DIỆT TRỪ SỰ DỮ

Độc giả hôm nay cũng như những người chứng kiến sự kiện mà thánh Mác-cô thuật lại đều ngỡ ngàng và thú vị ở chi tiết: chính thần ô uế công khai tuyên xưng thân thế và sứ mạng của Đức Giêsu.  Theo khái niệm của Kinh Thánh, thần ô uế vừa tượng trưng cho ma quỷ Satan, vừa là lực lượng đối lập với những gì là thiện hảo, ngay lành và thậm chí còn đối lập với chính sự thánh thiện của Thiên Chúa.  Thần ô uế đã tuyên xưng: “Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa.”  Bằng một mệnh lệnh, Chúa Giêsu đã bắt nó phải buông tha người bị nó ám.  Thánh Mác-cô hay diễn tả uy quyền của Chúa bằng cách ra lệnh cho các thế lực thiên nhiên hay ma quỷ, như trong Mc 4,39 Chúa đe gió và biển: “Im đi, câm đi”; Chúa ra lệnh cho người bại tay (x. Mc 3,5).  Chắc hẳn lời tuyên xưng của thần ô uế đã giúp nhiều người tin vào Chúa Giêsu, nhận ra Người là Đấng đến trần gian để xua đuổi thế lực của tối tăm, diệt trừ sự dữ và xây dựng một vương quốc thánh thiện, nhằm thánh hóa con người.

Thánh Mác-cô cho chúng ta một chi tiết đặc biệt nữa: Hội đường là nơi thánh thiêng của người Do Thái cũng giống như nhà thờ của các Kitô hữu ngày nay.  Vào mỗi ngày Sa-bát, mọi người đều tập trung ở đó để đọc và nghe Lời Chúa.  Chính Chúa Giêsu, khi trở về thăm quê hương Nagiarét, đã vào hội đường và đọc Kinh Thánh trước mặt cộng đoàn (x Lc 4,16-28).  Vậy mà, dưới ngòi bút tường thuật của thánh Mác-cô, nơi ấy cũng có thần ô uế ám ảnh.  Chính nơi thờ phượng thiêng liêng của người Do Thái cũng có sự hiện diện của Satan.  Với những chi tiết này, Thánh Mác-cô có ngầm ý khẳng định với chúng ta rằng, Chúa Giêsu đến để canh tân phụng vụ Do Thái đã trở nên lỗi thời và còn nhiều khiếm khuyết.  Sau này, chính Chúa Giêsu tuyên bố Người là Đền thờ đích thực.  Nền phụng vụ mới mà Chúa Giêsu đề nghị, đó chính là thờ phượng Chúa trong tinh thần và chân lý.  Sự hiện diện của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi đền thờ hay hội đường, tình yêu thương của Chúa không phân biệt sắc tộc hay ngôn ngữ, nhưng ở đâu có tình yêu thương thì ở đó có Đức Chúa Trời.  Theo giáo huấn của Chúa Giêsu, lời ca tụng tôn vinh Chúa phải xuất phát từ tấm lòng chân thành và phải đi đôi với thiện chí để nên trọn lành.

Sứ mạng của Đấng Thiên sai là đẩy lui quyền lực của bóng tối đang bao phủ nhân loại.  Chúa Giêsu đã đến trần gian để giải phóng con người khỏi ách kìm kẹp của ma quỷ, là quyền lực của tối tăm.  Người là ánh sáng trần gian đã bừng lên trong tăm tối để dẫn đưa con người về chính lộ.  Những người Do Thái chuyên tâm đọc Sách Thánh sẽ dễ dàng nhận ra Chúa Giêsu chính là vị ngôn sứ mà Cựu ước đã loan báo.  Sách Đệ Nhị Luật ghi lại những lời giáo huấn của ông Môisen, vị thủ lãnh đã dẫn đưa dân Do Thái ra khỏi Aicập.  Trong những lời trăng trối cuối đời, ông Môisen đã nói đến một vị ngôn sứ Chúa sẽ gửi đến.  Vị này cũng đầy quyền uy để lãnh đạo dân như ông Môisen, và còn hơn cả Môisen nữa.  Sứ mạng của vị Ngôn sứ này là đem Lời Chúa làm lương thực nuôi dân chúng (Bài đọc I).  Chúa Giêsu chính là vị Ngôn sứ muôn dân mong đợi.  Ngài đến để thanh tẩy con người khỏi mọi tội lỗi, để thiết lập một nền phụng vụ đích thực, không còn những uế tạp trần tục, nhưng có khả năng thánh hóa con người.  Những người có mặt hôm đó tại hội đường, từ tâm trạng sững sờ đến trầm trồ thán phục: “Lời giảng dạy thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền.  Ông ấy ra lệnh cho các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh.”

Hơn hai ngàn năm đã qua, Giáo Hội không ngừng loan báo Đức Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa, là Đấng cứu độ và giải phóng con người.  Giáo Hội cũng đang tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu, nhằm đem ơn cứu độ đến cho mọi dân tộc.  Loan báo Đức Giêsu cũng là sứ mạng của mỗi Kitô hữu.  Đó chính là nhiệm vụ chúng ta đã lãnh nhận khi được chịu phép Thanh tẩy.  Tuy vậy, trước khi nói đến loan truyền Tin Mừng cho người khác, mỗi chúng ta phải sống Tin Mừng trong cuộc sống cụ thể hằng ngày.  Trong con người của chúng ta, đang hiện hữu vừa ánh sáng vừa bóng tối, vừa hình ảnh của Thiên Chúa nhưng cũng vừa hình ảnh của Satan.  Chính vì thế mà chúng ta phải thanh tẩy bản thân mỗi ngày.  Ơn gọi nên thánh không phải là những điều quá sức con người, mà đó là những điều rất bình dị trong cuộc sống.  Thánh Phaolô đã cụ thể hóa đời sống Kitô hữu bằng cách khuyên mỗi người trong gia đình và trong cộng đoàn hãy chuyên tâm thực thi bổn phận của mình đối với Chúa và đối với tha nhân.  Người lập gia đình thì chăm lo việc gia đình.  Người tu hành thì chăm lo việc Chúa.  Những công việc đời thường, nếu được chu toàn với thiện ý và với tâm tình Đức tin, thì cũng góp phần làm cho chúng ta nên hoàn thiện (Bài đọc II).

Là Kitô hữu, chúng ta được tham dự vào chức ngôn sứ của Chúa Giêsu.  Mục đích của chức năng này là rao giảng Lời Chúa.  Được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu nhờ bí tích Thanh Tẩy, người Kitô hữu cũng đang cùng với Chúa Giêsu để diệt trừ sự dữ, đẩy lui quyền lực của tối tăm và làm cho ánh sáng cứu độ bừng lên nơi mọi nẻo đường của cuộc sống.  Những người dân thành Caphanaum chứng kiến phép lạ Chúa Giêsu làm đã đồn ra khắp vùng.  Mỗi chúng ta khi cảm nghiệm những điều lạ lùng Chúa làm cho mình, hãy nỗ lực cố gắng để nói về Chúa cho mọi người xung quanh, để kể lại những kỳ công của Người.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

AI ĐƯỢC CHÚA YÊU THƯƠNG HƠN?

Ai được Thiên Chúa cảm thương?  Chúng ta nên cầu nguyện đặc biệt cho ai?  Chúng ta nên xin Thiên Chúa ban phúc lành cho ai?

Thế giới đang diễn Thế vận hội.  Cái chúng ta thấy là những cơ thể khỏe nhất thế giới, được tô điểm với nụ cười trẻ trung và những bộ đồ thể thao đủ sắc màu.  Thế vận hội là để mừng sức khỏe.  Bất chấp bất kỳ thứ gì bao vây hay lẩn khuất bên dưới những cuộc thi đấu này (buôn bán, tham vọng, sản phẩm cấm dùng, bất kỳ thứ gì), thì có lẽ phản ứng đầu tiên của chúng ta luôn là vui sướng.  “Chà! Đẹp quá!  Điều này nói lên sự tuyệt diệu về cuộc sống và về Thiên Chúa.”

Hơn nữa, cái chúng ta thấy, không chỉ là các vận động viên.  Bao quanh các cuộc thi là ngân sách hàng tỷ đô la, nước chủ nhà đang thể hiện tất cả tinh hoa của mình, các đài truyền hình gởi đi những hình ảnh rực rỡ muôn màu khắp thế giới, và khắp nơi là những màn trình diễn được tính toán cẩn thận của tuổi trẻ, sức khỏe, vẻ đẹp, sung túc, như thể chỉ có chúng mới làm thế giới vận hành.

Đáng buồn thay, sức khỏe, vẻ đẹp và sung túc không phải là những thứ bẩm sinh đã công bằng hay được phân bổ và chia sẻ cách công bằng.  Cứ mở một hai kênh truyền hình khác là sẽ thấy các hình ảnh đối cực, các kênh tin tức liên tục truyền đi những hình ảnh về đau khổ, đói nghèo, bất công, nạn đói, tàn phá, hàng triệu người chạy trốn bạo lực, hàng triệu người sống trong cảnh khổ sở, và hàng triệu người sống với chút ít ỏi hy vọng tại những lằn ranh biên giới.  Và đó chỉ là những gì chúng ta thấy trên bản tin.  Cái chúng ta còn chưa thấy là hàng triệu người thất nghiệp, hàng triệu người là nạn nhân của bạo lực và xâm hại, hàng triệu người gặp vấn đề về thể lý và tâm lý đủ loại, và hàng triệu người mắc các chứng bệnh nan y đang chờ chết.  Những cuộc đời và những cơ thể này có gì tương xứng với những cuộc đời và cơ thể của các vận động viên Thế vận hội không?  Đây là một câu đáng hỏi.

Chúng ta đánh giá sự tương phản đắng lòng này giữa những gì được thấy ở Thế vận hội và những gì chúng ta thấy trên bản tin này như thế nào?  Nó có làm chúng ta suy nghĩ về cầu nguyện và đồng cảm không?  Liệu đau khổ của người nghèo có áp đảo trước sức khỏe của người giàu, đến mức trái tim và lời cầu nguyện của chúng ta chỉ hướng đến người nghèo thôi sao?  Nếu là thế, liệu chuyện này có đem lại cái nhìn tiêu cực về các ơn sức khỏe và sự sung túc tuyệt vời hay không?

Có một số bài học có thể rút ra từ kinh dâng lễ trong nghi thức Thánh Thể.  Trong nghi thức Thánh Thể, linh mục dâng hai bánh và rượu lên Thiên Chúa và chúng ta xin Ngài chúc lành cả hai.  Bánh và rượu đại điện cho hai khía cạnh khác nhau của thế giới và cuộc sống chúng ta.  Đến đây, tôi xin trích lời thần học gia Pierre Teilhard de Chardin: “Thứ thật sự được thánh hiến mỗi ngày chính là sự phát triển của thế giới trong ngày hôm đó, bánh biểu trưng cho những gì được tạo nên, rượu là biểu trưng cho những gì mất đi trong lao công và đau khổ trong tiến trình của nỗ lực đó.”

Về căn bản, lời nguyện dâng lễ xin hai phúc lành.

“Lạy Chúa là Đấng tạo thành vạn vật, hôm nay chúng con dâng lên Chúa mọi sự trên thế giới này, cả vui mừng lẫn đau khổ.  Chúng con dâng lên Chúa bánh là những thành tựu của thế giới, cũng như dâng lên Chúa rượu là những thất bại của thế giới, là dòng máu đổ ra khi đạt những thành tựu này.  Chúng con dâng lên Chúa những người quyền thế, giàu có, nổi tiếng, các vận động viên, nghệ sĩ, ngôi sao điện ảnh, các doanh nhân, tuổi trẻ, vẻ đẹp và mọi thứ đầy sáng tạo cũng như đầy sức sống.  Chúng con cũng dâng lên Chúa những người yếu đuối, mỏng manh, già nua, tan nát, bệnh tật, hấp hối và những nạn nhân của đau khổ.  Chúng con dâng lên Chúa mọi vẻ đẹp, thú vui và niềm vui ngoại giáo của đời này, kể cả khi chúng con đứng với Chúa dưới thập giá, khẳng định rằng Đấng đã bị loại trừ khỏi thú vui trần thế chính là hòn đá tảng cho cộng đồng nhân loại.  Chúng con dâng lên Chúa kẻ mạnh cũng như kẻ yếu, xin Chúa chúc phúc cho cả hai, và mở rộng tấm lòng của chúng con để chúng con cũng như Chúa, có thể ôm lấy và chúc lành cho tất cả.  Chúng con dâng lên Chúa mọi kỳ công và đau đớn của thế giới này, thế giới của Chúa.”

Chúa thương người nghèo, người đau khổ, người bệnh tật và yếu đuối hơn, và chúng ta cũng phải như thế.  Đức tin của chúng ta khẳng định rằng người nghèo vào nước thiên đàng dễ hơn người giàu có và mạnh mẽ.  Tuy nhiên, dù đúng là thế, nó không ngụ ý rằng khỏe mạnh, sung túc là xấu.  Chắc chắn là chúng đem lại nguy cơ.  Trẻ trung, khỏe mạnh, hấp dẫn và tài năng, thường (dù không phải luôn luôn) là công thức dẫn đến tự phụ, xem đời mình đặc biệt hơn đời người khác.  Ít người có thể xử lý tốt những tặng vật phi thường này.

Tuy nhiên, dù có thế, chúng ta vẫn phải xác định, Thiên Chúa mỉm cười với sự tự hào và hài lòng với những gì sống động, những nơi mà sự sống được thịnh vượng, khỏe mạnh, trẻ trung tài năng và hấp dẫn.  Thiên Chúa mỉm cười với các vận động viên Thế vận hội.  Thiên Chúa thương người nghèo hơn, nhưng không vì thế mà ngăn cản tình yêu của Ngài dành cho người mạnh.  Như một người cha, người mẹ tốt lành, Thiên Chúa tự hào về những đứa con tài năng của mình, kể cả khi Ngài yêu thương đặc biệt những đứa con gặp đau khổ.

Trong mọi nghi thức Thánh Thể, chúng ta ôm lấy cả những vận động viên Thế vận hội và những người tị nạn bên rìa biên giới của chúng ta.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

THẤY – GỌI – BỎ – THEO

Sau khi chịu phép rửa của Gioan ở sông Giođan, Đức Giêsu biết đã đến lúc mình phải rời bỏ gia đình ở Nadarét, phải chia tay với người mẹ thân yêu, phải từ giã nghề nghiệp mà mình đã theo đuổi mấy chục năm trời.  Sau khi nhận Thánh Thần từ trên xuống, Đức Giêsu biết đã đến lúc mình phải lên đường dấn thân cho sứ mạng do Cha ủy thác.

Vùng Galilê là vùng Ngài bắt đầu rao giảng Tin Mừng về Nước Trời (c.14).  Ngài mời người ta sám hối và tin vào Tin Mừng mà Ngài rao giảng (c.15).  Nhưng Đức Giêsu không nghĩ rằng mình có thể tự mình làm mọi sự.  Ngài cần người cộng tác, dù nước Israel chỉ là một nước bé nhỏ.

Đức Giêsu đi tìm môn đệ, và Ngài bắt gặp các anh đánh cá nơi hồ Galilê.  Có hai đôi anh em ruột đã lọt vào mắt của Ngài.  Ngài THẤY Phêrô và Anrê đang quăng lưới bắt cá.  “Hãy theo tôi.  Tôi sẽ làm các anh thành những kẻ lưới con người” (c. 17).

Đây là một mệnh lệnh nhưng cũng là một lời mời thân thương.  Ngài GỌI họ đi theo Ngài, theo chính con người của Ngài, chứ không phải theo một lý tưởng hay một chủ nghĩa nào đó, dù là cao đẹp.  Theo Ngài sẽ dẫn đến một thay đổi lớn nơi họ: từ lưới cá đến lưới con người.  Bây giờ con người là mối bận tâm của họ, không phải là cá như xưa nữa.

Đức Giêsu cũng thấy cặp anh em ruột thứ hai là Giacôbê và Gioan.  Họ đang vá lưới trong khoang thuyền với người cha.  Khung cảnh cha con thật êm đềm, tưởng như chẳng gì có thể làm xáo trộn.  Tiếng gọi của Thầy Giêsu vang lên, gây cuộc chia ly.

Bốn anh đánh cá đầu tiên này đã BỎ để dáp lại tiếng gọi của Thầy Giêsu.  Họ đã bỏ chài lưới, bỏ nghề dánh cá, bỏ những thú vui của sông nước.  Hơn nữa họ còn bỏ gia đình, bỏ vợ, bỏ cha, để gắn bó với Thầy Giêsu.  Họ bỏ một giá trị để sống cho một Giá Trị lớn hơn, bỏ một tình yêu để sống cho một Tình Yêu lớn hơn.

Đức Giêsu đã có kinh nghiệm về sự đau đớn khi phải từ bỏ như vậy.  Nhưng bỏ chính là để THEO (c. 18.20).  Theo một Đấng sống không chỗ tựa đầu, và bước vào cuộc phiêu lưu bấp bênh.  Hôm nay Đức Giêsu vẫn cần những con người dám sống cho người khác, dám bỏ lại những điều rất quý giá và thân thương, dám bỏ lại cuộc sống ổn định và ấm êm, tiện nghi và dễ chịu.  Xin cho chúng ta nghe được tiếng gọi thì thầm của Ngài và vui sướng đáp lại.

****************************

Lạy Chúa, chúng con không hiểu tại sao Chúa chọn Simon, một người đánh cá ít học và đã lập gia đình, để làm vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội.  Chúa xây dựng Giáo Hội trên một tảng đá mong manh, để ai nấy ngất ngây trước quyền năng của Chúa.

Hôm nay Chúa cũng gọi chúng con theo Chúa, sống cho Chúa, đặt Chúa lên trên mọi sự: gia đình, sự nghiệp, người yêu.  Chúng con chẳng thể nào từ chối viện cớ mình kém đức kém tài.  Chúa đưa chúng con đi xa hơn, đến những nơi bất ngờ, vì Chúa cần chúng con ở đó.  Xin cho chúng con một chút liều lĩnh của Simon, bỏ mái nhà êm ấm để lên đường,hạnh phúc vì biết mình đang đi sau Chúa. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu

VẾT THƯƠNG LÒNG

Ai chưa từng trải qua cơn đau, người ấy thật sự chìm sâu trong cõi đời này.  Người nào chưa hề có một vết trầy xướt trên cơ thể thì chưa hoàn toàn đi vào cõi hiện sinh nhân thế.  Vết thương ngoài da đã đau đớn, vết thương lòng còn nhức nhối biết chừng nào.  Vết thương bên ngoài có thể được nhìn thấy, có thể dễ dàng tìm thuốc chữa trị, chứ vết thương lòng thì ai biết phải xoay sở ra sao.  Chẳng ai biết nó nông sâu thế nào, chẳng ai đo lường được mức tác hại của nó, cũng chẳng ai có thể biết một phương dược chính xác chữa lành, lại càng chẳng biết đến bao giờ thì sẽ không còn vết thương ấy nữa.

Tôi mang trong mình một vết thương, một kiểu đau nhức chẳng diễn tả được thành lời, một nỗi buồn không tên, một nỗi uất ức chôn kín.  Đó là khi tôi đã từng yêu da diết, đã từng trao gửi tất cả nỗi niềm và trọn vẹn con tim cho một người với một niềm hy vọng vô cùng lớn lao.  Để rồi, cái mà tôi nhận được là một sự hụt hẫng vô ngần vô hạn.  Tôi trách người nhưng trách luôn cả mình.  Trách người sao quá vô tâm và tàn nhẫn; trách mình sao quá vội vã, quá cả tin.  Tôi đau một nỗi đau hơn dao cứa, cơn nhức nhối cứ làm cả con người muốn nổ tung.  Tôi muốn chôn vùi nó, dùng sự quên lãng để lấp nó, nhưng đâu đó, những sục sôi trong tâm cảm vẫn cứ trở về.  Máu vẫn cứ rỉ ra từng giọt.  Tôi khóc cho vơi nhẹ tâm can.  Tôi tìm về cô đơn để trốn tránh thực tại.  Tôi cố tưởng tượng là mọi chuyện đã qua đi.  Nhưng tôi không đủ quyền năng để quay ngược thời gian, để biến mọi chuyện như chưa từng xảy đến.

Vết thương ấy làm tôi đau đã đành, nó còn làm cho tôi mất đi niềm tin vào tất cả.  Tôi chẳng còn dám mở con tim mình ra với ai.  Tôi sợ rằng vết thương kia sẽ bị xé toạc một lần nữa, và lần này, nếu chuyện đó xảy ra thật, thì chắc tôi sẽ chết mất thôi.  Người ta nói thời gian sẽ chữa lành tất cả.  Tôi cũng tin vậy, nhưng chẳng biết là sẽ đến bao giờ.  Tôi bỗng nhận ra là thế gian này chẳng có gì đáng mong đợi, chẳng có ai là đáng để cậy nhờ.  Tôi sống một cuộc đời bất chấp.  Ai muốn yêu thì cứ yêu; còn tôi, cứ khép mình là an toàn nhất, để khỏi bị phản bội, khỏi phải thất vọng, khỏi phải dùng nước mắt để xoa dịu vết thương.

Tôi cũng dùng lý trí để tự trấn an mình.  Rằng vết thương ấy làm tôi lớn lên, giúp tôi nhận biết rõ ràng hơn sự phũ phàng của cuộc sống.  Rằng lỗi một phần cũng do bản thân ta, chứ trách ai bây giờ.  Rằng tôi đã sai, tôi hối tiếc lắm.  Rằng tôi phải thật mạnh mẽ để cho người khác biết rằng chẳng có gì có thể quật ngã được tôi…  Nhưng khi đối diện với lòng, tôi chẳng thể che giấu được một con người yếu đuối, mềm mỏng.  Tôi không thể giả vờ như chưa từng có chuyện gì xảy ra.  Cái giả vờ mà tôi đang cố gắng thể hiện càng chứng tỏ cho tôi thấy mình đang đau biết chừng nào.  Tôi vẫn phải tự nhủ với bản thân “vết thương ơi, cứ tạm thời chợp mắt đi nhé!”

Vết thương lòng là một kiểu vết thương rất kỳ lạ.  Nó làm người ta đau nhức vô cùng, nhưng người ta, trong một phút tủi thân, lại cứ thích nghĩ về nó.  Và cứ mỗi lần nghĩ về, vết thương lại bị khoét thêm một chút nữa.  Ta muốn giải bày ra tất cả những nỗi niềm, nhưng chẳng biết nói cùng ai.  Liệu rằng trên thế gian này, có ai đó trân trọng tình cảm của ta, sẽ lắng nghe, sẽ cảm thông và không bỡn cợt niềm tin của ta như người trước không?  Có ai đó sẵn sàng giang rộng vòng tay đón tiếp ta, ôm lấy ta, ôm lấy cả vết thương trong lòng ta, cùng ta khóc, cùng ta cười, cùng đau chung với ta không?  Nhiều câu hỏi đặt ra như thế, âu cũng chỉ là muốn nói lên khát vọng yêu và được yêu của một hữu thể nhỏ bé giữa dòng đời vạn biến vô thường này.

Một ngày nào đó, tôi lôi vết thương trong lòng ra, nhìn vào nó cách trực diện.  Tôi không trốn tránh nó, không giả vờ quên nó, không cất giấu nó âm ỉ trong lòng.  Tôi không nhìn về nó như một kiểu khơi lại những ký ức nuối tiếc.  Tôi không khoét sâu nó bằng những cảm xúc ủy mị với hai chữ “giá như.”  Tôi không tiếp tục nuôi dưỡng nó bằng một kiểu suy nghĩ trách móc.  Tôi biết rằng thời gian đã trôi qua và dù thế nào chăng nữa, mọi cái cũng chẳng thể quay trở về như trước.  Có biết bao nhiêu khả thể trong cuộc sống này mà tôi không dự đoán được, nhưng cái hiện thể mà tôi biết chính là vết thương mà tôi đang mang đây.  Nó là một phần của tôi, là cái làm nên cuộc đời tôi, là nơi tôi gặp được chính mình, thấy rõ mình, biết mình đang ở đâu, tìm gì, đi đường đúng hay sai.

Lâu lâu gợi nhớ về vết thương ấy, tôi thấy mình chơi vơi đắm chìm giữa dòng chảy thời gian, thấy nhân tình thế thái đổi dời như cơn lốc và tôi chỉ là một phần nhỏ giữa những quay cuồng này.  Tôi ôm vết thương lòng như một hành trang, một chút kỷ niệm, một cái gì nhỏ bé để gợi nhớ cho thời cuồng điên thiếu tự chủ.  Dầu vết thương có lành, nó cũng để lại sẹo.  Cái sẹo ấy trở thành dấu chứng cuộc đời, là cái giúp tôi nhớ rằng mình không phải thần thánh.  Nhìn về cái sẹo ấy, tôi mỉm cười về một thời đã qua, dù đớn đau nhưng cũng ngọt lịm vô cùng.  Tôi đã không sai khi chọn yêu.  Ít là tôi cũng đã được cảm nếm một chút niềm hạnh phúc không trọn vẹn.  Vết thương lòng không còn làm tôi đau nữa, vì tôi đã sẵn sàng chấp nhận cái giá của tình yêu tôi chọn lựa.  Tôi yêu và tôi không hối tiếc, vết thương lòng chẳng qua chỉ là bằng chứng của tình yêu thôi!

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

DẠ, CON ĐÂY!

“Dạ, con đây!”  Đó là lời thưa của cậu bé Sa-mu-en trong đền thờ ở Si-lô.  Cậu bé này sau sẽ trở thành ngôn sứ đầu tiên trong lịch sử Israel.  Cậu Sa-mu-en lúc đó đang ngủ trong đền thờ, nơi đặt Hòm Bia Thiên Chúa.  Hòm Bia là sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Ngài.  Nơi đền thờ linh thiêng này, Thiên Chúa hiện diện để soi sáng và ban sức mạnh cho dân.  Ngài cũng chính là vị lãnh đạo tối cao của dân được tuyển chọn.

Chúa gọi Sa-mu-en ba lần.  Nhưng cậu lại tưởng đó là tiếng gọi của thày tư tế Hê-li, và cậu chạy đến với thày mình.  Theo hướng dẫn của vị tư tế, khi Chúa gọi lần thứ tư, Sa-mu-en đã nhận ra tiếng Chúa và thưa với Ngài: “Lạy Đức Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe.”  Tâm tình lắng nghe đã dẫn vị ngôn sứ sang một ngã rẽ khác của cuộc đời.

Tâm tình sẵn sàng vâng theo ý Chúa cũng được thể hiện nơi phần lớn các ngôn sứ của Cựu ước.  I-sa-i-a, vị ngôn sứ sống vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, đã nghe tiếng Chúa hỏi: “Ta sẽ sai ai đây?  Ai sẽ đi cho chúng ta,” và ông đã trả lời: “Dạ, con đây, xin sai con đi” (Is 6,8).

Thiên Chúa luôn luôn mời gọi chúng ta.  Tuy vậy, những bộn bề của cuộc sống; những tạp âm của đời thường, làm cho chúng ta không nghe được tiếng Chúa.  Trong lịch sử, Thiên Chúa đã sai Con của Ngài đến thế gian.  Người là “Ngôi Lời” đến nói với chúng ta những lời yêu thương, nhưng ít khi chúng ta nhận ra lời ấy.

Để lắng nghe Lời Chúa, cần có tâm hồn rộng mở và sẵn sàng.  Lời Chúa đến với chúng ta, không như âm thanh của chiếc loa phường.  Chiếc loa phường phát cho những người qua lại, mỗi người nghe được một vài câu, thậm chí chỉ một vài từ. T uy vậy, những người qua đường còn mang quá nhiều bận tâm cơm áo gạo tiền, nên cũng chẳng quan tâm những gì họ nghe thấy.  Người tín hữu muốn nghe Lời Chúa, cần phải có một không gian thiêng liêng.  Không gian ấy không chỉ là trong ngôi thánh đường, mà còn trong gia đình, giữa cuộc sống và thậm chí ngay giữa những ồn ào náo nhiệt nơi phố chợ.  Không gian ấy có thể tạo nên bằng tâm tình cầu nguyện và lắng nghe.  Chúa đang nói với chúng ta trước hết qua Kinh Thánh, qua giáo huấn của Giáo hội và còn qua những người mà chúng ta gặp gỡ, hay những biến cố xảy đến xung quanh chúng ta.  Người có tâm tình lắng nghe sẽ dễ dàng nhận ra tiếng Chúa và thưa với Ngài: “Lạy Đức Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe.”

Thánh Gio-an tác giả Tin Mừng đã kể lại cho chúng ta một kinh nghiệm bản thân về cuộc gặp gỡ lần đầu với Chúa Giê-su.  Một ngày nọ, khi thấy Chúa Giê-su đi ngang qua, ông Gioan Tẩy giả nói với các môn sinh của mình: “Đây là Chiên Thiên Chúa.”  Từ lời giới thiệu này, hai môn đệ của ông Gioan Tẩy giả đi theo Chúa Giê-su.  Một người tên là An-rê, người kia ẩn danh, và theo mạch văn thì hầu chắc đó là tông đồ Gio-an.  Hai môn đệ này đã ở với Chúa, đã lắng nghe lời giáo huấn của Người.  Hai ông đã được Người khai sáng, để rồi hôm sau, khi trở về, ông An-rê nói với em mình là Si-mon rằng: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a – nghĩa là Đấng Kitô.”  Cuộc gặp gỡ này đã dẫn hai ông đi trên một lộ trình mới, lộ trình của người môn đệ Đức Giê-su, luôn gắn bó mật thiết với Người, kể cả lúc hoạn nạn đau thương.

Ngày chúng ta được lĩnh nhận bí tích Thanh Tẩy, chúng ta đã chọn Chúa Giê-su làm Thày dạy.  Chúng ta đã tuyên thệ trung thành với Chúa và từ bỏ tội lỗi.  Lời tuyên thệ ấy luôn vang lên trong tâm hồn cuộc đời của chúng ta, những Ki-tô hữu đích thực.  Lời Chúa hôm nay nhắc chúng ta hãy nhìn lại cách theo Chúa của mình, để giữ trái tim tươi mới như thuở ban đầu, luôn sẵn sàng thưa với Chúa: “Lạy Đức Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe.”  Đương nhiên, lời thưa này phải được chứng minh bằng những thiện chí cố gắng và bằng hành động trong cuộc sống cụ thể.

Thánh Phao-lô muốn chúng ta đáp trả lời mời gọi của Chúa một cách thực tế hơn.  Đó là những nỗ lực sống thánh thiện và từ bỏ tội lỗi.  Thiên Chúa ngự trong tâm hồn mỗi người.  Ai sống trong sạch, người ấy được nên một với Đức Ki-tô và sẽ tìm được sự bình an nội tâm.  Một tâm hồn và cuộc sống trung thực, ngay thẳng sẽ cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa.  Đức tin Ki-tô giáo tuyên xưng sự sống lại của thân xác con người.  Vì vậy, phải tôn trọng thân xác khi còn sống cũng như khi đã qua đời.

“Này con xin đến để thực thi ý Chúa!”  Lời Thánh vịnh 39 được đọc trong phần Đáp ca diễn tả tâm tình vâng phục của người tin Chúa.  Thư gửi giáo dân Híp-ri sau này nhận ra đó là tâm tình của Chúa Giê-su, khi Người vâng lời Chúa Cha để xuống thế làm người (x. Dt 10,8-10).  Chúa Giê-su là gương mẫu cho chúng ta về sự vâng phục, khiêm tốn và yêu thương.  Ước chi mỗi chúng ta luôn sẵn sàng đón nhận thánh ý Chúa trong cuộc đời và thành tâm thân thưa với Ngài: “Dạ, con đây!”

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

CON NGƯỜI ĐƯỢC NÂNG LÊN TRONG CHÍNH THÂN PHẬN CỦA MÌNH

Cái ước mơ được “đổi đời” trong chốc lát luôn thường trực trong thân phận con người từ khởi thủy đến nay.  Càng khốn cùng, cái ước mơ ấy càng mãnh liệt hơn.  Người ta mong ước được giải phóng khỏi mọi kìm kẹp, khỏi mọi ràng buộc để được bung mình trong tự do.

Chúa Cả trời đất đã tạo dựng con người và cho nó có tự do.  Nhưng con người đã sống tự do cách vô độ để rồi chính mình lại rơi vào sự kìm kẹp của băng hoại, của tội lỗi.  Đấng Tạo Hóa đã không vì thế mà hủy bỏ con người để tạo dựng lại một con người mới.  Nhưng Ngài đã nâng con người dậy, tái tạo nó và làm cho nó nên xinh đẹp từ chính thân phận dòn mỏng đã đổ vỡ của con người.

Tiên báo về ngày con người được giải phóng

Tiên tri Isaia đệ nhị sống vào thời dân Israel đang bị lưu đày tại Babylon vào thế kỷ thứ VI trước Công nguyên.  Ngài đã tiên báo về ngày mà toàn dân được giải phóng bởi một “tôi tớ” của Thiên Chúa.  Dù người ta chưa biết Đấng ấy là ai nhưng một điều chắc chắn là “Người không bẻ gẫy cây lau bị giập, không dập tắt tim đèn còn khói” (Is 42,3).

Thiên Chúa không xóa bỏ tất cả để tạo dựng lại từ đầu.  Ngài sẽ vực họ dậy dù họ chỉ còn như là “cây lau bị giập” hay như “tim đèn chỉ còn khói.”  Ngài sẽ “mở mắt cho người mù, đưa ra khỏi tù những người bị xiềng xích, đưa ra khỏi ngục những người ngồi trong tối tăm” (Is 42,7).

Cái khát vọng thoát khỏi ách lưu đày tại Babylon của dân Do Thái xưa sẽ được thỏa mãn bởi Hoàng đế Kyro của Ba Tư.  Nhưng cái khát vọng sâu xa của con người mong được giải phóng khỏi cảnh lưu đày trong tội lỗi chỉ có thể được thỏa mãn bởi Đấng Mê-si-a.

Thiên Chúa xuống làm người để nâng con người lên

Những gì mà Thánh Mac-cô mô tả tại dòng sông Gio-đan cho ta thấy những lời tiên báo của Isaia trước đó không phải là một lời hứa suông.  Quả thực Thiên Chúa đã không ruồng bỏ con người, nhưng Ngài đã đi xuống đến tận cùng thân phận tội lỗi của con người để nâng con người lên, giải phóng con người và đưa nó vào quỹ đạo của Tình Yêu Trời Đất.

Đức Giêsu, Con Thiên Chúa xuống thế làm người.  Ngài đã đi vào giữa dòng người tội lỗi đang ngụp lặn tìm kiếm sự giải thoát.  Ngài đã ngụp lặn xuống với họ, cùng họ bước vào sự tăm tối tột cùng của cảnh nô lệ tội lỗi.  Ngài không bị nô lệ bởi tội lỗi, nhưng ngài đi vào trong sự tăm tối tột cùng của cảnh nô lệ tội lỗi mà con người đang chịu đựng.

Một cách hình ảnh, nơi mà Chúa Giêsu bước xuống với đoàn dân để lãnh nhận phép rửa của ông Gioan là nơi chẳng còn cách Biển Chết bao xa.  Dòng sông Gio-đan chảy từ hồ Galile tới Biển Chết.  Biển Chết là một hồ nước mặn sâu nhất thế giới.  Nó được gọi là Biển Chết bởi chẳng có sinh vật nào sống được trong độ mặn chát của hồ nước.  Hình ảnh này khiến ta liên tưởng đến sự tận cùng của con người.  Họ tuốn đến và bước xuống dòng sông Giođan, và chẳng còn bao xa nữa họ sẽ đi đến Biển Chết.  Thiên Chúa đã hiện diện tại khúc đường cùng ấy của con người.  Chính vào thời điểm cận kề với điểm chết, vào lúc con người đi đến cuối con đường cụt thì Thiên Chúa đã can thiệp và kéo con người lên.

Quả thực, Thiên Chúa đã đến với con người trong chính thân phận của con người để nâng con người dậy.  Ngài đi vào cuộc sống của từng người, vào trong chính tâm tư tình cảm và hoàn cảnh sống của mỗi người để nâng ta lên.

Con người được nâng lên trong chính thân phận của mình

Suốt hàng ngàn năm, dân Do Thái suy ngẫm về Ơn Cứu Độ.  Đi từ chỗ hiểu rằng Ơn Cứu Độ chỉ dành cho Dân Riêng của Thiên Chúa là dân Do Thái, họ đã dần nhận thấy Ơn Cứu Độ còn dành cho mọi dân tộc.  Nhưng dẫu sao thì họ vẫn coi Giê-ru-sa-lem là tâm điểm mà mọi dân tộc phải rời bỏ quê hương của mình để tiến về Giê-ru-sa-lem.  Não trạng ấy vẫn ăn sâu trong tiềm thức của dân.

Trong sách Công vụ Tông đồ được trích trong bài đọc thứ hai của ngày lễ này viết lại lời khẳng định của Thánh Phê-rô Tông đồ: “Thiên Chúa không thiên tư tây vị, nhưng ở bất cứ xứ nào, ai kính sợ Người và thực hành sự công chính, đều được Người đón nhận” (Cv 10,34).

Lời khẳng định của Thánh Phêrô diễn ra trong bối cảnh ngài đến làm Phép Rửa cho gia đình một người dân ngoại tên là Cornelio (Cv 10,1-48).  Thần Khí Chúa đã dẫn lối cho Phêrô đến gia đình này.  Thánh Phêrô đã bỏ qua những tục lệ bắt buộc của người Do Thái để làm Phép Rửa cho gia đình ông Cornelio.  Trước đó, chính Thánh Phêrô cũng đã không thể chấp nhận việc đem Ơn Cứu Độ ra ngoài Do Thái giáo.  Nhưng với sự can thiệp của Thần Khí qua thị kiến thanh sạch hay nhơ bẩn mà Thánh Phêrô đã thay đổi lập trường (Cv 10,9-16).

Quả thực, không phải mọi dân phải rời bỏ quê hương của mình để đến với Giê-ru-sa-lem mà hưởng Ơn Cứu Độ.  Nhưng là Ơn Cứu Độ đến với mọi dân ở trong chính quê hương của họ, trong chính hoàn cảnh sống của họ, trong chính thân phận thực tại của mỗi người, trong lịch sử cuộc đời của bạn, cuộc đời của tôi.

Thiên Chúa đã làm tất cả vì con người.  Đấng Tạo Hóa đã muốn ở trong mỗi chúng ta để tái tạo mỗi chúng ta nên một con người xinh đẹp mỹ miều.  Ngài muốn mỗi người là một công trình riêng biệt, mỗi người mang một vẻ đẹp rất riêng và mỗi người cũng có mối tình rất riêng tư với Ngài.

Tôi và bạn, mỗi người một vẻ, mỗi người một lịch sử, mỗi người một hoàn cảnh sống đã qua và đang sống.  Tôi, một người Việt Nam, không thể vất bỏ lại sau lưng tất cả những gì tôi đã sống, bởi làm thế tôi không còn là tôi, và thực tế tôi cũng chẳng thể làm được.  Thiên Chúa cũng không bắt tôi phải làm thế.  Nhưng Ngài đến với tôi trong chính những khiếm khuyết và nhơ uế của tôi.  Từ chính trong tôi, Ngài tái tạo và nâng tôi lên, cho tôi tiến bước trên con đường thong dong trong Ơn Nghĩa Chúa.

Lạy Chúa, con tin thật Chúa yêu con nhiều.  Xin Chúa ở lại trong con dù đôi khi con lãng quên Ngài.  Xin Chúa tái tạo con để con được trở nên tạo vật mĩ miều trong Vũ trụ xinh tươi.

Lm. Giuse Lê Danh Tường

BÀY MƯU, HOÁN KẾ

Bày mưu, hoán kế là việc làm của đầu óc.  Sống yêu thương và tha thứ là đường lối của con tim.  Đôi khi ta có chung kế hoạch nhưng đạt mục đích của kế hoạch chung lại khác nhau, tùy người.  Bày mưu hoán kế đến từ trong đầu; ước mong đến từ con tim.  Có thể nói Thiên Chúa tạo dựng bộ óc giúp ta nuôi thân nơi trần gian và ban cho con tim để con tim giúp tìm cách vào nước trường sinh.  Vì thế đầu óc thường tìm hết kế này, cách khác tìm lợi nhuận cho riêng mình; trong khi con tim giúp chia sẻ tình thương.  Vì hai đường hướng khác biệt mà có chiến tranh nội tâm.  Một đàng là cách thức của khối óc; đàng khác là đường lối của con tim.  Khi hai con đường đi ngược chiều, nội chiến xảy ra.  Hai con đường đi cùng chiều, tâm hồn bình an.  Khi đường lối đen tối khối óc thắng đường lối trong sáng của con tim thì khối óc biến con tim yêu thương thành con tim sỏi đá.  Khi đường lối yêu thương con tim thắng đường lối khối óc thì khối óc đi theo đường chân lí, ánh sáng Phúc Âm.  Khi không bên nào nhường bên nào thì đường ai nấy đi; óc theo đường của óc và con tim quyết theo đường riêng mình.  Lúc đó chiến tranh lạnh xảy ra, đêm đến nghe tiếng con tim khuyên bảo, kêu gọi trở về con đường yêu thương.  Khi khối óc từ chối, lâu ngày con tim mệt mỏi, tạm yên, nhỏ nhẹ hơn.  Nó tạm đình chiến trong một thời gian, rồi sẽ trở lại.  Đường lối của con tim là thế, kiên trì cho đến khi khối óc phải chào thua, lúc đó nó mới chính thức yên nghỉ.  Tiếng nói nhỏ nhẹ trong tâm hồn đó được nhiều người biết đến là tiếng nói của lương tâm.

Đại diện cho đường lối đen tối và con tim sỏi đá là vua Hêrôdê bởi mục đích tối hậu của vua là tìm lợi ích cho riêng vua mà không loại trừ bất cứ âm mưu tàn ác nào, miễm âm mưu đó có lợi cho cá nhân vua.  Chính vì thế mà vua không quan tâm đến tiếng than khóc nức nở của những người mẹ có con bị vua ra lệnh giết chết.  Cái ngai vàng của vua quan trọng hơn sinh linh trẻ thơ.  Nhà vua sống trong lo sợ, sợ mất ngai vàng, sợ mất chức tước, quyền hành nên vua ra lệnh giết tất cả các trẻ trai hy vọng diệt được ấu Chúa.  Vua sợ một cách vô lí nhưng vì quá sợ nên vua không quan tâm đến dân.  Vua để cho nỗi sợ hoành hành, quyết định.  Vua dối trá với các nhà đạo sĩ đến hỏi vua làm sao để tìm ấu Chúa mới sinh.  Miệng vua nói sẽ đi thờ ấu Chúa, thực tế lòng vua lo sợ và nghĩ kế tìm cách giết ấu Chúa.

Đại diện cho đường lối trong sáng và con tim yêu thương là ba nhà đạo sĩ bởi mục đích tối hậu của họ là đi tìm ấu Chúa để thờ lậy.  Họ không ngại từ bỏ ngai vàng, ra đi, dấn thân tìm ấu Chúa.  Dù ra đi tìm kiếm nhưng tâm hồn họ thanh thản, thân xác có mệt mỏi vì đường xa, xứ lạ nhưng an tâm, ấm lòng, đầy hy vọng.  Họ mang theo lễ vật dâng tiến ấu Chúa nhưng họ nhận nhiều hơn là cho đi.  Nhờ sao lạ dẫn đường họ đã tìm gặp ấu Chúa, thờ lậy xong họ được báo trong giấc mộng hãy theo đường khác mà về.  Con đường đó lại được sao lạ đi trước dẫn đường.  Chúng ta không biết họ đến từ nước nào, vương quốc họ ở đâu.  Họ đến từ nơi xa vì nhận được dấu lạ, sao sáng dẫn đường.  Họ đại diện cho tâm hồn trong sáng, tìm kiếm ánh sáng chân lí và tìm được.  Hêrôđê cũng tìm kiếm nhưng không gặp ấu Chúa bởi lòng ông chai đá, tâm hồn thiếu ngay thẳng, và đầu óc đen tối vì thế không thể nhìn thấy ánh sáng.  Vua sống trong thất vọng, triền miên lo sợ.  Thiên Chúa bằng cách riêng của Ngài, nhẹ nhàng phá tan mọi âm mưu đen tối mong phá kế hoạch của Ngài.  Họ thất bại nhưng mắt vẫn không nhận ra vì thế họ tiếp tục sống trong bóng tối.

Lm. Vũ Đình Tường

NHẬN BIẾT VÀ THỜ LẠY CHÚA

Ngày lễ hôm nay được gọi là lễ “Hiển Linh.”  Hiển Linh là việc Thiên Chúa tỏ mình ra cho con người.  Trong Cựu ước, Thiên Chúa thường “hiển linh” tức là tỏ mình cho con người thấy vinh quang và quyền năng của Ngài, đồng thời Ngài gửi một thông điệp, một giáo huấn để giúp con người sống đạo đức và ngay lành.

Hài Nhi Giêsu tại Hang đá máng cỏ là Thiên Chúa.  Ngài tỏ mình trong vinh quang rạng ngời.  Ngôn sứ Isaia đã diễn tả Giêrusalem tràn ngập ánh sáng.  Đây không phải là ánh sáng mặt trời, nhưng là vinh quang của Chúa tỏ hiện.  Khi Chúa đến, Giêrusalem sẽ là trung tâm quy tụ muôn dân.  Muôn sản vật quý hiếm sẽ tuôn đổ về đó để dâng kính Chúa là Vua muôn vua và là Chúa muôn loài.  Xin lưu ý, lời ngôn sứ được nói trong bối cảnh lưu đày.  Lúc đó, người Do Thái phải sống xa quê hương.  Không còn Đền thờ.  Không còn lễ tế.  Lời ngôn sứ Isaia như một tiếng thét vui mừng và như lời hiệu triệu, làm nức lòng dân đang sống trong cảnh tha hương.

Với việc ba nhà đạo sĩ đến Belem theo chỉ dẫn của ngôi sao lạ, Thiên Chúa tỏ mình ra, không chỉ với người Do Thái, mà cho muôn dân.  Ba nhà đạo sĩ từ phương Đông là tượng trưng cho cả nhân loại đang tìm kiếm Chúa.  Họ đã tìm đến với Hài Nhi Giêsu và đã dâng của lễ.  Những lễ vật họ dâng là vàng, nhũ hương, mộc dược là những biểu tượng nhằm tôn vinh Đức Giêsu là Thiên Chúa (hương), là Vua (vàng), và là Đấng Cứu độ (mộc dược để xức xác theo thủ tục của người Trung đông).

Thiên Chúa tỏ mình cho muôn dân, và con người đón nhận Chúa bằng nhiều cách khác nhau.  Bài Tin Mừng của lễ Hiển Linh cho chúng ta thấy có ba thể loại nhân vật:

Trước hết là Hêrôđê.  Ông là một quận vương có uy quyền.  Khi nghe ba nhà đạo sĩ nói về một vị vua mới sinh.  Hêrôđê đã sinh lòng ghen tương.  Ông cặn kẽ dò hỏi về ngày giờ các nhà đạo sĩ đã thấy ngôi sao lạ.  Ông còn nói với họ: để trẫm cũng đi triều bái Người.  Thực ra, Hêrôđê ghen tương và sợ mất ngai vàng.  Ông chỉ làm ra vẻ quan tâm, nhưng thâm tâm ông muốn triệt hạ vị vua mới sinh, để ngai vàng của ông không còn bị đe dọa.  Việc ông ra lệnh giết các trẻ từ hai tuổi trở xuống cho thấy dã tâm của ông.

Những nhân vật thuộc thể loại thứ hai là những người khôn ngoan tại Giêrusalem.  Họ là những tư tế, luật sĩ và chuyên viên nghiên cứu Kinh Thánh.  Những người này là những cố vấn của triều đình Hêrôđê.  Khi được triệu tập, họ trả lời dễ dàng thông thạo.  Họ trích dẫn ngôn sứ Mika nói về nơi Đấng Cứu Tinh sẽ sinh hạ.  Tuy vậy, những kiến thức uyên thâm không giúp họ nhận ra Đấng Cứu độ đã đến trần gian.  Sự thông thái của họ chỉ dừng lại ở lý thuyết và những bài học thuộc lòng, còn tâm hồn họ thì dửng dưng với những gì đang xảy ra.

Những nhân vật thuộc thể loại thứ ba là các nhà đạo sĩ.  Họ cũng là những người uyên bác, và sự uyên bác ấy đã giúp họ nhận ra những dấu chỉ thời đại.  Khởi đi từ những dấu lạ trong thiên nhiên vũ trụ, họ đã đón nhận thông điệp từ trời báo cho biết Đấng Cứu Thế đã sinh hạ.  Họ đã lên đường, chấp nhận mọi vất vả gian nan, với ước mong gặp được vị vua mới sinh.  Sau khi đã vượt qua những gian nan vất vả, khi gặp Hài Nhi Giêsu, họ chỉ đơn giản thờ lạy Người và lấy đó làm mãn nguyện, lên đường trở về.

Khi sống ngay thẳng và chân thành, những mưu mô của Hêrôđê không thể làm họ mắc bẫy.  Trái lại, họ luôn sáng suốt và kiên trung.  Nhờ lời hướng dẫn của Sứ thần, họ đã lên đường về bằng một lối khác.

Sau khi đã “nhận diện” những nhân vật được nhắc tới trong Tin Mừng Thánh Matthêu, mỗi chúng ta hãy đặt câu hỏi: tôi giống nhân vật nào trong những nhân vật trên đây?  Có thể tôi như Hêrôđê, mặc dù tin Chúa, nhưng chỉ chấp nhận những gì tạo cho mình sự dễ dãi, còn những gì khó khăn và đòi hỏi phải hy sinh thì tôi lại khước từ.  Có thể tôi giống như những người khôn ngoan ở thành Giêrusalem, học biết Lời Chúa nhưng lại không tuân giữ những gì Chúa dạy.  Và, thật là may mắn, nếu tôi giống như những nhà đạo sĩ, cất bước lên đường tìm Chúa và thờ lạy Người.

Thiên Chúa hiển linh, tỏ mình cho muôn dân.  Ngày hôm nay, Ngài cũng đang tỏ mình qua Giáo Hội và qua mỗi người tín hữu.  Ước chi mỗi chúng ta hãy là một ngôi sao dẫn đường cho đồng loại tìm về Chúa Giêsu, Đấng cứu nhân độ thế và Đấng đã làm người để ở với chúng ta.  Một cuộc sống thánh thiện, trung thực, ngay thẳng và yêu thương, chính là vì sao sáng giữa đêm đen trần gian, nhờ đó nhiều người biết Chúa và đến thờ lạy Người.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

TIN MỪNG TRỌNG ĐẠI

Một người Do-thái sẽ rất khó nhận ra Đấng Mêsia khi đứng trước hang bò lừa ở Bê-lem đêm hôm ấy.  Một đôi vợ chồng trẻ, lúng túng vì không tìm ra chỗ, vất vả với đứa con trai đầu lòng mới chào đời.  Em bé được quấn tã, đặt nằm trong máng cỏ.  Nghĩ đến Đấng Mêsia, người ta nghĩ ngay đến một vị vua, với hoàng cung cao sang và ngai vàng quyền lực.  Khó lòng tin em bé tầm thường này là Đấng Mêsia, Đấng được sai đến để giải phóng Israel.

Một người Do-thái theo độc thần lại càng khó tin em bé này là Thiên Chúa trở nên người phàm.  Giữa Thiên Chúa và con người có một khoảng cách vô tận, Thiên Chúa có những phẩm tính siêu việt vô  biên.  Ngài là Đấng quyền năng, cai quản trên trời dưới đất.  Ngài là Đấng vô hình nên không ai tô vẽ được.  Ngài là Đấng tạo dựng muôn loài, Đấng ba lần thánh, Đấng tỏ mình long trời lở đất ở núi Sinai.

Chẳng ai thấy Ngài mà còn sống.  Một Thiên Chúa như thế làm sao thành người được?

Điều con người không dám mơ, thì Thiên Chúa dám làm, vì Tình yêu làm được mọi sự.  Thiên Chúa đã làm vượt quá những gì Ngài đã hứa.  Ngài không chỉ ban một Mêsia hay một ngôn sứ như Môsê,

Ngài còn ban chính Ngôi Lời là Thiên Chúa Con Một, đã trở nên người phàm, đã sống trên trái đất, và đã đảm nhận toàn bộ phận người của chúng ta.  Kitô hữu là người dám tin vào mầu nhiệm lạ lùng này.

Nơi Hài Nhi Giêsu, chúng ta gặp gỡ một Thiên Chúa chẳng những nghe được, mà còn thấy được và chạm được.  Một Thiên Chúa hữu hình, gần gũi, yếu đuối, mong manh.  Thiên Chúa ấy được cưu mang trong lòng một phụ nữ, được sinh ra, biết khóc, biết cười, sống nhờ sữa mẹ, ấm áp nhờ được quấn tã.  Thiên Chúa ấy phải vâng theo lệnh của hoàng đế Rôma, nên chào đời xa nhà, thiếu thốn đủ điều, chỗ nằm là máng ăn của súc vật.

Thiên Chúa nơi Hài Nhi Giêsu không làm ai sợ hãi.  Không thấy quyền lực uy nghi, chỉ thấy tình yêu dịu dàng.  Thiên Chúa thu hút con người bằng sự buông bỏ thẳm sâu.  Hài Nhi dang hai tay để đón lấy cả nhân loại.

Không thấy Maria và Giuse nói gì trong đêm ở Bê-lem.  Cả hai có nhiều điều cần làm và cần suy nghĩ.  Khi Mẹ Maria sinh con trong sự thiếu thốn tư bề, Mẹ nghĩ đến lời thiên sứ Gabriel xưa báo về Hài Nhi.  Con của Mẹ sẽ thừa kế ngai vàng của vua Đa-vít, sẽ trị vì một vương quốc đến muôn đời muôn thuở.  Vậy mà bây giờ Con của Mẹ không có chỗ để nằm.  Khi các người chăn chiên huyên thuyên kể chuyện về việc thiên sứ hiện ra, loan tin Đấng mới chào đời, kể chuyện đạo binh thiên quốc tưng bừng hát xướng, Maria đã chăm chú lắng nghe và kinh ngạc.  Mẹ nghĩ đến bầu khí yên tĩnh ở Bê-lem đêm nay, có ít ánh sáng và tiếng ca, có nhiều bận tâm và lo lắng.

Không phải biến cố nào cũng dễ hiểu đối với Maria.  Maria có thói quen giữ kỹ mọi chuyện (Lc 2,19.51), và nghiền ngẫm mọi chuyện trong trái tim của mình.  Maria chấp nhận mình không hiểu ngay mọi biến cố, nên lúc nào cũng cần hồi tâm để đọc ra ý Chúa.

Như các mục đồng, chúng ta cũng được mời đến Bê-lem.  Dấu hiệu để nhận ra Chúa đang đến hôm nay vẫn rất đơn sơ và làm chúng ta ngỡ ngàng.  Thiên Chúa đến dưới dạng những người nghèo khổ, không cơm ăn áo mặc, không có chỗ để nằm.  Nơi những phụ nữ không được đi học ở Afghanistan, những trẻ sơ sinh bị phá thai mỗi ngày trên thế giới, những gia đình tan nát vì chiến tranh.

Hãy vội vã đi Bê-lem với tất cả lòng tin đơn sơ, vui sướng vì gặp được dấu chỉ như lời sứ thần báo.  Hãy làm một điều gì đó cho Chúa Giêsu hôm nay.

***************************

Lạy Chúa Hài Nhi Giêsu,
Chúa đến đem bình an cho nhân loại,
nhưng chúng con thích xung đột và chiến tranh,
Chúa đến để bày tỏ tình thương của Chúa Cha,
nhưng chúng con thích chiếm đoạt hơn chia sẻ,
thích chinh phục hơn trao hiến.
Bởi đó thế giới này còn mang nhiều vết thương.

Xin cho chúng con đừng trách Chúa,
dù Chúa đã đến làm người từ hai ngàn năm qua.
Chúa đã gõ cửa, những chúng con không mở.
Chúa đã đến nhà mình, nhưng chẳng ai ra đón.
Xin cho chúng con nhận ra Chúa
nơi khuôn mặt của kẻ thù,
và nhận ra kẻ thù cũng là anh em cần được yêu thương.
Nhờ đó chúng con được hưởng bình an của Chúa:
“Bình an cho người thiện tâm.” Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

THỜI ĐÃ ĐẾN!

Chúng ta đang tiến dần tới lễ Giáng Sinh.  Lời Chúa của Chúa nhật thứ bốn Mùa Vọng muốn khẳng định với chúng ta: những gì được loan báo trong Cựu ước, nay sắp được thành toàn.  Thời đã đến!  Thiên Chúa đã thực hiện những kỳ công.  Ngài trung thành với lời hứa từ ngàn xưa, là ban Đấng Thiên sai cứu độ trần gian.

Làm thế nào để biết được thời đã đến?  Bài đọc I trích sách Sa-mu-en quyển thứ hai đưa chúng ta về thời của Đa-vít, tức là vào khoảng năm 950 trước Công nguyên.  Xuất phát từ lòng yêu mến đối với Đức Gia-vê, Đa-vít không an tâm khi mình ở trong cung điện mà Hòm Bia của Chúa lại ở trong lều.  Qua ngôn sứ Na-than, Chúa khẳng định với vua: hiện tại chưa đến lúc xây đền thờ.  Tuy vậy, để đáp lại thiện chí của Đa-vít, Chúa sẽ làm những điều kỳ diệu trong tương lai, đó là làm cho dòng dõi ông được vinh hiển.  Lời ngôn sứ này trực tiếp nhắm tới Sa-lô-môn, người sẽ kế vị ngai vàng sau khi Đa-vít băng hà.  Lời ngôn sứ còn đi xa hơn, khi hướng về một vị vua đúng nghĩa: vị vua đó là Con Thiên Chúa, và vương quyền của vị vua đó sẽ bền vững muôn đời.  Dưới sánh sáng Tin Mừng, Ki-tô giáo nhận ra vị vua mà ngôn sứ Na-than nói tới chính là Đức Giê-su thành Na-da-rét.  Lời nói và việc làm của Người đã chứng minh lời ngôn sứ mà Chúa đã phán năm xưa.  Vâng, thời đã đến rồi.

Thánh Phao-lô lại nói với chúng ta: mầu nhiệm Thiên Chúa vốn giấu kín từ ngàn xưa, nay được biểu lộ.  Mầu nhiệm ấy chính là Đức Giê-su Ki-tô.  Đức Ki-tô là một Mầu Nhiệm của Thiên Chúa.  Khái niệm “mầu nhiệm” được hiểu như kế hoạch của Thiên Chúa trong việc cứu độ con người.  Nếu Thiên Chúa là Đấng Vô hình, thì con người có thể được chiêm ngưỡng Ngài qua Con của Ngài là Đức Giê-su.  Thiên Chúa vô hình đã trở nên hữu hình.  Đấng cao cả đã trở nên gần gũi thân thiện với con người.  Ngôi Lời đến trần gian để nói với chúng ta về Chúa Cha và về tình thương của Ngài đối với nhân loại.  Thông điệp Ngôi Lời mang đến cho trần gian là thông điệp của tình yêu và chân lý.  Ai đón nhận thông điệp này, đúng hơn là ai đón nhận Người Con, thì sẽ được cứu rỗi.  Vâng, thời đã đến rồi.

Thời đã đến!  Thiên Chúa không còn nói với con người qua trung gian giống như thời Cựu ước, mà “Ngôi Lời đã làm người và ở với chúng ta” (Ga 1,14).  Từ khởi đầu lịch sử, Thiên Chúa đã dùng lời nói của Ngài mà sáng tạo mọi sự từ hư vô.  Nay, Thiên Chúa cứu độ con người, còn gọi là thực hiện công cuộc sáng tạo mới, qua Con của Ngài.  Từ nay, ai đón tiếp Ngôi Lời, sẽ trở nên tạo vật mới và sẽ được gọi là con Thiên Chúa.  Đây là sự trao đổi kỳ diệu, chỉ có quyền năng và tình thương của Thiên Chúa mới có thể làm được.

Để thực hiện công trình sáng tạo mới, Chúa mời gọi sự cộng tác của con người.  Người phụ nữ đơn sơ khiêm hạ quê ở thành Na-da-rét, tên là Ma-ri-a, là người được Thiên Chúa đề nghị cộng tác với Ngài.  Trình thuật truyền tin cho chúng ta thấy sự khiêm nhường của Thiên Chúa.  Không ai có thể tưởng tượng một Thiên Chúa lại sai sứ thần đến chào kính một con người!  Sứ thần Gáp-ri-en đã làm như thế.  Sứ thần khiêm cung chào kính Trinh nữ Ma-ri-a, kèm theo những lời ca tụng và chúc phúc.  Lời chào khiêm tốn này khiến Trinh nữ bối rối, vì đây là điều chẳng ai thấy, cũng chẳng ai có thể tưởng tượng ra được.  Ma-ri-a đã đại diện cho cả nhân loại thưa lời “Xin vâng” kỳ diệu.  Gọi là kỳ diệu, bởi lẽ từ lời thưa ấy, Con Thiên Chúa làm người trong lòng Trinh nữ.  Mầu nhiệm Nhập thể là sự kết hợp giữa Thiên Chúa và con người nơi một cá vị cụ thể.  Đức Giê-su chính là vị vua mà ngôn sứ Na-than đã loan báo.  Người được gọi là “con vua Đa-vít.”  Danh xưng này vừa được đám đông dân chúng người Do Thái tung hô, khi Đức Giê-su long trọng tiến vào thành Giê-ru-sa-lem.  Danh xưng này cũng được những bệnh nhân kêu cầu với niềm xác tín và với hy vọng được chữa lành.  Người phụ nữ dân ngoại kêu cùng Chúa: “Lạy Ngài là Con Vua Đa-vít, xin rủ lòng thương tôi!  Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm!” (Mt 15, 22).  Người mù ở cổng thành Giê-ri-cô cũng có lời nài xin tương tự: “Lạy ông Giê-su, con vua Đa-vít, xin rủ lòng thương tôi” (Lc 18, 38).

Thời của Đấng Thiên sai đã đến, và hôm nay, những Ki-tô hữu như chúng ta cũng đang được mời gọi cộng tác để sứ mạng của Đấng Thiên sai được tiếp tục và mang lại nhiều hiệu quả tốt lành nơi gia đình, xã hội và mọi môi trường cuộc sống.  “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói.”  Tâm tình và sự sẵn sàng của Trinh nữ Ma-ri-a cũng phải là tâm tình và sự sẵn sàng cộng tác với chương trình của Chúa nơi mỗi tín hữu chúng ta.

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên