KHOA HỌC LÀM SÁNG TỎ CÁC BÍ MẬT CỦA ĐỨC BÀ GUADALUPE

Hôm đẹp trời lạnh lẽo 12-12-1531 ấy, Juan Diego – một trong những người cải đạo sớm nhất ở Mexico – không thể mơ có một ngày trong tương lai xa xôi, ông lại được bất tử hóa và được đặt trên bàn thờ của Giáo Hội hoàn vũ.

Juan Diego đang trên đường tới nhà thờ sáng sớm hôm đó thì lại nghe tiếng nói ngọt ngào của Bà Đẹp vốn đã hiện hình trước mắt ông tại chân Đồi Tepeyac ở ngoại ô Thành phố Mexico hai hôm trước.

Bà Đẹp đã lặp lại ước muốn của mình là có một teocali (nhà nguyện) được xây nơi Bà đã hiện ra.  Juan Diego nói với Bà rằng Đức Giám mục Juan Zumarraga đòi bằng chứng về tính xác thực của yêu cầu này.  Đức Bà đã chấp thuận.  Theo hướng dẫn của Người, Juan Diego đã hái một bó hoa hồng Castilian rồi chính Người xếp trên tilma của ông (áo choàng, ct: một loại poncho hai mảnh trước và sau).  Ông sẽ phải đưa bó hoa hồng đó cho Đức Giám Mục.  Vâng, những đóa hồng Castilian lạ lùng nở vào mùa Đông!

Juan Diego vội vàng đến gặp Đức Giám Mục.  Và khi ông trải áo choàng của mình ra thì lạ chưa, Đức Giám Mục và mọi người có mặt đều hết sức kinh ngạc khi thấy không những nhiều đóa hồng thơm ngát rơi xuống từ áo choàng của ông mà còn cả một bức ảnh (cao 143 cm) của một phụ nữ trẻ đẹp với nước da hơi sẫm.

Đó là câu chuyện hay về việc làm sao hình ảnh Đức Bà Guadalupe đã xuất hiện.  Hình Mẹ được bao quanh bằng những tia sáng mặt trời và dưới chân Đức Trinh Nữ có một vầng trăng lưỡi liềm và một thiên thần nâng Người lên.  Đức Bà mặc một áo choàng màu xanh dương lẫn xanh lục với những ngôi sao vàng, và bên trong là một áo dài hồng thêu những nụ hoa viền vàng.  Một đai lưng màu tía sẫm thắt quanh eo Đức Trinh Nữ theo kiểu các thai phụ Aztec vẫn thường mang.

Đức Mẹ yêu cầu Juan Diego gọi Người là coatloxopeuh mà trong tiếng Nahuatl, ngôn ngữ Aztec châu Mỹ, có nghĩa là “người đạp dẹp con rắn.”  Trên phương diện lịch sử, đó là một phần văn hóa Aztec đương thời, vốn hàng năm dâng ít nhất 20.000 đàn ông, đàn bà và trẻ em cho các thần của họ như tế vật.  Nhờ Đức Bà Guadalupe hiện ra với Juan Diego, hàng triệu người đã trở lại Kitô giáo, như thế là đạp dẹp con rắn của việc thờ ngẫu tượng.

Áo choàng của Juan Diego được làm bằng sợi thô, cứng, một thứ vải hoàn toàn không thích hợp để vẽ.  Cuộc nghiên cứu và nhiều thử nghiệm khoa học đã được thực hiện trên áo choàng đó từ năm 1666 bởi các họa sĩ, bác sĩ và khoa học gia.  Những phát hiện của họ cho thấy như sau: các đặc điểm lạ lùng của hình ảnh vượt quá mọi hiểu biết khoa học; hình ảnh xem ra đã không được vẽ bởi bàn tay con người; các màu sắc xuất hiện như “tích hợp” vào thớ vải; và chất màu được sử dụng không có nguồn gốc từ động vật hay khoáng vật.  Hơn nữa, áo choàng, được làm bằng sợi đặc biệt đó, là tấm khăn duy nhất cùng loại còn tồn tại sau 476 năm [ct: 2007, thời điểm tác giả viết bài này].

Renzo Allegri, trong bài viết trên báo Messenger of Saint Anthony (Sứ giả của Thánh Antôn), cho biết rằng hiện tượng đã đánh thức sự tò mò khoa học đối với hình ảnh Đức Bà Guadalupe, liên quan đến cái đã được khám phá trong đồng tử đôi mắt Đức Mẹ.  Năm 1929, Alfonso Gonzales, một nhiếp ảnh gia của Vương cung Thánh đường Guadalupe, sau khi nghiên cứu âm bản (phim) của hình ảnh, đã tìm ra cái có vẻ là hình ảnh rõ nét của một người nam có râu phản chiếu ở mắt bên phải.

Hơn 20 năm sau, một nhiếp ảnh gia khác của Vương cung Thánh đường, Carlos Chavez, đã tuyên bố rằng ông thấy một hình người trong mắt bên trái cũng như mắt bên phải của Đức Bà Guadalupe.  Từ năm 1956 tới 1958, Rafael Torija Lavoigner đã thực hiện 5 cuộc nghiên cứu sử dụng các thấu kính phóng đại và kính soi đáy mắt (ophthalmoscopes), ông xác nhận có nhiều hình người trong đôi mắt của Đức Trinh Nữ.

Các hiện tượng như thế trở nên giật gân hơn nữa khi đôi mắt Đức Bà được nghiên cứu có sử dụng kỹ thuật tinh vi hơn nối kết với các máy vi tính.

Năm 1979, Tiến sĩ Jose Aste Tousman, một kỹ sư xuất sắc chuyên về vi tính ở Hoa Kỳ, đã đến Mexico.  Ông là một trong những nhà nghiên cứu có khả năng nhất về đôi mắt Đức Bà Guadalupe.  Allegri viết rằng công trình Tiến sĩ Tousman thực hiện trong 23 năm thật đáng kinh ngạc; ông đã sử dụng thiết bị cập nhật hay tinh vi nhất, giống các loại mà NASA vẫn dùng để giải mã các bức ảnh do vệ tinh chụp trong không gian.  Tiến sĩ Tousman đã phóng to hình ảnh đôi mắt Đức Bà Guadalupe tới 2.500 lần, sử dụng 25.000 màu được chiếu sáng cho mỗi mm vuông.

Sau khi lọc và xử lý hình ảnh kỹ thuật số, Tiến sĩ Tousman khám phá ra một toàn cảnh được bắt hay được chụp trong đôi mắt Đức Bà Guadalupe.  Trong toàn cảnh, có khoảng 11 người.  Có một người Mexico bản địa ngồi xếp hai chân và tóc dài tết thành đuôi ngựa.  Kế ông là một cụ già, hói đầu, râu trắng, mũi thẳng, lông mày rậm và một giọt nước mắt chảy dài xuống má phải.  Nhân vật này được xác định là Đức Giám Mục Juan Zumarraga.  Bên trái ngài là tay phiên dịch của ngài, Juan Gonzales.  Có bóng dáng một ông già để râu và ria, với một cái mũi to kiểu Rôma, xương gò má lồi lên, đôi mắt chìm sâu và đôi môi nửa khép nửa mở – rõ ràng là một thổ dân châu Mỹ – đang mở áo choàng của mình khi quay mặt về phía ông già đầu hói.  Rõ ràng là Juan Diego, kẻ đem những đóa hồng trong áo choàng mình tới cho Đức Giám Mục.  Cũng có nhiều kẻ không xác định được gồm một người cha, một người mẹ, hai ông bà già và 3 đứa trẻ.

Cảnh tượng được khám phá trong đôi mắt phóng đại của hình ảnh kỹ thuật số cho thấy rằng trong giây phút đầy xúc động ấy, khi Juan Diego trải áo choàng cho Đức Giám mục và khi tất cả những ai đang hiện diện trong căn phòng thấy hình ảnh Đức Bà được vẽ lên đó, thì Mẹ Thiên Chúa thực sự có mặt: như những caméra tinh vi nhất, đôi mắt của Người đã chụp cảnh tượng và đã bảo tồn nó cho các thế hệ tương lai.  Cũng kỳ lạ ở chỗ: ý thức những giới hạn của khoa học và kỹ thuật thời đó, Đức Mẹ biết rằng điều này sẽ chỉ được khám phá vài trăm năm sau, khi các thiết bị tinh vi nhất được con người phát minh chế tạo.

Sứ điệp của Đức Bà Guadalupe có thể là gì qua các phát hiện ấy của khoa học?  Tiến sĩ Aste Tousman đã đi đến những suy nghĩ như vậy.  Sự hiện diện của những kẻ không xác định có thể là một sự nhấn mạnh đến tầm quan trọng của gia đình và các giá trị gia đình.  Vì hai người đàn ông da trắng và những thổ dân châu Mỹ được tìm thấy trong cảnh tượng, sự hiện diện của những chủng tộc pha trộn có thể là một cảnh báo chống kỳ thị chủng tộc và là một lời kêu gọi tình huynh đệ giữa con người.  Việc khám phá cảnh tượng nhờ thiết bị hiện đại có thể là một lời mời gọi dùng kỹ thuật để loan truyền lời Chúa Kitô.

Juan Diego đã được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong thánh tại Mexico.  Thổ dân châu Mỹ khiêm nhường, đơn sơ này có thể đã không hình dung rằng Bà Đẹp Guadalupe mà ông đã nói chuyện với ở đồi Tepayac còn có nhiều bí mật khác được tiết lộ, được dành riêng cho các thế hệ tương lai.  Trong trí óc đơn giản của mình, ông đã không thể nhận thức điều ấy.  Chỉ cần nói rằng ông đã vâng lời và yêu mến Đức Mẹ, Đức Mẹ cũng đã yêu mến ông vì tâm hồn đơn sơ và trong sạch của ông.

Xem ra lạ lùng đối với một khoa học gia khi nói lên điều ấy, nhưng với tôi là kẻ cảm thấy liên hệ, bức ảnh gốc thật kỳ diệu.  Nghiên cứu hình ảnh này là kinh nghiệm cảm động nhất của đời tôi.  Tiếp cận với nó, tôi có cùng cảm giác lạ lùng như những ai đã nghiên cứu Khăn liệm thành Turin (Italia).  Tôi tin vào những cách giải thích lô-gích tới một điểm nào đó.  Nhưng không có cách giải thích lô-gích cho cuộc sống.  Bạn có thể bẻ sự sống thành các nguyên tử, nhưng cái gì đến sau đó?  Ngay cả nhà bác học Einstein cũng chân nhận có Thiên Chúa mà!

Philip Callahan

(*) Giáo sư Philip Callahan là khoa học gia xuất chúng, ĐH Florida năm 1979.
Trích Francis Johnston, Sự kỳ diệu của Guadalupe.
Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi dịch từ nguyên bản Anh ngữ
Nguồn: http://www.all-about-the-virgin-mary.com/our-lady-of-guadalupe-science.html

ĐẤNG ĐẦY ÂN SỦNG

Ngày 25-3-1858 tại Lộ Đức, Đức Mẹ lại hiện ra cho Bernadette, một cô bé mười bốn tuổi, nhà nghèo, quê mùa.  Vào lần hiện ra thứ mười sáu, khi cô gặng hỏi tên của Bà đẹp, Bà đã trả lời: Que soy era Immaculada Conception, Ta là sự Thụ thai vô nhiễm.  Một câu trả lời khó hiểu và khó nhớ đối với một cô bé ít học.  Dĩ nhiên cô không hề biết rằng bốn năm trước đó, Đức Piô IX đã công bố tín điều Đức Maria Vô Nhiễm nguyên tội.

Mừng lễ Đức Maria Vô nhiễm là mừng lễ một con người, một phụ nữ.  Thiên Chúa muốn Con Một của mình làm người trăm phần trăm, nên cần tuyển một phụ nữ để sinh ra người Con ấy.  Maria chính là người được chọn, hoàn toàn như một ân huệ.  Khi chọn Maria, Thiên Chúa đã ban cho Mẹ mọi sự tốt đẹp nhất có thể, vì ơn gọi quá vĩ đại là làm Mẹ Con Thiên Chúa.  Maria được Thiên Chúa bao bọc và bảo vệ bằng ân sủng tuyệt vời.  Ngài cho Mẹ được hưởng trước công nghiệp của Người Con, nên gìn giữ Mẹ khỏi vết nhơ của nguyên tội.

Mừng lễ Vô nhiễm là mừng lễ một con người, một phụ nữ, ngay từ giây phút đầu tiên được thụ thai, đã trọn vẹn và tuyệt đối nằm trong bàn tay yêu thương của Thiên Chúa.  Khi nói Mẹ không nhiễm vết nhơ của nguyên tội là chỉ mới nêu lên một khía cạnh có phần tiêu cực.  Theo Công Đồng Vaticanô II, từ giây phút hiện diện đầu tiên của cuộc sống, Mẹ đã được rạng ngời một sự thánh thiện hoàn toàn độc nhất vô nhị.  Giáo Hội Đông Phương gọi Mẹ là Đấng toàn thánh (panagia).  Sự thánh thiện của Mẹ đã được sứ thần Gabrien diễn tả qua lời chào: “Mừng vui lên, hỡi Đấng được đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Bà.”  Maria được Thiên Chúa ban đầy tràn ân sủng, nghĩa là được Thiên Chúa yêu thương, và được đẹp lòng Thiên Chúa, từ trước khi Mẹ nói tiếng Xin Vâng.

Nhưng ân sủng không bóp chết tự do và trách nhiệm.  Mẹ đã đáp lại tình yêu đó với sự mở ra không ai sánh bằng.  Tiếng Xin Vâng trên môi của cô thiếu nữ Maria là cử chỉ đón lấy Đấng Cứu Độ vào đời mình, vào lòng dạ mình.  Maria đã suốt đời trung tín với tiếng Xin Vâng đầu tiên bằng việc nói muôn tiếng Xin Vâng khác cho đến tận thập giá.  Những gì Mẹ Maria được hưởng, chúng ta cũng được chung phần.

Chúng ta cũng được chọn, được tẩy xóa tội nguyên tổ, được ban ơn.  Chúng ta cũng được mời gọi đáp lại bằng những tiếng Xin Vâng nho nhỏ.  Sống Mùa Vọng là để cho Con Thiên Chúa đi vào đời mình.

Như Đức Maria, chúng ta được mời gọi cưu mang Con Thiên Chúa, làm cho Ngài lớn lên mỗi ngày và sinh Ngài ra cho thế giới.  Chúng ta cũng muốn cưu mang Giêsu với trái tim và cuộc đời vô nhiễm.

Xin Chúa cho chúng ta được chia sẻ ơn Vô Nhiễm giữa cuộc đời ô nhơ.

*********************

Lạy Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa,
xin gìn giữ nơi con quả tim của trẻ thơ
tinh tuyền và trong ngần như dòng suối.

Xin ban cho con quả tim đơn sơ,
mau quên những nỗi buồn phiền.
Một quả tim hào hiệp dám hiến thân,
dịu dàng để cảm thông.

Một quả tim trung thành và quảng đại,
không quên ơn, không báo oán.

Xin tạo cho con quả tim hiền từ và khiêm tốn,
yêu mà không mong được yêu lại,
hân hoan xóa mình đi
để Con của Mẹ có chỗ trong lòng người khác.

Một quả tim vĩ đại và bất khuất,
không khép lại trước những kẻ vô ơn,
không chán nản trước người lạnh nhạt.

Một quả tim khắc khoải
lo tìm vinh danh Chúa Giêsu Kitô,
quả tim mang vết thương vì yêu Ngài,
vết thương chỉ lành
khi được sống với Ngài trên trời.  Amen!

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J

NIỀM VUI TRỞ VỀ 

Sắc áo tím của Phụng vụ mùa Chay có thể làm nhiều người hiểu mùa Vọng là thời gian khổ chế.  Ngược lại, mùa Vọng là mùa của niềm vui.  Niềm vui vì Chúa sắp đến.  Niềm vui vì ta được trở về với Ngài.

Mặc dù xuất phát ở những bối cảnh khác nhau, các Bài đọc Kinh Thánh đều diễn tả niềm vui.  Trước hết đó là niềm vui mà ngôn sứ Ba-rúc đã loan báo.  Ông kêu gọi dân cư Giê-ru-sa-lem hãy cởi bỏ tang chế, và mặc lấy ánh vinh quang vĩnh cửu.  Các chuyên viên Kinh Thánh đều kết luận sách ngôn sứ Ba-rúc được viết vào khoảng từ năm 582-550, tức là vào cuối thời lưu đày của người Do Thái tại Ba-bi-lon.  Giống như ngôn sứ I-sai-a, ngôn sứ Ba-rúc loan báo ngày Thiên Chúa sẽ giải phóng dân Ngài.  Ngài sẽ dẫn đưa họ về quê cha đất tổ.  Đất nước của họ sẽ trở lại tươi sáng như xưa.  Giê-ru-sa-lem sẽ sầm uất kẻ đến người đi.  Đô thành Hòa Bình này sẽ phủ bóng rừng xanh với muôn loài sản vật.

Niềm vui ngôn sứ Ba-rúc loan báo đã được thực hiện vào năm 539.  Vua Ky-rô, người Ba Tư đã ký sắc lệnh cho người Do Thái hồi hương.  Họ tin Ky-rô là người Thiên Chúa sai đến giải phóng dân Ngài.  Thánh vịnh 125 được đọc trong phần Đáp ca diễn tả niềm vui vỡ òa của dân tộc.  Bao năm tha hương, nay họ trở về quê cha đất tổ.  Nhiều người tưởng chừng như đang ngủ mơ.

Thiên Chúa luôn dẫn chúng ta trên con đường trở về với Ngài.  Sám hối canh tân chính là điều kiện cần thiết để chúng ta tìm được niềm vui trong cuộc sống cũng như trong tâm hồn.  Ông Gio-an Tẩy giả xuất hiện từ hoang địa.  Ông là một sứ giả đến loan báo niềm vui mà dân Do Thái bao đời mong đợi: Đấng Thiên sai sắp đến.  Sống cách thời điểm này quá xa về thời gian và không gian, chúng ta không cảm nhận được niềm vui của người Do Thái trước lời loan báo Đấng Thiên sai sắp đến.  Về bối cảnh xã hội, lúc đó dân đang bị ách Rô-ma cai trị.  Về khía cạnh tôn giáo, lời cầu nguyện xin Chúa gửi Đấng Thiên sai luôn luôn vang vọng trong các buổi đọc Kinh Thánh.  Vì thế, dân chúng đông đảo đến nghe ông Gio-an rao giảng, và sẵn sàng cúi mình xuống để xin ông làm phép rửa trong dòng sông Gio-đan.

Người Ki-tô hữu cần cảm nhận được niềm vui trong đức tin.  Chúng ta vui vì có Chúa đang ở với chúng ta.  Đức Ki-tô đã hứa với các môn đệ: “Này đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.”  Vì vậy, lời loan báo của ngôn sứ Ba-rúc và thánh Gio-an Tẩy giả vẫn luôn mang tính thời sự đối với chúng ta.  Chúa Giê-su đã đến trong lịch sử, cách đây hơn hai ngàn năm.  Hiện tại, Người hiện diện giữa chúng ta một cách huyền nhiệm linh thiêng.  Vào cuối cùng của thời gian, Người sẽ đến trong vinh quang “để phán xét kẻ sống và kẻ chết” như chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin kính.  Ki-tô hữu là người luôn tỉnh thức và đợi chờ biến cố Chúa Giê-su tái lâm, tức là đến lần thứ hai trong vinh quang.  Người vừa hiện diện giữa chúng ta, vừa dường như vắng bóng trong cuộc đời.  Bởi lẽ sự hiện diện của Chúa là linh thiêng và huyền nhiệm.

“Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.  Mọi thung lũng phải lấp cho đầu; mọi núi đồi phải bạt cho thấp; khúc quanh co phải uốn cho ngay; đường lồi lõm phải san cho phẳng.”  Những gì ông Gio-an Tẩy giả khuyên người Do Thái năm xưa, vẫn đang giúp chúng ta nhìn lại bản thân để xét mình trước mặt Chúa.  Trong nội tâm chúng ta, vẫn còn đó những đồi cao của kiêu ngạo; thung lũng của yếu đuối; quanh co của mưu đồ.  Để đón Chúa đến trong tâm hồn, cần phải sám hối canh tân và buông bỏ những gì là bất xứng.

Niềm vui xuất phát từ tình yêu mến.  Đó là điều thánh Phao-lô đã cảm nhận, như ông tâm sự với giáo dân thành Phi-líp-phê.  Những tín hữu của cộng đoàn này yêu mến ông Phao-lô và điều đó, tạo cho ông niềm vui thân thương.  Ông cũng yêu mến họ và vui sướng mỗi khi cầu nguyện cho họ.  Ông đã viết: “Có Thiên Chúa làm chứng cho tôi: tôi hết lòng yêu quý anh em tất cả, với tình yêu thương của Đức Ki-tô Giê-su.  Điều tôi khẩn khoản nài xin là cho lòng mến của anh em ngày càng thêm dồi dào… để nhận ra cái gì là tốt hơn.”  Theo thánh Phao-lô, khi sống với nhau bằng tình yêu mến, chúng ta sẽ tiến xa trong sự hiểu biết Thiên Chúa và hiểu biết nhau.  Như vậy, chúng ta sẽ dễ dàng đón nhận ý Chúa và cùng nhau xây dựng một thế giới an bình.

Niềm vui của mùa Vọng là niềm vui trở về.  Như dân Do Thái hồi hương sau những năm dài sống nơi lưu đày, chúng ta được trở về với Chúa, để được gặp Ngài và nhờ đó được tiến triển trong tình yêu mến Chúa và yêu mến tha nhân.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

PHANXICÔ XAVIÊ – VỊ THÁNH SAY MÊ CHINH PHỤC CÁC LINH HỒN

Được mệnh danh là Phaolô của thế kỷ XVI, thánh Phanxicô Xaviê luôn luôn thao thức về số phận của những linh hồn chưa bao giờ được nghe Tin Mừng.  Lời Chúa Giêsu: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít” (Lc 10, 20) luôn vang vọng và thôi thúc trong tâm trí thánh nhân.  Thánh nhân đã xúc động cực độ khi thấy có rất nhiều người không được làm Kitô hữu chỉ vì không có ai làm cho họ trở thành Kitô hữu.

Phanxicô chào đời ngày 07/04/1506 tại lâu đài Javier (Javier Castillo) gần thành phố Pamplona, miền Navarra, Tây Ban Nha, trong một gia đình danh giá và giàu có.  Ngài là con út trong gia đình có năm người con.  Năm lên 19 tuổi, Phanxicô được gửi đến Paris học tại học viện Sainte – Barbe thuộc đại học Paris.  Sau khi tốt nghiệp văn chương và triết lý, Phanxicô được bổ nhiệm làm giáo sư triết lý tại đại học Paris.  Vị giáo sư trẻ Phanxicô sớm nổi tiếng và được ca tụng trong giới sinh viên đại học thời bấy giờ.

Những tưởng vị giáo sư trẻ Phanxicô sẽ còn tiến xa hơn trên con đường công danh và sự nghiệp, thế nhưng, qua trung gian của một người bạn chí thân – thánh Inhaxiô, câu Lời Chúa: “nếu được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào có ích gì?” (Mt 16,16) đã chinh phục và làm thay đổi hoàn toàn nơi vị giáo sư trẻ vốn thông minh và đầy tham vọng.  Kể từ đó, Phanxicô đã tùy thuộc hoàn toàn vào kế hoạch nhiệm mầu của Chúa và trở nên khí cụ đắc lực của Tin Mừng.

Ngày 15/08/1534, cùng với Inhaxiô và năm anh em khác, Phanxicô đã dâng lời khấn khó nghèo, trinh khiết và sống cộng đoàn để “cùng nhau phục vụ Chúa,” khai nguyên Dòng Tên (Société de Jésus).  Ngày lễ thánh Gioan Tẩy Giả 24/06/1537, tại Venise, Phanxicô được chịu chức linh mục.  Kể từ đó, ngài gia tăng việc ăn chay, hãm mình, suy niệm và thực hành bác ái nhằm không ngừng thánh hóa bản thân và chuẩn bị hành trang cho sứ vụ mà Chúa sắp trao phó cho ngài.

Được thúc đẩy và hun nóng bởi khát vọng và lòng say mê cho Danh Chúa được cả sáng (Ad majorem gloriam Dei) và cho nhiều linh hồn được cứu rỗi (Ad salutem aminarum), vị linh mục trẻ Phanxicô Xaviê đã khao khát được đến với khắp mọi nơi để đem Chúa đến cho mọi người.  Với con tim rực cháy lửa mến Chúa và cháy bỏng khát khao thu phục các linh hồn đã đưa Phanxicô Xaviê vượt đại dương đến với miền Viễn Đông xa xôi, đầy khó khăn và nhiều khác biệt.  Cũng nhờ lòng nhiệt thành truyền giáo đó, Phanxicô Xaviê đã can đảm gặp gỡ các vị lãnh chúa miền Á Đông, tiếp xúc với các tôn giáo truyền thống như Ấn giáo, Hồi giáo, Phật giáo và Khổng giáo.  Trên tất cả, ngài luôn trăn trở làm sao đem Chúa Giêsu và Tin Mừng tình yêu của Người đến với tất cả những ai chưa có cơ hội nhận biết Người.

