CHỌN PHẦN TỐT NHẤT

“Maria đã chọn phần tốt nhất!”

“Khu rừng sẽ rất im ắng nếu không có con chim nào hót ở đó, ngoại trừ những con chim hót hay nhất!” – Henry Van Dyke.

Kính thưa Anh Chị em,

Như “những con chim hót hay nhất” không làm cho khu rừng mất im ắng, thì Giôna đã cất ‘tiếng hót ăn năn’; Matta cất tiếng hót ‘nhiệt thành’; và Maria, cất tiếng hót ‘chiêm ngắm’ hay nhất… nhưng vẫn giữ cho khu rừng Lời Chúa hôm nay linh thiêng im ắng!  Đặc biệt Maria, người được Chúa Giêsu khen ngợi, “Maria đã chọn phần tốt nhất!”

Giôna, không chỉ là con người của bất tuân, nhưng còn là con người của sám hối; Matta, con người của bận rộn, nhưng là con người làm Chúa vui lòng; và nhất là, Maria, con người của chiêm ngắm, còn là con người đã ‘chọn phần tốt nhất.’  Mọi Kitô hữu được gọi để sống ba nhân đức này.  Cả khi cuộc sống tràn ngập đủ thứ công việc, bạn và tôi vẫn thường xuyên được mời gọi để ‘trở về,’ ‘làm Chúa vui lòng’ và ‘chọn phần tốt nhất!’

Trước hết, Giôna!  Chúa gọi ông lần thứ hai sau khi cá ‘hóc’ ông lên bờ.  Từ vực thẳm tanh tưởi như một quãng lặng trong bụng cá, Giôna bất động, nhầy nhụa, tối tăm; ở đó, ông trải nghiệm tình yêu của Thiên Chúa.  Kẻ nổi loạn được cứu; thân xác được chữa lành; và linh hồn được thứ tha.  Giôna không chỉ bị ném cho thuỷ thần nhưng còn được quăng vào đại dương từ ái của Thiên Chúa.  Quờ quạng trên bờ cát, ông hiểu thế nào bất tuân, trốn chạy!  Vì vậy, dẫu đang loi ngoi, nhơ nhớp, Giôna vẫn nghe rõ tiếng Ngài.  Lần này, ông mềm mỏng; đứng dậy và làm theo.  Nhờ ông, Ninivê sám hối, được thứ tha.  Như vậy, trước khi Ninivê ăn năn, Giôna đã hết lòng sám hối.  Thánh Vịnh đáp ca thật sâu lắng, “Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?”

Thứ đến, Matta!  Ngày sống của chúng ta đan quyện bởi những công việc; làm ăn, dạy dỗ, giải trí và chăm sóc người khác…  Chúng ta được tạo dựng để làm việc cho đến suốt đời; nhưng làm gì và làm thế nào để Thiên Chúa vui lòng mới là điều quan trọng!  Làm sao bạn và tôi luôn ‘chọn phần tốt nhất’ hầu làm vinh danh Ngài nhất!

Sau cùng, tuyệt vời hơn cả, Maria!  Trước khi là con người chiêm ngắm, Maria là con người lắng nghe.  Lắng nghe và chiêm ngắm là điều cần làm trước nhất nếu chúng ta muốn hoàn thành tốt đẹp bất cứ điều gì.  Trong cuốn Tennyson’s Morte d’Arthur, vua Arthur nói với Sir Bedivere rằng, “Nhiều điều được tạo ra bởi lời cầu nguyện hơn là tất cả những gì mà thế giới mơ ước!”  Người chiêm ngắm là người đã ‘chọn phần tốt nhất!’

Anh Chị em,

“Maria đã chọn phần tốt nhất!”  Lắng nghe, chiêm ngắm là phần quý nhất!  Chỉ khi cầu nguyện, chiêm ngắm, con người mới thực sự vĩ đại trước mặt Thiên Chúa; và cũng chỉ khi chiêm ngắm, cầu nguyện con người thực sự là những con chim hót hay nhất, ngợi ca Thiên Chúa thay cho cả thế giới vốn là một khu rừng không bao giờ im ắng.  Chúa Giêsu đã sống gắn bó với Chúa Cha, làm vui lòng Cha, và hoàn toàn vâng phục ý Cha.  Hãy chiêm ngắm Ngài, hãy đến với Chúa Giêsu Thánh Thể mỗi ngày, bạn và tôi sẽ làm mọi việc hết tình và hết mình cho vinh quang Chúa!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết sám hối như Giôna, nhiệt tâm như Matta và biết ở lại với Chúa như Maria.  Và như thế, con có thể là một trong những con chim hót hay nhất!’”, Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

KINH MÂN CÔI – LỜI KINH KẾT NỐI (Lc 1,26-38)

Chiều qua ghé mừng bổn mạng Phanxicô Khó Khăn của một người bạn là cha của một gia đình một vợ ba con.  Đúng lúc gia đình vừa đi lễ về.  Đang khi tay bắt mặt mừng, đứa gái út đã nhanh nhẩu chỉ cho tôi chiếc áo mới màu xanh nước biển đang mặc và khoe rằng hôm nay nó là Việt kiều Úc Châu đấy.  Tôi còn chưa hiểu ất giáp gì thì nó đã liến thoắng đố tôi hôm nay trong gia đình nó có gì lạ.  Tôi đảo mắt nhìn một vòng nhưng chẳng thấy có gì khác nên đành chịu.  Con bé lí lắc đã chẳng giữ kín được câu đố của mình nên đã nhanh chóng bật mí cho tôi.  Nó nói: gia đình nó hôm nay mỗi người mặc một màu áo: bố màu trắng người Châu Âu, mẹ màu vàng người Châu Á, chị hai màu đỏ người Châu Mỹ, còn anh ba màu xanh lá người Châu Phi.  Cả gia đình là năm châu, là thế giới.

Thấy tôi vẫn ngẩn người chưa hiểu, anh bạn tôi đã phải giải thích: chả là vào tháng Mân Côi, má xấp nhỏ muốn làm một chuỗi kinh sống trong gia đình nên phân bổ mỗi người mỗi ngày đọc một chục, năm người thành năm chục, năm chục năm màu năm châu là sáng kiến của Đức Giám Mục Fulton Sheen đã lâu ở bên Mỹ, còn năm màu áo minh họa là sáng kiến của con út nhà này.  Con bé đỏ mặt hãnh diện, mọi người cười vui.  Và khởi đi từ niềm vui ấy, tôi miên man suy nghĩ: Kinh Mân Côi là lời kinh kết nối.

1. Kết nối với Đức Maria

Bởi Kinh Kính Mừng là nối kết lời thiên thần Gabriel chào Đức Maria trong buổi Truyền Tin với lời mừng của bà Êlisabet trong ngày Thăm Viếng, nên mỗi lần được lặp lại đã trở thành lời chào mừng chính thức cho sự kết nối giữa con người với Đức Maria.

Sự kết nối ấy là kết nối với một cá nhân khi đối diện với mầu nhiệm của Thiên Chúa chỉ dám nhận mình là một tôi tớ, nhưng đã được cất nhắc lên vinh quang làm Mẹ Thiên Chúa.  Đó là một dung hòa tuyệt hảo giữa một đàng là hồng ân của Thiên Chúa và đàng khác là nỗ lực của con người, nghĩa là nơi Đức Maria, người ta hiểu rằng tất cả khởi đi từ ơn phúc Chúa ban nhưng còn ở trong tình trạng tiềm ẩn, chỉ đến khi có sự đáp trả cộng tác bằng lời “xin vâng” thì ơn phúc kia mới lộ hiện.

Nhưng “xin vâng” không chỉ bằng lời mà là bằng cả một đời đánh đổi: vừa bền lòng thực thi ý Chúa, vừa bền chí chấp nhận những thử thách cam go vốn không thiếu trên hành trình đức tin bên cạnh Chúa Giêsu.

Sự kết nối ấy là một sự “nối mạng”, nghĩa là kết nối vào một vận mạng.  Đức Maria trong vinh quang hiện tại không những không xa cách mà còn gần gũi nhân loại hơn cả bao giờ.  Mẹ là Mẹ Thiên Chúa đã nên Mẹ Giáo Hội để qua Kinh Kính Mừng, một tâm tình hiệp thông gắn bó nảy sinh, rất linh động như dòng chảy hai chiều đi đi về về giữa Đức Maria xuống với con người, và giữa con người lên với Đức Maria, rất tự nhiên như tình mẫu tử, đằm thắm khi yên ổn nhưng cũng đầy trách nhiệm những khi kêu cầu.

2. Kết nối với Chúa Giêsu

Nếu đối tượng trực tiếp của Kinh Mân Côi là kết nối với Đức Maria qua những chặng đường mầu nhiệm đời Mẹ, thì hành trình cùng với Mẹ, từng bước, người ta sẽ được dẫn tới đích điểm là kết nối với Chúa Giêsu.

Có một điều ngạc nhiên đến thú vị là nếu có ai hỏi ta Đức Maria có lần hạt không, ta sẽ trả lời khẳng định: Đức Maria cũng lần hạt.  Hiện ra ở Lộ Đức hoặc ở Fatima, Mẹ đều lần hạt với con cái mình.  Điều này cho thấy người ta không chỉ lần hạt kết nối với Mẹ nhưng còn cùng với Mẹ lần hạt kết nối với Chúa Giêsu nữa.

Chính kết cấu của Kinh Kính Mừng cũng muốn nói lên điều ấy.  Trong Kinh Kính Mừng chỉ có hai danh xưng Maria và Giêsu được xướng lên, mở đầu bằng Maria và kết thúc bằng Giêsu: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ,nghĩa là kết nối với Mẹ để được nối kết với Con của Mẹ, kết nối với Đức Maria để rồi nối kết với Chúa Giêsu.  Qua Mẹ Maria đến với Chúa Giêsu.

Nhưng kết nối với Chúa Giêsu được thấy rõ nhất là qua những mầu nhiệm Mân Côi mùa Vui, Thương, Mừng như cách gọi truyền thống: Vui trong mầu nhiệm Nhập Thể Đức Giêsu xuống thế làm người sống cho mọi người; Thương trong mầu nhiệm Tử Nạn Đức Giêsu chịu chết chuộc tội cho cả nhân loại và Mừng trong mầu nhiệm Phục Sinh Đức Giêsu bước vào vinh quang mở ra tương lai cho mọi sinh linh.

