diện với việc sinh nở, xét theo mức độ phổ biến của nó, chúng ta đều có thể quản lý được!

Tôi đã đánh mất ghi chép của tôi về Cicero từ lâu nên bây giờ tôi tra cứu chuyên luận này trên Internet.  Đây là một đoạn trích từ chuyên luận này: “Cái chết không nên được cho là quan trọng!  Vì rõ ràng tác động của cái chết là không đáng kể nếu nó hoàn toàn hủy diệt linh hồn, ngay cả là mong muốn, nếu nó dẫn linh hồn đến một nơi nào đó để sống mãi mãi.  Vậy thì, tôi sẽ sợ gì, nếu sau khi chết, tôi được định sẵn là không bất hạnh hoặc hạnh phúc?”

Đức tin của chúng ta cho chúng ta biết rằng, với tình yêu và với lòng nhân từ của Chúa mà chúng ta tin tưởng, chỉ có lựa chọn thứ hai là hạnh phúc đang chờ chúng ta.  Và chúng ta đã trực giác được điều đó.

Rev. Ron Rolheiser, OMI