Ngày 07/07/1543, thánh Phanxicô Xaviê lần đầu tiên đặt chân lên thành phố Goa, miền tây nam Ấn Độ – một vùng đất hoàn toàn xa lạ đối với ngài, nhưng thánh nhân đã ngày đêm thăm viếng và nâng đỡ đức tin cho những người nghèo, giúp đỡ những người thuộc đẳng cấp thấp nhất trong xã hội Ấn thời bấy giờ.  Ngài dành nhiều thời gian để di đến các làng mạc thăm viếng, khích lệ những người ốm đau bệnh tật, rửa tội cho trẻ em, dạy giáo lý cho người lớn và tổ chức các giờ kinh lễ.  Trong một lá thư viết từ Ấn Độ gửi cho thánh Inhaxio ở Rôma, thánh Phanxicô viết rằng: “Tại các miền ấy, có nhiều người không được làm Kitô hữu chỉ vì không có ai làm cho họ trở thành Kitô hữu.  Nhiều lần tôi đã có ý định đi tới các đại học Châu Âu, trước hết là đại học Paris, mà kêu gào khắp nơi như một kẻ mất trí và thúc đẩy những người chỉ nghiên cứu học thuyết hơn là thực hành bác ái rằng: tiếc thay, chỉ vì lỗi của các ông mà biết bao linh hồn không được cứu rỗi!” [1]

Nhờ sức mạnh của lòng mến, thánh Phanxicô Xaviê đã ngày đêm hăng say chinh phục các linh hồn, mặc dù ngài luôn bị những người theo Ấn giáo và Hồi giáo chống đối.  Trong thư gửi về Rôma cho các anh em Dòng Tên, ngài viết: “Tôi tin rằng, ai thực lòng yêu mến thánh giá Chúa Kitô sẽ tìm thấy an bình khi đương đầu với những thử thách” [2].  Trong một thư khác, thánh nhân viết: “Xin Chúa ban cho chúng ta được biết và nhận ra ý muốn rất thánh của Chúa, và khi đã nhận ra, xin Chúa ban dồi dào sức lực và ân sủng, để với đức mến, chúng ta chu toàn thánh ý Chúa ngay ở đời này” [3].  Và để sức mạnh của lòng mến sinh hiệu quả, theo thánh Phanxicô, lòng mến phải được cụ thể trong hành động ngay ở đời này, và sẵn sàng “đi đến bất cứ nơi đâu để có thể phục vụ Chúa” [4].

Là một nhà truyền giáo Tây phương, bị đặt vào thế lưỡng nan, hoặc phải bảo vệ quyền lợi của thực dân Bồ Đào Nha hay bênh vực cho người bản xứ Ấn Độ, nhưng nhờ ơn Chúa, thánh Phanxicô đã chọn con đường khác: liên kết ý muốn của con người theo ý muốn của Thiên Chúa, kết hợp phương tiện với mục tiêu hướng đến tình yêu đích thực và nhắm lợi ích các linh hồn.  Trọn vẹn ý muốn của thánh nhân để chỉ hoàn toàn phục vụ thánh ý Chúa và mưu ích cho các linh hồn, như trong lá thư gửi về Rôma đề ngày 20/09/1542, ngài viết: “xin Chúa ban sức mạnh cho chúng ta ở đời này để chúng ta phục vụ Chúa trong mọi sự như Chúa truyền dạy, và chu toàn thánh ý Chúa ở đời này” [5].

Niềm đam mê các linh hồn đã dẫn đưa thánh nhân mạo hiểm dấn thân vào những hoàn cảnh tối tăm bao trùm và dường như bị Chúa bỏ rơi, nhưng sau khi trải qua kinh nghiệm về “sự thing lặng của Thánh Thần” đó, thánh nhân đã đạt đến điểm tận cùng của ý Chúa và khám phá ra niềm an ủi thiêng liêng lớn lao từ bên trong tâm hồn nhờ chu toàn ý muốn rất thánh của Người.  Khi đến quần đảo Môrô ở Nam Dương (Indonesia ngày nay), ngài đã viết thư cho các anh em Dòng Tên ở Rôma đề ngày 20/01/1548, rằng: “Tôi nhớ ngày xưa chưa từng được an ủi thiêng liêng lớn lao và liên tiếp như trên đảo này, lại ít cảm thấy phải cực nhọc về phần xác […].  Thay vì gọi đó là Các Đảo Môrô, có lẽ nên gọi là Các Đảo Hi Vọng Vào Chúa thì hơn” [6].

Hăng say dấn thân vì đức tin nơi các vùng đất xa lạ và khắc nghiệt, thánh nhân luôn ước ao nên giống Đức Kitô nhằm phục vụ các linh hồn được nhiều hơn.  Trong tâm trí thánh nhân, điều làm ngài thao thức mãnh liệt và thường trực nhất là những vùng đất và những con người chưa được nhận biết Đức Kitô.  Dù nhận thấy đầy dẫy những hiểm nguy phía trước, như ngài viết: “những nỗi sợ, những hiểm nguy, những đau khổ mà bạn bè nói tới, tôi kể là số không; tôi chỉ còn sợ Thiên Chúa” [7], nhưng thánh nhân vẫn một lòng tận hiến cho kế hoạch của Chúa qua những thúc bách trong chính tâm hồn ngài.  Trong một lá thư viết cho thánh Inhaxiô, đề ngày 01/02/1549, ngài viết: “Con thấy tâm hồn rất phấn khởi.  Con không ngại đi Nhật Bản, vì con cảm nhận trong tâm hồn mình cái gì đó dạt dào, mặc dầu con hầu như chắc chắn sẽ gặp nhiều hiểm nguy lớn lao hơn những gì con từng gặp xưa nay” [8].

Chuyện kể lại rằng, một đêm kia, trong lúc ngủ, thánh Phanxicô đã kêu lên: “mas, mas, mas.”  Và sau này, chính ngài giải thích: “Tôi thấy công việc truyền giáo quá mênh mông, nhiều mệt nhọc và nhiều ưu phiền gây nên bởi đói khát, giá lạnh, các chuyến ra đi, những vụ đắm tàu, những cuộc bách hại, những phản bội và nhiều hiểm nguy khác… được gửi đến cho tôi; vì lòng yêu mến mà chính Chúa ban cho tôi và với ơn trợ giúp của Người, tôi chịu đựng được.  Vì thấy chưa đủ, tôi xin Người ban thêm và luôn luôn thêm mãi; nên tôi đã thốt lên những lời ‘mas, mas, mas’, có nghĩa là: ‘nhiều hơn nữa, nhiều hơn nữa, nhiều hơn nữa.’”  Những lời “nhiều hơn nữa” của Thánh Phanxicô dường như là những thúc đẩy thần bí làm cho thánh nhân hoàn toàn tận hiến cho Chúa Kitô để ơn cứu độ của Người đến được với các linh hồn.

Lòng say mê các linh hồn không bao giờ vơi cạn nơi thánh Phanxicô, với ý Chúa nhiệm mầu, thánh nhân đã phải nhìn về đại lục Trung Hoa mênh mông với tình yêu lai láng và ước nguyện lớn lao, nhưng chưa thành hiện thực.  Rạng sáng ngày 03/12/1552, thánh nhân qua đời tại đảo Shanchuan (Trường Xuyên) nơi cửa ngõ của đất Trung Hoa.  Tháng 03/1553, xác ngài được đưa về Malacca (Malaysia) trong tình trạng vẫn tươi nguyên.  Và mùa Chay năm 1554, xác ngài được đưa về Goa (Ấn Độ), một lần nữa, quan tài được mở ra và xác ngài vẫn tươi nguyên như đang ngủ.

Ngày 25/10/1619 Phanxicô Xaviê được Đức Phaolô V phong chân phước, và đến ngày 12/03/1622, Đức Grêgôriô XV nâng ngài lên bậc hiển thánh.  Năm 1748, thánh nhân được tôn phong làm Bổn Mạng của Phương Đông; và đến năm 1904, ngài được tôn phong làm Bổn Mạng công cuộc truyền bá Đức Tin.  Năm 1927, Đức Piô XI tôn phong ngài làm Bổn Mạng các xứ truyền giáo.

Chỉ với 46 năm tuổi đời, 15 năm linh mục, thánh Phanxicô Xaviê dù không sống lâu, nhưng ngài đã sống nhiều, sống hết và sống hoàn toàn cho Chúa và vì các linh hồn.  Cũng chỉ có hơn 10 năm ra đi truyền giáo, nhưng thánh nhân đã đi tới hơn 100 ngàn cây số, rửa tội cho khoảng 30 ngàn người tại Á Châu.

Thánh Phanxicô Xaviê là một Phaolô mới – một Ðại Tông Ðồ, là mẫu gương cho những người trẻ, đặc biệt cho các chủng sinh, linh mục và tu sĩ trong thời đại hôm nay về lòng khao khát đem Tin Mừng đến cho những người chưa nhận biết Đức Kitô.  Đã có rất nhiều nhà truyền giáo can đảm lên đường nhờ gương sáng và lời chuyển cầu của thánh Phanxicô Xaviê.  Trong chuyến viếng thăm mục vụ tại Ấn Ðộ tháng 02/1986, khi huấn từ cho các linh mục và nam nữ tu sĩ tại nhà thờ chính tòa Goa, nơi giữ xác không bị hư nát của Thánh Phanxicô Xaviê, sau khi thuật lại những chặng đường truyền giáo của thánh nhân, vị tông đồ không biết mỏi mệt của miền duyên hải Ấn Ðộ, của quần đảo Maluku (Indonesia), của Nhật Bản và của Trường Xuyên (đảo Shanchuan, Trung Hoa), Đức Gioan Phaolô II nói: “Ngày nay, các tông đồ của Tin Mừng phải theo bước chân của Nhà Truyền Giáo thời danh và nhiệt thành này để chiếu dọi ánh sáng Chúa Kitô cho mọi người dân của Lục Ðịa Á Châu này.”

Fx. Hồng Ân
______________

[1] X. Bài đọc Kinh Sách, lễ kính thánh Phanxicô Xaviê, bài đọc 2.
[2] Bt 15, 15: Bút tích thánh Phanxicô Xaviê, tài liệu 15, đoạn 15.  Tất cả những điều thánh Phanxicô Xavier đã viết, và còn lưu lại, được gom trong bộ Bút tích thánh Phanxicô Xavier, (bản tiếng Việt của Hoàng Sóc Sơn, S.J.)
[3] Bt 48, câu kết.
[4] Bt 50, 2.
[5] Bt 15, câu kết.
[6] Bt 59, 4.
[7] Bt 78, 2.
[8] Bt 70, 10.

TRAO TẶNG CÁI CHẾT CỦA MÌNH

Richard Gaillardetz (1958-2023)

Theo nhà thần nghiệm nổi tiếng Gioan Thánh giá, chúng ta có ba cuộc đấu tranh thiết yếu trong cuộc sống: nắm lại trong tay đời sống mình, trao tặng cuộc sống và trao tặng cái chết.  Những gì trong hai cuộc đấu tranh đầu tiên thì rõ ràng.  Nhưng trao tặng cái chết của mình có nghĩa gì?

Về bản chất, điều này có nghĩa: Cách chúng ta chết để lại di sản, một tinh thần cụ thể có thể nuôi dưỡng hoặc ám ảnh người ở lại.  Nếu chúng ta chết trong cay đắng và tức giận, không hòa thuận với người thân yêu, với chính mình và với Chúa, chúng ta để lại một tinh thần độc hại hơn là nuôi dưỡng.  Ngược lại, nếu chúng ta chết trong hòa giải và hòa bình với người thân yêu, với thế giới và với Chúa, thì như Chúa Giêsu, chúng ta để lại một tinh thần nuôi dưỡng, sưởi ấm, an ủi, giúp người thân được bình an thiêng liêng.  Cách chúng ta chết tô màu cho di sản chúng ta, di sản đó có thể là món quà hoặc gánh nặng cho người thân

Ngày 23 tháng 11 năm 2023, Richard (Rick) Gaillardetz, thần học gia nổi tiếng qua đời vì ung thư tuyến tụy khi đang ở tuổi sung sức nhất.  Ông là người chồng, người cha, người ông, diễn giả tài ba, người bạn, người cố vấn đáng mến của nhiều người, người đam mê thể thao, người có tinh thần hài hước sống động.  Ông cũng là người có đức tin vững chắc thử thách trong những tháng ngày mắc bệnh nan y.

Khi bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư hơn một năm trước khi qua đời, các bác sĩ cho biết, đó là bệnh nan y và không có cách chữa trị; ông phải đối diện với sự thật tàn khốc: mình sẽ chết trong hai năm tới.  Ông đã đối diện với sự thật này.  Và khi làm như vậy, ông cố gắng (có những lúc rất đau đớn) để biến cái chết của mình thành món quà có ý nghĩa cho gia đình, cho thế giới.  Trong những tháng trước khi qua đời, ông viết blog chia sẻ về cảm giác khi biết mình sắp chết, với tình yêu và đức tin, dù đau đớn, ông chấp nhận buông bỏ cuộc sống, buông bỏ đấu tranh với những bản năng kháng cự mạnh mẽ nội tâm.

Những trang viết này được gom lại trong quyển sách Cho đến khi tôi còn thở, tôi hy vọng (While I Breathe I Hope – A Mystagogy of Dying, Grace Agolia biên tập).

Đây là một số cảm xúc và suy nghĩ của ông:

– Không như nhiều thánh trong truyền thống của chúng ta, tôi không chọn sự suy yếu này; với tôi, tôi bị thúc đẩy, bị mời gọi, tôi không muốn. Nhưng tôi thấy đây là lời mời gọi đến với một sự yếu đuối được ban ơn, lời kêu gọi từ bỏ sự tự tin sai chỗ vào sức mạnh và quyền tự chủ cơ thể tôi.

– Tôi cầu nguyện cho cả hai, ơn cho sự suy yếu và ơn của sự suy yếu.

– Một trong những con quỷ mà tôi phải đương đầu mỗi ngày là cái tôi quá mức, nó không ngừng kêu gào tôi phải được chú ý như một đứa trẻ than van, lấn át nhu cầu và mối quan tâm của người khác. Một trong những ân sủng bất ngờ của sự suy yếu xuất hiện khi tôi ra khỏi bản ngã tự nhiên, để khám phá một nội tâm chứa lòng trắc ẩn bị lãng quên nhiều trước đau khổ của người khác.

– Tôi phải thú nhận, đôi khi tôi quá lo cho tiến trình chết. Nó sẽ như thế nào?  Tôi sẽ xử lý thế nào khi các cơ quan bắt đầu suy yếu và khi cái chết thực sự bắt đầu?  Liệu bình an tôi cảm thấy hiện tại có giúp tôi vượt qua thời gian “khác biệt” đó không?…  Qua tất cả những chuyện này, điều tôi giữ vững nhất trong lòng là tin Chúa đã bao bọc tôi sâu đậm trong tình yêu của Ngài kể từ khi tôi bị bệnh, chắc chắn Chúa sẽ không bỏ rơi tôi trong những ngày giờ cuối cùng này.  Bây giờ tôi thuộc về nhóm người già yếu và bất lực.  Họ là những người của tôi, gia đình cuối cùng của tôi.

– Việc trao đi cái chết không chỉ là vấn đề chấp nhận sự ra đi không thể tránh khỏi về mặt thể xác; việc trao đi cái chết đòi hỏi tôi phải chấp nhận những kinh nghiệm thụ động khi chờ đợi, khi bị suy yếu, khi bị sống bên lề, như một giải thoát khỏi nô lệ cho thành tích cá nhân và khỏi tự phụ. Nếu tôi dành không gian thích hợp cho những trải nghiệm này, chúng sẽ đưa tôi ra khỏi bản ngã ích kỷ, mở rộng tâm hồn tôi.

Chúng sẽ làm cho tôi đồng cảm hơn với nỗi đau của người khác, khuyến khích tôi cầu nguyện cho họ khi họ đau khổ, khi họ trải qua cái chết sắp tới.  Đó chính là cách giúp tôi nhẹ nhàng đi đến cái chết và sự phục sinh.

– “Nhiệm vụ cuối cùng của tôi là trả lại cho Chúa cuộc sống mà Chúa đã ban cho tôi.”

Khi nói lời từ giã các môn đệ, Chúa Giêsu hứa khi Ngài rời khỏi chúng ta, Ngài sẽ để lại Thần Khí hòa bình của Ngài cho chúng ta.  Khi chúng ta ra đi, tất cả chúng ta đều để lại đằng sau mình một tinh thần tuy không nói ra nhưng ảnh hưởng đến người thân ở lại của chúng ta.  Nếu chúng ta chết trong hòa bình với Chúa, với người khác và với chính mình, thì như Chúa Giêsu, người thân của chúng ta dù đang đau buồn vì mất mát, sẽ cảm nhận trong sâu thẳm tâm hồn họ, họ được nuôi dưỡng, sưởi ấm và an ủi khi nghĩ về chúng ta.

An nghỉ trong Chúa, Rick Gaillardetz, anh để lại cho chúng tôi, gia đình, bạn bè, thế giới món quà hòa bình.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CHẾT ĐẾN NƠI MÀ VẪN LO DỌN DẸP SAO?

“Hãy tỉnh thức và cầu nguyện chờ Chúa đến với chúng ta.”

Đêm 15.04.1912, tàu TITANIC đang chạy trên vùng Bắc Đại Tây Dương thì đụng vào một tảng băng, con tàu lâm nguy và bị đắm, hơn 1.500 người thiệt mạng.  Đó là một trong những tai nạn đường biển khủng khiếp nhất trong lịch sử từ trước tới nay.

Cách đây vài năm, có một tạp chí đã nhắc lại thảm họa này và nêu ra cho độc giả một câu hỏi nghe lạ tai mang đầy tính châm biếm: “Lúc tàu TITANIC đang chìm, nếu chúng ta có mặt ở đó, liệu chúng ta có còn tiếp tục dọn dẹp bàn ghế trên tàu không?”

Thọat tiên ai cũng tự nhủ: “Câu hỏi này mới khôi hài làm sao!”, vì ngay lúc còi hụ báo tàu đang chìm thì người có tâm trí bình thường; ai mà lo đi thu xếp bàn ghế?  Người có chút tỉnh táo thì ai lại có thể phớt lờ tiếng kêu la của đám người sắp chết đuối, để mải mê lo dọn dẹp bàn ghế!”

Tuy nhiên, cứ tiếp tục đọc bài báo đó, chúng ta sẽ hiểu được tại sao tác giả lại nêu lên câu hỏi kỳ quặc trên, để rồi đột nhiên chúng ta sẽ tự hỏi chính mình “Khi chiếc tàu đang chìm xuống như thế, biết đâu chừng mình lại tiếp tục dọn dẹp bàn ghế?  Chẳng hạn như mình vẫn cứ mải mê lo những chuyện vật chất đời này đến nỗi bỏ bê cả những việc thiêng liêng đạo đức của mình?  Hay mình cứ miệt mài kiếm sống đến nỗi chả còn đầu óc để chú ý đến cùng đích cuộc sống là gì nữa?  Hay mình đã quá đắm mình trong cuộc sống đến nỗi quên mất lý do tại sao Chúa đã trao ban cuộc sống ấy cho mình?

“Khi chiếc tàu đang chìm, liệu chúng ta có mải mê lo thu xếp đồ đạc trên tàu mà quên mất mình sắp chết đến nơi chăng?”  Câu hỏi đó trùng hợp một cách lạ lùng với câu hỏi mà Giáo Hội muốn nêu ra cho chúng ta trong Mùa Vọng này.  Cả ba bài đọc trong Thánh Lễ hôm nay đều kêu gọi chúng ta tự vấn “Liệu chúng ta có tiếp tục mải mê thu xếp đồ đạc mà quên mất nguy hiểm là chiếc tàu đang chìm không?  Chúng ta có quá bận rộn với cuộc sống này đến nỗi quên rằng mục đích cuộc sống này là để chuẩn bị cho cuộc sống mai sau không?”  Quả thế, trong bài Phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu cảnh cáo chúng ta: “Các con đừng bê tha chè chén say sưa hay quá lo lắng sự đời,” nghĩa là Ngài khuyên chúng ta hãy tỉnh thức và cầu nguyện chờ Chúa đến.  Chủ đề này được lập đi lập lại trong Phúc âm dưới nhiều hình thức.  Chẳng hạn ở một đoạn Phúc âm khác, Chúa Giêsu nói: “Hãy coi chừng; hãy tỉnh táo: các con không biết được ngày giờ nào Con Người sẽ đến, vào giấc tối, nửa đêm, lúc gà gáy hay vào buổi sáng… điều Ta nói với các con cũng là điều Ta muốn nhắn nhủ mọi người đó là Hãy tỉnh thức” (Mc. 33, 35-36).

Như vậy rõ ràng Mùa Vọng mời gọi chúng ta tỉnh thức và cầu nguyện để chờ đón Chúa đến.

Tôi xin đưa ra một ví dụ cụ thể để minh họa điều Chúa Giêsu muốn nói khi Ngài bảo chúng ta hãy tỉnh thức và cầu nguyện để chờ đón Chúa đến.

Cách đây mấy năm, tại Hollywood, có một tài tử điện ảnh đột nhiên ngã bệnh.  Sau khi khám bệnh cho anh, ông bác sĩ riêng của anh đã thẳng thắn nói cho chàng tài tử biết: “Tình trạng sức khoẻ của anh bi đát lắm: chúng tôi cần phải thực hiện một cuộc giải phẫu kéo dài 36 tiếng đồng hồ, may ra mới có thể cứu sống anh được.”  Về sau, chàng tài tử ấy đã thực sự thú nhận: “Trong 36 tiếng đồng hồ ấy, tôi đã học được nhiều điều hơn 36 năm trước đó của tôi, và tôi đã cảm nghiệm được.  Tôi khám phá ra rằng tôi chẳng hề sợ chết vì trước đó tôi có thói quen mỗi ngày cầu nguyện với Chúa Giêsu và bây giờ khi phút giây cam go xảy đến tôi cảm nhận được kết quả của lời cầu nguyện ấy.  Chính lúc đó tôi mới khám ra rằng nhờ những lời tâm sự, nói chuyện hàng ngày với Đức Giêsu trước đó, mà giữa Ngài và tôi chẳng xa lạ gì nhau, chúng tôi đã trở nên đôi bạn chí thân.”

Phúc cho ai nói lên được lời này khi Chúa đến: “Lạy Chúa, sau bao năm trung thành với việc tỉnh thức cầu nguyện, giờ đây con vui mừng được diện kiến Ngài.”  Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, đó chính là sứ điệp Giáo hội truyền dạy chúng ta trong Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng này.  Vậy, chúng ta hãy lo tỉnh thức cầu nguyện để khi Chúa Giêsu đến, Ngài sẽ nói với chúng ta:

“Hãy đến đây, hỡi các con yêu dấu của Ta.  Sau bao năm tháng xa cách, Ta thật hết sức vui mừng được gặp lại các con.”

Tôi xin kết thúc bài giảng hôm nay bằng lời cầu nguyện của một tác giả vô danh thuộc một trường dành cho dân da đỏ tên là Red Cloud (Hồng Vân) miền Pine Ridge tiểu bang South Dakota.  Tư tưởng của lời cầu nguyện này có liên quan đến chủ đề phụng vụ hôm nay là Hãy Tỉnh Thức và Cầu Nguyện:

“Kính lạy Thần Trí cao vời, hơi thở Ngài đem đến nguồn sống cho thế gian, con đang nghe tiếng Ngài thì thầm trong gió thổi.

Xin hãy lắng nghe con là kẻ bé mọn yếu hèn đang khấn cầu Ngài đây.

Xin cho con bước đi trên đường thiện mỹ, đôi mắt lúc nào cũng chiêm ngắm cảnh hoàng hôn màu tím, cho đôi tay con biết kính trọng mọi tạo vật của Ngài, và đôi tai con luôn nhạy bén nghe lời Ngài nói

Xin cho con ơn khôn ngoan để hiểu thấu những lời giáo huấn của Ngài, mà để con chế ngự kẻ thù hung hãn nhất là chính bản thân mình.

Xin cho con luôn sẵn sàng đến gặp Ngài với đôi tay thanh sạch và đôi mắt thẳng ngay và khi cuộc đời xế tàn tựa bóng hoàng hôn lịm tắt, tâm hồn con không phải hổ thẹn khi diện kiến Ngài.  Amen.”

Lm. Mark Link S.J.

SỐNG TÂM TÌNH BIẾT ƠN KHÁC VIỆC TỔ CHỨC MỪNG DỊP TẠ ƠN

Tư tưởng biết ơn, dâng lời tạ ơn và dâng lễ vật cảm tạ được lặp đi lặp lại trong Thánh Kinh nhiều lần, tất cả là 195 lần.  Tác giả Thánh vịnh 116 trong lời kinh tạ ơn có ghi lại: “Biết lấy gì đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Người đã ban cho” (Tv 116:12).

Ngôn sứ Isaiah nhắc nhở cho dân chúng dâng lời cảm tạ Thiên Chúa về tất cả những gì Người đã làm cho họ (Is 63:7).  Thánh Phaolô thì khuyên giáo hữu Côlôxê đối xử với nhau bằng tâm tình biết ơn lẫn nhau nên phải: “Có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại.  Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em, người này có điều gì phải trách móc người kia” (Cl 3: 12-13).  Còn trinh nữ Maria thì dâng lời cảm tạ Thiên Chúa vì Người đã làm những việc trọng đại nơi mình bằng cách ra đi phục vụ bà chị họ đang mang thai trong tuổi cao niên (Lc 1:39-44).  Khi còn tại thế, Ðức Giêsu cũng thường dạy các môn đệ sống tâm tình tạ ơn.  Khi ngồi vào bàn ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời cảm tạ (Mt 15:36; Mc 8:6; Ga 6:11).  Khi lập Bí tích Thánh thể trong bữa Tiệc Ly, Người cũng cầm bánh, dâng lời tạ ơn (Lc 22:19), rồi cầm chén rượu cũng dâng lời cảm tạ (Mt 26:27; Mc 14:23).

Đức Giêsu còn dâng lời tạ ơn Thiên Chúa Cha đã ban cho những người bé mọn được hiểu biết về màu nhiệm Nước Trời.  Còn những người khôn ngoan, thông thái lại không lãnh hội được.  Ðiều được tiết lộ cho những người này, thì lại bị giấu kín khỏi những người khác.

Vậy thì đâu là sự khác biệt và tại sao có sự khác biệt về sự khôn ngoan và thông thái với trí khôn loài người?  Việc Thiên Chúa bày tỏ cho loài người qua Thánh Kinh là kho tàng chung của nhân loại, nghĩa là ai cũng có thể mua cuốn Thánh Kinh để đọc lời Chúa, nếu có tiền.  Tuy nhiên chỉ có những người mở rộng tâm hồn, những người khiêm tốn trước quyền lực siêu nhiên, mới có thể lãnh hội được lời Chúa.

Ðó chính là ý nghĩa lời Chúa phán trong Phúc âm Thánh Mát-thêu: ‘Lạy Cha là Chúa trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan và thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn’ (Mt 11:25).

Chẳng thế mà văn hào Blaise Pascal mới đặt bút viết: “Thiên Chúa của Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp, không phải là Thiên Chúa của các triết gia, những nhà thông thái.”  Pascal là nhà thông thái, nhà toán học, nhà vật lí học, nhà tranh luận và triết gia, mà đã nói lên điều đó.  Sinh năm 1662 tại Pháp quốc, Ông mồ côi mẹ lúc 3 tuổi.  Thân phụ là nhà toán học nổi tiếng, đích thân nuôi dạy Pascal và hai em, đem các con về Balê khi Blaise được 8 tuổi.  Khi chứng kiến phép lạ cháu gái Marguerite Périer, 10 tuổi được chữa lành khỏi bệnh chảy nước mắt, Ông biên soạn tác phẩm Pensées, nói lên đức tin của mình: “Scio cui credidi” (Tôi biết tôi đặt niềm tin vào Đấng Cứu thế), một tác phẩm được coi là một trong những kiệt tác của văn học Pháp.  Từ năm 18 tuổi, ông bị bệnh đau đầu thường xuyên.  Lúc 24 tuổi, ông bị liệt phải chống gậy.  Sinh thời, Ông tự nguyện sống khổ hạnh.  Câu nói để đời của Ông thường được trích dẫn là: “Con tim có những lí lẽ riêng của nó mà lí trí không hiểu được” (Le coeur a ses raisons que la raison ne comprends pas – The heart has its arguments that reason does not understand).

Trước khi nhắm mắt lìa đời vào tuổi 39, Ông xin được xức dầu thánh và cầu nguyện: “Con xin Chúa đừng bao giờ bỏ con.”  Đời sống thiêng liêng và trí thức của Paschal được nhiều vị giáo hoàng thán phục.  Ngày 08 Tháng 07, 2017, Giáo hoàng Phanxicô chấp thuận tiến hành án phong chân phước cho triết gia Blaise Pascal.

Vậy có phải Thiên Chúa giấu giếm, không cho bậc khôn ngoan, thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời không?  Nếu Chúa xử với bậc khôn ngoan và thông thái như vậy thì có vẻ Chúa không công bằng với họ vì chính Chúa đã tạo dựng nên người khôn ngoan và thông thái.  Và nếu như vậy thì kể là cũng tội nghiệp cho họ.

Thực ra thì Thiên Chúa bầy tỏ cho tất cả mọi người về màu nhiệm Nước Trời, nhưng chỉ có những người khiêm tốn và mở rộng tâm hồn để đón nhận sự thật và quyền năng siêu việt mới lãnh hội được mà thôi.

Chúa tạo dựng con người, nhưng Chúa ban cho con người ý chí tự do lựa chọn.  Những người khôn ngoan và thông thái mà cậy mình kiêu ngạo, thường không muốn tuỳ thuộc vào Chúa.  Khi người ta không muốn tuỳ thuộc vào Chúa là chính lúc mà mầu nhiệm Nước Trời bị cất giấu khỏi họ.

Khi mà tâm trí người ta đầy ắp những thứ mà người ta cho là của mình, thì những gì thuộc thiên giới không còn chỗ mà vào.  Còn những người khôn ngoan và thông thái mà có lòng khiêm tốn và mở rộng tâm hồn thì vẫn có thể tìm đến Chúa để tiếp nhận màu nhiệm Nước Trời.  Họ là những người to lớn về trí tuệ, mà lại bé mọn về tâm hồn.  Bé mọn theo nghĩa Thánh Kinh là đơn sơ, khiêm tốn, tuỳ thuộc và phó thác vào Chúa.

Tâm tình tạ ơn nảy sinh từ tâm tình đơn sơ, khiêm tốn, tuỳ thuộc và phó thác

Tâm tình đơn sơ, khiêm tốn, tuỳ thuộc và phó thác vào Chúa sẽ nảy sinh ra tâm tình biết ơn / cảm tạ. Tạ ơn nói lên nhu cầu thiếu thốn, nên muốn tuỳ thuộc vào Chúa.  Đó là tâm tình của người: “Uống nước nhớ nguồn” hoặc “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.”  Ðể có thể đến với Chúa và đặt niềm tin cậy vào Người như trẻ nhỏ phó thác vào cha mẹ, người ta cần có những đức tính của trẻ nhỏ như: đơn sơ, tuỳ thuộc và phó thác.  Khi lớn lên với những của cải giàu sang, với sự hiểu biết sâu rộng và quyền hành to lớn, người ta có hai lựa chọn: hoặc là người ta bớt tùy thuộc vào Chúa, không còn muốn tuỳ thuộc vào Chúa.  Hoặc người ta vẫn muốn tuỳ thuộc vào Chúa, tuỳ theo mức độ người ta gắn bó với của cải, quyền thế hoặc tài trí.  Tâm tình tạ ơn được biểu lộ trên nét mặt, trong thái độ và cử chỉ của người nhận ơn đối với Đấng ban ơn và người làm ơn.

Một tâm hồn kiêu căng, tự phụ không thể có được tâm hồn biết ơn / cảm tạ.  Tâm tình biết ơn bắt đầu bằng việc biết ơn về những ơn huệ nhỏ, rồi đến ân huệ lớn, chứ không phải chỉ biết ơn về những ơn huệ lớn nhận được, còn những ơn huệ, những tài năng, những của cải nhỏ bé nhận được, người ta lại coi thường hoặc bất mãn.  Khi người ta biết ơn Chúa về sự vật hay ân huệ gì: lớn hoặc nhỏ, người ta muốn nhớ đến Chúa, muốn tuỳ thuộc vào Chúa.

Tâm tình tạ ơn kéo dài suốt cả ngày sống và cuộc sống

Tâm tình tạ ơn là một tâm thức người ta phải có trong suốt cả ngày sống và cuộc sống, ngày cũng như đêm, nghĩa là 24/24 giờ mỗi ngày.  Như vậy tâm tình tạ ơn là một tâm thức luôn có trong tâm khảm của mỗi người trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống như khi thức giấc, khi làm việc, khi giải trí, khi ăn, khi ngủ trong suốt cả đời sống.  Còn hành động tạ ơn như lời cám ơn, việc làm tỏ lòng biết ơn chỉ có vào lúc nào đó trong đời.

Nếu có ai hỏi khi ngủ làm sao mà sống tâm tình tạ ơn.  Câu trả lời là khi có tâm tình tạ ơn, người ta sẽ ngủ dưới sự hiện diện của Chúa và dưới sự che chở của thiên thần Chúa.  Như vậy tâm tình tạ ơn sẽ thể hiện ra trong tâm tư, trong ước muốn, trong lời nói, việc làm, việc ăn, việc ngủ – ăn ngủ dưới sự hiện diện và trong tâm tình tạ ơn Chúa.

Mỗi người có nhiều lí do để tạ ơn.  Những ơn mà người ta nhận được cách chung như là ơn được sinh ra làm người, ơn có nhà ở, việc làm, có cơm ăn áo mặc, ơn được cắp sách đến trường học, ơn được có công ăn việc làm, ơn được nhận lãnh đức tin.  Mỗi người còn nhận được những ân huệ và tài năng khác nhau nữa như tài nói năng hoạt bát, làm thơ bay bướm, đàn ca hát hay, có năng khiếu về văn chương, nghệ thuật, khoa học, âm nhạc, thể thao.  Tài năng và ân huệ Thiên Chúa ban phải được phát triển và được dùng để phụng sự Chúa và phục vụ đồng loại.

Tâm tình tạ ơn là một tâm thức về thân phận yếu hèn, mỏng dòn và tội lỗi của mình mà được Chúa thương ban ơn tha thứ.  Như vậy, người có tâm tình tạ ơn thì nảy sinh ra tâm tình sám hối và tạ tội, khi nhận thức về tội lỗi được thứ tha.  Sau những năm tháng chống trả với những cám dỗ, người có tâm tình tạ ơn có thể hỏi sao Chúa dẫn đưa mình từng bước qua những chặng đường gập ghềnh và chông gai của cuộc sống, qua những cơn mây đen bao phủ tâm trí, những giằng co giữa lí trí và con tim để có được ngày hôm nay.  Người có tâm thức tạ ơn thường tự hỏi sao mình thua kém bạn bè cùng lứa tuổi về nhiều phương diện trong cuộc sống như trí tuệ, tài năng, phương tiện và gia cảnh, mà bây giờ mình được may mắn hơn họ?  Người có tâm thức tạ ơn cũng thường tâm niệm sao Chúa bảo vệ, gìn giữ và cứu sống mình qua những cạm bẫy, hiểm nguy của cuộc sống?

Để áp dụng thực hành thì trong ngày sống, người có tâm tình tạ ơn phải dâng lên Thiên Chúa những lời cảm tạ, những cử chỉ tạ ơn về những hồng ân, những ơn huệ nhận được.  Chẳng hạn tạ ơn Chúa cho một ngày đẹp trời, có nắng ấm dưới bầu trời xanh biếc với những vầng mây trắng điểm tô, thêm gió hiu hiu thổi nhè nhẹ và tiếng chim hót véo von.  Tạ ơn Chúa cho một giấc ngủ yên lòng, khiến tâm thần được thanh thản.  Cảm tạ Chúa cho một bữa ăn ngon lành.  Có những người không dám cảm tạ Chúa cho bữa ăn ngon, sợ làm như vậy là mất nhân đức hi sinh hãm mình.

Ði du lịch sang Mỹ, người ta thường nghe thấy hai tiếng cám ơn và xin lỗi trên cửa miệng người bản xứ.  Một lời khen họ về bất cứ chuyện gì, họ cũng cám ơn.  Sơ ý đụng chạm vào mình, họ cũng xin lỗi. Có lẽ năng cám ơn nhau, cũng phải nhắc nhở cho người ta đừng quên cám ơn Chúa.  Khi Đức Giêsu chữa mười người phong cùi, mà chỉ có một người trở lại cám ơn, mà người đó lại là người ngoại bang, thì Chúa mới hỏi: “Còn chín người kia đâu?” (Lk 17:18).  Có lẽ chín người không trở lại tạ ơn Chúa vì họ coi việc Chúa chữa lành cho họ, là bổn phận Chúa phải làm cho họ vì họ là dân được chọn chăng?

Thánh lễ theo nguyên tự Hi Lạp Eucharistos có nghĩa là tạ ơn.  Người tín hữu thời Giáo hội sơ khai khi đi dâng lễ, họ mang trong tâm tư ý niệm và tâm tình tạ ơn.  Ðối với người tín hữu, đến nhà thờ dâng lễ là cách thế tốt nhất để bầy tỏ tâm tình tạ ơn.  Vậy tạ ơn Thiên Chúa mà không đến nhà thờ dâng thánh lễ tạ ơn là một thiếu sót lớn, làm mất đi nhiều ý nghĩa của ngày lễ Tạ ơn vậy.

Tâm tình tạ ơn loại trừ lòng ghen tuông, bất mãn và oán hận

Thường khi gặp những rủi ro, bệnh tật, đau khổ, bất hạnh, người ta hay bất mãn, than trách Trời, Phật và Chúa.  Khi thấy người khác có những sự vật và tài năng mà người ta không có, người ta thường nảy sinh lòng ghen tuông, phân bì.  Những lời lẽ hoặc thái độ phàn nàn, than trách, phân bì, ghen tuông làm cho mắt người ta bị che đậy lại, không nhìn thấy những chiều sáng của cuộc đời.  Kết quả là người ta nảy sinh ra thái độ tiêu cực như: hận đời và còn hận cả đấng Hóa Công như: “Hóa Công sao khéo trêu ngươi” (Cung Oán Ngâm Khúc) hoặc “Phũ phàng chi bấy Hóa Công” (Thuý Kiều).  Khi người ta nhận ra được rằng càng phàn nàn, than trách, càng làm cho người ta khổ thêm, khiến người ta phải suy nghĩ và xét lại.  Từ đó có thể là khởi điểm cho cuộc hành trình thay đổi cách nhìn đời.

Với con mắt đức tin, những gì xem ra bề ngoài là rủi ro, thua thiệt, đau khổ có thể mang lại lợi ích cho người ta về đường dài hay về đời sống tinh thần và thiêng liêng.  Người có được tâm tình tạ ơn thì nhận thức được rằng Thiên Chúa ban cho ai những nén bạc nào và tới mức độ nào, là quyền tự do của Chúa.  Người nhận được nhiều nén bạc thì phải sinh lợi ra nhiều hơn (Mt 25:20-23) để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ đồng loại.

Chỉ khi nào sống trong tâm tình biết ơn, người ta mới nhìn thấy những chiều sáng của cuộc đời.  Nếu nhìn quanh, người ta thấy còn biết bao người nghèo đói, thiệt thòi, đau khổ về phần xác và tinh thần.  Như vậy phải chăng người ta còn được may mắn hơn nhiều người khác gấp bội.  Khi tỏ ra biết ơn đối với những ân huệ nhận được nơi Thiên Chúa, người ta cũng sửa soạn cho mình đón nhận thêm hồng ân của Chúa.

Tâm tình tạ ơn biểu lộ ra bằng việc giúp đỡ, chia sẻ và tha thứ

Tâm tình tạ ơn được biểu lộ ra bằng việc giúp đỡ và chia sẻ: chia sẻ tiền bạc, cuả cải và tài năng.  Tâm tình tạ ơn cũng được biểu lộ ra bằng việc tha thứ cho người xúc phạm đến mình.  Có người đầy tớ kia nợ ông chủ món nợ khổng lồ, mà không trả được, nên van xin ông chủ cho hoãn trả.  Động lòng thương, ông chủ tha luôn món nợ.  Tuy nhiên, người đầy tớ này lại không chịu tha thứ cho người bạn, chỉ nợ anh ta số nợ nhỏ, lại còn tống giam người đầy tớ vào ngục tù.  Khi câu truyện được trình bày cho ông chủ, người đầy tớ liền bị tống vào ngục tù cho tới khi anh ta trả hết nợ (Mt 18: 24-34).  Đức Giê-su dùng cơ hội này để kêu gọi loài người phải thương xót và tha thứ cho nhau như là cơ hội để người ta học bài học của người đầy tớ không chịu tha thứ.

Tâm tình tạ ơn còn được biểu lộ bằng việc bỏ qua những lỗi lầm của người khác đã xúc phạm đến mình trong tư tưởng, lời nói và việc làm trong đời sống hằng ngày.  Nói lời tạ ơn thôi có thể chỉ là bôi bác bề ngoài, nếu lời cảm tạ không phát xuất tự đáy lòng hoặc không có việc làm đi theo.  Lời cám ơn sẽ trở thành hiện thực khi người ta biết đem ra thực hành bằng cách chia sẻ những hồng ân Thiên Chúa ban tặng với người thiếu thốn.

Trên một chuyến bay chở hàng giám mục Hoa Kì sang La Mã họp Công Ðồng Vaticanô II, tổng Giám mục Fulton Sheen, một nhà giảng thuyết hùng biện và cự phách trên truyền hình Mỹ, thấy một chiêu đãi viên trẻ đẹp, bèn ghé vào tai cô hỏi có bao giờ cô đã tạ ơn Chúa về sắc đẹp mà Thiên Chúa ban chưa?  Sau đó cô đến xin ý kiến tổng Giám mục Sheen xem cô nên làm gì để tạ ơn.  Bất chợt không sửa soạn đề nghị cách thế cảm tạ thế nào cho cô, mà lại vừa đọc báo, nghe tin Ðức Cha Cassaigne, Tổng Giám mục Sàigòn xin từ chức để phục vụ người phong cùi tại Di Linh, Ðức Cha Sheen mới đề nghị cô nên sang Việt Nam giúp Đức Cha Cassaigne  phục vụ người cùi ở đây một thời gian để làm dịu bớt những đau khổ và buồn tủi của người xấu số.  Thất vọng về lời đề nghị, cô quay ngoắt ra về mà không thèm chào.  Ðến năm 1963, báo chí Sàigòn loan tin về một chiêu đãi viên trẻ đẹp, hãng máy bay PANAM Mỹ, tình nguyện sang phục vụ người phong cùi ở trại Di Linh sáu tháng.  Nghe tin khi trở về Mỹ, cô này xin vào dòng tu làm “Ma Sơ”, mà cho tới lúc này, tác giả chưa kiểm chứng được.

Tâm tình tạ ơn khác việc tổ chức mừng lễ tạ ơn vào dịp này nọ.

Như đã bàn ở trên, tâm tình tạ ơn kéo dài suốt cả cuộc sống.  Còn việc tổ chức mừng lễ tạ ơn vào dịp kỷ niệm nọ kia chỉ có tính cách giai đoạn, chỉ kéo dài một vài giờ hoặc mấy ngày như mừng sinh nhật, mừng lễ ngân khánh, kim khánh linh mục, ngân khánh, kim khánh thành hôn, khấn hứa hoặc thành lập giáo xứ hoặc được thăng chức này nọ.

Việc tổ chức mừng lễ kỷ niệm tạ ơn vào dịp nọ kia có thể được làm vì theo thói quen xã hội.  Người ta có thể tổ chức mừng lễ kỷ niệm, dâng lời tạ ơn vào dịp nọ kia, mà không thực sự có tâm tình biết ơn và cảm tạ.  Nếu người ta coi những sự vật, của cải, tài năng mình có, là chuyện ngẫu nhiên, họ cũng không thể có được tâm tình biết ơn.  Còn tâm tình tạ ơn phát xuất tự thâm tâm mình đối với Đấng Tạo Dựng và điều hành vận mạng đời mình.

Như vậy việc tổ chức mừng lễ tạ ơn và dâng lễ cảm tạ vào dịp này nọ, thường xuyên hay hằng năm với bằng phép lành xin mãi từ Toà Thánh của Đức Thánh mà thiếu tâm tình tạ ơn, và không sống theo ý Chúa thì không biết có làm đẹp lòng Chúa không?

Ngoài ra tổ chức lễ tạ ơn mà nhắm để kiếm một số tiền mừng hoặc để khoe khoang về phương diện nào đó của cá nhân hay gia đình, thì đã áp dụng sai ý nghĩa của việc tạ ơn.

Có được tâm tình tạ ơn đối với Thiên Chúa mà không có khả năng biểu lộ tác động tạ ơn bằng cách đền ơn Chúa bằng việc giúp đỡ người thiếu thốn, đói khát, khổ sở thì Chúa cũng hiểu cho.  Còn nếu không có tâm tình tạ ơn mà tổ chức mừng lễ tạ ơn vào dịp nọ kia, thì đó chỉ vì làm theo thói quen, theo phong tục xã hội mà thôi.

Có lời Chúa trong Thánh Vịnh dạy rằng: “Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, nhưng đã mở tai con. Này con xin đến để làm theo ý Chúa và ấp ủ luật Chúa trong lòng” (Tv 40: 7-9). Lời Thánh Vịnh khác còn dạy: “Chúa chẳng ưa thích gì tế phẩm, con có thượng tiến lễ toàn thiêu, Ngài cũng không chấp nhận. Lạy Chúa, tế phẩm dâng Ngài là tâm hồn đổ vỡ, một tấm lòng đổ vỡ, ăn năn, Ngài sẽ chẳng khinh chê” (Tv 51:18-19).

Lm Trần Bình Trọng

TẤM LÒNG THANH

Mừng Chư Thánh Hiển Vinh Nơi Thiên Quốc
Xót Các Hồn Thanh Luyện Chốn Ngục Hình

Theo lẽ thường thì “xa mặt, cách lòng.”  Hầu như các mối quan hệ đều có “điểm chung” như vậy.  Chẳng hạn, họ hàng cùng cấp độ, nhưng với người ở gần thì mức độ tình cảm khác với người ở xa.  Tuy nhiên, về phương diện tâm linh không như vậy, đặc biệt là tâm linh Kitô giáo.

Thật vậy, Tháng Mười Một xác định cái “lý lẽ” đó: Các thánh và những người đã qua đời là những người ở rất xa, thế mà họ vẫn rất gần chúng ta – thậm chí còn gần hơn khi họ còn sống trên thế gian này.

Họ ở hai nơi khác nhau như họ đều là các thánh nhân, chỉ khác tình trạng một chút: ĐÃ sạch và CHƯA sạch, ĐÃ là thánh và chắc chắn SẼ là thánh.  Cầu nguyện với các thánh là điều rõ ràng rồi, nhưng chúng ta vẫn có thể cầu xin các linh hồn giúp đỡ chúng ta, mặc dù họ không thể tự giúp chính họ được nữa.  Cầu nguyện với các linh hồn hiệu quả lắm – nhất là trong Mùa Cầu Hồn này.

1. THANH SẠCH

Các thánh trên Thiên Đàng là những người đã thanh sạch.  Chắc chắn như vậy, bởi vì không thanh sạch thì không thể chiêm ngưỡng Thiên Chúa và không được đến gần Ngài.

Tv 24:3-6 cho biết: “Ai được lên núi Chúa?  Ai được ở trong đền thánh của Người?  Đó là kẻ TAY SẠCH LÒNG THANH, chẳng mê theo ngẫu tượng, không thề gian thề dối.  Người ấy sẽ được Chúa ban phúc lành, được Thiên Chúa cứu độ thưởng công xứng đáng.  Đây chính là dòng dõi những kẻ kiếm tìm Người, tìm thánh nhan Thiên Chúa nhà Gia-cóp.”  Người sống thanh sạch là người được công chính hóa, và còn thêm ích lợi khác: “Kẻ tay sạch lòng thanh sẽ được thêm sức mạnh.” (G 17:9b)

Nói đến lòng thanh sạch, chúng ta có thể nhớ ngay tới người trưởng thu thuế là ông Da-kêu mà trình thuật Lc 19:1-10 đề cập.  Ông là một người lạ lùng lắm.  Tên Da-kêu là Zacchaeus, Hy ngữ là Ζακχαῖος hoặc Zakchaios, có nghĩa là TRONG SẠCH và CÔNG CHÍNH.  Cái tên rất đặc biệt, rất ý nghĩa.  Nhưng không chỉ là cái tên suông, mà chính ông đã thực hiện ngay lập tức.  Ông nói với Chúa Giêsu: “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.”  Câu nói của ông cho thấy rằng ông làm một lúc hai việc: Bác Ái và Đền Tội.  Ông bác ái bằng cách dùng phân nửa tài sản để giúp người nghèo, và đền tội bằng cách đền gấp bốn những gì ông đã tham lam bằng cách nào đó.

Các thánh cũng đã một thời là phàm nhân, nghĩa là cũng có thể phạm tội, nhưng các ngài đã mau mắn sám hối và đền tội.  Ngày xưa người ta có cách “đánh tội” khá phổ biến, tức là lấy dây và tự đánh mình, có khi rỉ máu ra, đã có nhiều vị thánh áp dụng “biện pháp” này.  Chịu đau khổ là cách đền tội ở đời này và hiệu quả, chịu đau khổ như vậy để mong không phải vào Luyện Hình – tức là “lên thẳng” và vào Thiên Đàng ngay.

Là phàm nhân đồng nghĩa với là tội nhân.  Là tội nhân nghĩa là “dơ bẩn” lắm.  Nếu dơ bẩn thì phải giặt cho sạch, tốt nhất là “giặt” bằng Bửu Huyết của Đức Giêsu Kitô.  Các thánh là những người “đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên.” (Kh 7:14)  Và đó là điều diễm phúc: “Phúc thay những kẻ giặt sạch áo mình, để được quyền hưởng dùng cây Sự Sống và qua cửa mà vào Thành!” (Kh 22:14)

Đền tội là điều tự nguyện, nhưng vẫn phải nhờ ơn Chúa giúp sức: “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ.” (Tv 51:12)  Đền tội là hoàn thiện theo ý Chúa, không cần bề ngoài, mà cần tự đáy lòng: “Lạy Thiên Chúa, tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát, một tấm lòng tan nát giày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê.” (Tv 51:19)  Thế là hết bẩn, thế là được sạch, được sạch thì thoát “ngưỡng” Luyện Hình.  Thật tuyệt vời biết bao!

2. THANH LUYỆN

Các linh hồn nơi Luyện Hình là những người chưa thanh sạch, vì thế mà cần thanh luyện một thời gian để có thể xứng đáng bước vào Thiên Đàng.  Luyện Hình như “phòng chờ” đến lượt nhận phần thưởng đời đời.  Ở “phòng chờ” lâu hay mau tùy mức độ “dơ bẩn” nhiều hay ít.  Vào Luyện Hình là chắc chắn được vào Thiên Đàng.

Luyện Hình còn gọi là Luyện Ngục – nơi thanh tẩy linh hồn trở nên sạch sẽ, thanh luyện tới mức tinh tuyền.  Chính cái tên gọi cho thấy đó là nơi đau khổ.  Nên nhớ rằng hình phạt ở Luyện Hình cũng đau khổ như ở Hỏa Ngục, không hề “nhẹ nhàng” hơn.  Có điều khác nhau là đau khổ ở Luyện Hình có giới hạn, linh hồn chịu thanh luyện đủ mức thì được lên Thiên Đàng; còn đau khổ ở Hỏa Ngục vô hạn, “mất trắng” đời đời, phải “khóc lóc và nghiến răng” vĩnh viễn.  Lửa ở hai nơi đó không như lửa ở thế gian; so với lửa ở hai nơi đó thì lửa ở thế gian chỉ như “gió nhẹ hiu hiu” mà thôi.  Thật đáng sợ!  Thế nên Thánh Phaolô nhắc nhở: “Hãy biết RUN SỢ mà GẮNG SỨC lo sao cho mình được cứu độ.” (Pl 2:12)

Gọi là hình phạt nhưng không phải là Thiên Chúa không nhân từ, mà đó là hồng ân thương xót của Ngài.  Chính hình phạt đó là sự công bằng của Thiên Chúa, bởi vì tại chúng ta chiều chuộng mình, thích dễ dãi, khoái ung dung, sợ khó, sợ khổ, không chịu “tu thân” ở đời này, thế nên phải chịu thanh luyện ở Luyện Hình.  Phải vào Luyện Hình cũng là diễm phúc rồi.  Không phải vào đó thì quá tuyệt vời rồi. nhưng làm sao có thể “lên thẳng” chứ?  Cố gắng thanh luyện mình ở đời này, tức là sống đền tội ở thế gian.  Nhưng “phương pháp” tự thanh luyện ở đời này là gì?  Thánh Phêrô cho biết: “Nhờ VÂNG PHỤC sự thật, anh em đã THANH LUYỆN tâm hồn để thực thi tình huynh đệ chân thành.” (1 Pr 1:22a)

Chấp nhận sự hèn yếu của mình cũng là cách tự thanh luyện – đền tội liên lỉ, đền tội bền bỉ, đền tội không nghỉ.  Thánh Phaolô nói: “Trong một ngôi nhà lớn, không phải chỉ có những đồ vật bằng vàng bằng bạc, nhưng cũng có những đồ vật bằng gỗ bằng sành; thứ thì dùng vào việc cao quý, thứ thì dùng vào việc thấp hèn.  Vậy ai THANH TẨY mình cho sạch những điều xấu nói trên, người đó sẽ là một đồ vật dùng vào việc cao quý, một đồ vật được thánh hiến, có ích cho chủ, sẵn sàng làm mọi việc lành.” (2 Tm 2:20-21)

Không phải vào Luyện Hình có thể là phúc hoặc khốn.  Có thể “vào thẳng” nơi nào đó: Không phải vào Luyện Hình là PHÚC nếu vào thẳng Thiên Đàng, không phải vào Luyện Hình là KHỐN nếu vào thẳng Hỏa Ngục.  Những kẻ khốn là ai?  Thánh Phaolô nói: “Anh em phải biết rõ điều này: KHÔNG một kẻ gian dâm, ô uế hay tham lam nào – mà tham lam cũng là thờ ngẫu tượng – được thừa hưởng cơ nghiệp trong Nước của Đức Kitô và của Thiên Chúa.  Đừng để ai lấy lời hão huyền mà lừa dối anh em, chính vì những điều đó mà cơn thịnh nộ của Thiên Chúa giáng xuống những kẻ KHÔNG VÂNG PHỤC.” (Ep 5:5-6)

Thánh Antôn Padua, tiến sĩ Phúc Âm, có lời khuyên cấp bách: “Ngay hôm nay, anh em hãy làm một việc tốt cho người mà anh em không ưa.”  Đó là thiện cử rất phù hợp với khuyến cáo của Chúa Giêsu Kitô: “Hãy yêu kẻ thù cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em, và làm ơn cho kẻ ghét anh em.” (Mt 5:44; Lc 6:27)  Đó không chỉ là sống yêu thương, thi hành luật bác ái, mà còn là cách tự thanh luyện ở đời này để hy vọng không phải vào Luyện Hình – dù chỉ một thoáng.

Chúa Giêsu yêu thương mọi người, muốn ai cũng được ở với Ngài đời đời kiếp kiếp.  Thật vậy, chính Ngài đã cầu xin với Thánh Phụ: “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành.” (Ga 17:24)

Tháng Mười Một – Tháng Cầu Hồn, và các ngày Thứ Hai trong tuần, là cơ hội tốt để chúng ta nhớ đến những người đã khuất bóng trần gian.  Cầu nguyện cho họ cũng là cầu nguyện cho chính mình.  Khi hiện ra tại Fátima năm 1917, Đức Mẹ dạy cầu nguyện cho các linh hồn: “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội chúng con, xin cứu chúng con khỏi sa hoả ngục, xin đem các linh hồn lên thiên đàng, nhất là những linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn.” (Lời Nguyện Mân Côi sau mỗi chục Kinh Kính Mừng) Không có linh hồn nào mồ côi đâu!

Lạy Thiên Chúa công bình như giàu lòng thương xót, con đã phạm bao nhiêu tội lỗi, bao nhiêu lần con đã phản nghịch, đã đắc tội với Ngài, xin cho con được biết.  (G 13:23) Xin thêm các nhân đức đối thần và đối nhân để con có thể tôn vinh Ngài trong cuộc sống đời thường, mặc dù con hèn hạ với thân tro kiếp bụi.  Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại.  Amen.

Trầm Thiên Thu

NƯỚC CỦA TÔI

Trước toà án Philatô, Đức Giêsu đã khẳng định: “Tôi sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: đó là để làm chứng cho sự thật.”  Sự thật mà Ngài tuyên bố là ý định cứu rỗi của Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã sai Con Một Ngài đến để cứu độ thế gian.”  Vương quốc của Vua Giêsu là vương quốc của sự thật và “Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng Tôi.”

Nhiều lần Đức Giêsu đã khước từ làm vua theo kiểu trần thế.  Vương quốc trần gian do con người thiết lập bằng sức mạnh, thường đem lại giàu sang và vinh quang.  Đức Giêsu từ chối loại vương quốc huy hoàng do Satan đề nghị: Nếu ông quỳ gối thờ lạy tôi, tôi sẽ cho ông mọi vương quốc làm sản nghiệp.  Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều “dân Do thái muốn tôn Đức Giêsu làm vua, nhưng Ngài trốn lên núi.”  Khi trả lời cho những kẻ gài bẫy: “chúng tôi có phải nộp thuế cho Xêza không?”, Đức Giêsu đáp: “của Xêza hãy trả cho Xêza, của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa.”  Đặc biệt trong phiên toà xét xử, Philatô hỏi Đức Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do thái không?”, Đức Giêsu đã tuyên bố “Tôi là Vua,” nhưng Ngài xác định: “Nước tôi không thuộc về thế gian này.”

Nước tôi: Chúa Giêsu xác định, Ngài là Vua, vì có một Nước để Ngài thống trị; cho nên Ngài mới nói: Nước tôi, nghĩa là Nước của tôi.  Vậy, Nước của tôi là nước nào?

1. Đó là Nước của Sự Thật

Nước của trần gian là nước của chính trị.  Mà chính trị nào lại không có thủ đoạn và lừa đảo.  Nhìn chung, các vua trần gian thì tham lam, ích kỷ, dâm ô.  Khi đã chiếm được ngai vàng, họ coi thần dân như bầy tôi, giang sơn đất nước là tài sản riêng của họ: “Thần dân của trẫm.  Giang sơn của trẫm.”  Nghi ngờ kẻ nào có ý phản loạn thì giết ngay tức khắc và còn tru di cả tam tộc cửu tộc nữa.  Nếu muốn đổi triều đại, phải chiến tranh giành giật đẫm máu.  Đọc lịch sử Việt Nam, mỗi thay đổi triều vua từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê… toàn là máu và nước mắt.  Đến đời Nguyễn Ánh tự xưng là Gia Long hoàng đế, làm vua từ năm 1802, cha truyền con nối kéo dài hơn 100 năm.  Năm 1945, vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn là Bảo Đại thoái vị…

Nước của Vua Giêsu là Nước sự thật thuộc thế giới niềm tin, thế giới tâm linh trong tâm hồn con người.  Nước sự thật đó hoàn toàn khác biệt với đế quốc của Xêza hay bất cứ đế quốc nào, chủ nghĩa nào.  Nuớc của Xêza chỉ cai trị thể xác loài người, còn Nước sự thật chiếm trọn lòng người.  Thế lực của Xêza là quân đội, khí giới, nhà tù.  Sức mạnh Nước sự thật là niềm tin yêu thương tha thứ.  Dù rộng lớn, đế quốc Xêza cũng bị giới hạn, còn Nước sự thật vô biên, được thiết lập mọi nơi.  Các triều đại phong kiến, các thể chế chính trị cũng đã và đang chấm dứt trong dòng thời gian như đế quốc của Xêza, chỉ còn vương quốc sự thật và niềm tin là tồn tại muôn đời.

Chính niềm tin tôn giáo dạy chúng ta rằng: mục đích tối thượng của các tôn giáo là hướng con người đến chân thiện mỹ.  Qua không gian thời gian, trải qua bể dâu của lịch sử với những thao thức băn khoăn của kiếp người, con người luôn luôn tìm đến niềm tin tôn giáo.  Con người tiếp nhận sự sống từ chính nguồn sống là Thiên Chúa như trái đất nhận lãnh ánh sáng từ mặt trời.  Thiếu ánh sáng mặt trời thì không có sự sống trên trái đất.  Cũng thế, không có Thiên Chúa thì không thể có sự sống.  Thiên Chúa thông ban sự sống cho con người vì Thiên Chúa yêu thương con người.  Thiên Chúa yêu thương mọi người ngay cả những ai chối bỏ và thù ghét Ngài.  Con người là hình ảnh cao quý của Thiên Chúa.   Thánh thiện hay tội lỗi, giàu sang hay nghèo hèn, bạn hữu hay thù địch, mỗi con người đều là hình ảnh Thiên Chúa.  Chỉ xuyên qua niềm tin và tình thương con người mới đến được với Thiên Chúa.  Với sức mạnh niềm tin, chúng ta khẳng định rằng: trên vạn nẻo đường của cuộc đời mỗi người, bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu Thiên Chúa luôn có mặt để hướng dẫn nâng đỡ chúng ta.  Sống cho hạnh phúc của tha nhân, đó là sự thật mà mỗi thần dân sống trong Nước sự thật  của Vua Giêsu được mời gọi thể hiện mỗi ngày.

2. Đó là Nước của Tình Yêu

Chúa Giêsu là Vua Tình Yêu.  Chính tình yêu là sức mạnh của nước Ngài thiết lập.  Đức Kitô là vua, nhưng lại rất khác với các vua trần thế ở chỗ: để cai trị, các vua thế gian dùng quyền lực, còn Ngài dùng tình thương.  Ngài yêu thương mọi người, như người mục tử tốt lành yêu thương chăn dắt đoàn chiên, biết rõ từng con chiên một, và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì lợi ích của chiên (Ga 10,11-16).  Luật pháp trong nước của Ngài là sống trong Tình Yêu.  Một Tình Yêu trọn vẹn theo chiều dọc là Thiên Chúa.  Một Tình Yêu chan hòa theo chiều ngang đối với đồng loại của mình.

“Khi một mình đối diện với những ghen ghét thù hận của đám đông, Đức Giêsu muốn dạy ta biết Thiên Chúa là tình yêu.  Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa trên trần gian.  Vì yêu thương mà Ngài đã xuống trần gian.  Ngài đã yêu thương cho đến chết vì yêu.  Đó là tình yêu lớn lao nhất như lời Ngài nói: “Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu.”  Dù những thù hận vây bọc, nhưng Đức Giêsu vẫn yêu thương.  Hôm nay đơn thân độc mã trong vòng vây của hận thù, Đức Giêsu vẫn xưng vương để cho ta thấy: tình yêu thương đã chiến thắng.  Hận thù đem lại chết chóc, chỉ có tình yêu thương mới cứu được thế giới.  Đức Giêsu đã chiến thắng.  Ngài là Đấng đầu tiên từ trong kẻ chết sống lại.  Với chiến thắng, Đức Giêsu mở cửa nước của Ngài.  Đó là nước của Sự Thật.  Chỉ những ai thuộc về sự thật mới được vào.  Và những ai thuộc về sự thật phải biết chiến thắng sự giả trá.  Sự giả trá đó là sự chết, đó là những vinh hoa phú quý trần gian và đó là lòng thù hận ghen ghét.  Hiểu biết sự thật, đập tan sự dối trá, ta mới tiến vào Nước Sự Sống theo bước Đức Giêsu Kitô.  Với chiến thắng Ngài thật sự là Đường dẫn đến Sự Thật và Sự Sống muôn đời.” (ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt).

Trong bài đọc 2, Thánh Gioan xác tín: “Đức Giêsu Kitô là vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết chỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian, ban cho anh em ân sủng và bình an.  Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người” (Kh 1,5-6).  Thánh Phaolô cũng xác định: “Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (Rm 14,17).  Vua Giêsu đã thi hành vương quyền bằng cách yêu thương mọi người đến nỗi sẵn sàng hiến cả mạng sống.

Yêu Thương là một mệnh lệnh có tính cách bắt buộc, Chúa Giêsu đã ban bố giới luật yêu thương: “Thầy ban cho các con một điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau.”  Yêu Thương đã trở thành một giới răn quan trọng nhất như là giới răn kính mến Thiên Chúa.

Tình yêu thương của Chúa Giêsu đã trở nên nguồn cảm hứng vô tận cho biết bao nhiêu sáng kiến, bao nhiêu tổ chức, bao nhiêu phong trào, bao nhiêu dòng tu chuyên lo dấn thân phục vụ trong yêu thương.

Tình yêu chi phối mọi sinh hoạt cuộc đời.  Con người đau khổ vì không có tình yêu.  Chúa là tình yêu.  Chỉ những ai biết tìm đến với Ngài, được Ngài thông truyền cho tình yêu, họ mới biết mở mắt để nhận ra được mọi người anh em, như thế mới có thể yêu thương.  Bản tính của tình yêu là cho đi điều tốt lành.  Ai sống yêu thương thì thuộc về Chúa, là thần dân của Ngài.  Nước của Chúa Kitô Vua là nước của tình yêu.  Muốn vào nước ấy, phải là người có lòng yêu mến Chúa và yêu thương anh em thật sự.

Nước của Tôi: Sự Thật và Tình Yêu.

Nước của Sự Thật: “Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng Tôi.”  Đứng về phía sự thật là chấp nhận mạc khải của Chúa Giêsu và coi đó là nguyên tắc của đời sống mình, là để Sự Thật hướng dẫn mình.  Sự Thật đó là chính Chúa Giêsu.  Nghe tiếng của Chúa là tìm hiểu và sống Lời của Ngài.

Nước của Tình yêu: “Con người không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ hiến mạng sống cho nhiều người.”  Chúa mời gọi những ai theo Ngài phải biết sống vị tha và yêu thương.  Trong vương quốc Tình Yêu, Ngài không chấp nhận bạo động, hiềm thù, vì uy quyền được xây dựng trên phục vụ và ai làm lớn phải làm người phục vụ.

Nước của Ngài không có sức mạnh của vũ khí và quân đội mà chỉ có sức mạnh của yêu thương và tha thứ.  Nước của Ngài không có tên trên bản đồ thế giới, nhưng lại ở trong trái tim con người.  Chỉ những ai tin và sống trong tình thương Thiên Chúa mới thuộc Nước của Ngài.  Trong vương quốc này, Chúa Giêsu đã công bố sự thật quan trọng nhất là mọi người biết Thiên Chúa là Người Cha rất yêu thương và tất cả nhân loại là con cái của Người và là anh chị em với nhau, yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương, như là dấu chứng người môn đệ của Ngài.

Năm phụng vụ mở đầu bằng mầu nhiệm Nhập thể và kết thúc bằng vương quyền viên mãn của Đức Kitô.  Đặt lễ Chúa Kitô Vua trong Chúa nhật cuối cùng năm phụng vụ, Giáo Hội nhắc nhở rằng, Đức Kitô chính là Vua của vũ trụ, Ngài là Chủ của thời gian, Chủ của lịch sử nhân loại và là Chủ của lịch sử mỗi người chúng ta.  Chúa Kitô vượt trên thời gian để mãi mãi là vị Vua vĩnh cửu.

Lạy Chúa Giêsu là Vua Sự Thật và Tình Yêu, Chúa đã yêu thế giới đến nỗi đã ban chính sự sống mình.  Xin Chúa chiếm hết tất cả con người chúng con từ tư tưởng, lời nói, việc làm, để chúng con không còn thuộc về thế giới của bóng tối, của tội lỗi, nhưng thuộc về vương quyền của Chúa, là vương quyền của sự sống và chân lý, của ân sủng và thánh  thiện, của công lý và hoà bình.  Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

TÌNH YÊU VƯỢT QUÁ CÁI CHẾT

Gilbert K. Chesterton từng nói, Kitô giáo là nền dân chủ duy nhất mà người chết cũng được bỏ phiếu.  Tôi xin chia sẻ hai câu chuyện về khía cạnh này.

Trong một hội nghị tôi tham dự, một nhà tâm lý đã chia sẻ câu chuyện như sau: Một phụ nữ trong tâm trạng khá sầu thảm đến văn phòng ông.  Bà bất an vì cuộc nói chuyện với chồng ngay trước khi ông mất.  Bà kể, hai vợ chồng bà hạnh phúc suốt 30 năm, không hề có cãi nhau to tiếng giữa họ.  Rồi đến một ngày nọ, họ cãi nhau về một chuyện vặt vãnh (bà còn không nhớ đó là chuyện gì).  Cuộc cãi vã kết thúc trong giận dữ, ông chồng đùng đùng bỏ đi làm, rồi chết vì trụy tim ngày hôm đó, khi họ chưa có cơ hội nói chuyện lại với nhau.

Thật quá bất hạnh!  Ba mươi năm không có chuyện gì nghiêm trọng, thế mà bây giờ, những lời cuối cùng họ lại nói với nhau những lời giận dữ.  Ban đầu, nhà tâm lý học bông đùa bảo đảm với bà, lỗi là ở người chồng quá cố, ông đã chọn chết ở thời điểm khó xử như vậy, để bà sống trong mặc cảm tội lỗi!

Ông hỏi bà, “nếu bây giờ chồng bà ở đây, bà sẽ nói gì với ông?”  Bà trả lời, bà sẽ xin lỗi và sẽ nói với ông chuyện hôm đó chẳng là gì so với bao nhiêu năm họ ở bên nhau, bao tình yêu họ đã dành cho nhau.  Ông cam đoan với bà, chồng bà đang sống trong sự hiệp thông các thánh và đang ở bên họ lúc này.  Rồi ông nói thêm, “sao bà không ngồi đây mà nói với ông những lời bà vừa nói, rằng tình yêu chung thủy của hai người với nhau lấn át hoàn toàn cuộc nói chuyện cuối cùng này.  Thật sự, hãy cùng nhau cười với chuyện oái oăm này.”

Câu chuyện thứ hai.  Gần đây, tôi gặp một gia đình mà người cha gia đình đã tự tử cách đây 20 năm.  Qua thời gian, họ có được bình an với chuyện này, nhưng cũng như các gia đình có người thân mất vì tự tử, vẫn còn một chút đau lòng trong lòng họ.  Họ đã tha thứ cho người cha, đã tha thứ cho bản thân mình vì những gì không làm được, và tha thứ cho Thiên Chúa vì sự bất công khi Chúa để cho cái chết xảy ra như thế này.  Nhưng họ vẫn còn một điều gì đó chưa xong, một điều gì đó họ cảm nhận nhưng không xác định được (dù 20 năm đã trôi qua, dù mọi tha thứ, dù đã thông hiểu về việc tự tử).  Tôi cũng không thể xác định được nó, chỉ có thể gợi ý một phương thuốc mà thôi.

Tôi gợi ý họ nên có một buổi nghi thức tôn vinh tình yêu dành cho người cha, tôn vinh món quà là chính cuộc sống của ông, và chuộc lại cách ra đi bất hạnh của ông.  Tôi gợi ý: Hãy chọn một ngày, có thể là sinh nhật ông, hoặc ngày giỗ của ông.  Cả nhà tụ họp lại và tổ chức một lễ mừng vui vẻ, với bong bóng, rượu ngon, với tinh thần thoải mái.  Hãy chia sẻ những câu chuyện về ông, nêu bật những câu chuyện vui vẻ của ông, vui cười, phấn khởi, những câu chuyện khi ông tạo bầu khí sinh lực đặc biệt cho mọi người.  Hãy mừng những chuyện đó với đồ ăn ngon, rượu ngon, tiếng cười và tình yêu.  Ông vẫn ở với các bạn.  Các bạn vẫn ở trong sự thông hiệp sự sống với ông.  Ông đang vui vẻ.  Hãy mừng điều đó cùng ông.  Hãy cất đi gánh nặng 20 năm.  Thiếu đi dạng lễ mừng này chính là điều không nói ra được giữa các bạn và người cha.

Những câu chuyện như thế này có thể hấp dẫn và mơ mộng, nhưng chúng có nền tảng vững chắc, được xác định trong giáo lý Kitô giáo, có căn nguyên nơi đức tin dạy rằng chúng ta đang hiệp thông với nhau trong Nhiệm thể Chúa Kitô.  Là tín hữu Kitô, chúng ta tin mình đang hiệp thông với nhau trong một thân thể sống (một thân thể chứ không phải là một tổ chức) và sự hiệp thông trong một thân thể này bao hàm toàn thể chúng ta, cả người sống lẫn người chết.  Chúng ta có thể giao tiếp với nhau, xin lỗi nhau, bù đắp cho nhau và mừng cuộc sống cũng như sinh lực của nhau, kể cả khi có người trong chúng ta đã qua đời.  Là tín hữu Kitô, chúng ta được mời gọi cầu nguyện cho người chết.  Không ngạc nhiên khi có Kitô hữu khó chịu về điều này, phản đối rằng Thiên Chúa đâu cần chúng ta nhắc để yêu thương và tha thứ.  Họ nói đúng, nhưng xét đến cùng, đó đâu phải là lý do chúng ta cầu nguyện cho những người thân yêu đã mất.  Cho dù cách thức cầu nguyện mà chúng ta thường dùng là xin Chúa thương xót, nhưng mục đích thực sự của lời cầu nguyện cho người đã qua đời là để chúng ta giữ liên hệ với họ, thông hiệp sự sống với họ.  Mục đích thực sự trong lời cầu nguyện và các nghi lễ của chúng ta dành cho người đã qua đời là để chúng ta tiếp tục ở trong thông hiệp sự sống có chủ ý hơn với họ, để hoàn thành những việc còn dang dở, để xin lỗi, để tha thứ, để xin tha thứ, để vẫn quan tâm đến bầu khí mà họ truyền vào địa cầu này khi họ còn sống, và để thỉnh thoảng nâng ly mừng họ.

Rev. Ron Rolheiser, OMI