Đây là sự kết nối nền tảng và là đỉnh cao.  Thiếu nó, kết nối với Đức Maria dẫu có vẫn còn lỏng lẻo, chưa có nó kết nối dẫu đậm đà vẫn chưa vươn tới đẫy đà cần thiết.

3) Kết nối với mọi người trong Chúa Kitô nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria

Thực ra đây là hệ lụy tất nhiên của hai mối kết nối nói trên.  Một khi liên đới với Đức Maria để hiệp thông với Đức Kitô, tất nhiên mọi người là anh chị em hiệp thông với nhau, nhưng chính ở đây lại mở ra một nhãn giới đầy lạc quan tin tưởng hy vọng cho tất cả những ai lần hạt Mân Côi.

Với Kinh Mân Côi, tín hữu nhận biết người Ấn Độ là anh em của mình, người Châu Âu sung túc cũng nhận ra người Somali đói nghèo là chi thể của mình, người Kinh cảm nhận hơn nữa người Thượng gần gũi với mình.  Tại sao ta lần hạt ở nhà thờ, gia đình, trên đường…… ?  Tại sao ai cũng lần hạt được, từ giáo sĩ đến giáo dân, từ trí thức đến nông dân, từ em thơ đến các cụ?  Thưa bởi vì Kinh Mân Côi bình đẳng phổ cập, chẳng những phù hợp với mọi người mà còn củng cố hiệp thông với mọi người.  Buồn hay vui người ta đều lần hạt, đám cưới thì lần hạt xin hạnh phúc đời này, còn đám tang thì lần hạt xin hạnh phúc đời sau.

Nếu Kinh Mân Côi có được xem là vũ khí thì vũ khí ấy lại là tình thương san sẻ có sức mạnh gắn hàn liên kết hiệp thông.  Bằng Kinh Mân Côi, người ta san sẻ cho nhau sứ điệp Tin Mừng như lễ Mân Côi hôm nay theo lịch sử là ghi dấu chiến thắng Lépante năm 1571 giữa Hồi Giáo và Công Giáo, nhưng theo tinh thần lại là ghi dấu một sức mạnh khi mọi người hiệp thông trong Kinh Mân Côi.

Trình bày Kinh Mân Côi là lời kinh kết nối không có tham vọng đem lại cái gì mới mà chỉ muốn lặp lại ý muốn của Đức Maria và Giáo Hội ở một hòa âm mới hơn trong mối hiệp thông.  Để với những ai đã quen lần hạt hằng ngày, xin được kiên trì.  Kinh Mân Côi giúp nối mạng tâm linh cho tâm tình bộc bạch thành tâm sự dễ dàng, nhanh chóng.  Kinh Mân Côi còn là người bạn chân tình, dễ tính, trung thành luôn sẵn sàng hiện diện mọi lúc, mọi nơi.

Một lần làm phép xâu chuỗi cho bà cụ và cô gái, thấy họ kính cẩn trong cách trao và nhận, tôi chỉ vào túi mình và nói với hai người: tôi cũng có chuỗi kinh.  Tất cả đều cười vui.  Mong rằng không chỉ có chuỗi kinh để lần hạt chu toàn nhiệm vụ, mà còn có chuỗi kinh biết hiệp thông nối kết với nhau và cầu nguyện cho nhau.

ĐGM Vũ duy Thống (Trích trong ‘Nút Vòng Xoay’)

VƯỜN NHO CUỘC ĐỜI

Cha mẹ sinh con bao giờ cũng đặt niềm kỳ vọng nơi con cái, với ước mong chúng sẽ thành đạt và là người có ích cho xã hội.  Có những người cha mẹ được toại nguyện và tự hào về con cái mình; nhưng cũng có những người cha mẹ đau khổ vì những đứa con bất hiếu, thậm chí còn là nỗi hổ nhục cho bậc sinh thành.  Thiên Chúa là Cha của hết thảy mọi người.  Cũng như những bậc cha mẹ ở trần gian, Ngài luôn muốn cho chúng ta được những điều tốt lành.  Khi tạo dựng con người và vũ trụ, Thiên Chúa muốn san sẻ cho họ một phần vinh quang và sự tốt lành của Ngài cho mọi tạo vật.  Có nhiều người đã cậy dựa vào ơn Chúa, cố gắng vượt qua những cám dỗ thử thách để nên thánh, như những đứa con sống đẹp lòng cha mẹ, hiếu thảo với đấng sinh thành; nhưng cũng có những người khước từ lời mời gọi của Ngài, cố tình sống trong ích kỷ và tội lỗi, giống như những người con bất hiếu phản nghịch.  Tình trạng này được diễn tả trong đoạn trích sách ngôn sứ Isaia.

Israen là một đất nước nghề trồng nho phát triển, vì thế những chi tiết liên quan đến cây nho, cành nho, vườn nho, người trồng nho, việc cắt tỉa chăm sóc cây nho được nhắc tới nhiều lần trong Cựu Ước.  Đây là Chúa nhật thứ ba liên tiếp, Phụng vụ dùng hình ảnh vườn nho để giáo huấn chúng ta về lòng thương xót của Chúa.  Đặc biệt trong Chúa nhật XXVII này, Bài sách thánh thứ nhất và bài Tin Mừng cùng nói về vườn nho.  Trước hết chúng ta thấy Lời Chúa trong sách ngôn sứ Isaia, vừa như một lời than vãn, vừa như một lời trách móc giận hờn.  Quả vậy, Thiên Chúa giống như người trồng nho, thế gian này là một cánh đồng nho mênh mông rộng rãi.  Người trồng nho chăm bẵm chuyên cần, mong thu được những hoa thơm trái ngọt.  Tuy vậy, khi đến mùa hái nho, trái ngọt đâu chẳng thấy, chỉ thấy nho dại và trái đắng.  Tâm huyết và kỳ vọng của chủ vườn nho đã trở nên vô nghĩa.  Người trồng nho thất vọng và sẽ để cho vườn trở thành tan hoang tiêu điều.  Ngôn sứ Isaia đã được sai đến để chuyển tải cho người Do Thái một thông điệp: họ là những kẻ bất trung.  Họ không đền đáp cân xứng tình yêu thương và bao dung nhân hậu của Chúa.  Họ sẽ phải lãnh lấy những án phạt xứng với tội ác họ đã phạm.  Đất nước sẽ ra hoang vu, vì tội lỗi và bất trung của dân phản nghịch.

Tiếp nối giáo huấn của Cựu ước, Đức Giêsu trong Tin Mừng Thánh Matthêu cũng dùng hình ảnh vườn nho.  Dụ ngôn nhấn mạnh đến mối tương quan giữa ông chủ vườn và những người thợ làm vườn, cũng gọi là những tá điền.  Trong câu chuyện này, những tá điền được diễn tả như những người bất lương, tham lam mưu mô chiếm đoạt tài sản của ông chủ, là người đã cưu mang và tạo việc làm cho mình.  Từ thân phận người làm thuê, họ muốn thay ngôi đổi chủ để trở thành người giàu có.  Họ cố tình chiếm hữu tài sản không phải là của mình.  Họ vừa cướp của, vừa giết người.  Mà người bị giết là con của ông chủ, tài sản bị cướp là tài sản của ông chủ, người rất tốt với họ, sẵn sàng đón nhận họ kể cả ở giờ thứ mười một và trả lương cho họ cách hào phóng (Tin Mừng chúa nhật trước).  Những chi tiết này của câu chuyện đã nêu bật sự gian ác bất lương của họ.

Với một dụ ngôn ngắn, Chúa Giêsu đã phác họa toàn bộ lịch sử cứu chuộc với những can thiệp của Thiên Chúa, vào những giai đoạn khác nhau nhằm đem lại cho con người hạnh phúc.  Tuy vậy, con người đã khước từ tình thương của Thiên Chúa.  Đối lại với những lời giảng dạy nhằm thiết lập tình bác ái, những thượng tế, luật sĩ,biệt phái và một số người Do Thái đã lên án tử cho Chúa.  Chúa Giêsu là Con Một của Thiên Chúa, đã bị kết án tử hình thập giá và đã chết ngoài thành Giêrusalem, như người con thừa kế bị giết bên ngoài vườn nho.

Nếu Thiên Chúa luôn luôn ban ơn và hướng dẫn hầu đem lại cho con người hạnh phúc, thì con người lại khước từ và phản bội Chúa.  Thái độ của những người tá điền cũng là thái độ của con người nói chung, nhất là của những tội nhân.  Nhiều lần chúng ta khước từ lời mời gọi của Chúa.  Thay vì làm theo ý Chúa thì chúng ta lại làm theo ý mình, thậm chí làm những điều trái ngược với lời dạy của Người.

Như thế, hình ảnh vườn nho diễn tả cuộc sống trần gian của chúng ta.  Thiên Chúa đã đặt chúng ta trong “vườn-cuộc-đời.”  Ngài thường xuyên chăm sóc, tỉa cảnh để chúng ta đem lại những hoa thơm trái ngọt cho đời..  “Tôi những mong trái tốt, sao nó sinh nho dại…  Chúa chỉ mong con người sống công bình, mà chỉ thấy toàn là đổ máu; đợi chờ họ làm điều chính trực, mà chỉ nghe vẳng tiếng khóc than” (Bài đọc I).

Cả bài Sách Thánh trích ngôn sứ Isaia cũng như bài Tin Mừng của Chúa nhật này đều có phần kết không mấy sáng sủa: đó là những lời cảnh cáo và trừng phạt vì một lối sống bất nhân, thiếu đạo đức, lỗi công bằng.  Phải chăng cả hai bài đọc Lời Chúa này đều diễn tả thực trạng của xã hội hôm nay: đó là sự bất trung và coi nhẹ Thượng đế cũng như các giá trị thần linh.  Giống như những tá điền bất lương, con người hôm nay muốn thay thế vị trí của Thiên Chúa.  Họ còn dám coi mình là thượng đế, có thể giải đáp được mọi vấn nạn và đáp ứng mọi nhu cầu của con người.  Những thông tin thời sự gần đây cho thấy nhà cầm quyền Trung Quốc vẫn tiếp tục thi hành chiến dịch đập phá nhà thờ, xúc phạm các nơi thiêng thánh của các tôn giáo, trong đó có những nơi thờ tự thiêng liêng của Phật giáo đã tồn tại trên ngàn năm.  Theo một nguồn tin cho biết, trong năm 2019, chính quyền Trung Quốc đã triệt hạ khoảng 900 nhà thờ Kitô giáo.  Họ còn báng bổ tôn giáo đến nỗi xây nhà vệ sinh trên những nền cũ của nhà thờ, nhà chùa, đốt sách vở tôn giáo và đập phá ảnh tượng.  Những hành động phỉ báng thần linh chắc chắn sẽ phải lãnh nhận hậu quả.

Nếu cuộc đời này được sánh như một vườn nho, thì mỗi chúng ta, dù ở địa vị xã hội hay trình độ văn hoá nào, thì cũng đang là người tá điền trong vườn nho đó.  Có những tá điền bất trung nhưng chắc chắn cũng có những tá điền tốt lành, nhân hậu, lắng nghe ý kiến và trung thành với chủ của mình.  Quả vậy, Thiên Chúa sẽ đến gặp gỡ chúng ta vào lúc cuối đời, để đón tiếp chúng ta như một người Cha.  Tuy vậy, một người sống tội lỗi và đầy mưu mô phản loạn không thể xứng đáng ra trình diện trước nhan Chúa.  Cũng như ông chủ vườn nho sai con mình đến thu hoa lợi, Thiên Chúa sai Con của Ngài đến để phán xét chúng ta vào ngày tận thế.  Chúa Giêsu đã nói về ngày phán xét chung ở tận cùng của lịch sử.  Lúc đó, mọi người sẽ bị xét xử về những công việc họ đã làm cũng như về thái độ đối với anh chị em mình, khi họ còn sống trên dương gian.

Ngẫm chuyện xưa để học những bài học cho đời nay, Thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy cố gắng sống tốt lành, năng cầu nguyện cùng Thiên Chúa và chuyên tâm thực hành lời Ngài dạy.  Thánh nhân nêu cụ thể những thực hành đạo đức như sau: “Những gì chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh đáng khen, thì xin anh em hãy để ý thực hành.”   Khi thực hành như thế, sự bình an của Chúa sẽ ở với chúng ta.  Những thực hành đó sẽ giúp chúng ta kết hợp với Đức Giêsu và sẽ đạt được sự bình an đích thực là quà tặng của Thiên Chúa dành cho những ai yêu mến Ngài (Bài đọc II).

Kính thưa anh chị em, chúng ta vừa bước vào tháng Mân Côi.  Mỗi khi Đức Mẹ hiện ra tại một nơi nào, Mẹ thường gửi đến cho nhân loại thông điệp sám hối và lời mời gọi đọc kinh Mân Côi.  Đó cũng chính là thông điệp của Chúa Giêsu, vì Chúa Giêsu đã khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng bằng lời mời gọi sám hối.  Khi đọc kinh Mân Côi là chúng ta cùng với Đức Trinh nữ Maria suy niệm cuộc đời và giáo huấn của Chúa Cứu thế.  Vì vậy, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gọi kinh Mân Côi là cuốn Tân Ước rút gọn.  Vị Giáo Hoàng người Ba Lan cũng quả quyết: Kinh Mân Côi là kinh cầu nguyện mà ngài ưa thích nhất.  Vào thế kỷ 13, nhờ kinh Mân Côi, mà Giáo Hội được cứu khỏi cơn khủng hoảng và những mâu thuẫn.  Trong tháng này, chúng ta hãy suy niệm kinh Mân Côi với tâm tình của Đức Mẹ, để qua Đức Mẹ, chúng ta đến với Chúa Giêsu.  Hai mươi mầu nhiệm Mân Côi giúp chúng ta chiêm ngưỡng Chúa Giêsu, đồng thời học hỏi nơi Người sự khiêm nhường, vâng lời và phó thác nơi Thánh ý Chúa Cha.  Trong tất cả các mầu nhiệm ấy, Đức Trinh nữ luôn hiện diện để lắng nghe, suy niệm và thực thi Lời Chúa.  Cùng với Chúa Giêsu, Mẹ đã thông phần đau khổ và đã đạt được ngành thiên tuế của phúc tử đạo.  Ước chi mỗi chúng ta biết sống các mầu nhiệm Mân Côi như Đức Mẹ, để cùng với Mẹ hưởng vinh quang Thiên quốc.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

NĂM SỰ THẬT VỀ THIÊN THẦN BẢN MỆNH CỦA CHÚNG TA

“Chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này: vì Thầy bảo cho anh em biết, thiên thần của họ ở trên trời hằng chiêm ngắm thánh nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 18,10).

Giáo Hội Công Giáo dành ngày 02/10 hằng năm để mừng kính các Thiên thần Bản mệnh.  Vào năm 1670, Đức Giáo Hoàng Clêmentê X đã thiết lập lễ này cho toàn thể Giáo Hội để tôn kính các đấng vô hình luôn ngày ngày bảo vệ chúng ta.

Trong khi đa số chúng ta chỉ chú ý đến các Thiên thần Bản mệnh cá nhân, truyền thống Giáo Hội (được các nhà thần học như Thánh Tôma Aquinô giảng dạy) cho biết rằng các quốc gia, các thành phố, các giáo phận, các giáo xứ đều có Thiên thần Bản mệnh riêng, có những người, những nơi còn có nhiều vị Bản mệnh.

Các ngài là những thụ tạo đẹp đẽ của Thiên Chúa, được ẩn giấu trong một mầu nhiệm kỳ vĩ.  Báo chí nhiều khi tường thuật chuyện có một người huyền bí xuất hiện để giúp đỡ trong các vụ tai nạn rồi sau đó không bao giờ xuất hiện lại nữa.  Chúng ta mắc nợ Thiên thần Bản mệnh của chúng ta rất nhiều, người hằng bảo vệ, chỉ dẫn chúng ta mà chúng ta không biết.  Các ngài can thiệp vào đời sống chúng ta cách âm thầm, hoàn thành tác vụ của mình cách khiêm tốn nhất có thể.

Để chúng ta hiểu sâu sắc về các “người hỗ trợ từ trời” của chúng ta, hãy tìm hiểu 5 sự thật này về Thiên thần Bản mệnh.

1. Mỗi một người trên thế giới đều có một Thiên thần Bản mệnh (dù là Kitô hữu hay không)

Giáo lý, như được trình bày trong YOUCAT, dạy rằng “Mỗi một cá nhân đều nhận một Thiên thần Bản mệnh từ Thiên Chúa” (s. 55).  Điều này phù hợp với lời dạy của Kinh Thánh, của các Thánh như Tôma Aquinô, Basiliô và Giêrônimô, thậm chí phù hợp cả với kinh nghiệm của những người ngoài Kitô giáo có cảm nhận về một sự giúp đỡ vô hình từ một vị thiên thần (người Việt Nam ta hay nói trẻ em có một bà mụ nâng đỡ).

Mike Aquilina, một nhà giáo sử nổi tiếng, viết về những kinh nghiệm của bạn ông liên quan đến thiên thần giúp đỡ như sau:

“Một người bạn của tôi, một nhà triết học nổi tiếng từng học ở Harvard, là người vô thần từ trẻ.  Một hôm, khi anh ta đang bơi ngoài biển thì bị sóng cuốn ra khơi.  Anh ta biết mình đang chìm xuống, không hy vọng được ai cứu nữa.  Đột nhiên, một cánh tay mạnh mẽ nắm lấy anh và kéo vào bờ.  Người nắm lấy anh là một chàng trai vạm vỡ.  Anh bạn vừa chết hụt định cám ơn người thanh niên kia thì anh thanh niên cười và biến mất.  Từ lúc đó, anh bạn của tôi bắt đầu con đường quay trở về đức tin.”

2. Thiên thần Bản mệnh được ban ngay từ đầu đời

Giáo lý dạy rằng: “Từ khởi đầu đến kết thúc, cuộc đời con người được vị chuyển cầu và săn sóc cẩn thận bao bọc” (số 336).  Thánh Anselmô tin rằng các thiên thần được gửi đến ngay từ giây phút đầu tiên khi linh hồn hiệp vào thân xác con người trong dạ mẹ.  Tuy nhiên điều này chưa được tuyên tín và vẫn còn có nhiều tranh luận.  Nếu đúng vậy, người phụ nữ mang thai có hai Thiên thần Bản mệnh, cho mình và cho thai nhi của mình.

3. Thiên thần Bản mệnh có tên, và chỉ mình Thiên Chúa biết tên của các vị

Giáo Hội hướng dẫn chúng ta rằng: “Thói quen đặt tên cho các Thiên thần nên bị loại bỏ, trừ những vị được đề cập rõ ràng trong Kinh Thánh như Gaprien, Raphaen và Micaen” (Thánh bộ Phụng tự, Huấn thị về Lòng đạo đức Bình dân, số 217, năm 2001).

Lý do cho điều này đó là tên họ chứa ẩn một quyền lực nào đó trên một người.  Ví dụ, nếu tôi biết tên bạn và gọi tên bạn khi tôi muốn, bạn bị bó buộc nghe tôi, và tôi có một chút quyền lực trên bạn (khi thư yếm người khác, phù thuỷ cũng phải gọi tên người bị thư yếm).  Ngược lại, chúng ta không có quyền gì trên các Thiên thần.  Các ngài chỉ phải thưa chuyện với duy nhất Vị Chỉ Huy của mình: Thiên Chúa.  Chúng ta có thể nhờ các vị giúp đỡ, nhưng đừng nghĩ các ngài đứng đó khi ta vẫy tay và gọi.

Giáo Hội bác bỏ thói quen gọi tên các Thiên thần Hộ thủ vì có nhiều người có thói quen đặt tên cho các vị và kêu cầu, nhưng đó không phải là điều được linh hứng.  Nó thậm chí có thể là do tác động của ma quỷ.  Chỉ những danh hiệu được mặc khải rõ trong Kinh Thánh mới đáng tin tưởng, và những cái tên khác thì không thể biết chắc có đến từ Thiên Chúa hay không.

4. Chúng ta sẽ không trở thành Thiên thần sau khi chết

Nhiều người tin rằng chúng ta sẽ biến thành các Thiên thần sau khi chết, nhưng sự thật ngược lại, đó là chuyện không thể.  Sau khi chết, con người rời khỏi thân xác mình một thời gian, và sẽ hiệp nhất lại vào thời tận cùng.  Chúng ta sẽ không trở thành các Thiên thần vô hình.  Tất cả các Thiên thần Bản mệnh đã được sáng tạo ngay từ khởi thuỷ công trình tạo dựng.

Hãy nhớ lời Chúa phán cùng tiên tri Giêrêmia: “Trước khi Ta tạo thành ngươi trong dạ mẹ ngươi, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi sinh ra, Ta đã thánh hiến ngươi.” (Gr 1,5)  Thiên Chúa đã biết bạn và đã chỉ định một vị Thiên thần Bản mệnh cho bạn trước khi Người tạo dựng vũ trụ này.

5. Thiên thần Bản mệnh luôn ở đây để giúp đỡ chúng ta

Giáo lý gọi các Thiên thần Hộ thủ là các mục tử luôn muốn bảo vệ và dẫn dắt con người vào sự sống đời đời.  Công tác duy nhất của các vị là giúp chúng ta vào Thiên đàng, nên chúng ta hãy cầu nguyện cùng các vị mỗi ngày, xin các vị giúp đỡ chúng ta trong mọi vấn đề của cuộc sống.

Giáo Hội cung cấp cho tất cả chúng ta một bản kinh tuyệt vời để cầu xin cùng Thiên thần Bản mệnh của mình:

Lạy Thiên thần Chúa là Thiên thần Bản mệnh yêu dấu của con.  Nơi ngài Chúa ban tình yêu của Người cho con.  Mỗi ngày, xin ngài hãy ở cạnh bên con để soi sáng và canh giữ, để điều khiển và hướng dẫn con.  Amen.

Gioakim Nguyễn dịch

LỄ CÁC TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MICHAEL, GABRIEL VÀ RAPHAEL

Kinh thánh chỉ nêu tên Gabriel, Michael và Raphael.  Từ Tổng lãnh Thiên thần (archangel) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp αρχάγγελος.  Archangelos = αρχ– (arch-) (“đầu tiên, bậc nhất, thủ lĩnh”) và άγγελος (angelos) (“người đưa tin”).

Thế giới thiên thần rất bí ẩn và có thể gây nhầm lẫn cho con người chúng ta.  Chúng ta thường không nhìn thấy các thiên thần bằng mắt của mình, mặc dù nhiều nhân vật trong Kinh thánh được ghi lại là đã nhìn thấy các vị ở dạng có thân xác.

Đặc biệt, nhiều người hỏi: Có bao nhiêu tổng lãnh thiên thần trong Kinh thánh?”
Kinh thánh chỉ cho biết tên của ba thiên thần thuộc hạng “tổng lãnh thiên thần.”

Đó là:

Michael “Bấy giờ, có giao chiến trên trời: thiên thần Michael và các thiên thần của người giao chiến với Con Mãng Xà.  Con Mãng Xà cùng các thiên thần của nó cũng giao chiến” (Khải huyền 12:7).

Gabriel “Tôi là Gabriel, hằng đứng chầu trước mặt Thiên Chúa, tôi được sai đến nói với ông và loan báo tin mừng ấy cho ông.” (Luca 1:19).

Tuy nhiên, trong sách Tôbia, khi thánh Raphael tiết lộ danh tính của mình, tổng lãnh thiên thần nói,“Tôi là Raphael, một trong bảy thiên thần đứng và phục vụ trước Vinh quang của Thiên Chúa” (Tôbia 12:15).

Điều này khiến nhiều người tin rằng có bảy vị tổng lãnh thiên thần.  Con số này cũng xuất hiện trong Sách Hípri, một văn bản cổ của người Do Thái không được chấp nhận là kinh điển trong cả Kinh thánh Do Thái hay Kinh thánh Công giáo.

Vì một số giáo hội Kitô giáo, ví dụ như Chính thống giáo, chấp nhận bảy tổng lãnh thiên thần: Michael, Gabriel, Raphael, Uriel, Salathiel, Jébudiel và Barachiel là “chính thức,” nên một số người Công giáo cũng có lòng sùng kính đối với cả bảy vị tổng lãnh thiên thần kể cả bốn vị ngoài Kinh thánh này.  Giáo hội Công giáo đã nói rất rõ ràng rằng điều này là nguy hiểm về mặt tâm linh.

Trong Danh mục về lòng đạo đức bình dân, Giáo hội tuyên bố, “Việc gán tên cho các Thánh Thiên Thần không nên được khuyến khích, ngoại trừ trường hợp của Gabriel, Raphael và Michael, là những vị có tên trong Kinh Thánh.”

Kinh thánh là danh sách cuối cùng của chúng ta về các tổng lãnh thiên thần.  Là người Công giáo, chúng ta chỉ biết đến ba tên nhất định của các thiên thần của Thiên Chúa.  Bất kỳ tên nào khác đều bị nghi ngờ vì nó không phải là một phần của sự mặc khải thần linh.

Điều này không có nghĩa là chỉ có ba tổng lãnh thiên thần.  Kinh thánh nói rõ rằng có thể có “hàng ngàn” thiên thần hoặc “vô số” thiên thần, như Thánh Luca đã đề cập lúc Chúa Giêsu giáng sinh,“Và bỗng đâu đến hợp đoàn với thiên thần, có đoàn lũ cơ binh trên trời ngợi khen Thiên Chúa” (Luca 2:13).

Sự sáng tạo của Thiên Chúa không chỉ giới hạn trong ba vị tổng lãnh thiên thần, nhưng đồng thời chúng ta cũng không nên phát triển lòng sùng kính đối với các thiên thần không được Lời Chúa xác nhận.

Phụng vụ mừng lễ ba vị tổng lãnh thiên thần được tôn kính theo truyền thống của Giáo hội.  Theo Nghi thức Đặc biệt trong Sách Lễ Rôma năm 1962 của Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII, 29 tháng 9 là lễ Thánh Micae.  Trước khi cải tổ phụng vụ theo Công Đồng Vaticanô II, Lễ Thánh Gabriel được cử hành vào ngày 24 tháng 3 và lễ Thánh Raphael vào ngày 24 tháng 10.(1)  Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đã dạy một bài giáo lý về các Thiên thần trong các buổi Tiếp kiến Chung của ngài từ ngày 9 tháng 7 đến ngày 20 tháng 8 năm 1986.  Thánh Giáo Hoàng nói: “Theo sách Khải Huyền, các thiên thần tham gia vào sự sống của Ba Ngôi trong ánh sáng vinh quang cũng được kêu gọi để đóng vai trò của họ trong lịch sử cứu rỗi con người, trong những khoảnh khắc được Thiên Chúa Quan phòng thiết lập.  Tác giả của Thư Hípri (1:14) hỏi: “Hết thảy họ lại không phải là những thần phục dịch được sai đi giúp đáp vì phần ích những kẻ thừa hưởng ơn cứu rỗi đó sao?”

Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo số 328 – 330 dạy chúng ta rằng, “Sự hiện hữu của các hữu thể thiêng liêng, không có thể xác, mà Thánh Kinh quen gọi là các thiên thần, là một chân lý đức tin. Thánh Kinh và Thánh Truyền đều nhất trí như thế.”

Thánh Augustinô nói: “Thiên thần” chỉ chức năng chứ không chỉ bản tính.  Xét về bản tính là “thuần linh.”  Xét về chức năng là “thiên thần.”  Theo hữu thể, là thuần linh; theo hành động, là thiên thần; được tạo ra, ở một thứ bậc cao hơn con người, thiên thần không có cơ thể và không phụ thuộc vào vật chất để tồn tại hoặc hoạt động.  Các vị khác với những vị thánh, mà con người có thể trở thành.

Tự bản thể, các thiên thần là những tôi tớ và sứ giả của Thiên Chúa.  Vì các ngài hằng chiêm ngưỡng “Thánh Nhan Cha Ta ở trên trời” (Mt 18,10), nên các vị là “những người đi thực hiện Lời Chúa, sẵn sàng phụng lệnh Người,” “Hãy chúc tụng Yavê, hỡi các thần sứ của Người, những anh hùng dũng mạnh làm theo lời Người, sẵn vâng tiếng Người phán ra.  Hãy chúc tụng Yavê, hỡi các cơ binh của Người, tôi trung tùng phục ý Người” (Thánh vịnh 103,1,15).  Với tư cách là thụ tạo thuần linh, các ngài là những thụ tạo có ngôi vị creaturae personalis (Piô XII: Denzinger 3891) (2) có trí năng, ý chí và bất tử, “Vì chưng họ không thể chết nữa, bởi họ được như thiên thần và nên con cái Thiên Chúa, một khi đã là con cái của sự sống lại” (Luca 20, 36).  Các ngài hoàn hảo hơn mọi thụ tạo hữu hình.  Vinh quang rực rỡ của các ngài minh chứng điều ấy, “Tôi nghe tiếng lời ngài.  Vừa nghe tiếng lời ngài, tôi đã chết điếng, dập mặt xuống đất.  Và này, một bàn tay đụng đến mình tôi, tôi giật nảy, tôi chỗi dậy trên đầu gối…  Trong khi ngài nói với tôi lời ấy, thì tôi đã đứng dậy mà cứ run cầm cập.” (Đaniel 10,9-11).

Tổng lãnh thiên thần Michael

Tổng lãnh thiên thần Michael, được đề cập trong Sách Đanien, “Và này Michael, một trong các tướng hàng đầu đã đến trợ lực với ta. Và không có một ai tăng sức cho ta đấu với các vị ấy, trừ phi là Michael, (thần sứ) tướng của các ngươi” (Đaniel 10,13.22) và trong Khải huyền của Thánh Gioan (Khải huyền 12.7), là hoàng tử của các thiên thần, chiến thắng Satan trong trận chiến của thời kỳ cuối cùng.

Tên của tổng lãnh thiên thần Michael, trong tiếng Do Thái có nghĩa là ai giống như Thiên Chúa?  Ngài thường được hình dung như một chiến binh mạnh mẽ, mặc áo giáp và đi dép.

Tên của ngài xuất hiện trong Kinh thánh bốn lần, hai lần trong Sách Đanien, một lần trong Thư thánh Giuđa và một lần Sách Khải huyền.  Từ sách Khải Huyền, chúng ta biết về trận chiến trên thiên đường, Thánh Michael và các thiên thần của ngài chiến đấu với Lucifer và các thiên thần sa ngã khác (hoặc ác quỷ).

Tổng lãnh thiên thần Gabriel

Tên của Tổng lãnh thiên thần Gabriel có nghĩa là “Chúa là sức mạnh của tôi.”  Trong Kinh thánh, ngài xuất hiện ba lần với tư cách là một sứ giả.  Ngài đã được cử đến Đaniel để giải thích thị kiến liên quan đến Đấng Mêsia, và tôi nghe có tiếng người giữa (sông) Ulai; tiếng ấy gọi lớn và nói: “Gabriel, hãy cho người này hiểu thị kiến!” (Daniel 8:16), “trong lúc cầu kinh, tôi còn đang nói, thì Gabriel, người mà tôi đã thấy trong thị kiến ban đầu, đã vụt bay đến kề bên tôi vào lúc dâng của lễ ban chiều (9:21).   Ngài hiện ra với ông Dacaria khi ông đang dâng hương trong Đền thờ, để báo trước sự ra đời của con trai ông, thánh Gioan Tẩy giả, “Thiên thần Chúa đã hiện ra cho ông, đứng bên hữu hương án…. Ta là Gabriel, kẻ chầu hầu trước mặt Thiên Chúa, ta đã được sai đến nói với ngươi và đem tin mừng này cho ngươi!” (Luca 1,11-19).  Tổng lãnh Gabriel được biết đến nhiều nhất là thiên thần được Thiên Chúa chọn làm sứ giả Truyền tin, loan báo cho nhân loại biết mầu nhiệm Nhập thể, “Tháng thứ sáu, thiên thần Gabriel được Thiên Chúa sai đến một thành xứ Galilê, tên là Nazarét, tới cùng một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Yuse, thuộc nhà Ðavít, và tên trinh nữ là Maria” (Luca 1, 26-27).

Lời chào của Tổng thiên thần Gabriel đối với Đức Mẹ, đơn giản nhưng đầy ý nghĩa, “Vui lên! Hỡi Ðầy ơn phúc!  Chúa ở cùng người!” (Luca 1, 28), đã trở thành lời cầu nguyện Ave Maria, Kính mừng Maria, thường xuyên và quen thuộc của mọi người Kitô hữu.

Tổng lãnh thiên thần Raphael

Hiểu biết của chúng ta về Tổng lãnh thiên thần Raphael đến từ sách Tôbia, “Và Raphael đã được sai đến chữa lành cả hai: giựt khỏi mắt Tôbit những vệt trắng, để ông được thấy tận mắt ánh sáng của Thiên Chúa – và ban Sara, con gái Raguel cho Tôbia con của Tôbit làm vợ và giải thoát nàng khỏi quỉ dữ Asmôđê” (3, 17).  “Và cũng vậy, Thiên Chúa đã sai ta đến chữa lành ngươi và Sara con dâu ngươi. Ta là Raphael, một trong bảy vị Thần sứ hằng túc trực để vào trước vinh quang Chúa” (12,15).

Nhiệm vụ của ngài như một người chữa bệnh tuyệt vời và đồng hành cùng Tôbia trẻ đã khiến ngài được mời gọi cho những cuộc hành trình và vào những thời điểm quan trọng trong cuộc sống.  Truyền thống cũng cho rằng Raphael là thiên thần khuấy động nước tại hồ nước nuôi cừu chữa bệnh ở Bethesda.  Tên của ngài có nghĩa là “Chúa đã chữa lành.”

Không giống như chúng ta, các thiên thần là những đấng thiêng liêng thuần khiết và không có bất cứ gì là vật chất.  Các ngài không có cánh, thân xác hoặc gươm kiếm.  Các Tổng Lãnh Thiên Thần được giao phó công việc giao tiếp và đưa những sứ điệp quan trọng cho con người.  Các Tổng Lãnh Thiên Thần có thể bảo vệ chúng ta khỏi sự dữ.  Thánh Micae và các thiên thần có quyền lực trục xuất Satan ra khỏi một nơi chốn.

Các Tổng Lãnh Thiên Thần vẫn hiện hữu ngày nay.  Thiên Chúa đã tạo dựng các thiên thần bất tử và các vị sẽ không bao giờ ngưng hiện hữu, cho đến muôn đời.

Lạy Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chuộc cực thánh của chúng con, chúng con xin Chúa ban phúc cho ngôi nhà của chúng con, gia đình chúng con, mọi người trong gia đình chúng con.  Xin bảo vệ chúng con khỏi mọi sự dữ.

Thánh Thiên Thần Michael, xin hãy bảo vệ chúng con chống lại tất cả những kẻ xấu xa của địa ngục.

Thánh Thiên Thần Gabriel, xin hãy ban cho chúng con sự khôn ngoan để chúng con có thể hiểu được thánh ý Thiên Chúa.

Thánh Thiên Thần Raphael, hãy bảo vệ chúng con khỏi bệnh tật và mọi nguy hiểm đến tính mạng.

Xin các thiên thần hộ mệnh thánh thiện gìn giữ chúng con ngày đêm trên con đường dẫn đến ơn cứu độ.  Amen!

(1)Năm 745, tại công đồng Latêranô, Đức Giáo Hoàng Zacharia đã tuyên bố: “Giáo hội Công Giáo chỉ nhìn nhận ba tên gọi chính thức của các thiên thần: Michael, Gabriel và Raphael”.

Phụng vụ theo Công Đồng Vaticanô II mừng chung các tổng lãnh thiên thần Michael, Gabriel và Raphael vào ngày 29 tháng chín, ngày kỷ niệm lễ cung hiến một đại giáo đường kính thánh Michael ở thế kỷ IV, trong một miền quê Rôma nhưng ngày nay không còn.

(2)Enchiridion Symbolorum, definitionum et declarationum de rebus fidei et morum: Tuyển tập các tín biểu, định tín và tuyên bố về các vấn đề đức tin và luân lý.

Phêrô Phạm Văn Trung biên tập
Từ: aleteia.org và catholicculture.org
Nguồn: https://hdgmvietnam.com 

TÌNH YÊU ĐƯỢC CHỨNG MINH BẰNG VIỆC LÀM

Trong cuộc sống cá nhân của mỗi chúng ta, lời nói và việc làm thường có những khoảng cách xa vời, thậm chí có lúc hoàn toàn trái ngược nhau.  Những bài diễn thuyết hùng hồn với những mỹ tự bóng bảy nhiều khi chỉ là đồ trang trí cho những tư tưởng rỗng tuếch, nhất là với thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay.  Với công nghệ quảng cáo tiếp thị, cái gì cũng nhất thế giới, đồ gì cũng là chất lượng hàng đầu… suy cho cùng, chỉ là sự dối trá.  Để chứng minh lời nói của một người có thật hay không, người ta phải kiểm chứng việc làm của người đó.  Thiếu việc làm, tình yêu chỉ là chót lưỡi đầu môi và giả tạo.

Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay nói đến một người cha và hai người con.  Người cha sai hai con đi làm vườn nho.  Hình ảnh vườn nho một lần nữa lại được Đức Giêsu dùng để so sánh với cuộc đời.  Chúng ta dễ nhận ra, nơi hình ảnh người cha này là chính Thiên Chúa.  Người cha này có hai người con.  Một người, khi được cha trao việc thì chối từ, nhưng sau hối hận; người thứ hai mau mắn nhận lời, rồi lại không làm.  Kết luận Chúa Giêsu đưa ra là: việc làm và đời sống của một người là tiêu chuẩn lượng giá về nhân cách của người ấy chứ không phải lời nói.  Người con thứ nhất tuy từ chối lời đề nghị của cha mình, những đã sớm hối hận và đã đi làm vườn nho cho cha.  Người con này được kể là người con hiếu thảo và được cha yêu mến.  Trái lại, người con thứ hai khi được trao việc thì nhanh nhảu nhận lời, nhưng rốt cuộc lại không làm gì.  Đây là người con chỉ vâng lời và hiếu thảo bằng môi mép, còn trong thực tế thì lười biếng và dối trá.

Hai người con tượng trưng cho hai lối sống, hai trào lưu, hai quan niệm và cũng là hai cách thực hành đời sống Đức Tin của chúng ta.  Có thể hai nhân vật ấy đồng thời hiện hữu trong chính con người của mỗi chúng ta, khi chúng ta bị cám dỗ sống giả hình hoặc bất tuân.  Thiên Chúa là Cha vẫn luôn mời gọi chúng ta làm điều thiện.  Trước lời mời gọi ấy, có những người “miệng nói hay, mà tay không làm.”  Trái lại, có những người khước từ rồi sau đó nhận ra lẽ phải và gắng công thực hiện ý Chúa.

Trong bối cảnh xã hội hôm nay, cách thức thực hành Đạo bị ảnh hưởng nghiêm trọng.  Tại nhiều nơi và đối với nhiều người, đời sống Đức tin chỉ dừng lại ở những nghi lễ bề ngoài mà ít để ý đến chiều sâu và đời sống nội tâm.  Theo lẽ thường tình, một khi hình thức tăng thì nội dung giảm.  Khi người ta quá chú trọng đến bề ngoài thì dễ quên bề trong.  Tại nhiều nơi, lời kêu gọi học hỏi giáo lý để giúp sống Đạo bị bỏ ngoài tai, thậm chí giáo dân còn “tìm cách bỏ trốn” mỗi khi đến giờ học giáo lý.  Hậu quả của việc không học giáo lý là một Đức tin mờ nhạt, một lối giữ đạo nửa vời.  Nhiều bạn trẻ đã mất Đức tin khi tiếp cận với nền văn minh và lối sống đô thị.

Lời Chúa hôm nay cũng dạy chúng ta cần thận trọng khi nhận định về tư cách của một người.  Chắc hẳn những người có mặt lúc Chúa Giêsu tuyên bố những lời này cảm thấy “sốc:”  “Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông.”  Lời tuyên bố của Chúa đảo ngược bậc thang giá trị mà người Do Thái thường dựa vào để nhận định một con người.  Thì ra, những người mũ cao áo dài chưa chắc đã là những người thánh thiện.  Những người biệt phái và luật sĩ dù khôn ngoan chưa hẳn đã là những người ngay chính.  Để nhận định tư cách của họ, còn phải xem đời sống hằng ngày của họ ra sao, họ có thực hành đức công bình mà họ vẫn rao giảng hay không, đó mới là điều quan trọng.  Một người có quá khứ tội lỗi, nhưng thành tâm thiện chí ăn năn hối cải, thì họ được Chúa tha thứ.  Trong cuộc sống, vì có một quá khứ nghiện ngập, tù đầy khi muốn hoàn lương vẫn gặp phải những thành kiến của những người xung quanh, để rồi những người muốn làm một con người bình thường mà cũng không được.  Ngôn sứ Edêkien đã truyền lại lời của Chúa: “Nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu thoát mạng sống mình!”   Vâng, trong cuộc đời, chúng ta còn khắt khe hơn Thiên Chúa trong việc xét đoán anh chị em mình.  Những người thu thuế và những cô gái điếm được vào Nước Trời, vì họ đã để cho Lời Chúa thấm nhập và thay đổi cuộc đời tội lỗi của họ.  Họ đã can đảm đoạn tuyệt với quá khứ xấu xa, để mặc lấy Đức Giêsu phục sinh, trở nên con người mới, thánh thiện tinh tuyền.  Như thế, đối với Chúa, không thể vin vào một quá khứ xa xưa – dù tốt lành – để biện minh cho những lỗi lầm mình đang phạm.  Thiên Chúa công minh vô cùng trong xét xử.  Ngài vừa công bằng vừa giàu lòng thương xót.

“Hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau.  Đừng làm chỉ vì ganh tỵ hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình.”  Đó là lời khuyên của Thánh Phaolô gửi tới cộng đoàn tín hữu Philiphê.  Khi nhấn mạnh đến đức khiêm nhường, vị Tông đồ dân ngoại trình bày Đức Giêsu như mẫu mực và lý tưởng của mọi Kitô hữu: Người là Thiên Chúa đã tự huỷ, mặc lấy thân nô lệ, sống như người trần thế vì yêu thương chúng ta (Bài đọc II).  Những ai tiến bước theo Chúa Giêsu sẽ đẹp lòng Thiên Chúa Cha.

Hãy bớt những lời nói và hãy gia tăng việc làm.  Hãy nói ít và nghe nhiều.  Hãy học sống thinh lặng để cảm nhận sự hiện diện của Chúa và những điều kỳ diệu Chúa làm quanh ta.  Những điều kỳ diệu ấy, ta chỉ có thể cảm nhận bằng Đức tin và tình mến Chúa yêu người.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

THÁNH COSMA VÀ THÁNH ĐAMIANÔ, TỬ ĐẠO

1. ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ

Theo truyền thuyết, thánh Cosma và Đamianô là hai anh em sinh đôi.  Sinh tại Ả rập.  Các Ngài sớm mồ côi cha.  Mẹ các Ngài là một góa phụ nhân đức, đã không tiếc gì để giáo dục con cái về tri thức và đạo đức.  Bà gửi hai con theo học ở Syria.  Tại đây Cosma và Đamianô nổi tiếng là lương thiện, vô vị lợi và trong trắng.  Nhiệt thành với đức tin, các Ngài dự tính học nghề thuốc.  Khoa này vào thời ấy bị coi rẻ.  Nhưng các Ngài tin rằng khi chữa lành thể xác con người các Ngài có thể góp phần vào việc chữa trị bệnh tật linh hồn.

Thiên Chúa đã chúc lành cho dự tính của các Ngài và ban cho các Ngài được thông thạo về nghề thuốc.  Chữa bệnh hoàn toàn miễn phí, các Ngài càng ngày càng trở nên danh tiếng vì những cuộc chữa lành nhờ lời cầu nguyện.  Những cuộc chữa lành lạ lùng này lôi cuốn được nhiều người, kể cả các lương dân đến với các Ngài.  Tuy nhiên, chính vì tiếng tăm lừng lẫy này đã đưa tới cái chết vì đạo của các Ngài.

Các hoàng đế Điôclêtianô và Maximianô quyết tận diệt Kitô giáo, đã sai tổng trấn Lysias đến Ege để ép buộc các Kitô hữu phải dâng hương tế thần.  Ai không tuân lệnh sẽ bị sát hại.  Các lương dân tố cáo với quan tổng trấn rằng có hai người rất thạo nghề thuốc nhưng lại là thù địch chí tử của các thần minh.  Nếu họ tiếp tục hành nghề các đền thờ sẽ trống vắng và cả nước sẽ theo Kitô giáo hết.  Nghe tin này quan tổng trấn truyền bắt giam hai Ngài.  Sau khi bắt các Ngài phải dâng hương tế thần mà không được, ông ra lệnh hành hạ các Ngài.  Nhờ ơn Chúa, hai thánh Cosma và Đamianô đã nhẫn nại chịu đựng, lại còn tỏ ra hân hoan nữa.  Quan lính trói các Ngài rồi bỏ xuống biển, nhưng các thiên thần đã đến tháo cởi xiềng xích và cứu các Ngài bình an vô sự.

Nghe tin này, quan tổng trấn truyền lập giàn thiêu.  Nhưng giữa ngọn lửa cháy bừng, hai thánh nhân vẫn không hề hấn gì.  Cuối cùng quan tổng trấn ra lệnh xử trảm.  Hai thánh Cosma và Đamianô khẩn khoản nài xin Chúa thương nhận lễ dâng của các Ngài và cầu xin Chúa tha tội cho những kẻ đã hành hạ mình.  Sau những nhát chém đầu tiên, đầu các Ngài lìa xác và nhận phúc tử vì đạo.  Hôm ấy là ngày 26-09-297.

Danh tiếng của hai thánh Cosma và Đamianô lan rộng khắp Giáo hội vì những cuộc chữa lành bệnh các Ngài đã thực hiện.  Hoàng đế Justinô I khuyến khích lòng sùng kính hai thánh nhân.  Một nguyện đường được xây dựng ở Aege miền Cilicia để ghi nhớ nơi các Ngài chịu chết vì đạo.  Tại Roma, Đức Thánh Cha Symmachô (498  514) đã cho xây nguyện đường kính hai thánh, và Đức Thánh Cha Felix IV (526  530) đã cho xây một đại giáo đường kính các Ngài.

Hai thánh Cosma và Đamianô được đặt làm thánh bổn mạng các y sĩ và các nhà giải phẫu. (Tổng hợp)

2. BÀI HỌC

Giáo Hội của Chúa Kitô ít khi được an bình.  Con cái thế gian luôn tìm cách phá hại Hội Thánh của Chúa.  Giáo Hội vào thời hai Ðấng lúc đó gặp cảnh cấm cách, bắt bớ của Hoàng đế Ðiôclêtianô và Maximianô, Cosma và Ðamianô bị bắt, bị dẫn giải tới quan Lydia.  Thánh Cosma và Ðamianô không sợ sệt, không run sợ, không nhát đảm, các Ngài luôn tuyên xưng mình là Kitô hữu.  Quan Lydia truyền đánh đòn hai Ngài một cách dã man, tàn ác, ra lệnh xích tay chân và quăng hai Ngài xuống biển.  Chúa nhiệm mầu và quyền năng đã cứu hai Ngài khỏi chết.  Tức giận vì phép lạ Chúa giải cứu hai Ngài khỏi chết, Lydia đã ra lệnh đốt một đống lửa cháy to và đẩy hai Ngài vào đống lửa đang cháy.  Hai Ðấng vẫn ung dung,vừa đi vừa cầu nguyện giữa đống lửa đang bừng bừng cháy lớn.  Phép lạ Chúa quả quá tỏ tường, nhiều người chứng kiến phép lạ lớn lao ấy đã được ơn quay trở lại.

Như một con thú khát máu, Lydia đã ra lệnh khẩn cấp đem hai Ngài đi chém đầu.  Hai thánh nhân trước khi để cho đao phủ chém đầu mình đã can đảm ngước mắt lên trời cầu xin Chúa thứ tha cho những kẻ làm hại các Ngài.

Trong một bài suy niệm về tình hình dịch bệnh hiện tại, một thiện nguyện viên đã viết như sau: “Thực tế cuộc sống giúp chúng ta nhận ra rằng tha thứ chưa bao giờ là điều dễ thực hiện.  Có những hành động lầm lỗi, những kỷ niệm cay đắng mà người khác đã hành xử với chúng ta trong quá khứ mà chỉ cần chúng ta nhớ lại hay đi ngang qua khung cảnh xưa cũ cũng đủ làm lòng chúng ta cảm thấy chua xót và giận hờn.  Có nhiều lúc, khi nhìn thấy đại dịch hoành hành và cướp đi rất nhiều sinh mạng, làm đảo lộn cuộc sống của rất nhiều người, làm rất nhiều gia đình trở nên nghèo đói… tôi thấy trong lòng sôi lên và cảm thấy tức giận những kẻ đã tạo ra, đã làm lây lan thứ virus quái ác này, mong cho những kẻ ấy phải trả giá.  Nhưng khi nhìn lên Thánh giá, tôi lại thấy mình thật tệ và hẹp hòi biết bao!

Hôm nay, Chúa Giêsu đang tha thiết mời gọi chúng ta “Hãy thương xót” và sẵn sàng tha thứ thêm lần nữa, rồi lại lần nữa vì chính chúng ta đã được Thiên Chúa thương xót và hết lòng tha thứ.  Trong Thông điệp Fratelli Tutti, ĐTC Phanxicô đã gợi ý cho chúng ta về cách thức tha thứ như sau: “Tha thứ cách tự do và chân thành là một hành vi cao quý, phản ánh lòng tha thứ vô biên của Thiên Chúa.  Nếu tha thứ có tính nhưng không, thì chúng ta có thể tha thứ cả cho những ai không hề hối lỗi và không có khả năng xin tha thứ” (ĐTC Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti, số 250).  (Jos. Lương Tùng, CSsR).

Xin được kết thúc bằng câu chuyện cảm động này: “Trong những năm 1944-1945, dân Roma khiếp sợ mỗi khi nghe nhắc đến tên Peter Koch, một sĩ quan mật vụ Ðức quốc xã đã từng giết hại không biết bao nhiêu mạng người.  Sau chiến tranh, anh ta bị bắt và bị kết án tử hình.  Anh viết thư cho Ðức Giáo Hoàng Piô 12 để xưng thú các tội ác mình đã phạm và đặc biệt xin Ngài tha thứ cho anh tội đã tấn công vào Vương Cung thánh đường Thánh Phaolô ngoại thành.

Ðức thánh cha đã sai một linh mục đến nhà tù để gặp anh ta và chuyển đến anh sự tha thứ của Ngài, đồng thời trao cho anh ta một tràng hạt mân côi.  Ðến nhà giam, sau khi đã làm theo lời căn dặn của Ðức Giáo Hoàng, vị linh mục đã nghe người tử tội thốt lên như sau: “Tổ quốc con nguyền rủa con, đó là điều hợp lý.  Tòa án đã kết án con, điều này cũng rất công bình.  Ðức Giáo Hoàng đã tha thứ cho con và đã cho con một bài học cao quý.  Giả như con đã luôn nghĩ đến việc tha thứ, thì giờ này có lẽ con không phải ra pháp trường như thế này.”  Nói rồi anh bật khóc: “Con không dám động đến tràng hạt của Ðức Giáo Hoàng bằng đôi tay vấy máu của con.  Xin cha đeo tràng hạt vào cổ cho con.”  Ít phút sau, Peter Koch ngã gục dưới loạt đạn, miệng anh vẫn còn cầu khẩn Mẹ Maria…

Lm. Giuse Đinh Tất Quý

LIÊN HỆ VỚI CẢ CHÚA GIÊSU VÀ CHÚA KITÔ

Với tôi, suốt nhiều năm trời, Kitô chỉ đơn thuần như cái họ của Chúa Giêsu, như Jack Smith, Susan Parker, Giêsu Kitô.  Về mặt tri thức thì tôi biết nó không phải thế, nhưng về mặt thực tế, cả trong đời sống đức tin cá nhân và với tư cách thần học gia, tôi xem danh Kitô như thể đơn thuần là cái họ của Chúa Giêsu vậy.  Dù là khi cầu nguyện, viết lách hay giảng dạy, tôi gần như luôn dùng hai danh này cùng nhau, Giêsu Kitô, như thể cả hai có sự đồng nhất tuyệt đối.

Nhưng không phải vậy.  Chúa Giêsu là nhân vị thần thiêng trong Ba Ngôi, người từng sống trên địa cầu với xác thịt khí huyết và giờ đang ở bên Chúa Cha, là một phần trong Ba Ngôi Thiên Chúa.  Nhưng ngài cũng là một cấu thành then chốt trong hiện thực của Chúa Kitô, Chúa Kitô thì hơn cả Chúa Giêsu.

Chúa Kitô là một huyền nhiệm bao gồm cả chúng ta, những môn đệ của Chúa Giêsu trên địa cầu, các bí tích, kinh thánh và giáo hội.  Kinh Thánh nói rõ ràng: Chúng ta là Thân thể của Chúa Kitô trên địa cầu.  Chúng ta không đại diện hay thay thế cho Chúa Kitô, không phải là một sự hiện diện thần nhiệm mơ hồ nào đó của Chúa Kitô.  Chúng ta là Thân thể Chúa Kitô, cũng là Phép Thánh Thể và Lời Chúa.

Sự phân biệt này có những liên quan rất lớn đến cả đời sống đức tin cá nhân và cách chúng ta sống đức tin trong giáo hội.  Đơn giản đồng nhất Chúa Giêsu và Chúa Kitô thì sẽ bào mòn cương vị môn đệ của chúng ta, bất kể chúng ta thường hay liên hệ với danh nào nhất (Giêsu hay Kitô).

Xin cho tôi nói về một sai lầm của tôi.  Khi sống đức tin, tôi dễ dàng và thực tế về mặt hiện sinh, liên hệ với Chúa Kitô hơn là Chúa Giêsu.  Nghĩa là tôi có niềm tin và sự gắn bó cả đời với hiện thực của sự phục sinh, với giáo huấn của Chúa Giêsu, với giáo hội, các bí tích và kinh thánh Kitô giáo.  Tôi tin rằng việc tham dự Phép Thánh Thể là điều quan trọng nhất mà tôi làm trong đời, rằng Bài giảng trên núi là quy tắc đạo đức lớn nhất và giáo hội, bất chấp những lỗi phạm của mình, là Thân thể Chúa Kitô trên địa cầu.

Nhưng không như nhiều nhà thần nghiệm và các thánh đầy đức tin mà tôi đã đọc về cuộc đời họ, không như nhiều người bạn và đồng nghiệp theo Phái Phúc âm, tôi vất vả trong việc có ý thức thực sự rằng Chúa Giêsu là một người bạn và người yêu thân thiết.  Tôi chật vật để trở thành người môn đệ yêu dấu trong phúc âm theo thánh Gioan, dựa đầu vào ngực Chúa Giêsu, có sự mật thiết một đối một với Chúa Giêsu đến mức làm cho các thứ khác trở nên tương đối.  Tôi biết Chúa Giêsu là thật và Ngài muốn có sự mật thiết một đối một với mỗi chúng ta, nhưng sự thật là tôi chật vật để thật sự cảm nhận điều đó và để biến nó thành phần trọng tâm trong cương vị môn đệ của mình.  Ngoại trừ những thời khắc ân sủng trong lời cầu nguyện, thì sự gắn bó với Phép Thánh Thể, giáo huấn của Chúa Giêsu và với giáo hội chính là tâm điểm đức tin và cương vị môn đệ của tôi.  Theo thói quen, tôi liên hệ với Chúa Kitô nhiều hơn Chúa Giêsu.

Và cho tôi mạo hiểm thêm vào điều này: Tôi tin rằng điều này cũng đúng với các giáo hội Kitô giáo khác.  Chúng ta có những giáo hội liên hệ với Chúa Kitô hơn và có những giáo hội liên hệ với Chúa Giêsu hơn.  Ví dụ như, giáo hội Công Giáo La Mã là giáo hội rất quy hướng về Chúa Kitô.  Cộng đoàn hội thánh, Phép Thánh Thể, các bí tích và giáo huấn của Chúa Giêsu là những điều then chốt.  Không người Công Giáo La Mã nào có thể nói rằng tôi chỉ cần mối quan hệ riêng với Chúa Giêsu là đủ.  Với người theo Anh Giáo, Tân Giáo và Tin Lành đường lối chính cũng vậy.  Nhưng với các giáo hội thuộc phái Phúc Âm thì lại không hẳn vậy, khi mà ủy lệnh đặc biệt trong Phúc Âm theo thánh Gioan rằng phải có mối quan hệ mật thiết với Chúa Giêsu dễ dàng trở thành giáo lý trọng tâm của cương vị môn đệ Kitô Hữu.

Nhưng không phải các giáo hội khác nhau theo chiều kích này mà tiệt trừ chiều kích kia.  Ví dụ như, Công Giáo La Mã, Anh Giáo và Tin Lành dòng chính nhấn mạnh về việc cầu nguyện riêng là công cụ để liên hệ với nhân thể của Chúa Giêsu như một người bạn và người yêu thân thiết.  Về chuyện này, Công Giáo La Mã đem lại một truyền thống cầu nguyện kính mến phong phú, đôi khi quá phong phú.  Ngược lại, phái Phúc Âm với trọng tâm rất mạnh về Chúa Giêsu, dùng các buổi phụng vụ lời Chúa và giảng dạy làm cách chính để liên hệ với mầu nhiệm rộng hơn của Chúa Kitô.

Chúng ta có những điều đáng để học hỏi từ cả hai.  Các giáo hội, cũng như các cá nhân, đều phải hướng về cả hai, Chúa Giêsu và Chúa Kitô, nghĩa là chú trọng mối quan hệ riêng với Chúa Giêsu Kitô và tham gia vào mầu nhiệm nhập thể lịch sử của Chúa Kitô, mầu nhiệm mà mỗi chúng ta đều có phần.  Chúng ta phải tập trung vào Chúa Giêsu, nhưng cũng phải tập trung vào Phép Thánh Thể, Lời Chúa và cộng đoàn tín hữu, tất cả đều là Thân thể Chúa Kitô.  Đức tin và cương vị môn đệ của chúng ta phải vừa riêng tư một cách sâu sắc, vừa chung một cách rõ ràng.  Không một Kitô hữu nào có thể nói rằng cương vị môn đệ của mình chỉ hệ tại ở mối quan hệ cá nhân với Chúa Giêsu, cũng như không một Kitô hữu nào có thể nói rằng mình không cần Chúa Giêsu, chỉ cần giáo hội và các bí tích.

Chúng ta là môn đệ của Chúa Giêsu Kitô, cả về mặt nhân thể và mầu nhiệm.  Chúng ta gắn bó với một bộ giáo huấn, một loạt bí tích, Phép Thánh Thể và cộng đoàn hữu hình mà chúng ta gọi là giáo hội, cũng như với một người tên là Giêsu là tâm điểm của mầu nhiệm lớn lao này và là người muốn trở nên người bạn và là người yêu của chúng ta.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CÔNG BẰNG VÀ TÌNH THƯƠNG

Trong cuộc sống đời thường, người ta hay nói đến công bằng như một lý tưởng phấn đấu và là một điều kiện căn bản để xây dựng một xã hội phồn vinh hạnh phúc.  Tuy vậy, ở đời này không bao giờ có công bằng tuyệt đối.  Bởi lẽ ngay khái niệm công bằng cũng được hiểu rất khác nhau, tùy theo quan điểm chính trị, văn hoá và xã hội của con người.

Thiên Chúa là Đấng công bằng.  Giáo huấn của Kinh Thánh khẳng định với chúng ta như thế.  Tác giả Thánh vịnh đã viết: “Quả thật Chúa là Đấng công bằng, ưa thích điều chính trực; những kẻ sống ngay lành được chiêm ngưỡng Thánh Nhan” (Tv 10,7).  Không chỉ công bằng, nơi Chúa còn có tình thương và lòng nhân hậu.  Ở đời này, hiếm thấy công bằng và tình thương đi đôi với nhau.  Dân gian ta thường nói: “Thương em anh để trong lòng, việc quan anh cứ phép công anh làm.”  Điều đó cho thấy đã công bằng thì không (hoặc rất khó) mà có tình thương và không có sự nể nang tình nghĩa.  Đây cũng là điều cần thiết bởi nếu không xã hội sẽ rối loạn như giao thông không có đèn hiệu.

Dụ ngôn ông chủ vườn nho hôm nay chứng minh cho thấy: Thiên Chúa vừa công bằng và tràn đầy tình thương.  Thiên Chúa không hành động nhỏ nhen như con người.  Chúng ta thường có thói quen “suy bụng ta ra bụng của Thiên Chúa,” có nghĩa là chúng ta thường gán cho Thiên Chúa những cách xử sự nơi thế giới nhân loại, cũng hận thù và tiểu nhân.  Từ đó, chúng ta phàn nàn kêu trách Chúa khi đau khổ thiếu thốn.  Tệ hơn, nhiều lúc chúng ta phê phán Chúa vì Ngài tốt bụng với người khác.  Qua ngôn sứ Isaia, Thiên Chúa đã khẳng định: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải đường lối của Ta…  Trời cao hơn đất chừng nào, thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi chừng ấy” (Bài đọc I).  Những lời này dạy chúng ta phải có cái nhìn rộng lượng hơn trong cách đối xử với tha nhân, như Thiên Chúa là Đấng bao dung và quảng đại.

Chúa Giêsu đến trần gian để mạc khải cho con người tình thương bao la của Chúa Cha.  Ngài thương hết mọi người và từng người, nhất là những tội nhân và những kẻ bé mọn.  Trong khi đó, nhiều người Do Thái, nhất là người Biệt phái và các luật sĩ lại ghen tỵ vì Chúa Giêsu.  Họ phê phán Chúa vì Người gần gũi những người tội lỗi và những kẻ bần cùng.  Dụ ngôn “thợ làm vườn nho” nhằm diễn tả lòng bao dung của Thiên Chúa và sự ích kỷ của con người.  Nếu Thiên Chúa là Đấng rộng rãi bao dung, thì con người lại quá nhỏ nhen ích kỷ.  Những người thợ đã làm từ đầu ngày ghen tương trước lòng tốt của ông chủ, trong khi đó, ông chủ vẫn làm đúng điều ông đã cam kết.  Ông không hề làm cho họ bị thiệt hại.  Họ ghen tương và phàn nàn bất mãn chỉ vì ông chủ tốt với người khác.  Thái độ của những người này làm chúng ta liên tưởng đến người con cả trong dụ ngôn “Người cha nhân hậu” được Chúa nói trong Tin Mừng Thánh Luca (x. Lc 15,25-32).  Anh ghen tương và phẫn nộ vì cha mình xử tốt với đứa em khi nó đi hoang trở về.  Đó cũng là thái độ của chúng ta, khi muốn Chúa phải xử theo ý muốn hẹp hòi của mình.

Đối lại với lời phàn nàn trách móc, ông chủ đã đặt ra hai câu hỏi: “Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của tôi sao?  Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức?”  Qua hai câu hỏi này, ông chủ muốn phê phán những người thợ tự cho mình là đáng giá hơn người khác, để dựa vào đó mà phản đối lòng tốt của ông chủ.  Người chủ vườn là hình ảnh của Thiên Chúa, Đấng bao dung nhân hậu.  Ngài sai Con Một là Đức Giêsu đến trần gian để sống gần với họ.  Điều này làm những người tự coi là “công chính” không hài lòng.  Bởi lẽ, theo suy nghĩ của họ, chỉ có họ là được Chúa yêu thương.  Việc Chúa Giêsu gần gũi những người thu thuế và những người tội lỗi được họ coi như một thiệt thòi đối với họ, vì thế mà họ nổi loạn và trách móc phàn nàn.  Họ giống như một số người có thái độ “ghen ngược” trong xã hội hôm nay, kêu ca phàn nàn trách móc trong khi mình không có quyền gì để làm những điều đó.  Thiên Chúa yêu thương và cứu vớt những người bị đẩy ra bên lề cuộc đời.  Họ là những người không ai thuê, mặc dù vào giờ thứ mười một, tức là đã xế chiều.  “Không ai mướn chúng tôi!”  Lời này đã diễn tả tình trạng bi đát và khốn cùng của họ.  Không ai mướn, tức là ngày đó không có lương, và như thế, cả vợ con và gia đình họ cũng không có gì sống.  Ông chủ vườn nho là người thấu hiểu điều đó.  Vì vậy, ông trả lương cho họ giống như những người đã làm từ sáng.  Đó là đồng lương của lòng nhân hậu.

Ngày hôm nay, Thiên Chúa vẫn luôn tỏ lòng nhân hậu đối với con người, không phân biệt sang giàu hay đẳng cấp xã hội.  Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta tự vấn lương tâm: “Đâu là thái độ của tôi đối với anh chị em đồng loại?”  Vì Thiên Chúa nhân hậu bao dung, nên Ngài mời gọi chúng ta hãy sám hối và bỏ đường tà, đoạn tuyệt với quá khứ, thay đổi con tim và canh tân cuộc sống: “Hãy trở về với Chúa – và Ngài sẽ xót thương, về với Thiên Chúa chúng ta vì Ngài rộng lòng tha thứ” (Bài đọc I).

Những lo toan bận tâm thường ngày không thể cản trở chúng ta tìm kiếm Nước Trời.  “Chỉ có một điều là anh em phải ăn ở làm sao cho xứng với Tin Mừng của Đức Kitô” – Thánh Phaolô khuyên chúng ta như vậy.  Đối với thánh nhân, sự sống hay sự chết chẳng là một điều bận tâm, vì đối với những ai yêu mến Chúa thực sự thì họ chắc chắn được lãnh nhận phần thưởng Nước Trời.  Lòng mến Chúa yêu người sẽ thôi thúc chúng ta thực hiện những gì Chúa muốn: “Kẻ gan ác, hãy bỏ đường lối mình đang theo.  Người bất lương, hãy bỏ tư tưởng mình đang có mà trở về với Đức Chúa – và Người sẽ xót thương” (Bài đọc I).

Chúa là chủ vườn nho bao dung nhân hậu.  Tuy vậy, chúng ta không dựa vào lòng nhân hậu của Chúa mà trễ nải khi được mời gọi vào vườn nho của Ngài.  Những người thợ được nêu trong Tin Mừng, khi được mời, đều sẵn sàng nhận lời.  Vì vậy mà họ đáng được thưởng công.  Vườn nho của Chúa là Giáo Hội, nơi mỗi người tìm thấy bầu khí gia đình thân thương.  Vườn nho của Chúa chính là cuộc đời, nơi chúng ta được sai đến để làm chứng cho lòng nhân hậu của Thiên Chúa.  Ý thức được điều này, chúng ta sẽ nhận ra giá trị của cuộc sống, nhất là niềm vinh hạnh vì được làm con cái Chúa.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

THUẦN TUÝ XÓT THƯƠNG

“Đừng khóc nữa!”; “Hãy trỗi dậy!”

“Lạy Chúa, xin chấm dứt cuộc sống khốn khổ của con theo ý muốn tốt lành của Ngài!  Giờ đây, sau bao trận chiến, con không tìm thấy gì ngoài sự phù phiếm và hư đốn.  Con bối rối, đau đớn chống lại ước muốn nên thánh của con.  Nó khóc nức nở vì sự hư hỏng của con, và nó sẽ chỉ tựa nương vào lòng thuần tuý xót thương của Chúa, điều mà Ngài đã hứa với tất cả tội nhân ăn năn mà con là một trong số đó!” – Nhật ký của một tu sĩ.

Kính thưa Anh Chị em,

“Chỉ tựa nương vào lòng thuần tuý xót thương của Chúa.”  Đó cũng là những gì Tin Mừng hôm nay ghi lại trước cửa thành Nain.  Một nhóm người đi ra, hộ tống cái chết, theo sau là một người mẹ; một nhóm người đi vào, hộ tống sự sống, dẫn đầu là Chúa Giêsu.

Họ gặp nhau, Chúa Giêsu nói với cô, “Đừng khóc nữa!” và sờ vào quan tài, Ngài bảo, “Hãy trỗi dậy!”  Người chết ngồi lên, Ngài trao anh cho người mẹ.  Mới hôm qua, Ngài ghi nhận đức tin phi thường của viên đại đội trưởng khi ông xin chữa cho người đầy tớ từ xa; Phúc Âm hôm nay không nói gì đến đức tin của bất cứ ai; không ai yêu cầu, không ai sụp lạy Ngài!  Chúa Giêsu chỉ thấy một góa phụ đi bên thi hài đứa con duy nhất của cô khi nó được mang đi chôn, và Ngài xót thương, như người Samaritanô xót thương nạn nhân sóng soài bên đường; như người cha xót thương đứa con hoang đàng trở về.  Không cần làm bất cứ điều gì, không cần nói bất cứ lời nào, Ngài hành động vì ‘thuần tuý xót thương,’ trao anh ấy cho góa phụ để cô không còn cô đơn trên thế giới này.

Tin Mừng muốn nói, sáng kiến ‘thuần tuý xót thương’ của Chúa đối với con người không phụ thuộc vào mức độ đức tin nhất định của ai.  Ngài đến với chúng ta như chúng ta vốn có, và nhu cầu của chúng ta càng lớn thì việc đến của Ngài càng mạnh mẽ.  Chúa ban ân sủng bằng sự hiện diện của Ngài.  Được ân sủng một cách bất ngờ và không đáng có, chúng ta không thể không đáp lại nó theo cách đám đông đã làm, là ca ngợi về món quà cứu độ của Ngài!  Luca ghi nhận, “Mọi người đều kinh sợ và tôn vinh Thiên Chúa!’”

Anh Chị em,

“Đừng khóc nữa!”; “Hãy trỗi dậy!” Khi nói “Đừng khóc nữa!” Chúa Giêsu cho thấy, người mẹ ấy hẳn đã bước vào trái tim thương xót của Ngài.  Ngài đến gần, gặp gỡ từng người, mang theo và đưa ra lời an ủi mạnh mẽ.  Và tuyệt vời hơn, Ngài còn nói, “Hãy trỗi dậy!”  Ngài muốn chúng ta đứng thẳng.  Thiên Chúa tạo dựng chúng ta để đứng thẳng.  Vì lý do đó, lòng thương xót Chúa dẫn đến chữa lành, mà cụm từ chính là “Hãy chỗi dậy!” “Hãy đứng lên!” như “Chúa đã tạo ra bạn!”  Và dẫu có ngã xuống bao lần, điều quan trọng là luôn đứng lên.  Lời mạnh mẽ của Chúa Giêsu có thể làm cho chúng ta sống lại, cũng có thể mang đến cho chúng ta sức mạnh để vượt qua cái chết đến sự sống.  Lời Ngài làm cho sống, mang niềm hy vọng, làm tươi mới những tâm hồn mệt mỏi; mở ra một tầm nhìn mới về thế giới và sự sống vượt trên đau khổ và cái chết.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để ước muốn nên thánh của con khóc nức nở vì sự hư hỏng của con.  Cho con mạnh mẽ chỗi dậy sau mỗi lần sa ngã nhờ lòng Chúa xót thương!”  Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế